giaodiem copyright
          posted: 12.6.2006
       NIÊN BIỂU VĂN NGHỊ CÔNG

TRẦN TIỄN THÀNH (1813 - 1883)     

_____________________________________________________________
 
NGUYÊN VĂN TIẾNG HÁN  (1894) : MINH XUYÊN TRẦN -TIỄN HỐI
DỊCH  VIỆT VÀ CHÚ THÍCH  (1994) : VŨ BẠCH NGÔ
SỬA BẢN VI TÍNH  (8/2001) :  TRẦN – TIỄN TIẾN
_____________________________________________________________

    QUYỂN  I 

Quý Dậu năm Gia Long 12  (1813)

Năm ấy ngài Thượng thư 1 dạy học ở làng cùng bà Đoan Nhân 2 Thái Từ 3 hầu hạ thân phụ là ngài Thiêm Sự.

- Ông sinh vào giờ Canh thìn, ngày Ất dậu 12, tháng Giáp tí 11 tại biệt thự ở làng Minh Hương. Ngài Thiêm Sự hỏi ra biết là con trai thì mừng không kềm được, theo ngài Thượng thư vào ẳm Ông và đích thân săn sóc. Mới hơn hai mươi ngày, Ông bị bệnh nặng, ngài Thiêm Sự rất lo sợ, liền sức gia nhân bày biện hương án, ngững lên giữa trời khấn rằng: ... 4 là cháu trưởng của ... 5 , nguyền xin Thiên địa thần kỳ 6 giữ gìn cho được lớn khôn để nối dài thế hệ ... 5. Năm nay ... 5 tuổi quá sáu mươi là đủ rồi, xin lấy thân này thay cho nó.

Ngày hôm sau, quả nhiên Ông đỡ. Đầy tháng, ngài Thiêm Sự ẳm Ông đến miếu xin tên. Bấy giờ bày hội Thang bỉnh 7 , ngài Thượng thư mời bạn bè đến chung vui. Quan Tặng 8 Thái Sư Cần Chánh điện Đại học sĩ Tuy thạnh Quận công Trương đăng Quế  cũng có mặt (bấy giờ ông Trương sung Các hành tẩu 9 , bạn của ngài Thượng thư). Ông Trương sai ẳm Ông lại để nghe thử  tiếng khóc. Chợt thấy, ông Trương khen là kỳ lạ, gọi ngài Thượng thư bảo:  Đứa bé này ngày sau sẽ xứng đáng với sự nghiệp lớn đây !  

Giáp tuất, năm 13 (1814)  Ông lên 2 tuổi.

- Ngày 13 -1, ngài Thiêm Sự mất.

Ất hợi, năm 14 (1815)

Bính tí, năm 15 (1816)

Đinh sửu năm 16 (1817)

Mậu dần năm 17 (1818)

Kỷ mão năm 18 (1819)  

Canh thìn năm Minh mạng thứ 1 (1820)

- Ông lên 8, quan Thượng thư đích thân dạy ông học.  

Tân tị năm thứ 2 (1821)  Ông lên 9 tuổi.

- Tháng 2, ngài Thượng thư được bổ vào Hàn lâm viện Điển bạ, Lượng tín nam. Trước  đó,  Tặng 8    Thiếu  bảo  Hiệp  biện  Đại học sĩ    Trịnh Hoài Đức dâng sớ tiến cử rằng ngài rất có tiếng về văn học tại khoa trường nên có sự bổ nhiệm ấy. Tiếp đó ngài Thượng thư đi hộ giá cuộc Thánh giá Bắc tuần rồi sung chức Sứ tuyển 10 lưu lại Hà nội.

 

Nhâm ngọ năm thứ 3 (1822)

Quý mùi năm thứ 4 (1823)

Giáp thân năm thứ 5 (1824)  Ông 12 tuổi

- Tháng 4, ngài Thượng thư thăng chức Chủ sự Thanh lại bộ Lễ.

- Tháng 10, ngài Thượng thư thăng Tri phủ Tân bình, tước Lượng tín bá (phủ lị ở tỉnh Gia định). Bấy giờ gặp lúc rảnh rỗi, Ông chạy qua sân 11 , ngài Thượng thư gọi lại bảo:  Cha 10 tuổi thì bà nội con mất. Ban ngày thì lo học, ban đêm thì canh năm đã phải dậy lo cung phụng cơm cháo cùng sửa soạn đồ dùng vào chầu. Nay mày đã 11 - 12 tuổi mà chả làm một việc gì, chỉ biết chơi đùa như hồi 4 - 5 tuổi hay sao ?  

Ất dậu năm thứ 6 (1825)  Ông 13 tuổi.

- Tháng giêng, quan Thượng thư đến phủ lị. Trước đó, quan Thượng thư soạn ra một chiếc áo dài thêu rồng, màu rượu mùi, may bằng đoạn sợi tám, khảm kim cương và ngọc hỏa lựu 12 , hai cái kim bang chỉ, vái Trinh Hiếu Nhụ nhân rồi khóc nói: “ Nay cháu gặp lúc đi xa, di vật của tổ phụ xin để lại cho Đoan nhân, sợ có khi lạc mất thì đắc tội nhiều. Xin cô giữ cho, đợi cháu lớn lên thì trao lại, ngõ hầu ghi nhớ cái đức của cha ông ”. Lại cởi chiếc phương y màu lục cho Ông, để Ông ở lại với Nhụ nhân, chăm lo học hành.

Nhụ nhân Trinh Hiếu tính hiền từ, chuộng việc học, ở góa không có con. Nhà bà kinh doanh ở cả thành thị lẩn thôn quê, thu dưỡng cháu họ như nuôi con đẻ mà với Ông thì dồn hết lòng yêu thương, hằng ngày thường bảo ban Ông học. Bà nói:  Tổ tiên ta nhiều đời tích đức, sau này tất hưng vượng. Bà xem tướng cháu trung hậu, nên tự lập cho nên thân, trách nhiệm kế thuật 13 là ở trên mình cháu, hãy cố gắng chớ hoang chơi. Ông  nghe dạy bảo, càng cần cù học hành. Lại hàng ngày bà còn nêu gương ngài Thị độc học sĩ 14 nói năng hay ho, tính hạnh mềm mỏng, nhất nhất kể hết cho Ông nghe.  

- Ngày 26 tháng 6, quan Thượng thư mất tại lỵ sở. Ông tính rất có hiếu, gặp ngày kỵ quan Thượng thư, Ông đều hết lòng thành kính, khóc lóc buồn bã lộ ra sắc mặt. Về già, Ông thường nói: Ông Lớn ngày trước đi làm quan, bấy giờ ta còn nhỏ, không thể theo hầu cơm nếm thuốc, lại không được dự vào việc đi Gia định rước linh cữu về, mọi việc ấy đều nhờ anh ta là Nguyên Phác lo thay, ta không bày tỏ được chút hiếu kính nào cả. Thật là đáng buồn. Thế cho nên ta làm quan vào hàng nhất phẩm, nào triều đình ban cho, nào thuộc quan biếu tặng, chưa hề thiếu thốn gì nhưng cái mặc, cái ăn vẫn tiện tặn, sơ sài như cũ, thực là vì có nỗi đau đớn rằng Ông Lớn chẳng được hưởng giàu sang, có nỗi thương cảm việc bà cô của ta siêng năng, nhọc nhằn dạy dỗ nuôi nấng mà được thế này, chứ không phải  dám lấy trộm danh để  che của vậy.  

Bính tuất năm thứ 7 (1826)

Đinh hợi năm thứ 8 (1827)

Mậu tí năm thứ 9 (1828)

Kỷ Sửu năm thứ 10 (1829)  Ông 17 tuổi .

- Thượng thư bộ Hộ là Hiệp biện đại học sĩ Nguyễn Khoa Minh (ông Nguyễn là chồng của cô ruột Ông ) bảo Ông đến học chung với các công tử ở công thự. Thầy dạy là ... thấy Ông thông minh, đặt cho tên tự là THÌ 15 hiệu là Tốn Trai và gọi theo tên tự 16 . 

Canh dần năm thứ 11 (1830)

Tân mão năm thứ 12 (1831)

Nhâm thìn năm thứ 13 (1832)

Quí tị năm thứ 14 (1833)  Ông 21 tuổi

- Vào trú học ở Quốc tử giám, chí rất miệt mài về đường cử nghiệp, văn chương ngày càng tiến. Bấy giờ ở Giám có Văn Trường (Nguyễn Cửu Trường người Thanh hóa, đỗ tiến sĩ khoa Mậu tuất, cùng tuổi Ông ) nổi tiếng làm phú nhanh nhẹn.  

Giáp ngọ năm thứ 15 (1834)

Ất mùi năm thứ 16 (1835)  Ông 23 tuổi.

- Nhụ nhân Trinh Hiếu và Đoan nhân Thái từ đi hỏi Lương phu nhân cho Ông . Lương phu nhân là thứ trưởng nữ 17  quan Hiệp biện Đại học sĩ Lương Tiến Tường, Thượng thư bộ Lễ. Mẹ họ Tô. Bấy giờ Ông ở với Nhụ nhân Trinh Hiếu, hằng ngày đi học, nhưng thăm viếng hầu hạ Nhụ nhân Thái từ không hề thiếu sót.  

Bính thân năm thứ 17 (1836)

Đinh dậu năm thứ 18 (1837)

- Tháng 7, đỗ cử nhân khoa thi Hương. Hạng 14. Đỗ đầu là Lê Vĩnh Xuân ở Tuy phước. Đỗ thứ ba mươi là Tiết Văn Hanh người đồng hương. Chủ khảo là Tả tham tri bộ Lễ Hà công Quyền, phó là Biện lý bộ Lễ Phan Thanh Giản. Khoa ấy, nguyên đỗ cử nhân là 35 người, bộ Lễ phúc duyệt truất xuống Tú tài 3 người.

Mậu tuất năm thứ 19 (1838) Ông 26 tuổi.

- Tháng 3, thi Hội trúng cách thứ 10. Thượng thư bộ Binh là Hiệp biện Đại học sĩ Trương Đăng Quế làm chủ khảo, Thượng thư bộ Công là Hà Duy Phan làm phó (khoa ấy giảm bớt chức Tri cống cử). Khoa ấy trúng cách 11 người, đỗ thứ nhất là Nguyễn Cửu Trường ở Thanh hóa. Đỗ Phó bảng 10 người, đỗ thứ nhất là Nguyễn Tường Vĩnh ở Quảng nam (người trúng cách thứ nhì là Dương Danh Thành bị truất vì tội khai giả 3 đời) . 

