
|
THỜI KỲ LỊCH
SỬ ĐEN TỐI VỆ ĐÀ Lời
Giới thiệu: Diệu
Như - Phan Như Diệp Sau
nhiều cuộc xâm lăng diệt chủng tàn khốc, đã tiêu hũy toàn bộ nền văn
minh vĩ đại Cổ Ấn Độ, giống người man rợ Ấn-Âu (Indo-Aryans) đã thực
sự đưa Ấn Độ vào những Thời Kỳ Lịch Sử Đen Tối, kéo dài hàng
2,500 năm, từ 1500 trước Tây lịch cho đến 1000 sau Tây lịch. Thời kỳ nầy
còn đen tối hơn cả Thời Kỳ Lịch Sử Đen Tối Ky-tô ở Âu châu. Những
nghiên cứu khoa học đã xác chứng như vậy. Trong Thời Kỳ
Lịch Sử Đen Tối nầy, thiên niên kỷ đầu, 1500 đến 500 trước Tây lịch,
được coi là khủng khiếp nhất. Những cuộc diệt chủng không còn để sót
lại bất cứ một dấu vết văn hóa xã hội địa phương, dưới bất cứ
hình thái nào. Hệ thống đẳng Cấp Xã Hội, được cưởng đặt bởi
người Ấn-Âu (Aryans), xác quyết, như những định nghĩa, rằng chỉ có giới
giáo sĩ Brahmans mới có thể và được phép
đọc và viết. Khoa học gia Ả Rập Al-Beruni xác nhận rằng,
ngay cả trong thế kỷ thứ 10, khi ông đến thăm Ấn Độ, hầu hết giới
giáo sĩ, và chỉ có họ thôi, đã mới là những người được phép ghi nhớ
kinh văn. Ông ta đã dẫn chứng chủ trương trì trệ trí tuệ trong thời Tiền
Hồi Giáo ở Ấn Độ. Người ta có thể tha thứ cho người Ấn-Âu (Aryans)
qua những “đức tin” như vậy hồi 1500 trước Tây lịch. Nhưng dựa vào
sự kiện những người Hy Lạp đầu tiên đã vào Ấn Độ từ thế kỷ thứ
3 và 2 trước Tây lịch, thì sự bảo thủ những “đức tin” cổ lỗ nầy quả đã là hết sức hẹp hoài
khắc nghiệt. Những giáo sĩ Hồi giáo có quyền thế đã ngự trị trên
Ấn Độ trong cả 1000 năm qua, nhưng nhiều hội đoàn văn hóa vẫn được
tiếp tục thành lập để cố gắng bảo thủ chứng minh sự đúng đắn của
Vệ Đà - nhất là lúc nầy những kinh điển Vệ Đà đã hoàn toàn bị đồng
hóa bởi các loại sách kinh Hồi giáo, và phần lớn đã bị cưởng bức
biến thái theo những “đức tin” lỗi thời, cố chấp về một sự sáng
tạo với một nhân vật sáng tạo, những hệ thống tổ chức thế quyền
nhân danh đại diện của nhân vật nầy ở thế gian, và tất cả những hệ
luận vô nhân đạo của nó. Tất cả những sự kiện lịch sử nầy chứng
tỏ một sự liên quan mật thiết về ý thức hệ với những gì đã xảy
ra cho nhân loại, nhất là cho các dân tộc Âu châu, Trung Đông, Nam Á, v.v. trong nhiều ngàn năm qua, dưới sự thống
trị khắc nghiệt về tinh thần lẫn vật chất của các giới giáo sĩ độc
thần nói chung, đặc biệt là qua các cuộc chiến tranh tôn giáo mà họ mệnh
danh là “Thánh chiến”, và hơn 400 năm “Tòa Án Dị Giáo” (Inquisitions)
La mã. Nhiều kinh điển
Vệ Đà chứa đầy những tín điều mê tín dị đoan, kể cả những dị
đoan mê lú tồn tại dai dẳng trong lịch sử nhiều ngàn năm của các tôn
giáo độc thần Tây phương; vi dụ, một chúa trời đầy cá tính với thuyết
sáng tạo ngu ngơ phản khoa học, trái đất là dẹp, rằng con rắn đang chống
đỡ trái đất, v.v. Trong thời buổi nầy mà người ta còn nhìn thấy nhiều
tu sĩ trong những bộ đồ cổ lỗ và không bao giờ được giặt giủ, giảng
dạy rằng những hiện tượng nhựt nguyệt thực là do quỷ dữ sa tăng “ăn”
mặt trời và mặt trăng, rằng một con voi chống đỡ trái đất làm cho
nó không bị rơi xuống (?), v.v. Đây là dấu chỉ căn bản về một loại
kiến thức hạn hẹp bảo thủ của người Ấn-Âu, tức Indo-Aryans, những
thứ kiến thức lỗi thời, rất gần với cái tâm cảnh bảo thủ, hẹp
hoài, và phản khoa học của các giới quyền chủ trương các tôn giáo độc
thần. Những niềm
tin như vậy có trong nhiều giống người tiền sử. Đến thế kỷ thứ 10
thì đáng lẽ không còn nữa, và đương nhiên là không thể tồn tại ở
thời buổi nầy, khi mà bao nhiêu viện nghiên cứu trên thế giới (nói
chung) và ở chính Ấn Độ (nói riêng) minh chứng rằng đó chỉ là những
điều dị đoan. Tôi viết bài
nầy với mục đích góp ý tham luận về: 1.
Ảnh hưởng sâm
đậm của kinh điển Tiền Hồi giáo trên nền văn hóa Cổ Ấn Độ: Tôi cố gắng
ghi lại những chứng tích lịch sử về những ảnh hưởng tiêu cực về
ý thức hệ của các tôn giáo độc thần Tây phương trên các nền văn hóa
Đông phương, mà cụ thể là sự đô hộ và đồng hóa sâu đậm của nền
văn hóa Tây phương thời Tiền Hồi giáo với “đức tin” về một “Chúa”
và sự “sáng tạo“ trên xã hội Cổ Ấn Độ qua các cuộc xâm lăng diệt
chủng của các giống người Ấn-Âu. 2.
Các loại
ngôn ngữ Cổ Ấn Độ, đã phát triển trước thời Đức Phật Thích Ca: Lịch sử chứng
minh rằng nhiều ngôn ngữ đã thực sự phát triển, kể cả văn viết đã
xuất hiện, từ lâu ngay trong thời Tiền Vệ Đà, trước xa thời Đức Phật
Thích Ca Mâu Ni. Phật Thích Ca, cũng như các thế hệ nối tiếp, đã không
dùng văn tự để phô diễn Phật pháp, không phải vì lý do “không biết
chữ” hay “mù chữ” (Xin xem mục “Vài vấn đề từ ngữ”, Illiterate
= mù chữ), nhưng có lẽ một phần vì ảnh hưởng nặng nề của các cuộc
diệt chủng trên nền văn hóa lúc đó, văn tự vẫn còn trong tình trạng
không được phổ biến; và nhất là vì các mục đích rất tâm linh, lo sợ
người đời sau chấp trước vào ngôn từ, “dĩ từ” mà làm “hại ý”,
“y ngữ” mà quên “nghĩa”. Cũng vì vậy mà trước khi nhập diệt, Phật
đã để lại một minh ngôn, “Trong hơn 45 năm thuyết Pháp, Ta chưa từng nói
lời nào!” 3.
Sơ lược lịch
sử các ngôn ngữ khác trên thế giới: Căn cứ vào
những di tích văn hóa hiện có trên thế giới, nhiều sử gia và nhà khảo
cổ đồng ý rằng, mặc dầu người ta có nhiều chứng liệu bằng chữ viết
về các ngôn ngữ Ấu châu, Trung Đông, hay Nam Á, như Hebrew, La tinh cổ xưa
hơn những di tích sử liệu về chữ viết của các ngôn ngữ Vệ Đà; nhưng
người ta cũng có nhiều chứng liệu khảo cổ để kết luận rằng nền
văn hóa, kể cả các hình thức chữ viết, Vệ Đà thực sự cổ xưa hơn
nhiều. Đi xa hơn về phương Đông, người ta hẳn không thể không kể đến
một loại ngôn ngữ khác, tiếng Trung Hoa, mà hiện thế giới còn có vô số
chứng tích về văn hóa, văn chương, xưa cổ, nhiều ngàn năm trước Tây lịch,
xa xưa hơn cả các loại ngôn ngữ dùng trong các loại kinh sách của các
tôn giáo độc thần phuơng Tây. 4.
Vài nhận xét
về ngôn ngữ máy tính: Chúng ta
không quên rằng, cho dầu là ngôn ngữ gì, cách kết câú qua sự biểu thị
bằng chữ vẫn chung nhất là những mẫu tự có tính hình tượng, và cho dầu
là các loại ký tự (characters – trong chữ Trung Hoa, . .), hay mẫu tự
(letters) La tinh a, b, c, . hay là gì đi nữa,
thì khi áp dụng vào ngôn ngữ máy tính điện tử, tất cả cũng chỉ dùng
chung một loại mẫu tự đơn sơ duy nhất, mẫu tự 0 và 1,
Âm và Dương,
Có và Không, Ngắn và Dài một lọai
mẫu tự rất quy ước mà người ta đã từng có một lịch sử xử dụng
từ lâu trong ngành truyền thông, và nhất là trong các ngành triết học Đông
phương - xin xem thêm Kinh Dịch. 5.
