-
- PHẬT GIÁO VÀ SỰ TIẾN
HÓA
- TƯ TƯỞNG CỦA NHÂN LOẠI
Trần Chung Ngọc

Cách
đây hơn 25 thế kỷ, vào khoảng 560 năm trước "thời đại hoang
mang" (560 B(efore) C(onfusion): từ của LLoyd M. Graham trong cuốn Deceptions
and Myths of the Bible), một nhân vật lịch sử với một tiểu sử rõ
ràng đã sinh ra đời để mở đường cho chúng sinh thấy, giác ngộ và hội
nhập cái biết và thấy của Phật (Khai, Thị, Ngộ, Nhập Phật tri kiến).
Nhân vật lịch sử này chính là Thái Tử Tất Đạt Đa, con vua Tịnh Phạn
ở miền Nam Népal ngày nay.
Khi sinh ra đời, về bản chất, con
người của Thái Tử Tất Đạt Đa không khác gì con người của bất cứ
ai trong chúng ta: nước mắt cùng mặn, máu cùng đỏ v..v.. Tuy nhiên, trước
những cảnh khổ hiển nhiên của con người: sinh, lão, bệnh, tử, Thái tử
Tất Đạt Đa, với một nghị lực phi thường, đã từ bỏ nơi quyền quý
giàu sang vật chất, đi tìm con đường giải thoát cho chúng sinh qua một
quá trình tu tập gian khổ kiên trì trong 6 năm, cuối cùng đã tìm ra chân
lý và trở thành Phật, nghĩa là Bậc Giác Ngộ hay Bậc Tỉnh Thức: tổng
hợp của một kiến thức siêu việt với một tâm từ bi vô lượng. Trong
lịch sử loài người, chúng ta khó có thể thấy trên thế gian một khuôn
mặt nào đặc biệt và cao cả như Đức Phật.
Đặc biệt và cao cả vì Đức Phật
là vị Giáo Chủ tôn giáo duy nhất trên thế gian đưa ra một khẳng định
tuyệt đối bình đẳng: "Ta là Phật đã thành, các người là Phật
sẽ thành", nghĩa là về bản chất, Giáo Chủ và tín đồ không có
gì khác nhau. Đặc biệt và cao cả vì Đức Phật đã không hề bắt buộc
bất cứ ai phải tin vào Phật hay những điều giảng dạy của Phật một
cách mù quáng, không cần biết, không cần hiểu. Đặc biệt hơn cả là Đức
Phật đã thấy rõ sự vận hành của vạn Pháp (Như Thực tri Kiến: to see
things as they really are) và đã để lại cho hậu thế một giáo lý không có
giáo lý nào hơn, không có giáo lý nào bằng. Đây không phải là nhận định
vô căn cứ của một tín đồ Phật Giáo để khoa trương tán tụng tôn
giáo của mình, mà là kết quả khảo sát tư tưởng, giáo lý Phật Giáo
trong sự tiến hóa tư tưởng của nhân loại. Luận cứ này sẽ được chứng
minh trong những phần sau. Trong phần chứng minh này, chúng ta sẽ thấy, giá
trị của một tôn giáo không thể dựa trên số tín đồ của tôn giáo đó
đông hay không đông, mà dựa trên những tư tưởng hoặc phúc lợi mà tôn
giáo đó đã mang đến cho nhân loại.
Thường thì giới Phật tử thông
thường chúng ta chỉ biết đến vài giáo lý căn bản của Phật Giáo
xuyên qua các triết lý về Tam Độc, Tam Pháp Ấn (Vô Thường, Khổ, Vô
Ngã), Tứ Diệu Đế, Tứ Niệm Xứ, Bát Chánh Đạo. Nếu chúng ta để tâm
nghiên cứu và tìm hiểu về Phật Giáo thì chúng ta sẽ khám phá ra rằng,
tư tưởng Phật Giáo và "tri kiến" của Đức Phật đã đi trước
sự tiến hóa tư tưởng và sự hiểu biết của nhân loại khá lâu, và,
tuy rằng với một tinh thần khoa học, Phật Giáo sẵn sàng chấp nhận những
sai lầm, nếu có, nhưng cho tới ngày nay, Phật Giáo chưa từng phải xét lại
quan điểm của mình để cập nhật hóa với những tiến bộ về tư tưởng
cũng như những khám phá mới của khoa học.
Sau đây tôi sẽ đưa ra một số kiến
thức Phật Giáo để quý độc giả thấy rõ tư tưởng Phật Giáo đã đi
trước sự tiến hóa tư tưởng của nhân loại như thế nào. Trong khuôn khổ
bài viết này, tôi chỉ có thể liệt kê một số vấn đề điển hình một
cách ngắn gọn chứ không thể khai triển để chứng minh vì mỗi vấn đề
đòi hỏi một sự trình bày sâu xa và đầy đủ hơn.
- Chúng ta đều biết rằng, khi xưa Đức Phật thường
khuyên các đệ tử trước khi uống nước hãy niệm chú để phổ độ cho
các vi chúng sinh có trong nước. Người còn khẳng định trong mỗi bát nước
có tới 84000 sinh vật nhỏ nhoi mà mắt thường chúng ta không thể nhìn thấy
được. Chúng ta nên hiểu con số 84000 trong Phật Giáo có nhiều ý nghĩa và
một trong những ý nghĩa này là tượng trưng cho một con số lớn chứ không
phải là một con số chính xác. Hơn 22 thế kỷ sau, vào cuối thế kỷ 17,
các khoa học gia đã phát minh ra cái kính hiển vi đầu tiên và nhờ đó đã
có thể nhìn thấy trong một giọt nước có một số lớn các vi sinh vật.
- Trong Kinh Hoa Nghiêm, quan niệm về vũ trụ của Phật
Giáo là trong đó có vô số những thế giới có hình dạng khác nhau với
vô số chúng sinh khác nhau. Hơn 21 thế kỷ sau, vào cuối thế kỷ 16,
Giordano Bruno cũng đưa ra quan niệm về một vũ trụ bao la vô cùng tận
trong đó, ngoài thế giới của chúng ta, có thể còn có vô số các thế giới
khác nhau với vô số dạng sống (life-forms) khác nhau. Chúng ta đã biết,
quan điểm này trái với những lời mạc khải không thể sai lầm trong
thánh kinh của Thiên Chúa Ki Tô Giáo, một vị thần mà theo niềm tin của
những tín đồ Ki Tô, là bậc Toàn Năng, nghĩa là làm gì cũng được, và
Toàn Trí, nghĩa là cái gì cũng biết. Do đó, Bruno đã phải trả một giá
rất đắt cho kiến thức rất đúng của mình. Ông ta bị định chế Ca-Tô
giáo trong đó có giáo hoàng, vị đại diện của Chúa trên trần, và các
linh mục, những người được Chúa dạy là phải thương yêu kẻ thù như
chính mình, lên án và chính các linh mục đã đưa ông lên giàn hỏa để
thiêu sống. Thế kỷ 16 mở đầu cho cuộc cách mạng khoa học. Sự phát
minh ra kính thiên văn của Galileo Galilei ở đầu thế kỷ 17, và khoa vũ trụ
học ngày nay đã chứng minh quan điểm của Phật Giáo về vũ trụ cũng
như của Giordano Bruno 21 thế kỷ sau là đúng. Một trong 10 danh hiệu mà người
đời tôn vinh Đức Phật khi Người còn tại thế : Thiên Nhân Sư (Teacher
of Gods and men), bậc Thầy của các Thiên Chúa và của con người, không phải
là không có giá trị thuyết phục.
