
|
NHÌN LẠI
CUỘC TRANH ĐẤU PHẬT GIÁO 1963 Trần
Chung Ngọc Thời gian trôi nhanh như bóng câu qua cửa,
thấm thoắt đã 40 năm, kể từ mốc thời gian 1963, năm mà chế độ bạo
tàn của Phán quan Tây Ban Nha (Spanish inquisitor) Ngô Đình Diệm cáo chung ở
miền Nam Việt Nam. 1963: một năm đầy sôi động tại miền
Nam Việt Nam với những cuộc biểu tình của mọi tầng lớp dân chúng, những
cuộc tự thiêu của Tăng, Ni, Phật tử, phản đối chính sách độc tài
gia đình trị, Công giáo trị của chính quyền Ngô Đình Diệm (NĐD). Như một con thú điên cuồng sắp dãy chết,
chính quyền NĐD đã bắt bớ, tra tấn, tù đầy Tăng, Ni, sinh viên, học
sinh v..v.., đi đến cao điểm là đồng loạt tấn công chùa chiền trên khắp
nước ngày 21 tháng 8, 1963, bắt bớ và giết hại hàng ngàn Tăng, Ni, Phật
tử. Chủ trương tiêu diệt Phật Giáo
để “Công giáo hóa” miền Nam vốn đã in sâu vào tâm thức của những
tín đồ Công giáo cuồng tín, tổng hợp của ngu dốt, huênh hoang và hợm
hĩnh vô lối, như Ngô Đình Diệm, theo đúng sách lược “cứu cánh biện
minh cho phương tiện” của Vatican để “Công giáo hóa toàn cầu”, tưởng
rằng làm như vậy thì có thể “vinh danh một anh thợ mộc Do thái ở
trên trời”. Cuối cùng, việc phải
đến đã đến, ngày 1 tháng 11, 1963, quân đội đã đứng lên lật đổ chế
độ bạo tàn của NĐD. Một giai đoạn lịch sử đen tối nhất
của miền Nam Việt Phật Giáo đã tha thứ cho gia đình họ
Ngô Đình về những tội ác của họ đối với Phật Giáo và người dân
Việt. Vì Phật Giáo nhìn Ngô Đình Diệm
như là một con người bị vô minh sai khiến, một sự vô minh trầm trọng
bắt nguồn từ ý thức hệ tối tăm dầy đặc của Công giáo Rô Ma (Dr.
Barnado: the thick darkness of Romanism). Điều
mà Phật Giáo muốn dứt bỏ là vô minh chứ không phải là con người bị
vô minh sai khiến. Giáo lý Phật Giáo khẳng định: một niệm sân hận nổi
dạy có thể thiêu đốt cả rừng công đức. Bài viết này cũng không do
động cơ thù hận thúc đẩy, mà chỉ có mục đích ôn lại chuyện cũ để
biết chuyện mới, hay nói cho đúng hơn, để cảnh giác chuyện lịch sử rất
có thể tái diễn nếu chúng ta lơ là, phó mặc mọi sự cho cuộc đời trôi
chảy, để cho Công giáo lộng hành, tự tung tự tác trong sách lược Cải
Đạo Á Châu, theo lệnh của Giáo hoàng John Paul II trong bản “Tông Huấn
Giáo Hội Tại Á Châu” (Ecclesia in Asia), tung ra cuối năm 1999. Hàng năm, vào dịp 1/11, tại một số
ốc đảo Công Giáo Việt Nam ở hải ngoại, cái gọi là “Phong Trào Phục
Hồi Tinh Thần Ngô Đình Diệm” lại tổ chức tưởng niệm Ngô Đình
Diệm và đưa ra những luận cứ hoang đường, hoàn toàn sai sự thực lịch
sử để tôn vinh NĐD như là một nhà yêu nước chống Cộng, còn cụ thì
không “mất nước” (sic) v..v... Họ không buồn quan tâm đến câu hỏi
then chốt: Tại sao cụ lại không còn, trong khi cụ vẫn tin rằng có “ơn
trên” (sic) phù hộ? Tác giả Trần Văn
Kha cũng đã đưa ra câu hỏi: “Nhà Ngô đã có nhiều công mở mang nước
Chúa. Thế mà lại không được “ơn
trên” phù hộ, vẫn bị bắn chết! Tại sao?” Câu trả lời là: Thực tế đã chứng tỏ
chẳng làm quái gì có cái gọi là “ơn trên”, và “cụ không còn”
chính là luật nhân quả: ác giả ác báo. Tại sao một người như NĐD mà vẫn
còn được tôn vinh? Họ tôn vinh NĐD
không phải vì ông Diệm là người có tài, có đức, mà chỉ vì ông ta là
người Công Giáo, được Tòa Thánh và Mỹ đưa về để làm một lá bài
chống Cộng cho Mỹ và cho Vatican, đi kèm với âm mưu Công giáo hóa Việt
Nam, hay ít ra là miền Nam Việt Nam. Điều
này không lấy gì làm lạ vì hành động tôn vinh NĐD cũng chẳng khác gì
những việc mà họ đã làm trước đây và tiếp tục làm bất kể đến
liêm sỉ và lương thiện trí thức: tôn vinh những tên Việt Gian như Pétrus
Ký, Nguyễn Trường Tộ, Trần Lục, Nguyễn Bá Tòng, Lê Hữu Từ v..v.. chỉ
vì những người có danh này, dù là danh xấu vạn niên đối với tuyệt đại
đa số người dân Việt Tại sao những người Công Giáo, trong
thời buổi này, mà vẫn còn tiếp tục làm những công việc bất lương trí
thức như vậy. Vì họ có một mặc cảm
tôn giáo. Từ xưa tới nay, họ được
giáo hội dạy rằng, sau khi rửa tội họ đương nhiên thuộc một “hội
thánh”, đạo của họ là một tôn giáo thiên khải, thánh thiện, người
Công Giáo đương nhiên phải là những người thánh thiện, và các vị chăn
chiên, từ giáo hoàng trở xuống tới các linh mục đều là những người
thay Chúa có thể ban phúc lành cho họ hay cầm giữ họ không cho họ lên
thiên đường sau khi chết. Những niềm
tin thuộc loại mê tín, phi lý, lỗi thời này đã được cấy vào đầu
óc họ từ khi họ còn nhỏ, chưa đủ trình độ và khả năng suy nghĩ để
phân biệt phải trái trắng đen. Cho
nên, khi lớn lên, họ không có cách nào dứt bỏ được những niềm tin này,
nhất là khi họ thuộc lớp người nghiện đạo, có đầu óc khuyết tật,
không chịu tìm hiểu về ngay chính tôn giáo của mình. Nhưng ngày nay, trước những sự thật
về lịch sử tàn bạo của giáo hội, về bản chất dối trá của giáo hội,
và nhất là trước những sự thật xã hội liên quan đến vấn đề đạo
đức của giới chăn chiên, từ giáo hoàng trở xuống tới các linh mục,
càng ngày càng được phanh phui phơi bầy, họ không đủ can đảm để đối
diện với sự thật, do đó cố tìm cách tự vệ và bảo vệ đức tin của
mình, bất kể là những hành động tự vệ hay bảo vệ này là những
hành động bất chính, bất lương trí thức.
