>>>Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard<<<

.......... .
 

Vài lời của Giao Điểm:

Viết về Võ Phiến, bà con trong văn giới ở hải ngoại nhắc nhở đến khá nhiều. Người ta đua nhau ca tụng cái tài viết tuỳ bút của ông, sắp hàng và thi đua ca tụng. Có thể "bạn văn" của ông bỏ qua (vì thấy không đáng?) mà cũng có thể vì không biết đến cái gốc –Võ Phiến còn là nhà văn chống Cộng, nhà văn của ý-thức-hệ. Nói đến cái gốc, thì phải biết nhớ đến cái thuở Võ Phiến từng được một học giả Cộng sản dìu dắt, nuôi cho ăn học... ở Huế; rồi thời cuộc xoay vần, con đường hoạn lộ đã đưa Võ Phiến làm quan nhỏ Thông tin Văn hóa, mở đầu ý thức về ý-thức-hệ-chống-cộng dưới thời Đệ nhất Cộng hòa.

Lưu luyến về chế độ cộng hòa và "Ngô tổng thống muôn năm", có người nói thẳng ruột ngựa, có kẻ dùng cái "sâu sắc, tế vi" của ngòi bút để vạch cho giới bạn văn, đọc xong bỗng một thoáng, vỗ đùi: ông Võ Phiến viết hay quá, chống cộng sâu sắc quá –bởi với lối viết xa xôi, bóng bẩy mà vạch ra được cái tinh thần văn hóa "đầu trọc" đã hóa giải ý thức hệ chống cộng chứ còn ai vô đây nữa!

Nhà văn Hoàng Nguyên Nhuận đã nhìn Võ Phiến, dù với văn phong sắc như kiếm, vẫn thấp thoáng  nụ cười u mặc...

pretty_flower_special_tc.gif (2259 bytes)

sư không ra sư ,
văn nô không ra văn nô?

Hoàng Nguyên Nhuận

 

Khi Trần Long Hồ quả quyết Võ Phiến mãi mãi là ánh đuốc rạng ngời và soi sáng cho bao thế hệ văn chương Việt Nam (1) và Nguyễn hưng Quốc nhất định Võ Phiến là nhà văn của thế kỷ XX (2) thì địa vị của Võ Phiến trong lịch sử văn học Việt Nam hậu bán thế kỷ nầy, nhất là văn học lưu vong, có vẻ vững chãi như cái bình vôi trụ dưới gốc đa già mặc nắng mưa giông bão.

Thế nhưng, văn học là một trò chơi, văn học sử và phê bình văn học cũng là một trò chơi. Nguy hiểm chính là phê bình văn học có thể trở thành văn học phê bình với đầy đủ tính chất hư cấu và tưởng tượng khiến cho một tác phẩm văn học dưới mắt người đọc chất phác có thể khác xa với cùng tác phẩm đó dưới mắt nhà phê bình. Như cô gái quê tát nước dưới trăng qua mắt một nhà nông bình dị và qua mắt một nhà thơ. Loay hoay trong thế giới phê bình bằng hư cấu và tưởng tượng đó, nhà văn nhà thơ nếu không tưởng mình là huyền thoại, thì rồi cũng bị một vài nhà phê bình đẩy vào cái bẫy huyền thoại, kéo vào một trò đùa dai êm ái.

Với Hoàng tôi, sự thể khởi đầu với bài Phạm Thiên Thư của Võ Phiến (3). Mặt khác, nếu tôi không có cơ duyên đọc quyển Võ Phiến của Nguyễn hưng Quốc thì có lẽ cũng không có những dòng chữ nầy (4). Điều đánh động tôi qua quyển sách nầy là một câu trong bài thơ Võ Phiến chép tặng Nguyễn hưng Quốc. Câu: /Chuyện gì rồi cũng bỏ qua thôi/. Khi viết câu ấy, có thể lòng Võ Phiến thanh thản bao la như biển Đông một ngày lặng gió cho thuyền nhân vượt biển. Đáng tiếc là cái gì Võ Phiến có vẻ như cũng bỏ qua được cả, trừ Phạm thiên Thư.

Trò Đùa Dai Khệnh Khạng

Vắt vẻo trên ngôi cao nhà-văn-của-thế-kỷ Nguyễn hưng Quốc hì hục dựng lên cho, Võ Phiến nhìn xuống ông thầy tu tội nghiệp khệnh khạng phán: Phạm thiên Thư chỉ đáng yêu, tuyệt vời khi đóng trọn vai tuồng xuất sắc khi ông trở lại chính mình, tức một tu sĩ đa tình. Sợ người đọc lai căng thành Tây con Mỹ con cả rồi nên Võ Phiến phải cất công phụ đề cho rõ nghĩa: Không phải tí ti l’ amour, tí ti la foi. Không phải thế. Ở đây tình yêu thì tha thiết, niềm tin thì chí thành. Không tí ti (5). Đã thương mà lại không thương cho trót, phải chi Võ Phiến chịu khó nói thêm tí ti the love, tí ti the faith cho mấy ông Mỹ con hưởng được tài phê bình văn thơ của Võ Phiến thì tốt cho họ biết mấy!

