PHẬT GIÁO TRONG THẾ KỶ MỚI

 PHẬT LỊCH 2540 - GIAO ĐIỂM

HOA KỲ 1996

Tuyển tập 1

Với các bài viết của Minh Chi - Huyền Cương – Vơ Đ́nh Cường – Thích Trung Đạo – Thích nữ Karuna Dharma – Bùi Mộng Hùng - Trần Tuấn Mẫn – Đào Nguyên - Trần Chung Ngọc - Hồng Ngọc - Quán Như – Lư Nguyên Quân – Lê Văn Tâm – Cao Huy Thuần – Thích Chơn Thiện – Tinh Tiến.

* * *

In lần thứ nhất tại California, Hoa Kỳ, tháng 12/1996.

Trách nhiệm thực hiện: Tôn Thất Duy, Tâm Ḥa, Thanh Nguyên, Hoàng Phấn, Trung Phong.

Phụ trách biên tập: Trần Văn Chi, Phan Mạnh Lương, Đặng Phương, Hồng Quang, Đỗ Hữu Tài.

* * *

Sửa bản vi tính lần 2, tháng 8/2004: Nguyên Định.

 ****************

 

PHẬT GIÁO TRONG THẾ KỶ MỚI

PHẬT LỊCH 2540 – GIAO ĐIỂM

Tuyển tập 1

********

Dẫn Nhập :

 

Từ nhiều năm nay, cuộc sống hiện thực của những người con Phật tại nước ngoài hầu như lúc nào cũng bắt họ phải đối diện với một số vấn đề nhân văn phức tạp: Làm thế nào để vận dụng được những lời Phật dạy vào cuộc sống trong một mội trường văn hóa xa lạ với truyền thống của họ? Tại sao những xă hội Tây phương cực kỳ tiến bộ về tŕnh độ khoa học kỹ thuật lại bắt đầu khước từ những giá trị tâm linh nội sinh và lâu đời để quay t́m tới các nguồn đạo học Đông phương? Phật giáo Việt nam, như một bộ phận khăng khít của dân tộc, phải chuyển hóa như thế nào để bước nhịp nhàng với những chuyển đổi sâu rộng hiện nay của đất nước và thời đại? Những lực vận động nào sẽ định h́nh và định tính các định chế Phật giáo Việt Nam trong tương lai qua sứ mạng hoằng dương Chánh pháp? Và c̣n nhiều nữa, những vấn nạn lớn và nhỏ, những quan tâm gần và xa, những âu lo có cơ sở hoặc thuần cảm tính. Biểu hiện lên mặt nỗi là những lời cảnh giác và dự báo, những công tŕnh nghiên cứu và lư luận, những buổi hội thảo và mạn đàm, những nỗ lực vận động và tổ chức… của cả ở trong lẫn ngoài nước, từ cả giới xuất gia lẫn tại gia, do cả ba Tông phái lớn tại Việt Nam là Thiền, Mật và Tịnh. Tất cả, nhiều lúc tích cực nhưng không phải không có lúc thật tiêu cực, đan kết và chồng chéo lên nhau như một bức tranh vạn hoa nhiều màu sắc và h́nh khối, để làm rơ nét một xu thế chung: Đă đến lúc phải nh́n lại chính ḿnh trước tấm gương lạnh lùng và trung thực của sự thật. Đă đến lúc phải biết phân biệt để củng cố cái ǵ là bất biến và phát huy cái nào là tùy duyên. Bằng trí tuệ Bát Nhă và bằng tâm nguyện Bồ Tát.

      Do đó, trong quá tŕnh thực hiện

      Tuyển tập Đối Thoại Với Giáo Hoàng Gioan-Phao Lồ II

      (http://www.giaodiemonline.com/sach_detail.php?sachid=81 )

      để làm sáng tỏ một số ngộ nhận và đính chính những sai lầm của vị chủ chiên Thiên Chúa giáo La Mă về đạo Phật, Giao Điểm cũng đă lấy quyết định song song h́nh thành một diễn đàn chung dưới h́nh thức những tuyển tập liên hoàn, không phải như một phản ứng tự phê tự kiểm, mà để liên tục và có hệ thống, tŕnh bày những vấn đề của chính tôn giáo ḿnh, trong mục đích đóng góp vào nổ lực truy t́m một định hướng khế lư và khế cơ, khả thể và khả dụng, cho đường lối phát triển Phật giáo trước thế kỷ mới.

      Lẽ dĩ nhiên, trong quy tŕnh đóng góp vào việc phác thảo định hướng to lớn và lâu dài đó, không có ǵ là không quan trọng dù đó là ư kiến cụ thể về một vấn đề thực dụng, cũng không có ǵ là không đáng nói hoặc không được nói dù đó là cuộc mổ xẽ khắc nghiệt để nhận diện những con sư tử trùng nội sinh. Muốn minh Tâm th́ phải kiến Tánh, để giải phóng ra khỏi gông cùm th́ trước hết phải nh́n cho rơ cái gông cùm, và càng phải nh́n lại chính ḿnh một cách ngh́n lần rơ ràng hơn. Một cái nh́n triệt để toàn diện và tích cực.

