-
Mậu Thân: Bến Tre
đã đi vào lịch sử nước Mỹ
Hoa Trinh
["Thế hệ chúng ta dựng đứng
những triền đá dốc ngược của sự lừa dối sặc sỡ và ngu dốt hào
nhoáng." Nguyên Vũ (Văn Nghệ Tiền Phong, 3/2001) ]
* * *
Để rộng đường dư luận,
tuần trước đây một đài phát thanh ở Houston đã cho phổ biến buổi Họp
báo của Hội ký giả Việt Nam Hải ngoại ở bên California để tố cáo
Thiền Sư Nhất Hạnh đã bịa đặt vụ Mỹ ném bom thị xã Bến Tre trong vụ
Tết Mậu Thân năm 1968.
Theo tin của Báo Người Việt thì buổi họp
báo này được đặt tên là "Diễn Đàn Ngày cho sự thật" vào chiều
chủ nhật 14-10-2001. Cuộc họp đã quy tụ trên 700 người tại nhà hàng
Seafood Paracel thành phố Westminster. Ông Đỗ Sơn, chủ tịch hội ký giả,
đã lên trình bày cho cử tọa rõ trong bài thuyết pháp của Thiền Sư Nhất
Hạnh ở New York nói về vụ ném bom Bến Tre, thành phố có 300,000 dân, là
bịa đặt. Sau đó nhiều viên chức hành chánh tỉnh Bến Tre như Phó tỉnh
trưởng Trần Huỳnh Châu, cựu chủ tịch Hội đồng tỉnh Nguyên Văn Cất,
Chủ tịch Xã An Hội Bùi Văn Truyền tức Ba Truyền, ông Nguyễn Ngọc Chấn
LĐ5 Biệt Động Quân và các cựu quân nhân từng chiến đấu tại Bến Tre
liên tiếp lên diển đàn hùng hồn xác nhận không có vụ Mỹ ném bom thị
xã Bến Tre hồi Tết Mậu Thân. Mỗi lần các cựu viên chức lên phát biểu
đều được cử tọa vỗ tay khen ngợi.
Sau đó nhiều báo ở Nam Cali tiếp sức
công kích Thiền Sư Nhất Hạnh và Đài phát thanh VOV của ông Đỗ Sơn đã
đẩy vụ này lên thành phong trào khủng bố.
Trong số cựu viên chức Bến Tre làm nhân
chứng đó, không hẳn ai cũng chính hiệu, mà còn giả mạo là đằng khác.
Trường hợp ông Phó tỉnh trưởng Trần Huỳnh Châu là một thí dụ. Năm
1967, ông Trần Huỳnh Châu là phó tỉnh trưởng hành Chánh ở Quảng Ngãi.
Năm 1968 ông nhập ngũ Khóa 3/68 ; sau khi tốt nghiệp đeo lon chuẩn úy ông mới
được biệt phái về Bộ Nội vụ; rồi mới đi làm phó tỉnh trưởng tỉnh
Kiến Hòa. Nghĩa là sau Tết Mậu Thân cả năm trời ông mới làm phó tỉnh
trưởng Kiến Hòa mà ông dám can đảm lên làm nhân chứng. Ông quên điều
răn số 8 của Chúa rồi (xin xem bản tiểu sử của Trần Huỳnh Châu đính
kém).
Trong cuộc họp báo này, ông Đỗ Sơn còn
khẳng định rằng câu chuyện bịa đặt này đã xẩy ra ba mươi năm trước
khiến phong trào phản chiến tại Mỹ đã trói tay được chính quyền Mỹ,
làm họ bỏ rơi Việt Nam nay được lập lại. Sau đó đài phát thanh VOV của
ông Đỗ Sơn khích động mọi người thù ghét Nhất Hạnh, biến thành
phong trào khủng bố các cơ sở của Phật giáo, và đổ tội việc mất miền
Nam cho Phật giáo phản chiến.
