-
- MỘT CUỐN SÁCH NGƯỢC DÒNG
CÔNG KÍCH NGUYỄN TRƯỜNG TỘ
-
- HOÀNG
THANH ĐẠM
Cuốn sách này do hai bạn Việt Kiều ở Mỹ
là Nguyễn Kha và Trần Chung Ngọc viết với nhan đề “Nguyễn Trường Tộ - thực chất con người
và di thảo”, được nhóm Giao Điểm ở
Mỹ xuất bản tháng 4 năm 1998. Sách
dày 261 trang, gồm có hai luận văn dài:
-
Luận văn
thứ nhất của Nguyễn Kha “Nguyễn Trường
Tộ trong chiêu bài canh tân” (đề ngày 31-1-1998) dài 188 trang.
-
Luận văn
thứ hai của Trần Chung Ngọc “Nguyễn Trường
Tộ từ huyền thoại đến thực chất”, dài 70 trang.
Luận văn của Nguyễn Kha có mở đầu bằng một thái độ tỏ ra khiêm
tốn. Anh viết: “ Có nhiều điều khó khăn cho tôi khi viết
về N.T.Tộ (để công kích ông). Khó
khăn là do: Từ nhỏ N. Kha đã được thầy học giảng dạy rằng N.T.Tộ là
một nhà cách tân lớn nhưng triều đình Tự Đức hẹp hòi, cố chấp,
không áp dụng các đề nghị sáng suốt của ông. Thế mà 125 năm qua chưa có ai thanh minh
cho triều đình Tự Đức. Hơn thế nữa
đã từng có 60 tác giả viết hàng trăm bài ca ngợi nhiều hơn là phê
phán N.T. Tộ, trong đó có nhiều tác giả tầm cỡ bậc thầy của anh. Mặt khác N. T.Tộ lại được Linh mục Tiến
Sĩ Trương Bá Cần sưu khảo thật đầy đủ, công phu đến tận chi tiết;
và gần đây cuộc hội thảo về chủ đề "Nguyễn Trường Tộ - nhà
cải cách lớn của dân tộc" do viện khoa học xã hội Thành Phố Hồ
Chí Minh tổ chức, tập hợp 47 bài "là một công trình nghiên cứu tập
thể gồm nhiều vị giáo sư và nhiều học giả lỗi lạc (...) Việc đánh giá cao Nguyễn Trường Tộ
được xuất phát từ tinh thần khoa học khách quan, không bị vướng mắc
bởi tình cảm tôn giáo” (Xem sách N.T.Tộ
thực chất con người và di thảo – viết
tắt là “thực chất”, trang 6)
Tuy thấy rõ khó khăn như trên, nhưng N. Kha vẫn nói: vì gần đây có người yêu cầu anh viết
sách (với tinh thần phê phán N.T.Tộ để đối đáp với số đông học giả
trong nước đang ca ngợi N.T.Tộ); do đó anh phải đọc hết 58 bản điều
trần N.T.Tộ và vận dụng nhiều “tài liệu mật” của thực dân Pháp
và của Giáo hội để tìm ra luận cứ phê phán.
1.
Trọng tâm phê phán của N. Kha và T. C. Ngọc đối với N. T. Tộ
tập trung nhất vào vấn đề tôn giáo.
Nguyễn
Kha kể rằng khi người ta yêu cầu anh viết sách công kích N.T.Tộ thì “ông
bạn còn nói thêm rằng: “N.T.Tộ là một tên Việt gian vì ông ta là người
Gia Tô”; nhưng anh quan niệm rằng “nghiên cứu một nhân vật hay một sự
kiện lịch sử thì nên vượt ra ngoài tình cảm tôn giáo...” (“Thực chất...”
tr. 7).
Tuy anh thanh minh như vậy, nhưng người đọc qua hai bài luận văn
trong sách “Thực chất...” thấy rằng Nguyễn Kha dùng tới 77 trang trong
188 trang của luận văn “N.T.Tô. trong chiêu
bai canh tân” và Trần Chung Ngọc dành 48 trang trong 70 trang của luận văn
“N.T.Tộ từ huyền thoại đến thực chất”
để nói về các vần đề tôn giáo nhằm phê phán N.T.Tộ.
Tất cả những ý kiến phê phán tôn giáo trong sách “Thực chất...” nhằm ba vấn đề: một là vạch ra những sai lầm về lý thuyết
của đạo Gia tô; hai là vạch rõ mưu đồ
của các thừa sai Gia tô muốn biến Việt Nam thành nước Chúa, tích cực
giúp quân viễn chinh Pháp thôn tính Việt Nam;
ba là N.T.Tộ là tín đồ Công
giáo, tay chân của Giám mục Gauthier, một tên gián điệp lợi hại của xâm
lược Pháp.
a) Nói về
sai lầm lý thuyết kinh thánh, hai tác giả
nhấn vào mấy điểm:
- Kinh thánh nói rằng quả đất và loài người
do Thượng đế tạo dựng cách đây từ 6000 đến 10.000 năm. Nhưng khoa học
chứng minh rằng quả đất có hàng triệu năm về trước, Thái dương hệ
gồm Mặt trời, Mặt trăng, Trái đất... xuất hiện cách đây 5 tỷ năm.
(Tr. Ch. Ngọc nói là 15 tỷ năm) (như trên, trang 48 và 225)
- Kinh thánh nói “nước đá có được nhờ
hơi thở của Chúa Trời, Ngài chứa nước trong mây và giăng bủa các tia
chớp...” (Nt, trang 48)
- Sách “Dân số kỷ” (Numbers) kể chuyện
Moise cướp được nhiều bò, dê, lừa và 32 ngàn cô gái trinh, chia cho binh
lính 50 phần trăm còn Đức Chúa Trời hưởng 50 phần trăm. Chính Chúa Trời
chứ không phải ai khác đã trực tiếp ra lệnh phải cướp của, giết
người, cưỡng dâm, rồi chính Chúa Trời cũng đòi hưởng gái trinh nữa
(N, trên, tr. 5).
- Kinh thánh nói ai không tôn thờ đức Chúa
Trời thì phải giết sạch. Tất cả
đất đai đều thuộc về Chúa Kitô. Những
kẻ ngoại đạo không có quyền hưởng sở hữu một mảnh đất nào (Nt.
Trang 147-149)
Tr. Ch.