Võ Phiến muốn nói gì khi bảo Phạm thiên Thư đóng trọn vai tuồng tu sĩ đa tình? Đóng tuồng tu sĩ thôi chứ không phải xuất gia thật tu thật, nghĩa là chỉ là một thầy tu giả? Hay tu sĩ đã ngộ, lòng đã an, không còn bận bịu yêu thương nhưng vẫn làm bộ như đa tình, theo kiểu Võ Phiến làm bộ nói tiếng Tây tiếng U, hay như Thanh Nga, Phùng Há đóng vai Lan trong Hồn Bướm Mơ Tiên, hay Hùng Cường, Thành Được đóng vai Tiêu Sơn tráng sĩ? Phạm thiên Thư làm thơ dở ẹt vì chỉ ham đóng vai tu-sĩ-đa-tình hay vì thực sự sống như một tu sĩ đa tình? Võ Phiến không trả lời câu hỏi đó mà chỉ giải thích thơ Phạm thiên Thư dở ẹt vì ba điểm. Thứ nhất, người yêu của Phạm thiên Thư chỉ là một cái tên hay một bóng dáng. Tuyệt nhiên không da thịt. Thứ hai, Phạm thiên Thư không xuất sắc về kỹ thuật ái tình nên tình yêu Phạm thiên Thư nói đến chỉ là những mối tình chay tịnh. Và thứ ba, Phạm thiên Thư không có phát kiến nào trong lãnh vực yêu đương. Cho nên Võ Phiến phán rằng Phạm thiên Thư thua xa Nguyên Sa vì thơ Nguyên Sa mới mẻ hơn nhiều. Phát kiến cái gì không thấy Võ Phiến nói rõ, ngoài cái chuyện Võ Phiến chê thơ Phạm thiên Thư không có hơi thở hổn hển, không mưu cầu hạnh phúc, không vì hoan lạc. Nói thế khác, khi yêu, ông thầy tu Phạm thiên Thư hiền khô nên làm Võ Phiến phải ngứa ngáy bực bội há miệng chờ ho. Khổ chưa, đọc Phạm thiên Thư làm gì cho mệt, ra shop video mướn một phim ba gạch chéo XXX tha hồ mà nhìn da thịt, tha hồ nghe hổn hển và tha hồ thấy thiên hạ tìm hoan lạc có hơn không?

Võ Phiến không thể né tránh chuyện tu, chuyện đạo khi phê bình một ông thầy tu như Phạm thiên Thư. Về chuyện nầy thì Võ Phiến rào đón ngay là tôi không có hiểu biết nào để nói về tôn giáo. Không biết gì về tôn giáo nhưng Võ Phiến biết rõ là Phật có kinh Kim Cương, kinh Hiền Ngu và tôn giáo tỏa ảnh hưởng lên tình yêu, lên thiên nhiên, trong thơ Phạm thiên Thư và tôn giáo tạo cho thi sĩ một phong cách yêu đương riêng, và một phong cách riêng trước thiên nhiên. Phật có kinh Kim Cương và kinh Hiền Ngu có giống như Võ Phiến có Mưa Đêm Cuối Năm và Thơ Thẩn không? Và tôn giáo là cái gì mà có thể tỏa ảnh hưởng lên tình yêu, thiên nhiên như kiểu bà bán xôi rãi muối mè muối đậu lên dĩa xôi vậy? Mặt khác, Võ Phiến vạch mặt Phạm thiên Thư đưa từ ngữ tôn giáo vào thơ chỉ là cái mánh để làm dáng, lấy le, lòe thiên hạ rằng ta đây cũng tu chứ thực chất có thể không phải vậy vì cứ đi nhặt nhạnh chỗ này chỗ kia những câu nói về kinh kệ, về tiếng chuông tiếng mõ v.v... để cho rằng thiên nhiên trong thơ ông nhuốm mùi đạo thì dễ quá.

Vì những lý do đó nên dù ngót 52 năm chỉ làm được 51 bài thơ cày cục in thành một tập Thơ Thẩn cho có với đời (6) trong khi Phạm thiên Thư đã có một sự nghiệp thi ca đồ sộ, ngót chục vạn câu thơ, Võ Phiến vẫn tự cho mình đủ tư cách để phê điểm rằng Phạm Thiên Thư làm quá nhiều thơ nên trong cái lượng đồ sộ đó số dở quá nhiều.

Chạy Trời Cho Khỏi Nắng Ý Thức Hệ

Bị Võ Phiến vây đầu vây đuôi nên Phạm thiên Thư chạy đàng nào cũng chết cả. Không giữ tình yêu chay tịnh sẽ bị tố là phạm giới, giữ tình chay tịnh cũng bị tố là làm dáng đạo vị, là không có phát kiến hổn hển hay mốt miết trong khi yêu, là thua xa Nguyên Sa và dĩ nhiên là thua Võ Phiến nữa. May chưa bị tố là vì liệt dương nên không muốn chay tịnh cũng không xong. Chỉ có ánh-đuốc-rạng-ngời Võ Phiến mới khó tính như thế thôi hay còn vì lý do nào khác?

Hình như thơ chỉ là cái cớ để Võ Phiến trừng trị Phạm Thiên Thư về cái tội khác. Tội chính trị! Phải, tội chính trị.

/Thương trái ấu cũng tròn /Không thương bồ hòn cũng méo/. Võ Phiến không ưa Phạm Thiên Thư nên ghét luôn thơ của ông thầy tu đa tình nầy chỉ vì, theo Võ Phiến: ... sau tháng Năm 1975, nghe nói có một độ ông toan vung bút làm sáng tỏ cách mạng giải phóng. Và rồi Phạm thiên Thư đã thất bại trong mưu toan đó nên Võ Phiến quả quyết cho ông xuống địa ngục A Tỳ vì tội: Làm văn nô không thành văn nô, làm sư cũng không hẳn ra sư.

Hú hồn hú vía! Chỉ mới nghe nói Phạm thiên Thư toan vung bút thôi chứ chưa hề vung thật mà đã khện người ta nhừ tử thế, nếu tận mắt thấy Phạm thiên Thư vung bút thật thì biết đâu Võ Phiến đã theo chân các anh hùng quang phục quê hương vượt biên ngược về Sài Gòn trị tội nhà tu văn nô không ra văn nô, sư không ra sư nầy rồi.

Hơi văn của Võ Phiến khi viết những dòng tố khổ đó thật còn nồng nặc hơn nước đái quỷ. Và bản lai diện mục của độc tố đó là chính trị. Phải chính trị! Nói về những rủa sả đấu tố các văn công cung phủ Bắc Bộ nhằm vào Võ Phiến sau năm 1975, Nguyễn hưng Quốc hình như đã có lý cho rằng đó là những bài viết nặng tính chất chính trị, không đáng quan tâm (7). Tôi cũng ước mong nghĩ được như thế về phong cách của Võ Phiến khi phê bình Phạm thiên Thư để có thể, nếu không khoan ái thì cũng nghi dĩ truyền nghi, thay vì nóng nảy xuống tay tàn độc chỉ vì một giả định.

