>>> Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard<<<

.......... .
 
Nghĩ về hai dòng họ thông gia ở Huế
 
Nguyễn Hạnh Hoài Vy
 
hoaivy-bai.JPG (28236 bytes) hoaivy-kha.JPG (28860 bytes)
Thượng thư Nguyễn Hữu Bài và Thượng thư Ngô Đình Khả (phải)

Vào giữa thế kỷ 16, trong sử Việt đã xảy ra một xung đột trong gia tộc giữa cha vợ, con rể là Nguyễn Kim và Trịnh Kiểm. Mối xung đột này xuất phát từ mâu thuẫn quyền lực ai là kẻ kế thừa trung hưng nhà Lê. Trịnh Kiểm không chấp nhận công lao hưng phục nhà Lê của cha vợ là Nguyễn Kim, nên khi Nguyễn Kim mất, nuôi tham vọng tìm cách giết hai em vợ để thống đoạt uy quyền. Người thứ nhất bị hạ thủ là Nguyễn Uông. Em ông là Nguyễn Hoàng lo sợ giả điên, một ngày nọ nghe danh ông Trạng Nguyễn Bỉnh Khiêm, bèn tìm đến Hải Dương vấn kế. Ông Trạng trả lời bóng gió: “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân”. Hiểu ý, Nguyễn Hoàng tìm đường xuôi Nam, vào trấn đất Thuận Hoá, vốn là nơi “Ô châu ác địa”. Trong lúc ra đi, Nguyễn Hoàng còn lôi kéo theo rất đông những ngươi đồng hương, nghĩa dõng ở Tống Sơn. Đến vùng Thanh Nghệ Tĩnh lại có thêm nhiều người hưởng ứng đem theo cả bầu đoàn thê tử, còn có các danh thần như Nguyễn Ư Dĩ, Tống Phước Trị, Mạc Cảnh Huống ... đi theo phò trợ. Nguyễn Hoàng được lòng dân, bởi “ông là người khôn ngoan, nhân hậu, lưu tầm đến dân tình hết lòng thu dụng hào kiệt, giảm sưu, hạ thuế khiến lòng người ai cũng mến phục.” (Xem ‘Chín đời chúa, mười ba đời vua’ của Nguyễn Đắc Xuân, nxb Thuận Hóa, Huế 2001, trang 13). Chính vì vậy, Nguyễn Hoàng còn được dân xưng tụng là Chúa Tiên. Dấu ấn đầu tiên của một vị Chúa tôn sùng Phật giáo là công trình xây dựng chùa Thiên Mụ (1601). Từ tinh thần khởi đầu thấm nhuần giáo lý nhà Phật của Chúa Tiên là bước mở truyền thống chín đời Chúa bát ngát một tâm chất sùng đạo. Đời Chúa kế tiếp là Chúa Nguyễn Phúc Nguyên lập chùa Long Hưng, Bửu Châu (ở xứ Quảng), góp nhiều công đức cho Phật giáo, nên còn được dân xưng tụng là Chúa Sãi, Phật Chủ. Ở đàng ngoài, tâm địa mưu bá đồ vương  của nhà họ Trịnh không dứt, lại lo sợ đến quyền lực Chúa Nguyễn ở phía Nam ngày càng củng cố, Đàng trong và Đàng ngoài lại xảy ra những phen tử chiến trong 3 đời Chúa kế tục : Chúa Thượng (Nguyễn Phúc Lan), Chúa Hiền (Nguyễn Phúc Tần), Chúa Nghĩa (Nguyễn Phúc Thái). Đến đời Chúa Minh Vương (Quốc Chuá Nguyễn Phúc Chu 1691-1725), xã hội Đàng trong đã chỉnh đốn, Quốc Chúa bành trướng thêm về phía Nam, rồi nảy ra ý đem binh Bắc phạt. Quốc Chúa lại mộ đạo Phật cách đặc biệt, nên có pháp hiệu là Hưng Long cư sĩ. Quốc Chúa mời sư Thích Đại Sán từ Trung Quốc sang Thuận Quảng hộ trì Phật pháp, đại trùng tu chùa Thiền Lâm (phủ Dương Xuân, Huế), mở đại giới đàn cho 1400 tăng sĩ thọ giới Tỳ kheo và Sa di, đúc đại hồng chung chùa Thiên Mụ, trùng tu chùa Kính Thiên, lập thêm chùa Giác Hoàng, mua hơn ngàn sách Kinh, Luật, Luận... để mở rộng nghiên cứu Phật pháp. Dấu ấn lớn nhất, phải kể là trong thời kỳ Chúa Quốc Vương, cuộc phân tranh Nam Bắc chấm dứt, bờ cõi yên ổn, xã hội thái bình. Đến hai đời Chúa kế Ninh Vương (Nguyễn Phúc Thụ) và Võ Vương (Nguyễn Phúc Hoạt) vẫn tiếp nối sùng mộ đạo Phật. Chúa Ninh Vương khuyến dụ nhân dân xa lánh rượu chè cờ bạc, giữ vững luân thường đạo lý. Chúa Võ Vương còn có pháp danh là Từ Tế Đạo nhân, xây dựng Đô thành Phú Xuân, tổ chức vương quyền, nội trị, và hoàn tất sự nghiệp mở mang bờ cõi về phía Nam đến tận vùng Hà Tiên, điểm cuối cùng của xứ sở vào năm 1757.