Ngọc phân tích: “Tại sao một tôn giáo đen tối như đạo Gia tô mà vẫn
có thể tồn tại và phát triển”, và anh giải thích: “Có nhiều nguyên
nhân, và một trong những nguyên nhân chính là phương cách đào tạo, trang
bị giới giáo sĩ bằng loại kiến thức hạn hẹp, một chiều, nặng về
phục tùng để có một địa vị, không dùng để suy luận, và nghệ thuật
nắm đầu óc tín đồ bằng mọi cách, kể cả gian dối và độc tài của
Giáo hội (Nt. Trang 205). Anh dùng trên 20 trang sách vạch ra nhiều sự kiện,
chứng cứ, nhất là chuyện các giáo sĩ Gia tô có đầu óc suy nghĩ độc lập
đã phải công phẫn, chống lại Giáo hội” (Nt. Trang 189-221) và anh kết
luận “chính sách truyền đạo của Ca tô Rôma tuyệt đối không có mục
đích huấn luyện nhân dân bản xứ thành những người yêu nước (tr.222)
b) Nói về dã tâm của các thừa sai Gia tô
giáo sang Việt Nam, hai tác giả có nhiều dẫn chứng trích từ các tài
liệu mật của Giáo hội Gia tô, kể rõ hoạt động, ý đồ từ Alêc-xăng
đờ Rốt trong thế kỷ XVIII đến các giám mục thừa sai trong thể kỷ XIX
đều nhằm mục đích đồng hóa Việt Nam theo đạo Gia Tô. Để thực hiện mục đích tôn giáo, họ
đã kết liên với quân xâm lược Pháp, cung cấp cho chúng bản đồ, tin tức,
và được quân viễn chính Pháp che chở, hỏi ý kiến, sử dụng vào việc
này việc nọ. Trong các giám mục,
Gauthier là người thầy, người đỡ đầu N.T.Tộ từ năm 27 tuổi đến
năm cuối đời của ông.
c) Tất
cả các cứ liệu phê phán giáo lý, phê phán các thừa sai Gia tô đều nhằm mục đích vạch tội N.T.Tộ. Dưới con mắt hai anh, N.T.Tộ chẳng
qua là đầy tớ của Gauthier, một tên gián điệp lợi hại nhất của quân
Pháp. Trần Chung Ngọc viết: “Đọc
những bản điều trần của N.T.Tộ tôi thấy rằng phần lớn kiến thức
của ông là một loại kiến thức đặc thù Gia tô” (Tr. 223). Nguyễn Kha
viết: “N.T.Tộ khéo léo tài tình lồng tư tưởng kinh thánh vào hầu hết
di thảo, để một mặt thì hăm dọa rằng tạo vật đã định như vậy, làm
sao cưỡng được, mặt khác thì an ủi chấp nhận số phận” (tr.100) Anh
viết thêm: “Tư tưởng Gia tô giáo là chẳng
thà mất nước không thà mất Vaticăng. Vì
thế chúng ta mới hiểu rõ hậu ý mà N.T.tộ đề nghị Triều đình dùng
giám mục vào việc canh tân (...) Tội nghiệp cho vua quan nhà Nguyễn không
có cơ quan tình báo gì cả, nuôi ong tay áo,
nhận giặc làm con” (tr. 129) Lại viết “May mà triều đình nhà Nguyễn
ngu muội không chịu áp dụng những đề nghị của N.T.Tộ, còn không thì
con vi trùng trong thịt sư tử đã ăn hết cả thịt lẫn xương của con sư
tử từ lầu rồi”. (tr.176)
Với những lời phê phán gán ghép suy diễn như trên, hai anh khái
quát “mưu đồ phản quốc” của N.T.Tộ vào một câu rất “hiện đại”:
“Với giọng văn diêu luyện, sắc sảo, chúng ta thấy N.T.Tộ đã sử
dụng hai luận điểm chính để thuyết
phục nhân dân Việt nam và nhất là triều đình Tự Đức. Hai luận điểm có tính chiến lược đó
có thể đặt tên là củ cà rốt và cục xương
(in chữ to). Chiến thuật củ cà rốt là đưa ra miếng mồi béo bở
như khai thác hầm mỏ, xử dụng tài nguyên thiên nhiên để làm cho dân
giàu nước mạnh. Muốn đạt được
mục đích đó thì phải làm gì? Trả
lời: phải hợp tác với Pháp, phải cầu khẩn Giáo hoàng La Mã giúp sức(...)
Chiến thuật cục xương là đưa ra một
số đề nghị không thể thực hiện được như chỉnh trang võ bị, đào
kênh từ Hải Dương đến Huế v.v... để qua đó bắt triều đình nhà Nguyễn
phải mất thì giờ “gặm nhắm” cục xương để không thể làm gì khác
thêm” (N.tr. trang 9-10)
Các học giả yêu kính N.T.Tộ chắc không quan tâm nhiều về các lý
lẽ của N.Kha và Tr.Ch.Ngọc công kích đạo lý Gia tô và chỉ vạch ý đồ
xấu của các giám mục Pháp. Trong lịch
sử, các tôn giáo khác nhau công kích nhau thậm tệ là chuyện bình thuờng. Có khi họ còn chém giết nhau nữa. Còn như ý đồ xấu của các giám mục
Pháp ủng hộ quân viễn chinh Pháp hồi thế kỷ XIX là chuyện có thật. Có điều là hai tác giả không hiểu nổi cái nghịch cảnh
của N.T.Tộ:
Là một
giáo dân, sống trong cảnh đạo giáo của mình bị bài xích, giáo hữu và
cha cố mình bị triều đình truy bức, mà N.T.Tộ không một lời oán trách
triều đình; trái lại ông nhận mình là “bề tôi nước Đại Nam”; một
lòng một dạ bàn với triều đình tìm cách thoát khỏi thế bí trước một
kẻ thù đang áp đảo mình về thế và lực.
N.T.Tộ tin ở đạo giáo của mình, nhưng ông đã vượt ra ngoài sự
mê lú, cuồng tín để có được tư duy khoa học. Trong bài
tựa sách Đàm thiên luận ông viết: “Phàm
nhà khoa học thì bụng phải bao hết những việc xưa nay, mắt trông khắp
trời đất, tinh thần chu du tận cõi xa xăm, tâm hồn thấu đến chỗ y huyền. Như thế mới suy xét mà tâm đắc được
những gì sách vở không thể truyền hết, ý hội được những gì người
xưa không thể nói hết (...) Trời tuy cao, đất tuy xa, nhưng đều có sự
thực mà không chìm vào hư vô (...) Kẻ cao minh muốn nghiên cứu khoa học
phải rộng lòng khảo cứu, dẹp bỏ hết những thành kiến tập quán cũ,
không phân biệt giới vực, vận dụng hết thần trí, ôm vũ trụ vào
lòng, nhắm mắt lại mà như thấy rõ ràng trước mắt” (Xem Trương Bá Cần
– sách đã dẫn – tr. 417). Nhà
thiên văn học Copernic (1473-1543) từng bị Giáo hội Rôma khép tội vì phát
kiến Trái Đất xoay quanh Mặt Trời, thì N.T.Tộ lại ca ngợi: “có thể
nói khoa học phương Tây đặt đến chỗ tinh vi là do ông mở đầu mà ra”
(Tr. Bá Cần – sách đã dẫn – trang 418). Ông
khuyên “những ai có chí với dân tộc hãy nên tìm tòi nghiên cứu trong
môn khoa học (thiên văn) này để hiểu được đại cương những bí mật
của Trời Đất” (Tr. B. Cần, như trên, trang 422).
N.T.Tộ tuy được giám mục Gôchiê đỡ đầu, nhưng phần lớn các bản
điều trần của ông đều là ý kiến độc lập, và các hoạt động của
ông cũng độc lập với giám mục. Ông
nói rõ với triều đình giám mục có thể giúp việc gì và không thể
giúp việc gì. Nhất là khi ông bàn các mưu kế đối phó với quân xâm lược
thì ông dặn triều đình không thể cho giám mục biết. Như trường hợp tháng 8 – 1866 N.T.tộ nảy
ra sáng kiến liên hệ với một số quan binh Pháp vốn có mâu thuẫn với
Tây soái De La Grandière là kẻ đang có âm mưu lập công thôn tính thêm ba tỉnh
miền Tây Nam Kỳ. Ông đề nghị với
triều đình để ông cùng với Nguyễn Hoàng gấp rút vào Sài Gòn vận động
họ viết thư gửi cho các Đại Học sĩ ở Tây triều gây dư luận ủng hộ
ta, cương quyết không can thiệp vào nước ta.
