Lời người dịch: Tôi vừa
được đọc một bài viết bàn về sứ mệnh và trách nhiệm của trí thức
Nga đối với đất nước, nghĩ đem dịch ra đây ít điều có thể là có
ích. Tác giả bài viết, Vladimir Alexanderovits Mau, là một người ở độ tuổi
"bất hoặc" (sinh 1959), tiến sĩ kinh tế học, giáo sư, phụ trách
Trung tâm nghiên cứu cải cách kinh tế trực thuộc chính phủ Liên bang Nga,
giảng dạy đại học kinh tế. V. Mau đã từng viết tám cuốn sách và ba
trăm bài báo khoa học và phổ biến khoa học. Bài của V. Mau tôi vừa được
đọc nhan đề "Trí thức, lịch sử và cách mạng - Bút ký về cuộc sống
của nước Nga hiện nay", đăng trên tạp chí Nga Thế giới mới (Novy
Mir) số tháng 5/2000, trang 140 - 167.
Bài viết gồm mấy bút ký nhỏ:
-"Bút ký thứ nhất, dẫn nhập. Đôi điều về giới
trí thức Nga"
-"Bút ký thứ hai. Nước Nga trong Lịch Sử - lịch sử
thế giới nói chung và lịch sử phương Tây nói riêng"
-"Bút ký thứ ba. Cuộc cách mạng mà người ta đã nói
đến quá nhiều"
-"Và cuối cùng, kết luận. Như trước đây hay nói, về
thời điểm hiện tại"
Tác giả đề từ cho bài viết của mình một chuyện tiếu
lâm hiện đại: "Một tráng sĩ Nga đứng giữa ngã ba đường và đọc
tấm biển đề. Đọc xong anh ta đứng nghĩ ngợi. Và chợt nghe thấy
một giọng nói từ trên cao vọng xuống: "Nghĩ nhanh lên, không thì gạch
rơi ngay xuống đầu đấy". Sau đề từ, vào đầu, V. Mau viết:
"Trên ranh giới hai thế kỷ nước Nga lại đứng ở ngã ba đường.
Đi về đâu? Sang Tây - mất bản sắc. Sang Đông - mất đầu. Che chắn an
toàn đứng giữa hai chủng tộc xung khắc là rất khó... Chúng ta đang ở
đâu: giữa ngã ba đường hay lâm ngõ cụt, đầu một con đường lớn hay
cuối đường?" Ông muốn nói về tính chất và xu hướng của sự phát
triển của đất nước mình. Và một thái độ trách nhiệm rất trí thức
của ông được phát biểu như sau: "Cố nhiên, mỗi giả thuyết xã
hội được khẳng định bằng một số sự kiện và xu hướng lịch sử có
thể bị đối lại bởi một giả thuyết khác không kém phần logic và thuyết
phục. Việc tán thành một giả thuyết này hay khác là kết quả của
một sự ưa thích ý thức hệ nhất định, kết quả của một sự lựa chọn
phương pháp luận nhất định. Người ta hay có thói quen đem các sự kiện
họ biết đặt vào một cái khung lý thuyết để gom các mảnh vụn lại với
nhau nhằm giải thích các biến cố và giúp đoán định sự phát triển tiếp
theo của chúng. Có thể có nhiều những cái khung như thế, và việc lựa
chọn chúng được quy định trước bởi hệ thống giá trị vốn có từ
đầu trong mỗi cá thể biết suy nghĩ. Lịch sử có tính quyết định luận,
nhưng không phải là tiền định, và các viễn cảnh phát triển của chúng
ta phụ thuộc không chỉ vào xu thế lịch sử, mà còn vào hàng triệu sở
thích cá nhân tác động đến xu thế đó".