Trong bài “Tản Mạn
Chung Quanh Cuốn “Linh Mục Trần Lục: Thực Chất Con Người Và Sự Nghiệp
của Bùi Kha và Trần Chung Ngọc”, đăng trong Giao Điểm số 35, tác
giả Nguyễn Ngọc Quỳ ở “...Kết hợp người “nâng”,
cách “nâng”, và đối tượng được “nâng” lại với nhau trong một
phương trình, tôi giật mình tìm ra được đáp án cho hiện tượng quái đản;
Cứ người Công giáo làm thì Công giáo Việt Nam phải nhắm mắt mà khen. Bất chấp chuyện làm có xấu mấy đi
chăng nữa. Họ không lý đến sự thật,
và cũng chẳng cần đắn đo xem có xúc phạm đến dân tộc hay không. Tình cảm tôn giáo của người Công giáo
Việt Nam mạnh hơn liên đới của họ với đất nước Việt Nam, và áp đảo
hẳn một chút lương thiện trí thức nào đó còn sót lại của tinh thần
đại học mà họ đã tiếp thu. Họ chỉ có một tiêu chuẩn để đánh
giá: Có lợi hay có hại cho Công giáo? Cho
nên, để có lợi cho Công giáo, họ đã lạy Trần Lục thì làm sao mà thờ
Đinh Công Tráng và Phan Đình Phùng được, vì có điều này thì không thể
có điều kia” Rồi tác giả tự hỏi: “... Tôi vẫn thắc mắc tự hỏi
không biết các “bộ óc chiến lược” của người Công Giáo ở đâu mà
không thấy rằng càng ngụy biện bào chữa thì tội bán nước của Giáo hội
càng bị phát hiện nhiều thêm, càng tô son trét phấn cho cái gọi là “tinh
thần Ngô Đình Diệm” thì chân tướng phi dân tộc của tinh thần đó
càng bị phát lộ.” Tôi cho rằng không phải là những “bộ
óc chiến lược” của người Công Giáo không thấy vấn đề này, nhưng
đó là sách lược cố hữu của giáo hội, một sách lược đã ăn sâu
vào xương tủy của người Công Giáo, và vì với một tâm cảnh nô lệ,
được dạy phải “quên mình trong vâng phục”, cho nên họ khó mà có thể
làm khác được. Ở đây, lương tâm
trí thức không phải là vấn đề đối với họ, vấn đề chính là phải
theo đường lối của giáo hội: “Cứ người Công Giáo làm, bất kể người
đó là Ta, là Tây hay Tàu, thì Công Giáo Việt Nam phải nhắm mắt mà ca tụng.”,
dù nhiều khi những sự ca tụng vô căn cứ của họ đã trở thành khôi
hài, lố bịch, làm trò cười cho thiên hạ.
Họ tin rằng, chỉ có như vậy họ mới hi vọng lên được thiên
đường, sống cuộc sống đời đời với một người Do Thái đã cùng hai tên ăn trộm bị đóng
đinh trên thập giá, chết và táng xác cách đây 2000 năm. Đó là cái vòng kim cô đã xiết chặt
trên đầu những người Công Giáo trong nhiều thế kỷ. Phật Giáo đã từng là nạn nhân của
sự áp bức và bạo hành của Công giáo, dựa thế thực dân Pháp, kể từ
khi Pháp xâm chiếm nước ta. Nhà Thờ
Lớn Hà Nội, Nhà Thờ Đức Bà ở Sài-Gòn, nhà thờ La Vang ở Quảng Trị
v..v.. đều được xây trên đất cưỡng chiếm, nói nôm na là ăn cướp, của
Chùa. Nhưng chưa bao giờ sự bạo hành
đối với Phật Giáo lại lên đến mức độ như trong 9 năm cầm quyền của
Ngô Đình Diệm. Dung túng cho các Linh mục
lộng hành, cưỡng chiếm bất động sản, cưỡng ép cải đạo, giết người
ngoại đạo, tấn công phá hủy chùa chiền, bạo hành giết chóc sư sãi,
Phật tử v..v.. Đó là những vết nhơ không bao giờ có thể rửa sạch
trên khuôn mặt của chính quyền Công giáo Ngô Đình Diệm nói riêng, giáo
hội Công giáo La Mã tại Việt Nam nói chung.. Người Phật tử biết ít nhiều về
đạo Phật đôi khi cũng phải để tâm suy nghĩ: Cuộc tranh đấu của Phật
Giáo cách đây 40 năm ở miền Nam Việt Nam đúng hay sai? Bản chất cuộc
tranh đấu đó như thế nào, và bắt nguồn từ đâu? Đã có nhiều tài liệu viết về vấn đề
này, và gần đây nhất, cuốn sách dày hơn 500 trang: “Vietnamese Engaged
Buddhism – The Struggle Movement of 1963-1966”, tạm dịch là “Phật Giáo
Việt Nam Dấn Thân – Phong Trào Tranh Đấu 1963-1966” , của Quán Như Phạm
Văn Minh, Văn Nghệ xuất bản, CA., 2002, có thể nói là cuốn sách đầy đủ
nhất và chính xác nhất trong việc giải đáp những vấn đề trên. Ở đây, tôi chỉ quan tâm đến một khía
cạnh của phong trào tranh đấu Phật Giáo xuyên qua chính sách cai trị của
chính quyền Ngô Đình Diệm. Để tránh việc độc giả có thể
quy kết là những tài liệu trích dẫn thuộc loại thân Cộng Sản hay thân
Quốc Gia, tôi sẽ không trích dẫn tài liệu của những tác giả Việt Nam
thuộc hai phía Quốc, Cộng. Điều này
không có nghĩa là trong những tài liệu đó không có những chi tiết đúng. Việc trích dẫn những tài liệu ngoại quốc
không có nghĩa là vọng ngoại, hay tất nhiên những tài liệu đó phải là
đúng. Nhưng tôi tin rằng, những người
ngoại quốc viết về Việt Nam như các ký giả, giáo sư đại học, chính
khách, nhà phân tích chính trị, quân sự, xã hội v..v.., trước và sau
1975, trong thế giới Tây phương, rất có thể có thiên kiến trong việc diễn
giải sự kiện, nhưng không thể sai lầm trong chính tự thân các sự kiện. Lương tâm nghề nghiệp, chỗ đứng trong xã
hội, và tiêu chuẩn trí thức trong những xã hội Tây phương không cho
phép họ gian dối, bịa đặt ra bất cứ một sự kiện nào. Họ có thể có khuynh hướng thân Cộng hay
thân Quốc Gia nhưng không thuộc phe nào và không chịu áp lực của bất cứ
thế lực nào, cho nên họ không có nhiệm vụ phải tuyên truyền sai sự thực
để ủng hộ bên nào. Do đó, phối hợp
những tài liệu của nhiều tác giả khác nhau về cùng một chủ đề, nếu
chúng ta thấy có những điểm tương đồng thì chúng ta phải tin tưởng rằng
những điểm đó không khác với sự thực là bao nhiêu. Sau đây tôi sẽ trích dẫn một số
nhận định về con người Ngô Đình Diệm và chính quyền Ngô Đình Diệm
của một số tác giả ngoại quốc có tên tuổi.
Qua những trích dẫn này, tôi hi vọng độc giả có thể nhìn
thấy ý nghĩa đích thực của phong trào tranh đấu Phật Giáo 40 năm trước
đây và không còn bị lừa dối bởi những luận điệu quái gở như Phật
Giáo thân Cộng, Phật Giáo làm “mất nước” (sic) v..v..của một đoàn
thể đã nổi tiếng là “đã phi dân tộc thì thể nào cũng phản dân tộc.” 1. "Vietnam:
Crisis of Conscience” by Robert McAfee Brown, Abraham J. Heschel & Michael
Novak, Associated Press, New York 1967, p. 30: Ký giả người Úc Denis Warner viết “Trong
nhiều năm, cái chế độ bạo ngược chuyên chế mà Tây phương đồng minh
với ở (The Australian writer Denis Warner wrote
that "the tyranny the West allied with in 2.