Trong các chế độ phong kiến có đặc điểm: thảng hoặc cũng xuất hiện những kẻ gian thần. Dưới thời Chúa Võ Vương, có gian thần Trương Phúc Loan (cậu ruột của Võ Vương) vì mưu đồ tư lợi đã cố gán ghép Võ Vương loạn luân với người em gái (con chú ruột) chính là đầu mối đưa tới sự sụp đổ của vương triều Chúa Nguyễn. Đến đời Chúa cuối cùng là Định Vương (Nguyễn Phúc Thuần), non sông bị quân Xiêm ngoại xâm, nội chiến Bắc Nam và quân khởi nghĩa Tây Sơn bùng vỡ. Định Vương bị Tây Sơn bắt giết, chấm dứt chín đời Chúa Nguyễn.

Trong đời Chúa Võ Vương, có lẽ vì nội trị đã ổn định (hay bởi lòng đại dung của một ông Chúa Phật tử), nên việc ngoại giao trở nên phóng túng. Năm 1750, ở Đô thành Phú Xuân, Hội Truyền giáo dòng Tên nở rộ : họ lập được hai nhà thờ, một cái của giáo sĩ Kofler (tay này đồng thời làm ngự y cho Võ Vương), nhà thờ thứ hai xây ngay trong Đô thành. Tên Giám mục Lefèbre lại cho xây thêm một nhà thờ khác ở phường Đúc. Giáo hội Công giáo Việt Nam ngày nay, nếu hiểu biết, nên tôn thờ Võ Vương thành bậc Đại Chúa mới phải, bởi nhờ ông mà đầu mối cho một liên hệ với đoàn quân truyền đạo và tập hợp giáo dân bản địa có nên cơ sở, mở rộng mối tham vọng khắn khít của thế chân vạc : thực dân-truyền đạo-đạo quân thứ năm hiện thực vào giữa thế kỷ 19...