      Và cũng lẽ dĩ nhiên, định hướng đó phải nằm trong tọa độ đủ lớn cho cả nhân loại, v́ biển khổ th́ không ngừng lại trước các biên giới thiên nhiên hay chủng tộc, nhưng cũng phải vừa đủ nhỏ cho từng chúng sinh để mỗi người có thể tự ḿnh thắp đuốc mà một ḿnh đáo bỉ ngạn. Đâu đó giữa hai tọa độ nầy là một đạo Phật Việt Nam trong ḷng một tổ quốc Việt Nam, mà quá tŕnh lớn dậy của hai thực thể này đă là một gắn bó tương thông và ḥa hài, nương dựa và bất khă phân ly, từ lúc bắt đầu cùng hiện diện đă hai ngh́n năm nay cho đến một thiên niên mới đang trải dài trước mắt. Cho nên nội dung của những đóng góp vào nỗ lực định hướng này cũng đă, tự thân và chủ yếu, xuất sinh từ những gốc rễ văn hóa và lịch sử đặc thù Việt Nam. Nghĩa là mang bản sắc Việt Nam và tương ứng với hiện thực Việt Nam. Một hiện thực có cả một dân tộc, trong đó có Phật giáo Việt Nam, đang tự ḿnh từng bước chủ động thoát ra khỏi chu kỳ ngoại thuộc và chậm tiến, để lẫm liệt chấp nhận và quyền biến giải quyết các thách thức sinh tử của thời đại.

      Để cung ứng điều kiện tŕnh bày cho những đóng góp có nội dung liên hệ đến một định hướng như thế, công việc h́nh thành một diễn đàn đáng lẻ phải quy mô hơn và hùng hậu hơn. Cần nhiều công sức và phương tiện hơn. Nhưng Giao Điểm, với những giới hạn và khó khăn mà ai cũng biết, vẫn đứng ra nhận lănh công việc nầy như viên đá lót đường cho cả đoàn người đi tới. Chỉ bằng tấm ḷng sắt son với dân tộc, và niềm tin vững chắc vào Chánh pháp.

      Từ cuối xuân năm 1996, lúc bắt đầu phổ biến Lá Thư Ngỏ và các Chủ Đề Gợi Ư để kêu gọi sự đóng góp vào Tuyển Tập 1, Giao Điểm đă nhận được những đáp ứng rất thuận lợi cả ở trong lẫn ngoài nước, thậm chí có bài viết gửi đến cho chúng tôi chỉ trong ṿng hai tuần lễ sau đó. Tuy nhiên, cũng có những thân hữu đến nay vẫn chưa thấy hồi âm như đă hứa. Có nhiều lư do giải thích sự ngần ngại nầy nhưng đáng nói hơn cả, nên do đó cần làm rơ ra ở đây, là v́ hai lư do sau:

 Ngoài ra, là một phần tử rất nhỏ trong cộng đồng dân tộc, nhưng nhờ sự trong sáng trong công việc và lương thiện trong t́nh ư, nên Giao Điểm có được cơ duyên tiếp cận trực tiếp với cả trạng huống trong nước lẫn t́nh h́nh trên thế giới, do vậy, ở một giới hạn nào đó, chứng nghiệm, cảm nhận và đối chiếu được những thay đổi sâu rộng trong định hướng học thuật và hành xử văn hóa tại nước ngoài mà độc giả trong nước có thể chưa trực tiếp cảm nhận cụ thể được. Chúng tôi muốn đề cập đến cuộc phản tỉnh tư duy sâu sắc và rộng lớn của giới trí thức Tây phương trước sự phá sản các giá trị tôn giáo truyền thống, và thái độ khước từ những ước lệ đạo đức xă hội mà họ đang sống. Cuộc phản tỉnh đó cũng có liên hệ đến t́nh h́nh khai thác và hủy diệt không giới hạn những dự trữ cuối cùng của tài nguyên thiên nhiên trên quả địa cầu này. Điều đáng nói là chảy xuyên suốt cuộc phản tỉnh về nhận thức này, nội dung lời dạy của Đức Phật và triết lư hành động của Phật giáo đă được thành phần trí thức phương Tây vận dụng một cách sinh động và có hiệu quả.

       Điều xin thưa cuối cùng là dù đă cố gắng tối đa, Tuyển tập 1 nầy chắc chắn cũng không tránh khỏi những khiếm khuyết cả về h́nh thức lẫn nội dung. Đặc biệt sau khi đọc hết, quí vị độc giả dù không tinh ư cũng sẽ thấy ba điều:

Tuy nhiên, nếu Tuyển tập này, với những giới hạn nhất định do chính Giao Điểm tự ḿnh tạo ra đó, mà gây được một hứng khởi và một niềm tin nơi bạn đọc, cũng như nơi những người viết, cho sự ra đời nối tiếp của các Tuyển tập sau; và nếu từ những nổ lực trí tuệ khiêm nhường này mà Phật Tử Việt Nam vận dụng được chút nào để đóng góp cho quá tŕnh chuyển hóa của Phật Giáo Việt Nam trước thềm thế kỷ mới, th́ quả thật điều đó đă vượt quá tâm nguyện của chúng tôi.