"Fire In The Lake” by Frances Fitgerald (Winner of the
Pulitzer Prize, Winner of the National Book Award, Winner of the Bancroft Prize For
History), Vintage Books, Cái chất công giáo của Diệm, không
hề mở mắt hắn đến với những ý tưởng mới, mà chỉ thuyết phục hắn
là cai trị bằng nghi lễ và huấn thị đạo đức là có thể thành công,
mà nó có vẻ như vậy trong các làng mạc ở miền Bắc và Trung sống trong
cái vỏ bằng sắt và điều khiển bởi các linh mục. Cái mà hắn ta không ý thức được là
cái kiểu cai trị thiển cận như vậy của các giáo xứ có thể thực hiện
chỉ vì người Pháp đã bảo vệ họ và tổ chức nền hành chánh quốc
gia. Do đó, tham vọng của hắn phục hồi
xã hội cổ xưa giống như là của những tên thực dân Pháp, coi mình như
cha người ta, đã chống những chương trình cải cách của những giới chức
hành chánh nơi thành thị – sự khác biệt là trong khi người Pháp giữ
lãnh vực hiện đại cho riêng họ thì Diệm không nhận ra được sự quan
trọng của vấn đề hiện đại hóa. Đối
với hắn, thế giới hiện đại là Sài-Gòn, cái thị trấn ký sinh trùng
đó đã trở nên béo mập bởi máu của thôn quê và lợi lộc của Tây phương... Những ký giả như Robert Shaplen đã chỉ
trích Diệm như làm cho những nông dân xa lánh vì những biện pháp đàn áp
của hắn. Một số đông những giới chức và
ký giả, kể cả những người có nhiều kinh nghiệm và có khuynh hướng chính
trị khác nhau như Douglas Pike, Chester Bowles, và chuyên gia chống nổi loạn người Anh, Robert Thompson, đều coi Diệm
như là kẻ thù của chương trình chống Cộng. Trong tất cả những năm cầm quyền,
Ngô Đình Diệm chỉ có một đồng minh ở thôn quê, đó là những người
Công giáo, đặc biệt nhất là những người di cư từ ngoài Bắc vào. Ngay từ đầu, Diệm dùng trong bộ máy
hành chánh phần lớn là những người Công giáo, và thiên vị các làng
Công giáo đối với phần còn lại của quốc gia.
Những giới chức của Diệm, làm việc chặt chẽ với các linh
mục, đem phần lớn viện trợ Mỹ cho các làng Công giáo, và phần lớn những
nông sản. Chúng cho những người Công
giáo quyền khai thác lâm sản và độc quyền sản xuất loại hàng hóa
nông sản mới do các kỹ thuật gia Mỹ đưa vào giúp. “Theo đạo có gạo mà ăn” là một câu
tục ngữ khi xưa của người Việt (Diem's Catholicism, far from opening him up
to new ideas, only persuaded him that government by ritual and moral instruction could
work, as indeed it seemed to in the ironclad, priest-ridden villages of the north and
center. What he did not realize was that such parochial
governments could operate merely because the French protected them and organized the
administration of the country. His ambition to
restore the old society therefore resembled that of the paternalistic French colons who
had opposed the reformist programs of the metropolitan administrators - the difference
being that while the French wished to keep the modern sector for themselves, Diem did not
recognize its importance. For him, the modern
world was ...Journalists, such as Robert Shaplen, criticized
Diem for alienating the peasants by his oppressive measures. ..A host of officials and journalists, including
such experienced and politically diverse men as Douglas Pike, Chester Bowles, and the
British counterinsurgency expert, Sir Robert Thompson saw Diem as the enemy of the
anti-Communist project. ...In all the
years of his reign Ngo Dinh Diem found only one ally in the countryside, and that was the
Catholics, most particularly the northern refugees. From
the beginning he staffed his administration heavily with Catholics and favored the
Catholic villages over all the rest. The
Diemist officials, working closely with the priests, saw to it that the Catholic villages
took the bulk of They gave the Catholics the right to take lumber
from the national reserves and monopoly rights over the production of the new cash crops
introduced by the American aid technicians. "Turn
Catholic and have rice to eat", went the old Vietnamese saying under the French
regime. Under Diem the South Vietnamese
continued to follow the injunction. In 3.
"Background
to Bất kể hiến pháp viết như thế
nào, Diệm cai trị như là một nhà độc tài.
Triết lý chính trị của ông ta dẫn xuất từ một nhóm Công
giáo Pháp, những người đã đặt ra thuyết Nhân Vị. Thuyết này nhấn mạnh
đến nhân cách để chống với quan niệm đưa quần chúng vào kỷ luật của
Cộng Sản. (Thực ra, đây chỉ là một chiêu bài chống Cộng vì trong cấu
trúc toàn trị của Công Giáo thì tín đồ chỉ có quyền vâng phục các bề
trên, do đó làm gì có Nhân Vị. TCN). Chi
tiết về thuyết này phức tạp, khó hiểu đối với mọi người trừ một
triết gia. Một chuyên gia Mỹ được mời
đến để cố vấn cho hệ thống thuế má địa phương mô tả thuyết
Nhân Vị như là “một pha trộn lộn xộn của những sắc lệnh của giáo
hoàng và kinh tế mẫu giáo, tổ hợp với một sự nghi ngờ những tư nhân
thương gia, một sự e ngại đầu tư ngoại quốc, và một quan niệm là
không thể thành đạt được gì nhiều ở
Việt Nam nếu không có sự kiểm soát của chính phủ.” Trên thực tế chính phủ đây là
chính phủ Diệm. ...Ngày tháng qua, cách cai trị của Diệm
càng ngày càng trở nên không thể chịu được, và tới năm 1963 hắn là một
nhà độc tài hoàn toàn, chỉ nghe những thân nhân trong gia đình. Hắn hoàn toàn xa lạ với quần chúng. Người ta phàn nàn là hắn đã trao những
chức vụ tốt nhất cho người Công giáo: nhưng những người Công giáo là
“người ngoại quốc” – những người di cư từ ngoài Bắc vào. Sự bất mãn đưa đến phong trào chính trị
của Phật Giáo.” (Whatever the constitution might say, Diem
ruled as a virtual dictator. His political philosophy was derived from a group of French
Catholics, who formulated a doctrine known as Personalism.
It emphasises human dignity as opposed to the Communist concept of
disiplined masses. Its detail is complicated,
and difficult of comprehension to all but a philosopher.
An American
expert who was called in to advise on the local system of taxation described Personalism
as "a confused mélange of papal encyclicals and kindergarten economics, combined
with a suspicion of private businessmen, a fear of foreign capital, and an attitude that
little could be accomplished in In practice, it meant government by Diem. ...With the
passing months Diem's attitude became more intolerable, and by 1963 he was the complete
dictator, seeking advice only from his immediate relatives.
He was completely aloof from the common people. It was complained that he gave all the best posts
and showed all the favor to Catholics: but the Catholics were "foreigners" -
refugees from the 4.
"Backfire: Công giáo Việt ...Diệm
làm cho người Mỹ khó chịu không chỉ vì đường lối cai trị của hắn. Hắn thích thú trong việc đàn áp những đối
lập chính trị mà hắn đã bắt giữ lên tới 40000 người. Đầu năm 1959, Diệm hợp thức hóa sự
tàn bạo của mình bằng sự thiết lập những tòa án quân sự để xử những
đối lập chính trị và xử tử hình trong vòng ba ngày. Những tòa án này bắt giữ, điều ta, và
tuyên án những kẻ phạm tội. Diệm hăng say đóng cửa những nhà
báo không ủng hộ hắn. Tệ hơn cả,
hắn dẹp bỏ cấp lãnh đạo trong các làng mạc và thay thế họ bằng những
người của Diệm. Hắn đã trở thành
một nhà độc tài. (The Catholic Vietnamese thrived under Diem's
systematic discrimination against the Buddhists. The
Catholics were preferred in the civil service, while those who lived in the villages were
not always required to do the hard labor of building roads and other public works. The Catholic Church, unlike the Buddhist Pagodas,
had special rights to acquire and own property, as had been the case under the French. In time, this discrimination against the vast
majority of the country would lead to politically lethal protests against Diem by the
Buddhist bonzes. ...Diem
annoyed Americans not only because his personal way of doing things. He was an enthusiast
when it came to repressing his political opponents, of whom he arrested upwards of 40,000. In early 1959, Diem legalized his brutality by
creating special military courts to try political opponents and to pass sentences of death
in no more than three days. These courts made
the arrests, conducted the inquiries, and sentenced the guilty. ...Diem
closed newspapers that did not support him with the requisite fervor. Worst of all, he
destroyed the leadership in the villages and replaced it with his own appointees. He had become a dictator.) 5.