Về việc này ông này ông đã dặn triều đình dừng để cho giám mục
Gauthier biết. (Xem Tr. B. Cần, sách đã dẫn, trang 189)
Là một tín đồ công giáo, N.T.Tộ thành tâm nghĩ rằng có thể cùng
giám mục vào việc giúp ta canh tân đất nước, như lập trường kỹ thuật,
mở viện dục anh. Nhưng thâm tâm ông vẫn không muốn việc đạo giáo
Việt Nam hoàn toàn lệ thuộc vào các giám mục Tây. Cho nên hồi 1866,
khi chuẩn bị sang Pháp lo toan việc chuẩn bị mở trường kỹ thuật, ông
đã trao đổi ý kiến riêng với Trần Tiễn Thành và Phạm Phú Thứ rằng
“Các giáo sĩ Tây tuy vốn vô tâm với thế sự, nhưng trong đó cũng có một
hai người không yên phần lo việc đạo giáo, chỉ mưu đồ lợi riêng”,
nên ông “muốn nhân lúc đi Tây mà xin với
Giáo hoàng hãy rút giáo sĩ Pháp về, chỉ giao cho giáo sĩ nước ta trông
nom hoàn toàn việc đạo giáo (...) Như thế không phải là phản đạo mà
chính là bảo vệ đạo” (Tr.B.Cần, s.đ.d. trang 325).
2. Theo
N. Kha và Tr.C.Ngọc thì tội lớn nhất của N.T.Tộ là tội bán nước.
Hai anh vận dụng nhiều tài liệu mật trong các báo cáo của tướng
soái thực dân xâm lược gửi về Pháp kêu ca nhiều nỗi khó khăn chúng gặp
phải do cuộc chiến đấu của nhân dân Việt Nam hồi 1858-1862 để xin thêm
quân tiếp viện. Với những cứ liệu
này N.Kha kết tội N.T.Tộ đề cao sức mạnh quân xâm lược để hù dọa
triều đình và nhân dân ta, hòng thuyết phục triều đình hãy sớm đầu hàng
quân Pháp (xem “Thực chất...” – trang 21-25).
Anh còn phê phán N.T.Tộ vận dụng học thuyết Kinh Dịch: Khí đất là
từ Bắc xuống Nam, mà thủy ở phương Bắc, hỏa ở phương Nam, cho nên thủy
trị được hỏa. Còn vận trời là từ
tây sang Đông, mà kim ở phương Tây, mộc ở phương Đông, cho nên kim diệt
được mộc. Như thế mà suy ra lẽ trời
thì “Tàu diệt Việt, Pháp diệt Đông Dương”
(xem “Thực chất...” trang 18). Và
N.Kha lên án: “Theo N.T.Tộ, thuận với
đạo trời thì nên dâng Tổ quốc cho Pháp,
chống làm chi cho thêm họa” (Như trên, trang 28).
Nói về những sử liệu mật của Ng.Kha có được, chúng ta không vội
nghi ngờ độ tin cậy của những câu trích dẫn được dịch ra tiếng Việt
lại còn đăng tải cả nguyên văn tiếng Pháp.
Nhưng theo phương pháp luận khoa học lịch sử thì không nhất thiết
trích dẫn được nhiều sử liệu liệu là phản ánh đúng sự thật lịch
sử. Lênin từng nói: “Các hiện tượng
trong đời sống xã hội là cực kỳ phức tạp, nên người ta luôn luôn
có thể tìm được, muốn bao nhiêu cũng có những ví dụ hoặc tài liệu lẻ
tẻ để chứng minh cho bất cứ luận điểm nào” (Xem Lênin tuyển tập Q.
I – nxb Sự Thật 1959, trang 410). Ở
đây, muốn kết tội N.T.Tộ, Ng. Kha chỉ trích dẫn những đoạn văn tướng
soái Pháp kêu ca khó khăn để xin viện trợ.
Nhưng chắc chắn là các báo cáo quân sự của tướng soái Pháp phải
nói nhiều về những thắng lợi chúng thu được khi đánh Đà Nẵng, chiếm
thành Gia Định, phá chiến lũy Chí Hòa, chiếm các tỉnh lỵ Biên Hòa, Định
tường v.v.. với lực lượng quân sự áp đảo của chúng. Vả lại những khó khăn mà tướng soái
Pháp nêu lên là ở thời điểm 1858-1862, trong đoạn khởi đầu xâm lược,
còn điều mà N.T.Tộ nói trong Thiên hạ đại
thế luận về thế áp đảo của Pháp là ở thời điểm 1863, khi mà
quân Pháp đã chỉnh cư thành Gia Định và các phủ huyện thuộc hạt, đào
kênh đắp lũy, trù tính kế lâu dài để tỏ ra không chịu đi, như hổ đã
về rừng, rồng đã xuống biển” (xem Tr.B.Cần, s. đ. đ. Trang 108). Điều mà N.T.Tộ nói về sức mạnh của
Pháp, sự yếu kém của ta, tuy lời lẽ có đôi chỗ có thể nói khéo hơn,
nhưng đó chính là sự thật tổng quát mà lịch sử đã chứng minh. Lại bàn về quan điểm N.T.Tộ theo Kinh Dịch
“kim khắc mộc, thủy trị hỏa”, có thể cho đó là duy tâm, là một lập
luận sai lầm của ông; nhưng khách quan mà xét nghĩa lý kinh dịch thì kim
khắc mộc, thủy trị hỏa, Bắc xuống Nam, Tây sang Đông là hiện tượng
đã từng có và đang tồn tại.
Thật ra, trong tập kỷ yếu “Nguyễn
Trường Tộ với vấn đề canh tác đất nước”, nhiều độc giả
trong nước đã nhận thấy điều bất cập của N.T.Tộ là chưa nhìn rõ mưu
đồ xâm lược của thực dân Pháp, muốn thôn tính toàn bộ Việt Nam. Ông cũng chưa nhìn rõ khả năng kháng chiến
của ta, chưa nghĩ đến việc phát động toàn dân kháng chiến, và cũng không
có thái dộ đúng đắn đối với những cuộc nổi dậy kháng chiến của
nhân dân ta lúc bấy giờ. Nhưng mọi
người đều thấy rằng N.T.Tộ chỉ bàn
chuyện “hòa với Pháp là thượng sách” chứ không hề nói chuyện đầu
hàng”. Qua 58 bản di thảo của
N.T.Tộ, không hề có một từ, một ý nào khuyên triều đình đầu hàng. Chữ hòa của N.T.Tộ trong Thiên hạ đại thế luận chỉ có nghĩa là
tạm hòa, xuất phát từ tình hình thực
tế trên chiến trường là sức ta quá yếu so với quân địch. Trong lịch sử chiến tranh, khi kẻ địch
đang ở thế áp đảo mà ta phải tạm hòa là điều thông thường, dễ hiểu. Với N.T.Tộ, tạm hòa là để “về sau sẽ khiến kẻ
hiền tài vượt biển sang các nước lớn học cách đánh trận giữ thành,
học tập trí xảo của thiên hạ, giao thiệp với họ lâu dài mới biết lượng
sức đo tài, biết hết tình trạng của họ.