- Thuyết Duyên Sinh hay Duyên Khởi là thuyết căn bản
nhất trong Phật Giáo. Giữa thế kỷ 19, Charles Darwin đưa ra thuyết Tiến Hóa,
và ngày nay, càng ngày chúng ta càng thấy thuyết này rất phù hợp với
thuyết Duyên Sinh. Vạn Pháp trong vũ trụ đều do đủ duyên mà thành, hết
duyên thì diệt, và đây cũng là căn bản của thuyết Tiến Hóa, từ sự
xuất hiện của các cây cỏ cho đến con người. Giáo sư Trịnh Xuân Thuận
viết trong cuốn L'Infini Dans La Paume de la Main: "Tiến
hóa từ những cát bụi của những ngôi sao, chúng ta chia sẻ cùng một lịch
sử vũ trụ với những con sư tử trong những vùng hoang mạc và những
bông hoa tỏa mùi thơm" (Poussières d'étoiles, nous partageons la même
histoire cosmique avec les lions des savanes et les fleurs de lavande). Tôi sẽ
nói thêm về cuốn sách rất có giá trị này trong một đoạn sau.
- Thuyết Vô Thường của Phật Giáo là một hệ luận
của thuyết Duyên Sinh. Các tín đồ Ki Tô Giáo thường cho rằng Thiên Chúa
của họ là bậc thường hằng (omnipresent), nghĩa là có mặt khắp nơi. Đây
chỉ là một niềm tin tôn giáo chứ không phải là một sự hiểu biết dựa
trên những sự thật bất khả phủ bác. Ngày nay, tuyệt đại đa số các
khoa học gia đã gạt bỏ quan niệm về một Thiên Chúa sáng tạo ra muôn
loài, cho rằng vai trò "sáng tạo" của Thiên Chúa không cần thiết,
cũng như ngày xưa, khi hoàng đế Napoléon hỏi Pierre Simon de Laplace là sao
trong tác phẩm nghiên cứu khoa học về Cơ Học Các Thiên Thể (Celestial
Mechanics) của ông ta không thấy nói gì đến Thiên Chúa, Pascal đã trả lời:
"Tôi không cần đến cái giả thuyết đó". Điều rõ ràng
là trên thế giới và trong vũ trụ ngày nay, cái thường hằng, có mặt khắp
nơi, chính là tính vô thường của vạn pháp. Từ một vi sinh vật nhỏ
nhoi như một vi khuẩn cho đến con người, một ngôi sao, một thiên hà
trong vũ trụ, không có gì có thể đi ra ngoài luật vô thường. Thiên Chúa
của Ki Tô Giáo cũng không thoát khỏi luật vô thường, vì quan niệm về
Thiên Chúa của Ki Tô Giáo đã thay đổi rất nhiều qua thời gian với những
lý luận thần học khác nhau. Thuyết vô thường của Phật Giáo ngày nay đã
được khoa học kiểm chứng.
- Phật Giáo đưa ra những thuyết Tương Duyên, Tương
Tức, Dung Thông Vô Ngại, Một là Tất Cả v..v.., đặc biệt là trong Kinh
Hoa Nghiêm. Khoa học ngày nay, nhất là khoa Vật Lý Nguyên Lượng (Quantum
Physics), nghĩa là môn vật lý khảo sát thế giới của các hạt "Tiềm
Nguyên Tử" (Subatomic particles) cũng đã chứng minh rằng mọi vật đều
liên hệ tới nhau, không có cái gì có thể có tự tính, nghĩa là độc lập,
không tùy thuộc bất cứ cái gì khác. Đây cũng là căn bản thuyết Vô
Ngã của nhà Phật.
- Chúng ta đều biết Phật Giáo là một tôn giáo
trị liệu, nghĩa là một tôn giáo chữa những căn bệnh gốc của thế
gian. Luận Tỳ Bà Đạt Ma cũng như Duy Thức Luận và nhiều Kinh Điển khác,
tất cả đều có tính cách trị liệu. Không ai có thể phủ nhận Thiền
là một phương pháp trị liệu tâm thần hữu hiệu mà ngày nay nhiều người
Ki Tô Giáo, Do Thái Giáo v..v.. áp dụng. Tôi muốn nhắc lại lời của nhà
phân tâm học nổi tiếng của Anh Quốc, Tiến sĩ Graham Howe: "Đọc
một chút về Phật Giáo ta cũng có thể nhận thức được rằng: từ 2500
năm trước, các Phật tử đã biết những vấn đề hiện đại về tâm
lý nhiều hơn là chúng ta thường đánh giá họ. Phật Giáo nghiên cứu những
vấn đề này từ lâu và cũng đã tìm ra phương thức giải quyết chúng.
Ngày nay chúng ta chỉ khám phá lại trí tuệ thông thái cổ xưa của Đông
Phương" (To read a little Buddhism is to realize that the Buddhists knew, 2500
years ago, far more about modern problems of psychology than they have yet been given
credit for. They studied these problems long ago and found answers too. We are now
rediscovering the ancient wisdom of the East).
Chúng ta đã thấy, qua vài tư tưởng
điển hình của Phật Giáo, cái biết của Phật Giáo đã đi trước cái biết
của nhân loại như thế nào. Lẽ dĩ nhiên, các tư tưởng Phật Giáo không
chỉ có vậy, mà còn vô số các điều khác nằm trong rừng Kinh Điển Phật
Giáo. Nhưng hiển nhiên, trong khuôn khổ một bài báo, không ai có thể
trình bày tất cả những tư tưởng của Phật Giáo cho đầy đủ.
Sau đây tôi xin trình bày một khía
cạnh khác thuộc loại "đi trước thời gian" của Phật Giáo, đó
là khía cạnh tôn giáo và xã hội.
Trong các tôn giáo lớn trên thế giới,
chỉ có Phật Giáo là tôn giáo nhân bản và nhân chủ. Các tôn giáo khác
như Ấn Độ Giáo, Hồi Giáo, và Ki Tô Giáo đều là Thần giáo. Nhân bản
là đặt căn bản trên con người, và nhân chủ là con người làm chủ
chính mình, tự mình tu tập để đi đến giải thoát chứ không trông
ngóng hay nương tựa ở bất cứ Thần quyền nào. Vì vậy, Phật Giáo quan
tâm đến những chuyện thực tế của con người chứ không suy luận viển
vông đến những vấn đề siêu hình không có ích lợi thiết thực cho con
người ngay trong đời sống này. Từ bản chất nhân bản và nhân chủ,
giáo lý Phật Giáo là, theo như một số học giả, một cuộc cách mạng tư
tưởng. Tôi thấy danh từ cách mạng không đúng, vì cách mạng có nghĩa chống
lại cái cũ thay bằng cái mới. Theo tôi, chúng ta phải nói rằng tư tưởng
Phật Giáo rất đặc thù và trên thực tế đã mở đường cho những cải
cách tư duy trong các Thần giáo cùng những khám phá khoa học về vũ trụ.