V. Mau hiểu ý thức hệ theo quan niệm của Douglas North - đó
là việc con người đáp trả lại sự bất định để cho phép nó lập giả
thuyết và xây dựng lý thuyết. Ông dẫn câu của D. C. North: "Không thể
luận thuyết trong những hoàn cảnh bất định, khi anh hoàn toàn không hình
dung được cái gì có thể xảy ra. Nhưng trên thực tế mọi người lại
thường xuyên hành động trong những hoàn cảnh bất định. Chúng ta đưa
ra các quyết định trong những hoàn cảnh bất định, căn cứ vào các quan
niệm ý thức hệ, tôn giáo, giá trị ta có" (North. D. C. Understanding the
Process of Economic Change. London, IEA, 1999, p. 13 -14). Trả lời câu hỏi đặt
ra ở đầu bài, V. Mau viết ở cuối bài: "Chúng ta đang ở cuối đường
hầm và nhìn thấy ánh sáng. Đó là ánh ngày hay ánh chiếc đầu máy hơi
nước, điều này phụ thuộc vào chính chúng ta".
Dưới đây tôi dịch toàn văn bút ký thứ nhất trong bài
viết của V. Mau.
* * *
Lênin không thích giới trí thức, ông coi nó là sản phẩm
của giai cấp tiểu tư sản và thấy nó là gốc rễ của mọi sự dao động,
hoài nghi, lung lay rất đặc trưng cho giai cấp có học Nga. Điều này đã
được viết và nói không ít. Tất nhiên, vấn đề không phải là ở những
câu trích dẫn có thể lấy ra từ mọi "nhà kinh điển" và
"nhà sáng lập" để vận vào cho mọi trường hợp cuộc sống. Vấn
đề là ở thái độ có tính nguyên tắc đối với tầng lớp này của xã
hội Nga, đối với vai trò của giới trí thức trong lịch sử Nga thế kỷ
XIX và XX.
Giới trí thức đã đưa lại cho đất nước một khối lượng
cơ bản các nhà lý thuyết và thủ lĩnh của cách mạng (chính xác hơn, của
các cuộc cách mạng) và chính giới trí thức thông qua những đại diện
ưu tú nhất của nó đã dâng những lễ vật hiến tế không thể bù đắp
nổi lên bàn thờ của lịch sử nước nhà thời mới. Năm tháng trôi qua,
nhưng đến tận hôm nay giới trí thức vẫn tiếp tục đóng vai trò đối
nghịch như vậy: đem lại cho đất nước cả anh hùng, nạn nhân và đao phủ.
Các cuộc tranh luận về trí thức là gì, về sự khác biệt
giữa giới có học và giới trí thức, rất là lý thú, nhưng cũng rất là
bất tận. Chúng ta chỉ cần hiểu "trí thức" theo nghĩa Nga của từ
này là đủ: đó là người xuất thân phi quý tộc có học, tách khỏi giai
tầng hay giai cấp của mình, không có các gốc rễ xã hội, thế nhưng lại
có khả năng và thị hiếu suy luận dài dòng về ý nghĩa cuộc sống và
vai trò của mình trong lịch sử toàn thế giới (hay "trong cuộc cách mạng
thế giới"). Chính sự vắng thiếu các gốc rễ xã hội (trừ những gốc
rễ trí thức nói riêng) tạo nên cơ sở của chủ nghĩa cá nhân trí thức,
cái hạn chế mạnh năng lực của các đại diện của "giai tầng"
này thống nhất lại để đạt tới những mục đích chính trị - xã hội.
Chủ nghĩa cá nhân - là điều kiện tối quan trọng và là nguồn gốc của
sự tìm tòi sáng tạo căng thẳng làm thành tấm danh thiếp của giới trí
thức và và làm cho những đại diện xuất sắc nhất của nó trở thành lương
tâm của dân tộc. Nhưng cũng chính chủ nghĩa cá nhân này đã làm cho giới
trí thức Nga về nguyên tắc không có khả năng ý thức mình như một tầng
lớp duy nhất cần phải biết cách bảo vệ các quyền lợi của mình.