GIAO ĐIỂM

Hoa Kỳ, tháng 12 năm 1996

* * * * * *

 

THƯ NGỎ

KÍNH BẠCH CHƯ TÔN ĐỨC

KÍNH THƯA QUÍ THIỆN HỮU TRI THỨC

 

      Do tác động trực tiếp của những tiến bộ trong lănh vực khoa học và công nghệ, và đặc biệt do phong trào phản tỉnh trí thức để đối trị với cuộc khủng hoảng nhân văn toàn cầu hiện nay đang tàn phá không những môi sinh của con người, mà cả những kỷ cương đạo đức nền móng nhất của chính con người, các giá trị và tín điều tôn giáo của nhân loại đă và đang được nghiêm chỉnh thẩm định lại một cách triệt để.

      Trong cuộc thẩm định cần thiết và quyết liệt đó, trong khi các tôn giáo đang ngự trị một cách áp đảo và lâu dài trên cuộc sống Tây phương bị phê phán v́ tính bất tương ứng với các nhu cầu tâm linh, và t́nh trạng tụt hậu so với tŕnh độ tiến bộ tư duy của thời đại, th́ Phật giáo bỗng xuất hiện như một biệt lệ. Các nhà tư tưởng lớn của nhân loại, đặc biệt những vị xuất sinh từ chính các xă hội Tây phương nầy, như nhà toán học Blaise Pascal, triết gia Bertrand Russel, nhà phân tâm học Graham Howe… lại đă đánh giá rất cao khả năng giải phóng con người và xây dựng xă hội của Phật giáo, mà tiêu biểu cho các danh nhân lỗi lạc nói trên là nhà Vật lư học Mỹ gốc Do Thái Albert Einstein, cha đẻ của Thuyết Tương đối và là người được giải thưởng Nobel Vật lư về Quang Điện (Photoelectric) năm 1921. Là khuôn mặt lớn nhất của khoa học tự nhiên trong thế kỷ thứ 20, lại lấy Khoa học, vốn là sức mạnh và niềm tự hào của văn minh phương Tây, để so sánh, ông đă nhận định về Phật giáo như sau:

       Nếu có một tôn giáo nào ứng phó được với các nhu cầu khoa học hiện đại th́ tôn giáo đó chính là Phật giáo. Phật giáo không cần phải duyệt xét lại hầu cập nhật hóa với những khám phá khoa học mới đây. Phật giáo không cần phải từ bỏ quan điểm của ḿnh để theo khoa học, v́ Phật giáo không những đă bao gồm cả khoa học mà c̣n vượt qua cả khoa học nữa. (If there is any religion that would cope with modern scientific needs, it would be Buddhism. Buddhism requires no revision to keep it up to date with recent scientific findings. Buddhism needs no surrender its views to science, because it embraces science as well as goes beyond science).

      Tuy nhiên, nh́n một cách tổng quát, cần ư thức và nh́n nhận rằng lối sống đạo của Phật tử và cách truyền đạo của Phật giáo, đặt biệt là Phật giáo Việt Nam, đang gặp một số giới hạn nhất định. Do đó, việc cập nhật hóa phương pháp truyền đạo, cách thế sống đạo, là một nhu cầu bức thiết. Để, ở trong nước, Phật giáo có thể đóng góp năng động hơn vào đời sống đạo lư và văn hóa của dân tộc, và Phật tử có thể góp phần hữu hiệu hơn vào sứ mệnh làm cho dân giàu nước mạnh mà thời đại Lư Trần đă được Dân tộc chứng nhận và Lịch sử chứng nghiệm. C̣n ở ngoài nước, Phật giáo có thể phát huy được tối đa khả năng đóng góp của ḿnh vào nỗ lực chung của nhân loại, nhằm đối trị những cuộc khủng hoảng, mà cấp thiết nhất là khủng hoảng đạo lư và tư tưởng, mà nhân loại đang cay đắng kinh qua.

      Trong niềm thao thức đó, và với tất cả tâm thành thiện chí, Tạp chí Giao Điểm thỉnh cầu chư Tôn Đức và hàng Thiện hữu tri thức trong nước cũng như khắp thế giới, góp ư của ḿnh dưới h́nh thức những bài viết về chủ đề:

 

PHẬT GIÁO TRONG THẾ KỶ MỚI.

 

      Chúng tôi xin mạo muội đề nghị nội dung và mục đích bài viết nên có tính xây dựng, thực tiễn và khả thi. Phương pháp luận được sử dụng trong bài giảng Tứ Diệu Đế để mô tả và phân tích hiện thực, truy t́m và giải bày nguyên nhân, định hướng và đề nghị phương thức giải quyết, là một quy tŕnh mà chúng tôi nghĩ có thể sử dụng được. Lẽ dĩ nhiên đề nghị đó chỉ có tính gợi ư mà thôi, quư vị có toàn quyền chọn lựa cách thế tŕnh bày nào thích hợp nhất.