Thật vậy, các học giả Tây phương nghiên cứu đứng đắn về Phật Giáo
đều công nhận Phật Giáo là một tôn giáo thực nghiệm (empirical), khoa học
(scientific), thực tế (pragmatic), và nhất là dân chủ (democratic). Những đặc
tính này của Phật Giáo là những đặc tính mà chúng ta không thể thấy
trong các Thần Giáo. Tại sao? Vì các Thần giáo đều phải dựa vào 4 đặc
tính chung như sau để tồn tại: quyền lực; sự hiện hữu và quyền năng,
ân huệ của một vị Thần hay Thiên Chúa; truyền thống tôn giáo; và những
huyền bí và siêu nhiên trong tôn giáo.
Chúng ta hãy xét từng đặc tính một
ở trên để xem quan điểm của Phật Giáo đối với các đặc tính trên
như thế nào.
1. Vấn đề Quyền
Lực.
Quyền Lực thường được tạo trên
đám tín đồ kém hiểu biết. Trong các Thần Giáo, giới giáo sĩ, thí dụ
Linh Mục trong Ca-Tô Giáo, Mục Sư trong Tin Lành Giáo, các giáo sĩ trong Hồi
Giáo, các Rabbi trong Do Thái Giáo, giai cấp Bà La Môn trong Ấn Độ Giáo, đều
là những người tự cho mình là thông thái hơn đám tín đồ ở dưới, chỉ
có họ mới đủ khả năng để hiểu và diễn giải Kinh Điển trong tôn
giáo của họ. Từ điều này họ tạo thành một quyền lực trên đám tín
đồ và tạo nên giáo điều "quên mình trong vâng phục" mà các
tín đồ phải tin theo.
Cấu trúc toàn trị của Ca-Tô Giáo
là một thí dụ, dù rằng lịch sử đã chứng minh rằng sự hiểu biết
và diễn giải Thánh Kinh của các giới lãnh đạo Ca-Tô, từ Giáo Hoàng trở
xuống, nhiều khi rất sai lầm, luôn luôn ở trong tình trạng "sai đó sửa
đâu?" hay "sửa đâu sai đó". Bởi vậy cho nên nền thần học
Ki Tô Giáo đã phải thay đổi rất nhiều qua thời gian. Lịch sử Ki Tô
Giáo đã chứng tỏ những sai lầm thần học là nguyên nhân của những
tác hại mà Ki Tô Giáo đã mang đến cho nhân loại trong gần 20 thế kỷ,
điển hình là những cuộc Thánh Chiến, những Tòa Án Xử Dị Giáo, những
cuộc chiến tranh tôn giáo, những sự liên minh với thực dân để đi truyền
đạo trong các nước kém mở mang v..v... Vụ xưng thú 7 núi tội lỗi của
Ca-Tô Giáo gần đây là một bằng chứng hiển nhiên nhất. Tuy vậy mà các
tín đồ vẫn luôn luôn được dạy là phải "quên mình trong vâng phục".
Quyền lực của Tin Lành nằm trong
Thánh Kinh. Tin Lành chủ trương "Đức Tin biện minh cho tất cả"
(Justification by faith) và Thánh Kinh là những lời mạc khải của Thiên Chúa
nên không thể sai lầm. Nếu thực tế sai với Thánh Kinh thì phải loại bỏ
thực tế, dù rằng ngày nay nhiều nhà nghiên cứu Thánh Kinh đã chứng minh
rằng trong Thánh Kinh có vô số những điều sai lầm về Thần Học cũng
như Khoa Học. Tin Lành không ngăn cấm tín đồ đọc và tìm hiểu Thánh
Kinh Ki Tô Giáo nhưng chỉ được hiểu theo sự diễn giảng của giới Mục
Sư.
Địa vị và quyền lực của các
giáo sĩ trong Hồi Giáo là một thí dụ khác. Chúng ta không còn lạ gì những
đạo luật rất khắc nghiệt của Hồi Giáo đối với giới phụ nữ và
đối với những vi phạm luân lý nhỏ nhoi không đáng kể trong những xã hội
Tây phương.
Đức Phật đã đưa ra một giáo
lý trong đó không có quyền lực. Từ hơn 25 thế kỷ về trước, Đức Phật
đã đi tiên phong trong vấn đề bác bỏ quyền lực tôn giáo, không những
quyền lực của cá nhân mà còn của cả Kinh Điển nữa. Trong mục 3, Vấn
Đề Truyền Thống, tôi sẽ khai triển thêm điều này. 21 thế kỷ sau,
Martin Luther của Ki Tô Giáo đã theo gót Đức Phật, bác bỏ quyền lực
trong cấu trúc toàn trị của Ca-Tô Giáo để lập ra đạo Tin Lành. Nhưng
thực tế là Tin Lành đã thay thế quyền lực của Giáo Hoàng Ca-tô bằng
quyền lực của Thánh Kinh. Cho nên, người ta bảo rằng các tín đồ Ca-Tô
là nô lệ của giáo hoàng, còn các tín đồ Tin Lành là nô lệ của Thánh
Kinh. Phật giáo quan niệm, dù nô lệ vật chất hay nô lệ tinh thần cũng
đều là nô lệ, làm mất phẩm giá con người.
2. Vấn đề hiện
hữu và quyền năng, ân huệ của một Thiên Chúa.
Mỗi Thần giáo đều có một quan
niệm riêng về Thiên Chúa của mình. Về bản chất, những Thiên Chúa này
không khác gì những Thần linh trong dân gian, thí dụ như thần cây đa, thần
sông, thần núi của dân Việt Nam khi xưa, vì tất cả đều nằm trong niềm
tin của con người chứ không phải là một thực thể. Những cuốn sách khảo
cứu về quan niệm các Thiên Chúa trên thế gian, thí dụ như cuốn Một
Lịch Sử Thiên Chúa (A History of God) của Nữ Tu Ca-Tô Karen Armstrong, cuốn
Một Thế Giới Đầy Những Thiên Chúa (A World Full of Gods) của Keith
Hopkins v..v.. đã chứng minh sự kiện này. Cho nên, quan niệm Thiên Chúa này
hay Thiên Chúa kia là duy nhất, là toàn năng, là lòng lành vô cùng v..v.. là
một quan niệm đã lỗi thời. Để thấy rõ vấn đề hơn, có lẽ chúng ta
cũng nên biết quan niệm về Thiên Chúa quyền phép vô cùng từ đâu mà ra.