Chữ “Quốc
ngữ” và chữ Nôm: Trong lịch sử
truyền giáo, với quyết tâm đổi đạo, diệt chủng, tiêu diệt các nền
văn hóa khác, một phương tiện hữu hiệu nhất của các chuyên gia truyền
giáo Tây phương là xuyên tạc lịch sử, hũy hoại các ngôn ngữ địa
phương. Với quyết tâm chinh phục văn hóa cổ điển Á đông, họ đã
tích cực phát triển các loại ngôn ngữ (chữ viết) phiên âm, dùng các mẫu
tự La tinh. Mặc dầu bọn thực dân không thành công mấy ở các nơi khác,
như Trung Hoa, Nhựt Bản, Đại Hàn, . . nhưng Việt Nam phải kể là một chiến
thắng vĩ đại, một sự nghiệp lớn lao của họ; mà đó cũng phải được
ghi nhận là một thất bại nặng nề cho nền văn hóa của dân tộc chúng
ta. a.
Chữ “Quốc
ngữ” hiện nay (chữ tôi đang dùng) chỉ là một loại chữ phiên âm:
Chữ phiên âm luôn luôn có cái giới hạn của một loại ngôn ngữ không
có nguồn gốc, ngữ căn vững vàng. Khó khăn nhất về ngôn ngữ trong thời
kỳ hiện đại nầy là phải luôn luôn sẳn sàng phát triển đồng nhịp với
sự tiến bộ nhanh chóng của khoa học, ngôn ngữ trên thế giới, mà chắc
chắn một ngôn ngữ mà chữ viết chỉ được đặt cơ sở trên nguyên tắc
“phiên âm” thì không thể nào thực hiện được. b.
Chữ Nhật, chữ
Đại Hàn, và chữ Hán: Vì lý do bảo
vệ nền văn hóa lâu đời (có giá trị rất cao) địa phương, và cũng vì
nhiều nhược điểm không thể vượt qua của các loại ngôn ngữ phiên
âm, Nhật, Đại Hàn là hai quốc gia tiêu biểu nhất đã giữ được phong
hóa đặc biệt của dân tộc, giữ vững dân tộc tính, và liên tục bảo
vệ được nền độc lập tự quyết. Cũng như Trung Hoa, họ củng cố được
ngôn ngữ truyền thống và phát triển theo kịp các xã hội xữ dụng những
ngôn ngữ tiến bộ của thế giới. Đó là chưa kể, trong tương lai, họ còn
có nhiều cơ sở để có thể vượt qua. c.
Chữ Nôm: Ngoài cái ý
nghĩa lịch sử dân tộc, văn hóa, tinh thần, chữ Nôm có tất cả các ưu
điểm cần thiết cho sự phát triển, tiến bộ trong tương lai, như chữ Nhật,
Đại Hàn. Chúng ta có thể thấy trước rằng, mọi sự phát triển ngộn
ngữ trong tương lai sẽ thực sự đòi hỏi những quyết tâm và hy sinh, lớn
lao và thường xuyên, mà thường một dân tộc với một ngôn ngữ chắp
vá, hậu tiến (chữ Quốc ngữ) như Việt Nam, có thể có rất nhiều rủi
ro sẽ bị bỏ lại phía sau. d.
Có phải đã đến
lúc Việt Nam phải “TRỞ VỀ VỚI DÂN TỘC”, từ bỏ loại chữ phiên
âm, gọi là “Quốc ngữ”, để trở về với chữ Nôm? Đây chắn chắc
phải là, và phải nên là, một luận đề lớn trong sự nghiệp phát triển
mà bất cứ ai có trách nhiệm với tiền đồ và tương lai của dân tộc nầy,
đều phải suy ngẫm. Lưu ý I: Bàn về chử
phiên âm “Quốc ngữ” và chữ Nôm không phải là mục tiêu của bài viết
nầy. Ở đây tôi nhân tiện, chỉ đưa ra vài nhận xét cơ bản, giản dị,
nhưng rất tích cực và trách nhiệm về những nhược điểm ngôn ngữ (chữ
viết) hiện nay chúng ta đang dùng, nhất là đối với tương lai phát triển
của nó, và những ưu điểm chắc chắn có của (một loại) chữ Nôm mà nếu
chúng ta can đảm phục hồi. Tất nhiên
tôi sẽ trở lại cố gắng góp công nghiên cứu đề tài lớn lao nầy
trong những dịp khác. Ở đây, tôi chỉ ước mong gợi lên cho quý vị có
trách nhiêm về văn hóa dân tộc vài điều suy tư căn bản, để rồi may
ra có được một sự đồng thuận mạnh mẽ, chúng ta sẽ có dịp cùng
nhau phát huy PHONG TRÀO TÁI CẢI CÁCH NẦY. Lưu
ý II:
Trong phần
“Mục đích và Nguồn gốc kinh Vệ Đà”,
khi trích thuật ý kiến của ông David
Frawley, có ý ca ngợi nguồn gốc, ý nghĩa, và giá trị khoa học (nếu có)
của các kinh văn Vệ Đà, cũng như khi ghi lại quan điểm của vài tác giả
khác, biện bát những mê tín dị đoan của những kinh điển nầy, tôi chỉ
có mục đích là để làm thêm rõ nét những mâu thuẩn và ô nhiễm sau khi
bị cưởng bách đồng hóa với các loại thần học Hồi giáo Tây phương.
Việc ca ngợi những giá trị huyền bí, hay phê phán những tín điều dị
đoan của hệ thống kinh điển và nền văn hóa nầy, hoàn toàn nằm ngoài
khuôn khổ và chủ trương của bài viết.
Vài vấn đề
từ ngữ:
Tôi đề cập đến vấn đề định
nghĩa của một vài từ ngữ thông dụng với mục đích làm sáng tỏ thêm
ý nghĩa và cách xử dụng ngôn từ, mạo muội đóng góp ý kiến rằng người
viết cần phải hết sức thận trọng trong việc xử dụng từ ngữ. Xin kể
một vài ví dụ:
*
“Chữ”, hay “chữ cái” (Letters, Characters): Bất cứ ngôn ngữ nào cũng
phải bắt đầu bằng những “ký hiệu có tính hình vẻ” làm đơn vị
cho chữ viết, dầu được gọi là “letters”, hay “characters”, hay là
gì gì đi nữa. Tập trung tất cả “chữ cái” trong một ngôn ngữ được
gọi là “Bảng chữ cái”. Trong ngôn ngữ La tinh, hệ thống nầy đuợc gọi
là “Alphabet”; trong chữ Trung Hoa, gọi là “Nét”, hay “Bộ thủ”;
v.v. hình thức có khác nhau, nhưng luôn luôn có chung một nguyên tắc. Đặc
biệt trong thời kỳ hiện đại nầy, dưới phương tiện máy tính điện tử
chung nhất, mọi thứ ngôn ngữ chung quy đều được biểu thị bằng một
hệ thống “Chữ cái” đơn giản và phổ quát, “Không”
và “có”.
*
“Mù chữ” (Illiterate – Illiteracy): “Từ” nầy không phải chỉ có một
ý nghĩa đơn thuần là “không biết chữ”! Đó là chưa kể, dầu chỉ
trong cái nghĩa đơn thuần đó thôi, “từ” cũng còn hàm chứa một giả
sử là “phải có chữ”! Trong một xã hội “không có chữ”, thì không
thể có người “mù chữ” (Vì có chữ đâu mà mù?). Ngoài ra người viết,
hay nói, phải luôn luôn thận trọng với những ý nghĩa khác (khác hơn là
ý nghĩa mà mình muốn phô diễn) của từ ngữ mình đang dùng. Vì, ví dụ,
như trong phần định nghĩa, “mù chữ” còn có nghĩa là “thất học”,
“có ít hay không có giáo dục”, “không thể đọc hay viết”. Đây là
những hệ lụy rất nguy hiễm trong việc xử dụng từ ngữ một cách thiếu
tế nhị qua các biện luận, diễn giải.
*
Vài định nghĩa theo tự điển: - (c)2000
Zane Publishing, Inc. and Merriam-Webster, Incorporated.
All rights reserved.
1let•ter \"le-tr\ n - chữ 1 : a
symbol that stands for a speech sound and constitutes a unit of an alphabet – một dấu hiệu biểu trưng cho một âm nói và
lập thành một đơn vị mẫu tự 2 : a written or printed communication
- một cách truyền thông bằng viết hay in
ấn 3 pl : literature - NỀN VĂN HỌC; also : learning - HỌC
4 : the literal meaning – nghĩa đen <the ~ of the law> 5 : a single piece of
type - một đơn vị đánh máy 2letter vb - chữ: to mark with
letters – Làm dấu bằng mẫu tự :
inscribe – GHI,
KHẮC — let•ter•er n 1word \"wrd\ n –từ 1 :
something that is said – cái được nói ra;
esp : a brief remark - một nhận
xét ngắn 2 : a speech sound or series of speech sounds that communicates a
meaning - một âm nói hay một nhóm âm nói
truyền tải một ý nghĩa; also : a graphic representation of such
a sound or series of sounds - một dạng vẻ biểu
diễn một âm hay một nhóm âm 3 : order,
command – YÊU CẦU, LỆNH 4 often
cap : the 2d person of the Trinity – ngôi
thứ 2 trong “Ba ngôi”; also : gospel – SÁCH
PHÚC ÂM 5 : news, information
– TIN, TIN TỨC 6 : promise - LỜI HỨA
7 pl : quarrel, dispute - LỜI BIỆN CẢI, TRANH CHẤP 8 :
a verbal signal - một âm hiệu: password — word•less adj 2word vb - từ: to
express in words – phô diễn lời nói:
phrase - DIỄN
ĐẠT text \"tekst\ n - bản văn: 1 :
the actual words of an author's work 2 : the main body of printed or written matter
on a page 3 : a scriptural passage chosen as the subject - , esp. of a sermon 4
: theme, topic 5 : textbook — il•lit•er•acy n. pl.-cies - sự thất học, nạn mù chữ: 1. the quality
or state of being illiterate; esp, inability to read or write 2. a mistake or crudity (as
in speaking) typical of one who is illiterate. 1.
tình trạng hay đặc tính không biết chữ; vd. Không có khả năng đọc hay
viết 2. một nhầm lẫn hay vụng về (như trong văn nói) thông thường của
một người mù chữ. il•lit•er•ate
\il-"li-t-rt\ adj – mù chữ, thất học 1 :
having little or no education – có ít hay không
có giáo dục; esp : unable to read or write – không thể đọc hay viết 2 : showing a
lack of familiarity with the fundamentals of a particular field of knowledge – chứng tỏ thiếu sự quen thuộc với những
căn bản kiến thức về một phạm trù nào đó — il•lit•er•a•cy \-"li-t-r-s\ n — illiterate n lit•er•a•ture
\"li-tr-'chur,
-t-r-, -chr\ n – văn hóa, nền văn
hóa 1 : the production of written works having excellence of form or
expression and dealing with ideas of permanent interest - sản phẩm của những công trình viết văn có
giá trị cao về hình thức hay cách diễn đạt, đối với những tư tưởng
về một giá trị có tính trường cửu 2
: the written works produced in a particular language, country, or age – (tổng hợp) những tác phẩm văn viết sáng
tác bằng một ngôn ngữ, trong một quốc gia, hay một thời đại đặc biệt
nào đó. lit•er•acy
n
- sự biết chữ:
the
quality or state of being literate - sự/đặc tính biết chữ: n. Tính, đặc tính,
tình trạng biết chữ.
lit•er•ary
adj.