"A Bright Shining Lie” by
Neil Sheehan, Vintage Books, Công giáo Rô Ma là một thiểu số có
nhiều tỳ vết ở Việt ..Trong sự
hướng dẫn Diệm của Lansdale đến thành công bằng cách diệt các giáo
phái dựa trên lý thuyết Diệm là Magsaysay để lập một chính phủ tập
trung quyền lực mới, không bao giờ Lansdale lại nghĩ rằng Diệm bắt đầu
chính sách cai trị của mình bằng cách loại bỏ những người chống Cộng
hữu hiệu nhất ở miền Nam. Dòng họ Ngô Đình tiến tới sự áp
đặt trên miền Nam Việt Nam cái tôn giáo Công giáo ngoại lai của họ, đảng
Công giáo bảo thủ từ ngoài Bắc vào và từ vùng quê hương của họ ở
miền Trung. Diệm và gia đình bổ nhiệm
những sĩ quan chỉ huy đơn vị, những nhân viên hành chánh và cảnh sát bằng
những người Công giáo, từ miền Bắc và từ miền Trung, quê hương của
Diệm. Diệm và gia đình hắn bổ nhiệm
những người Công giáo vào cấp chỉ huy quân đoàn, hành chánh và cảnh
sát. Nông dân ở miền đồng bằng sông
Cửu Long thấy mình bị cai trị bởi những tỉnh trưởng, hạt trưởng, bởi
những viên chức hành chánh ngoại lai và thường là cao ngạo và tham nhũng... (Lansdale let his preconceptions lead him to
false assumptions... Roman Catholics were a tainted minority in ...As
Lansdale guided Diem to success in crushing the sects on the theory that Diem was the
Magsaysay to form a new and central government, it would never have occured to ...The Ngo
Dinhs proceeded to impose on 6. "American in Những ảnh hưởng đối nghịch của
sự thiếu khả năng và tính toán sai lầm của Diệm không chỉ chấm dứt
ở sự thất bại về quân sự chống Việt Cộng.
Nghi ngờ tất cả những người không có cùng đức tin Công
giáo của mình, và hoan hỉ với sự thành công trong việc dẹp bỏ các
giáo phái Cao Đài và Hòa Hảo, họ khởi sự chiến dịch chống Phật
Giáo. (The adverse effects of the Diem's
ineptitude and miscalculation did not end with military failure against the Viet Cong. Suspicious of all who did not share their Catholic
faith, and having enjoyed success in suppressing the Hoa Hao and Cao Dai, they embarked on
an anti-Buddhist campaign.) 7.
" “Trong 10 đô la viện trợ thì 8
được dùng cho nội an chứ không dùng cho công tác chiến đấu chống du kích
Cộng sản hay cải cách ruộng đất. Diệm
lo lắng về những cuộc đảo chánh hơn là Cộng sản. ...Như là hậu quả của những biện
pháp đàn áp càng ngày càng gia tăng, sự bất mãn của quần chúng đối với
Diệm cũng càng ngày càng tăng, bất kể là toan tính của Diệm dập tắt sự
bất mãn này trong mọi cơ hội. Hàng
triệu nông dân ở những vùng quê trở thành xa lạ đối với Diệm. Không lạ gì, hoạt động của Cộng sản
gia tăng cùng với sự bất mãn của quần chúng.
Và những biện pháp đàn áp của Diệm cũng gia tăng theo cùng
nhịp độ. Nhiều ngàn người bị nhốt
vào tù. Cho tới năm 1960, điều khác biệt duy
nhất giữa hai chính quyền Ngô Đình Diệm và Hồ Chí Minh là ở những lá
cờ của họ.” (Eight of ten American aid dollars went for
internal security, not to fight Communist guerrillas or implement reforms such as land
redistribution. Diem was more worried about
coups than Communists. ..As a
consequence of his increasingly repressive internal measures, popular discontent with Diem
gradually intensified, despite his attempt to squelch it at every opportunity. The millions of peasants in the countryside became
estranged from him.. Not surprisingly,
Communist activity intensified as discontent increased.
And Diem's repressive measures increased accordingly. Thousands were put in
jail.. By 1960, the only difference between the
governments of Ngo Dinh Diem and Ho Chi Minh was their flags.) 8. "The Indochine Story”
by the Committee of Concerned Asian Scholars, A Bantam Book, “Một nhân vật Mỹ ủng hộ Diệm
lúc đầu kết luận: Lạm dụng quyền
lực, độc tài, tham nhũng, coi thường cấp dưới, và không đếm xỉa gì
đến nhu cầu của dân chúng một cách ác độc, đó là tấm gương mà gia
đình họ Ngô để cho những bộ trưởng, nhà lập pháp, tướng lãnh, tỉnh
trưởng, trưởng làng mà họ Ngô dùng như những quân cờ noi theo. Đàng sau gia đình nhà Ngô là Mỹ. Ở dưới gia đình này chẳng có gì mấy. Gia đình này đã trải cái bóng của họ
trên xã hội Việt 75000 người hay hơn nữa bị giết
trong chiến dịch này. Còn nhiều người
hơn nữa bị tống giam bởi sắc lệnh
số 6 của tổng thống, ký trong tháng 1, 1956.
Sắc lệnh nói: “Những cá nhân coi là nguy hiểm cho quốc
phòng và an ninh chung có thể bị bắt giam trong những trại tập trung do lệnh
của cơ quan hành pháp. Tình trạng
trong những trại tập trung của Diệm, chỉ bị phanh phui sau khi Diệm đổ,
thật sự nhơ nhớp. Cố ý để cho chết
đói, cố ý làm cho mù, cố ý hành hạ..., danh sách này thật là dài.” (An early American supporter of Diem
concluded: Abuse of power, nepotism, corruption, contempt for inferiors, and cruel
disregard of the needs of the people were the example set
by the Ngo's "Family" for the ministers, legislators,
generals, province chiefs, and village commissioners whom they used as pawns. Behind the family stood the 75,000 or more people were killed in this
campaign. As many or more were incarcerated
under Presidential Ordinance No. 6, signed in January 1956 "Individuals considered
dangerous to national defense and commun security," it said, could be confined by
executive order in a "concentration camp." Conditions in Diem's
"reeducation centers," brought to light only after his overthrow in 1963, were
sordid indeed. Deliberate starvation,
deliberate blinding, deliberate maiming. The
list is long." 9.
