>>>Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard<<<

.......... .
 
Vài dòng ... về tác giả Trần Chung Ngọc
 
Nguyễn Văn Hóa

Trong hơn một thập niên qua, cái tên Trần Chung Ngọc đã trở thành quen thuộc trong cộng đồng Phật tử hải ngoại nói riêng, cộng đồng người Việt nói chung. Sự quen thuộc ấy xuất phát từ hàng chục bài biên khảo thuần tuý giáo lý Phật pháp, khoa học sâu sắc, ông còn là tác giả (hoặc viết chung) của trên 10 cuốn sách nghiên cứu, tranh luận về tôn giáo (đặc biệt về đạo Công giáo Rô-ma) mang tính phê phán triệt để, không nhân nhượng. Tính triệt để ấy không mang cảm tính, nhưng dựa trên một bộ óc khoa học khách quan thuần lý, hơn thế nữa một tinh thần yêu dân tộc rất mạnh. Yếu tố  thứ hai này rất quan trọng, bởi không có nó, hẳn tác giả không có đủ nhiệt tình để ngồi vào bàn viết lao động trí óc không biết mệt mỏi ở vào lứa tuổi đã “về hưu” cần sự nghỉ ngơi, hay nói cho đúng với tinh thần Phật giáo hơn thì lẽ ra đã buông bút “giải nghiệp”.

Nếu chúng ta tò mò, thử vào Internet, tìm kiếm tên “Trần Chung Ngọc” trong các diễn đàn (Forums) cách nay cả muời năm - ở thời điểm tác giả còn là một giáo sư  môn Vật lý ở đại học Wisconsin và cho đến hôm nay, chúng ta sẽ ngạc nhiên tìm thấy các tư tưởng của tác giả đã vô tình tạo nên một “hiện tượng” qua các tranh luận của các người tham dự (netters): bênh vực, ủng hộ cũng như phản đối... Nhưng tinh ý, chúng ta sẽ nhận ra ngay những người bênh vực tác giả thường là những người có lương tri trí thức (qua phẩm chất ngôn ngữ, cung cách lý luận, tầm hiểu biết...) , những kẻ chống đối bao giờ cũng thuộc thành phần tầm thường, hoặc hoạt đầu chính trị. Và chúng tôi tin tưởng rằng, những người bênh vực ông thật sự đại biểu cho đa số thầm lặng : đọc, hiểu, chia xẻ mà không cần phải lên tiếng.

Kể từ ngày Giao Điểm tạo dựng một website (23-4-2001) cho tới nay, tên tuổi Trần Chung Ngọc đã vượt các đại dương, chuyển tải nội dung các công trình sáng tác của ông đi khắp thế giới, đặc biệt là ở trong nước. Từ  Bắc vô Nam, các thành phần trí giả, chuyên viên, sinh viên, công cán, viên chức nhà nước, chức sắc các tôn giáo v.v... đã thực sự làm quen với “tinh thần Trần Chung Ngọc”. Qua các sự kiện này cộng thêm với vai trò và trách nhiệm của một  trang chủ, chúng tôi không thể không viết những lời giới thiệu về ông, để đánh tan một vài ngộ nhận hoặc xuyên tạc  khó tránh.   Nhưng muốn viết cho nghiêm túc về một nhân vật như ông, chúng tôi cần phải viết bằng một tiểu luận (không những đi vào nội dung các tác phẩm, còn liên hệ tới những khía cạnh khác về con người, sự nghiệp, tâm lý, hoàn cảnh ...). Chúng tôi biết là chưa có điều kiện để thực hiện điều đó trong lúc này, vì vậy cấp kỳ viết một vài lời giới thiệu về ông là một điều cần thiết.