Như vậy, qua cơ động lịch sử, Huế trở thành một Kinh đô thứ hai sau Thăng Long, chỗ dừng chân của chín đời Chúa Nguyễn, còn là nơi tụ hội không chỉ là nhân dân từ các vùng Đàng ngoài theo gót Chúa đi vào, còn là di sản của những dòng dõi quần thần phò Chúa Nguyễn để phục hưng Vua Lê nữa. Hậu duệ của đám quần thần này đến thời các Vua nhà Nguyễn tạo nên những “danh gia vọng tộc” ở Huế. Có những dòng dõi yêu nước, anh kiệt, nhưng không thiếu những dòng dõi bán nước cầu vinh. Trong cuốn kỷ yếu “Ngàn Năm Xứ Huế” (do Nguyễn Châu & Đoàn Văn Thông và nhóm Thương Huế xuất bản năm 1993, phần IV) có ghi lại một số dòng dõi tiêu biểu như: Nguyễn Phước (xuất xứ từ vùng Triết Giang, lưu vực sông Dương Tử vào thời Thượng Cổ, sau di cư lần hồi đến lưu vực sông Hồng, đến ngụ cư làng Gia Miêu, tỉnh Thanh Hóa), Nguyễn Khoa (làng Trạm Bạc, tỉnh Hải Dương), Thân Trọng, Hồ Đắc (làng Chuồn), Trần Tiễn (dòng Minh Hương), Nguyễn Tri, Phạm Doãn... Không rõ có phải vì nhóm “Thương Huế” này chờ một dịp khác để kể tiếp vài dòng họ nữa hay vì tôn trọng sự thật lịch sử nên không thấy họ liệt kê vào hai dòng họ rất “độc đáo”: Nguyễn Hữu (Bài) và Ngô Đình (Khả) ?

Nét “độc đáo” này còn là đặc tính chung của một số dòng họ ở vùng khác nữa, như :

Nguyễn Hữu Độ, thuộc một dòng dõi theo đạo Ki-tô từ thời Bá Đa Lộc, được giao chức Kinh Lược Bắc kỳ, gia phong tước Quận Công, đứng đầu ‘tứ trụ triều đình’: con gái được cất nhắc lên hàng nhị giai (hòang quý phi) của Đồng khánh, con trai được truy tặng quan tước, một nhà vinh hiển cho tới lúc chết vì ung thư bao tử vào ngày 18/12/1888” (Theo Vũ ngự Chiêu, ‘Các Vua Cuối Nhà Nguyễn’, tập 2, nxb văn Hóa, trang 480).

Nguyễn Thân, gốc Quảng Ngãi, được lãnh ấn “Khâm mạng Đại thần” để đánh dẹp các phong trào Cần Vương ở Quảng Nam và Bình Định, rất nhiều lần vào sinh ra tử cho quyền lợi Đại Pháp.” (Sách đd, trang 480).

Hoàng Cao Khải, gốc Hà Tĩnh, được cất nhắc từ tri huyện Hà Nội lên tuần phủ Hưng Yên để đánh dẹp chiến khu Bãi Sậy của Nguyễn Thiện Thuật.” (sách đd, trang 481).

Cao Xuân Dục là kẻ rất hăng hái, nhiệt tình dẹp “giặc” Cần Vương ở vùng Hà Nội.” (sách đd, trang 48).

Các dòng họ này thường bùng lên “một phút” rồi chợt tắt, trong lúc hai dòng họ Nguyễn Hữu và Ngô Đình nhờ vào mối liên hệ thông gia tôn giáo-chính trị (Nguyễn Thị Giang, con gái của Nguyễn Hữu Bài kết hôn với Ngô Đình Khôi) đã đưa dòng họ Ngô Đình bồng bềnh với quyền lực đến hơn nửa thế kỷ, mang một nét độc đáo vượt trội hơn cả, bao gồm các đặc tính sau:

- dòng dõi vốn xuất thân từ khố rách áo ôm, nhờ ‘rửa tội’ mà mấy đời con cháu no cơm ấm cật.
- cung cúc phục vụ cho ngoại nhân (thế quyền lẫn giáo quyền).
- tâm chất thì bán nước cầu vinh, nhưng lúc nào cũng cố mang chiếc áo quốc gia, dân tộc.
- đạo đức qua bộ mặt cuồng tín tôn giáo.
- cả hai đều phải “vào ra” cánh cửa các nhà tu Công giáo mà tạo quyền thế về sau.

