giaodiem copyright
          posted: 12.6.2006
                                         THỜI KỲ LỊCH SỬ ĐEN TỐI VỆ ĐÀ

Lời Giới thiệu:

Diệu Như - Phan Như Diệp

Sau nhiều cuộc xâm lăng diệt chủng tàn khốc, đã tiêu hũy toàn bộ nền văn minh vĩ đại Cổ Ấn Độ, giống người man rợ Ấn-Âu (Indo-Aryans) đã thực sự đưa Ấn Độ vào những Thời Kỳ Lịch Sử Đen Tối, kéo dài hàng 2,500 năm, từ 1500 trước Tây lịch cho đến 1000 sau Tây lịch. Thời kỳ nầy còn đen tối hơn cả Thời Kỳ Lịch Sử Đen Tối Ky-tô ở Âu châu. Những nghiên cứu khoa học đã xác chứng như vậy.

Trong Thời Kỳ Lịch Sử Đen Tối nầy, thiên niên kỷ đầu, 1500 đến 500 trước Tây lịch, được coi là khủng khiếp nhất. Những cuộc diệt chủng không còn để sót lại bất cứ một dấu vết văn hóa xã hội địa phương, dưới bất cứ hình thái nào. Hệ thống đẳng Cấp Xã Hội, được cưởng đặt bởi người Ấn-Âu (Aryans), xác quyết, như những định nghĩa, rằng chỉ có giới giáo sĩ Brahmans mới có thể và được phép   đọc và viết. Khoa học gia Ả Rập Al-Beruni xác nhận rằng, ngay cả trong thế kỷ thứ 10, khi ông đến thăm Ấn Độ, hầu hết giới giáo sĩ, và chỉ có họ thôi, đã mới là những người được phép ghi nhớ kinh văn. Ông ta đã dẫn chứng chủ trương trì trệ trí tuệ trong thời Tiền Hồi Giáo ở Ấn Độ. Người ta có thể tha thứ cho người Ấn-Âu (Aryans) qua những “đức tin” như vậy hồi 1500 trước Tây lịch. Nhưng dựa vào sự kiện những người Hy Lạp đầu tiên đã vào Ấn Độ từ thế kỷ thứ 3 và 2 trước Tây lịch, thì sự bảo thủ những “đức tin” cổ  lỗ nầy quả đã là hết sức hẹp hoài khắc nghiệt. Những giáo sĩ Hồi giáo có quyền thế đã ngự trị trên Ấn Độ trong cả 1000 năm qua, nhưng nhiều hội đoàn văn hóa vẫn được tiếp tục thành lập để cố gắng bảo thủ chứng minh sự đúng đắn của Vệ Đà - nhất là lúc nầy những kinh điển Vệ Đà đã hoàn toàn bị đồng hóa bởi các loại sách kinh Hồi giáo, và phần lớn đã bị cưởng bức biến thái theo những “đức tin” lỗi thời, cố chấp về một sự sáng tạo với một nhân vật sáng tạo, những hệ thống tổ chức thế quyền nhân danh đại diện của nhân vật nầy ở thế gian, và tất cả những hệ luận vô nhân đạo của nó. Tất cả những sự kiện lịch sử nầy chứng tỏ một sự liên quan mật thiết về ý thức hệ với những gì đã xảy ra cho nhân loại, nhất là cho các dân tộc Âu châu, Trung Đông, Nam Á, v.v.  trong nhiều ngàn năm qua, dưới sự thống trị khắc nghiệt về tinh thần lẫn vật chất của các giới giáo sĩ độc thần nói chung, đặc biệt là qua các cuộc chiến tranh tôn giáo mà họ mệnh danh là “Thánh chiến”, và hơn 400 năm “Tòa Án Dị Giáo” (Inquisitions) La mã.

Nhiều kinh điển Vệ Đà chứa đầy những tín điều mê tín dị đoan, kể cả những dị đoan mê lú tồn tại dai dẳng trong lịch sử nhiều ngàn năm của các tôn giáo độc thần Tây phương; vi dụ, một chúa trời đầy cá tính với thuyết sáng tạo ngu ngơ phản khoa học, trái đất là dẹp, rằng con rắn đang chống đỡ trái đất, v.v. Trong thời buổi nầy mà người ta còn nhìn thấy nhiều tu sĩ trong những bộ đồ cổ lỗ và không bao giờ được giặt giủ, giảng dạy rằng những hiện tượng nhựt nguyệt thực là do quỷ dữ sa tăng “ăn” mặt trời và mặt trăng, rằng một con voi chống đỡ trái đất làm cho nó không bị rơi xuống (?), v.v. Đây là dấu chỉ căn bản về một loại kiến thức hạn hẹp bảo thủ của người Ấn-Âu, tức Indo-Aryans, những thứ kiến thức lỗi thời, rất gần với cái tâm cảnh bảo thủ, hẹp hoài, và phản khoa học của các giới quyền chủ trương các tôn giáo độc thần.

Những niềm tin như vậy có trong nhiều giống người tiền sử. Đến thế kỷ thứ 10 thì đáng lẽ không còn nữa, và đương nhiên là không thể tồn tại ở thời buổi nầy, khi mà bao nhiêu viện nghiên cứu trên thế giới (nói chung) và ở chính Ấn Độ (nói riêng) minh chứng rằng đó chỉ là những điều dị đoan.

Tôi viết bài nầy với mục đích góp ý tham luận về:

1.                Ảnh hưởng sâm đậm của kinh điển Tiền Hồi giáo trên nền văn hóa Cổ Ấn Độ: Tôi cố gắng ghi lại những chứng tích lịch sử về những ảnh hưởng tiêu cực về ý thức hệ của các tôn giáo độc thần Tây phương trên các nền văn hóa Đông phương, mà cụ thể là sự đô hộ và đồng hóa sâu đậm của nền văn hóa Tây phương thời Tiền Hồi giáo với “đức tin” về một “Chúa” và sự “sáng tạo“ trên xã hội Cổ Ấn Độ qua các cuộc xâm lăng diệt chủng của các giống người Ấn-Âu.

2.                Các loại ngôn ngữ Cổ Ấn Độ, đã phát triển trước thời Đức Phật Thích Ca: Lịch sử chứng minh rằng nhiều ngôn ngữ đã thực sự phát triển, kể cả văn viết đã xuất hiện, từ lâu ngay trong thời Tiền Vệ Đà, trước xa thời Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Phật Thích Ca, cũng như các thế hệ nối tiếp, đã không dùng văn tự để phô diễn Phật pháp, không phải vì lý do “không biết chữ” hay “mù chữ” (Xin xem mục “Vài vấn đề từ ngữ”, Illiterate = mù chữ), nhưng có lẽ một phần vì ảnh hưởng nặng nề của các cuộc diệt chủng trên nền văn hóa lúc đó, văn tự vẫn còn trong tình trạng không được phổ biến; và nhất là vì các mục đích rất tâm linh, lo sợ người đời sau chấp trước vào ngôn từ, “dĩ từ” mà làm “hại ý”, “y ngữ” mà quên “nghĩa”. Cũng vì vậy mà trước khi nhập diệt, Phật đã để lại một minh ngôn, “Trong hơn 45 năm thuyết Pháp, Ta chưa từng nói lời nào!”

3.                Sơ lược lịch sử các ngôn ngữ khác trên thế giới: Căn cứ vào những di tích văn hóa hiện có trên thế giới, nhiều sử gia và nhà khảo cổ đồng ý rằng, mặc dầu người ta có nhiều chứng liệu bằng chữ viết về các ngôn ngữ Ấu châu, Trung Đông, hay Nam Á, như Hebrew, La tinh cổ xưa hơn những di tích sử liệu về chữ viết của các ngôn ngữ Vệ Đà; nhưng người ta cũng có nhiều chứng liệu khảo cổ để kết luận rằng nền văn hóa, kể cả các hình thức chữ viết, Vệ Đà thực sự cổ xưa hơn nhiều. Đi xa hơn về phương Đông, người ta hẳn không thể không kể đến một loại ngôn ngữ khác, tiếng Trung Hoa, mà hiện thế giới còn có vô số chứng tích về văn hóa, văn chương, xưa cổ, nhiều ngàn năm trước Tây lịch, xa xưa hơn cả các loại ngôn ngữ dùng trong các loại kinh sách của các tôn giáo độc thần phuơng Tây.

4.                Vài nhận xét về ngôn ngữ máy tính: Chúng ta không quên rằng, cho dầu là ngôn ngữ gì, cách kết câú qua sự biểu thị bằng chữ vẫn chung nhất là những mẫu tự có tính hình tượng, và cho dầu là các loại ký tự (characters – trong chữ Trung Hoa, . .), hay mẫu tự (letters) La tinh a, b, c, .  hay là gì đi nữa, thì khi áp dụng vào ngôn ngữ máy tính điện tử, tất cả cũng chỉ dùng chung một loại mẫu tự đơn sơ duy nhất, mẫu tự 0 1, ÂmDương, Không, Ngắn Dài một lọai mẫu tự rất quy ước mà người ta đã từng có một lịch sử xử dụng từ lâu trong ngành truyền thông, và nhất là trong các ngành triết học Đông phương - xin xem thêm Kinh Dịch.