Chúng ta hãy đi ngược trở lại thời
tiền sử. Khi đó con người cảm thấy yếu đuối và sợ hãi trước thiên
nhiên, từ những cơn bão tố sấm sét, những cuộc động đất, lụt lội,
những kỳ núi lửa phun ra nham thạch v..v.. những hiện tượng con người
khi đó không thể giải thích vì chưa đủ trí tuệ để hiểu. Ngoài ra con
người còn phải đối diện với trăm thứ bệnh tật, bất an trong cuộc
đời. Cho nên, thật là dễ hiểu khi chúng ta thấy con người thời đó nghĩ
rằng, chắc những thiên tai, bệnh tật kể trên phải có một nguyên nhân
sâu xa nào đó nằm ngoài sự hiểu biết của họ, và họ đã qui mọi hiện
tượng thiên nhiên về hoạt động của những bậc siêu nhiên mà họ gọi
là Thần (Gods) (Người Ki Tô giáo gọi Thần của họ (Christian God) là Thượng
Đế hay Thiên Chúa). Thí dụ, sét được coi như là những lưỡi gươm của
Thiên Chúa giáng xuống nhân loại, sấm được coi như là tiếng nói trong cơn
thịnh nộ của Thiên Chúa, những bệnh dịch tả, dịch hạch, vì có tính
truyền nhiễm nên làm chết hại nhiều ngàn người vì chưa có thuốc
phòng ngừa hay chữa chạy, cũng được coi như là họa của Thiên Chúa
giáng xuống đầu con người để trừng phạt con người vì tội đã làm
phật ý Thiên Chúa. Nhưng con người lại không chịu dậm chân tại chỗ,
cho nên ngày nay, chúng ta đã hiểu, và hiểu rất rõ, bệnh tật từ đâu
mà ra, tại sao có sấm, sét, và tiên đoán được khi nào có sấm, sét và
có ở đâu v...v... Do đó, những quan niệm thuộc loại mê tín như Thiên
Chúa có thể ban phúc, giáng họa cho nhân loại là những quan niệm đã lỗi
thời, không phù hợp với những thực tế ở ngoài đời. Ngày nay, khi trời
sấm sét, chó và mèo còn cúp đuôi chạy trốn, nhưng con người thì bình
thản ngồi viết bài chống mê tín dị đoan, chống những chuyện hoang đường
phản khoa học, phi lý trí.
Một câu hỏi được đặt ra: Tại
sao ngày nay vẫn còn nhiều người tin vào một Thiên Chúa toàn năng, toàn
trí? Phật Giáo đã nhìn thấy rõ vấn đề này. Đức Phật đã thấy rõ
chúng sinh thì vô lượng, nhưng căn trí thì bất đồng. Bởi vậy giáo lý
của người là để khai sáng, chuyển hóa con người chứ không chống đối
bất cứ niềm tin nào của con người. Vì căn trí bất đồng nên có người
theo được con đường Bi, Trí, Dũng của Phật Giáo, tự mình bước đi những
bước chân vững chãi trên con đường giải thoát, mở mang trí tuệ, tự
tu, tự chứng. Và cũng có những người hoặc do truyền thống tôn giáo,
gia đình, hoặc từ khi sinh ra đã sống trong môi trường khép kín về trí
tuệ, tư duy, nên được nhào nặn để dựa trên một cặp nạng Thần quyền
lê lết tạm bợ trên trường đời, chốn chim muông cầm thú, chờ ngày về
quê thật với ông Thánh David (Charlie Nguyễn, Công Giáo Trên
Bờ Vực Thẳm, trg. 73: "Xin Chúa làm cho tôi khinh dễ sự đời là
chốn muông chim cầm thú, xin làm cho tôi đặng về quê thật hiệp làm một
cùng vua David." (Trích dẫn từ Kinh Nhựt Khóa của CG)).
Chúng ta cũng nên biết, nền Thần
Học Ki Tô Giáo, để theo kịp sự tiến hóa của nhân loại, đã phải giải
thích lại nhiều lần quan niệm về một Thiên Chúa. Nhưng ngày nay những
giải thích này đều bị bác bỏ, vì nền Thần Học Ki Tô Giáo đặt tiền
đề trên sự hiện hữu của một Thiên Chúa toàn năng, toàn trí, toàn thiện
rồi dùng lý luận thần học để thuyết phục con người là một Thiên
Chúa với những thuộc tính như vậy hiện hữu. Nhưng nền thần học Ki Tô
Giáo không thể thuyết phục được những người có đầu óc trong thời
đại này vì nó chứa rất nhiều mâu thuẫn và phi lý. Nó chỉ còn hợp với
những người mà đầu óc so với đầu óc của những người cách đây
trên 2000 năm cũng chưa tiến bộ được bao nhiêu. Thật vậy, chúng ta đều
biết đến lời phát biểu của vật lý gia nổi tiếng nhất thế kỷ 20
là Albert Einstein như sau:
Tôi không thể quan
niệm được một Thiên Chúa thưởng phạt những tạo vật của mình.. Ý tưởng
về một đấng can thiệp vào những sự việc xảy ra trong thế gian thì tuyệt
đối không thể nào có.
(I cannot conceive of a God who rewards
and punishes his creatures.. The idea of a being who interferes with the sequences of
events in the world is absolutely impossible.)
Nhận định sau đây của James A.
Haught trong cuốn 2000 years of Disbelief: Famous People with the Courage to Doubt, trang
324, có thể cho chúng ta thấy rõ vấn đề hơn:
Qua luận lý, chúng
ta có thể thấy quan niệm của giáo hội về một Thiên Chúa ở trên trời
với lòng thương yêu nhất mực không đứng vững. Nếu có một đấng thần
linh sáng tạo ra muôn loài thì ông ta đã làm ra ung thư vú cho phái nữ, bệnh
hoại huyết cho trẻ con, bệnh cùi, bệnh AIDS, bệnh mất trí nhớ
(Alzheimer), và hội chứng Down (khuyết tật tinh thần). Ông ta ra lệnh cho những
con cáo cắn xé nát những con thỏ ra từng mảnh, những con báo giết những
hươu nai. Không có một con người nào độc ác đến độ hoạch định những
sự khủng khiếp như vậy. Nếu một đấng siêu nhiên làm như vậy, ông ta
là một con quỷ, không phải là một người cha nhất mực nhân từ.
(Through logic, you can see that the
church concept of an all-loving heavenly creator doens't hold water. If a divine Maker
fashioned everything that exists, he designed breast cancer for women, childhood leukemia,
leprosy, AIDS, Alzheimer's disease, and Down's syndrome. He mandated foxes to rip rabbits
apart and cheetahs ro slaughter fawns. No human would be cruel enough to plan such
horrors. If a supernatural being did so, he's a monster, not an all-merciful father.)