Có ba dấu hiệu của giới trí thức về mặt nguyên tắc
phân biệt nó với các nhóm xã hội khác: thái độ đối với sự giàu
có, với lịch sử và với nhà nước. Trong tất cả các trường hợp, ba
thái độ này đều là hỗn hợp của sự khinh bỉ, nôn nóng và ganh tị.
Đây là điều đặc biệt tiêu biểu đối với giới trí thức Pháp và
Nga, dù cho trong các nước Anglo-Saxon những tâm trạng tương tự ở thế kỷ
vừa qua cũng tăng lên đáng kể.
Khinh bỉ sự giàu có - đó là đặc điểm có tính nguyên tắc
của giới trí thức. "Sở hữu là ăn cướp" - luận điểm kinh tế
chính trị học này của nhà xã hội chủ nghĩa Pháp Prudhon đã gói gọn
tinh hoa sự thông thái và niềm tin của giới trí thức cựu lục địa. Luận
điểm đó công khai đối nghịch với một công trình kinh tế chính trị học
kinh điển khác được viết theo truyền thống Anglo-Saxon - "Nghiên cứu
về bản chất và các nguyên nhân sự giàu có của các dân tộc" của
Adam Smith. Đấy là bản chất khởi thủy của sự xung đột: hoặc con người
cần phải chứng minh tính đúng đắn các tư tưởng của mình trên thực tế
- và khi đó cần phải luận chứng cho vấn đề "Nếu anh thông minh thế,
thì vì sao anh lại nghèo thế?"; hoặc cần phải xa lánh cái thực tế
thấp kém và nhơ bẩn - và khi đó mọi thành công trong cuộc sống nhất
thiết gợi nên sự nghi ngờ ở những người anh em cùng giai cấp.
Sự đối lập việc tìm tòi trí tuệ với việc kinh doanh,
sự thiếu "tính thực tế" trong đời sống thường ngày đã trở
thành nguồn gốc thói kiêu hãnh và tự tôn của các trí thức cựu thế giới.
Giới trí thức là phải đứng cao hơn sự nhơ bẩn của đời sống thường
ngày. Chỉ cái đó mới cho phép nó thực sự đau khổ vì nhân dân. Thực
ra, muốn thế còn cần phải có một số lượng khá đủ bánh mì bơ, lạp
xường và phó mát để vẫn có thể đau khổ mà không bị xao lãng sang đủ
chuyện ngốc nghếch của miếng ăn hàng bữa. "Sáng ăn giăm bông, / Tự
dưng nghĩ: nhân dân thì sao?" - đó không phải cảnh cuộc sống Nga
hoàng, mà là cảnh cuộc sống trí thức.
Một vị thế như vậy không thể vững chắc được. Vì thế
chính giới trí thức đã đặt lên vũ đài chính trị đủ loại người cực
đoan - từ những kẻ cấp tiến và khủng bố đến những tên phản động
và bảo thủ hết sức tàn bạo. Sự thiếu tính thiếu phục trong những nỗi
đau khổ vì nhân dân vì tách trà sinh ra nhiều kẻ quái đản sẵn sàng dốc
cả tài năng và nghị lực của mình vào mục đích phá hoại. Trong đội
ngũ này thì Rakhmetov còn là nhân vật tích cực chán: dù phải tự mình nằm
ngủ trên đống đinh, ông ta vẫn sẵn sàng chờ đợi những khổ nhục mới
sẽ đến. Còn bạn bè ông ta thì chế ra đinh và bom dành cho những người
khác vì coi những "chiếc máy địa ngục" đó là cách tốt nhất
lùa tất cả mọi người đến tương lai tươi sáng. Phía đối nghịch là
một nhân vật thực tế - K. P. Pobedonostsev. Người này hồi trẻ đã từng
viết thư cho Gertsen, là giáo sư môn dân luật ở đại học Moscva, về sau
trở thành một trong những kẻ bảo vệ khắc nghiệt nhất của chế độ
chuyên chế. Đấy cũng là một trí thức đã tìm ra phương án của mình
đem lại hạnh phúc cho dân tộc.