Những Chú Mèo Trên Nóc Nhà Cháy

Võ Phiến dùng búa tạ chính trị để đập Phạm thiên Thư nát ngướu như người ta đần khô mực để nhậu. Nhưng Võ Phiến nhân danh chính trị nào, đã sống chết từ bao giờ và như thế nào với chính trị đó?

Võ Phiến trốn lọt khỏi nước ngày 22.4.1975, tám ngày trước khi Sài Gòn thất thủ (8). Nhanh hơn Nguyễn văn Thiệu, Trần thiện Khiêm, Cao văn Viên và dĩ nhiên là nhanh hơn Nguyễn Khoa Nam, Lê văn Hưng, Phạm văn Phú...! Trước khi ba chân bốn cẳng bò ra tàu Mỹ chực vớt ngoài khơi, Võ Phiến có rủ Phạm thiên Thư theo không và trước đó có tổ chức cho Phạm thiên Thư cùng đi với không?

Sau 1975, khi bị bắt, người công an chấp pháp hỏi tôi tại sao tôi không theo cách mạng mà theo ngụy để mang tội với nhân dân thì tôi trả lời rằng năm 1954, mấy anh thẹ thẹ rút ra Bắc, không dặn dò, không hứa hẹn, không nói là bao giờ trở lại, mấy anh vứt dân chúng cho Pháp, cho Mỹ và đám tay sai mặc sức bóp méo vo tròn... Lớn lên, may tôi chưa gây nợ máu. Nếu tôi làm bậy, ai chịu trách nhiệm, tôi hay các anh? Người công an chấp pháp không trả lời tôi mà chỉ đưa tôi vào biệt giam để tôi suy nghĩ lại những lời quỷ biện đó. Nếu Phạm thiên Thư đã vung bút thật chứ không chỉ toan vung bút ủng hộ chế độ mới và rồi cũng quỷ biện như vậy thì Võ Phiến trả lời sao đây? Đã đào ngũ bỏ chạy trước hơn ai hết rồi còn to mồm trách kẻ khác là hèn nhát. Đúng là được ăn, được nói, còn được gói mang về. Thua con cọp thôi chứ thua ai nữa không?

Tại sao Võ Phiến phải nhanh chân dọt lẹ như thế? Muốn trả lời câu hỏi đó thì không thể không nhắc đến số phận những chú mèo trên nóc nhà cháy nóng của những trí thức Việt Nam tận trung với Toà Đại Sứ Mỹ trước ngày Mỹ giải ước cuốn cờ. Số phận đó đã được Hoàng Hải Vân ghi lại cụ thể và chua chát rằng: Vào những ngày trước 20.4.1975, không đêm nào là tôi không có mặt ở khu vườn nhỏ, trong căn nhà hẻo lánh của PD vùng Phú Nhuận. Bám sát PD do biết rõ người anh em "có thế" với các quan lớn trên Tòa Đại Sứ Mỹ... các quan Tùy Viên Văn Hóa, các quan CIA văn hoá thường lui tới tham vấn mọi vấn đề, cả văn nghệ lẫn chính trị. Đêm đó, vừa thấy tôi bước vô nhà, PD với bộ mặt hớn hở: Cậu gặp ngay HHT đi! Nó lo cho anh em cầm bút chống Cộng đấy! Các cậu, Mỹ nó liệt vào ưu tiên thứ tư sau Bộ Trưởng, Tướng lãnh. Sáng hôm sau, tôi phóng xe vội đến Phòng Thông Tin Mỹ tìm HHT. Bước vô cửa, nhìn T vẫn tươi cười bình tĩnh, tủm tỉm nhìn tôi T cười nửa miệng: Sao cha? Chậm thế! Giờ này mới gặp tớ? LVVBT đâu? Bảo cha đến gấp lo hồ sơ. Ở lại bỏ mẹ cả đám! Tụi mình xưa làm báo TB luôn phang chúng nó! Giờ nó bắt được, nó phang, chỉ có đường về với ông bà ông vải... Thấy tôi lo lắng, vỗ vai tôi, HHT an ủi: Tớ còn ngồi đây, chậm nhất cậu cũng xách con đi chung với gia đình tớ... Thật vậy mà cũng đúng như vậy. Bởi với một chức vụ "hàm hàm" vào những ngày chót, thay mặt ông Trưởng Phòng Thông Tin Hoa Kỳ để cấp giấy cho giới văn nghệ sĩ, báo chí chống Cộng ra đi. Bám vô HHT sao chẳng chắc ăn? (9). Võ Phiến không hề thú nhận mình thuộc loại ưu tiên bốn đó nhưng một người khác thì nói rõ. Người đó là Viên Linh: Tháng 11.1974, tôi được mời làm việc cho Đài Mẹ Việt Nam, một Đài bí mật phát thanh thẳng ra Bắc từ một trạm phát tuyến ở Đông Hà... Chỉ biết tôi được mời cấp tốc, không qua một thủ tục nào, dù Đài trực thuộc Tòa Đại Sứ Mỹ. Vào làm mới biết Trưởng Ban Biên Tập là anh K., vừa đột ngột rời chức vụ. Tôi được mời thay chỗ anh K.. Các chương trình khác tôi nhớ rõ do các nhà văn LTĐ và Võ Phiến phụ trách. Cố vấn trực tiếp là Edward X và Thượng Tá Tám Hà... (10). Hồi ký của Viên Linh và Hoàng Hải Vân đều ghi đầy đủ tên tuổi bằng hữu trong cuộc, tôi thấy chẳng cần nhắc lại bởi trong chuyện nầy họ chỉ là nhân chứng chẳng hề công khai khe khắt với Phạm thiên Thư.

Võ Phiến dọt lẹ vì đã ăn bã của chính mình. Cái bã Sài Gòn tắm máu mà Võ Phiến và công ty đã phổ biến hằng ngày trên Đài Gươm Thiêng Ái Quốc, Đài Mẹ Việt Nam? Thế đấy, Võ Phiến phải dọt sớm, dọt lẹ chứ không có thể bị Mỹ bỏ rơi, (để rồi phải như) HHT qua bao lần ra tù vào khám (11).