Chúng ta hãy tự đặt một câu hỏi,
trong thời đại này, chúng ta còn có thể tin được luận điệu thần học
Ki Tô Giáo cho rằng, chỉ vì Adam và Eve cưỡng lời Thiên Chúa ăn một trái
trên cây hiểu biết để có trí tuệ bằng Thiên Chúa nên cả nhân loại
đều bị Thiên Chúa đày đọa? Điều hiển nhiên là trí tuệ loài người
ngày nay đã vượt xa về hiểu biết cũng như về đạo đức của Thiên
Chúa trong Thánh Kinh. Hơn nữa, người Việt Nam chúng ta có câu "Con hơn
cha là nhà có phúc", nếu không như vậy thì thế giới làm gì có tiến
bộ? Nếu cứ như ý định của Thiên Chúa thì loài người sẽ triền miên
sống trong sự tối tăm, trí tuệ và đạo đức thấp kém. Bởi vậy, nếu
chúng ta đọc những cuốn sách viết về cuộc chiến giữa khoa học và nền
thần học Ki Tô Giáo trong hơn một thế kỷ nay thì chúng ta sẽ thấy nền
thần học Ki Tô Giáo đã không còn chỗ đứng trong giới trí thức, ở
trong cũng như ở ngoài Ki Tô Giáo, khoan kể đến tuyệt đại đa số các
khoa học gia. Ngoài ra, nếu chúng ta đọc những cuốn phê bình điển hình
như cuốn Những Phê Bình về Thiên Chúa (Critiques of God), biên tập bởi
Peter A. Angeles, trong đó có 16 tác giả phê bình về mọi lý luận thần học
của Ki Tô Giáo; hoặc cuốn Thiên Chúa là Cái Gì? (What is God?), biên
tập bởi Kenneth G. Lucey, trong đó có những bài khảo luận của Richard R.
La Croix, thì chúng ta sẽ thấy mọi lý luận thần học về sự hiện hữu
của một Thiên Chúa với những thuộc tính toàn năng, toàn trí, toàn thiện,
thí dụ như của Thomas Aquinas, Augustine, Descartes v..v.. đều đã bị bác bỏ
dứt khoát. Thật vậyﬠtrong phần Tựa của cuốn Critiques of God,
trang xiii, chúng ta có thể đọc đoạn sau đây:
Những niềm tin vào
những đấng siêu nhiên đã biến khỏi nền văn hóa của chúng ta. Bất cứ
niềm tin chắc đại cương nào về Thiên Chúa cũng đang trỏ thành mờ nhạt
trong nền văn hóa của chúng ta. Thiên Chúa đã mất đi trụ xứ trong không
gian như là một nước trên Thiên đàng. Ông ta cũng mất đi chỗ đứng
trong vũ trụ như là đấng đã sáng tạo ra nó từ hư vô. Không phải là
Thiên Chúa bị đẩy ra một vùng xa lắc xa lơ. Không phải vì ông ta trở
thành một trừu thượng vô thân thể (không đực không cái). Mà vì
chúng ta nhận thức ra rằng chẳng làm gì có Thiên Chúa để mà nói tới.
(Beliefs in supernatural beings have
vanished from our culture. Any general serious belief in God is fading in our culture. God
has lost his spatial location as a monarch in heaven. He has lost his temporal precedence
to the universe as its Creator ex nihilo. It is not God is being relegated to a remote
region. It is not that God has become a bodiless abstraction (a sexist It). It is te
realization that there is no God to which to relate.)
Sau đây là một đoạn trong phần Dẫn
Nhập trong cuốn A History of God của nữ tu Ca-Tô Karen Armstrong:
Thiên Chúa là một khuôn mặt
khá mù mờ, được định nghĩa trong những trừu tượng trí thức thay vì
những hình ảnh rõ ràng. Khi tôi mới lên chừng 8 tuổi, tôi phải nhớ
câu trả lời theo giáo lý của câu hỏi, "Thiên Chúa là cái gì?:
"Thiên Chúa là Thần Linh cao nhất, tự hiện hữu và vô cùng hoàn hảo
trên mọi phương diện." Không lạ gì, lời giải thích trên chẳng có
mấy ý nghĩa đối với tôi, và tôi phải nói rằng ngày nay định nghĩa trên
cũng chẳng có gì hấp dẫn. Đó vẫn là một định nghĩa đơn thuần khô
khan, huênh hoang, và kiêu căng. Tuy nhiên, từ khi tôi viết cuốn sách này,
nay tôi đã tin rằng định nghĩa trên cũng còn sai lầm nữa.
(God..was a somewhat shadowy figure,
defined in intellectual abstractions rather than images. When I was about eight years old,
I had to memorize this catechism answer to the question, "What is God?":
"God is the Supreme Spirit, Who alone exists of Himself and is infinite in all
perfections." Not surprisingly, it meant little to me, and I am bound to say that it
still leaves me cold. It has always seemed a singularly arid, pompous and arrogant
definition. Since writng this book, however, I have come to believe that it is also
incorrect.)
Và trong cuốn Sự Vô Tận Ở
Trong Lòng Bàn Tay (L'infini Dans La Paume de la Main) của Matthieu Ricard và Trịnh
Xuân Thuận (tôi sẽ trở lại 2 tác giả này trong đoạn kết), trang 51,
Matthieu Ricard đưa ra nhận định:
Mọi tôn giáo (thần
giáo) và mọi triết thuyết đều thất bại trên vấn đề sáng tạo...Khoa
học đã loại bỏ sự sáng tạo bằng cách bỏ đi khái niệm về Thiên
Chúa Sáng Tạo mà khoa học không cần đến và Phật Giáo cũng vậy, loại
bỏ sự sáng tạo bằng cách bỏ đi khái niệm về một sự bắt đầu.
(Toutes les religions et les philosophies
ont buté sur ce problème de la création. La science s'en est débarrassée en
éliminant la notion de dieu créateur dont elle n'a pas besoin et le bouddhisme en
éliminant la notion même d'un début.)
Như vậy, 25 thế kỷ sau thời
Phật tại thế, con người mới dần dần đi đến sự nhận thức là chẳng
làm gì có Thiên Chúa toàn năng toàn trí, sáng tạo ra muôn loài và có quyền
thưởng phạt con người. Đức Phật đã nhận thức được như vậy, do đó
Phật Giáo, từ hơn 2500 năm nay, là tôn giáo không chấp nhận thuyết sáng
tạo cũng như thần quyền thưởng phạt hoang đường. Quan niệm về vũ trụ
của Phật Giáo là vô thỉ vô chung. Đức Phật cũng đã thấy rõ sự vận
hành của thuyết Tiến Hóa. Người đã biết chúng sinh căn tính bất đồng
cho nên Người đã đưa ra nhiều Pháp môn để dẫn dắt con người, tùy
theo căn trí, tiến tới giác ngộ. Chúng ta thường nhắc đến con số 84000
Pháp môn, tượng trưng cho một con số lớn. Người đời thường cho Đức
Phật là một vị lương y giỏi, tùy bệnh mà cho thuốc. Không có gì hoang
đường và phản khoa học bằng quan niệm chỉ cần có một phương thuốc,
bất kể nó tên là gì, "Đức Tin" hay "Cứu rỗi", là có
thể chữa được mọi căn bệnh của chúng sinh với căn tính bất đồng.
3. Vấn đề truyền
thống.