5.                Chữ “Quốc ngữ” và chữ Nôm: Trong lịch sử truyền giáo, với quyết tâm đổi đạo, diệt chủng, tiêu diệt các nền văn hóa khác, một phương tiện hữu hiệu nhất của các chuyên gia truyền giáo Tây phương là xuyên tạc lịch sử, hũy hoại các ngôn ngữ địa phương. Với quyết tâm chinh phục văn hóa cổ điển Á đông, họ đã tích cực phát triển các loại ngôn ngữ (chữ viết) phiên âm, dùng các mẫu tự La tinh. Mặc dầu bọn thực dân không thành công mấy ở các nơi khác, như Trung Hoa, Nhựt Bản, Đại Hàn, . . nhưng Việt Nam phải kể là một chiến thắng vĩ đại, một sự nghiệp lớn lao của họ; mà đó cũng phải được ghi nhận là một thất bại nặng nề cho nền văn hóa của dân tộc chúng ta.

a.    Chữ “Quốc ngữ” hiện nay (chữ tôi đang dùng) chỉ là một loại chữ phiên âm: Chữ phiên âm luôn luôn có cái giới hạn của một loại ngôn ngữ không có nguồn gốc, ngữ căn vững vàng. Khó khăn nhất về ngôn ngữ trong thời kỳ hiện đại nầy là phải luôn luôn sẳn sàng phát triển đồng nhịp với sự tiến bộ nhanh chóng của khoa học, ngôn ngữ trên thế giới, mà chắc chắn một ngôn ngữ mà chữ viết chỉ được đặt cơ sở trên nguyên tắc “phiên âm” thì không thể nào thực hiện được.

b.    Chữ Nhật, chữ Đại Hàn, và chữ Hán: Vì lý do bảo vệ nền văn hóa lâu đời (có giá trị rất cao) địa phương, và cũng vì nhiều nhược điểm không thể vượt qua của các loại ngôn ngữ phiên âm, Nhật, Đại Hàn là hai quốc gia tiêu biểu nhất đã giữ được phong hóa đặc biệt của dân tộc, giữ vững dân tộc tính, và liên tục bảo vệ được nền độc lập tự quyết. Cũng như Trung Hoa, họ củng cố được ngôn ngữ truyền thống và phát triển theo kịp các xã hội xữ dụng những ngôn ngữ tiến bộ của thế giới. Đó là chưa kể, trong tương lai, họ còn có nhiều cơ sở để có thể vượt qua.

c.    Chữ Nôm: Ngoài cái ý nghĩa lịch sử dân tộc, văn hóa, tinh thần, chữ Nôm có tất cả các ưu điểm cần thiết cho sự phát triển, tiến bộ trong tương lai, như chữ Nhật, Đại Hàn. Chúng ta có thể thấy trước rằng, mọi sự phát triển ngộn ngữ trong tương lai sẽ thực sự đòi hỏi những quyết tâm và hy sinh, lớn lao và thường xuyên, mà thường một dân tộc với một ngôn ngữ chắp vá, hậu tiến (chữ Quốc ngữ) như Việt Nam, có thể có rất nhiều rủi ro sẽ bị bỏ lại phía sau.

d.    Có phải đã đến lúc Việt Nam phải “TRỞ VỀ VỚI DÂN TỘC”, từ bỏ loại chữ phiên âm, gọi là “Quốc ngữ”, để trở về với chữ Nôm? Đây chắn chắc phải là, và phải nên là, một luận đề lớn trong sự nghiệp phát triển mà bất cứ ai có trách nhiệm với tiền đồ và tương lai của dân tộc nầy, đều phải suy ngẫm.

Lưu ý I: Bàn về chử phiên âm “Quốc ngữ” và chữ Nôm không phải là mục tiêu của bài viết nầy. Ở đây tôi nhân tiện, chỉ đưa ra vài nhận xét cơ bản, giản dị, nhưng rất tích cực và trách nhiệm về những nhược điểm ngôn ngữ (chữ viết) hiện nay chúng ta đang dùng, nhất là đối với tương lai phát triển của nó, và những ưu điểm chắc chắn có của (một loại) chữ Nôm mà nếu chúng ta can đảm phục hồi.

Tất nhiên tôi sẽ trở lại cố gắng góp công nghiên cứu đề tài lớn lao nầy trong những dịp khác. Ở đây, tôi chỉ ước mong gợi lên cho quý vị có trách nhiêm về văn hóa dân tộc vài điều suy tư căn bản, để rồi may ra có được một sự đồng thuận mạnh mẽ, chúng ta sẽ có dịp cùng nhau phát huy PHONG TRÀO TÁI CẢI CÁCH NẦY.

Lưu ý II: Trong phần “Mục đích và Nguồn gốc kinh Vệ Đà”, khi trích thuật ý kiến của ông David Frawley, có ý ca ngợi nguồn gốc, ý nghĩa, và giá trị khoa học (nếu có) của các kinh văn Vệ Đà, cũng như khi ghi lại quan điểm của vài tác giả khác, biện bát những mê tín dị đoan của những kinh điển nầy, tôi chỉ có mục đích là để làm thêm rõ nét những mâu thuẩn và ô nhiễm sau khi bị cưởng bách đồng hóa với các loại thần học Hồi giáo Tây phương. Việc ca ngợi những giá trị huyền bí, hay phê phán những tín điều dị đoan của hệ thống kinh điển và nền văn hóa nầy, hoàn toàn nằm ngoài khuôn khổ và chủ trương của bài viết.

Vài vấn đề từ ngữ:

    Tôi đề cập đến vấn đề định nghĩa của một vài từ ngữ thông dụng với mục đích làm sáng tỏ thêm ý nghĩa và cách xử dụng ngôn từ, mạo muội đóng góp ý kiến rằng người viết cần phải hết sức thận trọng trong việc xử dụng từ ngữ. Xin kể một vài ví dụ:

* “Chữ”, hay “chữ cái” (Letters, Characters): Bất cứ ngôn ngữ nào cũng phải bắt đầu bằng những “ký hiệu có tính hình vẻ” làm đơn vị cho chữ viết, dầu được gọi là “letters”, hay “characters”, hay là gì gì đi nữa. Tập trung tất cả “chữ cái” trong một ngôn ngữ được gọi là “Bảng chữ cái”. Trong ngôn ngữ La tinh, hệ thống nầy đuợc gọi là “Alphabet”; trong chữ Trung Hoa, gọi là “Nét”, hay “Bộ thủ”; v.v. hình thức có khác nhau, nhưng luôn luôn có chung một nguyên tắc. Đặc biệt trong thời kỳ hiện đại nầy, dưới phương tiện máy tính điện tử chung nhất, mọi thứ ngôn ngữ chung quy đều được biểu thị bằng một hệ thống “Chữ cái” đơn giản và phổ quát, “Không” và “”.

* “Mù chữ” (Illiterate – Illiteracy): “Từ” nầy không phải chỉ có một ý nghĩa đơn thuần là “không biết chữ”! Đó là chưa kể, dầu chỉ trong cái nghĩa đơn thuần đó thôi, “từ” cũng còn hàm chứa một giả sử là “phải có chữ”! Trong một xã hội “không có chữ”, thì không thể có người “mù chữ” (Vì có chữ đâu mà mù?). Ngoài ra người viết, hay nói, phải luôn luôn thận trọng với những ý nghĩa khác (khác hơn là ý nghĩa mà mình muốn phô diễn) của từ ngữ mình đang dùng. Vì, ví dụ, như trong phần định nghĩa, “mù chữ” còn có nghĩa là “thất học”, “có ít hay không có giáo dục”, “không thể đọc hay viết”. Đây là những hệ lụy rất nguy hiễm trong việc xử dụng từ ngữ một cách thiếu tế nhị qua các biện luận, diễn giải.

* Vài định nghĩa theo tự điển: - (c)2000 Zane Publishing, Inc. and Merriam-Webster, Incorporated.   All rights reserved.

1let•ter \"le-tr\ n - chữ 1 : a symbol that stands for a speech sound and constitutes a unit of an alphabet – một dấu hiệu biểu trưng cho một âm nói và lập thành một đơn vị mẫu tự 2 : a written or printed communication - một cách truyền thông bằng viết hay in ấn 3 pl : literature - NỀN VĂN HỌC; also : learning - HỌC 4 : the literal meaning – nghĩa đen <the ~ of the law> 5 : a single piece of type - một đơn vị đánh máy

2letter vb - chữ: to mark with letters – Làm dấu bằng mẫu tự : inscribe – GHI, KHẮC — let•ter•er n 

1word \"wrd\ n –từ 1 : something that is said – cái được nói ra; esp : a brief remark - một nhận xét ngắn 2 : a speech sound or series of speech sounds that communicates a meaning - một âm nói hay một nhóm âm nói truyền tải một ý nghĩa; also : a graphic representation of such a sound or series of sounds - một dạng vẻ biểu diễn một âm hay một nhóm âm 3 : order, command – YÊU CẦU, LỆNH 4 often cap : the 2d person of the Trinity – ngôi thứ 2 trong “Ba ngôi”; also : gospel – SÁCH PHÚC ÂM 5 : news, information – TIN, TIN TỨC 6 : promise - LỜI HỨA 7 pl : quarrel, dispute - LỜI BIỆN CẢI, TRANH CHẤP 8 : a verbal signal - một âm hiệu: password — word•less adj

2word vb - từ:  to express in words – phô diễn lời nói: phrase - DIỄN ĐẠT

text \"tekst\ n - bản văn: 1 : the actual words of an author's work 2 : the main body of printed or written matter on a page 3 : a scriptural passage chosen as the subject - , esp. of a sermon 4 : theme, topic 5 : textbook tex•tu•al \"teks-ch-wl\ adj. – 1. hệ thống từ ngữ đã được thực sự viết ra trong một tác phẩm của  một tác giả 2. phần thân chính của một vấn đề được viết hay in ra trên một trang 3. một đoạn kinh điển được chọn làm một đề tài vd. của một bài giảng 4. LUẬN ĐỀ, ĐỀ TÀI 5. Sách nghiên cứu  chuyên đề.

il•lit•er•acy n. pl.-cies - sự thất học, nạn mù chữ: 1. the quality or state of being illiterate; esp, inability to read or write 2. a mistake or crudity (as in speaking) typical of one who is illiterate. 1. tình trạng hay đặc tính không biết chữ; vd. Không có khả năng đọc hay viết 2. một nhầm lẫn hay vụng về (như trong văn nói) thông thường của một người mù chữ.

il•lit•er•ate \il-"li-t-rt\ adj – mù chữ, thất học 1 : having little or no education – có ít hay không có giáo dục; esp : unable to read or write – không thể đọc hay viết 2 : showing a lack of familiarity with the fundamentals of a particular field of knowledge – chứng tỏ thiếu sự quen thuộc với những căn bản kiến thức về một phạm trù nào đó  — il•lit•er•a•cy \-"li-t-r-s\ n — illiterate n 

lit•er•a•ture \"li-tr-'chur, -t-r-, -chr\ n – văn hóa, nền văn hóa 1 : the production of written works having excellence of form or expression and dealing with ideas of permanent interest - sản phẩm của những công trình viết văn có giá trị cao về hình thức hay cách diễn đạt, đối với những tư tưởng về một giá trị có tính trường cửu  2 : the written works produced in a particular language, country, or age – (tổng hợp) những tác phẩm văn viết sáng tác bằng một ngôn ngữ, trong một quốc gia, hay một thời đại đặc biệt nào đó.

lit•er•acy n - sự biết chữ: the quality or state of being literate - sự/đặc tính biết chữ: n. Tính, đặc tính, tình trạng biết chữ.

lit•er•ary adj. – thuộc về hay liên quan đến văn học, có văn hóa: 1.a. of, relating to, or having the characteristics of human learning or literature - của, liên hệ đến, hay có đặc tính văn hóa hay sự học hỏI của con người B. BOOKISH, c. of or relating to books - của, liên hệ đến sách, knh. 2.a. WELL-READ - ĐỌC KỶ (VÀ HIỂU), b. of or relating to authors or scholars or to their professions - của, hay liên hệ đến, tác giả hay trường phái hay chuyên môn của họ..

lit•er•ate \"li-trt, -t-rt\ adj. - biết chữ 1 : educated  CÓ GIÁO DỤC; also : able to read and write – có thể (khả năng) để đọc và viết 2 : literary – CÓ VĂN HÓA; also : polished - HIỂU BIẾT, TRÔI CHẢY, lucid – THÔNG SUỐT — lit•er•a•cy \"li-tr-s, -t-r-\ n — literate n

Theo tự điển: The Random House Dictionary of the English language - Second Edition - Unabridge - Copyright c 1987, by Random House, Inc., New York -

Character n. - chữ, văn tự, ký tự, đặc tính, nhân vật, . .