Học cho tinh vi mới sinh kỹ xảo, rất mực kỷ xảo mới mạnh, bấy
giờ sẽ dưỡng uy súc nhuệ, đợi thời hành động...”(Xem Tr. B. Cần,
s.đ.đ tr. III).
Đọc kỹ các bản di thảo, chúng ta chỉ thấy N.T.Tộ lo lắng cho đất
nước, ngày đêm tính toán chuyện làm thế nào để triều đình giữ được
thế làm chủ , đặt quân Pháp ở thế làm khách mà thương lượng với chúng,
có nhượng bộ nhưng là để tìm ra phương sách làm cho dân giàu nước mạnh
về sau. Với N.T.Tộ, dân giàu nước mạnh mới là kế
sách hàng đầu để giữ nước.
Qua tất cả
các bản điều trần mà N.T.Tộ bàn về thời thế và sách lược đối phó
với quân Pháp, chúng ta thấy rõ tinh thần
yêu nước của ông có một quá trình biến chuyển ngày càng tích cực:
a) Năm 1861 N.T.Tộ trao bài ‘Hoa từ” cho Nguyễn Bá Nghi bàn chuyện
tạm hòa, ông chỉ nói ba điều: Một
là khéo ngăn chặn, đừng để họ tìm cớ sinh sự làm lan rộng ra. Hai là hãy thong thả sắp đặt đợi lúc
họ sơ hở. Ba là để dân thư thái củng
cố sức lực – Đến năm 1862, khi Phan
Thanh Gản vào Sài Gòn đàm phán, ông trao cho sứ thần họ Phan hai câu thơ:
“Khói lửa trời Nam rồi sẽ dứt, Phương Tây binh giáp tạm hùng thôi”;
tỏ ý khuyên đừng sợ hãi trước uy thế quân thù (Tr.B.Cần – sđd, tr.
123)
b) Tháng 5 – 1863, viết Trần tình khải, ông thanh minh rõ thái độ
của mình trước quân thù xâm lược: “Đối với những hạng người cho
quân Pháp là lớn mạnh mà sợ thì tôi giận ra mặt mà bảo như thế là
làm tăng trưởng nhuệ khí của người ta mà tự diệt uy phong của mình. Đối với hạng người cho chúng là giàu
thì tôi mắng nhiếc rằng bọn chúng chỉ là thứ ăn mày đến cửa nhà ai
cũng chúc tụng. Tôi lại đem lợi hại
của phương Tây xa xôi ra so sánh để thấy rằng chúng mạnh chỉ là tạm
thời mà dễ yếu, còn ta tuy yếu mà dễ mạnh được lâu dài. Xin cứ hỏi nhữngngười xung quanh sẽ biết
tôi nói có đúng không (...) Tôi nghĩ rằng thời kỳ khôi phục nước nhà
đã có xác chứng ở bốn bể, dự tính được trong tương lai” (Nt. Tr
123).
Như vậy là từ năm 1861 đến 1863
ý niệm về chữ hòa trong đầu óc N.T.Tộ ngày càng rõ nét, hòa có đấu
tranh, không hề có ý gì là đầu hàng.
c) Từ 1864 kế sách tạm hòa của
N.T.Tộ được bổ sung phong phú hơn: Tháng 3 năm đó ông được người
Anh mời sang nước Anh dự Đại hội cách trí.
Ông coi đây là một cơ hội tốt để tố cáo quân Pháp xâm lược,
gỡ thế bí cho đất nước. Trong bản
điều trần “Kế hoạch duy trì hòa ước
mới” ông viết: “Họ dòm ngó đất ta, cầu thành công trong vòng vài
mươi năm, thì ta muốn trấn áp họ cũng phải biết xử khéo đừng để
cho họ lan rộng ra (...) Muốn thế thì phải tìm được ngoại viện để
phá mưu của họ...” (Nt. Tr. 131)
d) Khoảng tháng 6, tháng 7 năm
1864 N.T.tộ viết bài “Lục lợi từ” nêu
lên 6 điều khuyên triều đình vận dụng sách lược ngoại giao với các nước
như Anh, Nga v.v... để ngăn chặn, cô lập, ly gián, đề phòng, áp chế, tiến
tới đánh lại quân xâm lược Pháp (N. tr. Tr 145 – 149). Đối với ý kiến này của N.T.Tộ, tác giả Ng. Kha cho là vô nghĩa, vì Anh
đang có nhiều thuộc địa chưa khai thác hết, “cần gì phải xen vào Việt
Nam để đổ máu vô ích với Pháp” (xem “Thực chất tr. 83). Công bằng mà xét, N.T.Tộ đã nói lên sự
thật về mâu thuẫn tiềm tàng Anh – Pháp có từ đầu thế kỷ XIX khi Anh
cầm tù vua Na-pô-lê-ông Bônapác, và ngay giữa thế kỷ XIX Anh – Pháp vẫn
có mâu thuẫn ở thị trường Ấn Độ, và Canada. Lợi dụng mâu thuẫn giữa các nước đế
quốc thì thời nào cũng là thông minh. Kiến
nghị của N.T.Tộ là đầy thiện chí.
đ) Đến tháng 10-1866, N.T.Tộ phát
hiện tình hình mới: Một mặt xâm lược Pháp đang lúng túng với phong
trào kháng chiến ở Cămpuchia do Hoàng thân Xivôtha và Pucămbô phát động
nhân dân đánh đuổi vua Nôrôđôm đầu hàng quân Pháp; mặt khác nội bộ
bọn quan binh Pháp và bọn quan cai trị người Pháp ở Gia Định có mâu thuẫn;
còn bọn người Pháp sang Sài Gòn buôn bán, kinh doanh thì đang thua lỗ:
“Ở Gia Định mọi việc đều bế tắc” (xem Tr. B. Cần sđđ. Tr. 201) Do
đó ông phản ảnh ngay với triều đình và bàn đến “Khả năng lấy lại ba tỉnh miền Đông” (di
thảo sôbsp;20).
Cũng trong tháng 10 – 1866 N.T.Tộ viết
“Kế hoạch vận động Pháp để giữ ba tỉnh miền Tây” (di thảo
21). Ông báo cho triều đình biết ý
đồ của Tây soái De La Grandière muốn chiếm luôn cả ba tỉnh miền Tây Vĩnh
Long, An Giang, Hà Tiên. Do đó ông bàn
với triều đình nên tìm cách liên lạc thẳng với Chính phủ Pháp, khai
thác mâu thuẩn giữa nhân dân Pháp, dư luận các nhân sĩ Pháp với bọn thực
dân xâm lược Pháp ở Việt Nam, mặt khác tranh thủ đặt quan hệ với
Aubaret, một viên quan Pháp có mâu thuẫn với De La Grandière để phá âm mưu
bành trướng của Tây soái.
e) Thế rồi kế hoạch nói trên
được thực hiện hay không thực hiện, tháng
6 – 1867 quân Pháp tiến lên chiếm trọn cả ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ. Thời gian này N.T.Tộ đang có mặt ở
Pháp, lo toan việc mời thầy thuê thợ, mua sắm dụng cụ, sách vở để mở
trường kỹ thuật cho đất nước. Ông
thấy rõ tình thế đã rất nghiêm trọng, nên tháng 11 – 1857 ông bàn với
triều đình “Xin gấp rút sữa đổi việc
võ bị” (Tr. B. Cần – sđd. Tr. 230 – 239).