- Tháng tư nhuần, vào thi Điện, được sắc ban đỗ thứ 5 Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân. Giám thị đại thần là Đô thống chưởng phủ 18 Phạm Hữu Tâm, Độc quyển là Hiệp biện Đại học sĩ Trương Đăng Quế, Thượng thư bộ Công Hà Duy Phan, nhận quyển kiêm duyệt quyển là Lang trung bộ Lại Nguyễn Văn Lý, Lang trung bộ Công Đỗ Quang. Đệ nhị Giáp tiến sĩ có hai người, đỗ thứ nhất là Nguyễn Cửu Trường. Đệ tam giáp tiến sĩ có tám người, đỗ thứ nhất là Đinh Viết Thận 19 ở Nghệ an.

Sau khi truyền lô, vâng làm lễ bái mạng dâng biểu văn tạ ơn, tiếp đó là đến vườn Thư quang lãnh yến trâm 20, đến Ngự viên xem hoa, lãnh lọng, ngựa, dạo khắp các phố phía đông Kinh thành để xem hoa ( Việc đổi chế độ cấp ngàn hoa trâm 21, áo mũ cùng việc cấp lọng, ngựa, xem hoa đều bắt đầu từ khoa này) rồi vâng lãnh cờ biển vinh qui.

- Tháng 10, bổ làm Hàn lâm viện biên tu 22 . 

Kỷ hợi năm thứ 20 (1839)  Ông 27 tuổi.

- Tháng giêng, vâng mệnh sung vào việc biên soạn và sửa chữa bộ Khâm định bội văn trích yếu tập vận.

- Tháng tám, vâng mệnh sung làm Đốc biện việc khắc in bộ Tập vận .

- Tháng 12, can việc để thiếu thợ, không khắc kịp, bị phạt bổng một tháng, ghi vào sách 23 . Vâng lấy chức cũ sung làm Hành tẩu viện Cơ mật.  

Canh tí năm thứ 21 (1840)  Ông 28 tuổi.

- Tháng giêng, nhân tết Nguyên đán, vâng ân chiếu, nguyên bị phạt bổng 1 tháng, nay được tha miễn.

- Tháng 4, phạm vào việc viết nháp lời chỉ, tra cứu không chu đáo, bị giáng hai cấp lưu 24 . Gặp tiết Ngũ tuần đại khánh của vua Minh Mạng, được thưởng sa màn cùng được khai phục một cấp.

- Tháng 10, can việc sửa chữa sai lầm sách Tập vận, phần biên năm hai mươi bị giáng 1 cấp lưu .

- Tháng 12, thăng thụ 25 Chủ sự ty bộ Lễ, mang hai cấp giáng lưu, vẫn sung Hành tẩu Viện Cơ mật.  

Tân sửu Thiệu Trị năm đầu (1841)  Ông 29 tuổi.

- Tháng 5, gặp đại lễ Đăng quang, vâng tuân ân chiếu, nguyên giáng hai cấp lưu, được khai phục hết.

- Tháng 7, vâng sung hộ giá đại lễ Ninh lăng được thưởng kỷ lục một lần.

- Tháng 10, thăng Viên ngoại lang ty bộ Lại, vẫn sung chức Hành tẩu Viện Cơ mật.  

Nhâm dần năm thứ 2 (1842)  Ông 30 tuổi .

- Tháng giêng, vâng sung Bồi tự, được thưởng kỷ lục một lần. Vâng sung hộ giá Đại giá Bắc tuần, được thưởng tiền và quần áo.

- Tháng 5, được sung làm Đồng khảo trường thi Hội ban văn 26 .

- Tháng 6, vì can việc tra cứu không chu đáo công trạng của Vĩnh Tế 27 bị phạt bổng 2 tháng ghi vào sách.  

Quý mão năm thứ 3 (1843) Ông 31 tuổi.

- Tháng 3, gặp đại lễ Thăng phối, được thưởng bạc cùng những lần bị phạt bổng đều được tha hết.  Vâng sung làm Chấp sự , được thưởng kỷ lục một lần.

- Tháng 5, vì can tội lấy trộm thẻ bài đeo bị phạt bổng ba tháng ghi vào sách.

- Tháng 7, thăng thưởng  Lang trung bộ Binh.

- Tháng 10, sung giám khảo ban văn khoa thi Hương trường Hà nội.

- Tháng 11, can tội trễ nãi đường về, bị phạt bổng ba tháng  ghi vào sách.  Can việc để thuộc ty viết nhầm Tống công Hợp làm Phạm văn Hợp, bị phạt bổng 2 tháng ghi vào sách. Vâng tuân ân chiếu, các lần phạt bổng đều được tha miễn.  

Giáp thìn năm thứ 4 (1844)  Ông 32 tuổi.

- Tháng 3, vâng sung làm Chấp sự, được thưởng một chiếc ngân tiền cùng kỷ lục một lần. Sung làm Đồng khảo trường thi Hội ban văn 26 . Thực thụ Lang trung bộ Binh.

- Ngày 17, tháng 7, Nhụ nhân Trinh Hiếu mất, ông xin nghỉ để lo liệu việc ấy. Bấy giờ ông có làm câu đối thờ như sau: - Tí ấm hậu đồng căn, dịch thế trâm anh đa thọ phúc; - Huân cảo sùng biệt tự, bách niên công đức đẳng di mưu. (Vũ Bạch Ngô dịch : Chở che gốc rể, bao đời nhận phúc trâm anh; - Thờ phụng khói hương, trăm tuổi còn ơn mưu lược). Khi tuổi đã về chiều, ông sai con dòng thứ là Hoài Tĩnh phụng thờ hương hỏa, chẳng may ông này chết vào tuổi trung niên khiến cho thần chủ Nhụ nhân phải rước về thờ ở miếu riêng của nhà.

- Tháng 8, can việc thuộc ty chép nhầm Phạm Văn Vinh làm Nguyễn Văn Vinh, bị phạt bổng 6 tháng.  

Ất tị năm thứ 5 (1845)  Ông 33 tuổi.

- Tháng 2, điều đi nhậm chức Án sát sứ Thanh hóa .

- Tháng 10, vì sửa sang xong thuyền bè ở tỉnh, được thưởng kỷ lục một lần.  Nhờ tỉnh hạt duyệt tuyển lính vượt số lượng, được thưởng kỷ lục một lần.  

Bính ngọ năm thứ 6 (1846)   Ông 34 tuổi.

- Tháng 6, can việc xưởng tạm ở thuỷ đồn bị cháy, bị phạt bổng 6 tháng ghi vào sách.

- Tháng 8, làm Đốc biện đóng xong thuyền Tường nhạn, được thưởng gia 1 cấp.  Đóng xong thuyền vận tải đường biển, được thưởng kỷ lục 1 lần. 

 Đinh mùi năm thứ 7 (1847)  Ông 35 tuổi.

- Tháng 10, gặp đại điển Đăng quang, được thưởng đồng quân công một cấp.  

Mậu thân, Tự Đức năm đầu (1848)  Ông 36 tuổi.

- Tháng 3, viết nhầm đội trưởng Nguyễn Sĩ  Án làm Nguyễn An, bị phạt bổng 6 tháng ghi vào sách.

- Tháng 4, vâng tuân ân chiếu, được thưởng gia một cấp.

- Tháng 6, vâng Dụ cho thăng  thự 25 Thái bộc tự khanh, Biện lý công bộ sự vụ.

- Tháng 8, nhờ lựa và nộp xong các loại đá cho công trình Xương lăng ở Thanh hóa, được thưởng kỷ lục hai lần.

- Tháng 10, Khâm sai làm phó chủ khảo trường thi Hương ban văn 26 ở Hà nội, lấy đỗ cử nhân 28 người. Giải nguyên là Nguyễn Huy Du ở Thanh trì.

- Tháng 12, can việc phê lặp chữ THỨ ở mặt quyển 28 của Tú tài Đào Khắc Thường, bị phạt bổng 2 tháng ghi vào sách.  

Kỷ dậu năm thứ 2 (1849)  Ông 37 tuổi.

- Tháng giêng, can việc phái người đi công cán phía Đông  về, chuẩn bị không đầy đủ, bị phạt bổng năm tháng.

- Tháng 3, sung làm Tri cống cử trường thi Hội ban văn, lấy đỗ Hội nguyên Lê Đình Diên.

- Tháng 4, vì can việc viết trùng lặp trong việc bản nháp ân chiếu, bị phạt bổng một năm ghi vào sách.  Can việc thuộc ty không cứu xét chuyện phát lương cho lệ dịch cho các huyện của Thừa thiên, bị phạt bổng ba tháng.

- Tháng 6, gặp đại lễ bang giao, vâng sung việc chiêu đãi cùng chấp sự .

- Tháng 8, vâng Dụ chuẩn sung thực thụ Thái bộc tự khanh, làm Giáp Phó sứ sang Thanh đáp tạ lễ bang giao đã xong (quan Thị lang bộ Lễ là Phan Huy Vịnh làm Chánh sứ, Hàn lâm viện học sĩ là Lê Đức làm Bồi sứ).

- Tháng 10, quan Thượng thư ngày trước được  truy tặng Phụng nghị Đại phu, Hàn lâm viện Thị độc, thụy Đoan Trực. Đoan nhân Thái từ ngày trước được phong Chánh ngũ phẩm Nghi nhân. Ông dâng biểu tạ ơn.

- Tháng 11, vâng chỉ ra Hà nội sửa soạn công việc đi sứ.

- Tháng 12, vì có lần sung việc chiêu đãi cùng chấp sự, được thưởng gia một cấp.  

Canh tuất năm thứ 3 (1850)  Ông 38 tuổi.

- Tháng 2, vâng chỉ đình việc đi sứ, trở về Kinh giữ nguyên chức cũ. Trước đấy có tiếp được văn thư của nhà Thanh gửi đến nói vua Thanh nghĩ tình việc đi sứ đã vài lần chuẩn bị rồi đình hoãn, vậy hãy đợi lần tới, gặp kỳ tuế cống hãy sai khiến luôn một lần, thế nên có mệnh lệnh ấy.

- Tháng 3, ông từ Hà nội về, vẫn giữ chức Biện lý bộ Hộ như cũ.

- Tháng 4, con là Hoài Vĩnh ra đời.

- Tháng 7, kính dâng Dụ chuẩn cho dùng nguyên hàm điều sang giữ chức Biện lý Lại bộ sự vụ. Vâng Dụ chuẩn cho kiêm quản ấn triện Đại Lý tự.

- Tháng 8, nguyên vì trong 3 năm ở tỉnh Thanh hóa có thành tích xét án và thu thuế dư nhiều được nghị tự 29 thưởng gia một cấp, kỷ lục ba lần.

- Tháng 9, kính vâng dụ chuẩn cho thăng thụ Bố chánh sứ tỉnh Gia định.  

Tân hợi năm thứ 4 (1851)  Ông 39 tuổi.

- Tháng 4, vâng dụ chuẩn cho điều sang chức Thị Tả thị lang bộ Công, sung biện Nội các sự vụ.

- Tháng 5, vì giặc Thanh 30 cướp bóc thương thuyền tỉnh Gia định, bị phạt bổng một năm ghi vào sách.