1.    a symbol as used in a writing system, as a letter in the alphabet – một ký hiệu dùng trong hệ thống viết, như một chữ trong vần a, b, c. - the symbols of a writing system collectively - những ký hiệu của một hệ thống chữ viết.

2.    a significant visual mark or symbol - một dầu hiệu hay ký hiệu nhìn thấy được có ý nghĩa.

3.    a style of writing or printing - một hình thức viết hay in ấn.

Letter      n - chữ – dt. Hình biểu tượng, Ký hiệu, hay Chữ:

1. a symbol or character that is conventionally used in writing and printing to represent a speech sound and that is part of an alphabet - một ký hiệu hay dấu hiệu biểu tượng được dùng có quy ước trong viết và in ấn để biểu diễn một âm vận nói và là một phần của mẫu tự.

2. a piece of printing type bearing such a symbol or character - một bộ phận (miếng) trong một loại in ấn mang ký hiệu hay dấu hiệu như thế.

Word \"wrd\ n - Từ - dt.

    A unit of language, consisting of one or more spoken sounds or their written representation, that functions as a principal carrier of meaning. Words are composed of one or more morphemes and are either the smallest unit susceptible of independent use or consist two or three such units combined under certain linking conditions, as with the loss of primary accent that distinguishes black’ bird from black’ bird’.

Words are usually separated by spaces in writing, and are distinguished phonologically, as by accent, in many languages.

“Từ” - Một đơn vị của ngôn ngữ, gồm một hay nhiều âm nói hay cách biểu diễn bằng viết của nó, giữ nhiệm vụ chuyển tải chính một ý nghĩa. “Từ” bao gồm một hay nhiều đơn vị “chữ” và hoặc là một đơn vị căn bản nhỏ nhất được xử dụng độc lập, hay gồm hai hay nhiều đơn vị như vậy, dưới những điều kiện liên kết nào đó - như trong sự kiện ảnh hưởng của những dấu nhấn.

“Từ” thông thường được phân cách bởi khoảng trống trong cách viết, và được phân biệt trong âm vận bằng những dấu nhấn trên các “chữ” của nó trong nhiều ngôn ngữ.

il•lit•er•acy n., pl. – cies - sự mù chữ:

1.    a lack of ability to read and write – không có khả năng đọc hay viết.

2.    the state of being illiterate; lack of any or enough education – tình trạng mù chữ; không được giáo dục (education) hay không được giáo dục đủ.

3.    a mistake in writing or speaking, felt to be characteristic of an illiterate or semiliterate person: a letter that was full of illiteracies - sự nhầm lẫn trong viết hay nói, tình trạng giống như một người không có học chữ hay không biết chữ (trong một môi trường đã có chữ).

il•lit•er•ate \il-"li-t-rt\ adj - mù chữ:

1.    unable to read and write: an illiterate group – Không thể đọc và viết (trong môi trường đã có chữ để đọc, viết): vd. một lớp người mù chữ.

2.    having or demonstrating very little or no education – không có hay có rất ít giáo dục (education) hoặc chứng tỏ như vậy.

3.    showing lack of culture, esp. in language and literature - chứng tỏ không có văn hóa, vd. Trong ngôn ngữ hay văn học.

4.    displaying a marked lack of knowledge in a particular field: He is musically illiterate - chứng tỏ dấu hiệu của sự thiếu kiến thức trong một phạm trù nào đó: vd. Hắn mù tịt về âm nhạc.

5.    an illiterate person – vd. một người mù chữ.

lit•er•a•ture \"li-tr-'chur, -t-r-, -chr\ n - văn hóa:

1.    Writing in which expression and form, in connection with ideas of permanent and universal interest, are characteristic or essential features, as poetry, novels, history, biography, and essays - Các hình thức viết, ghi khắc liên hệ và để phô diễn những ý tưởng có tính thường xuyên và vì những lợi ích có quy ước, là những phương tiện biểu diễn những đặc tính và ý nghĩa, như thơ phú, truyện ký, tiểu thuyết, lịch sử, diễn tả, hay tự sự.

2.    the entire body of writing of a specific language, period, people, etc.: the literature of England – toàn bộ hệ thống của tất cả các sản phẩm bằng viết của một ngôn ngữ, trong một thời kỳ, hay thuộc về một dân tộc riêng biệt, v.v. vd..văn chương Anh quốc.

3.    the writings dealing with a particular subject: the literature of ornithology - những mô tả, văn viết về một sự kiện chuyên biệt; văn bản

4.    the profession of a writer or author - nghề nghiệp hay nghệ thuật viết văn của một người viết hay tác giả.

5.    literacy work or production - sự, công trình, sáng tác văn.

6.    any kind of printed material, as circulars, leaflets or hand-bills: literature describing company products - bất cứ loại in ấn nào, như giấy tờ lưu chuyển, tờ giấy rời, hay thư tay; bản văn mô tả những sản phẩm của một công ty.

lit•er•ary adj. - về, hoặc liên quan đến, văn học:

1.    the quality or state of being literate; esp. the ability to read and write – tình trạng hay đặc tính biết chữ; như trong khả năng biết đọc và viết.

2.    possession of education: to question someone’s literacy – có giáo dục; vd. chất vấn về tình trạng biết chữ của một người nào.

3.    a person’s knowledge of particular subject or field: to acquire computer literacy - kiến thức của một người nào đó về một sự kiện gì hay một phạm trù nào; vd. để bồi đắp kiến thức về máy tính điện tử.

lit•er•ate \"li-trt, -t-rt\ adj - biết chữ:

1.    able to read and write – có thể đọc và viết

2.    having or showing knowledge of literature, writing, etc.; literary; well-read – có hay chứng tỏ có kiến thức về văn chương, viết lách, v.v.

3.    characterized by skill, lucidity, polish, or the like: His writing is literate but cold and clinical - thể hiện bằng văn tài, sự trong sáng, lưu loát, hay những đặc tính tương tự; vd. Văn ông ta lưu loát nhưng lạnh lùng và buồn tẻ.

4.    having knowledge or skill in a specified field: literate in computer usage – có kiến thức hay tài năng trong một phạm trù nào đó; vd. Tài tình trong vịệc xử dụng máy tính.

5.    having an education, educated – có giáo dục, đã được giáo dục.

6.    a   person who can read and write, a learned person - một người có thể đọc hay viết.

* Định nghĩa và giải thích vài từ vựng đặc biệt dùng trong Vệ đà:

Flat Earth - Bình Địa, Vùng đất bị sang bằng

Earth-Serpent -   Đất Thần Rắn, Vùng đất được chống giữ bởi thần-rắn-ngàn-đầu.

Wine Sea - Biển Rượu Van, Đất nổi trên biển bằng rượu van.

Demonic Eclipses - Qủy Nhựt-Nguyệt Thực, Hai qủy nuốt trái đất và mặt trăng, dẫn tới nhựt-nguyệt thực.

Trillion-Year-Old Universe - Vũ trụ ngàn tỉ năm tuổi, Vũ trụ có 26 ngàn tỉ năm tuổi

700,000 mile Mt. Meru - Núi Meru cao 700,000 dặm. Núi Meru cao 100,000 lần hơn núi Everest.

Dung Medicine - Thuốc phân, thuốc Ayurvedic chứa nước tiểu và phân của nhiều loại súc vật.

Alcohol Universe - Vũ trụ rượu, Vũ trụ chứa đầy rượu.

* Vài định nghĩa theo tự điển: The Oxford American Dictionary – Second Edition 2005:

Upanishad: dt. mỗi sách trong bộ kinh văn Ấn Độ giáo viết bằng chữ Sanskrit khoảng từ năm 800 đến 200 trước kỷ nguyên, giải thích các kinh điển Vệ Đà bằng những nghĩa ngữ huyền bí, có tính phổ quát trong thời tiền triết học.

Veda:  Có 4 loại kinh Vệ Đà. Rig Veda, Sama Veda, YajurVeda, và Atharva Veda (Sanskrit)

Rig Veda: Ấn Độ giáo, những kinh điển cổ xưa và căn bản nhất, một tập hợp của 1,028 bài “thánh vinh” được sáng tác trong thiên niên kỷ thứ 2 trước kỷ nguyên bằng tiếng Sanskrit cổ.

A-thar-va Veda: Ấn Độ giáo, một tập hợp của những bài ca và những xướng ngôn thờ phượng, viết bằng chữ Sanskrit cổ và sau nầy được thêm vào trong hệ thống Vệ Đà và Ấn Độ giáo ngày nay.

Pa-li: dt. một ngôn ngữ Ấn Độ, liên hệ gần gủi với Sanskrit, được dùng trong các kinh sách Phật giáo Tiểu thừa. Pali được phát triển ở bắc Ấn Độ trong các thế kỷ từ 5 đến 2 trước kỷ nguyên.

* Vài định nghĩa theo Tự điển: Merriam Webster’s Collegiate Dictionary – Tenth Edition:

Aryan adj. belonging to the people speaking an Indo-European dialect who migrated into northern India 1. of or relating to the Indo-European family of languages or to  their hypothetical prototype 2. of or relating to speakers of Indo-European languages 3. a. of or relating to hypothetical ethnic type illustrated by or descended from early speakers of Indo-European languages b. NORDIC 4. of or relating to Indo-European or its speakers – thuộc dân tộc nói một thổ ngữ Ấn-Âu đã di cư vào cùng Bắc Ấn 1. của hay liên hệ đến nhóm ngôn ngữ Ấn-Âu hay đến những nguồn gốc giả thiết của chúng 2. của hay liên hệ đến những người nói các ngôn ngữ Ấn-Âu 3. a. của hay liên hệ đến các thổ dân giả thiết các thế hệ truyền thừa của những người đầu tiên nói các ngôn ngữ Ấn-Âu b. BẮC ÂU 4. của hay liên hệ đến tiếng Ấn-Âu hay người nói tiếng nầy.