– thuộc về hay liên quan đến văn học,
có văn hóa:
1.a.
of, relating to, or having the characteristics of human learning or literature - của,
liên hệ đến, hay có đặc tính văn hóa hay sự học hỏI của con người
B. BOOKISH, c. of or relating to books - của, liên hệ đến sách, knh. 2.a.
WELL-READ - ĐỌC KỶ (VÀ HIỂU), b. of or relating to authors or scholars or
to their professions - của, hay liên hệ đến, tác giả hay trường phái hay
chuyên môn của họ..
lit•er•ate
\"li-trt,
-t-rt\ adj.
- biết chữ 1 : educated CÓ GIÁO DỤC; also :
able to read and write – có thể (khả năng) để đọc và viết 2 :
literary – CÓ VĂN HÓA; also :
polished - HIỂU BIẾT, TRÔI CHẢY, lucid
– THÔNG SUỐT — lit•er•a•cy \"li-tr-s, -t-r-\ n — literate n
Theo
tự điển: The Random House Dictionary of the English language - Second Edition -
Unabridge - Copyright c 1987, by Random House, Inc., Character
n. - chữ, văn tự, ký tự, đặc tính, nhân vật,
. . 1.
a symbol as used in a writing
system, as a letter in the alphabet – một ký hiệu
dùng trong hệ thống viết, như một chữ trong vần a, b, c. - the symbols
of a writing system collectively - những ký hiệu
của một hệ thống chữ viết. 2.
a significant visual mark or
symbol - một dầu hiệu hay ký hiệu nhìn
thấy được có ý nghĩa. 3.
a style of writing or printing - một hình thức viết hay in ấn. Letter
n - chữ – dt. Hình biểu tượng, Ký hiệu, hay Chữ: 1. a symbol
or character that is conventionally used in writing and printing to represent a speech
sound and that is part of an alphabet - một ký
hiệu hay dấu hiệu biểu tượng được dùng có quy ước trong viết và in
ấn để biểu diễn một âm vận nói và là một phần của mẫu tự. 2. a piece
of printing type bearing such a symbol or character - một bộ phận (miếng) trong một loại in ấn
mang ký hiệu hay dấu hiệu như thế. Word \"wrd\ n - Từ - dt. A unit of language, consisting of one or
more spoken sounds or their written representation, that functions as a principal carrier
of meaning. Words are composed of one or more morphemes and are either the smallest unit
susceptible of independent use or consist two or three such units combined under certain
linking conditions, as with the loss of primary accent that distinguishes black’ bird
from black’ bird’. Words are
usually separated by spaces in writing, and are distinguished phonologically, as by
accent, in many languages. “Từ”
- Một đơn vị của ngôn ngữ,
gồm một hay nhiều âm nói hay cách biểu diễn bằng viết của nó, giữ
nhiệm vụ chuyển tải chính một ý nghĩa. “Từ” bao gồm một hay nhiều
đơn vị “chữ” và hoặc là một đơn vị căn bản nhỏ nhất được xử
dụng độc lập, hay gồm hai hay nhiều đơn vị như vậy, dưới những điều
kiện liên kết nào đó - như trong sự kiện ảnh hưởng của những dấu
nhấn. “Từ” thông thường được
phân cách bởi khoảng trống trong cách viết, và được phân biệt trong âm
vận bằng những dấu nhấn trên các “chữ” của nó trong nhiều ngôn ngữ. il•lit•er•acy n., pl. – cies - sự mù chữ: 1.
a lack of ability to read and
write – không có khả năng đọc hay viết. 2.
the state of being illiterate;
lack of any or enough education – tình trạng
mù chữ; không được giáo dục (education) hay không được giáo dục đủ. 3.
a mistake in writing or
speaking, felt to be characteristic of an illiterate or semiliterate person: a letter that
was full of illiteracies - sự nhầm lẫn trong
viết hay nói, tình trạng giống như một người không có học chữ hay
không biết chữ (trong một môi trường đã có chữ). il•lit•er•ate
\il-"li-t-rt\ adj - mù chữ: 1.
unable to read and write: an
illiterate group – Không thể đọc và viết
(trong môi trường đã có chữ để đọc, viết): vd. một lớp người mù
chữ. 2.
having or demonstrating very
little or no education – không có hay có rất
ít giáo dục (education) hoặc chứng tỏ như vậy. 3.
showing lack of culture, esp. in
language and literature - chứng tỏ không có văn
hóa, vd. Trong ngôn ngữ hay văn học. 4.
displaying a marked lack of
knowledge in a particular field: He is musically illiterate - chứng tỏ dấu hiệu của sự thiếu kiến thức
trong một phạm trù nào đó: vd. Hắn mù tịt về âm nhạc. 5.
an illiterate person – vd. một người mù chữ. lit•er•a•ture
\"li-tr-'chur,
-t-r-, -chr\
n - văn hóa: 1.
Writing in which expression and
form, in connection with ideas of permanent and universal interest, are characteristic or
essential features, as poetry, novels, history, biography, and essays - Các hình thức viết, ghi khắc liên hệ và để
phô diễn những ý tưởng có tính thường xuyên và vì những lợi ích có
quy ước, là những phương tiện biểu diễn những đặc tính và ý nghĩa,
như thơ phú, truyện ký, tiểu thuyết, lịch sử, diễn tả, hay tự sự. 2.
the entire body of writing of a
specific language, period, people, etc.: the literature of England – toàn bộ hệ thống của tất cả các sản phẩm
bằng viết của một ngôn ngữ, trong một thời kỳ, hay thuộc về một
dân tộc riêng biệt, v.v. vd..văn chương Anh quốc. 3.
the writings dealing with a
particular subject: the literature of ornithology - những
mô tả, văn viết về một sự kiện chuyên biệt; văn bản 4.
the profession of a writer or
author - nghề nghiệp hay nghệ thuật viết văn
của một người viết hay tác giả. 5.
literacy work or production - sự, công trình, sáng tác văn. 6.
any kind of printed material, as
circulars, leaflets or hand-bills: literature describing company products - bất cứ loại in ấn nào, như giấy tờ lưu
chuyển, tờ giấy rời, hay thư tay; bản văn mô tả những sản phẩm của
một công ty. lit•er•ary adj. -
về, hoặc liên quan đến, văn học: 1.
the quality or state of being
literate; esp. the ability to read and write – tình
trạng hay đặc tính biết chữ; như trong khả năng biết đọc và viết. 2.
possession of education: to
question someone’s literacy – có giáo dục;
vd. chất vấn về tình trạng biết chữ của một người nào. 3.
a person’s knowledge of
particular subject or field: to acquire computer literacy - kiến thức của một người nào đó về một
sự kiện gì hay một phạm trù nào; vd. để bồi đắp kiến thức về máy
tính điện tử. lit•er•ate
\"li-trt,
-t-rt\ adj
- biết chữ: 1.
able to read and write – có thể đọc và viết 2.
having or showing knowledge of
literature, writing, etc.; literary; well-read – có
hay chứng tỏ có kiến thức về văn chương, viết lách, v.v. 3.
characterized by skill,
lucidity, polish, or the like: His writing is literate but cold and clinical - thể hiện bằng văn tài, sự trong sáng, lưu
loát, hay những đặc tính tương tự; vd. Văn ông ta lưu loát nhưng lạnh lùng
và buồn tẻ. 4.
having knowledge or skill in a
specified field: literate in computer usage –
có kiến thức hay tài năng trong một phạm trù nào đó; vd. Tài tình trong vịệc
xử dụng máy tính. 5.
having an education, educated
– có giáo dục, đã được giáo dục. 6.