Sau đại chiến thứ hai, Nhật Hoàng và
Giáo Hoàng Pius 12 được Mỹ tha không đưa ra tòa án chiến tranh. Đổi lại
Giáo Hoàng bỏ rơi con chiên trong các xứ Cộng sản chiếm, theo đường lối
của Mỹ là chống cộng. Khi Giáo Hoàng Gioan 23 lên ngôi đã đổi ngược
chính sách của Mỹ, theo chính sách xin bắt tay với Cộng Sản để cứu giáo
dân trong các nước Cộng Sản. Anh em ông Ngô Đình Diệm cũng theo chính
sách của Giáo Hoàng ngầm liên lạc với Cộng Sản, phản bội lại quân
cán chính miền Nam, phản lại chính sách của Mỹ nên Mỹ đã bỏ rơi phó
mặc cho các Tướng lãnh làm Cách Mạng và sau đó chết thảm. Khi Giáo
Hoàng Phao Lồ Đệ Lục (Paul VI) lên ngôi còn đi xa hơn, công khai kêu gọi
Hòa Bình. Ngày 3 tháng 10 năm 1965, Giáo Hoàng sang Mỹ gặp Tổng thống
Johnson và sau đó ngày 4-10-1965, Giáo hoàng đọc diễn văn tại trụ sở Liên
Hiệp Quốc kêu gọi tài giảm binh bị, nỗ lực phục vụ hòa bình và hạnh
phúc của nhân loại. (Ngài cao giọng No War, No More War!) (Đoàn Thêm, Việc từng
ngày: 1965, trang 157). Tác giả Avro Manhattan đã viết trong quyển Viet Nam why
did we go? nơi trang 183 như sau : "If the Vatican and US anticommunist crusade was
weakened by pope John XXIII in the winds of change, the attitude of Pope Paul VI gave
final blow to its very existence. Thus the new policy of the Vatican had become a major
contributor to the ultimate defeat of the US in that region." (Nếu cuộc thánh
chiến chống cộng của Vatican và Mỹ đã bị suy yếu vì những ngọn gió
đổi chiều của Giáo Hoàng Gioan 23, thì thái độ của Giáo Hoàng Phao-lồ
đệ lục đã giáng một đòn chí tử vào sự hiện hữu của nó. Như thế
chính sách mới của Vatican trở thành sự đóng góp chính yếu vào sự thất
bại của Mỹ trong vùng này).
Khi bức tường Bá Linh sụp đổ, các nước
Đông Âu sụp đổ theo từng loạt đều do dân chúng từ trong nhà thờ đi
ra cả. Lời kêu gọi Hòa Bình của Giáo Hoàng và đường lối chính trị của
Giáo Hội La Mã mới nặng ký, mới có thể trói tay Hoa Kỳ bỏ rơi Việt
Nam được. Chống hay chửi Nhất Hạnh phản chiến tức là chống hay chửi
Giáo hoàng phản chiến đó ông Đỗ Sơn ạ, vì Giáo Hoàng đích thực là
tên đầu sỏ, tên phản chiến số một! Sau đó Giáo Hoàng Phao Lồ Đệ Lục
(Paul VI) còn cho Bộ Trưởng Ngoại giao Nguyễn thị Bình của chính phủ
Lâm thời Miền Nam Việt Nam yết kiến. Như vậy Giáo Hoàng đã gián tiếp
hợp thức hóa chính phủ lâm thời Miền Nam Việt Nam thành một thực thể
chính trị. Vì miền Nam Việt Nam có 2 chính phủ nên khi ngồi vào bàn Hòa
Đàm Ba Lê, chính phủ Nguyễn Văn Thiệu chỉ tương đương với chính phủ
Huỳnh Tấn Phát. Thật là tai hại, Giáo hoàng đã trói tay Tổng thống
Johnson, lại thụi cho Nguyễn Văn Thiệu một quả, vậy bây giờ ông Đỗ
Sơn oán trách Giáo Hoàng hay Nhất Hạnh? Xin ông cho biết để có dịp đào
sâu thêm nữa.