Aryan n. 1. a member of the Indo-European speaking people early occupying the Iranyan plateau or entering India and conquering and amalgamating with the earlier non-Indo-European inhabitants 2. a. a member of people speaking the Language from which the Indo-European languages derived b. an individual of any of those peoples speaking these languages since the prehistoric times – INDO-EUROPEAN c. NORDIC d. GENTILE – 1. một cá nhân trong các dân tộc nói tiếng Ấn-Âu đầu tiên chiếm cứ vùng châu thổ Iranyan, hay vào Ấn Độ, chinh phục và đồng hóa các cư dân không Ấn-Âu địa phương 2. a. một người của dân tộc nói ngôn ngữ gốc mà từ đó các ngôn ngữ Ấn-Âu đã xuất phát b. một cá nhân của một trong những dân tộc nói những thứ tiếng nầy từ những thời tiền sử - ẤN-ÂU c. BẮC ÂU d. KHÔNG DO THÁI

Indo- combo form 1. India or the East Indies (Indo-Britan, Indo-Pakistani) 2. Indo-European – 1. Ấn Độ hay những vùng Đông Ấn 2. Ấn-Âu

Indo-Aryan n. 1. a member of one of the peoples of India of Aryan speech and physique 2. one of the early Indo-European invaders of Persia, Afghanistan, and India 3. the Indo-European languages of India and Pakistan as a group – 1. một người trong những dân tộc Ấn Độ nói tiếng và thuộc giống người Ấn-Âu 2. Một trong những người xâm lăng Ấn-Âu thời trước của vùng vịnh Ba Tư (Persia), Afghanítan, và Ấn Độ 3. những ngôn ngữ Ấn-Âu thuộc nhóm của Ấn Độ và Pakistan

Indo-Aryan adj. thuộc nhóm, những dân tộc nói, ngôn ngữ Ấn-Âu

Indo-European adj. of, relating to , or constituting the Indo-European languages - của, liên hệ với, hay là thành phần lập nên các ngôn ngữ Ấn-Âu

Indo-European n.

Indo-European languages n. pl. a family of languages comprising those spoken in most of Europe and in the parts of the world colonized by Europeans since 1500 and also Persia, the subcontinent of India, and some of other parts of Asia - họ các ngôn ngữ gồm những ngôn ngữ ở hầu hết Ấu châu, và những phần trên thế giới bị người Âu châu chiếm làm thuộc địa từ 1500, và kể cả vùng vịnh, các tiểu lục địa của Ấn Độ, và một số vùng khác của Ấ châu

Vedic: tt. Thuộc về kinh Vệ Đà, hay ngôn ngữ viết các loại kinh điển nầy, lịch sử hay văn hoá Ấn Độ giáo giữa thế kỷ 15 và 5 trước kỷ nguyên.

Sơ lược Các Niên Đại Lịch Sử Ấn Độ:

·        1. Cổ Ấn: (4000 – 1500 trước Tây lịch)

·        2. Thời Kỳ Cổ Bà La Môn (1500 trước Tây lịch – 1000 sau Tây lịch)

o       2.1 Thời Kỳ Lịch sử Tối Tăm Vệ Đà (1500 – 500 trước Tây lịch)

§        Thời Kỳ Đô Hộ của người Ấn-Âu - Rig Vệ Đà (1500 – 1200 trước Tây lịch)

§        Sự Hũy Diệt của Nền Văn Hóa Cổ Ấn Semito-Dravidian

§        Sự Diệt Chủng của các dân tộc Sudra-Blacks

§        Thời Sanskrit và Thời Hũy Hoại

§        Sự phát triển Hệ Thống Đẳng Cấp Kỳ Thị Chủng Tộc

§        Những cuộc chinh phục Vệ Đà về sau của dân Ấn-Âu (1200 – 1000 trước Tây lịch)

§        Những cuộc chiến tranh diệt chủng Mahabharatan (1000 – 700 trước Tây lịch)

§        Cuộc chinh phục Miền Nam Dravidian của dân Ấn-Âu Ramaite (700 – 500 trước Tây lịch)

§        Sự Hũy Diệt của nền Văn minh Dravidian

§        Sự Ấn-Âu Hóa và Bắt Đầu của sự Diệt Chủng hay Đẳng Cấp ở Nam Ấn Độ

o       2.2 Cổ Puranic hay Thời Đại Cổ Bà La Môn (500 trước Tây lịch – 1000 sau Tây lịch)

§        2.3 Thời đại Bất Chính Thống Heterodox

§        2.3.1 Sự phát sinh chủ nghĩa Phân Bang và Bất Chính Thống, hay Janapadas (Quốc gia) và Arhats (Sự Giải Thoát)

§        2.3.2 Những Vương quốc Scytho Cổ Hy Lạp

§        2.4 Sự Hồi phục Vệ Đà - Sự Phục hồi của nền Văn hóa Vaishnava của Chính Thống giáo Ấn-Âu Tân-Vệ Đà

§        Sự Hãy diệt của những Vương quốc Scytho Cổ Hy Lạp

§        Sự Diệt chủng của những dân tộc Scythians

§        Sự Đàn áp và Nô lệ hóa các Đẳng Cấp thấy hèn

§        Sự chống đối của những tôn giáo Bất Chính Thống

§        Chiến tranh Tôn giáo

·        3. Thời Đại Hindustani ciliate của Delhi (1000 – 1857)

·        4. Thời đại Hậu Delhi (1857 - về sau)

o       4.1 Những cuộc Đô hộ Dã man

o       4.2 Nền Thuộc địa Âu châu và sự Chia phân

§        Nền Vương quốc phụ thuộc Bồ đào Nha

§        Vương quốc Anh

§        Những Tiểu vương quốc

o       4.3 Thời kỳ Hậu-Thuộc Địa Epoch (1947 - về sau)

§        Cộng Hòa Ấn Độ - Sự Hội nhập của 500 tiểu bang.

§        Những cuộc chiến tranh Ấn - Hồi (Pakistan)

Cuộc xâm lăng của người Ấn-Âu và sự Tan rả của Đế Quốc Ấn Độ:

Dân du mục Ấn-Âu xâm lăng lãnh thổ Ấn Độ vào khoảng thế kỷ thứ 16 trước Tây lịch (1,500’s B.C.), hũy diệt toàn bộ văn hóa miền tây bắc và vùng trung châu Ấn, và tiêu diệt hoàn toàn các dân tộc Ấn Độ. Sự kiện nầy đã chấm dứt một nền văn hóa sáng lạng nhất của thế giới cổ xưa. Hậu quả của những cuộc xâm lăng nầy là Ấn Độ đã bị chìm đắm trong thời đại 2,500 năm Đen Tối của Lịch sử Vệ Đà. Mỗi lần các thành phố được xây dựng lại, mọi sự đều được đặt dưới ảnh hưởng của Hy Lạp Scytho.

Trước hết xin giải thích sơ lược một số từ vựng được dùng một cách phổ thông trong nhiều tài liệu (như là những danh tự riêng) để diển tả những sự kiện diệt chủng từ thời đại lịch sử bi thương đó:

·        Ash layers - Nhũng lớp tro - để chỉ những thành phố Ấn Độ bị đốt cháy tràn lan bởi các dân tộc Ấn-Âu.

·        Fractured skulls - Những sọ người vỡ nát - và những bộ xương khô vung vẩy đầy vết búa riều và gươm giáo qua những cuộc diệt chủng rộng lớn mà các dân tộc Ấn Độ phải chịu dưới sự bạo tàn của các đạo quân xâm lăng Ấn-Âu. 

·        Caste System of Apartheid - Chế độ Đẳng Cấp Diệt Chủng (Apartheid) - giống như chế độ ở miền Nam khi người da trắng Ba Tư ở Causasoid càng quét vùng Semitic và các sắc dân da đen Dravidian. Shivaism vẫn còn là tôn giáo của người Dravidians, trong khi Vaishnavism là một tôn giáo Ấn-Ba Tư.

·        Discontinuity - Sự gián đoạn - để đánh dấu cuộc xâm lăng của người Ấn-Âu trên mọi bình diện. Sành sứ, kiến trúc, vũ khí Ấn-Âu (kể cả ngựa và xe ngựa) và những thời kỳ định cư của người Ấn-Âu, hiện diện cho đến cuối thời kỳ của các nền văn hóa tồn tại ngay trên những những thành phố bị hũy diệt, với nhiều di tích những bàn thờ lửa nguyên thủy và các loại đồ dùng được mới sơn màu xám (PGW).

·        Flooding - Lụt lội - được ghi lại dấu vết bằng những lớp phù sa tạo ra bởi sự tàn phá hoàn toàn của các hệ thống đê điều và thủy lợI đã được xây dựng.

·        Aryan:  adj - Người Ấn-Âu: 1- Xem Indo-European, 2- Thuộc về Bắc Ấn.

·        In•do–Eu•ro•pe•an adj - In•do–Eu•ro•pe•an: Liên hệ tới, thuộc về họ ngôn ngữ xử dụng bởi hầu hết người Âu châu và một phần thế giới thuộc địa của họ từ 1,500 và gồm cả người vùng Vịnh Ba Tư, lục địa cận Ấn, và vài vùng khác ở Á châu.

·        Northern Dravidians - Các sắc dân Dravidians phương bắc (như Brahui, Bhil, và Gonds chiếm cứ các giải đất biệt lập ở phía bắc và trung châu Ấn Độ, chứng tỏ rằng các dân tộc Dravidians đã từng sống cùng khắp lãnh thổ Ấn Độ.

·        Sanskrit Literature - Văn hóa Sanskrit - đã ghi dấu tường tận cuộc xâm lăng của người Ấn-Âu. Indra, chủ tể các vị thần Ấn-Âu, luôn luôn được lặp đi lặp lại như là “thần hũy diệt các thành phố” và “thần mạng tuyệt của dân Dasyus”. Trong văn hóa Tamil, thế kỷ 16 trước kỷ nguyên (1,500’s B.C.) là ngày khai tử bi thương của nền văn minh Tamil, sự kiện nầy trùng hợp với các cuộc xâm lăng của người Ấn-Âu. Hơn thế nữa, Sanskrit chứa đựng rất nhiều những chữ vay mượn có gốc Dravidian. “Shiva” là một thí dụ (Tamil “civa”). Nhiều âm vận cũng mang màu sắc Dravidian.