Chính sự tồn tại hai loại người Rakhmetov và
Pobedonostsev, những kẻ điên cuồng tìm cách tự thể hiện mình, đã tạo
ra ở nước Nga những tiền đề cho phần lớn các sự kiện đẫm máu của
thế kỷ XX.
Sự đau khổ vì nhân dân, thông thường, không đưa lại khả
năng nói sự thật cho nhân dân biết và đồng thời khơi gợi nhìn thấy gần
như kẻ đểu cáng nào cũng là đại diện của "những người bình thường".
Tôi sợ rằng chỉ một thiểu số nhỏ nhặt trong chúng ta mới đủ can đảm
vào hồi tháng Chạp 1993 nói cùng với Iu. Karyakin: "Nước Nga, ngươi lú
lấp rồi!" mà không sợ bị buộc tội là tách rời nhân dân mình. Và
thật là hoàn toàn bất nhã khi lên tiếng lập luận bảo vệ cho sự hạn
chế quyền phổ thông đầu phiếu - không cần biết một công dân nào đó
đã có đóng góp làm lợi gì cho đất nước.
Sự từ bỏ lối làm việc có hệ thống xưa cũ kết hợp
với sự khinh bỉ việc tích lũy của cải vật chất quay ra thành chủ nghĩa
cực đoan lịch sử. Mọi thứ phải được nhận ngay, tại đây và bây giờ.
"Mặt trái của chủ nghĩa tối đa của trí thức là thái độ nôn
nóng lịch sử, thiếu sự tỉnh táo lịch sử, muốn gây nên điều thần kỳ
xã hội, phủ nhận trên thực tế chủ nghĩa tiến hóa đã được rao giảng
về lý thuyết", - S. N. Bulgakov nhận xét.
Mong muốn thực hiện "điều thần kỳ xã hội" về
nhiều mặt là hệ quả của chủ nghĩa duy lý triết học ngự trị trong giới
trí thức. Điều này không có gì ngạc nhiên: giới trí thức hiện đại
Nga là con đẻ của thời Khai Sáng Pháp với niềm tin vào sức mạnh toàn năng
của lý trí con người. Chính trên cơ sở phương pháp luận này giới trí
thức mong muốn đem lại hạnh phúc cho nhân dân. Chúng ta biết cần phải
làm gì và làm thế nào một khi chúng ta nắm được lý thuyết tiên tiến
nhất (đúng đắn nhất, phát triển nhất).
Ởû đây tôi hoàn toàn không phải kêu gọi thuyết bất khả
tri toàn thể, nhưng tôi không thể không thừa nhận một điều là chúng ta
đặc biệt thiếu thái độ hoài nghi sự đầy đủ của tri thức. Thiếu
ngay chủ nghĩa tự do, cái bắt phải thừa nhận sự hạn chế của mọi loại
tri thức, phải không được độc quyền có chân lý. Tức là dù vẻ ngoài
có "chủ nghĩa tự do", nhưng giới trí thức nước nhà đang thiếu
nhất là chủ nghĩa tự do trí thức.
Mặt trái của những tâm trạng hết sức đối nghịch của
giới trí thức nước nhà là ở chỗ nó muốn lừa bịp sự tiến bộ xã
hội, lừa bịp lịch sử, nhảy cóc qua các giai đoạn phát triển tự
nhiên của xã hội. Đôi khi điều đó thậm chí thành công, nhưng phải trả
giá bằng vô số nạn nhân của chính nhân dân lẽ ra cần phải được
đau khổ cho họ, và của chính giới trí thức đã nôn nóng bước vào cái
ngày mai tươi sáng ấy. Còn khi bước nhảy tuần tự của lịch sử không
thành công ngay tức khắc thì người ta bắt đầu những câu chuyện dông
dài về tính độc nhất của dân tộc không thể đo được bằng thước
đo chung.