Cũng như những bậc trí giả Việt Nam vang danh một thuở vừa qua : các cụ Hoàng Xuân Hãn, Trần Văn Giàu, Nguyễn Đăng Thục, Đào Duy Anh, Lê Văn Siêu, Nguyễn Khắc Viện, Tạ Quang Bửu... mặc dù được đào tạo từ chuyên môn về khoa học, toán học, nhưng vì sự giới hạn của “ngôn ngữ” khoa học, đa số đều quy về một điểm là đi sâu vào lãnh vực văn hóa: tham cứu thêm về khoa học nhân văn, xã hội qua các bộ môn: triết học, văn học, chính trị, xã hội, lịch sử... , trong đó có vấn đề tôn giáo - mới có thể khai phóng, thỏa mãn cho khát vọng tri thức của mình. Ông Trần Chung Ngọc không tránh khỏi thông lệ này. Điều đó hẳn nhiên là một đặc điểm, đồng thời cũng là ưu điểm. Như một triết gia có căn bản về toán học cung cấp cho họ một khả năng lý luận tinh nhuệ; một kiến thức khoa học thực nghiệm cung cấp cho những người nghiên cứu về lịch sử, tôn giáo một tinh thần quán triệt, chân xác hơn, bởi điều rốt ráo của bộ môn lịch sử cũng như tôn giáo, là những sự kiện xã hội (social facts), chủ-khách-thể là con người. Ngoại trừ đức Phật hướng đạo con người là đừng tin vào những điều gì như truyền thuyết, kinh điển, sách vở, tuyên truyền... (1) ; khác với các tôn giáo của Tây phương, trong đó có Thiên Chúa giáo đều “trói buộc” (religion từ gốc Hy Lạp = “religio”) con người vào niềm tin, cứ tin sẽ thấy, cứ tin sẽ được. Chính vì lý do này mà các tín đồ không cần biết, cần đọc Thánh kinh, lại không nên thắc mắc, tìm hiểu, chỉ cần vâng lời và làm theo lời chỉ dạy từ kẻ chăn chiên mới thật sự là một tín đồ ngoan đạo. Đây là lý do rất thuận lợi cho sự tuyên truyền, nhồi sọ hướng dẫn người dân mù quáng vào những mục tiêu chính trị, khi cần. Khi chúng ta phải đụng chạm tới niềm tin mù quáng này, có nghĩa là chúng ta sẽ đụng chạm tới quyền lợi của một số người do sự mù quáng từ đám đông mang lại cho họ.

Trong cuốn sách mới xuất bản gần đây, “Chúa Giê-su là ai? giảng dạy những gì?” (Giao Điểm xuất bản Mùa xuân 2002), trong phần “Lời nói đầu”, tác giả Trần Chung Ngọc viết: “Tôi không chủ trương gây hận thù hay chia rẽ, nhưng tôi quan niệm rằng sự mở mang dân trí là điều kiện tất yếu của sự tiến bộ quốc gia, và sự hòa hợp trong khối dân tộc chỉ có thể có khi chúng ta hiểu rõ tín ngưỡng của nhau và tìm những phương cách để cùng nhau chung sống trên đất nước thân yêu của chúng ta. Hận thù và chia rẽ bắt nguồn từ sự thiếu hiểu biết chứ không từ sự hiểu biết những sự thực tôn giáo... ”. (2) Từ ý thức về nhu cầu “mở mang dân trí” này, cùng với tinh thần yêu dân tộc rất mạnh của tác giả như chúng tôi đã đề cập, Trần Chung Ngọc còn biết rằng: “Tuy nhiên, làm công việc bạc bẽo này, tôi ý thức được rằng, đưa ra những sự thật về Ki Tô giáo có thể sẽ phải đối diện với nhiều nguy hiểm cay đắng, hiểu lầm và ngay cả những phản ứng cuồng tín, nhưng tôi cho rằng sự yên lặng lại còn mang đến nhiều nguy hiểm lớn hơn cho dân tộc và quốc gia”. (3) Nhìn được sự “nguy hiểm lớn hơn” này, hẳn nhiên ông đã phải nắm được bài học lịch sử của quá khứ, của hiện tại, và dự phóng một ước mơ về tương lai hoàn thiện là có thể “triệt tiêu” được những mầm mống nguy hiểm của ngày qua. “Công việc” ấy nó cụ thể như  hành động sáng tạo văn chương theo nhà văn Trần Hữu Thục: “Hành vi viết, động tác viết nói chung đã trợ lực cho âm thanh, hoặc thay thế âm thanh trong nhu cầu biểu lộ trạng thái nội tâm và chuyển tải đến tha nhân, đến thế giới, đến tương lai”. (4)  Tương lai? Thì cả hai đều hướng về tương lai cả đấy, nhưng “viết” để thức tỉnh người dân vì lợi ích của dân tộc chắc hẳn phải đối diện với một thách thức và trọng trách lớn hơn.