·        Astronomical Science - Khoa học thiên văn - dùng bởi các nhà tế lễ được lấy từ ngôn ngữ dân tộc thung lũng Semito-Dravidian-Indus vì đã được hợp thành trong thời Thung Lũng Indus, và không được đề cập tới trong Avesta hay Rig-Veda.

Khoảng thế kỷ thứ 16 trước kỷ nguyên, văn minh Indus, sau 2,000 năm thịnh vượng, đã dần dần bị hũy diệt. Lịch sử đã khẳn định lý do của sự suy đồi nầy, đúng ra phải nói rằng lý do duy nhất, là sự xâm lăng của những sắc dân hung bạo Ấn-Âu. Họ xâm chiếm, tàn phá các thành phố Indus, và tiêu diệt các dân tộc địa phương.

1. Chứng tích khảo cổ

1.1            Những lớp tro dày

Những lớp tro dày hiện diện trên lớp đất bề mặt của nhiều thành phố vùng Indus. Ở Nal, thời kỳ cuối của nền tiểu công nghệ Zhob đã bị thiêu hũy nghiêm trọng đến nỗi dãy đồi đất đá nhân tạo, được gọi là Soshr Damb, hay Đồi Đỏ, đã bị hóa đỏ vì lửa. Ở Dabar Kot, trong 2 mét bề sâu trên mặt đất của cả dãy đồi là 4 lớp tro dày, chứng tỏ những đợt hũy diệt của những trận hỏa thiêu tàn khốc đã được lặp đi lặp lại qua nhiều thế hệ, và những tàn tích đỗ nát liên hệ đến những thời kỳ định cự (và tái định cư) của người Harappa.

Tại những vùng đồi đất sỏi Rana Ghundai, khắp nơi trên lớp đất nền của thời đại RG III c, đều bị bao phủ bởi những túi tro đỏ. Bên trên lớp địa tầng nầy, những loại đồ sành sứ xếp từng lớp, phân biệt rất rõ ràng, Sành sứ thời kỳ RG IV được phủ bởi một lớp vải sơn thô. Lớp RG IV lại bị thiêu hũy, và thời kỳ RG V lại tiếp tục được ghi nhận bằng một hình thức sành sứ đổi mới. Lớp RG V không được sơn và chứa nhiều điêu khắc có tính tín ngưỡng.

1.2 Những xương sọ bể nát;

Mohenjo-daro, Harappa, và Chanhu-daro, những bộ xương và nhiều bộ phận xương người chứng tỏ những đợt diệt chủng ở các thời kỳ lịch sử cuối cùng của những thành phố. Hàng trăm bộ xương của những người đã bị giết trên đường phố chứng tỏ rằng những cái chết tập thể không phải là do thuốc độc, nhưng là bởi sự bạo hành.

1.3 Vũ khí của người Ấn-Âu:

Những cái bôn (rìu lưỡi vòm) bằng đồng đã thâm nhập vào các vùng Harappan (Harappa, Shahi-tump và Chanhu-daro) giống hệt như loại đã tìm thấy ở miền Bắc vịnh Ba Tư (Hissa III, Shah Tepe, Turang tepe) và những vùng Akkadian (Assur, nghĩa trang Sialk B: ở những vùng nầy những mẫu xét nghiệm chứng tỏ đã thuộc vào thời kỳ hậu bán thế kỹ thứ 9 trước Tây lịch).

Những ngọn giáo dài 1.5 feet và được tăng cường vũng chắc ở phần sống lưng không thuộc loại Harappan và chỉ được tìm thấy ở địa tầng dưới của những thành phố. Những ngọn giáo nầy ở Mohejio-daro luôn luôn có một hành đinh tán để giữ chắc cái cán hoàn toàn giống với loại giáo vào cùng thời kỳ ở Palestine, mà ở nơi đó những vũ khí nầy được gắn liền với các thời đại Đế chế ở Hy Lạp, 1800 – 1500 trước Tây lịch.

Những cây lao có móc bằng đồng được tìm thấy ở vùng Thung lũng Cổ Ấn Độ giống hệt như những cây lao đã tìm thấy ở Âu châu và một số vùng ở Á châu.

Vũ khí của người Ấn-Âu, kể cả ngựa và xe ngựa, hiện diện cho đến cuối các thời kỳ lịch sử của các thành phố Cổ Ấn Độ.

1.4 Những cơn hồng thủy gây ra bởi sự phá hũy đê điều Ấn Độ của người Ấn-Âu

Dấu chỉ của nhiều trận hồng thủy đã được phát hiện ở những thành phố Cổ Ấn Độ, hầu hết dưới hình thức những lớp trầm tích đất sét. Đó là dấu chỉ minh thị giải thích rằng những cơn hồng thủy đã là nguyên nhân hũy hoại các thành phố Cổ Ấn Độ và được coi như là những sự kiện hung bạo nhất trong thời kỳ đô hộ của người Ấn Âu.  Hơn nữa sau đó, người ta còn phát hiện thêm nhiều dấu ấn lịch sử khác, và chấp nhận rằng những cơn hồng thủy đó còn gây ra bởi những đợt phá hũy các hệ thống dẫn thủy nhập điền nữa. Và đó còn là một hệ lụy khác của nạn diệt chủng.

“Ngài đập nát Vrtra đã tích trử nước [RgV VI.20.2]
”Ngài đập nát Vrtra đã bao bọc nước, bằng một thân cây với đinh ốc [RgV II.14.2]
”Ngài được xem như là “Chinh phục nước (aspaijit), đó chính là thiên tính của Ngài.
”Indra đã tháo chảy những dòng nước sau khi đã chém đầu Vrtra [RgV IV.19.8]
”Ngài giữ chặc núi non để cho những dòng nước chảy xuôi [RgV I.57.6, X.89.7], ngay cả với âm vang của cái đinh ốc của Ngài [RgV VI.27.1”]
- [RgV I.57.6, II.14.2,  IV.19.8, VI.20.2, VI.27.1, X.89.7] [ST 368]

Trong ngôn ngữ Sanskrit, “Vrtra” là một “chướng ngại”, và minh xác là bờ ngăn hay bờ cảng [ISISH 70.71]. Đó là một từ khác dùng cho “đập nước”. Những đập nước bây giờ được gọi là Gebr-band, được tìm thấy ở nhiều dòng nước chảy ở những miền tây của vùng Cổ Ấn Độ. Người Ấn-Âu đã tiêu hũy hệ thống đê điều Cổ Ấn Độ, tạo ra những lớp trầm tích đất sét ở Mohenjo-daro [S & T 369]

“Khi Ngài (Indra) xẻ núi lớn ra, Ngài đã tháo chảy những dòng thác và vật chết Davana, Ngài đã tháo chảy những dòng suối bị giữ lại ở phía trên. [RgV V.32.1-2]
Ngài chặt đầu Dravana, đập vỡ núi lớn, phá bể giếng sâu, tháo nước trên nguồn. [RgV I.57.6, V.33.1]
”Ngài tháo những dòng suối giống như những con bò đã bị tù [RgV I.61.10]
”Ngài chiến thắng những con bò và thần soma, và để cho bảy con sông chảy xuống. [RgV I.32.12, II.12.12]
”Ngài tháo chảy nước tù [RgV I.57.6, I.103.2]
”Ngài đào tung những mương nước với đinh ốc của Ngài [RgV II.15.3], cho nước ngập chảy ra biển. [RgV II.19.3]
”Ngài làm cho nước bị ứ đọng lại bởi Vrtra chảy đi. [RgV III.26.6, IV.17.1]”
Một câu thơ khác công khai xác nhận ngài là thủ phạm đã phá vỡ các đập nước:

“Rimag rodhamni krtrimani = “Ngài tháo gở các bờ đê nhân tạo.” - - [RgV 2.15.8]”

Bây giờ, rodhas = “đập” ở khắp nơi trong Rig Veda và trong ngôn ngữ Sanskrit sau nầy [S & T 369]. Chứng tích trên đây, lấy trực tiếp từ Rig Veda, mà không cần phải từ bất cứ một nguồn tài liệu phụ thuộc nào, cũng đủ minh chứng người Ấn-Âu chính là thủ phạm hũy diệt các hệ thống đê điều Cổ Ấn Độ.

1.5 Những đợt định cư người Ấn-Âu

Những cuộc định cư người Ấn-Âu diễn ra ngay trên thành phố đã bị hũy diệt, cho đến cuối mỗi thời kỳ văn hóa. Đó là những thời kỳ của các kiến trúc làm bằng vật liệu lấy từ những đống đổ nát của phố xá các thời kỳ trước đó.

2. Khái quát về Nhân chủng học:

2.1 Dân Draviians miền bắc

Nhiều bộ tộc dân Dravidians vẫn còn cư trú ở những phần đất riêng rẽ ở bắc Ấn Độ. Dân Brahui định cư tại những vùng đất Baluchistan và vẫn còn nói một thứ tiếng Dravidian. Dân Bhils sống ở những vùng nam Rajastan. Dân Gonds da đen sống trong những vùng trung thổ Ấn, khoảng Vindhyans.

2.2 Dân Black Sudroids, Dravidians, và giống dân Phi châu

Những người Ấn-Âu và Dravidians hiện còn đang sống thành những quần thể lớn và giữ gìn những tập quán cổ. Người Ấn-Âu có mủi tẹt và tóc thẳng. Dân Dravidians có mũi rộng, tóc xoắn và da rất đen. Họ có liên hệ với các giống dân châu Phi.

2.3 Giống dân Caucasoids Ấn - Ấn-Âu

Người Ấn - Ấn-Âu thuộc dân Caucasoid hay sắc tộc da trắng và rất giống với người La tinh. Những ngôn ngữ Ấn - Ấn-Âu thuộc vào họ các ngôn ngữ Ấn Độ - Âu châu. Nguyên người Ấn - Ấn-Âu có màu da từ trắng đến trắng ngà, mũi tẹt, môi dẹp, và tóc thẳng.

3. Chữ viết

3.1 Chữ Sanskrit

Nhiều chứng tích cho thấy ảnh hưởng cuộc xâm lăng của người Ấn-Âu trên ngôn ngữ Sanskrit.