"The Story of “Nay Diệm đã
thắng mọi kẻ thù, anh em nhà Diệm muốn chắc rằng không ai có thể bứng
họ đi. Ở ngoài mặt, Chế độ Diệm bắt đầu thoái trào
vào đầu năm 1963. Tổng thống cai trị
dân trong dinh thự của mình như là một thể chế quân chủ, cắt lìa khỏi
quần chúng. Sự thù ghét Diệm và gia
đình hắn gia tăng đến độ người ta có thể cảm thấy đầy trong bầu
không khí ở ...Cuộc tranh chấp giữa Diệm và các
Phật tử đã được tích lũy kể từ ngày Diệm lên làm thủ tướng năm
1954. Diệm, một tín đồ Ca Tô,
đương nhiên là cảm thấy thoải mái hơn đối với những tín đồ Ca Tô
khác. Nhiều chức vụ chỉ huy trong
chính quyền và quân đội được trao cho những người Ca Tô, những người
này được đặc quyền đặc lợi làm
tiền trong những thương vụ của chế độ. Trong số 15 triệu dân ở miền Nam Việt
Nam, hơn 1 triệu một chút là người Ca Tô. Phần
còn lại, phần lớn là Phật tử, phẫn nộ vì chính sách thiên vị người
Ca Tô. Sự đối xử khác biệt này
còn trắng trợn hơn ở các tỉnh lỵ, nơi đây các linh mục địa phương
và các giới chức chính quyền, hầu hết là Ca Tô, có toàn quyền. Khi các ấp chiến lược được dựng lên,
những người Ca Tô được miễn làm việc và những người phi-CaTô bị
đưa vào chỗ thay thế họ để làm những công việc lao dịch. Những vùng đất mới được mở mang và
phát triển, người Ca Tô được chọn những miền đất phì nhiêu ở những
miền duyên hải có an ninh. Những đất
đai dành cho Phật tử ở sâu trong nội địa, ở đây họ phải lao động
dưới sự đe dọa của Việt cộng. Nhiều
Phật tử theo đạo (không có nghĩa là tin đạo. CTN) để được sống
dễ dàng hơn.” (Now that
Diem had won out over all his foes, the brothers wished to make sur that no one else would
unseat them. On the surface, Twilight had begun to settle over the regime of Ngo
Dinh Diem as the year 1963 began. The
president ruled in his palace like a monarch cut off from his people. Hatred of him and his family mounted until the air
of ...A showdown between Diem and the Buddhists
had been building ever since he became premier in 1954.
Diem, a Catholic, naturally felt more at home with other Catholics. Many of the leading posts in the government and
army were held by Catholics, who were also privileged when it came to making money out of
business deals engineered by the regime. Of the 15 million people of 10.
"The Two Viet-Nams” by
Bernard B. Fall, Frederik A. Praeger Publisher, “Trong số những người lên
cầm quyền cùng với Diệm năm 1954-55, KHÔNG MỘT NGƯỜI NÀO còn giữ chức
vụ bộ trưởng khi Diệm bị giết năm 1963.
Một vài người bị lưu đày ở Pháp hoặc Mỹ, và một vài người
rút lui với thái độ trông chờ ở Trong sự mô tả đảng Cần Lao, John
C. Donnell định nghĩa Cần Lao như là “một đảng chính trị mạnh gồm những
thành viên thường tin rằng mình thuộc những đảng chính trị khác và ngự
trị những đảng này.” Nói cách
khác, những hoạt động trong hệ thống nội bộ của họ y hệt như của
đảng Cộng sản: dò thám bạn bè, xâm nhập đồng minh, và hoạt động
như “một quốc gia trong một quốc gia” trong chính guồng máy chính quyền
của mình. Nếu không còn cái gì khác,
những điều trên có thể làm cho chế độ Nam Việt Nam mang nhãn hiệu một
loại “dân chủ của quần chúng” chống-Cộng mà sự khác biệt lớn nhất
đối với người anh em song sinh Cộng sản Bắc Việt Nam là thái độ hành
trì Ca-Tô và là sở hữu chủ của những đồn điền cao su.” (Of the men who came to power with Diem in
1954-55, NOT ONE still held a cabinet portfolio when he was murdered in 1963. Some were sent into exile in In his description of the Can Lao, John C.
Donnell defined the Can-Lao as a "powerful elite political party whose members are
commonly believed to belong to other political parties also and to dominate them." In other words, it did within its own system
exactly what a Communist Party would do: It spied on its own friends, infiltrated its own
allies, and acted as a "state within a state" in its own government's machinery. If nothing else, this would brand the South
Vietnamese regime as a sort of anti-Communist "people's democracy" whose major
difference from its Communist North Vietnam TWIN was its attitude toward the practice of
Catholicism and the ownership of rubber plantations.) 11.
"An Eye For The Dragon” by Dennis Bloodworth; Farrar, “Cho tới năm 1963 mật vụ của Diệm
đã bắt giữ hoặc đẩy vào tay những kẻ thù hầu như mọi người quốc
gia có tên tuổi đã chiến đấu cho tự do của đất nước trong 20 năm
trước. Hắn và gia đình hắn đã đàn
áp mọi đối lập, chất đầy nhà tù, bịt miệng báo chí, gian lận bầu
cử, và bám vào quyền lực.” (...By 1963 Diem's secret police had picked
up or pushed into the arms of his enemies nearly every prominent nationalist who had
fought for the freedom of his country during the previous 20 years. He and his familly suppressed all opposition,
filled the jails, muzzled the press, rigged the elections, and clung to all power..) 12.
" Intervention and Revolution” by Richard J. Barnet, A
Meridian Book, “Khuyến cáo rằng “nếu bầu cử
được tổ chức ngày nay (1956) thì tuyệt đại đa số dân Việt sẽ bầu
cho Cộng sản,” Cherne tuyên bố rằng uy tín của Mỹ ở Á Châu tùy thuộc
vào sự ngăn chận cuộc bầu cử này. Phương
pháp giải quyết là củng cố lớp người Ca Tô ở miền Nam Việt Nam, chỉ
có những người này mới có lý do thuộc về lý tưởng chống Cộng. Nhà văn Ca Tô người Anh, Graham Greene, đã
mô tả việc Mỹ sử dụng giáo hội Ca Tô trong cuộc chiến tranh lạnh ở
Việt Chính cái ý hệ Ca Tô đã giúp làm
cho chế độ của ông Diệm sụp đổ, vì sự sùng tín của ông ta đã bị
các cố vấn Hoa Kỳ khai thác cho đến khi giáo hội Ca Tô ở Việt Nam ở
trong cơ nguy cùng chung số phận bất thiện cảm của người dân Việt đối
với Mỹ...Những khoản tiền to lớn được dùng để tổ chức những cuộc
đón tiếp quan khách ngoại quốc và tạo nên ý niệm giáo hội Ca Tô là của
Tây phương và là đồng minh của Mỹ trong cuộc chiến tranh lạnh. Trong những trường hợp hiếm hoi mà Diệm
đi kinh lý những vùng trước đây bị Việt Minh chiếm, bao giờ cũng có một
linh mục ở bên cạnh, và thường là một linh mục Mỹ... Điều quan tâm chính của chính
quyền Diệm là sự an toàn của chính quyền.