Cảm giác nôn nóng lịch sử, không muốn thỏa hiệp với
những cái xấu xa của cuộc sống hôm nay là điều dễ hiểu, nhưng chính
nó tước mất cảm quan viễn cảnh lịch sử, tước mất hiểu biết về
quan hệ giữa mình, thế hệ mình với quá khứ và tương lai. Thiếu cảm
quan về tính toàn vẹn lịch sử của đất nước mình, thời gian hóa ra
"một thực thể bí ẩn, biến tương lai tươi sáng của chúng ta thành
quá khứ đáng nguyền rủa của chúng ta".
Mong muốn đẩy nhanh quá trình lịch sử chung sống trong ý
thức trí thức hiện đại cùng với mong muốn tìm kiếm tính loại biệt
và tính độc nhất của mình. Rất ít người sẵn lòng đồng ý rằng nước
Nga là độc nhất, vậy thì các nước khác trên thế giới cũng độc nhất.
Tất cả các nước, cũng như mọi người, là độc nhất, và tất cả họ
đều giống nhau. Thái độ không sẵn sàng thừa nhận chân lý đơn giản này
chỉ là hậu quả sự kém hiểu biết lịch sử các nước khác và thường
là hình thức tâm lý bù trừ cho sự thiếu giáo dục (còn trong một số trường
hợp - cho sự man rợ thực sự).
Thật khó sống trong lịch sử hiện thực và thấy ra những
khả năng lựa chọn thực, chứ không phải giả, của sự phát triển xã hội.
"Vì sao tình hình ở ta lại tồi tệ hơn ở Ba Lan, Hungary, Czech, không
nói đến ở Đức?". Câu hỏi đại loại như vậy dưới dạng này hay
dạng khác được cộng đồng trí thức của chúng ta đặt ra và đằng sau
đó là sự tìm kiếm thủ phạm: Yeltsyn, Gaidar, Chubai... (danh sách còn để
ngỏ). Nhưng không một ai thử nghĩ đến những câu hỏi đơn giản:
"Thế vì sao chúng ta không đánh nhau với các nước cộng hòa của
Liên Xô cũ? Làm cách nào chúng ta đã tránh được cuộc nội chiến? Vì
sao chúng ta không lặp lại con đường của Bosnia hay Serbia?". Tất cả
đã quên mất rằng sự tan rã của đế chế xô viết diễn ra trên cái nền
những cuộc ném bom Srebrenitsa và chính chúng là nhân tố chính trị và trí
thức mạnh mẽ tác động đến ban lãnh đạo Nga vào mùa thu 1991 khi họ
quyết định giải tán Liên Xô. Những điều kiện xuất phát của chúng ta
(sự tan rã của nhà nước liên bang, sự đan bện các nhóm tôn giáo và tộc
người hết sức khác nhau ở trong đó) rất gần với "biến thể Nam Tư"
và việc tránh được cuộc nội chiến là thành công quan trọng nhất của
M. Gorbachev, Yeltsyn và chính phủ hậu cộng sản đầu tiên của nước Nga.
Một thành công mà họ chỉ nghe thấy tiếng la ó chứ không được một lời
cám ơn.