Truyền thống, nói một cách đại
cương, là những gì thuộc trí tuệ, kinh nghiệm, nếp sống v..v.. mà con người
trong một xã hội, một nền văn hóa, truyền lại từ đời này sang đời
khác. Qua thời gian, do sự mở mang trí tuệ, do những sáng kiến mới của
con người, truyền thống có thể thay đổi, cải tiến, để phù hợp với
sự tiến hóa của nhân loại. Tuy nhiên, trong các thần giáo, truyền thống
lại thường là những giây xích buộc chặt con người trong vòng "quên
mình trong vâng phục" và do đó, thường có tác dụng ngăn chận sự tiến
bộ của con người.
Truyền thống trong Ca-Tô Giáo Rô-ma
được tóm tắt trong câu (J. Sheatsley, The Pope's Catechism, p.80):
Tín đồ Ca-Tô phải
tin tất cả những gì Thiên Chúa đã mạc khải và tất cả những gì Giáo
hội Ca-Tô dạy, bất kể là những điều đó có hay không có trong Thánh
Kinh. Vì Truyền Thống Ca-Tô (nghĩa là những gì giáo hội dạy) và Thánh
Kinh đều do Thiên Chúa mạc khải.
(A Catholic must believe all that God
has revealed and the Catholic Church teaches, whether it is contained in Holy Scripture or
not. Because Catholic Tradition and Holy Scripture were alike revealed by God)
Bởi vậy mà khi giáo hội
Ca-Tô dạy Đức Mẹ, sau khi sinh nở ít nhất là 7 lần, vẫn còn đồng
trinh, hay Đức Mẹ cả hồn lẫn xác bay lên trời, hay giáo hoàng là đại
diện của Chúa trên trần, nắm trong tay chìa khóa mở của thiên đường,
không thể sai lầm v..v..thì giáo dân cũng bắt buộc phải tin, dù những
điều này không hề có trong Thánh Kinh. Và, khi vào Việt Nam, giáo hội bắt
giáo dân phải dẹp bàn thờ ông bà, tổ tiên trong hơn 400 năm, thì giáo
dân cũng phải tin theo và làm đúng như vậy. Sau Công Đồng Vatican II, giáo
hội "cho phép" thờ cúng tổ tiên để nhặt thêm tín đồ thì
giáo dân cũng lác đác tin theo, vì vẫn có ông linh mục cho rằng cúng giỗ
là "làm chay cúng ruồi".
Truyền thống trong Tin Lành là phải
tuyệt đối tin rằng Thánh Kinh là những lời mạc khải của Thiên Chúa
nên không thể sai lầm. Nếu khoa học mà phù hợp với Thánh Kinh thì đó
là khoa học tốt (Good science). Nếu khoa học mà không phù hợp với Thánh
Kinh thì đó là khoa học xấu (Bad science). Truyền thống trong Tin Lành cũng
là phải tuyệt đối tin rằng con người sinh ra trong tội lỗi (born in sin)
và do bản chất đó, con người không thể làm gì tốt (by nature, incapable
of doing good), phải bị đày đoạ vĩnh viễn (To be a sinner is to be destined to
eternal damnation), và cách duy nhất để được cứu rỗi là phải tin vào
quyền năng của Giê-su (Justification by Faith). (Xin đọc Rubem Alves, Protestantism
and Repression, p. 34)
Truyền thống trong Ấn Độ Giáo
là phải tôn trọng sự phân chia giai cấp.
Truyền thống trong Hồi Giáo thì
tôi xin miễn bàn.
Đức Phật đã thấy trước sự
tai hại của các truyền thống tôn giáo như trên nên Người đã đưa ra một
giáo lý trong đó không có truyền thống. Kinh Phật nói cho người dân
Kalama đã chứng tỏ điều này (Thích Nhất Hạnh, Đường Xưa Mây Trắng,
trg. 698):
"Này các bạn, các bạn
đừng vội tin vào một điều gì dù điều đó là điều mà người ta thường
nói đến luôn, dù điều đó có trong kinh điển, dù điều đó là do một
bậc thầy mà thiên hạ tôn sùng nói ra. Các bạn chỉ nên chấp nhận và
tin vào những điều mà các bạn thấy hợp với lý trí của các bạn, những
điều được các bậc hiền nhân đồng ý, những điều mà nếu đem ra thực
hành thì đưa tới những kết quả tốt đẹp cho đời sống. Còn những
điều không hợp với lý trí, những điều bị các hiền nhân chê trách,
những điều mà nếu đem ra thực hành thì đưa tới khổ đau và đổ vỡ,
những điều đó các bạn nên bác bỏ, đừng chấp nhận."
Đến đây chúng ta đã hiểu tại
sao trong quá trình truyền đạo của Phật Giáo không hề có một giọt máu
đổ. Với Kinh Kalama như trên thì Phật Giáo không thể nào có những cuộc
Thánh Chiến, những Tòa Án Xử Dị Giáo, những cuộc xâm lăng để cưỡng
bách người ngoại đạo phải theo đạo, những vết nhơ không bao giờ có
thể rửa sạch trong lịch sử loài người. Với Kinh Kalama như trên thì Phật
Giáo không bao giờ có thể có được chế độ giáo hoàng, chế độ của
các giáo sĩ Hồi giáo, Rabbi Do Thái Giáo, giai cấp Bà La Môn, hay quyền lực
của Kinh điển.
Như trên đã nói, Phật Giáo dứt
khoát phá đổ chế độ giai cấp trong các Thần Giáo, chế độ xây dựng
trên niềm hoang tưởng, cho rằng giáo sĩ là giai cấp ở trên, thông thái,
độc quyền diễn giải Kinh điển và do đó là giai cấp ngự trị, các
tín đồ ở dưới chỉ có quyền vâng phục. Thật vậy, trong Kinh Duy Ma, Cư
sĩ Duy Ma Cật là bậc có trí tuệ vượt hơn nhiều đệ tử xuất gia của
Phật, và trong Kinh Hoa Nghiêm, Thiện Tài Đồng Tử đi cầu đạo đã gặp
53 vị Thiện-Tri-Thức, gồm đủ mọi thành phần trong xã hội, và được
dạy cho 53 Pháp môn tiến tới giải thoát khác nhau. Ngày nay, có nhiều dấu
hiệu cho thấy các Thần giáo cũng đang dần dần chuyển hóa đến tinh thần
dân chủ trong Phật Giáo.
4. Vấn đề Huyền
Bí và Siêu Nhiên.
Trong các Thần Giáo bao giờ chúng
ta cũng thấy không ít thì nhiều những sắc thái thuộc loại huyền bí hay
huyền nhiệm, nghĩa là những điều không thể giải thích được mà tín
đồ chỉ có việc tin, không cần biết, không cần hiểu. 7 bí tích trong
Ca-Tô Giáo Rô-ma và 2 bí tích trong Tin Lành thuộc loại này. Ngoài ra còn những
phép lạ hay tác dụng lạ lùng của những thánh tích, phần lớn là ngụy
tạo, cũng thuộc loại này. Huston Smith, giáo sư triết tại đại học nổi
tiếng MIT, đã đưa ra một nhận định sâu sắc trong cuốn The Religions
of Man, trang 104, về tác dụng của những sự huyền bí trong tôn giáo.