Xướng ca cổ cầu nguyện thần “đã hũy diệt dân Dasyans và bảo vệ màu da Ấn-Âu.” [RgV III.34.9; Ann 114] và “thần sấm đã thuần hóa những người bạn da trắng trên cánh đồng, mặt trời, và nước.” [RgV I.100.18; Ann 114]. Rất nhiều câu kinh nói đến “thần da đen Krishnam Vacham” [RgV Ĩ.41.1, Sama Veda 1491, II.242; Ann 114] được xem như thần chống đối, tức là những “thần hung hổ như những con bò mộng vội vàng phân hũy màu da đen.” [RgV Ĩ.73.5]. Xướng ca cho rằng da đen là “màu da đáng ghét của thần Indra, đang được quét sạch ra khỏi thiên đàng” [RgV Ĩ.73.5]. “Thần Indra bảo vệ người Ấn-Âu trong chiến tranh của những người thờ phượng, ông ta đã chiến thắng những kẻ ngoài luật lệ cho thần Manu, ông chinh phục màu da đen.” [RgV I.130.8; Ann 114]. Người tin phục biết ơn thần của họ về việc ngài đã “hũy diệt các bộ tộc con cháu dân da đen”, và về việc “ngài đã quét sạch thần da màu bị chối bỏ.” [RgV II.20.7, II.12.4; Ann 115].

Sự hũy diệt của các thành phố:

Các thần của dân Ấn-Âu được hân hạnh giới thiệu bởi các “nhà thông thái” Vệ Đà như là “những thần hũy diệt của các thành phố”. Trong những thần Indra, vị thần sau cùng nầy được xem là hiện thân của Thần Vishnu, là một vị thần của tội ác nguyên thủy. Thần Indra được gọi là thần Puroha hay Purandhara, “thần đập nát các thành phố” [S & T 366]. Indra lật đổ 100 tượng thần Puras làm bằng đá (asmanmayi) của những người thờ thần Divodasa [RgV 4.30.20], thuộc sắc dân Sambara, tức là thần Dasa (một loại quỷ sa tăng không thuộc giống dân Ấn-Âu) của núi [RgV 6.26.5] - thần Chanda [S & T p.364]

Người ta không hề tìm thấy một quan tâm nào được dành cho sự sống của các sắc dân không-Ấn-Âu. Một bài thơ Ấn-Âu viết,

“Hởi thần Toàn năng [Asvins] ông làm gì ở đó? Tại sao ngài ở đó trong đám dân ích kỷ không chịu dâng hiến vật hy sinh? Hãy bỏ rơi chúng, hãy hũy diệt đời sống của dân thần Panis.”

Sự hũy diệt các sắc dân thờ thần Indra của Harappa - Một câu ngâm vịnh nổi tiếng trong Rig Vệ Đà ca ngợi sự hũy diệt các sắc dân thờ thần Indra của Harappa:

“Với sự giúp đỡ của thần Abhyavatin Cayamana, Indra đã bị hũy diệt cùng với mầm mống của Virasakha.

“Ở Hariyupiyah, ngài đã đập nát đội tiên phong của các dân Vrcivans, và đoàn hậu quân phải khiếp đảm.” - [RgV XXVII.5]”

3.2 Văn hóa Dravidian

Năm 1500 trước Tây lịch được ghi nhận như thời điểm chấm dứt của thời kỳ “sangam” khi mà những cuộc chinh phục của dân barbarians đã khởi diễn.

4. Xã hội học:

4.1 Hệ thống Đẳng cấp xã hội

Hệ thống đẳng cấp là một “dấu chỉ” khác của nền đô hộ của người Ấn-Âu, với cấp thấp nhất hay ngoại cấp tiêu biểu cho cư dân không nguyên thủy đã sống sót qua các thời kỳ chém giết của người Ấn-Âu. Những sự kiện nầy giống hệt như những hiện tượng đã xảy ra ở những nơi khác trên thế giới, trong đó một sắc tộc phải nô lệ vào những chủng tộc khác, ví dụ người Mỹ La tinh (Người Iberians chinh phục người Aboriginals), USA (Anglo-Saxons cai trị các sắc dân Hispanics và Mỹ gốc Phi), etc. Những người nầy gồm các sắc dân Adivasis (những bộ tộc không nguyên thủy), dân Dalits (dân bán đinh cư không nguyên thủy), và dân Sudras (tầng lớp thấp nhất). Tuy nhiên, một số bộ tộc Sudras đã được nhập cư dưới luật lệ cai trị của Hồi giáo từ miền Nam Ấn Độ. Hệ thống đẳng cấp xã hội gồm nhiều “vamas” (Sans, “màu”), mà trong đó có ba cấp là ngườI Ấn-Âu. Cấp thấp nhất, Shudra, gồm những người không nguyên thủy, cũng như những cấp ngoại hạng, không giám đụng chạm tới.

4.2 “Sati” và tục Cước Gã Trẻ con

Người Ấn-Âu chủ trương những giới hạn khắc khe cùng cực cho đời sống người phụ nữ, trong đó có sati và tập tục cưới gã trẻ con. Theo các kinh điển “Hindu” của người Ấn-Âu (ie. Vaishnavite), một người đàn ông phải cưới một người con gái còn trinh nhỏ hơn một phần ba tuổi của mình.

4.3 Thờ-Thần Bò

Thờ thần Bò là một tập tục khác của người Ấn-Âu. Phong tục nầy có lẽ đã phát sinh vì người Ấn-Âu đã là những sắc dân du mục vì thế cần có bò.

5. Thần học:

5.1 Shiva và Shakti

Shiva là thần của các sắc dân Dravidians. Vishnu là của Ấn-Âu.

Hệ thống Lịch-Sao (Lịch theo sao) được dùng bởi các dân tộc Ấn-Âu-Vaishnavites ngày nay đã được vay mượn từ nền văn hóa Semito-Dravidian, Thung lũng Cổ Ấn Độ, vì những lý do sau đây:

1.    Nó không có liên hệ gì đến Rig Vệ đà hay Avesta

2.    Nó đã được chế lập khi Thung Lũng Cổ Ấn Độ ở vào thời kỳ cực thịnh, trước khi người Ấn-Âu đến Ấn Độ [Parpola]

Người Cổ Ấn Độ đã từng nghiên cứu và áp dụng thiên văn vì các đường phố đã được xây dựng hướng theo những chiều căn bản, tiên định bởi việc xử dụng cọc-định-hướng-mặt-trời. Một cái hầm kín ở tháp Mohenjo-daro vẻ đúng hướng một vị thần Cổ Ấn Độ với một vị sao ở cả hai bên đầu ông ta trong phong tục của người Cận Đông. Inanna-Ishtar, vị nữ thần của tình yêu và chiến tranh, chẳng hạn, đã được hội lý với sao Venus [Parrpola]. Điều nầy có lẽ đã dẫn tới việc thờ cúng các hành tinh, một tôn giáo thờ các tinh tú ở Ấn Độ.

5.2 Những Bàn Thờ Lữa

Những bàn thờ lữa xuất hiện sau nầy vào cuối thời kỳ lịch sử của các thành phố Cổ Ấn Độ. Chúng có đặc tính rất thô sơ, được xây dựng bởi vật liệu đổ nát từ các thành phố đã bị phá hũy.

6. Những cuộc đô hộ toàn cầu của người Ấn-Âu:

Người Ấn-Âu chiếm cứ nhiều vùng trên toàn thế giới, tận diệt biết bao nhiêu nên văn minh sáng chói khác nhau của nhân loại. Văn minh Babylonia bị hũy diệt bới người Kassites, Hittiles, và Mittani. Ai Cập bị người Hyksos làm thành bình địa, và văn hóa Minoan bị hũy hoại bởi người Dorians.

7. Những lý thuyết đầy tính ngụy biện và vô trách nhiệm:

Nhiều giải thích khác đã được dùng để lý giải sự tàn hoại của nền văn minh Cổ Ấn Độ, bên cạnh những cuộc độ hộ của người Ấn-Âu. Đó là:

·        Những thiên tai thời khí: Gồm có:

-        Sự va chạm của vẫn thạch

-        Hồng thủy

-        Sự Tự Tận

Những lý thuyết nầy cho rằng chế độ nô lệ, hay một sự kiện cách mạng khác đã thiêu hũy nền văn minh Ấn Độ.

Tuy nhiên, những lý thuyết nầy quả thực đã gặp phải nhiều vấn nạn không giải đáp được.

Sự va chạm của vẫn thạch - Những vấn nạn cho lý thuyết nầy là:

1.    Không hề có dấu vết va chạm nào đã được tìm thấy thích hợp với thời kỳ 1500 trước Tây lịch, cũng không hề có dấu vết nào có kích thước tương xứng. Kích thước thích hợp được xác định một cách khoa học phải chỉ thay đổi trong một phạm vi rất hạn hẹp, vì nếu nó quá lớn, tác dụng phải có tính toàn cầu; mà nếu quá nhỏ, thì sẽ không có tác dụng nào đáng kể.

2.    Không có một va chạm nào có hình ảnh tương xứng với đặc tính mọi sự va chạm từ thời kỳ vẫn thạch làm hũy diệt các loại khủng sinh vật K/T Chiczulub [Alvarrez] cho đến thời kỳ Sudbury xuất hiện, đã được tìm thấy ở cùng Thung Lũng Cổ Ấn Độ trong cùng thời kỳ.

3.    Không hề có một dấu vết vật chất bị nung chảy hay hóa kiếng nào, thích hợp với những đặc tính ảnh hưởng của những vụ va chạm như vậy được tìm thấy ở bất cứ nơi nào gần vùng thung lũng Cổ Ấn Độ.

Như vậy, mặc dù một lý thuyết cho rằng một sự va chạm của một sao chổi có thể đã xảy ra ở vùng Comet Enke, nó vẫn chỉ là một giả thuyết rất viễn vông, và ít được nói đến. Sự hũy diệt của nhiều nền văn hóa trong cùng một thời kỳ đòi hỏi một nạn cố có tính toàn cầu. Nhưng nhiều nền văn minh khác, như ở Trung và Nam Mỹ, và Trung Hoa đã tồn tại liên tục qua thời kỳ 1500 trước Tây lịch. Sự va chạm vẫn thạch thường để lại những lỗ thủng lớn hơn với sự hiện diện của nhiều loại quặng bị nung chảy ở nhiệt độ cao, và vì vậy những biện bác chống lại những giả thiyết nầy càng có lý lẽ mạnh mẽ hơn.

Hồng thủy - Những chứng tích không thể chối cải được của những cơn hồng thủy đã được tìm thấy dưới hình thức những lớp trầm tích đất sét và hệ thống đê điều bị phá vỡ như là những dữ kiện hùng hồn. Và như vậy, hồng thủy đã nghiễm nhiên trở thành những giả thuyết rất thuyết phục, cho đến khi người ta tìm thấy rất nhiều chương mục trong kinh Vệ Đà đã minh xác rằng chính người Ấn-Âu đã từng phá hũy một cách có chủ trương các hệ thống đê điều Cổ Ấn Độ. và như vậy, hồng thủy là những hệ quả tự nhiên của những cuộc xâm lăng của người Ấn-Âu, và không phải của một sự kiện độc lập nào.