Chính quyền Diệm sợ rằng cuộc bầu cử dự định tổ chức
vào tháng 7, 1956 đưa đến sự thắng lợi của Hồ Chí Minh và chấm dứt
quyền lực của những chính trị gia không Cộng sản.. Những ước tính của cơ quan tình
báo quốc gia CIA, soạn trong tháng 2, 1957, mô tả chế độ Diệm như sau: Chế độ Diệm phản ánh ý nghĩ của
Diệm. Một bộ mặt chính quyền đại
diện cho dân được duy trì, nhưng thực chất chính quyền là độc tài. Quyền lập pháp của quốc hội bị hạn chế gắt gao; quyền tư pháp chưa
phát triển và tùy thuộc quyền hành pháp; và những nhân viên trong ngành
hành pháp không gì hơn là những tay sai của Diệm. Không có một tổ chức đối lập nào, dù
trung thành hay không, được phép thành lập, và mọi chỉ trích chính quyền
đều bị đàn áp...Quyền lực và trách nhiệm tập trung nơi Diệm và một
nhóm nhỏ gồm có những thân nhân của Diệm, những người quan trọng nhất
là Nhu và Cẩn.” Chế độ độc tài của Diệm, dựa
trên một mạng lưới mật vụ, tòa án quân sự, và công chức tham nhũng,
tuyên bố không những chiến đấu chống Cộng mà cho tới năm 1957 Cộng sản
vẫn chưa có hoạt động gì, mà còn chống bất cứ nhóm nào không chắc
là trung thành với Diệm. Thật vậy,
nhiều người không-Cộng-sản vào tù hơn là người Cộng sản. ...Sự chuyên chế của Diệm, sự
thiên vị trơ trẽn của hắn đối với những người Ca Tô tị nạn từ ngoài Bắc vào so với
phần còn lại của dân chúng, và sự bạo hành của hắn đối với mọi
người không đồng quan niệm chính trị với hắn đã tạo nên một sự
liên kết chống hắn mà hắn rất sợ.” (Warning that "if the elections were
held today the overwhelming majority of Vietnamese would vote Communist," Cherne
declared that American prestige in in fighting
the Cold War in It is a Catholicism which has
helped to ruin the government of Mr. Diem, for his genuine piety...has been exploited by
his American advisors until the Church is in danger of sharing the unpopularity of the
US...Great sums are spent on organized demonstration for the visitors, and an impression
is given that the Catholic Church is occidental and an ally of the US in the cold war. On the rare occasions when Mr. Diem has visited the
areas formerly held by the Viet Minh, there has been a priest at his side, and usually an
American one. ...The major
interest of the Diem government was its own security.
It feared that the elections scheduled for July, 1956, would spell a victory
for Ho Chi Minh and the end of power for noncommunist politicians.... The CIA national intelligence estimates
prepared in February, 1957, described the Diem regime in these words: Diem's regime reflects his idea. A facade of representative government is
maintained, but the government is in fact essentially authoritarian. The legislative powers of the National Assembly are
strictly circumscribed; the judiciary is underdeveloped and subordinate to the executive;
and the members of the executive branch are little more than the personal agents of Diem. No organized opposition, loyal or otherwise, is
tolerated, and critics of the regime are often repressed...The exercice of power and
responsibility is limited to Diem and a very small circle mainly composed of his
relatives, the most important being Nhu and Can. ...Diem's
dictatorship, supported with a network of informers, military tribunals, and corrupt
functionaries, declared war not only on the communists, who until 1957 were quiescent, but
also against any group whose personal loyalty was not assured. Indeed, more non-communists than communists ended
up in Diem's jails. ...Diem's
despotism, his shameless favoring of Catholic refugees from the North over the rest of the
population, and his persecution of all political dissidents produced the coalition against
him that he dreaded.) 13.
" Ngay từ lúc đầu Diệm đã có
khuynh hướng toàn trị và gia đình trị mà 8 năm sau dư luận quần chúng
lên án chính quyền của hắn. “Khuynh hướng toàn trị” của Diệm
đã đưa đến việc thành lập một đảng chính trị riêng tư, đảng cần
Lao, một đảng duy nhất. Đảng Cần Lao cũng phục vụ hắn
như là mật vụ, dập theo khuôn mẫu của Nhật Bản trong Thế Chiến II –
mà Diệm đã nghiên cứu kỹ chi tiết. Như chúng ta đã thấy, đảng này đã
giết hại 90000 người và cầm tù 800000 trong đó có nhiều người bị tra
tấn. ..Khi Diệm về Việt Nam năm 1954, một
người CaTô theo lệnh của một thế lực ngoại quốc về cai trị một nước
mà 80% là Phật tử, CIA đã thuê vài trăm người để hoan hô hắn tại bến
tàu. Nhưng cả CIA lẫn những giới chức
Mỹ ủng hộ Diệm đều không làm sao làm ngược được sự kiện là Diệm
không có sự ủng hộ của quần chúng, chính sách đàn áp đẫm máu của
Diệm đối với từ các nhà sư Phật giáo và các tín đồ Hòa Hảo, Cao Đài
cho tới những nông dân yêu nước, giới tư sản tôn trọng luật pháp, trật
tự và một chút công lý, và những tướng lãnh đối thủ – “kéo theo
(và đã xảy ra) tất cả những khó khăn vì một con người với nhân cách
như vậy.” (From the very beginning Diem displayed that
tendency toward autocracy and family rule for which the mass media would belatedly condemn
his administration 8 years later. Diem's "tendency toward autocracy"
led to the formation of a private political party, the Can Lao, which was the only party. The Can Lao also served as a secret police,
modeled after the system the Japanese used in It also produced, as we have seen, the death
of 90,000 opponents and the imprisonment of another 800,000, with many of them tortured... ...When Diem first arrived in But not even the CIA and Diem's more
respectable US backers could permanently counteract his lack of an indigenous base, his
bloody suppression of all opposition, from Buddhist monks and members of the Hoa Hao and
Cao Dai indigenous religions to peasant patriots, bourgeois devotees of law, order and a
modicum of justice, and rival generals - "all the difficulties the presence of such a
personality would [and did] entail.") 14.
" “Tổng thống Ngô Đình Diệm
của Trong chính sách khủng bố này hắn
được sự phụ giúp của hai người anh em Ca Tô, người đứng đầu mật
vụ (Ngô đình Nhu) và tổng giám mục ở Huế (Ngô đình Thục). Người ta ghi nhận rằng, và những
con số sau đây tuy không được chính quyền chính thức khẳng định nhưng
có thể coi là đáng tin cậy, là trong thời gian kinh hoàng từ 1955 đến
1960 – ít nhất là có 24000 người bị thương, 80000 bị hành quyết hay bị
ám sát, 275000 người bị cầm tù, thẩm vấn hoặc với tra tấn hoặc
không, và khoảng 500000 bị đưa đi các trại tập trung. Đây chỉ là những con số ước tính bảo
thủ, khiêm nhường. Đặt quyền lợi quốc gia ra đàng sau để
đẩy mạnh quyền lợi tôn giáo của hắn, kết quả là tên độc tài Diệm
đã đưa đất nước xuống vực thẳm.” (President Ngo Dinh Diem of In this terrorization he was aided by his two
Catholic brothers, the Chief of the Secret Police and the Archbishop of Hue. ...It has
been reckoned, and the figures although lacking any official confirmation are considered
to be concretly reliable, that during this period of terror - that is from 1955 to 1960 -
at least 24,000 were wounded, 80,000 people were executed or otherwise murdered, 275,000
had been detained, interrogated with or without torture, and about 500,000 were sent to
concentration or detention camps. This is a
conservative estimate. ...With the
result that by relegating the interest of his country to the background, so as to further
the interests of his religion, dictator Diem finally brought his land into the abyss.) 15. "Nobody Wanted War” by Ralph K. White, A Doubleday Anchor Book, “Diệm, người em dở điên và vợ
hắn (Nhu và vợ), đã làm cho mọi nhóm quan trọng trong nước, kể cả nhóm
chống Cộng thực tế nhất, nhóm này đã thấy rõ gia đình Diệm đã hạ
thấp và làm yếu đi cuộc tranh đấu chống Cộng, và sau cùng cả những sĩ
quan cao cấp trong quân đội, những người mà mọi tên độc tài không được
lòng người phải trông cậy vào họ để sống còn, xa lìa. Theo Malcolm Browne, chế độ Diệm đã
bị cả nước oán ghét. Nếu nhà Ngô
còn cầm quyền cho đến ngày nay (1965) thì chắc chắn là Việt (Diem, his half-mad brother Nhu and his
brother's wife had alineated one by one every important group in the country, including
most of the realistic anti-Communists who saw how the Ngo family was debassing and
weakening the anti-Communist struggle, and at last including the upper echelon of the
armed forces, on which every unpopular dictator must rely for survival. According to Malcolm Browne, there was a
"sweeping hatred" of the regime throughout the country. If the Ngo family had remained in charge there is
little doubt that 16.