Với  tâm thức của kẻ sĩ Việt thì ai cũng phải đồng ý rằng “Người dân Việt, với bản chất hiền lành, mộc mạc, “dĩ hòa vi quý”, không bao giờ muốn gây sự hiềm khích giữa các khối dân chúng có tín ngưỡng khác nhau”. (5) Tinh thần hiếu hòa ấy có được là nhờ vào “giáo lý Tam giáo truyền thống Việt Nam đã từng rung động nông dân từ Nam chí Bắc..., vì nó phản chiếu nguyện vọng xa xăm thâm kín của các dân tộc nông nghiệp Đông Nam Á châu...” (6) Đó là đặc ân không chỉ dành cho nông dân, cho giới sĩ phu, mà còn là “mẫu người lý tuởng của Phật tử Việt Nam” đã có từ trước thuở Hai Bà Trưng khởi nghĩa, biểu hiện trong “Lục độ tập kinh” (7).  Tinh thần “dĩ hòa” chỉ đảo ngược khi bị những kẻ “bạo ngược tham tàn” cướp đất nước họ, vì “đất nước là ý niệm thường trực nổi cộm trong tâm khảm người Việt, là đầu mối suy tư chiêm nghiệm của họ". (8) Giáo sư Lê mạnh Thát đã khẳng định tinh thần này như sau: “Cho nên, dù đất nước có bị  thay đổi, có bị huỷ diệt đi chăng nữa, trong quá trình tồn tại của vũ trụ, thì trước mắt họ phải thương yêu đồng bào, sông núi của họ, nói cách khác họ phải thương yêu quê hương mình”. (9)

Tinh thần yêu quê hương thuần chất trên chỉ thật sự bị lũng đoạn khi bóng dáng truyền đạo Ki Tô giáo đổ ập lên đất nước ta ở vào giai đoạn manh nha sự chia rẽ vì phân tranh quyền lực ( Trịnh – Nguyễn). Sự tuyên truyền đạo mới gặp sự đối kháng tinh thần của nông dân và sĩ phu, tầng lớp tăng lữ ngoại xâm này bắt đầu dựa lưng vào thế lực thực dân thanh toán chủ quyền quốc gia Việt Nam bằng đại bác và súng trường vào tháng 7 năm Mậu Ngọ 1858. Quốc gia Việt Nam thua trận trước sức mạnh vũ khí mới , nhưng bản chất văn hóa thâm kín này không bao giờ bị huỷ diệt. Thành phần thực dân có trình độ văn hóa ý thức vấn đề này, và hơn ai hết thành phần giáo sĩ truyền đạo trực tiếp đối đầu với thành trì văn hóa dân tộc không lay chuyển nổi của dân tộc Việt, họ thực hiện xây dựng nên một tầng lớp xã hội mới, vốn xuất thân từ bộ phận xã hội thấp kém, tách rời với tinh thần văn hoá nông nghiệp nhân bản và đạo lý mà các chế độ phong kiến chưa có cơ hội đưa họ vượt thoát lên trên để hòa mình vào cộng đồng văn hóa dân tộc. Tầng lớp xã hội mới này đứng ở ưu thế vượt trội vào thời kỳ chính sách Thiên-Chúa-giáo-hóa dưới chế độ của ông Ngô Đình Diệm, cũng là lúc đã bị sức đề kháng của văn hóa dân tộc đánh bại toàn diện. Với truyền thống đã được đào luyện và dẫn dắt, hậu huệ của “tầng lớp xã hội mới” trong quá khứ, ta có thể gọi là tầng-lớp-trí thức-Công-giáo-Rô-ma, thường nhập nhằng và hòa lẫn với tầng lớp tu sĩ Công giáo các cấp . Chiến tranh Việt Nam kết thúc, hai lần phân chia đất nước sau mấy trăm năm hoàn toàn thoát nạn, chủ quyền và sự phát triển quốc gia từng bước được xây dựng , tầng lớp xã hội hỗn hợp trên, một mặt quy hướng về dân tộc để tìm lại căn cước của chính mình, mặt khác cố ngóc đầu lên để thu hồi ưu thế đã bị lịch sử dân tộc đánh tan. Sự thu hồi ưu thế này thể hiện qua hai hình thức: hành động chính trị thực tiễn (chống lại kẻ đã tước đoạt quyền lực của mình, khi cần thiết thì lộ diện, khi yếu thế thì núp bóng dưới các chiêu bài), hai là đánh bóng lại một thuyết lý đã tàn tạ theo thời đại. Ngày nay, qua các biến cố suy đồi và phi đạo lý từ trung tâm đầu não của Giáo quyền Rô-ma, việc sử dụng Thánh kinh để xiển dương một tinh thần đạo đức, rao giảng đức tin làm chỗ dựa vững chắc cho hành động chính trị là công việc trái cựa, lỗi thời. Nhưng có vẻ như tầng lớp trí-thức-Công-giáo-Rô-ma không muốn chấp nhận thực trạng này, vì vậy họ cố nhắm mắt luôn trước những dữ kiện lịch sử : không phải dân tộc Việt Nam, nhưng chính từ các quốc gia đã từng tạo điều kiện và hỗ trợ cho ưu thế của họ đã đi tiên phong trong việc đào mồ chôn thế lực giáo quyền phong kiến phản động: nuớc Pháp mở đầu bằng những luật lệ chống Dòng Tên (anti-Jésuit laws) từ năm 1879 – dập tắt quyền lực của Giáo hội trong chính phủ năm 1904, nền giáo dục ở Áo (Austria) đã giải phóng các trường học ra khỏi sự khống chế của Giáo hội năm 1868, các tu sĩ Dòng Tên bị trục xuất ra khỏi nước Đức năm 1872, tách rời Giáo quyền ra khỏi Nhà nước năm 1918, và sau cùng là nước Mỹ... (10) Đối với các quốc gia phương Tây, Cách mạng và Pháp chế là phương tiện dập tắt thế lực giáo quyền, và là điều kiện tiên quyết đưa xã hội họ tới dân chủ. Trong hiện tại sự truyền đạo và rao giảng đức tin của các Giáo hội ở các quốc gia này chỉ tìm thấy sự tự do như  những kẻ đi bán hàng (salesmen), nhưng những hành động củng cố đức tin của giới trí thức Công giáo Rô-ma gốc Việt không nhắm tới việc rao hàng mà thể hiện một khát vọng chính trị. Một lần nữa, tập hợp của 15 tác giả trong cuốn sách “Hai ngàn năm một thuở: Chứng từ của một số người Công giáo” do ông Đỗ Mạnh Tri chủ xướng, Tin Nhà xuất bản ở Paris vừa qua bộc bạch khát vọng này. Chúng tôi xin giới thiệu với độc giả một phần (trong chương 4) bài phê bình ông Đỗ Mạnh Tri trong cuốn sách : “Nhận diện một số trí thức Công giáo ...” của tác giả Trần Chung Ngọc sắp ra mắt trong nay mai.