Đây là điều kiến nghị thứ nhất trong bản điều trần lớn “Bát điều tế cấp”, Nếu như trước
kia ông chỉ nghĩ đến kế sách ngoại giao để giữ nước, thì giờ đây
ông đã nghĩ đến việc tăng cường võ bị, phải lo toan “Chế tạo vũ khí mới lạ”, phải “trích trữ vật liệu” v.v... (Nt. Tr.
237)
g) Sau khi đã mất cả 6 tỉnh Nam Kỳ,
triều đình cuống quýt lo toan cử người sang Pháp xin chuộc lại, thì
N.T.Tộ, trong di thảo số 36 ngày 7-4-1868, bàn với triều đình nên “bãi bỏ việc cử sứ bộ đi Pháp” (Nt.
Tr 303), ông khuyên nên tính kế lâu dài
“dần nuôi dưỡng sức ta, dần đi giao thiệp, để đợi khi họ có loạn
thì mới gây khó cho họ, mà khiến họ không dám muốn làm gì thì làm”
(Nt. Tr 307).
h) Thế rồi thời thế chuyển biến:
năm 1870 nổ ra chiến tranh Pháp – Phổ. Pháp
thua to, vua Pháp Louis Bonaparte bị bắt làm tù binh tháng 9-1870, rồi nổ ra
cách mạng Công xã Paris tháng 3-1871. N.T.Tộ
thấy rõ đây là một cơ hội rất tốt, phù hợp với điều ông dự đoán
“cơ hợi khôi phục phải sau 10 năm” (N.
tr. Tr. 316). Từ tháng 2 đến tháng
5-1871 ông liên tục viết 7 bản điều trần liên quan đến kế sách khôi
phục:
-
Kế hoạch
thu hồi 6 tỉnh Nam kỳ (di thảo 39) ngày 1-2-1871
-
Bổ túc
kế hoạch đánh úp thành Gia định (di thảo 40) ngày 9-2-1871
-
Bàn về
việc cho Pháp thông thương để đổi lấy 6 tỉnh (di thảo 42) ngày 5-4-1871
-
Kế hoạch
vay tiền để dùng vào việc binh (di thảo 44) ngày 10-4-1871
-
Tình
hình chính trị nước Pháp với công xã Pari (di thảo 49) tháng 5-1871
-
Cần nắm
vững tình hình chính trị nước Pháp (di thảo 50) cuối tháng 5-1871
-
Chỉnh
đốn quân đội và quốc phòng (di thảo 51) ngày 19-6-1871
Những kế
hoạch N.T.Tộ đề ra trong 7 bản điều trần kể trên cũng vẫn còn có một
đôi điều bất cập, nhưng rất chân thành.
Ông vẫn chưa bàn đến việc phát động toàn dân kháng chiến, nhưng
rõ ràng là ông đã chuyển từ khuynh hướng chủ hòa sang chủ chiến ở mức
độ thấp, kết hợp thủ đoạn đánh úp với các hoạt động kinh tế,
ngoại giao. Cũng không phải mọi kiến nghị của ông đều
hoàn toàn sáng suốt cả. Ví dụ
như kế hoạch sai người đi Hồng kông gặp các khách buôn giàu xin họ cho
vay tiền để mua một số đại pháo, mà lại hứa với họ “ngày sau sẽ
cho bán nha phiến trong cả nước không đánh thuế ” (N.trang 317). Vay tiền mua súng là tốt, nhưng để cho họ
bán ma túy tự do lại rất nguy hiểm. Ví
dụ như chủ trương đánh úp thành Gia định mà chỉ bàn chuyện khổ nhục
kế, dương đông kích tây, phao tin này nọ chứ không biết thúc đẩy các
cuộc nổi dậy thực sự của dân chúng để bao vây quân thù trong một cuộc
chiến tranh nhân dân rộng lớn. Điều
sáng suốt này N.T.Tộ chưa có được, cũng như các vị anh hùng chủ chiến
đương thời đều chưa có được thật đầy đủ. Chỉ đến thời đại Hồ Chí Minh dân tộc
ta mới có được trí tuệ hoàn chỉnh: toàn dân, toàn diện, trường kỷ
kháng chiến.
Tuy chưa
có được sự sáng suốt toàn diện, nhưng cái tâm của N.T.Tộ là luôn
luôn lo toan việc khôi phục một cách vô tư, với tinh thần tiếp cận khoa
học. Chúng ta
có thể phê bình điều hạn chế lịch sử của ông mà không thể phủ nhận
lòng yêu nước chân thành, lao tâm khổ tứ của ông.
1. Đối với các kiến nghị dân giàu nước
mạnh của N.T.Tộ thì hai anh Ng.Kha, Tr.Ch.Ngọc cũng có lời kết tội thiếu
khách quan:
a) Khi
N.T.Tộ nói đến bốn nguồn lợi của đất
nước về biển, về rừng, về đất đai và khoáng sản, thì Ng.Kha
phán: “Ai mà chẳng biết biển thì có cá, rừng có gỗ, đất trồng được
dâu để nuôi tằm...” Anh “thất vọng
vì N.T.Tộ đã không đề ra được một phương pháp cụ thể để có được
nhiều cá, nhiều muối, nhiều gỗ quý v.v...” (xem “thực chất...”trang
68).
Đây chỉ
là một lời bắt bẻ vụn vặt. Làm
sao trong một bản điều trần “Dụ tài tế
cấp” chỉ mấy trang giấy mà nói được hết phương pháp cụ thể. Ai đã đọc các bản điều trần “Khai hoang từ” (di thảo số 8) và “bàn về chính sách nông nghiệp” (di thảo
số 53) thì đều thấy rõ kế sách của N.T.Tộ rất cụ thể, phát kiến của
ông rất lỗi lạc.
b) Khi
N.T.Tộ bàn về kế sách quân sự thì Ng. Kha đối
chiếu các câu văn trong Tôn Ngô binh pháp và phê phán “Hầu như N.T.Tộ lấy
ý trong sách này, đã vậy ý của N.T.Tộ còn kém xa” (thực chất... trang
95). Tr. Ch. Ngọc cũng viết: “Những
đề nghị của N.T.Tộ về quân sự không có gì đặc biệt, tựu trung chỉ
là những hiểu biết sơ đẳng” (N.Tr. trang 257)
Nếu đọc
kỹ N.T.Tộ, chúng ta sẽ thấy ông đã trình bày vấn đề quân sự rất
xác đáng. Chẳng những vận dụng kiến
thức trong các sách binh thư xưa, mà còn bàn nhiều chuyện ngoài binh thư,
thiết thực với hoàn cảnh trận địa nước nhà thời bấy giờ. Nguyên một ý lớn của ông khuyên triều
đình không nên trọng văn khinh võ đã
là một điều sáng tạo lớn. Ông kiến
nghị “hãy đem các sách binh thư xưa và
nay ra xét lại, chỗ nào nghĩa lý không xác đáng, khí giới lỗi thời,
kỹ thuật không hiệu quả, địa thế không cho phép, khí hậu không hợp
(...) thì bỏ bớt, chỉ lựa lấy những cái hợp với ngày nay, liên quan đến
tình thế nước ta, đưa ra thực nghiệm và soạn thành sách đưa ra học tập”
(Tr.B.Cần, sđd. Trang 233). Ông đề nghị
việc xây dựng lực lượng vũ trang phải
coi trọng người lính, quan tâm đào tạo
cán bộ chỉ huy chuyên nghiệp v.v... Trong lịch sử Việt nam đã từng
có ai bàn vấn đề quân sự thấu triệt như N.T.Tộ chưa?