a
person who can read and write, a learned person - một người có thể đọc hay viết. *
Định nghĩa và giải thích vài từ vựng đặc biệt dùng trong Vệ đà: Flat
Earth - Bình Địa, Vùng đất bị
sang bằng Earth-Serpent -
Đất Thần Rắn, Vùng đất được chống giữ bởi thần-rắn-ngàn-đầu. Demonic
Eclipses - Qủy Nhựt-Nguyệt Thực,
Hai qủy nuốt trái đất và mặt trăng, dẫn tới nhựt-nguyệt thực. Trillion-Year-Old
Universe - Vũ trụ ngàn tỉ năm tuổi,
Vũ trụ có 26 ngàn tỉ năm tuổi 700,000 mile Dung
Medicine - Thuốc phân, thuốc
Ayurvedic chứa nước tiểu và phân của nhiều loại súc vật. Alcohol
Universe
- Vũ trụ rượu, Vũ trụ chứa đầy rượu. *
Vài định nghĩa theo tự điển: The Upanishad: dt. mỗi sách trong bộ kinh văn Ấn Độ giáo
viết bằng chữ Sanskrit khoảng từ năm 800 đến 200 trước kỷ nguyên, giải
thích các kinh điển Vệ Đà bằng những nghĩa ngữ huyền bí, có tính phổ
quát trong thời tiền triết học. Veda: Có 4 loại
kinh Vệ Đà. Rig Veda, Sama Veda, YajurVeda, và Atharva Veda (Sanskrit) Rig
Veda: Ấn Độ giáo, những kinh
điển cổ xưa và căn bản nhất, một tập hợp của 1,028 bài “thánh vinh”
được sáng tác trong thiên niên kỷ thứ 2 trước kỷ nguyên bằng tiếng
Sanskrit cổ. A-thar-va
Veda: Ấn Độ giáo, một tập hợp của những
bài ca và những xướng ngôn thờ phượng, viết bằng chữ Sanskrit cổ và
sau nầy được thêm vào trong hệ thống Vệ Đà và Ấn Độ giáo ngày nay. Pa-li: dt. một ngôn ngữ Ấn Độ, liên hệ gần gủi
với Sanskrit, được dùng trong các kinh sách Phật giáo Tiểu thừa. Pali được
phát triển ở bắc Ấn Độ trong các thế kỷ từ 5 đến 2 trước kỷ
nguyên. * Vài
định nghĩa theo Tự điển: Merriam Webster’s
Collegiate Dictionary – Tenth Edition: Aryan adj. belonging to the people speaking an
Indo-European dialect who migrated into northern Aryan
n. 1. a member of the Indo-European speaking
people early occupying the Iranyan plateau or entering Indo- combo form 1. Indo-Aryan n. 1. a member of one of the peoples of India of
Aryan speech and physique 2. one of the early Indo-European invaders of Indo-Aryan adj. thuộc nhóm, những dân
tộc nói, ngôn ngữ Ấn-Âu Indo-European adj. of, relating to , or constituting the
Indo-European languages - của, liên hệ với,
hay là thành phần lập nên các ngôn ngữ Ấn-Âu Indo-European n. Indo-European
languages n. pl. a family of languages
comprising those spoken in most of Europe and in the parts of the world colonized by
Europeans since 1500 and also Persia, the subcontinent of India, and some of other parts
of Asia - họ các ngôn ngữ gồm những ngôn
ngữ ở hầu hết Ấu châu, và những phần trên thế giới bị người Âu
châu chiếm làm thuộc địa từ 1500, và kể cả vùng vịnh, các tiểu lục
địa của Ấn Độ, và một số vùng khác của Ấ châu Vedic: tt. Thuộc về kinh Vệ Đà, hay ngôn ngữ viết
các loại kinh điển nầy, lịch sử hay văn hoá Ấn Độ giáo giữa thế kỷ
15 và 5 trước kỷ nguyên. Sơ
lược Các Niên Đại Lịch Sử Ấn Độ: ·
1. Cổ
Ấn: (4000 – 1500 trước Tây lịch) ·
2.
Thời Kỳ Cổ Bà La Môn (1500 trước Tây lịch – 1000 sau Tây lịch) o
2.1
Thời Kỳ Lịch sử Tối Tăm Vệ Đà (1500 – 500 trước Tây lịch) §
Thời
Kỳ Đô Hộ của người Ấn-Âu - Rig Vệ Đà (1500 – 1200 trước Tây lịch) §
Sự
Hũy Diệt của Nền Văn Hóa Cổ Ấn Semito-Dravidian §
Sự
Diệt Chủng của các dân tộc Sudra-Blacks §
Thời
Sanskrit và Thời Hũy Hoại §
Sự
phát triển Hệ Thống Đẳng Cấp Kỳ Thị Chủng Tộc §
Những
cuộc chinh phục Vệ Đà về sau của dân Ấn-Âu (1200 – 1000 trước Tây lịch) §
Những
cuộc chiến tranh diệt chủng Mahabharatan (1000 – 700 trước Tây lịch) §
Cuộc
chinh phục Miền Nam Dravidian của dân Ấn-Âu Ramaite (700 – 500 trước Tây lịch) §
Sự
Hũy Diệt của nền Văn minh Dravidian §
Sự
Ấn-Âu Hóa và Bắt Đầu của sự Diệt Chủng hay Đẳng Cấp ở o
2.2
Cổ Puranic hay Thời Đại Cổ Bà La Môn (500 trước Tây lịch – 1000 sau
Tây lịch) §
2.3
Thời đại Bất Chính Thống Heterodox §
2.3.1
Sự phát sinh chủ nghĩa Phân Bang và Bất Chính Thống, hay Janapadas (Quốc
gia) và Arhats (Sự Giải Thoát) §
2.3.2
Những Vương quốc Scytho Cổ Hy Lạp §
2.4
Sự Hồi phục Vệ Đà - Sự Phục hồi của nền Văn hóa Vaishnava của
Chính Thống giáo Ấn-Âu Tân-Vệ Đà §
Sự
Hãy diệt của những Vương quốc Scytho Cổ Hy Lạp §
Sự
Diệt chủng của những dân tộc Scythians §
Sự
Đàn áp và Nô lệ hóa các Đẳng Cấp thấy hèn §
Sự
chống đối của những tôn giáo Bất Chính Thống §
Chiến
tranh Tôn giáo ·
3.
Thời Đại Hindustani ciliate của ·
4.
Thời đại Hậu Delhi (1857 - về sau) o
4.1
Những cuộc Đô hộ Dã man o
4.2
Nền Thuộc địa Âu châu và sự Chia phân §
Nền
Vương quốc phụ thuộc Bồ đào Nha §
Vương
quốc Anh §
Những
Tiểu vương quốc o
4.3
Thời kỳ Hậu-Thuộc Địa Epoch (1947 - về sau) §
Cộng
Hòa Ấn Độ - Sự Hội nhập của 500 tiểu bang. §
Những
cuộc chiến tranh Ấn - Hồi ( Cuộc
xâm lăng của người Ấn-Âu và sự Tan rả của Đế Quốc Ấn Độ:
Dân
du mục Ấn-Âu xâm lăng lãnh thổ Ấn Độ vào khoảng thế kỷ thứ 16 trước
Tây lịch (1,500’s B.C.), hũy diệt toàn bộ văn hóa miền tây bắc và vùng
trung châu Ấn, và tiêu diệt hoàn toàn các dân tộc Ấn Độ. Sự kiện nầy
đã chấm dứt một nền văn hóa sáng lạng nhất của thế giới cổ xưa.
Hậu quả của những cuộc xâm lăng nầy là Ấn Độ đã bị chìm đắm
trong thời đại 2,500 năm Đen Tối của Lịch sử Vệ Đà. Mỗi lần các
thành phố được xây dựng lại, mọi sự đều được đặt dưới ảnh
hưởng của Hy Lạp Scytho. Trước
hết xin giải thích sơ lược một số từ vựng được dùng một cách phổ
thông trong nhiều tài liệu (như là những danh tự riêng) để diển tả những
sự kiện diệt chủng từ thời đại lịch sử bi thương đó: ·
Ash layers - Nhũng lớp
tro - để chỉ những thành phố Ấn Độ bị đốt cháy tràn lan bởi các
dân tộc Ấn-Âu. ·
Fractured skulls - Những sọ
người vỡ nát - và những bộ xương khô vung vẩy đầy vết búa riều và
gươm giáo qua những cuộc diệt chủng rộng lớn mà các dân tộc Ấn Độ
phải chịu dưới sự bạo tàn của các đạo quân xâm lăng Ấn-Âu. ·
Caste System of Apartheid -
Chế độ Đẳng Cấp Diệt Chủng (Apartheid) - giống như chế độ ở miền
Nam khi người da trắng Ba Tư ở Causasoid càng quét vùng Semitic và các sắc
dân da đen Dravidian. Shivaism vẫn còn là tôn giáo của người Dravidians,
trong khi Vaishnavism là một tôn giáo Ấn-Ba Tư. ·
Discontinuity - Sự gián
đoạn - để đánh dấu cuộc xâm lăng của người Ấn-Âu trên mọi bình
diện. Sành sứ, kiến trúc, vũ khí Ấn-Âu (kể cả ngựa và xe ngựa) và
những thời kỳ định cư của người Ấn-Âu, hiện diện cho đến cuối
thời kỳ của các nền văn hóa tồn tại ngay trên những những thành phố
bị hũy diệt, với nhiều di tích những bàn thờ lửa nguyên thủy và các
loại đồ dùng được mới sơn màu xám (PGW). ·
Flooding - Lụt lội -
được ghi lại dấu vết bằng những lớp phù sa tạo ra bởi sự tàn phá
hoàn toàn của các hệ thống đê điều và thủy lợI đã được xây dựng. ·
Aryan: adj - Người Ấn-Âu: 1- Xem Indo-European, 2-
Thuộc về Bắc Ấn. ·
In•do–Eu•ro•pe•an adj
- In•do–Eu•ro•pe•an: Liên hệ tới, thuộc về họ ngôn ngữ xử dụng
bởi hầu hết người Âu châu và một phần thế giới thuộc địa của họ
từ 1,500 và gồm cả người vùng Vịnh Ba Tư, lục địa cận Ấn, và vài
vùng khác ở Á châu. ·
Northern Dravidians - Các sắc
dân Dravidians phương bắc (như Brahui, Bhil, và Gonds chiếm cứ các giải đất
biệt lập ở phía bắc và trung châu Ấn Độ, chứng tỏ rằng các dân tộc
Dravidians đã từng sống cùng khắp lãnh thổ Ấn Độ. ·
Sanskrit Literature - Văn hóa
Sanskrit - đã ghi dấu tường tận cuộc xâm lăng của người Ấn-Âu. Indra,
chủ tể các vị thần Ấn-Âu, luôn luôn được lặp đi lặp lại như là
“thần hũy diệt các thành phố” và “thần mạng tuyệt của dân Dasyus”.