Nếu trong văn hóa dân tộc Việt Nam, cứu lấy một người đã biểu hiện tinh thần Bồ Tát rồi, thì “vì tương lai” của hàng triệu người trên đất nước ta, tác giả Trần Chung Ngọc chấp nhận thách thức “hiểm nguy” mà viết ta gọi là tinh thần gì? Thấy việc phải mà làm, thấy việc không phải là phản ứng, chính là phản ứng văn hóa. Một số người Phật tử có thể không đồng ý với thái độ sống hùng khí này, bởi “an trần lạc đạo” có thể là cố làm cho tai điếc, mắt đui, trí thoảng khoái, chỉ đọc, nhìn, làm những gì mang lại sự an lạc cho tinh thần. Đó có thể là con đường giải thoát mang lại hạnh phúc cá nhân, nhưng một số không nhỏ người Phật tử khác, dù chưa cần phải quy y hình thức, mang danh, định vị... khi đã ý thức chân lý không tin vào những điều tuyên truyền, xảo ngôn, trá ngữ thì phải hiểu rằng “phản ứng văn hóa” của ông Trần Chung Ngọc đã thể hiện trọn vẹn tinh thần Bi-Trí-Dũng.

Ghi chú:

(1). Thích Nhật Từ, “Kinh tụng hằng ngày”, nxb. Đạo Phật Ngày Nay, 2002, các tr. 98, 99

(2, 3). Trần Chung Ngọc, “Chúa Giê-su là ai? Giảng dạy những gì?”, nxb Giao Điểm, “Lời nói đầu”, các trang trong phần “Lời nói đầu”.

(4). Trần Hữu Thục, “Viết và Đọc”, nxb Văn Học, 1999, tr. 23

(6). Nguyễn Đăng Thục, “Thiền học Việt Nam”, Phật Học Viện Quốc tế, Hoa kỳ, 1986, tr. 483

(7, 8, 9). Lê Mạnh Thát, “Tổng tập Văn học Phật giáo”, nxb Thành Phố HCM, tập I, 2001, tr. 508, 508. Xin đọc 4 bài kệ trong “Lục độ tập kinh” các trang 505, 506.

(10). Bernard Grun, “The Timetables of History”, nxb Touchstone Book, 1982, các niên biểu 1868, 1872, 1879, 1904, 1918.

 across2.gif (136 bytes) Về lại trang “Lời mở đầu...” của tác giả Trần Chung Ngọc

 

Home   |  Go top page  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm.  Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: giaodiem@giaodiem.net

. ..........