Giáo sư Smith cho rằng những cái gọi là huyền nhiệm và phép lạ đã biến
tôn giáo trở thành "một kỹ thuật để phỉnh phờ hay ép buộc vô
số những đứa trẻ ít hiểu biết trong vũ trụ làm những điều mà người
ta muốn chúng làm" (a technique for cajoling or coercing innumerable cosmic
bellhops to do what you wanted them to).
Chúng ta đều biết rằng Phật Giáo
không coi trọng những chuyện huyền bí và siêu nhiên. Có 2 câu chuyện thú
vị trong Phật Giáo chứng tỏ điều này. Câu chuyện thứ nhất là có một
đệ tử trổ tài đi trên nước qua sông, cũng như gần 600 năm sau Chúa
Giê-su trổ tài đi vài bước trên nước, hay Thánh Francois de Salle đi trên
sóng. Đức Phật chỉ nhẹ nhàng nói: "Thật là tội nghiệp cho ngươi
quá, mất công tập luyện nhiều năm chỉ để làm như vậy. Ta chỉ cần bỏ
ra vài đồng tiền là ông lái đò có thể chở ta qua sông." Chuyện
thứ hai là có một đệ tử trổ tài nhào lộn trên cây, Đức Phật bèn
quở trách đệ tử đó. Trong cả hai chuyện, Đức Phật đã cho rằng những
hành động siêu nhiên chẳng nói lên được điều gì, chẳng chứng tỏ
được gì, và cũng chẳng có ích lợi gì cho việc tu tập trên con đường
giải thoát, nhiều nhất chỉ là để mê hoặc những người trí tuệ thấp
kém.
Giới giáo sĩ trong các Thần giáo
thường dạy các tín đồ là kinh điển trong tôn giáo của họ chứa những
điều huyền nhiệm mà chỉ có họ là hiểu được, và chỉ có họ là có
thể diễn giảng đúng tinh thần của kinh điển. Và, để giữ độc quyền
này, họ không muốn cho tín đồ tự mình đọc những kinh điển, sợ rằng
tín đồ sẽ hiểu sai. Điều này rõ ràng nhất trong Ca-Tô Giáo Rô-ma. Lịch
sử Ca-Tô Giáo cho biết, giáo hội cấm không cho dịch Thánh Kinh từ tiếng
La-Tinh ra tiếng địa phương, và cấm luôn cả tín đồ không được tự mình
đọc Thánh Kinh. Vi phạm điều này có thể bị tuyệt thông, hoặc tịch
thu tài sản, hoặc bị xử tử. Bác sĩ Nguyễn Văn Thọ cho rằng Giáo hội
sợ tín đồ nhận ra những điều sai lầm và mâu thuẫn trong Thánh Kinh.
Phật Giáo trái hẳn lại. Đức Phật
đã khuyên các đệ tử nên dùng ngôn ngữ, văn tự địa phương để truyền
bá đạo Phật. Đi đến đâu, Kinh điển Phật Giáo cũng đều được dịch
ra tiếng địa phương. Điển hình là ở Trung Hoa, Nhật Bản v..v.., ngay từ
những thế kỷ đầu của thời đại này, các kinh điển Phật Giáo đã
được dịch ra tiếng địa phương. Ở Âu Châu, đến thế kỷ 16, Martin
Luther mới theo gót tinh thần khai phóng và dân chủ của Phật Giáo, chống
lại chế độ giáo hoàng toàn trị của Ca-Tô giáo và bắt đầu dịch Thánh
Kinh sang tiếng Đức. Và từ đó, Ki-Tô giáo mới có những cuốn Thánh Kinh
bằng tiếng địa phương, và cũng từ đó mà Ki Tô Giáo bắt đầu suy thoái
vì đầu óc tiến bộ của con người không còn có thể chấp nhận những
chuyện hoang đường ở trong Thánh Kinh không còn phù hợp với sự hiểu biết
của nhân loại ngày nay.
Vài Lời Kết.
Viết bài này, tôi chỉ có mục đích
duy nhất là trình bày cùng quý độc giả sự kiện là về các lãnh vực
khoa học, tôn giáo và xã hội, nhiều tư tưởng Phật Giáo đã đi trước
nhân loại khá xa. Bài viết này không có mục đích chống đối niềm tin của
bất cứ ai trong bất cứ tôn giáo nào. Hiểu rõ là chúng sinh thì căn trí
bất đồng nên tôi không có lý do gì để chống niềm tin của người khác
mà tôi cho đó là quyền tuyệt đối của con người. Tuy nhiên, tôi nghĩ rằng,
trong thời đại này, chúng ta không thể tự cho phép quay trở về thời
Trung Cổ, làm ngơ trước những tiến bộ tư tưởng của con người. Cho nên
bài viết này chẳng qua chỉ là trình bày phần nào một khía cạnh tiến
hóa của tư duy nhân loại, dựa trên những kết quả nghiên cứu đáng tin
cậy của những bậc thức giả trong mọi tôn giáo và trong khoa học.
Thay vì có vài lời kết luận, tôi
xin giới thiệu cùng quý độc giả một cuốn sách có giá trị cao, đó là
cuốn Sự Vô Tận Nằm Trong Lòng Bàn Tay: Từ Big Bang đến sự Tỉnh Thức
(L'Infini Dans La Paume De La Main: Du Big Bang à L'Éveil) của Matthieu Ricard và Trịnh
Xuân Thuận, xuất bản năm 2000 tại Pháp. Cuốn sách này nay đã được dịch
sang tiếng Anh với tên: Một Cuộc Hành Trình Tới Những Tận Cùng Kiến
Thức Ở Đó Khoa Học và Phật Giáo Gặp Nhau: Nguyên Lượng và Hoa Sen
(A Journey To The Frontiers Where Science and Buddhism Meet: The Quantum and the Lotus) với
đôi chút thay đổi trong bố cục và văn tự, xuất bản tại Mỹ năm 2001.
Tuy nhiên, tôi phải nói ngay rằng, giá trị của cuốn sách này tùy thuộc
trình độ hiểu biết của người đọc trong cả hai lãnh vực: khoa học
và tôn giáo, nhất là Phật Giáo. Matthieu Ricard là đồng tác giả với ông
bố Jean-Francois Revel trong cuốn sách nổi tiếng Le Moine et le Philosophe
xuất bản năm 1998 ở Pháp. Cuốn sách này đã được dịch sang tiếng Việt:
Tăng Sĩ và Triết Gia, và sang tiếng Anh: The Monk and the Philosopher. Matthieu
là một khoa học gia trở thành một tăng sĩ Phật Giáo. Còn Trịnh Xuân Thuận,
sinh trưởng trong một gia đình Phật Giáo, là giáo sư khoa học nghiên cứu
các thiên thể (thiên văn học) , đại học Virginia. Nội dung cuốn L'Infini
Dans La Paume de la Main là những trao đổi ý kiến giữa Matthieu Ricard và
Trịnh Xuân Thuận về khoa học Tây phương và triết lý Phật Giáo. Đức
Đạt Lai Lạt Ma đã cho rằng cuốn sách này là một đóng góp lớn lao cho
sự hiểu biết rõ hơn bản chất thật của thế giới của chúng ta và đạo
chúng ta sống trong đó.