Là người còn chịu khó giữ được cả những bài thơ làm hồi 1943, thế nào Võ Phiến cũng còn đủ bài vở đã viết cho Đài Mẹ Việt Nam hay Gươm Thiêng Ái Quốc. Thế nhưng, phần tiểu sử cũng như phần liệt kê tác phẩm của Võ Phiến đã không hề nhắc một câu một chữ về thành tích văn học chính trị sáng tạo dưới sự chỉ đạo của ông Edward X và được Tòa Đại Sứ Mỹ liệt vào ưu tiên thứ tư sau Bộ Trưởng, Tướng Lãnh nầy! Tại sao? Có phải vì chuyện gì rồi cũng bỏ qua thôi không?

Cũng về chống cộng, Võ Phiến liên tục làm việc cho báo Bách Khoa từ 1957 đến 1975 và cùng san sẻ bút hiệu Tràng Thiên với Vũ Hạnh, một cán bộ cộng sản trường kỳ mai phục trong tòa soạn Bách Khoa. Làm việc bao nhiêu năm với Vũ Hạnh, nếu Võ Phiến không biết Vũ Hạnh là ai thì có phải Võ Phiến đã vô tình nối giáo cho giặc? Nếu Võ Phiến biết Vũ Hạnh là ai mà vẫn làm việc chung thì Võ Phiến có thể bị kết tội đã bao che, bị dựt dây, bị lợi dụng, và đã nhận ân huệ của cộng sản không? Ân huệ như khi Vũ Hạnh viết bài ca tụng văn tài của Võ Phiến chẳng hạn. Võ Phiến trả lời sao về những chuyện thật đã xảy ra, hay toan xảy ra đó. Hay chuyện gì rồi cũng bỏ qua thôi?

Ba Hoa Chẳng Qua Nói Hươu Nói Vượn

Võ Phiến tự hào là giỏi xem thời tiết chính trị cả quốc tế lẫn quốc nội (12) nên về chuyện chống cộng, Võ Phiến quả quyết lịch sử đã xử tử nó rồi. Cũng theo Võ Phiến, cộng sản đã bị xử tử nhưng không ngủm cù đeo ngay mà vẫn dây dưa không chịu đổ. Võ Phiến tiên tri rằng cộng sản sẽ sụp đổ như thế nào là tùy ở thái độ của nhà cầm quyền và của dân chúng (13). Giọng lưỡi Võ Phiến nghe có vẻ như người chơi xì phé, thủ kỹ con tẩy không chịu nói rõ thế nào là bị xử tử rồi mà vẫn chưa nằm quay cu-lơ ra dưới đất cho nên thiên hạ đành phải đoán mò cộng sản đang chết trời trồng như Từ Hải và muốn cộng sản đổ ụp xuống cho xong chuyện thì phải có nước mắt Thúy Kiều? Võ Phiến có hy sinh di tản lần nữa về Việt Nam làm Kiều không? Võ Phiến nói đến thái độ của nhà cầm quyền góp sức cho cộng sản đổ. Nhà cầm quyền nào đây, Mỹ hay Việt Nam? Nếu Việt Nam thì hóa ra cộng sản muốn tự xử sau khi đã bị lịch sử xử tử? Nếu là Mỹ thì Mỹ sẽ làm gì? Mở lại Đài Mẹ Việt Nam và tái bổ nhiệm Võ Phiến vào chức trưởng ban? Nhưng nếu cộng sản đổ ụp rồi thì những người chuyên nghề bán buôn thù hận, hoặc nghề hô hào liên tôn chống cộng, dụ dỗ kẻ khác làm ngựa cho mình cỡi sẽ hết chỗ ăn làm cho nên Võ Phiến đã bắt cộng sản phải sụp đổ kiểu cù cưa(14). Thế nào là kiểu cù cưa, không thấy Võ Phiến bật mí và cũng tránh nói thêm vì Võ Phiến biết rõ mọi ba hoa chẳng qua là nói hươu nói vượn (15). Ba hoa nói hươu nói vượn chơi cho vui rồi chuyện gì cũng bỏ qua thôi, thế mà nỡ tố khổ Phạm thiên Thư là văn nô không thành văn nô, sư không hẳn ra sư. Sao Võ Phiến không bỏ-qua-thôi cho Phạm thiên Thư nhờ một tí?

Võ Phiến, Cet Inconnu

Võ Phiến khai rằng cách mạng tháng Tám 1945 bùng nổ, gia nhập bộ đội nhưng không nói đơn vị nào, ai chỉ huy, cấp chỉ huy và bạn đồng ngũ ai còn ai mất. Đi lính được mấy tháng, Võ Phiến ra Hà Nội học trường Văn Lang năm 1946. Việt Minh cử đi học, hay đào ngũ trốn ra Hà Nội học? Khi thấy Hà Nội Hải Phòng bất ổn vì Pháp gây rối để tìm cớ trở lại, Võ Phiến nhanh chân trở về Bình Định cuối năm 1946. Theo lệnh Việt Minh gọi về hay tự động về, nếu tự động thì có bị trừng phạt hay bị sổ đen về tội đào ngũ không? Không thấy Võ Phiến giải thích, tuy nhiên điều chắc chắn là Võ Phiến không bị trị tội đào ngũ mà còn được Việt Minh cho vào làm sở thuế và sau đó được cất nhắc lên dạy trường Trung Học Bình Dân là chương trình bổ túc văn hóa cho cán bộ cao cấp của Việt Minh do Phạm văn Đồng bày ra (16). Được bỏ-qua-thôi, ngồi chỗ ngon làm chỗ tốt như thế, Võ Phiến vẫn cảm thấy chán ngán, bất mãn và cuối cùng trở thành phản động hẳn (17). Kẻ khác phản động thì chống đối, âm mưu lật đổ chế độ nếu không cũng âm thầm bí mật viết truyền đơn, hịch, tuyên truyền... Võ Phiến không... thèm chơi lối phản động nguy hiểm đó mà dùng chước cao hơn an toàn hơn là viết chuyện đánh cờ, đánh bạc, hát bội, thiên văn bói toán. Để mà mắt hay hủ hóa kẻ thù? Những sáng tác đó không gây được tác dụng phản động nào mà cũng không được Việt Minh trọng thưởng nên sự bất mãn ngày càng sâu sắc, và cuối cùng Võ Phiến kể là đã bị thiên hạ rủ tham gia tổ chức chống Cộng thực sự. Khi bị rủ rê, Võ Phiến đã học thói cờ bạc cò con khi chơi trò đen đỏ, nghĩa là đỏ đặt chín đồng, đen đánh chẳn chục, Võ Phiến cứ làm thinh chờ xem, không theo mà cũng không tố. Thế đó, cũng theo Võ Phiến, khi tổ chức bị tan vỡ thì Võ Phiến cũng bị tù 5 năm như ai. Nhưng chỉ ở hơn một năm thì Hiệp Định Genève cứu Võ Phiến khỏi tù tháng 9.1954. Tháng 12, Võ Phiến bảo là trốn ra Huế bắt được ngay chức Trưởng Ty Thông Tin Quảng Trị của chế độ Ngô đình Diệm, rồi muốn áo gấm về làng nên xin thuyên chuyển về làm trưởng Ty Thông Tin Bình Định...