Trong văn hóa Tamil, thế kỷ 16 trước kỷ nguyên (1,500’s B.C.) là ngày khai
tử bi thương của nền văn minh Tamil, sự kiện nầy trùng hợp với các cuộc
xâm lăng của người Ấn-Âu. Hơn thế nữa, Sanskrit chứa đựng rất nhiều
những chữ vay mượn có gốc Dravidian. “Shiva” là một thí dụ (Tamil “civa”).
Nhiều âm vận cũng mang màu sắc Dravidian. ·
Astronomical Science - Khoa
học thiên văn - dùng bởi các nhà tế lễ được lấy từ ngôn ngữ dân tộc
thung lũng Semito-Dravidian-Indus vì đã được hợp thành trong thời Thung Lũng
Khoảng
thế kỷ thứ 16 trước kỷ nguyên, văn minh Indus, sau 2,000 năm thịnh vượng,
đã dần dần bị hũy diệt. Lịch sử đã khẳn định lý do của sự suy
đồi nầy, đúng ra phải nói rằng lý do duy nhất, là sự xâm lăng của những
sắc dân hung bạo Ấn-Âu. Họ xâm chiếm, tàn phá các thành phố Indus, và
tiêu diệt các dân tộc địa phương. 1. Chứng tích
khảo cổ 1.1
Những lớp
tro dày Những lớp
tro dày hiện diện trên lớp đất bề mặt của nhiều thành phố vùng
Indus. Ở Nal, thời kỳ cuối của nền tiểu công nghệ Zhob đã bị thiêu hũy
nghiêm trọng đến nỗi dãy đồi đất đá nhân tạo, được gọi là Soshr
Damb, hay Đồi Đỏ, đã bị hóa đỏ vì lửa. Ở Dabar Kot, trong 2 mét bề
sâu trên mặt đất của cả dãy đồi là 4 lớp tro dày, chứng tỏ những
đợt hũy diệt của những trận hỏa thiêu tàn khốc đã được lặp đi lặp
lại qua nhiều thế hệ, và những tàn tích đỗ nát liên hệ đến những
thời kỳ định cự (và tái định cư) của người Harappa. Tại những vùng
đồi đất sỏi Rana Ghundai, khắp nơi trên lớp đất nền của thời đại
RG III c, đều bị bao phủ bởi những túi tro đỏ. Bên trên lớp địa tầng
nầy, những loại đồ sành sứ xếp từng lớp, phân biệt rất rõ ràng,
Sành sứ thời kỳ RG IV được phủ bởi một lớp vải sơn thô. Lớp RG IV
lại bị thiêu hũy, và thời kỳ RG V lại tiếp tục được ghi nhận bằng
một hình thức sành sứ đổi mới. Lớp RG V không được sơn và chứa nhiều
điêu khắc có tính tín ngưỡng. 1.2 Những
xương sọ bể nát; Ở 1.3 Vũ khí
của người Ấn-Âu: Những cái
bôn (rìu lưỡi vòm) bằng đồng đã thâm nhập vào các vùng Harappan
(Harappa, Shahi-tump và Chanhu-daro) giống hệt như loại đã tìm thấy ở miền
Bắc vịnh Ba Tư (Hissa III, Shah Tepe, Turang tepe) và những vùng Akkadian (Assur,
nghĩa trang Sialk B: ở những vùng nầy những mẫu xét nghiệm chứng tỏ đã
thuộc vào thời kỳ hậu bán thế kỹ thứ 9 trước Tây lịch). Những ngọn
giáo dài 1.5 feet và được tăng cường vũng chắc ở phần sống lưng không
thuộc loại Harappan và chỉ được tìm thấy ở địa tầng dưới của những
thành phố. Những ngọn giáo nầy ở Mohejio-daro luôn luôn có một hành
đinh tán để giữ chắc cái cán hoàn toàn giống với loại giáo vào cùng
thời kỳ ở Những cây lao
có móc bằng đồng được tìm thấy ở vùng Thung lũng Cổ Ấn Độ giống
hệt như những cây lao đã tìm thấy ở Âu châu và một số vùng ở Á
châu. Vũ khí của
người Ấn-Âu, kể cả ngựa và xe ngựa, hiện diện cho đến cuối các thời
kỳ lịch sử của các thành phố Cổ Ấn Độ. 1.4 Những
cơn hồng thủy gây ra bởi sự phá hũy đê điều Ấn Độ của người Ấn-Âu Dấu chỉ
của nhiều trận hồng thủy đã được phát hiện ở những thành phố Cổ
Ấn Độ, hầu hết dưới hình thức những lớp trầm tích đất sét. Đó
là dấu chỉ minh thị giải thích rằng những cơn hồng thủy đã là
nguyên nhân hũy hoại các thành phố Cổ Ấn Độ và được coi như là những
sự kiện hung bạo nhất trong thời kỳ đô hộ của người Ấn Âu. Hơn nữa sau đó, người ta còn phát hiện
thêm nhiều dấu ấn lịch sử khác, và chấp nhận rằng những cơn hồng
thủy đó còn gây ra bởi những đợt phá hũy các hệ thống dẫn thủy nhập
điền nữa. Và đó còn là một hệ lụy khác của nạn diệt chủng. “Ngài
đập nát Vrtra đã tích trử nước [RgV VI.20.2] Trong
ngôn ngữ Sanskrit, “Vrtra” là một “chướng ngại”, và minh xác là bờ
ngăn hay bờ cảng [ISISH 70.71]. Đó là một từ khác dùng cho “đập nước”.
Những đập nước bây giờ được gọi là Gebr-band, được tìm thấy ở
nhiều dòng nước chảy ở những miền tây của vùng Cổ Ấn Độ. Người
Ấn-Âu đã tiêu hũy hệ thống đê điều Cổ Ấn Độ, tạo ra những lớp
trầm tích đất sét ở Mohenjo-daro [S & T 369] “Khi
Ngài (Indra) xẻ núi lớn ra, Ngài đã tháo chảy những dòng thác và vật chết
Davana, Ngài đã tháo chảy những dòng suối bị giữ lại ở phía trên.
[RgV V.32.1-2] “Rimag rodhamni krtrimani = “Ngài
tháo gở các bờ đê nhân tạo.” - - [RgV 2.15.8]”
Bây
giờ, rodhas = “đập” ở khắp nơi trong Rig Veda và trong ngôn ngữ Sanskrit
sau nầy [S & T 369]. Chứng tích trên đây, lấy trực tiếp từ Rig Veda,
mà không cần phải từ bất cứ một nguồn tài liệu phụ thuộc nào, cũng
đủ minh chứng người Ấn-Âu chính là thủ phạm hũy diệt các hệ thống
đê điều Cổ Ấn Độ. 1.5 Những
đợt định cư người Ấn-Âu Những cuộc
định cư người Ấn-Âu diễn ra ngay trên thành phố đã bị hũy diệt, cho
đến cuối mỗi thời kỳ văn hóa. Đó là những thời kỳ của các kiến
trúc làm bằng vật liệu lấy từ những đống đổ nát của phố xá các
thời kỳ trước đó. 2.
Khái quát về Nhân chủng học: 2.1 Dân
Draviians miền bắc Nhiều
bộ tộc dân Dravidians vẫn còn cư trú ở những phần đất riêng rẽ ở bắc
Ấn Độ. Dân Brahui định cư tại những vùng đất 2.2 Dân
Black Sudroids, Dravidians, và giống dân Phi châu Những
người Ấn-Âu và Dravidians hiện còn đang sống thành những quần thể lớn
và giữ gìn những tập quán cổ. Người Ấn-Âu có mủi tẹt và tóc thẳng.
Dân Dravidians có mũi rộng, tóc xoắn và da rất đen. Họ có liên hệ với
các giống dân châu Phi. 2.3 Giống
dân Caucasoids Ấn - Ấn-Âu Người
Ấn - Ấn-Âu thuộc dân Caucasoid hay sắc tộc da trắng và rất giống với
người La tinh. Những ngôn ngữ Ấn - Ấn-Âu thuộc vào họ các ngôn ngữ
Ấn Độ - Âu châu. Nguyên người Ấn - Ấn-Âu có màu da từ trắng đến
trắng ngà, mũi tẹt, môi dẹp, và tóc thẳng. 3.