Sự khinh bỉ giàu có được bổ sung bằng sự khinh bỉ nhà
nước và các thiết chế của nó. Tất nhiên, nhà nước quan liêu đã cung
cấp không ít cái cớ cho sự khinh bỉ, nhưng mưu toan của những đại diện
trí thức riêng lẻ làm cái việc tắm rửa cho chính quyền lại thường
khiến các người anh em cùng giai cấp nhăn mũi ghê tởm. Còn khi có một ai
đó dù sao vẫn làm được một cái gì, tất nhiên là với không ít sai lầm,
thì chính quyền được thân ái kêu gọi phải trả lời trước nhân dân
và trước những người bận "đồ trắng". Dù thực ra những bộ
đồ trắng của các công tố viên được may bằng tay của các bị cáo. Nếu
như không đủ dũng cảm hay khát vọng đấu tranh cho tư tưởng của mình,
như Chubai, chí ít cũng hãy thừa nhận là ông ta làm việc vì anh. Công việc
của các nhà phê bình cũng quan trọng và danh dự, nhưng nó chỉ có thể diễn
ra khi có người đưa lại chất liệu cho việc phê bình đó. Khi quyết định
"không tham gia" thì phải trung thực đến tận cùng, ít ra trong
thâm tâm phải thấy trách nhiệm của mình không chỉ về cái đã làm, mà
cả về cái chưa làm. Mặc dầu điều sau rất khó đánh giá. Giới trí thức
không thể giống như những tên kẻ cắp trong vòng phạm luật với quy chế
là cấm hợp tác với chính quyền, cũng không thể để chính trị bị thao
túng bởi những kẻ con buôn và hám danh lợi. Thiếu sự cạnh tranh từ
bên ngoài, thiếu sự liên hệ thường xuyên từ phía các trí thức, chính
trị vẫn chỉ là một lĩnh vực hoạt động của con người thiếu vắng
những giá trị và nguyên tắc nào đó.
Một thái độ như thế đối với chính quyền là kết quả
của một bộ phận lớn giới trí thức chưa sẵn sàng thừa nhận rằng đời
sống chính trị có lôgich nhất định của nó, dù lôgich đó có khó chịu
thế nào đi nữa. Cuộc sống hiện thực, than ôi, khó khăn hơn và bẩn thỉu
hơn sơ đồ lý tưởng, nhưng việc những con người trung thực không tham
gia vào nó (để khỏi bị lây bẩn!) làm cho đời sống chính trị càng bẩn
thỉu hơn. Tôi không thể không trích dẫn những lời của V. Lenin nói về
những người (trước hết là các trí thức) sẵn sàng tích cực lật đổ
chế độ quân chủ nhưng lại kinh khiếp trước cảnh tượng họ nhìn thấy
ngay từ đầu cách mạng. "Tai họa của những nhà cách mạng đau khổ
này là ở chỗ ngay cả những người trong số đó được dẫn dắt bằng
những chính kiến đúng đắn nhất thế giới... vẫn thiếu hiểu biết về
cái tình trạng đặc biệt "khó chịu" mà một nước lạc hậu, bị
cuộc chiến tranh phản động và bất hạnh xâu xé, nhất thiết phải trải
qua... thiếu sự kiên định vào những giờ phút khó khăn của thời kỳ quá
độ khó khăn... Những kiểu người như thế thường rất hay nhăn mũi
khinh khi và nói: "Tôi không thuộc những kẻ hát tụng ca cho công việc
"hữu cơ", cho chủ nghĩa thực tế và cho sự tuần tự nhi tiến".
Dù cho có thái độ phê phán đối với hoạt động của tác giả những lời
này thì cũng khó mà phủ nhận tính đúng đắn của chúng. Mà đây là nói
về tình trạng của nước Nga cuối năm 1917, khi chưa phải trải qua cơn
ác mộng của cuộc Nội chiến. Thật lý thú thử xem có bao nhiêu trí thức
về sau này thấy mình đủ sức nhận ra trách nhiệm cá nhân về những sự
kiện tiếp theo của lịch sử nước Nga?
Sự gần gũi tư tưởng giữa giới trí thức Nga và Pháp
không phải do tôi nêu ra. Ở cả hai nước, mấy thập niên hoạt động sôi
nổi bão táp của giới trí thức đã kết thúc bằng những cơn bùng nổ
cách mạng đẫm máu chưa từng có so với các cuộc cách mạng khác ở
châu Âu. Cả nơi kia và nơi này chính giới trí thức là chiếc máy cái và
là nạn nhân chính của những cơn chấn động cách mạng. Trong cả hai trường
hợp kết quả của cách mạng đều là sự củng cố nhà nước quan liêu
ở nước mình bằng sự giảm thiểu mạnh vai trò của các thiết chế xã
hội, phi nhà nước.