Theo “Nhân Vật Giáo Phận Huế”, tập I (tác giả Lê Ngọc Bích, tài liệu lưu hành nội bộ), cho rằng “Nguyễn Hữu Bài vốn nguyên quán Thanh Hóa, là hậu duệ của Nguyễn Trãi” (trang 110). (Theo bảng phụ chú “Thế hệ dòng họ” (trang 111), Hoài Vy ghi nhận có rất nhiều dấu hỏi cần phải được đặt ra trên phương diện sử liệu về mối liên hệ dòng họ của ông Bài với Nguyễn Trãi, nhưng đây là một vấn đề khác cần được trình bày ở một bài viết khác). Phêrô Giuse Nguyễn Hữu Bài, sinh ngày 18-9-1863 tại làng Cao Xá, phủ Vĩnh Linh, Quảng Trị. Thời thiếu niên, cha mất sớm, năm lên 10 tuổi mẹ ông xin linh mục Gioan Châu bảo trợ vào tiểu chủng viện An Ninh. Chính Linh mục Caspar (tên Việt: Lộc) có lần khen “Bài là một thanh niên tuấn tú, tương lai thành tài, đạt đức.” (trang 112), sau đó gời ông đi học chủng viện Pénang (Mã Lai). Học xong, Bài về nước vào đúng lúc hòa ước Patenôtre Việt-Pháp vừa được ký kết, Bài được giới thiệu làm thừa phái Nha Thương Bạc (chức nhỏ tùng sự tại cơ quan ngoại giao của triều đình, việc chính là làm thông ngôn). Năm 1887, ông được cử đi đánh giặc “thổ phỉ” miền thượng du Bắc kỳ trong 5 năm (sách đd, trang 113). Đây mới là chỗ có vấn đề! Giữa lúc thực dân dân Pháp tác oai tác quái trên khắp lãnh thổ Việt Nam, giai tầng “phục dịch ngoại nhân bản địa” thăng quan tiến chức, trong lúc các phong trào Cần Vương yêu nước nổi lên kháng chiến khắp nơi. Ở Bãi Sậy có Nguyễn Thiện Thuật, Tạ Hiện, Phạm Bành. Ở Thanh Hóa có Đinh Công Tráng với căn cứ Ba Đình. Ở Bắc Giang có Hoàng Hoa Thám với chiến khu Yên Thế. Ở Hưng Sơn (Hà Tây) có Phan Đình Phùng, Cao Thắng... Cao trào kháng chiến bùng nổ năm 1887, là kết quả một chuổi tiếp nối từ “Sau biến cố 1885, tầng lớp “ký lục” kiêm “thông sự” được đeo thẻ bài ở Tòa Khâm, cái giai tầng được sự đỡ đầu bằng đề cử của các giáo sĩ ở ngoại quốc. Họ thành lập giai tầng trung gian bản xứ thay thế giai tầng Văn Thân nho sĩ và thường biện minh cho sự hợp tác với Pháp qua chiêu bài “thánh chiến” lập tân trào.” (Vũ Ngự Chiêu, sách đd, tập 2, trang 484)

Ngược lại với cảnh tượng nhốn nháo trên, hàng hàng lớp lớp sĩ phu trên lãnh thổ phía Bắc, các anh hùng kháng Pháp nổi lên khắp nơi, thì ông Nguyễn Hữu Bài lại được triều đình (tất nhiên là qua mật lệnh của Pháp) được cử đi đánh dẹp “thổ phỉ” (theo Lê Ngọc Bích, sách đd). Thổ phỉ thật ra là một lối chơi chữ để tránh phải gọi là các anh hùng nghĩa quân chống Pháp, một lối chơi chữ ‘xách mé’ vô trách nhiệm, không biết hổ thẹn với lương tâm, không sợ phải mang tội với lịch sử dân tộc. Biết bao nhiêu anh hùng kiểu ‘thổ phỉ’ này đã bị bọn người bản xứ được "rửa tội" và đeo "thánh giá" vào người gài bẫy, giết hại để lập công với nước Đại Pháp !. Và cũng nhờ các công trạng đó, Bài được thăng tiến từ Bố chánh Thanh Hóa rồi ngóc đầu lên tới Thị lang Bộ Lại, Thượng tá Cơ Mật, Tham tri Bộ Hình, sau cùng là Thượng thư triều đình. Năm 1922, được đi sứ sang pháp, tháp tùng vua Khải Định với chức Hộ giá Đại thần, Bài ghé thăm kinh đô của con dân Chúa là Vatican, được Giáo hoàng Piô XI cho quỳ xuống hôn chân, tâm hồn Bài bốc lên tận mây xanh, làm bài thơ ca ngợi “Nước Thánh” như sau:

Nghe rằng La mã, nước văn minh,
Rằng mới qua xem thấy hiện hình.
Cung điện Giáo hoàng còn vị trí,
Thành trì Ý quốc đã kinh dinh.
Thần đồ, từ vũ, nên kỳ tuyệt,
Cổ tích lâu đài thật khủng kinh.
Yết kiến mông ơn chầu Thánh tọa,
Trăm phần danh giá, bội thêm vinh.”