Chữ viết 3.1 Chữ
Sanskrit Nhiều
chứng tích cho thấy ảnh hưởng cuộc xâm lăng của người Ấn-Âu trên
ngôn ngữ Sanskrit. Xướng
ca cổ cầu nguyện thần “đã hũy diệt dân Dasyans và bảo vệ màu da
Ấn-Âu.” [RgV III.34.9; Ann 114] và “thần sấm đã thuần hóa những
người bạn da trắng trên cánh đồng, mặt trời, và nước.” [RgV
I.100.18; Ann 114]. Rất nhiều câu kinh nói đến “thần da đen Krishnam
Vacham” [RgV Ĩ.41.1, Sama Veda 1491, II.242; Ann 114] được xem như thần chống
đối, tức là những “thần hung hổ như những con bò mộng vội vàng
phân hũy màu da đen.” [RgV Ĩ.73.5]. Xướng ca cho rằng da đen là “màu
da đáng ghét của thần Indra, đang được quét sạch ra khỏi thiên đàng”
[RgV Ĩ.73.5]. “Thần Indra bảo vệ người Ấn-Âu trong chiến tranh của
những người thờ phượng, ông ta đã chiến thắng những kẻ ngoài luật
lệ cho thần Manu, ông chinh phục màu da đen.” [RgV I.130.8; Ann 114]. Người
tin phục biết ơn thần của họ về việc ngài đã “hũy diệt các bộ
tộc con cháu dân da đen”, và về việc “ngài đã quét sạch thần
da màu bị chối bỏ.” [RgV II.20.7, II.12.4; Ann 115]. Sự hũy diệt
của các thành phố: Các thần của
dân Ấn-Âu được hân hạnh giới thiệu bởi các “nhà thông thái”
Vệ Đà như là “những thần hũy diệt của các thành phố”. Trong
những thần Indra, vị thần sau cùng nầy được xem là hiện thân của Thần
Vishnu, là một vị thần của tội ác nguyên thủy. Thần Indra được gọi
là thần Puroha hay Purandhara, “thần đập nát các thành phố” [S
& T 366]. Indra lật đổ 100 tượng thần Puras làm bằng đá (asmanmayi) của
những người thờ thần Divodasa [RgV 4.30.20], thuộc sắc dân Sambara, tức
là thần Dasa (một loại quỷ sa tăng không thuộc giống dân Ấn-Âu) của
núi [RgV 6.26.5] - thần Chanda [S & T p.364] Người
ta không hề tìm thấy một quan tâm nào được dành cho sự sống của các
sắc dân không-Ấn-Âu. Một bài thơ Ấn-Âu viết, “Hởi
thần Toàn năng [Asvins] ông làm gì ở đó? Tại sao ngài ở đó trong đám
dân ích kỷ không chịu dâng hiến vật hy sinh? Hãy bỏ rơi chúng, hãy hũy
diệt đời sống của dân thần Panis.” Sự
hũy diệt các sắc dân thờ thần Indra của Harappa - Một câu ngâm vịnh nổi
tiếng trong Rig Vệ Đà ca ngợi sự hũy diệt các sắc dân thờ thần Indra
của “Với
sự giúp đỡ của thần Abhyavatin Cayamana, Indra đã bị hũy diệt cùng với
mầm mống của Virasakha. “Ở
Hariyupiyah, ngài đã đập nát đội tiên phong của các dân Vrcivans, và đoàn
hậu quân phải khiếp đảm.” - [RgV XXVII.5]” 3.2 Văn
hóa Dravidian Năm
1500 trước Tây lịch được ghi nhận như thời điểm chấm dứt của thời
kỳ “sangam” khi mà những cuộc chinh phục của dân barbarians đã khởi diễn. 4.
Xã hội học: 4.1 Hệ
thống Đẳng cấp xã hội Hệ
thống đẳng cấp là một “dấu chỉ” khác của nền đô hộ của người
Ấn-Âu, với cấp thấp nhất hay ngoại cấp tiêu biểu cho cư dân không
nguyên thủy đã sống sót qua các thời kỳ chém giết của người Ấn-Âu.
Những sự kiện nầy giống hệt như những hiện tượng đã xảy ra ở những
nơi khác trên thế giới, trong đó một sắc tộc phải nô lệ vào những
chủng tộc khác, ví dụ người Mỹ La tinh (Người Iberians chinh phục người
Aboriginals), 4.2
“Sati” và tục Cước Gã Trẻ con Người
Ấn-Âu chủ trương những giới hạn khắc khe cùng cực cho đời sống người
phụ nữ, trong đó có sati và tập tục cưới gã trẻ con. Theo các kinh điển
“Hindu” của người Ấn-Âu (ie. Vaishnavite), một người đàn ông phải cưới
một người con gái còn trinh nhỏ hơn một phần ba tuổi của mình. 4.3 Thờ-Thần
Bò Thờ
thần Bò là một tập tục khác của người Ấn-Âu. Phong tục nầy có lẽ
đã phát sinh vì người Ấn-Âu đã là những sắc dân du mục vì thế cần
có bò. 5.
Thần học: 5.1 Shiva
và Shakti Shiva
là thần của các sắc dân Dravidians. Vishnu là của Ấn-Âu. Hệ
thống Lịch-Sao (Lịch theo sao) được dùng bởi các dân tộc Ấn-Âu-Vaishnavites
ngày nay đã được vay mượn từ nền văn hóa Semito-Dravidian, Thung lũng Cổ
Ấn Độ, vì những lý do sau đây: 1.
Nó
không có liên hệ gì đến Rig Vệ đà hay Avesta 2.
Nó
đã được chế lập khi Thung Lũng Cổ Ấn Độ ở vào thời kỳ cực thịnh,
trước khi người Ấn-Âu đến Ấn Độ [Parpola] Người
Cổ Ấn Độ đã từng nghiên cứu và áp dụng thiên văn vì các đường phố
đã được xây dựng hướng theo những chiều căn bản, tiên định bởi việc
xử dụng cọc-định-hướng-mặt-trời. Một cái hầm kín ở tháp 5.2 Những
Bàn Thờ Lữa Những
bàn thờ lữa xuất hiện sau nầy vào cuối thời kỳ lịch sử của các
thành phố Cổ Ấn Độ. Chúng có đặc tính rất thô sơ, được xây dựng
bởi vật liệu đổ nát từ các thành phố đã bị phá hũy. 6.
Những cuộc đô hộ toàn cầu của người Ấn-Âu: Người
Ấn-Âu chiếm cứ nhiều vùng trên toàn thế giới, tận diệt biết bao
nhiêu nên văn minh sáng chói khác nhau của nhân loại. Văn minh 7.
Những lý thuyết đầy tính ngụy biện và vô trách nhiệm: Nhiều
giải thích khác đã được dùng để lý giải sự tàn hoại của nền văn
minh Cổ Ấn Độ, bên cạnh những cuộc độ hộ của người Ấn-Âu. Đó
là: ·
Những
thiên tai thời khí: Gồm có: - Sự
va chạm của vẫn thạch - Hồng
thủy - Sự
Tự Tận Những
lý thuyết nầy cho rằng chế độ nô lệ, hay một sự kiện cách mạng
khác đã thiêu hũy nền văn minh Ấn Độ. Tuy nhiên,
những lý thuyết nầy quả thực đã gặp phải nhiều vấn nạn không giải
đáp được. Sự
va chạm của vẫn thạch -
Những vấn nạn cho lý thuyết nầy là: 1.
Không
hề có dấu vết va chạm nào đã được tìm thấy thích hợp với thời kỳ
1500 trước Tây lịch, cũng không hề có dấu vết nào có kích thước
tương xứng. Kích thước thích hợp được xác định một cách khoa học
phải chỉ thay đổi trong một phạm vi rất hạn hẹp, vì nếu nó quá lớn,
tác dụng phải có tính toàn cầu; mà nếu quá nhỏ, thì sẽ không có tác
dụng nào đáng kể. 2.
Không
có một va chạm nào có hình ảnh tương xứng với đặc tính mọi sự va
chạm từ thời kỳ vẫn thạch làm hũy diệt các loại khủng sinh vật K/T
Chiczulub [Alvarrez] cho đến thời kỳ Sudbury xuất hiện, đã được tìm thấy
ở cùng Thung Lũng Cổ Ấn Độ trong cùng thời kỳ. 3.
Không
hề có một dấu vết vật chất bị nung chảy hay hóa kiếng nào, thích hợp
với những đặc tính ảnh hưởng của những vụ va chạm như vậy được
tìm thấy ở bất cứ nơi nào gần vùng thung lũng Cổ Ấn Độ. Như
vậy, mặc dù một lý thuyết cho rằng một sự va chạm của một sao chổi
có thể đã xảy ra ở vùng Comet Enke, nó vẫn chỉ là một giả thuyết rất
viễn vông, và ít được nói đến. Sự hũy diệt của nhiều nền văn hóa
trong cùng một thời kỳ đòi hỏi một nạn cố có tính toàn cầu. Nhưng
nhiều nền văn minh khác, như ở Trung và Nam Mỹ, và Trung Hoa đã tồn tại
liên tục qua thời kỳ 1500 trước Tây lịch. Sự va chạm vẫn thạch thường
để lại những lỗ thủng lớn hơn với sự hiện diện của nhiều loại
quặng bị nung chảy ở nhiệt độ cao, và vì vậy những biện bác chống
lại những giả thiyết nầy càng có lý lẽ mạnh mẽ hơn. Hồng
thủy
- Những chứng tích không thể chối cải được của những cơn hồng thủy
đã được tìm thấy dưới hình thức những lớp trầm tích đất sét và
hệ thống đê điều bị phá vỡ như là những dữ kiện hùng hồn. Và như
vậy, hồng thủy đã nghiễm nhiên trở thành những giả thuyết rất thuyết
phục, cho đến khi người ta tìm thấy rất nhiều chương mục trong kinh Vệ
Đà đã minh xác rằng chính người Ấn-Âu đã từng phá hũy một cách có
chủ trương các hệ thống đê điều Cổ Ấn Độ. và như vậy, hồng thủy
là những hệ quả tự nhiên của những cuộc xâm lăng của người Ấn-Âu,
và không phải của một sự kiện độc lập nào. Xã Hội Tự Tận
hay Tính tự mâu thuẩn trong xã hội: 1.
Giả
thiết rằng, sau hàng thiên niên kỷ trong sự an bình, bổng nhiên có cuộc
cách mạng nội bộ đàng sau sự hũy diệt thật đã làm cho người ta khó
nghĩ. 2.
Không
có sự kiện lich sử nào đã được tìm thấy khả dĩ có thể chứng minh
điều nầy, và chứng tích không chối cải được về những diễn biến bạo
hành với nhiều loại vũ khí mới xuất hiện, rõ ràng là những chúng cớ
không thể bỏ qua được. Những
lý lẽ phản bác khác Mặc dầu
những điều sau đây có thể khá khó tin, những rõ ràng chúng đòi hỏi những
lý lẽ phản bát phải được củng cố vũng vàng hơn. Những giả thuyết
chống lại tội diệt chủng của cuộc đô hộ của người Ấn-Âu có thể
được chia ra làm 2 loại: 1.
Thiện Tính Ấn giáo của người
Ấn-Âu 2.
