giaodiem copyright
posted: 12.6.2006
                                                SỨC MẠNH BẤT BẠO ĐỘNG
               NHÌN TỪ NGỌN LỬA THÍCH QUẢNG ĐỨC

                                                                     Lê Cung * 

Trong lịch sử phát triển gần 2000 năm của Phật giáo Việt Nam, phong trào Phật giáo miền Nam năm 1963 ghi một dấu ấn hết sức quan trọng. Đối với đất nước, phong trào này “đã ghi đậm nét trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân miền Nam” [1]; đối với chính bản thân Phật giáo “có thể nói rằng từ sau thời đại Lý - Trần đến nay, trong nhiệm vụ phục vụ Dân tộc và Đạo pháp ... chưa có sự kiện nào có qui mô và có tiếng vang rộng lớn như phong trào Phật giáo miền Nam năm 1963” [2].                                      

Dấu ấn của phong trào Phật giáo miền Nam Việt Nam năm 1963 trong dòng lịch sử dân tộc nói chung cũng như Phật giáo Việt Nam nói riêng như đã nêu có thể lý giải bằng nhiều lập luận khác nhau, song điều quán xuyến, xuyên suốt và cốt lõi chính là ở chỗ phong trào đã vận dụng tối đa phương pháp bất bạo động trong suốt quá trình đấu tranh chống chế độ bạo trị Ngô  Đình Diệm - “một chế độ mà kẻ thù của nhân dân đinh ninh rằng không một lực lượng nào dưới quyền thống trị của chúng dám đã động đến” [3] - trong đó nổi bật nhất chính là ngọn lửa Thích Quảng Đức đốt lên giữa đường phố Sài Gòn ngày 11-6-1963. Bài viết này góp phần tìm hiểu giá trị đích thực của “sức mạnh bất bạo động nhìn từ ngọn lửa Thích Quảng Đức”.

Trước hết, tưởng cũng nên có một vài nét “chấm phá” về nguồn gốc của phương pháp bất bạo động. Trong rất nhiều loại kinh sách của Phật Tổ để lại cũng như các trước tác về sau của các môn đồ, tuy ở những mức độ khác nhau, nhưng ít nhiều đều ẩn chứa tư tưởng bất bạo động. Câu chuyện Phật độ chàng Vô Não viết: “Tại Xá Vệ có chàng Vô Não, sau khi cuồng tín theo tà giáo, chàng trở nên một kẻ sát nhân gây khủng khiếp cho dân bản xứ. Vì nghe lời dèm xiểm của các bạn chàng, thầy chàng bảo tìm giết một trăm người cắt ngón tay mang vào cổ đem về ông ta sẽ truyền phép mầu nhiệm cho. Theo lời thầy dạy, chàng đến rình một nơi hẻo lánh hoặc ở mé rừng, hễ ai đi lẻ loi đều bị chàng giết chết. Chàng đã giết được chín mươi chín, còn thiếu một người nữa để giết thì gặp mẹ chàng đi tới. Chàng xông xáo chạy tới để giết thì thình lình đức Phật ở đâu hiện tới, chàng liền đổi ý chạy theo Phật để hạ sát. Chàng chạy như tên bay mà không kịp. Tức mình chàng kêu to: “Kìa ông Sa môn ! Sao ông không dừng chân lại ?”. Đức Phật đáp: “Này Vô Não, Như Lai dừng bước đã lâu rồi chỉ có ngươi chưa chịu dừng bước đó thôi”. Vô Não hỏi lại: “Ông nói ông đã dừng bước sao tôi chạy theo mãi không kịp. Ông là người nói dối”. Phật đáp: “Như Lai đã dừng bước trên con đường tội lỗi, Như Lai đã trút bỏ gươm giáo từ lâu rồi”. Vừa nghe được bấy nhiêu lời, Vô Não chợt tỉnh mộng điên cuồng hối ngộ, liệng dao quỳ lạy trước Phật, xin Phật ra tay tế độ” [4].

Pháp bảo nhà Phật đề cập đến tinh thần bất bạo động một cách hàm súc như câu chuyện dẫn ra trên đây. Chính đó là biểu tượng chân thật của giáo lý nhà Phật giữa một thế gian chứa đựng đầy dẫy những áp bức, bất công, những kỳ thị đẳng cấp, chủng tộc, ... Lý thuyết bất bạo động của Phật giáo xuất phát từ tinh thần đại từ đại bi, cứu khổ cứu nạn, nhằm hoá giải chúng sanh thoát khỏi cảnh khổ đau (sanh, lão, bệnh, tử, ...) để đi đến Niết bàn. Vì vậy, Phật giáo chủ trương một tình yêu phổ quát, một lòng thương vô bờ bến đối với mọi chúng sinh. Lời Phật dạy: “Lòng từ bi đem lại cho chúng sinh tất cả mọi sự yên ổn cả về tinh thần lẫn vật chất” (Kinh Đại Bảo Tích).