Nói về tổ chức chống cộng đã rủ rê Võ Phiến tham gia, Võ Phiến đã kể tên ba người đầu đàn là Đoàn thế Khuyến, Tạ chí Diệp và Lam Giang (18), trong khi thực sự năm người đã bị Việt Minh đưa ra tòa lãnh án tử hình là Đoàn thế Khuyến, Nguyễn hữu Lộc, Đoàn đức Thoan, Võ minh Vinh, Nguyễn việt Thạnh. Năm 1956, năm người nầy đã được chính quyền truy niệm, nơi họ bị hành hình đã được xây dựng thành đài tử sĩ mà dân chúng thường gọi là Gò Năm Ông, tên họ được dùng để đặt tên đường. Bị tù với ai, Gò Năm Ông ở đâu, năm ông là những ông nào, tên ông nào được dùng đặt tên đường? Võ Phiến chẳng nhớ biết gì cả trong lúc chuyện truy niệm nầy xảy ra cũng chính là thời gian Võ Phiến làm Trưởng Ty Thông Tin Bình Định là cơ quan, theo nguyên tắc, phải phụ trách chuyện truy niệm nầy.

Phần tiểu sử Võ Phiến giai đoạn 1945-1955 có thể gợi ra hàng trăm thắc mắc. Không lý Việt Minh đã ngu đến độ dùng một người phản động như thế? Võ Phiến có thực chống Việt Minh không, có thực ở tù không? và hơn nữa, có ở tù vì chống Việt Minh không? Võ Phiến có thật bị tù không? Có thật đã làm Trưởng Ty Thông tin không? Về chuyện đấu tranh gian khổ chống cộng sản, chính Võ Phiến đã gián tiếp trả lời những câu hỏi vừa nêu khi thú nhận: ... (Người cháu Võ Phiến) mạnh dạn rời bỏ gia đình tham gia vào cuộc chiến đấu ... (còn Võ Phiến) cũng lìa bỏ gia đình... nhưng không để tham dự vào một sự nghiệp cách mạng nào (19). Tương tự với phong thái cây lành chim đậu, cây dữ chim bay, không hơi đâu lo chuyện con bò trắng răng nầy, Nguyễn vi Khanh đã kể rằng: ... cuối thập niên 60... nguy cơ đang đến với miền Nam khi chiến tranh đang đang lún sâu vào bế tắc và thất bại với một đồng minh ngày càng lộ thâm ý dùng miền Nam như một con cờ trao bán thì Võ Phiến... nghiêng hẳn về chính trị và cộng tác với Đài Mẹ Việt Nam (20). Võ Phiến cộng tác với Đài Mẹ Việt Nam của Tòa Đại Sứ Mỹ, làm dưới quyền ông cố vấn Edward X như Viên Linh kể để làm gì? Chẳng lẽ để viết bài vạch trần thâm ý phản bội đồng minh nhỏ của Mỹ? Hay Võ Phiến đã nhìn xa thấy rộng và đã tính chuyện bám trực thăng để di tản từ thập niên 60 mà Nguyễn vi Khanh không thấy đó thôi?

Năm Nay Thi Tú Tài, Sang Năm Chấm Tú Tài

Chẳng cần tham gia sự nghiệp cách mạng nào, đời Võ Phiến vẫn lên hương dài dài từ khi Võ Phiến bắt được chức Trưởng Ty Thông Tin nhờ thân thế(21). Lên cao và nhanh nhất là Giải Văn Học Nghệ Thuật hay còn gọi là giải văn chương Tổng Thống. Năm 1960, Võ Phiến dự thi với tập truyện ngắn Mưa Đêm Cuối Năm và được ban phát giải nhất Tổng Thống. Năm sau 1961, Võ Phiến được phong ngay làm giám khảo chấm giải nầy. Như một người mới đậu Tú Tài 2 năm 1960, sang năm 1961 lại đi chấm thi Tú Tài 2? Hèn gì mà về sau chẳng mấy ai dám khoe mình được giải Tổng Thống!

Nhìn vào bảng tổng kết bài viết, đặc san, tác giả viết về Võ Phiến, con số lên đến 36. Nếu kể thêm Tràng-Thiên-không-phải-Võ-Phiến vào nữa là 37, nếu kể thêm Tràng-Thiên-chính-là-Võ-Phiến vào nữa là 38! Bao nhiêu người viết về Võ Phiến có thực tin vào những gì mình viết, có nhớ những gì mình viết không? Bao nhiêu người viết về Võ Phiến có khác với chuyện Tràng Thiên viết giới thiệu những sách mới in của Võ Phiến? Một trong những Tràng Thiên đó lại cũng chính là Võ Phiến. Cho đến bây giờ không thấy ai, kể cả Võ Phiến, nói rõ bài nào của Tràng Thiên-Võ Phiến, bài nào của Tràng Thiên-không-phải-là-Võ-Phiến, nên có thể nghĩ Võ Phiến viết bài ca tụng Võ Phiến rồi ký tên là Tràng Thiên không?