Tính Không Phát Xít Đây
toàn là những biện thuyết quá trớn. Loại đầu
nghịch lý với tính hũy diệt, nhũng nhiễu của những “thần” thể hiện
trong những hành xử và những hung tính tệ hại nhất đã được ghi nhận
trong lịch sử. Họ mong muốn được thấy Vệ Đà, trong sự khắc nghiệt
của những bài ngợi ca những đàn bò, như là kho tàn của các loại khoa học. Loại sau
không muốn nhìn nhận tổ tiên của họ đã vi phạm những tội ác như vậy.
Một người thiếu thiện tư tôn giáo có quan điểm chống lại tội ác của
cuộc xâm lăng của người Ấn-Âu trong thời kỳ đầu của nó là ông
Narendra Nath Datta, sau nầy được biết dưới tên Vivekananda. Tất cả những
gì ông đã làm, chỉ là để xuyên tạc tính chân thực của sử liệu, với
quyết tâm cố hữu là lạc dẫn người đọc, nhất là người đọc của
những thế hệ tương lai. Ông viết: “Và
điều mà những học giả Âu châu ở Ấn Độ nói về việc người Ấn-Âu
đã càng quét một số vùng đất ngoại bang, sang bằng xứ sở của những
dân tộc ngoại chủng, và đưa người Ấn Độ đến diệt vong, chỉ toàn
là những lời nói ngu dốt, không có ý nghĩa gì. Điều lạ lùng, là các
trường dạy học ở Ấn Độ vẫn xác nhận những điều nầy là “đúng
là vậy”, và mọi lời dối trá nhất đã được dạy cho giới trẻ của
chúng ta. Rõ ràng đây là một việc xấu. Trong Vệ Đà nào, trong Sukta nào,
mà bạn có thể tìm thấy rằng người Ấn-Âu đã đến Ấn Độ từ một
nước ngoài? Từ đâu mà bạn đã tìm thấy cái ý tưởng rằng họ đã chặc
đầu những giống người địa phương không thuộc chủng? Bạn được gì
khi nói đến những điều vô nghĩa nầy?” - [Complete Works of Swami
Vivekananda ', 1963, p.534-535] [Panda 70]. Một người
Tin lành khác đã chống lại quan điểm về những cuộc xâm lăng của người
Ấn-Âu là Srivastava, đã hầu như chỉ nghiên cứu về một chuyên đề là
chứng minh sự vô nghĩa của những thần Ấn-Âu: “Người Ấn,
như vậy đã hoàn toàn vô trách nhiệm” - [Srivastava 441] Sau đó, vì
thiếu thốn mọi dữ kiện khoa học, ông ta lạc lõng đến nỗi Wheeler phảI
than rằng: “. . chúng
tôi tìm thấy ông (tác giả Srivastava) như là một sĩ quan trong quân đội
Anh trong Thế Chiến II, chúng tôi cảm thấy ông ta không thể phiên dịch một
chứng tích nghi ngờ của Một người bảo
thủ khác, ông A.K. Kateria viết, “Cả hai
Dayananda và Aurobindo đều khẳn định sự phủ nhận những định đề lịch
sử về cuộc xâm lăng của người Ấn-Âu, và chiến tranh giữa họ và
các dân tộc Dravidians, do người Tây phương gây ra, và đã trở thành những
sử liệu rất phổ biến trong phạm trù lớn rộng của lịch sử và giới
sử gia Ấn Độ.” – [A.K. Pateria, Modern Commentatos of the Veda, p. 63 – Panda
70] Nhưng rất tiếc,
ông Kateria không hề cho biết hai ông Dayananda và Aurobindo là ai! Vệ Đà & Lịch
Sử - Chữ Viết:
Trong nền văn
hóa Cổ Vệ Đà, một quần thể kiến thức được phát huy từ những chữ
viết gọi là Vệ Đà. “Từ” nầy được lấy từ căn “vid” (để hiểu,
biết). Chữ viết đại cương được xếp thành hai loại: sruti và smrti.
Sruti căn cứ vào bốn kinh Vệ Đà mà nguyên thủy thần Brahma đã nhận
được từ Chúa Tối cao, Krsna. Smrti là loại văn chương đã được tiết
tấu bởi những người tự xưng “thông thái” căn cứ vào việc họ đã
tìm ra sruti. Sruti được kết hợp bằng tiếng Sanskrit Vệ Đà, và smrti bằng
Sanskrit Laukika. Có vài khác biệt căn bản giữa hai loại tiếng Sanskrit nầy.
Trong Sanskrit Về Đà, từ ngữ có dấu âm vận, tương ứng với các âm
trong âm nhạc, và nghĩa của một từ có thể biến đổi rất nhiều bằng
cách đơn giản thay đổi dấu nhấn trên các chữ của nó. Vì lẽ đó, những
từ nầy cần được nghe một cách thích hợp qua một nhân vật có kiến
thức, và vì vậy Vệ Đà được gọi là sruti. Không ai có quyền thay đổi,
ngay cả chỉ một âm vận của sruti. Chúng được truyền thừa từ đời nầy
qua đời khác. Đôi khi vài phần của sruti bị thất lạc vì sự thiếu
sót phương tiện truyền thừa chính thức. Rồi vì thế chúng phải được
thuyền thừa một cách không chính thức qua những nhà “thông thái” được
gọi là “rsis”. Rsis nghĩa là nhà tiên tri, hay là người nhìn thấy (đọc)
được bản chữ viết Vệ Đà. Ông ta nghe được qua tâm hồn và hiểu
được nghĩa của nó. Sanskrit Vệ đà có văn phạm riêng và chỉ được dùng
trong kinh Vệ Đà. Không một sách mới nào được viết bằng loại chữ nầy. Trong khi đó,
Smrtis được viết bằng Sanskrit Laukika hay Sanskrit được dân chúng dùng
trong văn nói, không có dấu nhấn trong âm vần. Ltiharas, Puranas, và Agamas đều
là những thành phần của Smrtis. Trong nền văn hóa Smrtis, có một bộ môn
chính cũng được gọi là Smrtis, đó là Manu-smrti. Những smrtis nầy là
thành phần của dharma sastra hay các sách kinh ghi bằng các hình thức ký tự
tôn giáo. Smrti sastras được kết hợp bằng cách ghi nhớ lại ý nghĩa của
sruti và vì vậy có tên là smrti. Smrtis liên tục thay đổi với thời gian về
hình thức kết cấu, nhưng âm vận thì vẫn giữ nguyên. Phân loại văn
hóa sruti và smrti: (Về chữ viết,
xin xem Links/Vedic Books Online) Bốn loại tiếng
Vệ Đà: Rg (Rig), Sama, Yajur (Sukla – Mađhyanina và Kanva: Krsna), và Atharva. Vì cách đọc
khác nhau ở những địa phương có phong tục tập quán khác nhau, nên ngôn
ngữ bị phân chia ra nhiều nhánh khác nhau. “Rgveda chia ra 21 nhánh,
Yajurveda 100 nhánh, Samaveda 1,000 nhánh, và Atharvaveda 9 nhánh.” (Kurma
Purana 52.19.20). Một tổng kết
các kinh điển Vệ Đà liệt kê 1,130 cuốn Samhitas, 1,130 Brahmanas, 1,130
Aranyakas, và 1,130 Upanishads, tổng cọng 4,520 luận đề. Tuy nhiên, qua thời
gian, rất nhiều kinh sách đã bị thất lạc, bị cướp, hay bị thiêu hũy
- quân đội của Alexandre Đại Đế đã xử dụng kinh sách làm củi đốt;
Hồi giáo thiêu hũy bất cứ lúc nào tìm thấy; người Anh (trong thời kỳ
xâm lăng của Anglo-Xaxon) cướp đi rất nhiều kinh sách, di sản ngôn ngữ,
về nước; người Đức và người Nga lấy kinh Atharva Vệ Đà, kinh nầy chứa
bộ sách Dhanur Vệ Đà (khoa học chiến tranh). Hậu quả là ngày nay, theo
tài liệu Tattva-sandarbha của Jiva Gosvami, chỉ còn khoảng 11 bộ
Brahmanas, 7 Aranyakas, và 220 Upanishads hiện hữu. Vậy là ít hơn 6% số kinh sách
Vệ Đà nguyên thủy. Đó là chưa kể, kinh sách Vệ Đà đã bị sửa đổi
quyết liệt qua những cuộc xâm lăng văn hóa Hồi giáo. Người ta không
thể nghiên cứu Vệ Đà nếu chỉ qua một vài chương của nó. Ngày nay
không có “Giáo sĩ “ hội đủ điều kiện để diễn giải. Nhiều sách
kinh trở nên quá le loi và khó hiểu, đến nổi giáo sĩ Jiva Gosvami cũng đã
phải tự ý đốt kinh Kali-Yuga để tránh sự hiểu lầm của mọi người về
ý nghĩa. Brahmanas,
Aranyakas, Upanishads: Kinh điển và triết luận về sự phụng thờ phù hợp
với từng bộ môn trong bốn kết tập Vệ Đà. Muktikopanisad liệt kê 108 bộ. Upavedas có 4 bộ:
Ayur (thuốc), Gandharva (nhạc), Dahanur (khoa học chiến tranh), và Sthapatya (kiến
trúc). Vedangas gồm 6
bộ (“Những pháp môn Vệ Đà”): Siksa (phát âm), Canda (thơ ca), Nirukta (lịch
sử kết cấu ngôn ngữ), Vyakarana (văn phạm), Kalpa (tính thiêng liêng),
Jyotisa (vũ trụ học và dịch lý). Hai pháp môn đầu dạy cách nói tiếng Vệ
Đà, hai môn tiếp theo dạy cách hiểu Vệ Đà, và hai môn sau cùng dạy
cách xử dụng Vệ Đà. Sanrti: Có 20
smrti (dharma sastras) được ghi trong Yajnavalkya Smrti 14.5. Puranas: Giải
thích những lời răng dạy trong bốn Vệ Đà bằng hình thức những câu
chuyện, làm cho đời sống linh thiêng trở nên đơn giản hơn, và nhờ vậy
chúng trở thành quan trọng hơn trong thời đại nầy. Có 18 loại huyền thoại
phân ra làm ba nhóm với ba vị thần ngự trị chính: Sattva (Thiện) – Visnu
(Trời) – Brahma (Phạm) – Siva Padma Purana, Ultara Khanda 236.18.21: "18
Pháp môn Maha là - 1. Brahma, 2. Padma, 3. Vaisnava, 4. Saiva (or Vayu), 5. Bhagavata,