Trở lại việc tố khổ Nhất Hạnh. Ông
Nguyễn Ngọc Chấn, ký giả CNN, cho biết ông ở tỉnh Bến Tre từ năm
1960-1966. Năm 1968 ông trở về Bến Tre trong Liên Đoàn 5 Biệt Động Quân.
Ông xác nhận Bến Tre không lần nào bị bom phá hủy. Ký giả của đài
CNN, ông làm ở đài nào vì CNN có 3, 4 đài? Hình như trước đây ông là
tác giả video Kháng chiến giả thì phải? Tin tức về Tết Mậu thân ở Bến
Tre như thế nào mà cả hội trường 700 người, có cả hội đồng hương
Bến Tre, không có một người nào lên tiếng là có dội bom?
Tất cả các tài liệu viết về trận Mậu
Thân đều ghi nhận rằng Bến Tre bị dội bom rất nặng. Sau đây là một
số tài liệu về chiến trận Mậu Thân ở Bến Tre, gồm có tài liệu Việt
Nam Cộng Hòa, Việt Cộng và Mỹ:
Tài Liệu Việt Nam Cộng Hòa
- Ngày 8-2-1968 : Kịch chiến tiếp tục tại
Bến Tre, 451 VC tử thương, 60 VNCH và 35 Mỹ tử thương, nhiều thường dân
thiệt mạng (Đoàn Thêm : 1968: Việc từng ngày, trang 50).
- Vì không rõ Cộng Sản đã lọt vào, trung
tá tỉnh trưởng Kiến Hòa bị trúng đạn tử thương khi rời tòa tỉnh
đi thị sát thành phố.
"Để đẩy bật những chốt tử thủ của
Cộng Sản trong khu vực trong trung tâm thành phố, phi pháo đồng minh và
VNCH được sử dụng tối đa. Bởi thế, khi Cộng quân rút lui, trên 50 phần
trăm nhà cửa Bến Tre bị hư hỏng. Số thị dân tử thương lên tới 90 người.
(Phạm Văn Sơn & Lê Văn Dương, 1968:344; trích trong Mậu Thân 68: Thắng
hay bại?, của Chính Đạo (1998), trang 253)
Tài Liệu VC:
- Đúng 1 giờ sáng 1 tháng 2, 1968, Đội đặc
công nước do đồng chí Hoàng Lam chỉ huy đã ém quân sẵn tại bờ bắc
sông Bến Tre, nhanh chóng đánh chiếm trại Đinh Tiên Hoàng, bám giữ đầu
cầu cho Tiều Đoàn 516 vượt sông (ông Bùi Văn Truyền cựu xã trưởng An
Hội bảo VC không chiếm được cơ sở nào cả).
- Đơn vị đặc công tiến đánh sở chỉ
huy Trung đoàn 10, diệt tên Trung Tá chỉ huy Trung đoàn (Nguyễn tường Diễn?)
và bắt sống được Trung tá chỉ huy Công Binh Bến Tre.
- Các ngày 2 và 3 tháng 2, pháo địch ở hạm
tàu trên sông Hàm Luông và căn cứ Bình Đức Mỹ Tho bắn dữ dội vào nội
ô, các loại máy bay ném bom, máy bay trực thăng bắn và rải xăng đặc hủy
diệt khu Chợ Bến Tre, làm hơn 300 đồng bào ta chết và bị thương. (Cuộc
đọ sức thần kỳ, trang 258 và 259 của Thiếu tướng Lê Quốc Sản chỉ
huy Khu 8).
Nhân Chứng:
a. Một người đi
chuyển vận tiếp tế có mặt khi đó cho biết xác chết nhiều quá, không
đủ người đem đi chôn, nên một số người đã đem xác chết bỏ xuống
sông và cây cầu bắc qua thị xã bị gẫy đổ.
b. Một nhân chứng
khác là ông Trần Ngọc Châu, cựu tỉnh trưởng Kiến Hòa, và lúc đó
đang là dân biểu của tỉnh này, chẳng hiểu tại sao không thấy lên tiếng.