Trong ngót bốn chục người khen chê đó có hai người có vẽ hậu hĩ nhất với Võ Phiến đó là Nguyễn hưng Quốc và Trần long Hồ nhưng cả hai đều thú nhận là không thấy cần đọc Võ Phiến ngay từ đầu. Nguyễn hưng Quốc chỉ đọc Võ Phiến từ 1986 và Trần long Hồ mãi năm 1994 mới chịu ghé mắt đọc Võ Phiến (22). Nguyễn hưng Quốc giải thích thái độ ngưỡng phục muộn màng nầy là vì đã ngầm xếp ông vào loại những tác giả cổ điển, nghĩa là những người mình sẵn sàng nhắc đến như những tên tuổi tiêu biểu và đầy thẩm quyền trong lãnh vục văn học để chứng tỏ trình độ học thức uyên bác của mình, nhưng trên thực tế thì mình lại không bao giờ cần đọc tác phẩm của họ cả (23).

Loe Hoe Một Bụm Tài Liệu

Nguyễn hưng Quốc đã cụ thể hóa những lời khen chê thành một quyển sách dày 218 trang chứ không chỉ viết bài năm ba trang.

Sách đó đã được viết như thế nào? Tại sao? Nguyễn hưng Quốc kể rằng đang ở Pháp thì được Úc nhận cho tái định cư. Quá trình an cư, hội nhập đã làm Nguyễn hưng Quốc bận đến phát ngộp nên chẳng còn tinh thần đâu mà nghĩ đến chuyện văn chương, chữ nghĩa... Giữa lúc ấy, ngay giữa lúc ấy, tôi nhận được những bức thư gọi là "cung cấp tài liệu" của Võ Phiến. Đều đặn... (24) rồi vì ... "nhớ lại lời hứa dạo nào, nhớ lại những thân tình ông dành cho tôi... nên đành phải viết để trả nợ" (25). Thế là quyển Võ Phiến của Nguyễn hưng Quốc được thấy ánh sáng mặt trời. Nguyễn hưng Quốc đã kể lại chuyện viết để trả nợ nầy trong một bài nhan đề Đến Với Võ Phiến, đọc xong có người hẳn sẽ hỏi Nguyễn hưng Quốc đến với Võ Phiến, hay Võ Phiến đến đòi nợ Nguyễn hưng Quốc bằng cách kiên nhẫn lặng lẽ cung cấp tài liệu đều đặn?

Trong Hợp Lưu số 38 (26), Nguyễn hưng Quốc đã thịnh nộ gọi Việt Nam là một nước mù chữ chỉ vì một trong lý do chính là khi người ta viết tiểu sử của Sartre, de Beauvoir, Tolstoy, Miller... thì cuốn nào cũng bốn năm trăm trang... Đọc, rất thú. Còn những nhà văn Việt Nam thường chỉ loe hoe một bụm tài liệu, may lắm, đủ để viết được vài trang. Số lượng những người mà tiểu sử có thể kéo dài trên 10 trang thật họa hoằn (27). Võ Phiến còn sống, tất cả những gì Võ Phiến viết ngay cả những bài thơ viết từ 1943 đều được giữ lại, Nguyễn hưng Quốc đã gặp, đã trò chuyện, đã phỏng vấn Võ Phiến, đã trao đổi thư từ, đã được Võ Phiến cung cấp tài liệu viết tay đều đặn dài dài. Phần tiểu sử Võ Phiến dài đến mười trang! Phải mười trang, từ trang 17 đến trang 26. Như vậy Võ Phiến hiển nhiên thuộc loại họa hoằn như Nguyễn hưng Quốc nhận định. Họa hoằn nên được phong là nhà văn của thế kỷ 20?

Nhà Văn Thế Kỷ 20

Nguyễn hưng Quốc bảo Võ Phiến là nhà văn của thế kỷ và Võ Phiến cũng có thể đáp lễ bằng cách gọi Nguyễn hưng Quốc là nhà phê bình văn học của thế kỷ? Mới đầu chính tôi cũng hơi lao đao về lối thậm xưng nầy, cho đến một hôm bạn tôi cười hì hì chê tôi vớ vẩn. Bạn tôi bảo thì nhất định Võ Phiến phải là nhà văn của thế kỷ 20 rồi. Chẳng lẽ bảo Võ Phiến là nhà văn của thế kỷ 18, 19?! Nhà-văn-của-thế-kỷ-20 không hẳn là nhà-văn-dở-nhất hoặc hay-nhất-của-thế-kỷ-20 mà chỉ có nghĩa là sống-trong-thế-kỷ-20, thế thôi. Võ Phiến đâu có vấp phải cái lỗi lầm tự thị nghĩ rằng nhà văn của thế kỷ 20 thành nhà văn hay nhất của thế kỷ 20? Cho nên, nếu Võ Phiến có chịu khó đáp lễ gọi Nguyễn hưng Quốc là nhà phê bình của thế kỷ thì quả thực Võ Phiến cũng chỉ chơi chữ đấy thôi.

Lại nữa, Nguyễn hưng Quốc hình như cũng chỉ đùa chơi - cái đùa chơi mà Nguyễn hưng Quốc nhận rằng mình đã vớ vẩn chơi dại (28)? Phải chăng vì một đàng Võ Phiến được trao ngọn cờ đầu thế kỷ và là ánh đuốc rạng ngời trong làng văn học hải ngoại, nhưng chính Nguyễn hưng Quốc thì biết hơn ai hết rằng nền văn học hay văn nghệ hải ngoại nói chung (là) một trận bóng đá... kì dị, quái gở và tuyệt vọng (29). Nguyễn hưng Quốc in quyển Võ Phiến năm 1996. Nước đổ đầu vịt! Vì mặc bao nhiêu đóng góp, một năm sau khi tác phẩm đó ra đời, Nguyễn hưng Quốc vẫn thấy rằng văn học hải ngoại năm 1997 này, ồn và nhảm hơn một chút nhưng trên căn bản cũng giống như văn học hải ngoại năm 1996, năm 1995, năm 1994, năm 1993 và những năm trước đó (30). Có Nguyễn hưng Quốc hay không, có Võ Phiến hay không thì cũng thế thôi, dù Võ Phiến là nhà văn của thế kỷ 20.