Xã Hội Tự Tận hay Tính tự mâu thuẩn trong xã hội:

1.    Giả thiết rằng, sau hàng thiên niên kỷ trong sự an bình, bổng nhiên có cuộc cách mạng nội bộ đàng sau sự hũy diệt thật đã làm cho người ta khó nghĩ.

2.    Không có sự kiện lich sử nào đã được tìm thấy khả dĩ có thể chứng minh điều nầy, và chứng tích không chối cải được về những diễn biến bạo hành với nhiều loại vũ khí mới xuất hiện, rõ ràng là những chúng cớ không thể bỏ qua được.

Những lý lẽ phản bác khác

Mặc dầu những điều sau đây có thể khá khó tin, những rõ ràng chúng đòi hỏi những lý lẽ phản bát phải được củng cố vũng vàng hơn. Những giả thuyết chống lại tội diệt chủng của cuộc đô hộ của người Ấn-Âu có thể được chia ra làm 2 loại:

1.    Thiện Tính Ấn giáo của người Ấn-Âu

2.    Tính Không Phát Xít

Đây toàn là những biện thuyết quá trớn.

Loại đầu nghịch lý với tính hũy diệt, nhũng nhiễu của những “thần” thể hiện trong những hành xử và những hung tính tệ hại nhất đã được ghi nhận trong lịch sử. Họ mong muốn được thấy Vệ Đà, trong sự khắc nghiệt của những bài ngợi ca những đàn bò, như là kho tàn của các loại khoa học.

Loại sau không muốn nhìn nhận tổ tiên của họ đã vi phạm những tội ác như vậy. Một người thiếu thiện tư tôn giáo có quan điểm chống lại tội ác của cuộc xâm lăng của người Ấn-Âu trong thời kỳ đầu của nó là ông Narendra Nath Datta, sau nầy được biết dưới tên Vivekananda. Tất cả những gì ông đã làm, chỉ là để xuyên tạc tính chân thực của sử liệu, với quyết tâm cố hữu là lạc dẫn người đọc, nhất là người đọc của những thế hệ tương lai. Ông viết:

“Và điều mà những học giả Âu châu ở Ấn Độ nói về việc người Ấn-Âu đã càng quét một số vùng đất ngoại bang, sang bằng xứ sở của những dân tộc ngoại chủng, và đưa người Ấn Độ đến diệt vong, chỉ toàn là những lời nói ngu dốt, không có ý nghĩa gì. Điều lạ lùng, là các trường dạy học ở Ấn Độ vẫn xác nhận những điều nầy là “đúng là vậy”, và mọi lời dối trá nhất đã được dạy cho giới trẻ của chúng ta. Rõ ràng đây là một việc xấu. Trong Vệ Đà nào, trong Sukta nào, mà bạn có thể tìm thấy rằng người Ấn-Âu đã đến Ấn Độ từ một nước ngoài? Từ đâu mà bạn đã tìm thấy cái ý tưởng rằng họ đã chặc đầu những giống người địa phương không thuộc chủng? Bạn được gì khi nói đến những điều vô nghĩa nầy?” - [Complete Works of Swami Vivekananda ', 1963, p.534-535] [Panda 70].

Một người Tin lành khác đã chống lại quan điểm về những cuộc xâm lăng của người Ấn-Âu là Srivastava, đã hầu như chỉ nghiên cứu về một chuyên đề là chứng minh sự vô nghĩa của những thần Ấn-Âu:

“Người Ấn, như vậy đã hoàn toàn vô trách nhiệm” - [Srivastava 441]

Sau đó, vì thiếu thốn mọi dữ kiện khoa học, ông ta lạc lõng đến nỗi Wheeler phảI than rằng:

“. . chúng tôi tìm thấy ông (tác giả Srivastava) như là một sĩ quan trong quân đội Anh trong Thế Chiến II, chúng tôi cảm thấy ông ta không thể phiên dịch một chứng tích nghi ngờ của Mohenjo-daroHarappa bằng bất cứ hình thức nào khác.” - [Srivas 442 - Wheeler]

Một người bảo thủ khác, ông A.K. Kateria viết,

“Cả hai Dayananda và Aurobindo đều khẳn định sự phủ nhận những định đề lịch sử về cuộc xâm lăng của người Ấn-Âu, và chiến tranh giữa họ và các dân tộc Dravidians, do người Tây phương gây ra, và đã trở thành những sử liệu rất phổ biến trong phạm trù lớn rộng của lịch sử và giới sử gia Ấn Độ.” – [A.K. Pateria, Modern Commentatos of the Veda, p. 63 – Panda 70]

Nhưng rất tiếc, ông Kateria không hề cho biết hai ông Dayananda và Aurobindo là ai!

Vệ Đà & Lịch Sử - Chữ Viết:

Trong nền văn hóa Cổ Vệ Đà, một quần thể kiến thức được phát huy từ những chữ viết gọi là Vệ Đà. “Từ” nầy được lấy từ căn “vid” (để hiểu, biết). Chữ viết đại cương được xếp thành hai loại: sruti và smrti. Sruti căn cứ vào bốn kinh Vệ Đà mà nguyên thủy thần Brahma đã nhận được từ Chúa Tối cao, Krsna. Smrti là loại văn chương đã được tiết tấu bởi những người tự xưng “thông thái” căn cứ vào việc họ đã tìm ra sruti. Sruti được kết hợp bằng tiếng Sanskrit Vệ Đà, và smrti bằng Sanskrit Laukika. Có vài khác biệt căn bản giữa hai loại tiếng Sanskrit nầy. Trong Sanskrit Về Đà, từ ngữ có dấu âm vận, tương ứng với các âm trong âm nhạc, và nghĩa của một từ có thể biến đổi rất nhiều bằng cách đơn giản thay đổi dấu nhấn trên các chữ của nó. Vì lẽ đó, những từ nầy cần được nghe một cách thích hợp qua một nhân vật có kiến thức, và vì vậy Vệ Đà được gọi là sruti. Không ai có quyền thay đổi, ngay cả chỉ một âm vận của sruti. Chúng được truyền thừa từ đời nầy qua đời khác. Đôi khi vài phần của sruti bị thất lạc vì sự thiếu sót phương tiện truyền thừa chính thức. Rồi vì thế chúng phải được thuyền thừa một cách không chính thức qua những nhà “thông thái” được gọi là “rsis”. Rsis nghĩa là nhà tiên tri, hay là người nhìn thấy (đọc) được bản chữ viết Vệ Đà. Ông ta nghe được qua tâm hồn và hiểu được nghĩa của nó. Sanskrit Vệ đà có văn phạm riêng và chỉ được dùng trong kinh Vệ Đà. Không một sách mới nào được viết bằng loại chữ nầy.

Trong khi đó, Smrtis được viết bằng Sanskrit Laukika hay Sanskrit được dân chúng dùng trong văn nói, không có dấu nhấn trong âm vần. Ltiharas, Puranas, và Agamas đều là những thành phần của Smrtis. Trong nền văn hóa Smrtis, có một bộ môn chính cũng được gọi là Smrtis, đó là Manu-smrti. Những smrtis nầy là thành phần của dharma sastra hay các sách kinh ghi bằng các hình thức ký tự tôn giáo. Smrti sastras được kết hợp bằng cách ghi nhớ lại ý nghĩa của sruti và vì vậy có tên là smrti. Smrtis liên tục thay đổi với thời gian về hình thức kết cấu, nhưng âm vận thì vẫn giữ nguyên.

Phân loại văn hóa sruti và smrti:

(Về chữ viết, xin xem Links/Vedic Books Online)

Bốn loại tiếng Vệ Đà: Rg (Rig), Sama, Yajur (Sukla – Mađhyanina và Kanva: Krsna), và Atharva.

Vì cách đọc khác nhau ở những địa phương có phong tục tập quán khác nhau, nên ngôn ngữ bị phân chia ra nhiều nhánh khác nhau. “Rgveda chia ra 21 nhánh, Yajurveda 100 nhánh, Samaveda 1,000 nhánh, và Atharvaveda 9 nhánh.” (Kurma Purana 52.19.20).

Một tổng kết các kinh điển Vệ Đà liệt kê 1,130 cuốn Samhitas, 1,130 Brahmanas, 1,130 Aranyakas, và 1,130 Upanishads, tổng cọng 4,520 luận đề. Tuy nhiên, qua thời gian, rất nhiều kinh sách đã bị thất lạc, bị cướp, hay bị thiêu hũy - quân đội của Alexandre Đại Đế đã xử dụng kinh sách làm củi đốt; Hồi giáo thiêu hũy bất cứ lúc nào tìm thấy; người Anh (trong thời kỳ xâm lăng của Anglo-Xaxon) cướp đi rất nhiều kinh sách, di sản ngôn ngữ, về nước; người Đức và người Nga lấy kinh Atharva Vệ Đà, kinh nầy chứa bộ sách Dhanur Vệ Đà (khoa học chiến tranh). Hậu quả là ngày nay, theo tài liệu Tattva-sandarbha của Jiva Gosvami, chỉ còn khoảng 11 bộ Brahmanas, 7 Aranyakas, và 220 Upanishads hiện hữu. Vậy là ít hơn 6% số kinh sách Vệ Đà nguyên thủy. Đó là chưa kể, kinh sách Vệ Đà đã bị sửa đổi quyết liệt qua những cuộc xâm lăng văn hóa Hồi giáo.

Người ta không thể nghiên cứu Vệ Đà nếu chỉ qua một vài chương của nó. Ngày nay không có “Giáo sĩ “ hội đủ điều kiện để diễn giải. Nhiều sách kinh trở nên quá le loi và khó hiểu, đến nổi giáo sĩ Jiva Gosvami cũng đã phải tự ý đốt kinh Kali-Yuga để tránh sự hiểu lầm của mọi người về ý nghĩa.

Brahmanas, Aranyakas, Upanishads: Kinh điển và triết luận về sự phụng thờ phù hợp với từng bộ môn trong bốn kết tập Vệ Đà. Muktikopanisad liệt kê 108 bộ.

Upavedas có 4 bộ: Ayur (thuốc), Gandharva (nhạc), Dahanur (khoa học chiến tranh), và Sthapatya (kiến trúc).

