-
-
Cho mãi đến đầu thập niên bảy mươi,
tên tuổi Bửu Chỉ (1948-2002) mới đến với tôi trong vùng chiến khu Thừa
Thiên Huế với các tranh bút sắt dùng làm bìa các đặc san Đất Lành
(Sinh viên Luật Khoa Huế ,Tháng 3/1969), Tin Tưởng (Đoàn SVPT Huế, Số 1, Phật
Đản 2515, 1971), Đất Nước Ta (Đoàn Công tác xã hội SVHS Huế, 1971). Qua
năm 1972, được xem tấm ảnh Bửu Chỉ nhỏ thó đội mũ nồi nghiêng như
Ché Guevara đứng vẽ tranh biếm hoạ chống Mỹ trên tường Morin (Đại học
Văn khoa Huế), anh Hoàng Phủ Ngọc Tường nhớ ra Bửu Chỉ là học trò cũ
của anh ở trường Quốc Học Huế. Không thể ngờ con người Hoàng tộc
nhỏ thó ấy lại có thể vẽ những bức biếm hoạ đấu tranh mạnh mẽ
đến như thế ! Không lâu sau đó,
chúng tôi lại được tin Bửu Chỉ cùng với một người bạn cũng vừa tốt
nghiệp Đại học Luật khoa Huế là Nguyễn Duy Hiền bị bắt, chúng tôi rất
xúc động. Thành ủy Huế bí mật vận động sinh viên học sinh Huế đấu
tranh đòi thả Bửu Chỉ Nguyễn Duy Hiền, đồng thời chỉ đạo những
người cầm bút giải phóng chúng tôi viết bài gởi Đài Phát thanh Giải
phóng và báo chí Hà Nội tố cáo chính quyền Sài Gòn bắt bớ giam cầm những
sinh viên yêu nước vô tội.
Cùng xuất thân phong trào tranh đấu, với sự cảm phục nhau sẵn có, ngày thống nhất đất nước (1975), tôi gặp
Bửu Chỉ lần đầu mà như gặp lại một người bạn cũ như Trịnh Công
Sơn, Đinh Cường, Tôn Thất Văn...Rồi từ ấy, chúng tôi cùng hoạt động
văn nghệ Bình Trị Thiên, cộng tác với tạp chí Sông Hương, cùng phụ
trách Hội Văn Nghệ Thành phố Huế (1988-1900)...trong một thời gian dài. Giữa
chúng tôi, người nào cũng có cá tính, đôi khi cực đoan, cho nên nhiều
lúc xảy ra chuyện đập bàn đập ghế cãi nhau tưởng chừng như không bao
giờ còn nhìn mặt nhau nữa. Nhưng rồi đâu lại vào đó, giữa chúng tôi
“buồn ít hơn vui”, lại chơi với nhau. Vào đầu những năm Tám mươi, có
lần tôi đã cao hứng “liều mạng” viết bài giới thiệu hoạ sĩ Bửu
Chỉ trên Báo Ảnh Việt Nam. Đáp lại, Bửu Chỉ là người vẽ bìa cuốn
sách Triều Nguyễn và Huế xưa đầu tiên của tôi (Hương Giang Cố Sự,
1986) và một số đầu sách khác do tôi biên soạn sau đó.
Trong đám bạn bè vong niên của tôi, Bửu Chỉ là người có tính
cách đặc biệt nhất. Cái tính cách mà ai cũng nhận thấy nơi Bửu Chỉ là
“chướng”, “ngạo”, “cực đoan”, và đôi khi “táo bạo”. Đối với
những người không có cá tính, không có bản lĩnh, hay a-dua, thiếu trung thực
Bửu Chỉ dứt khoát “không chơi”. Mà đã “không chơi” là tỏ thái độ
rõ ràng chứ không úp mở, màu mè để đánh lừa người khác. Bửu Chỉ
là một Hoàng tộc, cháu 5 đời của vua Minh Mạng, nhưng anh ít khi tham gia
các lễ lạt của Nguyễn Phước tộc, của Phủ Tuy Lý. Năm rồi (2002) không
thấy Bửu Chỉ tham dự lễ kỵ vua Thế Tổ nhân 200 năm đặt niên
hiệu Gia Long, tôi hỏi lý do, Chỉ bảo :“Chuyện triều Nguyễn đã qua rồi,
tôi không muốn gặp một số người tư cách rất kém mà xun xoe con vua
cháu chúa, chướng lắm!” Thái độ cực đoan của Bửu Chỉ đã làm cho
nhiều bà con trong Hoàng tộc không hài lòng. Đối với Hoàng tộc mà còn
như thế, cho nên xã hội khó tìm được sự chan hoà nơi anh.
Tôi làm nhà vừa xong, Bửu Chỉ
lên thăm. Thấy cái phòng khách đẹp mà các bức tường chung quanh đang để
trống, Bửu Chỉ chỉ vào bức tường chính giữa nhà và bảo tôi: “Ông
dành cho tôi bức tường nầy, tôi sẽ mừng nhà mới của ông một bức
tranh đã triển lãm ở Hồng Kông rất thích hợp với con người nghiên cứu
Huế của ông nhưng với điều kiện ông không được treo thêm bất cứ
tranh của ai trong cái phòng khách nầy nữa”. Thật là chuyện bất ngờ
đối với tôi, tôi đồng ý. Mấy hôm sau bức Người Mang Dáng Cổ Thành
“ngự” lên phòng khách nhà tôi. Các con tôi rất quý bức tranh của Bửu
Chỉ nhưng không biết đã có một “cam kết” giữa tôi và Bửu Chỉ như
thế nên chúng đã treo thêm ở phòng khách một tranh của Điềm Phùng Thị
tặng tôi từ hồi bà mới ở Pháp về. Lên chơi, thấy có thêm bức tranh
của bà Điềm (ông Bửu Điềm cùng một cụ cố với Bửu Chỉ), Bửu Chỉ
không dám phản đối nhưng giận tôi đã không giữ lời hứa. Tôi phải giải
thích mãi anh mới chịu bỏ qua.