- Tháng 6, can việc thuộc viên ở Các là Nguyễn Đăng Tuyển nhằm sót văn thư cháy sót 31 bị phạt bổng 3 tháng ghi vào sách. Vâng giữ việc phúc duyệt quyển thi trường 4 của chế khoa.

- Tháng 7, vì lúc ở Gia định có qua lại coi sóc làm thêm thuyền vận tải  đường biển, được thưởng kỷ lục một lần.

- Tháng 8, kính tuân ân chiếu tha miễn việc phạt bổng 3 tháng ghi vào sách.

- Ngày 13 tháng 8 nhuần, cùng với bạn đồng các là Nguyễn Cửu Trường, Nguyễn Văn Phong, Nguyễn Xuân Thọ vâng Dụ làm một thiên đối sách theo bài thi văn sách Cát sĩ.

- Ngày 22 tháng 8 nhuần, vâng ứng chế bắt chước bài Thu thanh phú của Âu Dương tử đề vào bức vẽ làm ruộng, dệt vải, mỗi bức một bài thất ngôn cổ phong phóng vận.

- Tháng 11, vâng sung mang Dụ văn, vật dụng thưởng cho quan Thái tử Thái bảo Đô thống Võ lao hầu Tạ Quang Cự mừng thọ 80 tuổi.

- Tháng 12, can việc Các thuộc chép thơ ngự chế chưa đúng kiểu chữ mà không duyệt lại, bị phạt bổng một tháng. Can việc quên, sót hóa giá của Tuần ty khi còn ở bộ Hộ, bị phạt bổng một tháng ghi vào sách.

- Con là Hoài Duệ ra đời.  

Nhâm tí năm thứ 5 (1852)  Ông 40 tuổi.

- Tháng 3, vâng sung làm Bồi tự, được thưởng kỷ lục một lần.

- Mồng 3 tháng 4, vâng viết thảo Dụ văn sức cho Quản Đô sát viện Hoàng Thu tâu các việc. Ông cùng Nguyễn Cửu Trường, Nguyễn Văn Phong đứng tên. Cạnh các khoản, vâng được châu khuyên, lại được châu phê : Khá.

- Ngày 17 tháng 5, Nội các dâng phiến tâu : Quan ngự sử là Nguyễn Thái tâu : “Nay thấy nắng mưa sai với tiết thường, vâng xin oo 33  sai quan cầu đảo, xin cho sắp tới có gặp Khánh tiết, việc tấu nhạc ban yến xin tạm đình chỉ”. Các chuyện ấy bọn thần trộm xét thấy việc thiết triều thì nề nếp lễ nhạc đã thành bình thường, còn Khánh tiết ban yến là vâng Hoàng thượng ban ơn rộng rãi. Vả lại nay kính gặp Khánh tiết Thánh thọ, mọi nhà đều vui mừng vâng theo nề nếp lễ nghi long trọng mà Khoa đạo ấy lại có sớ nọ thì bọn thần ngu dốt cạn nghĩ chẳng dám bắt chước. Châu phê : Về khoản ấy, bộ Lễ chiếu theo sự thể khinh trọng mà châm chước tâu liệu, khỏi phải ấn định.

- Mồng 8 tháng 6, kính vâng Dụ, trong đó có khoản: ngày 20 tháng này, sách phong Hồng Kiện làm An phước Quận công, phái Thự Tả thị lang Bộ Công sung biện Nội các sự vụ là Trần ... vâng sung làm Khâm sứ, đến ngày ấy chiếu y theo nghi thức mà làm lễ tuyên phong.

- Tháng tám, gặp ngày Khánh tiết Vạn thọ, các lần bị phạt bổng, vâng ân chiếu được tha miễn.

- Tháng 10, can việc viết nháp sắc thần không chu đáo, bị phạt bổng một tháng ghi vào sách.

- Ngày 18 tháng 12, dâng phiến tâu : Hôm trước vâng sắc, trước đây bảo cho Các tra Tứ thư , trích cách ngôn ra biên rõ mười điều. Nay tra chữ BIỀN được 10 chữ, Bộ kiểm lại, chọn hai chữ nào có thể đặt tên thì viết ra dâng lên xem. Bọn thần tuân đem kiểm rõ các chữ BIỀN, hiện được bốn chữ, kính xin kê hết để dâng lên, chờ vâng chọn lựa định đoạt để tuân hành. Lại lần này bọn thần tuân mệnh sức cho các thuộc viên Lê Bá Thận, Trần Đổ Tích, Lê Quang Huân vâng đem Tứ thư kiểm tra kỹ, chiếu theo loại mà biên ra, lại xin thêm phần Trời đất, Vua tôi, mỗi thứ một tắc, gồm thành 12 tắc. Nay xin lãnh bản gốc ra, lại do bọn thần lựa lại. Chép cho tinh tế trình lên. Châu phê : đặt tên là Tứ thư loại biên.  

Quý sửu năm thứ 6 (1853)  Ông 41 tuổi.

- Tháng giêng, vâng Dụ chuẩn cho thực thụ Tả thị Lang bộ Công, vẫn sung biện Các vụ.  Vâng ân chiếu, tha hết các khoản phạt bổng.

- Ngày 20, Nội các dâng phiến tâu : Lần này bọn thần tuân kiểm Tứ thư loại biên, chiếu loại biên tập trình lên. Kính vâng châu phê, trong đó khoản về nhân sự loại nên chia làm năm mối: Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín để tiện kê tra, nếu dư câu không hợp đưa lộn vào thì nên châm chước thêm danh mục cũng được. Bọn thần tuân vâng kiểm tra lại, phân loại biên tập theo năm mối Nhân, Lễ, Nghĩa , Trí, Tín. Lại xin thêm Hiếu, Thành, Tu tỉnh, Ứng thù là 4 mục chiếu loại kê vào. Các câu thừa ra, hoặc nói về việc , hoặc nói về lẽ, hoặc gom toàn thể mà nói, hoặc chủ một việc mà phát, nếu phân loại đại khái sợ e lộn xộn - Lại như trong truyện: ham học gần bằng Trí, hăng làm gần bằng Nhân, biết xấu hổ gần bằng Dũng... Các câu Nhân là lòng của người, Nghĩa là đường của người trong sách Mạnh tử, nếu cứ theo câu mà phân tích thì khó khỏi chi li, xin cho gom vào một mục Đạo lý. Về thứ tự biên tập, xin đem mục Đạo lý kể trên chia ra 5 mối: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Tiếp theo là 4 mục: Hiếu, Thành, Tu tỉnh, Ứng thù đều y theo thứ tự của Tứ thư mà biên - Kính xin chấp thuận cho.

- Ngày 29, Nội các dâng phiến tâu rằng: Vâng theo Châu phê, giao cho Nội các tra ngay Đường thi như : Cô nhạn nhập quần, xuất quần 34 , hai cách đó có từng dùng chưa, và lục ra số bài có dùng mỗi cách dâng lên. Bọn thần chiếu theo Đổ thi tập chú có nói : Nguyên dùng vần Ngư mà bắt đầu bằng cách mượn vần Ngu thì gọi là nhập quần. Nguyên dùng vần Thanh mà sau mượn vần Canh thì gọi là xuất quần. Hai cách đó, trong Đường thi chưa từng thấy nhiều, chỉ tra được một bài theo phép Cô nhạn nhập quần, một bài theo phép Cô nhạn xuất quần, vâng lệnh chép trình lên. Nay kính. Châu phê: Hãy tra cứu thêm. (Vâng tra ba bài theo cách Cô nhạn nhập quần)

- Ngày 30, Nội các dâng phiến tâu: Tra ở Các, nguyên có giữ một bộ Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn triều Lê soạn, viết rõ việc quốc triều khai thác từ Quảng bình vào Nam, các mục hình thế núi sông cho đến pháp lệnh, thuế má, nhân tài, phong tục, đem so với sách quan Lang trung Nguyễn Điền dâng, nhất nhất đối tra mục lục, số quyển cùng sự trạng được ghi, đôi bên không sai khác gì nhau nhưng văn nghĩa có nhiều chỗ giản lược, nét chữ có nhiều sai sót. Chỉ có cuốn thế phả cùng cuốn Tạp lục có thêm hai trang Tựa, so với sách mà bọn thần vâng giữ thì vốn không có cái trang ấy. Bộ Phủ biên tạp lục giữ ở Các đã qua tay Sử quán nhận lãnh tra cứu lâu ngày, giấy chữ bị khuyết và rách nhiều. Nay viên quan nọ dâng bộ sách ấy, trong đó có một bản Thế phả có chép thứ tự các đời của liệt thánh, xin cho Các của thần được vâng cất giữ còn hai bản Tạp lục thì nên thu lại để giúp cho việc tra cứu sớ văn, một bản xin lưu giữ.

- Tháng 2, vâng sung làm Bội tự, được thưởng kỷ lục một lần.

- Ngày 21, Nội các dâng phiến nói: Tháng 9 năm Tự Đức thứ 3, Các của thần tra kiểm thơ Ngự chế tập đầu hiện được 389 bài, đóng thành 6 cuốn, 185 trang, xin chiếu theo thời Minh mạng, Thiệu trị, để phân biệt tiếng mỗi thời, xin vâng khắc in ra lần này. Kính vâng Châu phê: “Ta dư lại bấy nhiêu trứ tác tình cờ, bất quá cũng chỉ là chuyện  học  cách  đi,  bắt chước cách  nhíu màysup>35 thế thôi, huống chớ số bài còn ít chưa đủ làm thành tập, đợi sau này sẽ hay”. Bọn thần xin tiếp tục, lại kiểm từ năm ấy đến nay nối thêm được 385 bài, đóng thành 6 cuốn 188 trang, họp cả trước sau thành 744 bài, số cuốn cọng thành 12 cuốn, số giấy cọng thành 272 trang. Ngữa thấy thiên chương36, ngày càng dồi dào vẻ sáng chiếu dội, xin giúp cho lê táo sống lâu 37 , trang hoàng thành tập, để sớm làm tăng vẻ sáng cho nền văn giáo. Nếu như được cho phép, Các của thần sẽ lựa chọn thư thủ 38 kính viết một vài trang dâng lên , vẫn sức thợ Thanh là Cam Quang Hưng đã từng khắc năm trước cùng chọn vài ba tay thợ khéo chính ngạch khắc làm mẩu dâng lên, chờ vâng cho Quốc sử quán chọn ngày tốt để khởi công làm. Châu phê : Hãy đợi so lại cho nhiều rồi hãy truyền lo liệu.

- Tháng 4, sung chức Duyệt quyển kỳ thi Đình, lấy đỗ 13 người, đỗ đầu là Nguyễn Đức Đạt, tiến sĩ cập đệ Đệ nhất giáp, đệ tam danh 39. Xong việc thi Đình, được ban yến cùng thưởng một chiếc trâm bạc chạm hoa, 2 tấm đoạn mịn.