      Tạp chí Giao Điểm dự định sẽ tổ chức, nếu hoàn cảnh cho phép, một (hay nhiều) buổi mạn đàm hoặc hội thảo về chủ đề nói trên vào mùa hè năm 1996. Ngoài ra, những bài tham luận cũng sẽ dự trù được in thành một Tuyển tập để phổ biến rộng răi.

      Với định hướng đa diện hóa và đa phương hóa các quan hệ với bên ngoài, Việt Nam đang là nơi giao lưu của các luồng tư tưởng và học thuật trên thế giới. Đi chung với những trào lưu nhân bản và khai phóng, cũng có không ít những luồng văn hóa, những nguồn tôn giáo lỗi thời và nguy hại, ngụy trang dưới những h́nh thức văn minh và tiến bộ, tuôn tràn vào đất nước chúng ta, và đặt dân tộc trước vấn nạn phải nhận diện và chọn lựa cho đúng con đường Hiện đại hóa mà không Tây phương hóa.

      Do đó, hơn lúc nào hết, đạo Phật Việt Nam lại càng có vai tṛ và nhiệm vụ quan trọng hơn đối với sinh mệnh và tương lai của Dân tộc. Với đặc tính nhân bản và khai phóng, chức năng làm phên dậu văn hóa để thừa kế có sáng tạo, tiếp thu có chọn lọc của đạo Phật Việt Nam lại càng cần phải được khai dụng tối đa. Chúng tôi tha thiết mong cầu được sự khuyến khích và hưởng ứng thiết thực của chư Tôn Đức và quư Thiện hữu tri thức trong cũng như ngoài nước, để nổ lực nầy chóng thành tựu.

California, ngày 15 tháng 2 năm 1996

Thay mặt Ban chủ trương Tạp chí Giao Điểm

Kính thư,

Hồng Quang

***

TUYỂN TẬP

PHẬT GIÁO TRONG THẾ KỶ MỚI

CÁC CHỦ ĐỀ GỢI Ư

  1. TỔNG QUAN

  1. Giáo lư đức Phật và những yếu tính của thời đại.

  1. Phật Giáo và cuộc khủng hoảng của thế giới hiện nay.

  2. Một cái nh́n lịch sử của Phật Giáo Việt Nam trong sinh mệnh dân tộc

  3. Bản sắc đặc thù của Phật Giáo Việt Nam.

  4. Phật Giáo Nhật Bản và cuộc canh tân xứ sở: kinh tế, chính trị, xă hội, văn hóa, tôn giáo.

  1. NHỮNG VẤN ĐỀ CỦA PHẬT GIÁO VIỆT NAM

  1. Vài suy nghĩ về giáo lư, giáo chế và giáo hội.

  1. Hiện t́nh Phật Giáo Việt Nam trong và ngoài nước; triển vọng và cơ hội.

  2. Những đề nghị cụ thể để Phật Giáo Việt Nam có đủ tầm vóc bước vào thời đại mới.

  3. Phương pháp truyền đạo và những phương tiện truyền thông hiện đại.

  4. Những đề nghị cụ thể để Gia Đ́nh Phật Tử (GĐPT) đáp ứng được những nhu cầu của tuổi trẻ trong thời đại mới.

  5. Phật Giáo Việt Nam: chỗ đứng và nhiệm vụ đối với dân tộc.

  6. Phật Giáo Việt Nam và Phật Giáo thế giới.

  1. NHỮNG VẤN ĐỀ CỤ THỂ ĐỂ HIỆN ĐẠI HÓA PHẬT GIÁO VIỆT NAM

  1. Tụng kinh, giảng kinh và hiểu kinh bằng ngôn ngữ thời đại.

  1. Giáo lư đức Phật và tri thức khoa học.

  2. Vận dụng giáo lư vào đời sống văn minh.

  3. Đường hướng và phương pháp đào tạo tăng ni trong thời đại mới.

  4. H́nh ảnh, phong thái và tầm cỡ của vị trú tŕ, giảng sư trong thời đại mới.

  5. Những đề nghị cụ thể cho một buổi lễ Phật Giáo mang tính thời đại.

  6. Chức năng của một cư sĩ thời đại.

  7. Mẫu người mà Phật Giáo đào tạo cho thời đại mới.

  1. NHỮNG VẤN ĐỀ NHẬP THẾ CỦA PHẬT GIÁO VIỆT NAM

  1. Phật Giáo và chính trị.

  1. Phật Giáo và sự phát triển kinh tế.

  2. Phật Giáo và vấn đề giáo dục và y tế.

  3. Phật Giáo và vấn đề ô nhiễm môi sinh.

  4. Phật Giáo và vấn đề phạm pháp và các tệ đoan xă hội.

  5. Phật Giáo và các vấn đề kiến trúc, hội họa, điêu khắc, sáng tác, âm nhạc và văn nghệ.

  6. Phật Giáo nên có hay không có một tổ chức chặt chẽ như các tôn giáo Tây Phương.

  7. Ư kiến về hai ḍng tu: Thanh Tịnh xuất gia và Xuất Thế tại gia.