(“Lịch Sử Giáo Phận Huế”, ‘Vịnh đi La mã’, trang 116. Theo chú thích của Lê Ngọc Bích, “thần đồ”: tượng ảnh, “từ vũ”: đền đài ).

Bài thơ ‘xuất thần’ ca tụng Vatican này đáng được Giáo hội Công giáo Việt Nam khắc bảng vàng để ghi nhớ tấm lòng sắt son của những kẻ biết “hiếu nghĩa”.

Bản chất của Bài rất đáng được xếp loại vào giai tầng “trung gian” mà Vũ Ngự Chiêu đã mô tả rất cụ thể : “Vào thời điểm 1885, đây không còn là những lời cáo buộc vô bằng chứng nữa. Vì lý do này hay lý do khác, đa số tín đồ Ki-tô đã bị lọt vào vòng ảnh hưởng của Pháp, và một thiểu số khác – vì cuồng tín hay vì danh lợi bản thân, hoặc cả hai – tích cực hợp tác hoặc phục vụ quân viễn chinh Pháp. Trên khắp chiến trường từ Bình Thuận ra tới thượng du Bắc Việt, đại đa số thông sự, nho, lính tập, điềm chỉ, dẫn đường cho Pháp là giáo dân Ki-tô.” (sách đd, tập 2, trang 456).

Và danh lợi muốn bền vững cũng cần sự kết hợp gắn bó: “Ông Nguyễn Hữu Bài có một người bạn đồng liêu lớn hơn ông chừng một con giáp: ông Ngô Đình Khả (1857-1923). Hai vị đều là lương đống của triều đình, đồng hương, đồng đạo và đồng chí. Mỗi vị có những hoạt động khác nhau, nhưng hỗ trợ nhau.” (Theo Lê Ngọc Bích, sách đd – tập I, trang 125).

Khá khen cho cụ Lê Ngọc Bích dùng chữ để mô tả khá cụ thể: hai họ có rất nhiều cái “đồng”, nhưng đồng chí mang một nét “độc đáo” nổi bật. Ông Khả và ông Bài đã đồng chí ở những điểm nào ?

Trước hết, hãy nhắc lại tông tích của ông Khả là ai? – Micae Ngô Đình Khả sinh năm 1857 nguyên quán làng Đại Phong, huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình. Thuở nhỏ, Khả được cha là Giacôbê Ngô Đình Niêm hay cho đi giúp lễ với một vị linh mục Pháp ở họ đạo Mỹ Duyệt Hạ (tổng Thạnh Xá, Lệ Thuỷ). Năm 1870, Khả được Linh mục Caspar (Lộc) cho đi học chủng viện Pénang. Học được 8 năm, đến năm 1878, nhưng “không thấy ơn Chúa gọi”, nên lấy vợ cho ấm thân. Lấy vợ lần thứ nhất với Madelêna Chĩu, bà này qua đời, lấy vợ lần nữa (năm 1889) với Anna Phạm Thị Thân. (Theo Lê Ngọc Bích, sách đd, trang 105-109, tập I).