- Ngày mồng 8, Nội các dâng sớ tâu: Năm ngoái, phái viên đi phương Đông có mua 2 bộ sách Ngũ kinh và Tứ thư đại toàn, hiện do Quốc sử quán đem về cất. Bọn thần vâng thấy hai bộ sách ấy hàng ngày cần kê cứu hoặc các trường thi Hương thi Hội đều thường xin lãnh vì cần gấp, cùng năm trước Quốc tử giám với các quan Đốc học, Giáo thụ, Huấn đạo các tỉnh và các Nha môn đều xin ban ơn cấp cho mỗi nơi một bộ sách ấy. Vì để đã lâu ngày không thể không bị sâu mọt làm hư rách, mà sách ấy rất quan hệ cho giới học giả giảng dạy, mỗi nha Học chánh chỉ có một bộ, nghĩ cũng là quá ít. Nay bản nọ trước đây do phái viên mua ở Thanh chỉ có một bản in. Nay xin chi tiền và giấy tốt in 4 bộ chia giao cho Nội các cùng viện Tập hiền mỗi nơi 2 bộ vâng giữ cùng chi giấy sơn bối ấn loát 160 bộ. Khẩn xin ban ơn cho các giảng đường tôn học, quốc học 40 cho đến Đốc học, Giáo thụ, Huấn đạo ở các tỉnh và các nha môn mỗi nơi một bộ ngõ hầu dạy và học được rộng rãi.

Ngoài ra giới sĩ nhân dạy và học phần nhiều là mua các cuốn rút gọn ở Hà nội, quá ư giản lược, trong đó kẻ mua được kinh, truyện đại toàn thư không có mấy ai. Nay xin cho khi việc ấn loát nhà nước xong rồi, nếu thần dân có ai tình nguyện đem giấy đến in, xin cho phép nghe theo để họ in dùng, cho sách ấy truyền bá trong ngoài để cùng nhau dạy và học, ấy là nhờ 00 rất có lòng ban ơn lớn cho sĩ lâm vậy. Châu phê : Trẫm đã lưu ý rồi. Nếu bộ Uyên giám khắc xong cũng in cấp một thể, số còn lại thì bẩm lên.

- Can việc viết nháp lời chỉ không chu đáo, bị phạt bổng hai tháng, ghi vào sách.

- Mồng 9 tháng 5 vâng Dụ, trong đó có khoản nói: Lễ canh tịch là có xôi cúng tế và trọng nghề nông làm gốc mà làm trước thiên hạ. Năm nay trẫm sẽ thân hành cày tịch điền, phái cho Tả thị lang bộ Công, sung biện Nội các sự vụ là Trần ... lo việc dâng đủ roi cày. Lễ canh tịch xong, được thưởng xấp sa.

- Ngày mồng 7 tháng 6, Nội các dâng sớ tâu: Vừa rồi, vâng giao một bản Tứ thư dành cho nữ giới, sắc cho hạ thần chiếu theo chính văn trong sách đó, lựa câu mà khuyên thêm, chú thích thêm, lựa câu mà chấm 41 , tất cả đều được dịch âm, dịch nghĩa tường tận, chọn lựa thư thủ mà viết và chú thích dâng lên vua xem. Bọn thần tuân vâng đem chính văn và chú thích sách ấy viết trước một chương đầu làm dạng bản dâng lên. Châu phê: Việc chú giải chỉ cần nghĩa cho thông thuận là được . Nếu chữ đâu giải đấy thì không khỏi sự gảy gọn bị đảo lộn đi khó đọc, cảm thấy vô vị 42 . Nay bọn thần lại lần nữa chiếu theo chính văn, theo  Âm nghĩa mà chú thích, kính đem một thiên dâng lên xem hợp hay không, vâng chờhuấn thị để lo liệu. Lại như chú thích thì phải chú theo chính văn với xuất xứ, sự tích, ý nghĩa của nó, trong đó câu văn có dài ngắn không đều, nếu cứ thích rõ ràng thì không khỏi nạn chữ đâu giải đấy. Vả lại ý nghĩa chính văn cũng hay trùng lặp, lời chú của nó có nên hay không nên theo câu mà điểm thêm cho đỡ phải dịch rõ chờ chỉ thị. Đây là dạng bản một thiên dịch rõ, kính xin trình lên . Nay kính. Vâng được châu điểm, lại được vâng Châu phê: Sau phỏng theo đó mà chú dịch cho rõ ràng.

- Ngày 22, Nội các dâng phiến tâu: Tháng trước, bộ Lễ đã lần lượt đệ nạp số sách các tỉnh Bình định và Quảng nam   mua ở các hiệu sách là 224 bộ, trong đó sách quan chưa có 62 bộ, đã có 162 bộ, bọn thần đã kê vào phiến tâu lên. Châu phê: Thu cả sách chưa có 43 . Lại vâng Châu phê: Sách quan đã có, các Bộ kiểm lại sao cho thỏa đáng với nhu cầu, đến như sách có tì vết vẫn cho thu thêm để xem cuốn nào vô dụng thì giao lại cho họ. Bọn thần tuân lệnh, sức cho những người ở Bí thư các 44 kiểm tra lại rồi mới mua nộp lên. Trong các hiệu sách có 3-4 bộ sách cũ có cắt dán thêm vào, những chổ tì vết cũng không quan ngại lắm, còn lại các bộ hiện được tinh hảo vẫn xét thấy các sách ấy đều thuộc Kinh, Sử, Tử, Tập, không có ngoại truyện, tiểu thuyết. Các thư mục đến kỳ kê cứu đều thuộc loại hữu dụng.

Bọn thần thiển nghĩ, Bí thư các là nơi cất giữ sách và tranh, số thư tịch hiện giữ nhiều không quá 4-5 bộ, trong đó, một vài bộ đã bị nhậy làm rách, như thế, tưởng cũng chưa phải là đầy đủ. Như năm trước, bọn thần tuân mệnh khai đơn thanh toán, gởi mua mỗi hiệu phải đủ 3-4 bộ nhưng lần lượt các tỉnh đệ nạp, mỗi hiệu chỉ mới 2-3 bộ, chưa đủ số đã đưa. Nay nếu kiểm tra lại các hiệu sách thì thảy đều thuộc loại “nhà con, cửa lấp” 45 thế cũng khó mua cho nhiều được. Đám con buôn người Thanh ấy không khỏi vận tải quanh co, tỉ giá ngày càng thấp, nếu vâng lệnh gửi mua thì đám lái buôn người Thanh chưa chắc không mượn cớ này nọ để kéo dài. Còn thư tịch các bộ sách do các tỉnh đệ nạp ngữa xin ra ơn cho thu nhận hết để đủ tra cứu khi cần. Châu phê : Chuẩn y cho thu cất.

- Ngày 29, tháng 6, Nội các dâng phiến tâu: Tháng 6, năm trước, vâng sắc chữ bộ Vận hải, đến hết năm nay, bọn thần đã vâng xin triển hạn, vậy theo các khoản phê bảo, bọn thần sức cho các viên Phân kiểm, Kiểm biên, hết lòng lo liệu, đều đã xong bản thảo, chuyển cho thư thủ viết kỹ, xin trích đem số đã viết xong là hai tiêu, 4 hào, 8 tề, 14 diêm, 4 vần, gồm 18 bản dâng lên.

Lại xét thấy bộ sách ấy ước chừng trên dưới 5 vạn trang, thư thủ mỗi người viết được chừng 150 trang mỗi tháng. Nếu số thư thủ là 50 người thì cuối năm mới xong, nhưng thư thủ hiện nay chỉ có 18 người, biết rõ là cần người. Xin lựa thêm trong số thư thủ dự sát hạch hiện nay, chọn ai viết chữ tốt và chững chạc lựa lấy 32 người, hợp với 18 người đã phái để đạt số 50 người, theo sở ấy cấp cho lương ăn mà lo công việc. Còn những viên mục Kiểm biên trước đây nay tuy bản thảo đã thành, công viết kẻ nhiều người ít mà bản thảo hiện vừa kiểm duyệt, có giao viết lại tất phải theo từng ngày, dựa theo từng thư thủ viết được bao nhiêu phải gia tâm so lại để tránh sai ngoa . Về khoản cấp lương ăn, xin chiếu cấp như mức cũ. Còn hai bản thảo Tứ chi, Lục ma hoàn thành năm trước đã có phiến trình dâng. Tiếp đó, đã nghĩ định phần Phàm lệ để dâng tiếp. Dạng bản này đối chiếu với phần Phàm lệ hơi có chút sai khác, nay xin đem hai bản thảo ấy chép kỹ lại cho được phù hợp với nhau.

Còn như việc sung phái những người của sở ấy thì trước đã từng vâng châu phê: Sau khi xong việc, người nào siêng, nhác, hưỡn, gấp thì thưởng phạt riêng. Vâng tuân, những viên Phân biên, Phân kiểm, Kiểm thư, Thư thủ ai siêng, nhác, xin đợi xong sách sẽ tuân mệnh thưởng phạt riêng. Nay có Thư thủ đã sung vào Thủ dịch là Trần Nhật Quýnh, các thư thủ Lê Văn Hóa, Nguyễn Văn Huyên, Hoàng Công Thưởng trong một năm nay, ngày đêm phục dịch siêng năng, kiểm soát thư tịch cùng sao chép số nhiều, có chút khó nhọc. Chiếu mức cũ thì 4 người này mỗi người mỗi tháng được cấp 1 quan 5 tiền, nay xin chuẩn y cho 4 tên ấy tăng thêm lương tháng mỗi tên 5 tiền cho đủ số hai quan, để người nhanh nhẹn biết được sự khuyến khích, kẻ chậm lụt cũng biết hăng hái cố gắng để ra công viết cho nhanh nhẹn.

- Tháng 7, được vua ban tên Tiễn Thành.

- Tháng 8, hai bộ Lại và Binh dâng Đại kế sách 3 năm. Vâng Dụ trong có khoản nói rằng Thị lang Nội các là Trần Tiễn... có khả năng cảm nhận, phấn đấu, siêng năng, thận trọng, gấp lo việc chung, thưởng gia một cấp.

- Can việc Trấn định quân công bị viết trái lệ mà không hạch ra được, bị phạt bổng 3 tháng ghi vào sách.

- Tháng 10, can việc chép sót chữ mà không hạch ra được , bị phạt bổng 3 tháng ghi vào sách.

- Tháng 11, được ban dầu bạc hà, dầu đinh hương, rượu thông trị bách bệnh, mỗi thứ một chén. Dụ rằng để khử hàn, giải thấp để tỏ ý thể tất.