  8. Phật Giáo và các tôn giáo khác.

  1. CÁC VẤN ĐẾ KHÁC:

Tùy sáng kiến của quư vị.

***************

 

PHẦN MỘT

 

TỔNG QUAN

 

LƯ NGUYÊN QUÂN

 

PHẬT GIÁO VIỆT NAM TRƯỚC NGƯỠNG CỬA THẾ KỶ 21

MỘT THÁI ĐỘ CẦN THIẾT

 

      Như một con bệnh không thể chữa lành khi người ta chỉ t́m cách che đậy, trốn tránh hay loanh quanh với những lư luận mơ hồ, không ăn nhập ǵ với hiện trạng. Cũng không thể chữa lành khi bệnh th́ nằm ở gan ruột mà lại đi lo chữa chạy ở ngoài da. Phật Giáo Việt Nam (PGVN) ngày nay, ngoài những thành tựu của quá khứ dễ khiến người Phật tử tự hào, ngoài các sức mạnh quần chúng c̣n lại sau nhiều lần bị phung phí; và bên cạnh những yếu tố tích cực có thể đóng góp cho một viễn ảnh tốt đẹp hơn, th́ vẫn c̣n đó, những yếu tố tiêu cực ngay ở tự thân của nó - những yếu tố đă từng làm cho PGVN bị nghiêng ngửa, ră rời, tan nát và ngày càng tỏ ra như một căn bệnh trầm kha, không ai chữa trị và cũng không ai muốn chữa trị. Ngay cả việc nói đến nó không thôi, người ta cũng phải e sợ đủ thứ chuyện th́ nói ǵ đến việc chữa trị. Khoan nói đến lư do của trạng huống tâm lư này. Chỉ cần ghi nhận, trạng huống tâm lư này phản ảnh một thái độ tiêu cực mà hậu quả là chính Phật Giáo bị thiệt tḥi chứ không ai khác. Làm thế nào mà PGVN có thể vươn ḿnh trỗi dậy làm ngọn đuốc soi sáng cho đời khi mà các trạng huống tâm lư này cứ măi đè nặng nơi một đa số thầm lặng - những người từng hoài băo nhiều cho Phật Giáo? Làm sao mà PGVN có thể mở rộng được cánh cửa tương lai để đi tới khi mà nó cứ phải trói buộc ḿnh vào cái tâm cảnh của một nỗi e sợ kỳ cục như thế này?

      Hẳn nhiên là PGVN sẽ vẫn c̣n đó. C̣n đó trong tâm hồn của con người Việt Nam dẫu cho người ta vô t́nh hoặc cố ư không biết đến sự có mặt của nó chăng nữa v́ nó đă như nước thấm sâu vào ḷng đất. C̣n đó trong đời sống trí tuệ của con người Việt nam v́ nó vốn không phải là một tôn giáo sống bằng những h́nh thức tín ngưỡng dị đoan; lại càng không phải sống bằng những hứa hẹn và đe dọa hăo huyền mà v́ nó vốn là tôn giáo của Trí Tuệ, là con đường chân thực đưa tới Sự Thực. Dẫu cho thế gian này có bị thiêu hủy hay ch́m trong tăm tối v́ sự tham tàn và ngu muội của con người chăng nữa th́ Sự Thực vẫn là Sự Thực và con đường chân thực đưa tới Sự Thực vẫn là con đường chân thực đưa tới Sự Thực. Nhưng c̣n đó như thế nào là điều mà chúng ta nên nghĩ tới. C̣n đó như một ngọn đuốc soi sáng cho đời hay như một cục than bị vùi lấp giữa đống tro tàn? C̣n đó như một sức mạnh văn hóa mở đường đi tới cho con người hay như một bảo vật trong viện bảo tàng? Đó là những câu hỏi đặt ra cho những người c̣n ít nhiều hoài băo cho Phật Giáo Việt Nam lúc này, khi mà các trạng huống tâm lư nói đến trên đây đang đè nặng trên tâm hồn của người con Phật Việt Nam ở bên này và bên kia. Đó cũng là những câu hỏi đặt ra một thái độ cần có như một bước đầu cho những chuẩn bị nghiêm chỉnh để đi tới ở ngày mai.