KẺ Vác Cờ Văn Học Ý Thức Hệ

Tại sao Võ Phiến được đánh bóng, và đánh bóng từ lúc nào? Trong số 38 bài viết hoặc đặc san hoặc tác giả nói về Võ Phiến thì số trước 1975 chỉ có 12, hai phần ba còn lại là sau năm 1975. Nói thế khác, Võ Phiến nổi danh nhiều sau 1975 hơn là trước 1975. Nguyễn hưng Quốc đã giải thích về hiện tượng ngưỡng phục muộn màng nầy rằng: Sau 1975, trong nền văn học tại hải ngoại, trừ Mai Thảo quay sang làm thơ... và trừ Võ Phiến, tất cả đại thụ tại miền Nam lúc trước đều chỉ còn là vang bóng của một thời (31) và ...nhờ việc Võ Phiến cầm bút trở lại, nền văn học lưu vong Việt Nam đã được hình thành để rồi sau đó ít lâu, khởi sắc hẳn lên, ít nhất là trong một thời gian (32).

Thì ra thế! Người Việt lưu vong lạm phát lãnh tụ chính trị nhưng lại thiếu hụt trầm trọng lãnh tụ văn học chống cộng, một nền văn học khả dĩ đối đầu và lướt thắng nền-văn-học-dưới-chế-độ-cộng-sản như tựa đề một quyển sách của Nguyễn hưng Quốc. Điều nầy giải thích tại sao tài liệu về Võ Phiến... tìm được nhiều nhất là các bài viết tại hải ngoại sau 1975, chủ yếu tập trung trong hai số báo đặc biệt về ông: Làng Văn và Thế Kỷ 21 (33).

Văn học lưu vong chống cộng là văn học thuyền nhân tỵ nạn chính trị chứ không phải chiến sĩ tự do canh me tấp tểnh người đi tớ cũng đi... di tản. Phải có người phất cờ đánh trống xiển dương hiện tượng ý thức hệ đó. Mai Thảo chỉ muốn làm thơ và không chịu bắng nhắng với chuyện Bốn Không. Duyên Anh kẹt vì chuyện trong tù nên không qua Mỹ tung hoành được. Doãn quốc Sĩ, Phan nhật Nam, Hoàng hải Thủy, Tô thùy Yên, ngay cả Nguyễn chí Thiện, chưa lên đường. Võ Phiến trở thành anh hùng thời cuộc. Chính trị có Hoàng cơ Minh, văn học có Võ Phiến.

Xào Nấu Chữ Nghĩa

Sanh dựa thần, thần dựa cây đa. Võ Phiến đã nương theo nhu cầu của một nền văn học chống cộng để bay bổng về cả hai phương diện văn học và ý thức hệ. Líu lo nhất là quyển Viết của Võ Phiến (34).

Thật sự, sau 1975 Võ Phiến có sáng tạo hay chỉ xào lại những gì có trước 1975? Nguyễn hưng Quốc bảo Võ Phiến có 40 đầu sách và thì thầm thán phục Võ Phiến đã: lặng lẽ viết và in đều đều năm 1991 hai quyển, 1992 hai quyển, 1993 ba quyển, 1995 bốn quyển (35). Đầu sách có thể khác nhau nhưng đuôi sách thì thế nào? Võ Phiến đã tả xung hữu đột như một đầu bếp giỏi nghề xào nấu gặp lúc quán ăn đông khách. Một dĩa tách hai, một tô tách ba, thịt thà vẫn chừng ấy, chỉ thêm chút mắm, chút muối, chút nước sôi là có thêm một tô, một dĩa nữa... Hãy lấy một vài ví dụ:

Thứ nhất, chuyện Anh Em đăng trong Đêm Xuân Trăng Sáng do Nguyễn đình Vượng xuất bản ở Sài Gòn năm 1961. Năm 1987, chuyện nầy được cắt bỏ một đoạn rồi cho vào quyển Truyện Ngắn 1 để nhà Văn Nghệ xuất bản (36).

Thứ hai, quyển Về Một Xóm Quê thoạt đầu là một phần của Đêm Xuân Trăng Sáng do Nguyễn đình Vượng xuất bản năm 1961, mấy năm sau Võ Phiến tách đôi thành hai cuốn khác nhau là Đêm Xuân Trăng Sáng và Về Một Xóm Quê để cho nhà Thời Mới Sài Gòn do Võ Phiến làm chủ tái bản (37).

Thứ ba, quyển Ảo Ảnh được Thời Mới ấn hành năm 1967, sang Mỹ được tách làm đôi cho vào Tùy Bút 1 một ít , Tùy Bút 2 một phần. Như vậy là một đầu sách thành ba, ba đầu sách là một. Cũng như Phù Thế đã do Thời Mới xuất bản năm 1969, sang Mỹ được tách cho vào ba đầu sách là Tùy Bút 2, Truyện Ngắn 1 và Truyện Ngắn 2. Quyển Tạp Bút 3 do Thời Mới xuất bản năm 1966, sau đó được lôi ra hai bài cho vào Tạp Bút và ba bài cho vào Tạp Luận.

Thứ tư, ba quyển Tạp Bút 1, 2 và 3 đã được Thời Mới xuất bản lần lược năm 1965 và 1966 và quyển Tạp Luận thì do Trí Đăng in năm 1973. Sang Mỹ các đầu sách nầy đã được xào nấu lại thứ nhất, thành Tùy Bút 2 với bốn bài từ Tạp Bút 2, thứ hai thành Tạp Bút với mười một bài từ Tạp Bút 1, hai bài Tạp Bút 2, hai bài từ Tạp Bút 3 và năm bài từ Tạp Luận cũ, và thứ ba thành Tạp Luận với mười ba bài từ Tạp Luận cũ, và ba bài từ Tạp Bút 3. Phải gọi phong cách của Võ Phiến khi làm chuyện đó là thế nào?