- Tháng 12, Nội các dâng phiến tâu: Kính vâng Châu phê, Các đã sức cho Trần Đổ Tích, Lê Quang Huân kiểm rõ 19 bài thơ cổ cùng thơ họ Tô, họ Lý và tiên 46 của danh nhân các đời trước, chú thích phê khuyên, điểm đều chép ra tinh tế để dâng gấp. Bọn thần đã ra sức cho hai viên ấy, tra rõ các tập được 19 bài thơ cổ cùng thơ Tô, Lý. Số đăng tuyển có: Chiêu minh văn tuyển (Lý Thiện chú, Diệp Thụ Phan bình điểm) , Cổ thi qui (Đàm Nguyên Xuân, Chung Bá Kính bình điểm) , Cổ thi trực giải (Diệp Hi Ngang giải), Cổ thi nguyên (Thẩm Đức Tiềm bình điểm), Thi pháp nhập môn (Du Nghệ bình điểm) , Thi pháp độ châm (Từ Văn Bật giải), Cổ thi tiên (Văn Nhân Đạm, Trương Canh giải chú) . Những lời bình cũng thấy một hai câu tản mạn ở thi xúc. Nay xin cứ tiên 46 các nhà có lời bình mang ý khác lạ thì nhất nhất đem chép cả ra, nhưng vẫn lấy hoặc họ, hoặc tên các nhà ấy, chỉ dùng một chữ mà bao trùm. Các lời chú những bài tiên đã dẫn chứa điển cố cùng lời bình hơi giống nhau thì chỉ chú rõ cho bớt phiền nhũng. Nay việc chép tinh đã xong, trong số khuyên điểm 41 của các nhà thì hai nhà Đàm và Chung cùng bình, nghĩ xin đều dùng dấu son, Phan dùng dấu mực, Thẩm dùng dấu xanh, Du dùng dấu vàng để phân biệt nhau.

- Can việc khi ở Gia định đem mân tiền 47 kê vào khoản quyên miễn 48 , bị phạt bổng hai tháng ghi vào sách.  

Giáp dần năm thứ 7 (1854) Ông 42 tuổi.

- Tháng giêng, Nội các kính nghĩ lời văn phong cáo dâng lên. Châu phê: Thể văn chiếu, chế, hoặc dùng cổ văn, hoặc dùng biền lệ, cần phân biệt Dùng văn cách như thế khá là hèn yếu, bọn ngươi phải lấy văn thể Hán mà giảng luyện cho tử tế ngõ hầu phục cổ .

- Tháng 2, vâng sung làm Bồi tự, được thưởng kỷ lục một lần.  Nội các kính thưa lên: Ngày tốt Đinh dậu, tháng 2 mùa Xuân Giáp dần, kính xin Hoàng đế thân hành tế Văn miếu.

- Tháng 3, tên lính ở ty Điển hộ Càn tín là Trần văn Cam lấy trộm tiền quan của ty này bị bắt. Bộ xét cho là phạm tội chém, chuẩn cho đi đày 5 năm. Nội các cho là số tiền ấy đã trích ra cấp phát chứ không phải còn tại kho, huống chi đã thu lại được rồi, xin giảm bớt chút ít: phạt đòn 100 gậy rồi cho về đội ngũ làm khổ sai. Châu phê: Bộ xét đã hợp, bọn ngươi đã dựa vào cái gì mà dám xét càn như thế ? - Tiếp đó dâng phiến xin chịu lỗi.

- Ngày mồng 4 tháng 7 vâng thảo phiếu trung phong Diên Khánh công làm vương 49 , ban thụy Cung Chính cùng cho trưởng tôn được tập ấm tước hầu. Bản thảo bài Dụ trình lên, Ông cùng Võ Duy Ninh, Nguyễn Tư Giản đứng tên. Châu phê: Khá hợp với đại thể.

- Tháng 10, được ân chiếu nguyên các khoản phạt bổng nay thu miễn hết.

- Tháng 11, can tội vào chầu trể nãi, bị phạt bổng 1 tháng   ghi sách. Can việc thuộc viên viết phiếu nhầm chữ húy, phạt bổng 3 tháng ghi vào sách.  

Ất mão năm thứ 8 (1855)  Ông 43 tuổi.

- Tháng 2, vâng sung Bồi tự, được thưởng kỷ lục một lần.

- Ngày 10 tháng 3, dâng phiến tâu: Tháng trước, quan bộ Lại có dâng tập tự50 , trong có khoản: Vâng cấp sắc văn xin khỏi phải nêu lại quán chỉ để bớt phiền toái. Bọn thần xét thấy các viên hậu bổ ở các tỉnh lâu nay được bổ Tri huyện thì trong sắc không thấy ghi quán chỉ, vì những người ấy khi phân phái chờ bổ, mỗi người đều có khai vào sách 23 rồi. Đến khi được vâng bổ làm Tri huyện một huyện nào, họ được xem là có phẩm vị hơi cao, há có tệ trá mạo được hay sao? Phàm những tiến sĩ, phó bản là số đã ít mà thứ tự trên bản đã phân biệt rõ ràng lưu phẩm ở đấy rồi. Nếu y theo Bộ xin ban sắc văn giảm ghi phần quán chỉ nghĩ cũng không trở ngại. Chỉ có điều là hạng ấy không nhiều, có làm cũng hơi rộn, còn như cử nhân, giám sinh cho đến hạng phụ thuộc, mới bắt đầu nhận chức, phẩm trật khá thấp, là số khó làm sổ. Tuy họ mới xuất thân, có đủ ngạch tịch để có thể căn cứ nhưng họ tên trong thiên hạ trùng lặp nhau cũng không ít, nếu không ghi rõ quán chỉ họ thì lấy gì mà phân biệt ? Lúc mới đầu lập ra phép tắc ấy là để phòng chuyện dễ đối mạo, nghĩ cũng chặt chẽ rồi, từ đó đến nay tuân hành chưa sinh mối tệ nào khác. Nay nếu lo nghĩ đến tình trạng dễ nảy sai lầm mà muốn đổi cho rối thì khó giữ cho khỏi sinh tệ khác. Vậy về các khoản ấy nghĩ nên giữ như cũ cho thỏa đáng. Châu phê: Làm y lệ cũ.

- Ngày 18, Nội các dâng phiến tâu: Nay vâng Châu phê: “Người không toàn tài tuy không dám đặt vào hạng ưu mà cho cùng một hạng bình, trong đó cũng có kẻ kia giỏi hơn người này cũng chẳng sao. Chiếu theo lệ đã làm của An giang: lấy hạng Bình làm hạng cao nhất để khỏi hỗn lạm. Các nha làm vậy quá câu nệ, e chưa xứng với ý trẫm cân nhắc tài năng mà dùng”. Bọn thần cung kính xem đi xem lại, ngữa thấy Hoàng thượng dốc chí tìm người tài. Cân nhắc xét soi phẩm cách dáng vẻ, muốn chỗ đã tinh càng thêm tinh, tuy vua nhà Hạ đã biết mà vua nhà Chu càng biết hơn, ngõ hầu không bị lỗi. Bọn thần vâng xét các tỉnh ở ngoài Kinh kỳ đã lần lượt dâng sách 23 lên, cùng một khoản Bình, ít thì 3-4 người, nhiều thì có khi trên dưới 40 người, trong đó không thể không có kẻ kia tốt hơn người này mà danh sách không phân biệt được, cứ đặt theo một lệ cùng hạng Bình, cân nhắc chưa chắc đúng cả, mới có như ý 00 phê bảo vậy.

Bọn thần trộm nghĩ tài năng phẩm hạnh hơn kém giữa số thuộc viên thì thượng ty các nơi ấy cũng biết rõ, nay cứ xin chuẩn y theo sự nhận hay không của họ. Bọn Các thần tuân vâng Châu phê kính chép giao cho hai bộ Lại và Binh tuân chép đưa cho các địa phương hiện đã đệ trình. Các nha ở Kinh, các tỉnh ở ngoài hãy giữ một lòng trung với việc công, sát hạch kỹ thêm, ứng với hạng Bình được mấy viên, nhưng ai xuất sắc hơn đều nên cước chú trong sách để đệ lên. Các nha, các tỉnh nên chiếu theo lần sát hạch này, hai danh sách văn võ những viên hiện dự vào hạng Bình, có ai khá nhất hãy xét kỹ cho phân biệt rõ ràng. Lại tư cho hai bộ ấy biết, cứ theo các tập danh sách nọ mà cước chú cho minh bạch để dâng lên cho xem xét để rõ hết người tài, phân biệt mà dùng khiến cho ai nấy đều được xứng đáng. Châu phê: Khá.

- Ngày mồng 9 tháng 5, vâng Thượng Dụ trong có khoản: Năm nay Trẫm tự cày tịch điền, phái cho Tả thị lang bộ Công sung biện Nội các sự vụ Trần Tiễn... dâng cái cày.

- Tháng 7, kính vâng Dụ nói: Mấy ngày qua, bọn Mọi hung ác Đá vách ở tỉnh Quảng ngãi tự tác không yên, nhiều lần cướp bóc dân biên cảnh. Lũ yêu ma đó chưa đáng để làm vấy nhơ ngọn giáo trời, nhưng dẹp hung bạo, đem yên vui cho người dân lành thì tất phải dùng võ. Hãy đến đấy, nổi giận một cơn để vững lòng ba quân ta. Đã phái Tổng đốc Nam NgãiTrần Tri sung làm Tổng thống quân vụ, Thự hữu tham tri bộ Lại là Võ Duy Ninh sung làm Tán lý quân vụ đem kình binh đi trước liệu cơ mà tiễu phủ 51.

Tiếp đó, Vũ Duy Ninh đau nặng, khẩn xin trả phẩm hàm về quê điều dưỡng. Xem bản tâu thấy tình cảnh và lời lẻ đều khẩn thiết, bất đắc dĩ phải chuẩn y lời xin vậy. Nhân nghĩ bọn ác man ấy lâu nay dựa rừng núi, cậy hiểm trở nấp như thỏ, luồn như chồn, biến hiện bất thường rình sơ hở để thủlợi. Binh đến thì trốn đi, binh đi thì quay lại. Xét về tài khéo, bất quá chỉ quen dùng mấy món nõ mạnh tên độc mà thôi chứ không hề có tài năng nào khác nữa, mà nõ mạnh bắn gấp há xa hơn được trăm bước, tên độc ngẫu nhiên có trúng cũng không thể sát thương nổi số đông, há sánh nổi hùng binh ta có đại bác, vũ dũng, tinh nhuệ? Không có chuyện đến mà không thắng, thế nên đánh chúng thật dễ vậy. Đến như việc núi khe hiểm trở, lam chướng khá thịnh, đồn lũy rộng rãi, lính tráng thưa thớt, thì khi có việc gấp, gọi vâng không được nhanh. Đến như bọn kia chỉ thấy quen việc cướp đoạt lại thêm không có Tù trưởng, quen thích làm càn, giả sử chúng dùng ơn mà kết hợp thì cũng khó mà phủ dụ, cứ như thế thì chúng cũng khó giữ vậy. 