Bửu Chỉ xuất thân trong một gia đình giỏi Pháp ngữ. Thân mẫu của
hoạ sĩ là bà giáo Nguyễn Thị Trâm (1906) - người từng dịch truyện Kiều
sang Pháp ngữ, dạy tiếng Pháp cho Bửu Chỉ từ khi Chỉ mới nói bập bẹ.
Chỉ là em thứ 14 trong gia đình (em út), các anh chị của Chỉ cũng đều
giỏi Pháp ngữ. Nhờ giỏi Pháp ngữ, Bửu Chỉ đã đọc được các sách
hội hoạ thế giới trong tủ sách nghệ thuật của thân sinh - cụ Ưng Thuyên
(1900), nên anh có kiến thức về hội hoạ khá vững, nhiều hoạ sĩ cùng lứa
tuổi khó đuổi kịp anh. Từ hồi học Tiểu học ở trường Thế Dạ và
trường Trung học Quốc Học, học môn sinh vật, Bửu Chỉ vẽ rất đẹp.
Lớn lên nghiên cứu các trường phái cổ điển (classicisme), tả thực (réalisme),
siêu thực (suréalisme), tượng trưng (symbolisme), lập thể (cubisme), ấn tượng
(impressionnisme), các môn phái Flammand, Florence, Padoue.v.v. Bửu Chỉ biết
mình đứng ở đâu và phải làm gì để tạo ra “trường phái Bửu Chỉ”
riêng cho mình. Và, Bửu Chỉ không chỉ nghiên cứu hội hoạ, anh còn say
mê đọc sách chính trị, đọc Kinh Dịch, và cuối đời còn nghiền ngẫm
sách Phật. Trong tranh của Bửu Chỉ sau nầy ta thấy có mặt trời xuất hiện
cùng với mặt trăng, màu đỏ đi bên cạnh màu đen. Đó là biểu tượng của
âm dương trong Kinh Dịch. Và, không chỉ chuyện sách vở, Bửu Chỉ rất nhạy
bén trước các vấn đề thời sự chính trị trong và ngoài nước. Là một
nghệ sĩ, rất đam mê, dục tính mạnh, nhưng trong các cuộc hội thảo,
các cuộc họp, bao giờ Bửu Chỉ cũng trình bày ý tưởng của mình một
cách hùng biện (éloquence), khúc chiết và trí tuệ. Bửu Chỉ ít viết, mỗi
khi cần phải viết thì anh viết như một người cầm bút thực thụ, văn
hay, ý tưởng mới và dũng cảm. Bài Về Trịnh Công Sơn Và Những Ca Khúc
Phản Chiến Của Anh của Bửu Chỉ đăng trong sách Trịnh Công Sơn
(1939-2001) Cuộc Đời Âm Nhạc, Thơ, Hội Hoạ và Suy Tưởng (Nxb Văn Nghệ
TP HCM, 2001) là một tiểu luận (essai) rất được bạn đọc quan tâm. Qua
tiểu luận nầy Bửu Chỉ đưa ra ý niệm nhạc phản chiến của Trịnh
Công Sơn là tiếng nói của lương tâm. Ngày nay dù chiến tranh đã đi qua
hơn ¼ thế kỷ rồi, “...chúng ta vẫn đang cần đến lương tâm, lòng
nhân ái cho những việc lớn lẫn việc nhỏ. Và chúng ta đừng bao giờ nhìn
về bi kịch con người bằng một cái nhìn đơn giản.” (Sđd. tr. 26).
Tôi không rành hội hoạ, tôi nhìn Bửu Chỉ dưới con mắt của người
cầm bút. Chơi với Bửu Chỉ tôi có cảm giác anh vẽ theo luận đề. Tức
là ý tưởng có trước và anh tìm hình tượng và màu sắc để vẽ ý tưởng
ấy thành tranh. Ý tưởng thời tranh đấu vẽ bằng bút sắt mực đen là
người dân bị áp bức vùng lên phá vỡ gông xiềng, đòi cơm áo, hoà
bình, độc lập. Lúc tài năng chín muồi trong hoà bình với chất liệu
màu dầu anh nghĩ về thân phận làm người hữu hạn trong cái vô hạn của
không gian và thời gian. Anh hình dung đến những ngóc ngách phức tạp của
thân phận làm người. Con người mong manh, sinh ra và mất đi rồi lại hoá
kiếp. Trên thân tượng đá già cỗi nứt nẻ nẩy sinh những chùm hoa ngũ
sắc xinh đẹp (Ngựa Đá), bức cổ thành khép chặt quá khứ đong đưa chiếc
quả lắc đồng hồ, mang cả dĩ vãng đi vào tương lai (Người Mang Dáng Cổ
Thành). Con người không thể tránh được vực thẳm của hủy diệt. Nhưng
cái vực thẳm hủy diệt của Bửu Chỉ chịu ảnh hưởng của đạo Phật
nên không bi đát như triết học hiện sinh (existentialisme) của Albert Camus,
của Jean P.Sartre. Dưới cái vực thẳm của số phận đôi khi loé lên một