Chúng tôi chưa biết có tài liệu nào nói đến việc ông có con cái gì với bà Chĩu hay không, riêng với bà Thân, đã đẻ ra một loạt quý tử Ngô Đình, có người về sau làm tới tổng thống. Cũng như Bài, ông Khả đã “vào ra” chủng viện Pénang, làm thông ngôn, Cơ Mật viện triều đình, quan hàm Chánh Tứ Phẩm, thăng đến Thượng Thư Bộ Công. Nét giống nhau độc đáo nữa, là 12 năm sau (1895) kể từ ngày Phêrô Giuse Bài ra Bắc trừng phạt “thổ phỉ”, Micae Khả được cử làm Phó tướng cho Nguyễn Thân ra Bắc đánh dẹp nghĩa quân “phản loạn” Cần Vương ở Vụ Quang (căn cứ kháng chiến của Phan Đình Phùng). Khả thắng trận, nhưng chưa hả dạ, đào mã lấy xác cụ Phan trộn thuốc súng làm đạn, bỏ vào súng đại bác bắn cho tiêu xác trên sông Lam giang.

Đây là “trò chơi” độc đáo nhất của “cụ” Khả, đúng là “Đức lớn tài cao, trí có thừa; Đại thần Thị vệ tiếng khi xưa...” (‘Nhân Vật Giáo Phận Huế’, Lê Ngọc Bích, sách đd, trang 109).

Cái tâm chất “trí có thừa” này hẳn là một nhiễm-sắc-thể di truyền khó thoát : các hậu duệ của ông Khả như Ngô Đình Khôi – đã từng nổi danh với cách dùng mãnh sành và nước lạnh để tra khảo những người làm cách mạng lúc ông làm Tổng đốc Quảng Nam, hay “cụ Ngô” hồi làm quan lớn cũng từng dùng đèn cầy hơ nóng hậu môn tù nhân ngay lỗ khoét của ghế ngồi để tra khảo tù nhân cách mạng. Có người đã cho rằng, một kẻ làm đến tổng thống, khi đã ra lệnh tấn công chùa chiền, bắt bớ hàng ngàn tăng ni, thì việc ác nào cũng có thể làm. Hậu duệ Ngô Đình Cẩn với ‘Chín Hầm’ ở gần Phủ Cam, Huế là nơi đã bức tử, hại sinh biết bao sinh mạng vô tội; hay một đứa con khác đã đi tu tới chức Giám mục rồi, mà vẫn đeo đẳng tinh thần:

Ngô Đình Thục háo danh thèm chức tước,
Tiếm loạn quyền nên cả nước khinh khi,
Tu hành gì mà gian ác sân si!
Thế mà vẫn nghiễm nhiên làm Giám mục...”

(Nguyễn Mạnh Quang, ‘Thực Chất của Giáo Hội La Mã’,  tập 2, tác giả xb, trang 571).

Nhận định về công trạng của hai đại dòng họ Nguyễn Hữu-Ngô Đình đã đóng góp cho thế quyền (Đại Pháp) và giáo quyền (Giáo hội Công giáo Vatican) lớn tới đâu, chỉ có trong nội bộ của hai thế lực này biết thôi, nhưng có một câu vè trong dân gian ở Huế về hai nhân vật này   Đày vua có Khả, đào mã có Bài” vẫn còn là dấu hỏi. Dấu hỏi bởi, theo các tài liệu lịch sử Giáo hội Công giáo VN viết thường là ca tụng hai nhân vật “độc đáo” này hết lời, và tất nhiên câu vè dân gian trên được sửa lại:

Phế Vua không Khả, Đào mã không Bài” (“Nhân Vật Giáo Phận Huế”, sách đd, tập I, trang 115) để ám chỉ tới lập luận của chính họ: Bài đã từng “lên tiếng” ngăn chận, dù không thành Khâm sứ Mahé ngang ngược bắt khai quật lăng Vua Tự Đức lấy vàng ngọc châu báu vào năm 1907, dưới triều Vua Duy Tân. Ông Thượng Ngô Đình Khả “phản đối” Pháp trong âm mưu truất phế và đày Vua Thành Thái (‘cũng chỉ lên tiếng thôi mà không thành’!). Cho tới hôm nay, các nhà viết sử ở nước ngoài chưa thấy ai nói rõ điều này một cách rạch ròi cho thỏa lòng dân Huế. Đến ngay cả tác giả Hoàng Trọng Thược trong “Hồ Sơ Vua Duy Tân” (Thanh Hương xuất bản 1984, Hoa Kỳ) cũng dùng tài liệu cũ vốn thiếu phần chính xác để xác nhận việc Ngô Đình Khả không chịu ký tờ biểu vua thoái vị (trang 410). Nhưng với vai trò “Thị vệ” (đúng nghĩa là làm nhiệm vụ cảnh sát và báo cáo) báo cáo mọi hành vi, nhất cử nhất động của Vua Thành Thái lên quan Đại Pháp, thì sự việc ông Khả có lên tiếng “phản đối’ âm mưu “truất ngôi, đày vua” có thật hay không cũng chẳng có giá trị thuyết phục nhân dân Việt thay đổi cái nhìn về bản chất và hành động của Bài và Khả.