      Thái độ đó là ǵ? Là sự rời bỏ trạng huống tâm lư e sợ đă nói để có đủ can đảm nh́n lại ḿnh như một tác nhân chủ yếu quyết định cho con đường đi tới của PGVN giữa hoàn cảnh ngổn ngang này. Hoàn cảnh ngổn ngang của lịch sử, của đời sống chính trị, văn hóa, kinh tế, xă hội… của đất nước trong mấy thập niên qua đă từng tác động mạnh mẽ - và chắc chắn cũng sẽ c̣n tác động mạnh mẽ - lên tấm thân của Phật Giáo. Nhưng hoàn cảnh y báo ấy, trong ánh sáng của giáo lư Phật, vốn không thể tách rời và càng không là năng lực chủ động quyết định cho tự thân chánh báo. Chúng ta cần nhận ra điều này để không tự ru ngủ ḿnh và không phải tập trung tất cả th́ giờ, năng lực cho những việc làm, dù có thân thiết, nhưng chưa phải là điều thiết cốt. Truy tầm những lư do cho bệnh trạng ở bên ngoài và đặt vào đấy trách nhiệm về bệnh trạng trong khi vi trùng th́ ở ngay thân ḿnh – như nhiều người đă làm một cách rất năng nổ - dù có thể là một điều rất nên, rất đáng nhưng chắc chắn là không đủ để chữa trị bệnh trạng. Đó là chưa kể đến, việc lo đối phó với hoàn cảnh ngổn ngang đến độ trở thành một vật kéo của chiếc xe hoàn cảnh th́ lại c̣n tệ hại hơn cả hoàn cảnh tệ hại v́ nó chính là cách tự đánh mất ḿnh, tự hủy diệt ḿnh một cách nhanh và gọn nhất. Đă không cứu được ḿnh, đă tự đánh mất ḿnh, tự hủy diệt ḿnh như thế th́ c̣n nói ǵ đến chuyện cứu ai bây giờ!

      Phật Đạo giữa thế gian là Bồ Tát Đạo. Trên con đường hoạt dụng của Bồ Tát ấy, người con Phật phải lấy Bồ Đề Tâm làm động cơ căn bản. Nhưng Bồ Đề Tâm chỉ có thể phát khởi khi có được thâm tâm và trước hết, là có được trực tâm. Trực tâm là cái tâm ngay thẳng, chất trực, không quanh co trá ngụy, không tự dối ḿnh và dối người. Đó là cái tâm không e sợ, can đảm nh́n thẳng vào ḿnh như một tác nhân chủ yếu để thấy ra đâu là cái gốc của bệnh, cái mầm của loạn. Đó chính là cái tâm quy định cho một thái độ cần thiết, bước đầu cho sự lên đường trở về t́m lại chính ḿnh để cho Phật Giáo đúng là Phật Giáo chứ không phải là một cái ǵ khác mang danh Phật Giáo.

HIỆN TRẠNG CỦA PGVN NGÀY NAY

      Ngoài những thành tựu và đổ vỡ mà ai cũng thấy và đă được nói đến nhiều – không kể đến những tiếng nói phô trương quá lố hay những xuyên tạc dối trá ở bên này và bên kia, PGVN ngày nay như đang ở trong một t́nh trạng phức tạp vừa có nhiều triển vọng vừa chứa đựng những nguy cơ hiểm họa khó lường.

    

  1. Triển vọng trước hết là ở niềm tin Phật của quần chúng. Sau hơn nửa thế kỷ - và có thể kể xa hơn, gần 140 năm nay – dân tộc Việt Nam đă phải ở trong một chu kỳ lịch sử lệ thuộc vào những sức mạnh của thời đại xuất phát từ Tây Phương. Ở đó, những chế độ nối tiếp nhau liên tục đặt Phật Giáo vào trong cái thế của một kẻ bị trị; và v́ vậy, bị khống chế và kềm hăm đủ thứ. Lại ở đó, chiến tranh thù hận, độc tài áp bức, sự tuyên truyền có tính cách tẩy năo của những ư thức hệ tôn giáo, chính trị đang nắm trong tay sức mạnh của thời đại đă như cùng tập hợp lại để không cho PGVN trỗi dậy; thậm chí, để triệt hủy niềm tin Phật của quần chúng. Nhưng rơ ràng cho đến hôm nay, niềm tin Phật của quần chúng đă không dễ dàng bị triệt hủy và Phật Giáo vẫn c̣n đó như một tôn giáo của đa số với hơn 50% dân chúng tin theo như thống kê của chế độ đương quyền (v́ tính cách lỏng lẻo của các tổ chức Phật Giáo xưa nay, trong thực tế con số này có thể lớn hơn nhiều). Những Lễ Hội Chùa Hương kéo dài trong nhiều tuần lễ với hàng hàng lớp lớp người tín mộ. Những mùa Phật Đản, Vu Lan, Tết Nguyên Đán… tràn ngập khách lễ bái hành hương ở khắp các chùa trên mọi miền đất nước như một cái ǵ rất xưa bừng sống dậy. Những lễ tang các bậc tôn túc với số người tham dự làm lo ngại cho cả nhà cầm quyền… Đó là những ǵ mà các quan sát viên và những người từng đi về Việt Nam đă chứng kiến và mô tă rải rác trên nhiều trang báo. Dưới những chế độ thực hiện chính sách triệt hủy Phật Giáo cách này cách khác trải dài hơn thế kỷ; những chủ thuyết, ư hệ chính trị xă hội cực đoan luôn đi theo cùng với sức mạnh quân sự, kinh tế của thời đại liên tục tấn công vào thành tŕ tín ngưỡng của dân tộc; với sự nghèo nàn cố hữu và ngay cả, với những đổ vỡ rạn nức ở ngay bản thân các tổ chức PGVN từ trước đến nay mà niềm tin Phật của quần chúng vẫn c̣n như vậy thực là một điều kỳ diệu. Điều kỳ diệu này cho phép ta nghĩ được rằng, ít nhất là cho đến lúc này, niềm tin Phật của quần chúng vẫn c̣n là một tiềm năng lớn, một trong những yếu tố lớn cho một triển vọng có thể có của PGVN ở ngày mai.