Giới trí thức, để tự hiện thực hóa mình với tư cách
giới trí thức, cần phải có một nhà nước mà nó có thể tố cáo và căm
ghét. Nhưng nhà nước đó lại phải có thể bảo vệ nó, giới trí thức,
khỏi làm lụng ngoài đồng, khỏi kiếm miếng ăn và tìm cái sưởi ấm, bởi
vì nếu thiếu điều này thì sẽ không thể hát lên những bài ca tố cáo
và nhảy những vũ điệu cách mạng được. Thế là xảy ra hiện tượng:
trong những nước không có nhà nước quan liêu hóa mạnh thì không có giới
trí thức theo nghĩa đặc biệt Nga (đúng hơn, Nga - Pháp) của từ này. Vì
thế, chỉ cần nhà nước suy yếu, kéo theo sự cưỡng ép cũng như sự bón
mớm của nhà nước suy yếu, lập tức bắt đầu vang lên những lời phê
phán tố cáo gay gắt nhằm vào nhà nước và rốt cục nhà nước trở thành
mục tiêu của sự căm thù vô hạn. Hòa trong những lời tố cáo mạnh bạo
đó dường như có cả giọng của những kẻ đối lập. "Mười hai giọng
nói mắng chửi nhau nhưng không thể phân biệt giọng nào của ai... Chúng
nói từ con lợn sang con người, từ con người sang con lợn, rồi lại từ
con lợn sang con người, nhưng ai là ai trong số đó thì không thể nào đoán
nổi" - G. Orwell nhân một chuyện khác đã có viết như vậy. Có thời
các nhà trí thức ly khai đã chửi rủa những cải cách dân chủ một cách
hùng hồn không kém những người được đủ mọi loại giải thưởng thời
xô viết. Việc quý ngài đáng kính Siniavski tuyên bố Egor Gaidar là kẻ thù
riêng của mình chẳng khác gì sự rút phép thông công vang lên từ Hội
nhà văn Nga dạo nào. Sự nhất quán nào ở đây, mối liên hệ nào ở đây
giữa quá khứ và hiện tại, giữa kinh nghiệm cá nhân và những giá trị
được tuyên xưng, khi mà chính thiên tài vĩ đại Alexander Isaevits
Soljenitsyn cũng lên án quyền tư hữu đất đai!
Tất cả những điều đó thật đáng buồn, nhưng không đáng
ngạc nhiên. Đã có thời nhà nước lo ăn, lo mặc cho cả phái này lẫn
phái kia. Số này nhận trực tiếp ở chính quyền xô viết các giải thưởng
và danh hiệu. Số khác nhận gián tiếp: dưới dạng các giải thưởng nước
ngoài và các đảm bảo cho những người không được thừa nhận và những
nạn nhân của chế độ toàn trị. Tôi rất không muốn đặt một dấu bằng
giữa những người ly khai đáng kính và những kẻ trơ tráo của hội nhà
văn. Số đầu thật sự đã phải chịu đau khổ và kiếm những sự bảo
đảm của mình ở trong các nhà tù và trại tập trung xô viết, trong khi số
sau khá lắm thì cũng chỉ đau khổ vì ý nghĩ liệu có phải chúng đã bán
quá rẻ cái tâm hồn bất tử của mình không. Nhưng thực tế là thực tế:
sự sụp đổ của chế độ toàn trị đã dẫn đến cơn khủng hoảng tâm
lý nặng nề của các trí thức cả phía này lẫn phía kia. Cùng với sự
tan rã của hệ thống cộng sản đã biến mất những khuôn mẫu vững chắc,
những định hướng quen thuộc. Và trong cuộc đấu tranh mới của giới trí
thức với nhà nước đứng cùng một phe thấy có cả Baklanov chính thống,
cả Okudjav người sáng tạo mấp mé ranh giới được phép, cả Voinovits bị
cấm. Còn trong hàng ngũ các ca sĩ của chủ nghĩa toàn trị thấy có
Zinoviev và Limonov, những người mới cách đây không lâu còn điên cuồng
phê phán nó. Hiện nay, cũng như trước đây, chính các nhà văn đã phản
ánh diện mạo tinh thần chung của giới trí thức nước nhà: khăng khăng
không chịu gánh trách nhiệm - cả cho gia đình mình, cho đất nước mình,
ý muốn đánh lừa lôgich chính trị và đánh lừa lịch sử bằng cách đi
tìm cho mình một bậc lãnh tụ tốt bụng và thông thái, người sẽ tuân
theo "những quyền lợi của đất nước" mà chỉ giới trí thức
biết được. Mặc dù khác nhau bề ngoài, nhưng chính G. Ziuganov và G.