Theo nhận xét qua phương pháp phân tích sử liệu của Vũ Ngự Chiêu (‘Các Vua Nhà Nguyễn’, tập 2), chúng ta thấy có sự mâu thuẫn giữa Giáo hội Công giáo (bản xứ + truyền giáo) và chính quyền thực dân về việc truất phế Thành Thái. Báo ‘L’Avenir de Tonkin’ (có cổ phần của Hội Truyền giáo) đã báo cáo về Paris rằng: “Có vẻ Thành Thái đã rửa tội trong một cơn bệnh nặng trước khi lên ngôi (1884). Hội Truyền giáo chẳng bao giờ chống lại vua; vài năm trước Hội đã vận động để cắt cử một giáo dân Ki-tô, Ngô Đình Khả vào chức vụ thân cận cho phép hành xử trên vua những ảnh hưởng trực tiếp và liên luỹ...” (trang 583).

Quan điểm của chính quyền thực dân Pháp (qua đại biểu Khâm sứ F. Levecque, có khuynh hướng Tam Điểm (‘Freemason’ – vốn không ưa Công giáo Rôma) không quan tâm lắm tới một ông vua bù nhìn có “rửa tội” hay không, mà là một ông vua tương đối “tử tế”, biết vâng lời nước Pháp và quan Đại Pháp. Trong lúc Hội Truyền giáo và nhóm Ki-tô thì thích một ông vua đã rửa tội hơn, và điều quan trọng nhất là họ có khả năng kiểm soát và kiềm chế ông vua này không. “Ngô Đình Khả – người được giao chức quan Thị vệ và an ninh Cấm thành – bị nghi là gieo rắc những ảnh hưởng tai hại trên vua.” (Vũ Ngự Chiêu, tập 2, sách đd, trang 585). Trong lá thư ngày 15/8/1907, Khả vận động 154 học sinh Quốc Tử Giám gởi Khâm sứ Levecque tỏ lộ rằng: “Yêu cầu Pháp ban cho họ một ông vua mà chỉ nguyên sự hiện diện đủ trấn an tinh thần binh sĩ và các liệt thần của đế quốc.” (sách đd, trang 585). Do đó, vấn đề Khả dù có chống việc “phế ngôi, đày vua”, không phải vì ông ta thương xót gì triều đình nhà Nguyễn, lo cho sơn hà xã tắc nước Nam, mà do điều đó có phù hợp với mưu đồ hợp tung giữa Bài và Khả, có được lòng Giáo hội Mẹ, quyền lợi nước Đại Pháp và khả năng khuynh loát triều chính hay không ? Câu trả lời : ngày 3/9/1907, Nguyễn Hữu Bài, cùng Phủ Phụ Chính (tất nhiên trong đó có Khả) chấp nhận giải pháp của nước Đại Pháp, và hơn một tháng sau (17/10/1907), Vĩnh San (hoàng tử thứ hai mới 10 tuổi) lên ngôi, Thành thái phải rời Huế đi Bà-rịa, mở đầu cho cuộc đời tù đày long đong viễn xứ của ông vua giả điên này.