  1. Một yếu tố khác đóng góp vào triển vọng của PGVN là đa số trí thức Việt Nam đă từng quay lưng lại với tôn giáo ngày càng tiếp cận với Đạo Phật; và càng tiếp cận th́ càng có khuynh hướng quay về với Phật Giáo do bởi nhận ra rằng, Đạo Phật thực sự không giống với các tôn giáo khác.

      Không giống với các tôn giáo khác. Sự thực này được nh́n ra là một yếu tố có tính cách quyết định cho thái độ và khuynh hướng của người trí thức Việt Nam ngày nay. Tôn giáo là một thực thể của xă hội loài người. Lịch sử văn minh, văn hóa của con người đă có không ít những đóng góp của tôn giáo. Nhưng đồng thời, ở một mặt, tôn giáo cũng đă đóng góp không ít vào những thảm họa lịch sử. Lịch sử c̣n đó, những cuộc chiến tranh tôn giáo được gọi là Thánh Chiến (The Holy War) trải dài trong thời Trung cổ ở Âu Châu. Lịch sử cũng đang phơi bày những cuộc chiến tranh diễn ra trong thời cận và hiện đại ở khắp nơi trên thế giới có động cơ tôn giáo, những chiến tranh ở Trung Đông, Ái Nhĩ Lan, ở Ấn Độ, Phi Luật Tân, ở Phi Châu... Đó là chưa kể đến những thảm kịch Jonestown, Waco…, mặc dù trong một phạm vi nhỏ hơn, nhưng đă là những biểu hiện ḷng cuồng tín tôn giáo đến độ làm ngạc nhiên, bàng hoàng cả những kẻ c̣n mê tín vào tôn giáo. Đó cũng là chưa kể đến những cuộc hôn nhân khác tôn giáo đă phải bị ép uổng hoặc găy đổ khiến nhiều người phải đau khổ thế nào; và c̣n nữa, những tín điều, giáo điều, những lời phán truyền đầy dẫy trong các sách sử tôn giáo mà ngay cả người có đầu óc b́nh thường cũng không thể không đặt lên câu hỏi về bản chất và ư nghĩa của tôn giáo. Giữa bầu khí tôn giáo cần và đang được tra vấn đó th́ Phật Giáo như riêng ḿnh một cơi. Không từng can dự vào bất kỳ một cuộc chiến tranh tôn giáo nào xưa nay, không từng đẩy con người đến chỗ cuồng tín ở bất cứ đâu, không chứa đựng một điều ǵ huyền mị trong kinh sách – ngoài những biểu lộ cảnh giới của tâm linh mà con người chưa vươn tới được. Cho nên, không chỉ là yếu tố Thần (Gods) làm cho Phật Giáo khác với các tôn giáo khác mà ngay cả thực tế lịch sử và đời sống tín ngưỡng, người ta cũng không thể dùng định nghĩa và khái niệm tôn giáo chung chung đem áp dụng cho Phật Giáo. Không phải là vấn đề hơn hay thua, mạnh hay yếu nhưng rơ ràng là, Phật Giáo thực sự khác biệt với các tôn giáo khác. Điều này có ư nghĩa rất lớn nếu ta hiểu được cái lư do mà người trí thức Tây Phương ngày càng ngưỡng mộ Phật Giáo và t́m đến để học hỏi.

      Người trí thức Việt Nam ngày nay, trong buổi hoàng hôn của những chủ nghĩa, ư hệ hoang tưởng một thời được tôn thờ đưa đến những đổ vỡ trong tâm hồn và đời sống, phải đứng trước ngă ba đường để đi t́m một nền tảng tư tưởng và đạo lư cho cuộc sống. Các tôn giáo dễ dàng là các cửa ngơ cho một lựa chọn mới này. Ở đó, Phật Giáo hiện ra như một tôn giáo của Từ Bi, Bất Bạo động, của Trí Tuệ, Hỷ Xả - khác biệt với tất cả các tôn giáo khác trên mặt tư tưởng cũng như trên thực tế lịch sử, sẽ trở thành một cửa ngơ cho những tâm hồn khao khát sự an lạc và những đầu óc khát vọng chân lư. Một số không nhỏ các nhà trí thức Việt Nam ở Việt Nam và ở hải ngoại đang t́m về với Phật Giáo như một lựa chọn mới này, và đă có không ít những đóng góp trí tuệ vào ư hướng xây dựng một nền tảng tư tưởng và đạo lư cho dân tộc Việt Nam giữa lúc tinh thần chao đảo hiện nay. Những biểu hiện cho khuynh hướng trí tuệ t́m về Phật Giáo này đang quy tụ ở nhiều nơi: Ở Việt Nam, các thiền viện dưới sự hướng dẫn của Thiền Sư Thanh Từ, các trường Cao Cấp Phật Học, các Viện Nghiên Cứu Phật Học và ngay cả trong một vài sinh hoạt của Viện Khoa Học Xă Hội mấy năm lại đây mà buổi Hội Thảo về Tuệ Trung Thượng Sỹ là một điển h́nh… Ở hải ngoại, Làng Mai dưới sự hướng dẫn của Thiền Sư Nhất Hạnh, và các chi nhánh của nó ở nhiều nơi, các tạp chí Phật Giáo hoặc có màu sắc Phật Giáo mà đường hướng nhiều khi rất khác biệt nhau (Phật Giáo Việt Nam, Giao Điểm, Tin Phật, Hoa Sen, Chân Nguyên, Bông Sen, Viên Giác, Phật Giáo Hải Ngoại…)