c) N.T.tộ
kiến nghị triều đình quan tâm việc đào
kênh nhằm mục đích “cho ghe thuyền đi lại, giúp nhân dân đỡ tốn
kém (...) dẫn nước tưới ruộng phòng hạn” (N.tr.tr. 256). Bàn về địa thế Bắc kỳ, ông khuyên
nên đào nhiều kênh trong các tỉnh Hải dương, Hưng Yên, Nam định, Hà nội,
Ninh bình v.v... để phân tán thế nước, đề phòng lũ lụt... (N.tr.tr.
263). Ông còn đề ra một sáng kiến lớn,
xuất phát từ mối lo nước ta “đường biển không an toàn vì nạn cướp
biển và thường bị bão...”. Nhất là việc vận chuyển lương thực từ
Bắc Kỳ vào Kinh đô Huế là rất thiết yếu lại rất tốn kém: “Một
thạch lương thực đưa được đến kinh đô đã phải hao hụt dọc đường
mất năm sáu đấu, đó là chưa nói đến nhiều vụ bị chìm ghe, bị đánh
cướp”. Do đó ông đề nghị “Xin
xem xét kỹ địa thế từ Hải dương đến kinh đô, đào một con kênh lớn
có thể lưu thông được cả ghe lớn ghe nhỏ thuyền quan, thuyền dân.”
(Nt. Tr. 280)
Kiến
nghị táo bạo này bị Ng.Kha phê phán là
“hết sức không tưởng và tai hại”. Anh
dẫn chứng về mọi sự tốn kém, không thể làm được vào thời điểm
130 năm trước đây và suy luận thêm: “Chưa nói đến tình trạng loạn
Chày vôi, chỉ mới đào hào để làm lăng tẩm cho vua mà dân chúng Kinh
thành đã nổi loạn “thành xây xương lính, hào đào máu dân”. Nếu đào kênh như N.T.Tộ chắc chắn dân
chúng cả nước sẽ nổi lên chống triều đình” (Thực chất... Tr. 109).
Yêu thì
cái gì cũng tốt. Ghét thì cái gì cũng
xấu. Đó là chuyện người đời. Trong lịch sử có bao nhiêu sáng kiến táo
bạo đã từng bị phê phán. Cũng có
loại sáng kiến táo bạo không thực hiện được, nhưng tư tưởng của
người đề xuất thì đời sau vẫn ngợi ca.
Nếu có được thái độ công bằng, chắc chắn rằng bạn Ng. Kha sẽ
thấy rõ N.T.Tộ thực tâm nghĩ đến lợi ích đất nước, và có đủ trình
độ để chỉ đạo việc đào kênh, như ông đã hướng dẫn đào Kênh Sắt
ở Nghệ An năm 1866. Vả lại cũng cần
phân biệt việc Đoàn Trưng phát động khởi nghĩa chống vua Tự Đức làm
Khiêm lăng, không đồng dạng với cuộc nổi dậy chống đào kênh mà anh tưởng
tượng ra. Xưa nay dân Việt Nam ta có
bao giờ chống việc thủy lợi, đào kênh đắp đập lo toan đời sống con
người đâu.
d) N T.Tộ kiến nghị lập viện dục anh và viện
tế bần thì Ng. Kha phản bác: “Hoặc vô tình, hoặc cố ý, nhà thông
thái N.T.Tộ đề nghị mỗi tỉnh lập một nhà nuôi trẻ do giám mục tình bào Gauthier cử ngưởi điều
khiển là một kế hoạch vô cùng nguy hiểm, không những tạo thế hợp
tác cho các giám mục nước ngoài mà còn trải rộng mạng lưới tình báo
khắp toàn quốc cho Pháp và Vatican dễ dàng và nhanh chóng thống trị và đồng
hóa dân tộc ta” (“thực chất”... tr. 134).
Trần Ch. Ngọc cũng phụ họa: “Đặt giáo dục, cứu tế xã hội
vào tay các giám mục là những đề nghị nguy hiểm, nếu thi hành thì Việt
nam sẽ mất hẳn nền văn hóa đặc thù của mình” (N. Tr. Trang 257).
Nếu ta
nghiên cứu lại toàn văn điều kiến nghị thứ 8 trong Bát điều tế cấp: “Lập viện dục anh
và trại tế bần” thì sẽ thấy nhà đại trí họ Nguyễn đặt vấn đề
này trên cơ sở phê phán một tình trạng lạc hậu của đất nước: “Hiện
nay ở Trung Quốc cũng như nước ta thường kêu gọi quyên góp lập đàn
công tế, hoặc đúc tượng Phật, hoặc lập bài vị thần, hoặc đúc
chuông, sửa chùa, hoặc hội họp văn chương, hoặc làm đình làm mộ (...)
ai quyên góp được nhiều thì bảo là háo thiện. Những việc ấy có gì là háo thiện? Chỉ háo danh mà thôi! Ngoài đường có người đói xin miếng cơm
thừa canh cặn mà còn nhẫn tâm không cho. Gần
nhà có trẻ mồ côi ngồi khóc bên vách mà nỡ nhắm mắt bỏ đi (...). Tôi thấy hiện nay triều đình xuất
công quỹ lập viện tế bần để nuôi người nghèo khổ, nhưng vì thừa
hành không làm hết nhiệm vụ nên chỉ có danh nghĩa mà thực tế những người
nghèo khổ không được giúp đỡ bao nhiêu (...) Không bằng phương Tây Hội
Thánh thâu hết những người nghèo về nuôi, chữa bệnh. Người tàn tật thì có công việc tàn tật,
không ai ở không (...) Nhà nước cấm tuyệt không cho ai đi ăn xin, hễ gặp
là bắt ngay, sung vào công dịch. Làm
được thế người nghèo có nơi nương tựa mà bọn côn đồ bất lương
khó đường trốn tránh. Còn việc
nuôi trẻ rất khó kiếm người, chỉ có những phụ nữ phương Tây tình
nguyện vào ở trong viện với trẻ mới làm được việc và chắc chắn
có hiệu quả tốt (...) Nếu triều đình cho rằng việc này nên làm thì sẽ
nhờ các giám mục mời người đến mở mỗi tỉnh một nhà nuôi trẻ,
không bao lâu sẽ có kết quả ngay” (Tr.B.cần, sđd, trang 257 – 276).