Trong phần kết luận, khoa học gia
Trịnh Xuân Thuận cho chúng ta biết rằng, tuy đã biết và đánh giá cao
khía cạnh thực hành của Phật Giáo, giáo sư Thuận không tin rằng có thể
có sự đối chiếu giữa khoa học và Phật Giáo, vì con đường thực nghiệm
của khoa học và con đường quán chiếu nội tâm của Phật Giáo hoàn toàn
khác nhau, cho nên Phật Giáo chẳng có gì mấy để nói về thế giới các
hiện tượng, đối tượng nghiên cứu của khoa học. (Le n'étais donc pas du
tout sur qu'une démarche consistant à confronter la science et le bouddhisme puisse
avoir un sens. Je redoutais que le bouddhisme n'ait que peu à dire sur la nature du monde
phénoménal, car ce n'est pas sa préoccupation principale, alors que c'est
fondamentalement celle de la science.)
Tuy nhiên, sau khi trao đổi ý kiến
với Matthieu Ricard, giáo sư Trịnh Xuân Thuận đã thay đổi ý kiến và ông
viết:
Trong cuộc trao đổi
ý kiến của chúng tôi, tôi đã nhận ra rằng sự e ngại của tôi là vô căn
cứ: không những Phật Giáo suy tư về bản chất của thế giới, mà còn
suy tư một cách sâu sắc và đặc thù...
Điều chính mà tôi học được từ
cuộc đối thoại này là, không còn nghi ngờ gì nữa, có một sự hội tụ
và cộng hưởng giữa hai cách nhìn thực tại của Phật Giáo và của khoa
học. Một vài khẳng định của Phật Giáo về thế giới các hiện tượng
đã đem đến một cách kỳ lạ những ý tưởng tiềm ẩn trong khoa học vật
lý hiện đại, đặc biệt là hai lý thuyết vĩ đại, cột trụ của vật
lý hiện đại: cơ học nguyên lượng - khoa vật lý về những vật vô
cùng nhỏ - (nguyên tử và các hạt tiềm nguyên tử như điện tử,
quark v..v.. TCN) và thuyết tương đối - khoa vật lý về những vật vô
cùng lớn (vũ trụ học: sao, thiên hà v..v... TCN).
(À mesure que nos conversations se sont
poursuivies, je me suis rendu compte que mes craintes n'étaient pas fondées: non
seulement le bouddhisme a réfléchi sur la nature du monde, mais il l'a fait de facon
profonde et original..
L'enseignement principal que j'en ai
retiré est qu'il existe une convergence et une résonace certaines entre les deux
visions, bouddhiste et scientifique, du réel. Certains énoncés du bouddhisme à propos
du monde des phénomènes évoquent de manière étonante telles ou telles idées
sous-jacentes de la physique moderne, en particulier des deux grandes théories qui en
constituent les piliers: la mécanique quantique - physique de l'infiniment petit -, et la
relativité - physique de l'infini grand.)
Tôi nghĩ, có lẽ chúng ta cũng không
nên quên rằng, những tư tưởng và hiểu biết của Phật Giáo về thế giới
các hiện tượng đã có từ cách đây trên 25 thế kỷ, trong khi hai thuyết
vĩ đại nhất trong vật lý hiện đại, thuyết nguyên lượng và thuyết tương
đối, mới chỉ được trí tuệ Tây phương nghĩ ra trong thế kỷ 20.
Trên đây tôi đã trình bày những
quan niệm của Phật Giáo về vũ trụ nhân sinh, cùng những tư tưởng khai
phóng của Phật Giáo về tôn giáo, xã hội và chứng minh là nhiều tư tưởng
của Phật Giáo đã đi trước tôn giáo và khoa học Tây phương như thế nào.
Cho nên chúng ta không lấy làm lạ khi càng ngày thế giới, nhất là các
xã hội văn minh tiến bộ Âu Mỹ, càng nhận ra chân giá trị của Phật
Giáo. Một câu hỏi được đặt ra: Làm sao mà những tư tưởng Phật Giáo
lại có thể đi trước khoa học Tây phương khi mà Phật Giáo không hề có
và không hề dùng đến những dụng cụ đo lường khoa học? Làm sao mà Phật
Giáo lại có thể đi trước những Thần Giáo trong đó có cả tôn giáo
được thần linh mạc khải? Thật khó mà có thể trả lời nếu chúng ta
không tin rằng do Thiền và Quán Chiếu nên Đức Phật đã nắm được bản
chất, sự vận hành của vạn pháp, nghĩa là đã đạt đến mức "Như
thực tri kiến". Đây là cách nhìn sự vật của Đức Phật mà mọi
giáo lý Phật Giáo đều hướng đến mục đích dẫn dắt chúng ta đạt đến.
"Như thực tri kiến" cũng là mục đích tối hậu của khoa học.
Điểm hội tụ của Phật Giáo và Khoa Học chính là ở điểm này. Tuy
nhiên, Phật Giáo còn đi xa hơn nữa, vì trong Phật Giáo, "Như thực tri
kiến" không không đủ, mà chúng ta còn phải có một tâm từ bi vô lượng.
Không có tâm từ bi thì không có Phật Giáo. Không có tâm từ bi thì Đức
Phật đã không để lại cho chúng ta một giáo lý vô thượng vô đẳng. Từ
là cho vui, và Bi là cứu khổ. Từ bi trong Phật Giáo tuyệt đối không có
nghĩa là nếu người ta tát má này thì đưa má kia cho người ta tát thêm.
Phật Giáo không có dạy chúng ta áp dụng từ bi để dung dưỡng bất công
và bạo hành. Từ bi cũng không có nghĩa là hiểu sai "ái ngữ",
nói lên những lời giả dối, sai sự thật, ve vuốt người khác với ảo
tưởng là có thể gây sự hòa hợp một chiều. Một trong 5 giới căn bản
của một Phật tử là không được nói sai sự thật. Đức Phật, sau khi
giác ngộ, chẳng làm gì hơn là nói lên những sự thật liên hệ đến con
người ngay trong đời sống này, giúp cho con người thấy được sự vật
như chúng là như vậy, từ đó sẽ thoát khổ. Đây chính là cho vui và cứu
khổ.
Viết bài này, tôi cũng không làm
điều gì khác hơn là, trong phạm vi hiểu biết của tôi, cố gắng trình
bày những điều mà tôi đã để tâm nghiên cứu và tin rằng ít ra chúng cũng
không xa sự thật là bao.
- Trần Chung Ngọc
- Tháng Chạp năm Tân Tỵ
Home | Go top page