Theo báo cáo ngày 28/2/1968 của Tướng Edward
Lansdale (mới chỉ được giải mật năm 1997), ông Châu tiết lộ với
Lansdale ngày 27/2 rằng vừa từ Mỹ về, nên ông Châu muốn xuống Kiến
Hòa bằng đường bộ hầu thị sát tình hình. Nhưng đường bộ chưa thông
thương, ông Châu muốn được cấp một chỗ trên trực thăng Mỹ hầu tổ
chức một kế hoạch tái thiết Bến Tre nói riêng, Kiến Hòa nòi chung, và
sẽ nhờ thành phố kết nghĩa Hayward, thuộc bang California, tài trợ. (Xem
Phụ Bản)
Dù có thể ông Châu không ưa ông Nhất Hạnh,
nhưng vì sự thực lịch sử, chẳng lẽ một người từng chống lại cả
chế độ Nguyễn Văn Thiệu lại quay mặt làm ngơ?
Tài Liệu của Mỹ:
a. Theo các tác giả Viet-Nam and
America & A Documented History là Marvin E. Gettleman, Jane Franklin, Marilyn Young
và H. Bruce Franklin (tr.363-364):
But the most famous case of this strategy in action
was Ben Tre in Kien Hoa province. Here is an excerpt from the February 8 New York Times:
"The Viet Cong had people all over this
town," said Maj. Philip Canella. . . . "Christ, they were everywhere. . . . They
had apparently infiltrated into most of the town; they were probably living with the
people. It was Tet and there were plenty of strangers in town."
Ben Tre was pulverized by US. firepower. "It
became necessary to destroy the town to save it," an unidentified US. Major
explained, thus coining one of the most notorious phrases of the war and a fitting motto
for the US. counterattack against the Tet Offensive.
These citations and other information on US. bombing
and shelling are found in New York Times, February 6, 1968. According to the Times, there
were at least 750 civilian casualties in My Tho, 350 in Can tho, 2,500 in Ben Tre.
(Tạm dịch: Nhưng trường hợp được biết
đến nhiều nhất trong cuộc chiến là Bến Tre trong tỉnh Kiến Hòa. Sau đây
là đoạn trích từ báo New York Times số ra ngày 8 tháng 2:
"Việt Cộng đã ở khắp trong thành phố,"
Thiếu Tá Philip Canella nói ... "Chúa ơi, chúng ở khắp mọi nơi ... gần
như chúng ở khắp trong thành phố, có thể chúng ở chung với dân chúng
... Đó là dịp Tết và có nhiều người lạ mặt vào trong thành phố."
Bến Tre đã bị đánh nát bởi hỏa lực của
Mỹ. "Đã tới lúc phải tiêu hủy thành phố để cứu lấy nó, "
một Thiếu Tá Mỹ ẩn danh đả giải thích như vậy; và lời tuyên bố của
ông ta trở thành một trong những câu được trích dẫn nhiều nhất về cuộc
chiến và một khẩu hiệu thích hợp nhất của các cuộc phản công của Mỹ
trong dịp Tổng tấn công Tết [Mậu Thân].
Những lời trích trên cùng tin tức khác về
việc Mỹ bỏ bom và pháo kích tìm thấy trong báo New York Times số ra ngày 6
tháng 2 năm 1968. Theo báo [New York] Times có ít nhất 750 thường dân bị thương
vong ở Mỹ Tho, 350 ở Cần Thơ, 2500 ở Bến Tre.
b. Theo Dictionary of the Vietnam
War của James Olson (trang 39):
Ben Tre was the capital city of the Kien Hoa
Province in IV Corps.* South of Saigon,* Kien Hoa province borders the Vietnamese coast
along the South China Sea. Ben Tre became temporarily famous in 1968 when Vietcong* forces
captured the city during the Tet Offensive.* Overwhelming American and South Vietnamese
forces, bolstered by massive air strikes, recaptured BenTre, but the artillery and air
strikes all but destroyed the town, killing an estimated 550 people and wounding 1,200
more. That battle for Ben Tre was not much different from countless other struggles during
the Vietnam War, except for the famous quote of an American major when asked by journalist
Peter Arnett to justify the indiscriminate use of explosives. His remark, "It became
necessary to destroy the town in order to save it," was widely quoted in the world
press and became a symbol, to antiwar* activists, of the bankruptcy of US. policy in
Southeast Asia.