Việc yên biên thùy chỉ có đánh và giữ. Bỏ hai chuyện đó thì đâu còn phương sách nào nữa? Đánh thì oai vang, chỉ được cái hiệu quả gần gủi, tạm thời. Giữ thì vỗ về mà ngăn ngừa, quả là ý đồ hay ho lâu dài. Cho nên nói rằng đánh dễ mà giữ khó là bởi cớ ấy. Nay muốn thành được kế sách lâu dài tất phải góp trí nên thành mới có thể được việc. Nay phái Nội các  Lang thị là Trần Tiễn ... lấy chức đó sung làm Tán lý quân vụ, lập tức đi ngay, chóng đến quân thứ 52 hội đồng với Trần Tri, tuân y lời Dụ tùy nghi lo liệu cho thỏa đáng, lập ngay công tích cho xứng sử xanh. Còn như Tổng thống Trần Tri, từ ngày tới quân thứ đến giờ đã hơn một tháng, sao lại không thấy thi thố gì, rũ tay áo điềm nhiên đứng xem đến nỗi lũ ác man còn dám nhiều lần lấp ló, tội bất lực ấy há cũng xấu hổ trong lòng, đáng đem quân điển mà thi hành kỷ luật, xử phạt cho nghiêm. Hãy rộng dung lỗi ấy, nay truyền chỉ thân sức để việc khiển trách trở thành hiệu quả. Vả lại lần này đại binh tập hợp đông đảo, uy thanh truyền xa mà chưa thể giáo hóa được hạng ngoan cố, chưa làm cho hồi tâm được kẻ hai lòng, há cứ dẫn đám đông đến chờ đấy mãi sao? Bọn khanh nên khích lệ tướng sĩ, phát triển mưu kế cho xong công lao một lần nhọc để chín lần nhàn, tất sẽ được thưởng, ai nấy hãy cố gắng lên.

- Cùng  Tổng thống Trần Tri dâng sớ xin phái thêm 2.000 lính Kinh và phái Chưởng vệ Chu Phước Minh, chỉ huy sứ Đào Trí chung sức đánh vào hai sách Minh Long và Suối Trá. Xin phái Tả bảo cùng lính Bình Định, Chu Phước Minh sung Đề đốc, Đào Tứ sung Tham biện.  Vâng Dụ: Tại Thứ 52 binh đã có bốn ngàn, như khéo dùng lo gì không hiệu quả? Nay hãy tăng binh thêm 1.000 để đánh diệt. Vả chăng, binh hợp lại tất mạnh, chia ra tất yếu, bọn ngươi cùng chọn thời cơ mà hành động, không được phái phát linh tinh, quay bên này mất bên kia nữa. Vâng chỉ chuẩn cho binh Quảng ngãi Bình định ở Thứ, kẻ nào lâm trận mà rụt rè không tiến lên phía trước thì chém trước tâu sau.

- Can việc khi ở Thứ để cho giặc Mọi lẻn đến, bị phạt bổng 6 tháng .

- Tháng 8, vâng Dụ bảo quân Thứ Quảng ngãi: Tổng thống, Đề đốc, Tán lý, Tham biện trước tiên phải hiểu thị các đồn Mọi ấy, như có sách nào đem trả lại số người và súc vật đã cướp, cùng đưa kẻ đầu tên đến quan xuất thú, triều đình sẽ cho hối cãi. Nếu sách nào không chịu hồi đầu, tức khắc đem binh đến đánh, phá tan hang ổ, kẻ gây tội ác sẽ bị trừng phạt mà kẻ vô tội cũng bị hại lây.

- Cùng Tổng thống Trần Tri dâng sớ tâu: Đã nhiều lần vâng hiển thị, trong số sách Mọi có nơi khá biết sợ sệt hối hận, khẩn nài xin cho lần hồi qui thuận. Còn các sách Minh long, Suối Trá, Nước chua, Nước Da thói cũ không chừa, hiện vừa hẹn kỳ kéo đến tiểu trừ. Vâng Chỉ dặn: Việc binh chỉ nghe nói vụng nhanh chứ chưa thấy nói khéo lâu. Bọn ngươi phải tìm cơ hội lo việc tiểu trừ. Sớm báo xong việc. Kính tuân ân chiếu tha miễn các lần phạt bổng .

- Tháng 9, được lính thị vệ đem ban các món: quế dùng trong Nội cùng dược phẩm Tử kim đính 53 . Được  thị vệ vâng mệnh mang cấp một chiếc áo mùa đông.

- Tháng 10, cùng Tổng thống Trần Tri dâng sớ tâu: Bọn ác man ra hàng đã nạp số hán tân 54 gồm 27 tên nam nữ, 30 con trâu. Số lính Kinh và lính bổ vụ các tỉnh đều triệt về. Lấy 1.000 dân lân cận lập làm 2 cơ nghĩa dũng, chia ban hợp với binh lính trú giữ. Số lính lệ đóng giữ các xóm ven cũng đều miễn đóng giữ nữa. Vâng Chỉ dặn: Hiện tại, số biền binh ở quân thứ nhiều người mắc bệnh, biền binh các tỉnh lân cận thuộc lớp phải đi từ đầu hay lúc trưng điều sau đó, đều về Quảng ngãi điều dưỡng. Số còn lại cứ giữ như cũ cho tiện.

- Can việc chép nhầm người chết là Đội trưởng Nguyễn Văn Hân làm Nguyễn Hân, bị phạt bổng 3 tháng ghi vào sách. Vì đánh diệt giặc Mọi, thu hồi dân trai tráng cùng khí giới, được thưởng kỷ lục 1 lần.

- Tháng 11, cùng Tổng thống Trần Tri dâng sớ tâu: Các giống Mọi Đá vách đã xin hàng. Xin cho số lính ở Kinh và ở các tỉnh lân cận được phái đi, nay cho triệt hồi về đội ngũ gốc.  Can việc bọn Phạm Chân bị phát giao quân thứ để hiện thục lại thả cho về Bộ là không hợp, bị phạt bổng 6 tháng ghi vào sách. Vâng Chỉ trong có khoản nói: Các sách Mọi ở tỉnh Quảng ngãi, đã có nhiều sách thu phục rồi, vậy những người sung Tổng thống trở xuống hãy về Kinh, về tỉnh làm chức vụ mình.

- Tháng 12, từ Quảng ngãi về sung chức Biện Các vụ như cũ.  

Bính thìn năm thứ 9 (1856) Ông 44 tuổi.

- Tháng giêng, được thưởng gia một cấp. Vâng Dụ nói: Năm trước, ác man ở Quảng ngãi không giữ yên tỉnh, đã sai bọn Trần Tri đốc suất quân binh chọn đường tiến tiễu. Tuy chưa được coi là xong việc nhưng chuyến đi ấy gay go, lam chướng khá gian lao, đã trù tính hay ho để sau đấy nên việc, cũng có chỗ đáng kể. Trong đó có Đề đốc Chu Phước Minh khá là đắc lực, nay chuẩn cho thăng Thự Thống chế. Còn đã sung Nguyên Tổng thống Trần Tri, Tán lý Trần Tiễn..., Tham biện Đào Tứ, mỗi người đều được thưởng gia một cấp để tỏ ý quí trọng.

- Tháng 2, vâng sung làm chấp sự lễ Đại tự 54b, được thưởng kỷ lục một lần. Thời hạn 3 năm khóa tích, sách văn ban bên bộ Lại thì cứ tính tại chức đủ ba năm mà không kể là chức gì, còn sách võ ban bên bộ Binh thì tính tại chức đủ ba năm mà phải nguyên một chức ấy. Nội các thấy qui định như thế không thống nhất nên xin giải quyết thu lệ của võ ban bên bộ Binh.

- Tháng 3, vâng Dụ chuẩn cho thăng thự Tham triộ Binh, sung Kinh diên Nhật giảng quan 55

- Tháng 4, bộ Binh tâu: Việc tuần tiêu của biền binh, lâu nay các tỉnh tổ chức không thống nhất. Nay xin y theo lệ của tỉnh Quảng nam, cứ ba tháng đổi một lần để theo chung một luật cho được vĩnh viễn. Kính xin chuẩn y cho. Can việc kiểm duyệt phiến phúc trình sai lầm bị phạt bổng 1 tháng ghi vào sách.  Can việc khi làm Các thuộc viết nháp lời chỉ lầm lẫn bị phạt bổng 1tháng ghi vào sách (một điều ở trên đều thuộc tháng 3) . Can việc thuộc ty viết lời chỉ lầm lẩn không hạch ra được, bị phạt bổng 6 tháng ghi vào sách. Bộ Binh tâu: Nay tiếp mật tư của quan Kinh lược sứ Nguyễn Tri Phương các khoản về tình hình bọn mọi. Bộ thần vâng chiếu các khoản, phần nhiều do đồn đãi. Tại Gia định, hiện vừa phái người dò xét nhưng quan Kinh lược cũng đã tư lại, tổng đốc An Hà là Cao Hữu Dực đã chỉnh lý theo lệ thường, cùng bàn bạc dự trù, nghĩ cũng đã chỉnh đốn biên cương để phòng bị trước khi xảy chuyện. Nay xin đem nguyên tờ tư ấy trình lên. Châu phê: Nên tư cho biên thần phải trấn tĩnh để xem cơ sự ra sao.

- Tháng 7, hai bộ Lại và Binh dâng đại kế sách ba năm. Vâng Dụ có một khoản: Tham tri Trần Tiễn ... siêng năng thận trọng, gặp việc thì chu đáo, thưởng gia một cấp.  Can việc phân phối nhầm lẫn số suất đội hậu bổ cho các tỉnh, bị phạt bổng   3 tháng ghi vào sách.

- Tháng 8, quân Tây dương gây sự ở vũng Sơn chà 56 cửa Đà nẵng tỉnh Quảng nam. Bộ Binh tâu xin tư sức cho tỉnh Quảng nam phái nhiều biền binh ngày đêm tuần phòng, như tàu Tây có lẻn vào bờ biển thì chận hỏi ngay cho chúng biết ta có phòng bị. Bộ Binh tâu: Càng ngày lính càng trốn thiếu nhiều mà lý do của tệ ấy thì có 6:

1/ Tổng lý giấu người giàu mà ép người nghèo.

2/ Tỉnh, phủ, huyện ít lưu tâm dò xét ngăn ngừa mà cứ dựa vào việc giải cấp của Tổng lý.

3/ Phái giải viên nhận hối lộ thả cho trốn hoặc cho lấy cớ ốm đau ở lại.

4/ Lính tráng du đảng, uống rượu, đánh bạc không có giới chức quản suất. Suất đội, Đội trưởng chứa dấu trong cơ mình.

5/ Quản suất bắt đi làm để lấy tiền, sai phái việc nặng nhọc.

6/ Lúc phải làm việc công trình, bắt phải mua vật hạng giá thấp, bọn lại dịch theo đó làm tệ thêm, tuy có cấp giá nhưng thế không thể không bắt lính đóng góp thêm, những người ở các Bộ, Ty quản suất bắt đi làm dịch vụ để lấy tiền, còn nhũng nhiễu nhiều cách khác nữa.