Một kiến
nghị thực tâm và thiện chí như thế bị anh Ng Kha thêm vào mấy chữ “do giám mục tình báo Gauthier cử người
điều khiển” lập tức biến thành một âm mưu hại nước. Còn anh Ngọc thì sợ “mất đặc thù văn hóa dân tộc” Phải
chăng đặc thù văn hóa Việt nam là không cần chăm sóc người nghèo và trẻ
mồ côi? Ngày nay nước ta đang lập
ra những làng SOS để chăm sóc các em bé không nơi nương tựa, trong đó
có một số “bà xơ” nữ tu công giáo tham gia, phải chăng đó là điều
có hại?
đ) N.T.Tộ được vua Tự Đức cử sang Pháp
thu xếp việc mở trường kỹ thuật, nhưng
khi đã được vua cho chọn đất làm trường thì đành bỏ dở.
Đọc tiểu sử N.T.Tộ đến đoạn này ai cũng lấy làm mừng,
rồi lấy làm tiếc. Tiếc cho ông. Tiếc cho đất nước. Giá mà ngày ấy lập được truờng kỹ
thuật thì hay biết mấy!
Nhưng
Ng. Kha viết: “Triều đình Tự Đức
quá tin tưởng giám mục Gauthier và N.T.Tộ, trái lại hai vị này lừa dối triều đình có hậu ý (...) vì
thầy giáo thì không có khả năng, giám mục
lại là gián điệp (Thực chất... trang 115 và 117) Anh chứng minh việc thầy giáo không có khả
năng là: một ông thi đậu cử nhân văn chương mà nói là biết phép toán
học, bản đồ và điện khí, một ông thì mới gia nhập Hội truyền
giáo, đi học khóa kiến trúc một năm mà nói là thạo về môn đồ bản và
biết làm cột thu lôi... Tất cả những chuyện này Trương Bá Cần đều
viết rõ trong tác phẩm N.T.Tộ con người và di thảo, và Ng. Kha đều sử
dụng tư liệu của Tr.B.Cần, nhưng anh đã lờ đi đoạn văn quan trọng của
Trương Bá Cần: “Triều đình Tự Đức lúc bấy giờ chỉ quan tâm tới
việc làm sao lấy lại được 6 tỉnh Nam Kỳ đã mất vào tay Pháp. Việc dự án mở trường ở Huế không
thành là do sự cản trở của Nguyễn Tri Phương và Võ Trọng Bình là hai vị
quan có thế lực trong triều đình cũng như ở các tỉnh tỏ ra dè dặt, lo
sợ trước ảnh hưởng của các giáo sĩ Pháp (...) Những ngày tháng 4-1868
có một sự phản ứng rất dữ dội của các nho sĩ ở khắp nơi đối với
người công giáo” (Tr.B.Cần, sđd. Trang 51-53).
Rõ ràng việc mở trường ở Huế không thành là do nguyên nhân thời thế chứ không phải
do giám mục Gôchiê và N.T.Tộ là người đã cất công đi lo toan việc này
trở mặt đánh lừa nhà vua bằng cách chọn thầy dạy học thiếu năng lực. Vả lại có ai cấm một cử nhân văn học
mà có thêm hiểu biết về kỹ thuật, một linh mục học về kiến trúc một
năm mà có được khả năng dạy vẽ đồ bản và cách làm cột thu lôi. Lời buộc tội của hai bạn Ng. Kha và
Tr. Ch. Ngọc thật là gượng ép.
Đọc hết
cuốn sách của hai bạn Việt Kiều ở Mỹ, những người kính yêu Nguyễn
Trường Tộ không khỏi liên hệ đến cách nhìn của các nhân vật chủ
chiến thời Tự Đức từng để ra khẩu hiệu “Bình Tây sát tả”, và từng
kiến nghị triều đình xử tử N.T.Tộ. Cuốn sách của hai bạn không phải
vô tình mà là cố ý chôn vùi một danh nhân đất nước trong khi hầu hết
các học giả trong nước đều tôn vinh ông, nhất là trong thời đại ngày
nay, yêu cầu đổi mới đất nước đang là một yêu cầu nóng bỏng để
đưa dân tộc ta tiến kiﰠđà văn minh thế giớ hiện đại.
Thật ra
T. Ch. Ngọc còn có vài câu vớt vát cho N.T.Tộ như: “Không có thể phủ
nhận sự hiểu biết của ông N.T.Tộ rộng rãi và tiến bộ hơn sự hiểu
biết của người dân và đa số sĩ phu trong nước thời ấy” (Thực chất”...,
trang 196). Qua một số kiến nghị
chính xác liên quan đến xã hội và nền giáo dục nước nhà, nếu áp dụng
thì cũng có lợi ích trong việc phát triển đất nước, thí dụ như bỏ lối
học từ chương, khuyến khích khoa học kỹ thuật, cải thiện nông nghiệp,
khai thác tài nguyên v.v...” (N.Tr. trang 253)
Nhưng
Tr. Ch. Ngọc khen để rồi chê: “Thực
chất những hiểu biết của ông có lợi hay có hại cho đất nước, có phải
là mới mẻ đặc biệt hay không?” (N.Tr. trang 196), và “Nhưng đây là những
chương trình lâu dài không thể áp dụng để đối phó lật ngược tình
trạng sôi bỏng của đất nước thời bấy giờ” (N.Tr. trang 253) Còn như
số đông học giả trong nước đối với các đề nghị cách tân của
N.T.Tộ thì khen thật sự, khen mà khâm phục chứ không phải khen để rồi
chê. Khen ở chỗ “những kế sách của
ông đem ra thực hành trăn năm cũng chưa hết (...) thực ra là ông nói cho
chúng ta (...) đó là một lời dự báo” (tham luận của Nguyễn Văn Hồng
– Xem Kỷ yếu Nguyễn Trường Tộ với vấn
đề canh tân đất nước trang 181).
Ngay như
Thai Hồng, người phê phán đường lối chính trị của N.T.Tộ một cách
sâu sắc nhất trong hội thảo 1991 cũng phải thừa nhận rằng: “N.T.Tộ là một nhà yêu nước, người
đã đề xuất những cải cách lớn hồi thế kỷ trước. Khát vọng của ông là khát vọng bảo vệ nền độc lập nước nhà,
làm cho dân giàu nước mạnh. Khát
vọng đó cũng là khát vọng muôn đời của nhân dân, của dân tộc. Ông lại cũng là người đã vượt qua được hoàn cảnh riêng của
mình để cùng đi với dân tộc trong bước khó khăn đen tối. Do đó hình tượng của ông là hình tượng
của một người có nghị lực phi thường,
đã đấu tranh đến hơi thở cuối cùng cho tư tưởng độc lập và thịnh
vượng của nước, của dân. Bao
nhiêu đó đã khiến ông trở thành người
Việt nam đáng kính, đáng trọng, một danh nhân văn hóa Việt nam. (xem kỷ
yếu trang 269)
Theo phương
pháp luận khoa lịch sử thì đánh giá một nhân vật lịch sử cần xem
xét những tiêu chí khác nhau:
- Về chính trị, nhân vật đó có đề xuất
được một đường lối chính trị phù hợp với yêu cầu lịch sử trong
thời đại của mình hay không? có chính kiến gì sáng suốt hơn đời không?