Cần phải hiểu thêm rằng khái niệm “bất bạo động” được dịch từ Phạn ngữ Ahimsâ chưa diễn tả đầy đủ nội dung của nguyên ngữ, vì Ahimsâ không phải chỉ là bất bạo động mà còn có nghĩa là không làm hại đến bất cứ một sinh vật nào - kể cả kẻ thù -  từ trong ý thức cho đến ngoài lời nói và hành động. Ahimsâ không phải mang tính chất tiêu cực, thụ động (non-violence hay passive resistance) mà phải được hiểu là nắm lấy chân lý mà hành động (satyagraha). Bất bạo động (Ahimsâ) theo đúng nghĩa của nó đòi hỏi phải thể hiện trọn vẹn một tình yêu tuyệt đối, phải nắm phần chủ động trong việc thể hiện thiện cảm của mình đối với chúng sinh. Cùng với yêu thương chúng sinh, kể cả kẻ thù, còn phải tôn kính ý kiến kẻ khác trong mọi lãnh vực, dù ý kiến ấy đối nghịch với ý kiến của mình. Tiêu chuẩn chính xác của phương pháp bất bạo động là gạt bỏ ý thức tị hiềm, thủ tiêu tuyệt đối và hoàn toàn mọi ác căn. Trong mọi hoạt động, tuy không dùng đến bạo lực, nhưng bất bạo động không có nghĩa chạy trốn trách nhiệm đấu tranh. Gandhi đã từng tuyên bố: “Chủ nghĩa bất bạo động của  tôi không chấp nhận chạy trốn nguy hiểm, để mặc cho những người thân yêu không được bảo vệ. Giữa bạo động và chạy trốn một cách hèn nhát, tôi chỉ chọn lấy bạo động” [5]. Hơn thế nữa, người bất bạo động phải biết chọn đúng lúc để dấn thân vào cuộc đấu tranh với tất cả quyết tâm và lòng tự nguyện, tự giác, hỷ xã; phải thản nhiên đưa chính bản thân mình ra đón lấy mọi sự tấn công, ngược đãi.

Bất bạo động chủ trương lấy tình thương vô biên xoá bỏ hận thù nên không đánh trước và cũng không đánh lại kẻ đã đánh mình. Bất bạo động là tự đem chính bản thân làm gương mẫu mà giác ngộ kẻ đã tự cho là thù địch với mình để cho kẻ ấy tự ý từ bỏ mọi tư tưởng và hành động bạo động. Như vậy, phương pháp bất bạo động đòi hỏi một tinh thần vững mạnh và lòng can đảm vô biên, vì người bất bạo động tất nhiên thừa biết rằng mình có thể đánh lại đối phương, nhưng sở dĩ không đánh lại không phải là vì sợ bạo lực mà chính là tinh thần “tự giác giác tha”.

Tuân thủ những nội dung trên đây của lý thuyết bất bạo động, phong trào Phật giáo miền Nam Việt Nam năm 1963 ngay từ đầu đã khẳng định phương pháp đấu tranh là bất bạo động [6]. Tuy nhiên, trong ý định ban đầu của  giới lãnh đạo Phật giáo miền Nam, bất bạo động bằng hình thức tự thiêu vẫn chưa được đặt ra, mặc dầu trong những cuộc tuyệt thực đầu tiên của Tăng Ni trên toàn miền Nam vào cuối tháng 5, đầu tháng 6-1963, giới lãnh đạo Phật giáo đã dự tính rằng: “Nếu kéo quá dài các cuộc rước linh và tuyệt thực một cách nhàm chán thì phong trào tự nó cũng bị xẹp vì thiếu những hình thức mới mẽ, gây xúc động mạnh nuôi dưỡng” [7]. Song hình thức mới mẽ là gì vẫn chưa được tìm ra, ngay cả khi giới lãnh đạo Phật giáo nhận được bức tâm thư đề ngày 27-5-1963 của Hoà thượng Thích Quảng Đức với nội dung xin tự thiêu để bảo vệ Phật pháp, họ vẫn không chấp thuận. Trên thực tế, giới lãnh đạo Phật giáo còn “thật lúng túng, cũng không biết tự thiêu như  thế nào !” [8].