"The
Political Economy of Human Rights. Vol I” by Noam
Chomsky and Edward S. Herman, Black Rose Books, “Joseph Buttinger, một cố vấn của
Diệm lúc đầu và là người đã bày
tỏ sự ủng hộ Diệm nồng nhiệt nhất trong thập niên 1950, khẳng định
là gọi Diệm là phát xít thì không thích hợp vì, tuy chế độ Diệm có tất
cả những sự xấu xa của chế độ phát xít, Diệm thiếu cơ sở quần chúng
mà Hitler và Mussolini đã có thể tập hợp được. ..Theo Jeffrey Race, một cựu cố vấn
quân sự Mỹ cho Nam Việt Nam có rất nhiều tài liện về lịch sử Việt
Nam cận đại, chính quyền Diệm đã
khủng bố người dân nhiều hơn là phong trào cách mạng nhiều – thí dụ,
thủ tiêu các cựu kháng chiến quân Việt Minh, bắn pháo binh vào những “làng
cộng sản” và bắt bớ những người “có thiện cảm với cộng sản”. Cũng chính vì những chiến thuật đó mà lực
lượng của phong trào cách mạng càng ngày càng gia tằng ở Long An từ 1960
đến 1963. ..Sử gia của Ngũ Giác Đài viết về “bệnh gần như hoang tưởng của
Diệm lo lắng về vấn đề an ninh,” đưa đến những chính sách “khủng
bố toàn diện nông dân Việt Sự dùng bạo lực quá mức và trả
thù những người cựu kháng chiến của Diệm là sự vi phạm trắng trợn
Hiệp Định Genève (Khoản 14c), cũng như là sự từ chối không thi hành điều
khoản tổng tuyển cử trên toàn quốc (vào tháng 7, 1956) của Diệm. Lý do chính mà Diệm từ chối không thi
hành điều khoản này vào những năm 1955-56 (tổ chức và tổng tuyển cử
trên toàn quốc) thật là hiển nhiên: viên quan lại ly hương nhập cảng từ
Mỹ vào chỉ có một sự ủng hộ tối thiểu của quần chúng và ít có hi
vọng thắng trong một cuộc tổng tuyển cử...Diệm là mẫu người điển
hình của một tên bạo chúa phát xít, dùng khủng bố để bù đắp cho sự
thiếu hụt sự ủng hộ của quần chúng..” (Joseph Buttinger, an early advisor to Diem
and one of his most outspoken advocates in the 1950s, contends that the designation
"fascist" is innapropriate for Diem because, although his regime had most of the
vicious characteristics of fascisme, he lacked the mass base that a Hitler or Mussolini
could muster. ...According
to Jeffrey Race, a former US Army advisor in ...The
Pentagon historian refers to "Diem's nearly paranoid preoccupation with
security," which led to policies that "thoroughly terrified the Vietnames
peasants, and detracted significantly from the regime's popularity." ...Diem's
extensive use of violence and reprisals against former Resistance fighters was in direct
violation of the Geneva Accords (Article 14c), as was his refusal to abide by the election
proviso. The main reason for Diem's refuse to
abide by this mode of settlement in 1955-56 was quite evident: the expatriate mandarin
imported from the 17.
"The American Pope” by
John Cooney, A Dell Book, “Lập trường của (hồng y) Spellman
về Việt Do đó Spellman xếp đặt một chiến dịch
kỹ càng để dựng lên chế độ Diệm. Qua
báo chí và vận động trong hậu trường ở Spellman và Kennedy cũng còn giúp lập
lên một nhóm vận động hậu trường ..Do đó, rất nhiều người Mỹ tin rằng
Việt ...Sự tuyên truyền của Spellman về bản
chất Ca Tô của chính quyền Diệm đã làm rõ rệt thêm hình ảnh không đẹp
về vị thế của giáo hội ở Việt “Một cuộc viếng thăm không thích hợp
của Hồng y Spellman đã được tiếp nối bởi những cuộc viếng thăm của
Hồng y Gillroy và Tổng Giám mục ở ...Nam Việt Nam, thay vì đối đầu với
chế độ toàn trị của miền Bắc bằng những bằng chứng về tự do, lại
rơi vào một chế độ độc tài bất hiệu lực: dẹp bỏ báo chí, kiểm
duyệt chặt chẽ, lưu đầy bằng lệnh của chính quyền thay vì phải được
xét xử ở tòa án. Thật là bất hạnh
khi một chính quyền như vậy lại đồng nhất hóa với một đức tin. Ông Diệm rất có thể đã để lại trên
đất nước có tinh thần khoan nhượng này một gia tài chống-CaTô.” (Spellman's "The Pope was concerned about Communism
making more gains at the expense of the Church," Martin averred. "He turned to
Spellman to encourage American committment to Thus Spellman embarked on a carefully orchestrated
campaign to pop up the Diem regime. Through
the press and a Spellman and Kennedy also helped form a
pro-Diem lobby in ...To a large extent, many Americans came to
believe that ...Spellman's propagandizing of the Catholic
nature of Diem's regime reinforced a negative image of the Church's position in An unfortunate visit by Cardinal
Spellman has been followed by those of Cardinal Gillroy and the Archbishop of Canberra. Great sums are spent on organizing demonstrations for the
visitors, and an impression is given that the Catholic Church is occidental and an ally of
the ...The South, instead of confronting the
totalitarian North with the evidence of freedom, has slipped into an inefficient
dictatorship: newspapers suppressed, strict censorship, men exiled by administrative order
and not by judgement of the courts. It is
unfortunate that a government of this kind should be identified with one faith. Mr. Diem may well leave his tolerant country a
legacy of anti-Catholicism.) 18. “The Final Superstition” by Joseph L. Daleiden, Prometheus Books, "Spelllman là người chủ chốt
của giáo hoàng làm cho Mỹ tham chiến sâu
đậm ở Việt Mọi viện
trợ nhân đạo cho miền (Spellman was the papal point man to lead All 19.
" “Để làm vui lòng các cố vấn Mỹ,
thỉnh thoảng Diệm cũng nói trên đầu môi chót lưỡi về dân chủ, nhưng
trong thực hành hắn nắm lấy những quyền lực tuyệt đối. Đích thân hắn ngự trị ngành hành pháp của
chính phủ, dành cho hắn và anh em hắn mà hắn đã đưa ba người vào nắm
ba chức trong nội các có sáu bộ, mọi quyền quyết định. Sự tấn công dữ dội của Diệm vào
những đối lập chính trị đã gây nên sự bất mãn trong các thành phố cũng
như ở thôn quê. Báo chí chỉ trích
chính phủ bị đóng cửa ngay.. Dùng quyền hành trong các sắc lệnh của tổng
thống, chính quyền Diệm đã lùa vào những “ trại cải huấn” nhiều
ngàn người Việt Nam, cộng sản cũng như không cộng sản, những người bị
coi như là đe dọa cho trật tự công cộng. Chương
trình cải huấn lúc đầu nhắm vào các thành phần kháng chiến Việt Minh
ở lại miền Nam, nhưng rồi với thời gian chương trình này được áp dụng
cho bất cứ ai dám chống đối chính quyền. ...”Chính quyền có khuynh hướng cai
trị dân với lòng nghi ngờ và cưỡng bức”, một phúc trình tình báo của
Mỹ kết luận năm 1960, và “đã được đáp ứng bởi thái độ bất thiện
cảm và bất mãn của người dân”.