(Tạm dịch: Bến Tre là thị xã của tỉnh
Kiến Hòa thuộc vùng 4 chiến thuật ở phía Nam Saigon. Tỉnh Kiến Hòa có
ranh giới nằm dọc theo bờ biển Việt Nam của Biển Nam Trung Quốc. Năm
1968, Bến Tre một thời bỗng nổi tiếng khi Việt Cộng chiếm thị xã
trong Tấn công Tết [Mậu Thân]. Một lực lượng vượt trội của Mỹ và
VNCH, với sự tiếp sức của những cuộc đánh bom dữ dội, tái chiếm Bến
Tre; hỏa lực pháo binh và không quân đã hầu như tàn phá thị xã, giết
chết 550 người và làm bị thương 1,200 người khác. Trận đánh Bến Tre
không khác gì vô vàn những trận đánh khác trong cuộc chiến Việt Nam, ngoại
trừ câu trả lời độc đáo của vị Thiếu tá nhằm biện minh cho việc sử
dụng bừa bãi bom nổ, khi trả lời cuộc phỏng vấn của ký giả Peter
Arnett. Câu tuyên bố của ông ta, rằng "Đã tới lúc phải tiêu hủy
thành phố để cứu lấy nó, "được nhắc tới rộng rãi trong giới
báo chí và đã trở thành biểu tượng phá sản của chính sách Hoa Kỳ ở
Đông-Nam-á mà các phong trào phản chiến sính dùng."
c. Tác giả Joseph Buttinger cũng
viết:
Trong dịp này, ngày 17 tháng 2 [năm 1968],
Thượng nghị sĩ Albert Gore [cha của ứng cử viên Tổng thống Al Gore của
Đảng Dân Chủ năm 2000] nói đã đến lúc Hoa Kỳ rút ra khỏi vũng lầy Việt
Nam; [vì] chúng ta đang tàn phá một xứ mà chúng ta thường tuyên bố muốn
cứu nó" [Senator Albert Gore said on February 17 that the United Sates had to get
out of the morass of VietNam; "We are destroying the country we profess to be
saving."]
Còn Thượng Nghị sỉ Fulbright đòi hỏi quốc
hội phải được tham khảo trước khi gửi thêm quân qua Việt Nam. Thượng
Nghị Sỉ Robert Kennedy cho đó là "vô đạo đức và không thể chịu đựng
nổi". Và Mike Mansfield, trong khi cảnh cáo rằng không được leo thang
chiến tranh, tuyên bố: "Chúng ta đang ở sai chỗ và chúng ta đang đánh
một cuộc chiến sai lầm". (Senator Fulbright demanded that Congress be
consulted before any troops sent to Vietnam. Robert F Kennedy said it was "immorale
and intolerable". And Mike Mansfield, warning against any further escalation, stated:
"We are in the wrong place and we are fighting the wrong kind of war" (Viet-Nam
: A Political History, Joseph Buttinger, tr. 507).
Từ trận đánh Tết Mậu Thân, Bến Tre đã
đi vào sử của nước Mỹ; và cảnh tàn phá của một trong ba thành phố bị
thiệt hại nhất vùng IV này (theo báo cáo của Đại sứ Ellsworth Bunker) đã
ít nhiều dẫn đến sự phá sản của chính sách Mỹ tại Việt Nam bằng
cách cung cấp cho phe phản chiến câu tuyên bố của viên Thiếu tá dấu
tên. Còn ở Việt Nam tin tức về Mậu Thân ở Huế được phổ biến nhiều
nên trận chiến ở Bến Tre bị lãng quên, và không mấy ai được rõ tầm
quan trọng của nó trong dư luận quần chúng Mỹ cũng như thế giới. Vì thế
mới có chuyện ông Đỗ Sơn tổ chức họp báo. . . . .
Hoa Trinh
Home