Một tài liệu khác trong “Lịch Sử Phật Giáo Huế” của Thượng tọa Thích Hải Ấn và Hà Xuân Liêm (nhà xb TP/Hồ Chí Minh 2000) lại trưng ra những chứng cớ đơn giản hơn, khẳng quyết Nguyễn Hữu Bài là kẻ đã đồng ý đào mã Vua Tự Đức : “Nguyễn Hữu Bài là người đã ký giấy để bọn thực dân Pháp quật lăng Vua Tự Đức. Điều này có thể không sai, bởi vì ông đã nói với ông A. Delvaux là “nước Pháp đã mở rộng nền bảo hộ của họ một cách “cực chẳng đã”, nghĩa là điều nước Pháp không muốn, họ vẫn bị đẩy bởi sự vi phạm không ngừng các hiệp ước do triều đình Vua Tự Đức gây nên.” (dẫn theo LSPGH, trang 355-356 A. Delvaux, ‘Quelques précisions sur une période troublé d’histoire d’Annam’ – Bulletin des Amis du Vieux de Hue số 3, năm thứ 28). Đây là lối luận định - tư tưởng đã như vậy thì hành động không thể khác. Riêng Ngô Đình Khả “là người đã ký giấy cho bọn thực dân Pháp đày Vua Thành Thái sang Réunion. Dân Huế còn truyền tụng “Đày vua ông Khả, đào mã ông Bài”” (trang 356). “Lịch Sử Phật Giáo Huế” đã kết luận về con người ông Khả rằng : “Mấy chữ sau đây của ông Nguyễn Đình Hòe nói về ông Ngô Đình Khả, mà Louis Sogny trích lại trong bài viết của ông ở BAVH (Bulletin des Amis du Vieux de Hue), tưởng là quá đủ: “...un grand serviteur de la France...” Cho nên đối với nước Việt Nam và dân tộc Việt Nam, nhất là dân Huế, thì ông Ngô Đình Khả đã bị “tombé dans l’oubli depuis longtemps” như lời ông Nguyễn Đình Hòe đã nói vào đầu thế kỷ 20 này là điều hiển nhiên vậy.” (LSPGH, trang 357).

Đúng vậy, cái ‘tên’ Ngô Đình Khả – “một đại-tôi-tớ cho nước Pháp” đã bị tiêu trầm trong lòng người dân Huế một thời gian dài đằng đẳng, nhưng dòng họ Ngô Đình chỉ thật sự hoàn toàn “xóa sổ” vào ngày 13/12/1984, lúc Tổng Giám mục Ngô Đình Thục (con trưởng nam cuối cùng của dòng họ Ngô Đình) lìa trần trong tình trạng “tù đày” (captivity) cô độc sau một thời gian dài công khai chống lại Vatican. Còn một chút ảo vọng khác là Hồng y Nguyễn Văn Thuận (cháu ngoại của Ngô Đình Khả (*)),  trong niềm mơ ước hoang tưởng của một số người Công giáo hoài Ngô ôm ấp viễn mộng một ông Giáo hoàng Việt Nam đầu tiên – ngày 16/9/2002 cũng đã “về với Chúa”. Ngoài những “hậu duệ” bàng dân thiên hạ như Lữ-Giang-Tú-Gàn còn tỏ chút “Đôi dòng ghi nhớ”, và những bùi ngùi, luyến thương công khai hoặc âm thầm khác; từ đây không biết còn có những tung hô “dựng đền tạc tượng” dòng họ Ngô Đình nữa hay không – cũng chỉ vì những bâng khuâng tiếc nuối, mơ tưởng về đống của phù vân đã tan biến theo dòng đời ?

Nguyễn Hạnh Hoài Vy
(Thu 2002 - hồi tưởng về 1.11.63)

[(*) Trích sau đây là một đoạn qua bản tin "Hồng y Nguyễn Văn Thuận từ trần" của website Diễn Đàn Pa-ri tháng 10 năm 2002 : “Theo thông tín viên của chúng tôi ở Roma, cách đây vài tháng, em trai của hồng y, ông Nguyễn Văn Tuyên, đã từ trần tại Houston, Texas. Ông Tuyên sống độc thân sau khi li dị, chết đơn độc không ai hay. Nhiều ngày sau, bạn bè mới phát hiện khi thấy đàn quạ bay vần vũ trên nóc nhà”].

 

Home   |  Go top page  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm.  Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: giaodiem@giaodiem.net

. ..........