Yavlinsky lại là những người gần gũi với sự tìm kiếm tinh thần của
giới trí thức giữa ngã ba đường lịch sử hiện nay: cả hai đều nói rằng
họ có Thánh Thư, nhờ đó chẳng phải nỗ lực gì lắm, chỉ cần thống
nhất được hành động của toàn dân là có thể bảo đảm cho mọi người
no đủ, hạnh phúc. Cuộc sống thành ra không phải là quá trình phức tạp
tích lũy kinh nghiệm, mà là cuộc truy tầm Thánh Thư, người nào có nó sẽ
có khả năng đem lại sung sướng cho muôn dân khờ dại. Nói thế ngầm ý
là việc biến Thánh Thư thành thực tế đòi hỏi phải tin tưởng vô điều
kiện vào người mang nó. Một khi đã vậy thì câu hỏi tiếp theo, đem lại
sung sướng bằng cách nào - thông qua không tưởng kiểu cộng sản nhuốm máu
hay qua không tưởng dân chủ nhuộm hồng - không có ý nghĩa nữa. Cái
chính là lãnh tụ biết đường. "Der Furer sacht".
Giới trí thức Nga có thoát được khỏi mặc cảm vai trò
cứu thế, nó chỉ là mặt trái của tình cảnh tủi nhục, hay không? Nhiều
điều ở đây phụ thuộc vào các xu hướng kinh tế - xã hội của sự
phát triển đất nước. Nền kinh tế tự do mở ra không gian cho sự tìm
tòi sáng tạo và đồng thời làm cho việc kiếm miếng bánh bằng lao động
trở thành cần thiết, không ngồi chờ bố thí của nhà nước (bên trong
hay bên ngoài, không quan trọng) - điều này tạo điều kiện cho sự hình
thành một tầng lớp trí thức thực sự độc lập với chính quyền. Đây
không còn phải là giới trí thức hay cáu bẳn và muôn đời bất mãn, cứ
than là thời không hiểu mình. Đây không còn là lúc cáu gắt và than vãn,
đây là phải làm việc và kiếm sống. (Than ôi, còn quá ít thời gian cho
việc đọc sách theo ý mình). Thế nhưng đây sẽ là lúc hình thành một lớp
thượng lưu trí thức xem nhà nước như một viên chức làm thuê của mình
và có khả năng tác động trực tiếp, chứ không chỉ 'thông qua sự phủ
nhận", đến quyền lực tối cao.
Nhiều điều phụ thuộc vào lập trường của giới trí thức
"hiện đang hành động". Cần một sự làm việc căng thẳng của
đầu óc để nhận thức vị trí của đất nước mình trong lịch sử thế
giới. Việc thừa nhận chúng ta không phải là độc nhất đem lại chiếc
chìa khóa để hiểu các xu hướng phát triển của chúng ta. Lịch sử như
là phương pháp nhận thức các hiện thực của ngày hôm nay - đấy là cái
quan trọng đối với chúng ta bây giờ hơn bao giờ hết. Xét cho đến cùng,
nó không cản trở một ít thói trâng tráo mà sự hiểu biết lịch sử, hiểu
biết cái đã qua đưa tới. Cái đó sẽ qua.
Ngân Xuyên dịch (từ nguyên văn tiếng Nga)