6. Bhavisya, 7. Naradiya, 8. Skanda, 9. Linga, 10. Varaha, 11. Markandeya, 12. Agneya, 13.
Brahmavaivarta, 14. Kaurma, 15. Matsya, 16. Garuda, 17. Vayaviya and 18. Brahmanda." Garuda Purana
3.1.43,45,64 cũng thêm vào: "Bhagavata là hay nhất trong tất cả các
Pháp môn." Chúng
được phân loại như vậy để từ từ nâng cao gía trị linh hồn đã được
điều kiện hóa bởi sự vô tâm (vô trước) của tính thiện từ. Ba nhóm
pháp môn thể hiện trước quần chúng dưới những hình tượng tôn vinh
và quyết tâm nâng họ lên một đời sống toàn thiện. Upapuranas có
18 bộ: Sanat Kumara, Narasimha, Brhannaradiya, Linga, Durvasa, Kapila, Manava, Ausanasa,
Varuna, Kalika, Mahesvara, Samba, Saura, Parasara, Devibhagavata, Aditya, Vasistha,
Visnudharmottara. Vidyas gồm 19
chương (Garuda Purana 1.223.21): Purana, Nyaya, Mimamsa, Dharma, Sastra, Rg, Sama,
Yajur, Atharva, Siksa, Kalpa, Canda, Jyotisa, Nirukta, Vyakarana, Ayurveda, Gandharva,
Dhanur, Arthasastra. Prasthanatrayi
(những nguồn gốc căn bản của những di tích về kinh điển): Bhagavad-gita
(700 câu), Upanishads, and Brahmasutras (Vedanta-sutra gồm 560 ký hiệu đơn giản,
hay sutras). Kalas có 64 chương
(nghệ thuật cổ điển được trình bày trong SB 10.44): Hát, Chơi nhạc, Nhảy,
Sinh hoạt trên sân khấu, Hội họa, Vẻ cơ thể với tilak và các lọai thuốc
trang điểm, Nghệ thuật tạo hình với các loại bột ngủ cốc và bông
hoa, Trang hoàng bằng hoa, Trình diễn nhạc dưới nước, Trò chơi trong nước,
Pha màu, Làm nữ trang, Trang sức trên đầu bằng nữ trang và bông hoa, Trang
hoàn y phục diễn viên, Làm bông tai, Làm dầu thơm, Đeo nữ trang, Xiếc hay
ảo thuật, Thuật diệu thủ, Nấu nướng, Làm các thức uống, Việc kim chỉ,
Làm việc với chỉ sợi, Chơi đàn dây, Giải đoán, Đọc lại thơ trong những
điều kiện đặc biệt, Lập những câu thơ khó, Đọc lại sách, Đọc lại
kịch và truyện, Giảng giải những câu thơ vịnh tối nghĩa, Thiết kế y
phục, cung và tên, Câu cá, Nghề mộc, Kiến trúc, Thử nghiệm kim loại và
nữ trang, Luyện kim, Nhuộm nữ trang, Luyện khoáng sản, Dược thảo, Chọi
gà hay cừu, Nuôi két, Dùng dầu thơm, Săn sóc tóc, Nhắn tin bằng dấu hiệu,
Biện thuyết, Tiếng lóng, Làm đồ chơi, Làm đồ bảng trong nghệ thuật
thiền định, Dùng bùa yễm, Đàm luận, Làm từ điển về các nhóm từ
trí tuệ, Ngụy trang bằng y phục, Cờ bạc, Nghệ thuật xiếc, Kiến thức
tâm linh, Lái xe ngựa, Viết, Chăn voi và ngựa, Thêu đan, Bơi lội. 65 Tantras or
Agamas: Văn hóa Tantra được Thần Siva nói với Devi. Có 3 bộ môn gọi là
Agama, Yamala, và Tantra. Tùy theo thần tích thờ phượng, cũng được chia làm
3 bộ môn, gọi là saiva, vaisnava, và sakta. Tantras cũng giống
như Vệ Đà smrti sastras và bao gồm ý nghĩa mantra, yantra, và tantra (mantra =
âm vận dùng để hành lễ; yantra = Lễ vật cần thiết cho những lễ tế;
tantra = Phương pháp thi hành các tế lễ). Những điều nầy bao gồm ý nghĩa
linh thiêng của việc tế lễ. Vì vậy, trong phạm vi nầy hai hệ thống
vaidika và tantrika được coi như nhau. Chỗ khác nhau chính giữa vaidika và
tantrika là cách tổ chức; vaidika sastras nói đến sinh hoạt trong gia đình,
ở đó một vị được chọn làm thầy giảng, đọc lên cho cả gia đình
chiêm nghiệm. Pancaratra
Agamas: Có 3 trường
phái Agamas chính – Saiva, Sakta, và Vaisnava – và mỗi trường phái còn có
những môn phái phụ. Trong tường phái Vaisnavas, người ta vẻ rất nhiều
loại hoa Sri-sampradaya (Sri-Vaisnavas) trích từ các kinh agamas. Tất cả các
kinh điển nầy nói về 4 đề tài chính: Jnana hay kiến
thức; Kriya (phụng sự, như xây cất nhà thờ, dựng tượng thần); carya
hay hành trì (như tham dự thờ phượng hàng ngày, các lễ hội); và thiền
định, phụng hiến, hay trì tâm. Những đặc tính
chung nhất của các agamas là: (a)
Chúng chấp nhận
sự hiện hữu của Đấng toàn năng với hình dáng một người đàn ông
hay đàn bà ngự trị. (b)
Sự hiện hữu
của linh hồn không phân ly được. (c)
Sự hiện hữu
của một vũ trụ thật. (d)
Phụng hiến
là phương cách duy nhất để được giải thoát. Pancaratras là
những Tantras dưới hình thức thiền, hay hình thức thiền chú. Vì vậy có
một phạm trù “tạo dựng” brahmanas, đồng thời, phải được coi là bất
cứ lúc nào Vệ Đà đặc biệt hứng cảm ra cái gì đó, cũng chỉ do
vaidika brahmanas mà thôi. Điều nầy không xảy ra trong Pancharatra. Pancharatra
được áp dụng đặc biệt cho Kali-yuga. Nó cũng cao quý như chính Vệ Đà,
vì nó được phát ngôn bởi chính thần Brahma, khi Brahma đòi hỏi ngài phải
được thờ phượng như thế nào. “Từ” “Pancaratra”
có nhiều nghĩa khác nhau. Kinh nói rằng thần Visnu đã phán những lời răn
nầy trong 5 đêm (panca ratri) của Brahma; từ đó suy ra “từ” nầy. Một
cách khác, kinh cũng nói rằng Pancaratra làm cho 5 sự diễn biến tối tăm:
năm diễn biến nầy được ghi nhận trong những kinh điển khác nhau, nhưng
tựu trung chúng là những sự việc như karma, jnana, astanga-yoga, sankhya, và
vân vân. Thần Ahirbudhnya-samhita nói rằng Pancaratra mang tên như vậy là vì
đề cập tới 5 đặc tính của thần Vasudeva - Para, Vyuha, Vibhava, Arca, và
Antariami. Và thần Bhaktivinoda Thakura nói trong Navadvipa Mahatmya, chương 13: “Năm
rsis (Sandilya, Upagayana, Maunjayana, Kausika, và Bharadvaja) trước kia đã được
chỉ bảo, mỗi rsis trong một ngày đêm (panca-ratra, “năm đêm”) bởi thần
Narayana. Dưới sự lãnh đạo của Narada Muni họ đã viết ra Pancaratra ở
đây (ở Vidyanagara) để dạy dỗ dân chúng về việc cúng hiến phụng thờ.”
Theo Narada Pancaratra, từ Pancaratra có nghĩa là năm loại kiến thức. Có tất cả
59 loại Pancaratras: 1)
Agastya-samhita, 2) Aniruddha, 3) Ahirbudhnya, 4) Isvara, 5) Kapinjala, 6) Kasyapa, 7)
Jayakhya, 8) Narada, 9) Pancaratra, 10) Naradiya, 11) Parama, 12) Parama Purusa, 13)
Parasara 14) Padma-samhita, 15) Padma-tantra, 16) Paramesvara, 17) Purusottama, 18)
Pauskara, 19) Brhad Brahma, 20) Bharadvaja, 21) Markandeya, 22) Laksmi-tantra, 23)
Visvamitra, 24) Visnu, 25) Visnutilaka, 26) Visvaksena, 27) Sandilya, 28) Seva, 29) Sri
Prasna, 30) Sanat Kumara, 31) Satvata, 32) Hayasirsa, 33) Trailokyamohana, 34) Vaibhava,
35) Prahrada, 36) Garga-galava, 37) Sandilya, 38) Satyokta, 39) Vasistha, 40) Savanakara,
41) Narayaniya, 42) Jnanarnava, 43) Svayambhuva, 44) Kapila, 45) Vihagendara, 46) Atreya,
47) Narasimhakhya, 48) Anamdakhya, 49) Aruna 50) Baudhayana, 51) Vaisnavacarita, 52)
Mahatantri, 53) Bhagavata, 54) Sivohita, 55) Visnubhasita, 56) Padmodbhava, 57) Varaha,
58) Samanya, 59) Vyarokta Lẽ ra có tất
cả 108 Pancartra-gamas, nhưng phần lớn đã bị thất lạc.
© Copyright 2006 giaodiem.com |
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com