Giá trị của Võ Phiến là giá trị ý thức hệ chống cộng phát xuất từ những huyền thoại quanh hành tung của Võ Phiến hơn là sáng tạo văn học. Võ Phiến hình như cũng gián tiếp xác nhận điều đó. Trong số Văn Học đặc biệt để tế sống một thiên tài, Văn Học đã yêu cầu Võ Phiến chọn trong đống tác phẩm đồ sộ của Võ Phiến một số bài tiêu biểu cho văn chương chữ nghĩa của Võ Phiến. Võ Phiến đích thân chọn năm bài. Đương nhiên đây phải là tinh hoa của Võ Phiến, là điều mà Võ Phiến muốn người đời sau phải nhớ đến mình như một nhà-văn-của-thế-kỷ. Trong năm bài đó, một bài viết năm 1966, một bài viết năm 1990, hai bài viết năm 1993, và một bài viết năm 1995. Như vậy, bốn phần năm tinh hoa của Võ Phiến phát tiết sau 1975, và thời gian sáng tác mạnh nhất của Võ Phiến về lượng - giai đoạn 1956-1975, thì chỉ có một bài được Võ Phiến cho là tiêu biểu! (38)

Ai Mà Hách Vậy?

Giá trị ý thức hệ chống cộng không còn nữa một khi cộng sản bị xử tử như Võ Phiến quả quyết. Điểu tận cung tàn, cộng sản tàn thì chống cộng cũng tàn phai theo. Cộng sản tàn, văn học cộng sản tàn và đương nhiên văn học chống cộng cũng phải tàn theo. Trừ trường hợp những người bắt cộng sản phải bị xử tử nhưng chỉ được sụp đổ cù cưa để phục vụ cho mục tiêu riêng, những quyền lợi riêng chẳng dính líu gì đến cộng sản hay không cộng sản cả.

Hoàng tôi không hề có tham vọng lơn tơn sắp hàng chung với mấy chục người từng phóng bút như là những kẻ có thẩm quyền nói về Võ Phiến một cách thong dong. Thong dong vì Võ Phiến là nhà văn thế kỷ, và như chính Võ Phiến nói ăn chét rằng: nhà văn lỗi lạc; khen không bị hố (39). Hoàng tôi chỉ tiếc là phải chi Võ Phiến hiểu được lý duyên sinh "điểu tận cung tàn" đó mà không ta là ai mà hách vậy? (40) để nỡ nặng tay với Phạm thiên Thư thì Hoàng tôi đâu phải chưa chịu chuyện-gì-rồi-cũng-bỏ-qua-thôi như thế nầy. Nếu có điều sơ xuất, xin hỷ xả chỉ giáo...

Ngày nào đây, nếu Võ Phiến công khai bỏ qua cho Phạm thiên Thư thì những dòng lạc điệu nghịch nhĩ nầy xin coi như không có. Chẳng may không được như vậy thì, đã lỡ đội nón rơm chữa lửa, Hoàng tôi xin chịu hết, với Võ Phiến cũng như với những người đã hướng về Võ Phiến với ý nghĩ rằng "khen một người lỗi lạc thì không sợ hố".

Hoàng Nguyên Nhuận
Phong Trang
một ngày đầu Đông Mậu Dần 1998.

GHI CHÚ

1- Văn Học, California, số 150-151, tháng 10 & 11.1998, tr. 136
2- Nguyễn hưng Quốc - Võ Phiến, Văn Nghệ, California 1996
3- Dân Việt, Sydney, số Xuân Mậu Dần 1998, tr. 95
4- Nguyễn hưng Quốc - Võ Phiến, sđd
5- Dân Việt, Sydney, số Xuân Mậu Dần 1998, tr. 95
6- Văn Học -sđd tr. 7
7- Nguyễn hưng Quốc - Võ Phiến, sđd tr. 206
8- Nguyễn hưng Quốc, -Võ Phiến, sđd tr. 24
9- Hoàng Hải Vân - Dân Việt, Sydney, số ngày 30.4.1998, tr. 32 và tt.
10- Viên Linh - Khởi Hành, California, số tháng 6.1997, tr. 22
11- Hoàng Hải Vân, sđd
12- Võ Phiến - Viết , Văn Nghệ, California 1993, tr. 82
13- Võ Phiến -Viết, sđd tr. 70
14- Võ Phiến -Viết, sđd tr. 70
15- Võ Phiến -Viết, sđd tr. 71
16- Nguyễn hưng Quốc -sđd, tr. 20, Trần long Hồ, Văn Học, sđd tr. 132
17- Nguyễn hưng Quốc -Võ Phiến, sđd tr. 20-21
18- Nguyễn hưng Quốc -Võ Phiến, sđd, tr. 21 và Tạ chí Đại Trường, Văn Học -sđd tr. 104
19- Võ Phiến -Đối thoại, Văn Nghệ, California, tr. 156-157
20- Nguyễn vi Khanh, Văn Học -sđd tr. 96-97
21- Nguyễn hưng Quốc -Võ Phiến, sđd tr. 21-22
22-Trần Long Hồ -Văn Học, sđd tr. 125
23- Nguyễn hưng Quốc -Văn Học, sđd tr. 15
24- Nguyễn hưng Quốc -Văn Học, sđd tr. 18
25- Nguyễn hưng Quốc -Văn Học, sđd tr. 19
26- Hợp Lưu, California số 38 tháng 12.97 & 1.98 tr. 68 và tt.
27- Nguyễn hưng Quốc - Hợp Lưu, sđd tr. 68
28- Nguyễn hưng Quốc - Hợp Lưu, sđd tr. 38
29- Nguyễn hưng Quốc -Việt, Melbourne, số 2-1998, tr. 7
30- Nguyễn hưng Quốc - Hợp Lưu, sđd tr. 38
31 - Nguyễn hưng Quốc -Võ Phiến, sđd tr. 14
32- Nguyễn hưng Quốc -Võ Phiến, sđd, tr. 25
33- Nguyễn hưng Quốc -Văn Học, sđd tr. 11
34- Võ Phiến -Viết, sđd
35- Nguyễn hưng Quốc -Võ Phiến, sđd, tr. 14
36- Võ Phiến - Đối Thoại, sđd tr. 157
37- Văn Học -sđd tr. 10
38- Văn Học -sđd tr.167 và tt
39- Võ Phiến -Viết, sđd tr. 27
40- Võ Phiến -Viết, sđd tr. 32.

 

Home   |  Go top page


© Giao Điểm. Ngân phiếu xin gởi về: PO. Box 2188 Garden Grove, CA.92842, USA. Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: hoa63@hotmail.com or tochucgiaodiem@yahoo.com

. ..........