Mặc dầu không được chấp nhận, ý nguyện tự thiêu của Thích Quảng Đức vẫn tiếp tục được nuôi dưỡng . Ngài lưu lại ở chùa Ấn Quang trì tụng kinh Pháp Hoa và mong muốn đạt được ý nguyện. Tới ngày 9-6-1963, sau những lần thương lượng giữa Uỷ ban Liên phái bảo vệ Phật giáo và Uỷ ban Liên bộ không đem lại một kết quả nào, trái lại chính quyền Ngô Đình Diệm vẫn gia tăng các hoạt động đàn áp khủng bố, giới lãnh đạo Phật giáo bị bắt buộc phải chấp nhận ý nguyện tự thiêu của Hoà thượng Thích Quảng Đức. Và “khi  được thông báo tin này, Hoà thượng Thích Quảng Đức hết sức mừng rỡ, hình tướng của Ngài toát lên một sức hấp dẫn khó tả, trông như một vị Bồ tát hoá thân ở cõi ta bà này” [9].

Ngày 11-6-1963, tại ngã tư đường Phan Đình Phùng và Lê Văn Duyệt [10] (Sài Gòn), Hoà Thượng Thích Quảng Đức đã anh dũng tự thiêu trước sự chứng kiến của hàng chục vạn Tăng Ni, Phật tử cùng những quan sát viên, báo chí quốc tế. Lực lượng Diệm được điều động đến để hòng phá tan cuộc tự thiêu, nhưng bị thất bại vì Tăng Ni, Phật tử đã kiên quyết bảo vệ bằng cách vây quanh nhà sư nhiều vòng. Có người nằm lăn trước xe cứu hỏa, xe cảnh sát không cho can thiệp. “Cuộc hy sinh phi thương và dũng cảm của Hoà thượng Thích Quảng Đức, hình ảnh cụ ngồi thẳng như tượng đá trong ngọn lửa rực hồng đã nhanh như một làn sóng điện làm sôi nổi dư luận trong cả nước Việt Nam và trên thế giới. Ảnh của vị Hoà thượng Việt Nam Thích Quảng Đức ngồi trong ngọn lửa được đăng trên hầu hết các báo khắp năm châu, với những dòng chữ nói lên sự khâm phục” [11].

Chiều ngày 11-6-1963, chính quyền Ngô Đình Diệm ra lệnh phong toả các chùa, nhất là chùa Xá Lợi, nơi đang đặt thi hài của Thích Quảng Đức. Khắp các nẻo đường dẫn về chùa Xá Lợi, cảnh sát được huy động để ngăn chặn làn sóng người đang đổ về đây. Buổi tối cùng ngày, qua đài phát thanh, Ngô Đình Diệm đọc thông điệp lên án vụ tự thiêu của Thích Quảng Đức là do “một số người bị đầu độc gây án mạng”“kêu gọi đồng bào hãy bình tĩnh nhận định tình thế”. Lời lẽ trong thông điệp một lần nữa bộc lộ bản chất độc tài của Diệm, khi y tuyên bố: “Sau lưng Phật giáo trong nước còn có hiến pháp nghĩa là có tôi” [12].

Từ phong tỏa đến thông điệp, đủ mọi biện pháp, song chính quyền Ngô Đình Diệm vẫn không thể nào đẩy lùi được phong trào. Ngược lại, với cái chết cao cả của Thích Quảng Đức, “uy thế của Mỹ - Diệm bị một cú đánh tinh thần mạnh như trời giáng” [13], có tác dụng to lớn trong việc thúc đẩy cuộc vận động của Phật giáo Việt Nam tiến mạnh, tiến nhanh hơn. Trên thực tế, ngọn lửa Thích Quảng Đức đã tạo ra một bước ngoặt hết sức quan trọng. Nó chuyển phong trào Phật giáo miền Nam năm 1963 sang một thế mới, trên cả hai bình diện quốc nội và quốc tế.

* Ở trong nước, “cái chết vô uý của Hoà thượng Quảng Đức là một hồi chuông cảnh tỉnh cho mọi người, một tiếng gọi đàn cho hàng tứ chúng” [14]. Nó được xem như là một kêu gọi khẩn thiết đối với tất cả những ai có lương tri hãy đứng lên đấu tranh chống lại chế độ độc tài, gia đình trị Ngô Đình Diệm. Tại Sài Gòn, trên những con đường dẫn về chùa Xá Lợi, cảnh sát đã bị làn sóng người tràn ngập. Ngày 12-6-1963, giới lãnh đạo cao cấp của Phật giáo từ Huế vào Sài Gòn trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh tại đây.