Xin nêu rõ thể chế để cảnh cáo. Châu phê: giao cho cơ quan Đô sát của bộ Binh dò hỏi cho ra sự thực mà trừng trị để khuyến khích.

- Tháng 9, bộ Binh tâu: Nay vâng 00 giao ra cho bọn Trần Hoằng ở quân thứ Đà nẳng dò hỏi tình hình tàu Đa sách của Tây đã trình lên một tập. Bộ thần vâng xét thuyền ấy là của bọn họ kết đảng với nhau chứ không phải là thuyền của Chánh phó sứ, lại cũng không phải là thuyền đưa thư, thì với việc cầu hòa, bọn ấy không can dự gì. Bấy giờ Lê Liệu có nói: sắp tới có làm việc gì do thuyền Đa sách nói ra thì bất quá thuyền ấy giở hàng ở Bỉ đệ. Thuyền Đa sách với ta vốn không can thiệp, nghĩ cũng không cần chuyện trò làm gì. Chỉ khi nào thuyền ấy có nói việc gì thì nên lấy lý lẽ ấy mà trình bày cho gãy gọn và vâng theo 00 đã phê mà tùy nghi trả lời. Giả sử có khoản nào trục trặc không hại lắm thì phi báo về Bộ ngay để chờ ban chỉ dụ mới chu đáo thỏa đáng. Châu phê: Chuẩn y.

- Mồng 3 tháng 12 vâng ứng chế bài Luận về sự hiếu danh và bài thơ thất ngôn luật Hà phòng, được chữ Hà, bài thơ ngũ ngôn luật Kinh diên tiến giảng.  

Đinh tị năm thứ 10 (1857) Ông 45 tuổi.

- Tháng 2, vâng sung chức Chấp sự lễ Đại tự, được thưởng kỷ lục một lần.  Được ban một bộ Tịch ung Canh ca tập.

- Tháng 5, can việc xét bổ suất đội Pháo thủ Thái Đông không làm nổi nhiệm vụ, bị phạt bổng 6 tháng. Tết Đoan dương, được ban yến và các món quà: quạt, khăn bịt đầu, trà, trái cây (vâng sắc dặn thành lệ từ đây trở đi) 57.  Can việc nguyên lúc ở bộ Hộ không hạch ra việc Công tử Hồng Tự lãnh tiền gạo thêm bớt, bị phạt bổng 2 tháng ghi sách.

- Ngày 16 tháng 5 nhuần, vâng họa nguyên vận thơ ngự chế 10 bài vịnh cửa Thuận an (Cửa Thuận an - Thành Trấn hải - Lầu ngắm biển - Hành cung - Lưỡng Kiêm lâu - Bãi hến - Chợ Thai dương - Xóm chài - Rừng cau - Đồi cát)

- Ngày 23, vâng họa 20 vần Thất ngôn cổ thi ngự chế: Lên Quan hải lâu thành Trấn hải đại duyệt châu sư.

- Tháng 12, can việc điều khiển sai lầm cơ lính nha ở Quảng ngãi, bị phạt bổng 1 tháng ghi vào sách.

- Tháng 8, can việc sung cử Lê Hữu Thanh, đổi Thự Viên ngoại lang lãnh Lang trung không hợp, bị phạt bổng 3 tháng  ghi vào sách.  Can việc thuộc ty xét bổ Suất đội Hồ Vượng trùng lặp, bị phạt bổng 3 tháng ghi vào sách. Can việc hồi ở Các chọn bổ Các thuộc lộn xộn bị phạt bổng 9 tháng ghi vào sách.

- Tháng 11, bộ Binh tâu: Năm trước đã bàn định về lệ lính ở tỉnh về thao diễn ở Kinh là cốt để thuộc đường, tập biết lao khổ, không phải chỉ để dễ trưng điều khi có việc. Vả lại còn để cho họ biết cái đạo nghĩa tôn thân. Việc ấy đã thành phép nước, không thể thay đổi một cách coi thường được. Duy có Bắc kỳ, gần đây lụt lội đáng nên châm chước cân nhắc. Việc Bắc kỳ về Kinh thao diễn xin cho hoãn ba năm, để họ ở lại thao diễn ở tỉnh. Hết hạn ấy xin tuân theo bàn định. Riêng Thanh Nghệ đều chiếu theo lệ mà làm. Châu phê: Chuẩn y, bàn định mà làm.

- Con là Hoài Thanh ra đời.

- Tháng 12, can việc thuộc ty sát hạch biền binh Tuyển phong lộn xộn, bị giáng hai cấp lưu.  

Mậu ngọ năm thứ 11 (1858)  Ông 46 tuổi.

- Tháng giêng vâng Dụ chuẩn cho thực thụ Hữu Tham tri bộ Binh, vẫn sung Kinh trên nhật giảng quan 55. Bộ Binh tâu: Các thuyền tuần tiêu Nam Bắc cứ lệ tháng hai đi, tháng 7 triệt về, nhưng mấy năm nay vào tháng chạp, tháng giêng các thương thuyền nhiều lần bị giặc biển chận cướp, xin cho sau cuộc duyệt binh, đầu xuân thì phái đi tuần tiêu ngay để tảo thanh mặt biển.

- Tháng 2, vâng sung làm Chấp sự lễ Đại tự, được thưởng kỷ lục một lần.

- Tháng 3, can việc chọn bổ sai lầm Suất đội Lê Thanh Bỉnh, bị phạt bổng 1 tháng ghi vào sách.

- Tháng 4, can việc sót lọt khi trực phiên xin môn bài, bị phạt bổng 2 tháng ghi vào sách.

- Tháng 7, binh thuyền nước Phú Lãng sa ủy nhiệm đến nghị hòa, vâng chuẩn cho Quân thứ Quảng nam là Tổng thống Nguyễn Tri Phương, Tham tán Phạm thế Hiển phụ trách giải quyết việc nghị hòa.

- Tháng 8, can việc thuộc ty chép nhầm sắc văn bị phạt bổng 3 tháng ghi vào sách. Đề đốc thủy sư là Võ Phẩm tâu: Các tàu đồng phái đi đàn áp 58Thuận an, Thuận hòa, nay tiết trời đến mùa bão lụt, xin cho tạm về sông Thanh phước đổ lại. Châu phê: Hỏi gấp Nguyễn Như Thăng. Trần Tiễn... xem có hợp hay không rồi phúc trình.

- Tiếp đó, cùng Thống chế Nguyễn Như Thăng phúc trình: Các tàu đồng ấy đều to và nặng, từ sông Thanh phước đến Thuận an, đường sông khá xa, trước đây đã từng chạy đến đàn áp, có lần phải mất đến 3-4 ngày mới có thể đến cửa. Nay muốn chạy về Thanh Phước đỗ tạm thì khi gặp việc cần trưng điều e chẳng khỏi trể nãi. Kính tra xét việc đó, thấy vũng biển chổ chùa Thai dương, lòng vũng rộng rãi, năm ngoái tàu đồng lớn đã từng đổ ở đấy rồi, gặp lúc có gió, lụt cũng chịu nổi, vẫn đỗ yên ổn. Về việc buông neo ba chiếc tàu đồng của Đại chu sư, Tĩnh hải, Định Hải hiện đã sức tập trung về dừng đỗ ở phần sông chổ chợ Thai dương, nghĩ nên giữ lại ở đấy như cũ để sung vào việc đàn áp 58 , đã hỏi các viên Chưởng vệ Thủy sư Hồ Trí, Vệ úy Trần Liệu, Hiệp quản Bùi Vân, Hoàng Biện, ý kiến đều như nhau. Còn như ba chiếc tàu đồng Thần giao, Tĩnh dưng, Thanh hải hiện đỗ tại Lộ châu, Hy du, Thuận hòa, những nơi ấy đường cảng không được rộng lắm mà từ Thanh phước đến đó đường sông khá gần, ba chiếc ấy nghĩ nên chạy về Thanh phước dừng tạm cũng ổn. Châu phê: Bộ hãy chiếu theo phiếu này. Lại vâng Châu phê: vẫn do bọn ngươi gia tâm xem xét giúp đỡ.

- Tháng 10, dâng phiến tâu: Lần này cái vệ biền binh sung vào việc đàn áp ở cửa Thuận an, xin quan bộ Công chuyển sức cho đốc công Vũ Khế rèn gấp 300 thanh kiếm đem phát cho số biền binh ấy lãnh dùng...

- Tháng 11, can việc thuộc ty cải bổ suất đội trùng lặp, bị phạt bổng 3 tháng ghi vào sách.  Can việc chọn bổ Suất đội Túc vệ là Trần Tuyển không làm nổi chức vụ, bị phạt bổng 6 tháng ghi vào sách.

- Tháng 12, can việc thuộc ty chép tên Nguyễn Văn Sương sắc văn trùng lặp, bị phạt bổng 9 tháng ghi vào sách.                             

Chú thích:       

1.    Tức là cụ thân sinh. Ở đây chức Thượng thư không phải là chức thực thụ mà là chức truy tặng cụ thân sinh của Văn nghị công; Cụ qua đời khi đang giữ chức Tri phủ Tân bình - Gia định. Do đó, ở đoạn ta sẽ gặp câu “ngài Thượng thư được thăng Tri phủ”.

2.    Đoan nhân : danh hiệu phong cho mệnh phụ hàm nhị phẩm (Nhất phẩm: Phu nhân - Nhị phẩm: Đoan nhân - Tam phẩm: Thục nhân - Tứ phẩm : Cung nhân - Ngũ phẩm: Nhụ nhân,v.v.).

3.    Thái từ : nghĩa đen là “lớn hiền”, chỉ các bà vợ cả.

4.    Tên lúc bé của Văn nghị công. Ông vốn tên là Thời Mẫn, sau được vua Tự Đức ban cho tên là Tiễn Thành (tháng 7 năm Tự Đức thứ 6, 1853), ngụ ý là nên noi gương theo ông Tô Hiến Thành đời nhà Lý để phò vua giúp nước.

5.    Tên của cụ Thiêm Sự.

6.    Thiên địa thần kỳ : chỉ 4 lực lượng : trời, đất, thần linh trên trời, thần linh dưới đất.

7.    Hội thang bỉnh : Tục Trung quốc, sinh con được 3 ngày thì tổ chức bữa tiệc nhỏ để thông báo cho bạn bè, gọi là Thang bỉnh diên (Thang : nước sôi, bỉnh : bánh). Có thể dịch là tiệc trà bánh nhưng lại không đúng với thực chất của tiệc đầy tháng cho đích tôn nhà quan này.