Nếu chính kiến của nhân vật lịch sử không phù hợp với thời thế
đương đại thì nó có dự báo một điều gì cho tương lai không.
- Về trí tuệ và văn hóa, nhân vật đó
so với người trước và người đương thời có vượt lên cao hơn hay không. Tư tưởng và tác phẩm của người đó
có tác dụng nâng cao nền văn hóa chung của đất nước hay của nhân loại
không? Nếu đương thời quan điểm văn hóa của nhân vật đó chưa phù hợp
thì nó có tác dụng tích cực cho tương lai không?
- Về nhân
cách, nhân vật đó có gì nổi bật, đáng làm gương cho đời? Có đặc
điểm gì khác đời đáng coi là một điển hình lịch sử?
Đối với
nhân vật lịch sử Nguyễn Trường Tộ, các học giả trong nước nói chung
có cách nhìn đúng đắn.
Về mặt
chính trị, nhiều
người nhìn rõ điều bất cập của ông trong tinh thần chủ hòa, cho nên ít người ca ngợi
ông về đường lối chính trị. Người
ta chỉ có thể xét đến hoàn cảnh thực tại của ông, sống trong lịch
lý. Nghịch lý tôn giáo, nghịch lý đất
nước, nghịch lý thời đại. N.T.Tộ
đã không đề xuất được một đường lối tạm hòa với những suy tư
day dứt và một tấm lòng yên nước chân thành.
Nhưng về mặt văn hóa, trí tuệ và nhân cách thì
không ai phủ nhận N.T.Tộ đã đề lại một ấn tượng rất đẹp, ấn
tượng của một trí tuệ vượt lên trên tầm thời đại của đất nước
Việt nam giữa thế kỷ XIX. Ấn tượng
về một tám lòng ái quốc trung quân. Sống
trong cảnh bị nghi ngờ, bị gạt bỏ mà không một lời oán trách, lại
còn lo toan cho đất nước vươn lên giàu mạnh để đối phó với quân
thù xâm lược. Tư tưởng cách tân
xã hội, phê bình xã hội của ông được đánh giá cao như mở đầu một giòng chảy tư tưởng canh tân
cho đất nước.
Có thể
nói rằng thái độ bài xích của hai bạn Nguyễn Kha và Trần Chung Ngọc đối
với N.T.Tộ là “có thể hiểu được”
nhưng thực sự có thiên lệch, hoặc là quá
nghiêm khắc, khi hai anh đứng trên một lập trường chủ chiến có phần cực đoan,
tuyệt đối không chấp nhận bất cứ phương sách chủ hòa nào.
Học giả
Chương Thâu thường nhắc lại tinh thần mạn đàm giữa nhà hiền triết Cao Xuân Huy với Giáo sư Trần Văn Giàu
hồi những năm 1960. Cả hai vị đều
nhận định về một nghịch lý của thời
Tự Đức trước cuộc xâm lăng của đế quốc Pháp: Thời ấy chủ chiến là đúng, nhưng các anh hùng chủ
chiến nói chung đều nằm trong hệ tư tưởng Khổng giáo đã trở nên lạc
hậu, bảo thủ, không tiếp thu nổi
cái mới, không có được một đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện,
trường kỳ, không biết nhìn bao quát thời thế trong toàn thế giới. Thời ấy
chủ hòa là hữu khuynh. Trong những
người chủ hòa không ít tư tưởng đầu hàng, tự ti dân tộc, nhưng lại có được một nhân vật chủ hòa
mang tư tưởng canh tân hợp với bước tiến của thời đại. Đó là Nguyễn Trường Tộ. Vì thế mà N.T.Tộ tuy thất bại trước
thời cuộc nhưng các kế hoạch canh tân của ông là sáng suốt, còn lưu lại
cho đời sau và được đời sau chiêm ngưỡng.
Còn các nho sĩ chủ chiến như Tôn Thất Thuyết, Phan Đình Phùng,
Đinh Công Tráng, Trần Xuân Soạn v.v... tuy thất bại nhưng tấm gương yêu
nước, quyết chiến của các vị đó để lại ấn tượng sâu xa trong sự
tôn vinh của nhân dân đương thời và đời sau.
Một cách
nhìn như vậy có thể coi là công bằng, chính xác, hợp với phương pháp
luận khoa học lịch sử.
Số đông
học giả trong nước ngày nay tin rằng thái độ tôn vinh đối với N.T.Tộ
là đúng đắn. Chẳng những ngày nay chúng ta tôn vinh danh nhân văn hóa
N.T.Tộ trong không khí đổi mới tư duy, trong thời đại của nền văn minh
tin học, văn minh trí tuệ; mà hơn nửa thế
kỷ trước, chính Phan Bội Châu, người
căm thù giặc Pháp hơn ai hết vẫn ca ngợi N.T.Tộ là “người trồng mầm văn hóa đầu tiên ở nước
ta” (xem Việt nam quốc sử khảo – nxb KHXH 1982, tr. 214). Và cả Hồ Chủ
Tịch nữa, trong những ngày chuẩn bị ráo riết chống xâm lược Pháp
đầu năm 1946, Bác vẫn nhắc đến những đề nghị canh tân của N.T.Tộ
và tiếc cho triều đình Tự Đức không biết tiếp thu. Trong con mắt của Bác, N.T.Tộ làmột điển hình giáo dân kính chúa và yêu nước.
Viết những dòng này sau
khi đọc kỹ cuốn sách của hai bạn Nguyễn Kha và Trần Chung Ngọc, chúng
tôi bâng khuâng chưa rõ hai bạn mạt sát N.T.Tộ đến mức đó để làm
gì? Phải chăng là để biểu thị mình có cách nhìn khác đời, khác với
khuynh hướng chung của thời đại, để thành người nổi tiếng như anh chàng
Erostrate đốt đền thờ thần Artemis ở Hy lạp 556 năm trước Công nguyên?
Hay là hai bạn ra sức công kích N.T.Tộ để thỏa mãn yêu cầu của người
đặt bài đang rất khó chịu vì những lời ca ngợi, đòi hỏi đổi mới?
Hay là các bạn có một nhu cầu nội tâm thể hiện mối hận của những
con em Phật tử ở miền Nam trước đây đã chịu nhiều đau thương dưới
thời Ngô đình Diệm, một chính quyền Công giáo rất kỳ thị với Phật
giáo.
Điều
khác nhau giữa số đông học giả trong nước với hai bạn là ở cái tâm,
ở cách nhìn, ở thái độ đối với vấn đề văn hóa và cách tân. Giữa thời đại ngày nay, thời đại của
hòa hợp dân tộc, đất nước vươn lên, một thái độ coi trọng trí tuệ,
coi trọng nhân tài, một thái độ dung hòa, khoan dung, tiếp cận giữa các
quan điểm đối lập là nên có, nên giữ, để cùng nhìn về tương lai, cùng
vun đắp một cái gì chung cho văn hóa đất nước và văn hóa nhân lọai.
(Trích y
nguyên văn , kể cả các dấu chấm và lỗi chính tả, trong cuốn “Nguyễn Trường Tộ thời thế & tư duy
cách tân”, tác giả Hoàng Thanh Đạm, chương IX, tr.104-128).
Home | Go top page | Về trang mục lục