Cũng trong ngày này tại vùng giải phóng, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã long trọng tổ chức lễ truy điệu Hoà thượng Thích Quảng Đức. Xã luận báo Nhân Dân số ra ngày 13-6-1963 viết: “Gương hy sinh anh dũng của Hoà thượng Thích Quảng Đức là một sự tố cáo, lên án trước dư luận toàn thế giới chế độ độc tài cực kỳ tàn bạo của bọn Mỹ - Diệm. Chế độ ấy phải bị đánh đổ. Mười bốn triệu đồng bào miền Nam quyết đánh đổ chế độ ấy” [15]. Báo chí miền Bắc đăng tin chi tiết và hình ảnh về vụ tự thiêu và cho đây là “sự hy sinh gan dạ của Hoà thượng Thích Quảng Đức để chống chính sách của tập đoàn Ngô Đình Diệm đàn áp tự do tín ngưỡng” [16]. 

Trước phong trào đang dâng cao, giới lãnh đạo Phật giáo dự định trong dịp đưa tang Hoà thượng Thích Quảng Đức vào ngày 16-6-1963 sẽ tổ chức một cuộc biểu tình lớn để phản kháng chính quyền Ngô Đình Diệm không chịu giải quyết năm nguyện vọng đã đề ra. Lo sợ một cuộc bùng nổ lớn, chính quyền Ngô Đình Diệm cấp tốc mở cuộc điều đình với giới lãnh đạo Phật giáo. Phiên họp đầu tiên diễn ra vào ngày 14-6-1963. Sau năm phiên họp, một Thông cáo chung được ký kết vào lúc 2 giờ sáng ngày 16-6-1963. Nội dung Thông cáo chung về cơ bản “thoả mãn” được năm nguyện vọng mà giới lãnh đạo Phật giáo đã đề ra trong Bản Tuyên ngôn ngày 10-5-1963. Và để tránh một cuộc nổi dậy của quần chúng, chính quyền Ngô Đình Diệm ra lệnh loan truyền bản Thông cáo chung ngay sau khi vừa được ký kết bằng xe phóng thanh của Bộ Thông tin. Điện tín đánh đi các tỉnh về nội dung Thông cáo chung. Đài phát thanh Sài Gòn loan tin ngay khi trời chưa sáng.

Về phía Giáo hội Thiên Chúa giáo Việt Nam, ngày 16-6-1963, Tổng Giám mục Nguyễn Văn Bình, cai quản quản Giáo khu Sài Gòn đã chính thức lên tiếng trong một bức thư luân lưu, rằng: “Giáo hội Thiên Chúa giáo Việt Nam hoàn toàn đứng ngoài cuộc tranh chấp mặc dù vai trò chủ động gây ra cuộc tranh chấp là tín đồ Thiên Chúa giáo” [17]. Trong một bức thư luân lưu thứ hai gởi cho hàng giáo sĩ và giáo dân trước lúc lên đường đi Rôma tham dự Công đồng Vatican II, Tổng Giám mục Nguyễn Văn Bình nhấn mạnh: “Giáo hội không những không gây nên biến cố mà còn đau đớn vì những tai hoạ đã và còn là ác quá của biến cố” [18].

Sáng ngày 16-6-1963, mặc dầu có lời kêu gọi của giới lãnh đạo Phật giáo yêu cầu Tăng Ni và Phật tử ở nhà, vì năm nguyện vọng đã “đạt được” và đám tang của Thích Quảng Đức được hoãn lại, nhưng nhân dân Sài Gòn được ngọn lửa Thích Quảng Đức tiếp sức đã đổ ra đường phố kéo về chùa Xá Lợi nơi đặt thi hài của Thích Quảng Đức. Cuộc xô xát giữa quần chúng và lực lượng cảnh sát đặc biệt xảy ra ở ngã tư Lê Văn Duyệt – Phan Thanh Giản. Thanh niên, học sinh, phụ nữ, bà già đã hăng hái chiến đấu hàng mấy giờ đồng hồ. “Quần chúng hoà vào nhau như những giọt nước trong đại dương và trong tình yêu người ta tự thấy mình lớn lên và không còn sợ hãi nữa” [19]. “Đây là cuộc đấu tranh chính trị quyết liệt nhất ở Sài Gòn trong mấy năm nay. Nó đã làm sâu sắc thêm mâu thuẫn giữa nhân dân ta với chế độ độc tài phát-xít Mỹ - Diệm, đẩy chúng vào tình thế bị cô lập hơn bao giờ hết” [20]..