Vedangas gồm 6 bộ (“Những pháp môn Vệ Đà”): Siksa (phát âm), Canda (thơ ca), Nirukta (lịch sử kết cấu ngôn ngữ), Vyakarana (văn phạm), Kalpa (tính thiêng liêng), Jyotisa (vũ trụ học và dịch lý). Hai pháp môn đầu dạy cách nói tiếng Vệ Đà, hai môn tiếp theo dạy cách hiểu Vệ Đà, và hai môn sau cùng dạy cách xử dụng Vệ Đà.

Sanrti: Có 20 smrti (dharma sastras) được ghi trong Yajnavalkya Smrti 14.5.

Puranas: Giải thích những lời răng dạy trong bốn Vệ Đà bằng hình thức những câu chuyện, làm cho đời sống linh thiêng trở nên đơn giản hơn, và nhờ vậy chúng trở thành quan trọng hơn trong thời đại nầy. Có 18 loại huyền thoại phân ra làm ba nhóm với ba vị thần ngự trị chính: Sattva (Thiện) – Visnu (Trời) – Brahma (Phạm) – Siva Padma Purana, Ultara Khanda 236.18.21: "18 Pháp môn Maha là - 1. Brahma, 2. Padma, 3. Vaisnava, 4. Saiva (or Vayu), 5. Bhagavata, 6. Bhavisya, 7. Naradiya, 8. Skanda, 9. Linga, 10. Varaha, 11. Markandeya, 12. Agneya, 13. Brahmavaivarta, 14. Kaurma, 15. Matsya, 16. Garuda, 17. Vayaviya and 18. Brahmanda."

Garuda Purana 3.1.43,45,64 cũng thêm vào: "Bhagavata là hay nhất trong tất cả các Pháp môn."

Chúng được phân loại như vậy để từ từ nâng cao gía trị linh hồn đã được điều kiện hóa bởi sự vô tâm (vô trước) của tính thiện từ. Ba nhóm pháp môn thể hiện trước quần chúng dưới những hình tượng tôn vinh và quyết tâm nâng họ lên một đời sống toàn thiện.

Upapuranas có 18 bộ: Sanat Kumara, Narasimha, Brhannaradiya, Linga, Durvasa, Kapila, Manava, Ausanasa, Varuna, Kalika, Mahesvara, Samba, Saura, Parasara, Devibhagavata, Aditya, Vasistha, Visnudharmottara.

Vidyas gồm 19 chương (Garuda Purana 1.223.21): Purana, Nyaya, Mimamsa, Dharma, Sastra, Rg, Sama, Yajur, Atharva, Siksa, Kalpa, Canda, Jyotisa, Nirukta, Vyakarana, Ayurveda, Gandharva, Dhanur, Arthasastra.

Prasthanatrayi (những nguồn gốc căn bản của những di tích về kinh điển): Bhagavad-gita (700 câu), Upanishads, and Brahmasutras (Vedanta-sutra gồm 560 ký hiệu đơn giản, hay sutras).

Kalas có 64 chương (nghệ thuật cổ điển được trình bày trong SB 10.44): Hát, Chơi nhạc, Nhảy, Sinh hoạt trên sân khấu, Hội họa, Vẻ cơ thể với tilak và các lọai thuốc trang điểm, Nghệ thuật tạo hình với các loại bột ngủ cốc và bông hoa, Trang hoàng bằng hoa, Trình diễn nhạc dưới nước, Trò chơi trong nước, Pha màu, Làm nữ trang, Trang sức trên đầu bằng nữ trang và bông hoa, Trang hoàn y phục diễn viên, Làm bông tai, Làm dầu thơm, Đeo nữ trang, Xiếc hay ảo thuật, Thuật diệu thủ, Nấu nướng, Làm các thức uống, Việc kim chỉ, Làm việc với chỉ sợi, Chơi đàn dây, Giải đoán, Đọc lại thơ trong những điều kiện đặc biệt, Lập những câu thơ khó, Đọc lại sách, Đọc lại kịch và truyện, Giảng giải những câu thơ vịnh tối nghĩa, Thiết kế y phục, cung và tên, Câu cá, Nghề mộc, Kiến trúc, Thử nghiệm kim loại và nữ trang, Luyện kim, Nhuộm nữ trang, Luyện khoáng sản, Dược thảo, Chọi gà hay cừu, Nuôi két, Dùng dầu thơm, Săn sóc tóc, Nhắn tin bằng dấu hiệu, Biện thuyết, Tiếng lóng, Làm đồ chơi, Làm đồ bảng trong nghệ thuật thiền định, Dùng bùa yễm, Đàm luận, Làm từ điển về các nhóm từ trí tuệ, Ngụy trang bằng y phục, Cờ bạc, Nghệ thuật xiếc, Kiến thức tâm linh, Lái xe ngựa, Viết, Chăn voi và ngựa, Thêu đan, Bơi lội.

65 Tantras or Agamas: Văn hóa Tantra được Thần Siva nói với Devi. Có 3 bộ môn gọi là Agama, Yamala, và Tantra. Tùy theo thần tích thờ phượng, cũng được chia làm 3 bộ môn, gọi là saiva, vaisnava, và sakta.

Tantras cũng giống như Vệ Đà smrti sastras và bao gồm ý nghĩa mantra, yantra, và tantra (mantra = âm vận dùng để hành lễ; yantra = Lễ vật cần thiết cho những lễ tế; tantra = Phương pháp thi hành các tế lễ). Những điều nầy bao gồm ý nghĩa linh thiêng của việc tế lễ. Vì vậy, trong phạm vi nầy hai hệ thống vaidika và tantrika được coi như nhau. Chỗ khác nhau chính giữa vaidika và tantrika là cách tổ chức; vaidika sastras nói đến sinh hoạt trong gia đình, ở đó một vị được chọn làm thầy giảng, đọc lên cho cả gia đình chiêm nghiệm.

Pancaratra Agamas:

Có 3 trường phái Agamas chính – Saiva, Sakta, và Vaisnava – và mỗi trường phái còn có những môn phái phụ. Trong tường phái Vaisnavas, người ta vẻ rất nhiều loại hoa Sri-sampradaya (Sri-Vaisnavas) trích từ các kinh agamas. Tất cả các kinh điển nầy nói về 4 đề tài chính:

Jnana hay kiến thức; Kriya (phụng sự, như xây cất nhà thờ, dựng tượng thần); carya hay hành trì (như tham dự thờ phượng hàng ngày, các lễ hội); và thiền định, phụng hiến, hay trì tâm.

Những đặc tính chung nhất của các agamas là:

(a)                                                 Chúng chấp nhận sự hiện hữu của Đấng toàn năng với hình dáng một người đàn ông hay đàn bà ngự trị.

(b)                                                 Sự hiện hữu của linh hồn không phân ly được.

(c)                                                 Sự hiện hữu của một vũ trụ thật.

(d)                                                 Phụng hiến là phương cách duy nhất để được giải thoát.

Pancaratras là những Tantras dưới hình thức thiền, hay hình thức thiền chú. Vì vậy có một phạm trù “tạo dựng” brahmanas, đồng thời, phải được coi là bất cứ lúc nào Vệ Đà đặc biệt hứng cảm ra cái gì đó, cũng chỉ do vaidika brahmanas mà thôi. Điều nầy không xảy ra trong Pancharatra. Pancharatra được áp dụng đặc biệt cho Kali-yuga. Nó cũng cao quý như chính Vệ Đà, vì nó được phát ngôn bởi chính thần Brahma, khi Brahma đòi hỏi ngài phải được thờ phượng như thế nào.

“Từ” “Pancaratra” có nhiều nghĩa khác nhau. Kinh nói rằng thần Visnu đã phán những lời răn nầy trong 5 đêm (panca ratri) của Brahma; từ đó suy ra “từ” nầy. Một cách khác, kinh cũng nói rằng Pancaratra làm cho 5 sự diễn biến tối tăm: năm diễn biến nầy được ghi nhận trong những kinh điển khác nhau, nhưng tựu trung chúng là những sự việc như karma, jnana, astanga-yoga, sankhya, và vân vân. Thần Ahirbudhnya-samhita nói rằng Pancaratra mang tên như vậy là vì đề cập tới 5 đặc tính của thần Vasudeva - Para, Vyuha, Vibhava, Arca, và Antariami. Và thần Bhaktivinoda Thakura nói trong Navadvipa Mahatmya, chương 13: “Năm rsis (Sandilya, Upagayana, Maunjayana, Kausika, và Bharadvaja) trước kia đã được chỉ bảo, mỗi rsis trong một ngày đêm (panca-ratra, “năm đêm”) bởi thần Narayana. Dưới sự lãnh đạo của Narada Muni họ đã viết ra Pancaratra ở đây (ở Vidyanagara) để dạy dỗ dân chúng về việc cúng hiến phụng thờ.” Theo Narada Pancaratra, từ Pancaratra có nghĩa là năm loại kiến thức.

Có tất cả 59 loại Pancaratras:

1) Agastya-samhita, 2) Aniruddha, 3) Ahirbudhnya, 4) Isvara, 5) Kapinjala, 6) Kasyapa, 7) Jayakhya, 8) Narada, 9) Pancaratra, 10) Naradiya, 11) Parama, 12) Parama Purusa, 13) Parasara 14) Padma-samhita, 15) Padma-tantra, 16) Paramesvara, 17) Purusottama, 18) Pauskara, 19) Brhad Brahma, 20) Bharadvaja, 21) Markandeya, 22) Laksmi-tantra, 23) Visvamitra, 24) Visnu, 25) Visnutilaka, 26) Visvaksena, 27) Sandilya, 28) Seva, 29) Sri Prasna, 30) Sanat Kumara, 31) Satvata, 32) Hayasirsa, 33) Trailokyamohana, 34) Vaibhava, 35) Prahrada, 36) Garga-galava, 37) Sandilya, 38) Satyokta, 39) Vasistha, 40) Savanakara, 41) Narayaniya, 42) Jnanarnava, 43) Svayambhuva, 44) Kapila, 45) Vihagendara, 46) Atreya, 47) Narasimhakhya, 48) Anamdakhya, 49) Aruna 50) Baudhayana, 51) Vaisnavacarita, 52) Mahatantri, 53) Bhagavata, 54) Sivohita, 55) Visnubhasita, 56) Padmodbhava, 57) Varaha, 58) Samanya, 59) Vyarokta

Lẽ ra có tất cả 108 Pancartra-gamas, nhưng phần lớn đã bị thất lạc.

 

Xem tiếp phần 2 à
 

© Copyright 2006 giaodiem.com

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com