8.      Xem chú thích 1 .

9.      Các hành tẩu: hành tẩu ở Nội các. Hành tẩu là chức quan tập sự, thường phong cho người mới đổ thi Hương.

10. Sứ tuyển: được tuyển vào đoàn đi sứ sang Tàu (Sứ đoàn này bị đình, không lên đường)

11. Chạy qua sân : nguyên văn XU ĐÌNH, lấy ý trong thiên quí thị, 16, sách Luận ngữ : Thường độc lập-Lý XU nhi quá ĐÌNH (Thường đứng một mình, Lý đi vội để băng qua sân). Nguyên học trò của Khổng tử là Trần Cang, hỏi Khổng Lý (tức Bá Ngư, con trai Khổng tử) “Anh có được nghe thêm gì khác không ? Bá Nghi kể rằng bố mình thường đứng một mình trước hiên, anh ta rảo bước qua sân thì có hai lần được gọi lại dặn học Kinh lễ và Kinh thi. Ra về, Trần Cang gật gù “ Hỏi 1 mà đạt được 3: học Thi, học Lễ, lại biết thánh nhân xu cách con họ”. Từ điển cố này sinh ra từ Thi Lễ. Chữ XU ĐÌNH ở đây ngụ ý khen người cha xứng vai nghiêm đường, cũng lạnh lùng với con như Khổng tử đối với Không Lý vậy.

12. Ngọc hỏa lựu : tức hồng ngọc (ruby) .

13. Kế thuật : nối dõi (kế) và phát huy cái chí (thuật) của các đời trước .

14. Thị độc học sĩ : chỉ ông cố của Văn nghị công, được truy tặng Trung thuận đại phu, Hàn lâm viện Thị độc học sĩ.

15. THÌ : nguyên bản viết phần nữa chữ bên phải (   ) chừa trống bên trái, để tránh phạm húy tên của vua Tự Đức.

16. Gọi theo tên tự : nguyên văn “dĩ tự hành” nghĩa là chỉ   dùng  tên  tự  chứ  không  dùng tên thật trong xưng hô.

17. Thứ trưởng nữ : con gái lớn nhưng do vợ lẽ sinh.

18. Chức quan đứng đầu võ ban, tương đương Tổng tư lệnh ngày nay.

19. Đinh Viết Thận : ở đây chữ Viết (   ) được chép rất rõ, còn tác giả Thu dạ lữ hoài ngâm lâu nay thấy tên tác giả là Đinh Nhật Thận. Chữ (   )  của tên ông này phải chăng do chính chữ  (  ) nhầm ra? Hay cả hai cùng chỉ một người?

20. Yến trâm : cây trâm để cài cho búi tóc được giữ chặt trong mão. Vật dụng đặc trưng của kẻ làm quan.

21. Ngàn hoa trâm : kim cài tóc làm bằng bạc có chạm trổ.

22. Hàn lâm viện biên tu : chức quan nhỏ, hàm chánh thất phẩm (ngang cấp thợ cả bên quân đội hoặc Hạ sĩ giải ngũ của lính tập thời Pháp !) .

23. Sách : sổ lý lịch của quan chức .

24. Giáng lưu : giáng cấp nhưng vẫn lưu lại chức cũ, khác với giáng điều là đi nhậm chức ngang với cấp còn lại sau khi giáng.

25. Thăng thụ : thăng hẳn, khác với thăng thự (tức chỉ phó hoặc quyền chứ chưa có chức thật).

26. Thi Hội ban văn : tức thi lấy Tiến sĩ chứ không phải lấy Tạo sĩ như ban võ (Tạo sĩ thời này gọi là Võ sĩ hoặc Võ tiến sĩ) .

27. Vĩnh tế : tức Thoại ngọc hầu (Ngọc hầu Nguyễn văn Thoại) có công đào kênh Vĩnh Tế vùng đồng bằng sông Cửu Long ngày nay. Vĩnh Tế là tên người vợ chánh của Thoại ngọc hầu (Châu thị Vĩnh Tế).

28. Mặt quyển : phần phải giữ sạch, mọi dấu vết trên đó   đều  bị  ghép  tội  làm  dấu  (thiệp tích), giám khảo chỉ được phê ở lưng quyển.

29. Nghị tự : Công lao được Bộ đánh giá và đề nghị ban thưởng chứ không phải vua thưởng trực tiếp.

30. Giặc Thanh : giặc biển người Thanh (Tàu). Đây chỉ giặc tàu Ô.

31. Cháy sót : nguyên văn “dư tẫn”. Nguyên vì lý do nào đó, một số văn bản quan trọng của Nội các bị cháy, thuộc viện nhặt không hết số dư tẫn và sắp xếp không chỉnh nên bị tố cáo.

32. Âu Dương tử : tức Âu Dương Tu (tập tục nho gia phục ai thì thay tên người ấy bằng chữ Tử).

33. Những dấu 00 có cái ở trong câu văn, có cái nằm bên cạnh dòng chữ, vốn là những chữ phải dùng phép Đài , nhưng không rõ vì lẽ gì thư thủ đã lơ đễnh không đài, khi kiểm tra lại mới bổ sung bằng những dấu ấy.

34. Cô nhạn nhập quần, xuất quần : nhạn lẽ nhập bầy, nhạn lẽ rời bầy. Cách nói bóng bẩy để chỉ một thủ pháp văn học.

35. Học cách đi, bắt chước cách nhíu mày : nguyên văn Học bộ, hiệu tần - Học bộ, nói tắt thành ngữ Học bộ Hàm đan, chỉ việc xưa có người nghe đồn dân Hàm đan (Kinh đô Tần) có dáng đi thanh lịch bèn đến đấy học, rốt cuộc chẳng những không đi theo được dáng người Hàm đan mà còn không giống cách đi vốn có của mình nữa. Hiệu Tần : bắt chước cách nhíu mày : nàng Tây Thi nhíu mày càng đẹp thêm, nàng Đông Thi bắt chước thì cái xấu của mình càng rõ thêm. Cả hai đều là ngụ ngôn của Trang Tư (Theo chương Thiên Vận trong Nam Hoa kinh thì khi Đông Thi “hiệu tần”, người giàu đóng cửa sổ trong nhà, người nghèo bỏ cả vợ con trốn đi...)

36. Thiên chương : các nguồn sáng trên trời : mặt trời, mặt trăng, tinh tú.

37. Lê táo sống lâu : những giống cây có chất gỗ dẻo, khắc ván in không bị vênh, do đó khi trở thành bản in chúng được bảo quản lâu hơn ngoài thiên nhiên .

38. Thư thủ : người lo việc sao chép. Do đó có tên gọi là thư lại (chức quan nhỏ lo việc biên chép) .

39. Tức Thám hoa.

40. Tôn học, quốc học : nơi giảng dạy các ông hoàng bà chúa và quốc tử giám.

41.   Khuyên, chấm : hai cách đánh giá câu văn của người xưa, dấu khuyên (vòng tròn) dành cho câu văn hay, dấu điểm (chấm) dành cho câu văn tạm được. Câu văn thật hay thì khuyên thật nhiều. Do đó có thành ngữ “Khen vung xích chó”. Trong trường hợp xét văn bản các quan trình tâu, nếu văn bản không quan trọng, vua phê : Biết rồi (Tri đạo hữu); nếu đáng chú ý, vua điểm dấu chấm lên câu văn gợi sự chú ý, nếu trình những việc đã được giải quyết tốt, vua làm dấu khuyên trên đó.

42. Vô vị : Không hợp lẽ, bất tiện cho việc dạy và học, đừng nhầm với sự không kích thích vị giác.

43. Lời phê này hơi tối, người dịch hiểu vấn đề như sau: triều đình chỉ thị mua sách, các tỉnh mua theo chỉ thị được 162 bộ, mua ngoài thư mục 62 bộ. Số dôi ấy không trả lại mà mua luôn.

44. Bí thư các : tên gọi này lúc đầu chỉ chung bộ phận văn phòng, từ giữa đời Minh mệnh mới tách ra hai bộ phận : Nội các đảm nhiệm mọi việc văn phòng, Bí thư các chỉ còn giữ nhiệm vụ bảo tàng sách vở, tư liệu.

45. Nhà con cửa lấp : nguyên văn “chuyên thất bồng lư” (nhà nhỏ, cửa mọc toàn cỏ bồng), ý nói nơi ít khách tới lui, chỉ tiệm sách tẹp nhẹp, ế khách.

46. Tiên : tên hai thể văn : a/ bình luận, giải thích ý cổ nhân. b/ tấu ký (dâng lên vua hoặc thân vương, hoàng tử) .

47. Mân tiền : loại tiền có mệnh giá rất lớn, ít lưu hành ngoài thị trường, mỗi đồng ăn một quan, tương đương 60 đồng tiền ăn 10 hay 120 đồng tiền ăn 5 hoặc 200 đồng tiền ăn 3. Mân tiền khi sứt mẻ không dùng được phải gửi về quốc khố.

48. Quyên miễn : hủy bỏ đi.

49. Diên Khánh công trở thành Diên khánh vương.

50. Tập tự : các quan dâng lên vua để trình bày vấn đề gì đều gọi chung là tập tự (tập : xấp; tư: kê ra) .

51. Tiễu phủ (tiễu: đánh diệt; phủ:vỗ về): ý nói nhận xét tình hình tại chỗ mà đánh hay đàm.

52. Quân thứ : quân trú đóng ngoài đồn lũy. Theo Tả truyện, đóng 1 ngày gọi là , đóng 2 ngày gọi là tín, đóng quá tín gọi là thứ .

53. Tử kim đính : loại thuốc bột thoa vết thương.

54. Hán tân : dân trẻ, khoẻ.

54b. Đại tự : Lễ cúng lớn nhất hàng năm. Đối tượng gồm trời đất, thái miếu, xã tắc, tiên sư, Khổng tử. Lễ vật có : ngọc, lụa, sinh tuyền [tam sinh (trâu, dê, lợn) rặt màu chứ không lang] .

55. Nhật giảng quan : chưa tra cứu được nghĩa. Xin tạm suy luận : a/ Quan giảng về Lịch học b/ Quan giảng dạy ban ngày (?) nếu Kinh diên có chức... Dạ giảng quan !    Theo tập tục hàng năm vào hai tháng trọng xuân và trọng thu (tháng 2, tháng 8) vua quan tập trung giảng và nghe giảng. Đích thân vua giảng hoặc ngự luận. Phải là đại thần mới kiêm hàm giảng quan này.

56. Sơn chà hay Sơn Trà : địa danh chỉ bán đảo thành phố Đà Nẵng. Sử chữ Hán thường dịch ra thành Trà Sơn, tương tự Bản tân (Bến ván), Thạch tân (Bến đá). Theo dân gian thì cuộc khiêu khích này xảy ra ở Vũng Thùng : Tai nghe súng nổ cái đùng - Tàu Tây đã đến Vũng Thùng bậu ơi ! (tàu đậu Vũng Thùng thì súng nhắm vào đồn Nhất của Hải Vân) .

57.Chi tiết quan trọng : Ông Văn nghị được chọn làm “Khách” vĩnh viễn.

58.Đàn áp : Giữ vững tình hình yên tĩnh và trực chiến (nghĩa cổ) - một dạng hành quân dã ngoại. Do câu “bao la thiên địa, đàn áp sơn xuyên”.

 

 

© Copyright 2006 giaodiem.com

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com