(To please his American advisors, Diem
occasionally paid lip-service to democracy, but in actual practice he assumed absolute
powers. He personally dominated the executive
branch of government, reserving to himself and his brothers, three of whom were appointed
to a cabinet of six, all power of decision-making. ...Diem's
vigorous assault against political opponents spawned rising discontent in the cities as
well as the countryside. Newspapers which
criticized the government were promptly shut down...Using authority handed down in various
presidential ordinances, the government herded into "reeducation centers"
thousands of Vietnamese, Communists and non-Communists alike, who were alleged to be
threats to public order. The reeducation
program was originally aimed at the Viet Minh "stay-behinds," but in time it was
extended to anyone who dared speak out against the government. ...The
government "has tended to threat the population with suspicion or coerce it," an
American intelligence report concluded in 1960, "and has been rewarded with an
attitude of apathy or resentment.”) 20.
"Unwinding the Vietnam War: From War Into Peace” by Reese Williams, The Real Comet Press, Seattle
1987, p. 431: Sau khi Pháp bị đánh bại và có vẻ
như nền độc lập (của Việt (After the French were defeated it
looked as if independence would come again through the Geneva Agreements. But instead there came the (From an address delivered by Dr. Martin
Luther King in New York City on April 4,
1967). Trên đây chỉ là 20 lời phê phán điển
hình về chế độ Ngô Đình Diệm của một số trí thức ngoại quốc: ký
giả, chính trị gia, giáo sư đại học, nhà quân sự, trong số hàng trăm lời
phê phán tương tự khác. Chúng ta cũng
nên để ý là hơn phân nửa số tài liệu trích dẫn ở trên được viết
sau năm 1975. Nếu độc giả muốn đọc
những lời phê phán của người Việt, xin tìm đọc cuốn Việt Nam Máu
Lửa Quê Hương Tôi của cố Thiếu Tướng Đỗ Mậu, trong đó ở phần
cuối có 100 lời phê phán của các nhân sĩ, chính trị gia, tướng lãnh,
giáo sư đại học, nhà báo v..v.. về Ngô Đình Diệm và chế độ Đệ Nhất
Việt Nam Cộng Hòa. Cho tới ngày nay,
cuốn hồi ký chính trị này, với rất nhiều chi tiết lịch sử, vẫn là
cuốn sách có giá trị nhất trong những cuốn viết về chế độ Ngô Đình
Diệm và những diễn biến chính trị trong thời Đệ Nhất Cộng Hòa.. Từ 20 lời phê phán của các tác giả
ngoại quốc trên, chúng ta có thể rút tỉa ra được những gì? Sau đây là vài điểm chính. 1). Ngô Đình Diệm là người vô tài, vô đức,
nhu nhược, được Hồng Y Spellman, với sự phụ giúp của ngoại trưởng
John Foster Dulles cùng một vài chính khách Công giáo Mỹ khác, theo lệnh của
Vatican, vận động với Mỹ đưa Diệm về cầm quyền ở Nam Việt Nam vì
Diệm là người Công giáo, nên đương nhiên có thể tin cậy để chống Cộng
chết bỏ. Ngoài ra Vatican cũng còn góp
phần vận động, thuyết phục Mỹ tham chiến ở Việt 2). Chế độ Ngô Đình Diệm là một chế
độ bạo ngược, chuyên chế, không có sự hậu thuẫn của quần chúng. Đó là một chế độ mà hầu hết những
người nắm quyền hành chánh, quân sự là những gia nô vô liêm sỉ. 3). Chính cái chất Công Giáo cuồng tín, tổng
hợp của ngu dốt, kiêu căng, huênh hoang, hợm hĩnh của Diệm đã làm hại
Diệm. Sách lược Công giáo hóa miền
Nam bằng thủ đoạn tiêu diệt các
giáo phái khác của Diệm trong một nước mà Công giáo chỉ chiếm có 7%
là một sách lược ngu xuẩn, đi ngược lại tinh thần Tam Giáo Đồng Nguyên
của dân tộc, đã đưa đến sự oán ghét của tuyệt đại đa số người
dân Việt Nam. Sách lược này đã ghi
thêm một chương ô nhục vào lịch sử giáo hội Công giáo Việt Kết Luận: Trước sách lược “Công giáo hóa miền
Nam” ngu xuẩn, bạo tàn, hại dân, hại nước của chính quyền Ngô Đình
Diệm, tay sai của Vatican và Mỹ, Phật Giáo Việt Nam không còn có thể chọn
lựa con đường nào khác ngoài con đường tranh đấu, không riêng gì cho Phật
Giáo mà còn cho cả dân tộc. Những bằng
chứng tràn ngập về tính cách bạo tàn, kỳ thị tôn giáo của chính quyền
Ngô Đình Diệm, đã chứng minh một cách hùng hồn là cuộc tranh đấu của
Phật Giáo cách đây 40 năm ở miền Nam Việt Nam là có chính nghĩa, hợp với
lòng dân. Thật vậy, tuy Phật Giáo phát động
phong trào chống chế độ Ngô Đình Diệm nhưng lòng dân oán ghét chế độ
bạo tàn phi dân chủ này đã âm ỉ từ lâu.
Chúng ta không nên quên là ông Diệm đã bị ám sát hụt tại
Ban Mê Thuột ngay từ năm 1957, ngày 21 tháng 5.
Rồi đến cuộc đảo chánh thất bại của lực lượng nhảy dù
ngày 11 tháng 11, 1960, vụ dội bom dinh độc lập của 2 sĩ quan VNCH ngày 27
tháng 2, 1962. Và sự kiện là, trong cuộc
tranh đấu Phật Giáo 1963, không phải chỉ có Phật tử mới tham gia tranh
đấu mà gồm đủ mọi thành phần dân tộc, từ các em học sinh trung học
đến các sinh viên đại học, các giới sĩ, nông, công, thương, kể cả những
người Công giáo tiến bộ gồm một số linh mục và tín đồ Công giáo. Phật Giáo là tôn giáo hòa bình. Những
bậc tôn đức trong cuộc tranh đấu Phật Giáo 1963 không chủ trương lật
đổ chính quyền Ngô Đình Diệm bằng bạo động. Nhưng không ai có thể phủ nhận là cuộc
tranh đấu này đã góp phần lớn lao đưa đến sự cáo chung của chế độ
Công giáo trị, gia đình trị Ngô Đình Diệm vào ngày 1 tháng 11, 1963. Ý thức được lòng dân, chính quân đội
Việt Chỉ đáng tiếc là, sau cuộc chính biến
ngày 1 tháng 11, 1963, thay vì quay về
xây dựng nội bộ, đào tạo tăng, ni tài
đức, tổ chức gia đình Phật tử theo tinh thần Phật Giáo, một số các
vị lãnh đạo Phật Giáo đã đi ngược lại tinh thần Phật Giáo. Thay vì
theo đường lối của các bậc tôn đức Phật Giáo khi xưa: “Tham gia chính
sự nhưng không tham gia chính quyền” thì các vị này lại đi nghe mấy tên
đầu cơ chính trị nhân danh Phật Giáo, đi vào con đường “Tham gia chính
quyền mà không biết gì về chính sự”. Kết
quả là đi đến chia rẽ, phân hóa nội bộ, làm suy yếu Phật Giáo. Mong rằng
cái kinh nghiệm đắt giá này sẽ là một bài học cho Phật Giáo Việt Nam
trong việc hoạch định đường hướng tương lai theo đúng tinh thần Phật
giáo: buông bỏ chấp ngã, chấp danh, chấp tướng, thực hiện đoàn kết,
và ý thức được sức mạnh của Phật Giáo là sức mạnh tinh thần, sức
mạnh đạo đức của các bậc tu hành, sức mạnh của chuyển hóa v..v.. chứ
không phải là sức mạnh của danh, lợi, địa vị, quyền lực, của cải
thế gian v..v... © Copyright 2006 giaodiem.com |
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com