*Về dư luận rộng rãi của thế giới trước việc Hoà thượng Thích Quảng Đức tự thiêu, chúng ta có thể hình dung qua nguồn tư liệu mà Malcoln W. Brown đã cung cấp trong “The New Face of War”: “Vụ Phật giáo năm 1963 đã làm chấn động các quốc gia ngoài châu Á kể từ khi xảy ra vụ tự thiêu của Hoà thượng Thích Quảng Đức: Hoa Kỳ, Pháp,  Anh, Thuỵ sĩ, Bỉ, Úc, Đức... Tấm hình tự thiêu của Hoà thượng đã được phổ biến khắp nơi thế giới từ trên bàn giấy của Tổng thống Hoa Kỳ tới văn phòng các lãnh tụ Trung Cộng và chính nước cộng sản này đã cho in ra hàng triệu tấm hình ấy để phân phát đi khắp Á Phi với lời ghi chú: “Một tăng sĩ Phật giáo Việt Nam tự thiêu trong cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ - Diệm” [21].  Ở đây, xin được nêu một số tư liệu cụ thể:

Ở Mỹ, ngọn lửa Thích Quảng Đức đã gây nên một chấn động mạnh, đặc biệt làm cho dư luận Mỹ quay sang chống Ngô Đình Diệm và gia đình y. Tại Washington D.C., ngày 12-6-1963, nhân dân Mỹ đã đón nghe một cách xúc động tin về cuộc tự thiêu của Hoà thượng Thích Quảng Đức. Hơn hai tuần Hoà thượng Thích Quảng Đức tự thiêu, ngày 30-6-1963, trong một bài giảng tại nhà thờ ở New York, Mục sư Donalds Harrington đã xem cái chết của Thích Quảng Đức giống như cái chết của chúa Giê-su, Michel Servetus, Jeanne d’ Ars. Ông cho rằng hành động mổ bụng của người Nhật cũng không thể nào so sánh nổi với sự tự thiêu của Hoà thượng Thích Quảng Đức, tuy rằng gan dạ như nhau, bởi vì “sự tự thiêu của Ngài đã cứu vớt bao nhiêu sinh linh đang chìm đắm trong khổ hận, kẻ đàn áp cũng như kẻ bị đàn áp đều bừng tỉnh. Ngài đã tô đậm nét vàng son và trang sử huy hoàng của Phật giáo và dân tộc” [22].

Tờ New York Herald Tribune (21-7-1963) cho rằng ngọn lửa Thích Quảng Đức sẽ bùng lên một đám cháy lớn thiêu rụi chế độ Ngô Đình Diệm, rằng “Hoà thượng Thích Quảng Đức, một tu sĩ đã biến tấm áo cà sa vàng của mình thành một giàn hoả thiêu... Tổng thống Ngô Đình Diệm tại miền Nam Việt Nam đang làm một công việc rất hay là ông đang tự đốt hết nền tảng của chế độ ông”.  Bởi theo quan điểm của báo này thì “sự cấm đoán tự do tín ngưỡng là một tội không thể tha thứ được” [23]. Tờ San Francisco Chinese World đưa ra lập trường quyết liệt hơn: “Đã đến lúc chính quyền Hoa Kỳ phải từ giả ông Ngô Đình Diệm. The Chinese World khẩn thành kêu gọi tất cả mọi người Mỹ lên án ông Diệm, một kẻ độc tài của Sài Gòn” [24].  Thượng Nghị sĩ Wayne L. Morse, bang Oregon, thì nói rằng “ông sẽ không đồng ý cho một đôla nào nữa để ủng hộ một chế độ độc ác tàn bạo của Tổng thống Ngô Đình Diệm tại miền Nam Việt Nam.[25]

Ở Nhật Bản, từ sau ngày Hoà thượng Thích Quảng Đức tự thiêu, các báo đã dành những chỗ trang trọng đăng tin và ảnh, như tờ “Asahi Evening News ngày 12-6 đã đăng 3 cái ảnh lớn chiếm gần một phần tư trang một và các báo khác cũng đều đăng tin tỉ mĩ rõ ràng về vụ này”