    

  1. Một triển vọng đáng kể khác là những trung tâm tu học được thiết lập với những truyền thống tu tập được xây dựng, tái tạo hoặc cách tân. Như xương sống của cơ thể, những trung tâm tu học và truyền thống tu tập đă là yếu tố quyết định tối hậu cho lịch sử hưng vong của Phật Giáo xưa nay. Thử tưởng tượng, Phật Giáo Trung Hoa mà không có các bậc Cổ Đức đời đời nối tiếp thiết dựng các Đạo Tràng Dịch Kinh, Giảng Kinh, nói Pháp, lập thành các Pháp môn tu tập Thiền, Tịnh và các Ṭng lâm hướng dẫn đồ chúng tu tập th́ di sản của Phật Giáo Trung Hoa c̣n có ǵ? Như Phật Giáo Nhật Bản, không phải là Tổng Hội Phật Giáo Nhật Bản - thường được xem là cơ cấu đại diện cho Phật Giáo - nắm mạng mạch của Phật Giáo ở đây mà chính là hệ thống các Tông Phái với những sắc thái linh hoạt và truyền thống tu tập khác nhau được giữ ǵn đă tạo nên các sức sống cho Phật Giáo xứ này. Phật Giáo Tây Tạng ngày nay là một ví dụ rơ nét khác. Trong khi Tây Tạng đang phải chịu đựng một trong những thảm kịch đau thương nhất của lịch sử các dân tộc mà tương lai chưa biết thế nào th́ Phật Giáo Tây Tạng, theo cùng t́nh cảnh lưu vong của một phần dân tộc họ, lại đang ảnh hưởng lớn trong đời sống tâm linh và trí tuệ của con người ở Tây Phương. Được vậy không chỉ v́ những huyền thoại được nói nhiều về xứ này; cũng không chỉ v́ những h́nh thức khá kỳ dị trong sinh hoạt tôn giáo của họ (v́ huyền thoại và những h́nh thức nếu có làm cho người ta lưu tâm đến th́ cũng chỉ nhất thời) mà chính là ở cốt tủy, Phật Giáo Tây Tạng c̣n đó những truyền thống tu tập với những kinh nghiệm tâm linh thực sự.

       Phật Giáo Việt Nam, ít ra là từ 1963 trở về sau, đă bị cuốn hút vào cơn lốc của thời thế để không có được sự quan tâm đúng mức, nói ǵ đến việc đáp ứng nhu cầu sinh tử nầy của Phật Giáo. Dù chúng ta có đó, những đời sống tâm linh tỏa sáng thành những tấm gương đạo hạnh đáng ngưỡng mộ nhưng đó chỉ là những trường hợp cá biệt; chúng ta cũng có đó những Tu Viện, Phật Học Viện nhưng nề nếp tu học và sinh hoạt không đủ để tạo nên những truyền thống tu tập cho hơn một thế hệ. Phải đợi đến sau này, trong nghịch cảnh nhiễu nhương của vận nước, vận đạo, PGVN mới có được những bậc tôn túc quan tâm và thực hiện những trung tâm tu học và xây dựng lại những truyền thống tu tập. Các Thiền Viện ở trong nước với Thiền Sư Thanh Từ quy tụ đông đảo đồ chúng đang làm sống dậy bầu khí tu Thiền, kết hợp truyền thống Tổ Sư Thiền ở Trung Hoa với truyền thống Thiền Trúc Lâm đời Trần của Việt Nam. Trước và song song với nó, và trên những phạm vi ảnh hưởng nhỏ hơn, có những Đạo Tràng Liên Hữu tu tập Tịnh Độ, pháp môn Niệm Phật Công đức rải rác ở Trung và Nam. Trong khi ở hải ngoại, Làng Mai ở Pháp trở thành một trung tâm Thiền nổi tiếng với Thiền Sư Nhất Hạnh, đưa phương pháp Thiền trong truyền thống Kinh Tạng Phật giáo áp dụng vào cuộc sống của con người xă hội hiện nay, quy tụ hằng năm rất nhiều người từ khắp nơi trên thế giới và từ những truyền thống tôn giáo khác nhau đến tu học. Có nhiều nhóm Thiền sinh Việt Nam và ngoại quốc đang áp dụng phương pháp Thiền tập này và sinh hoạt tu tập khá đều đặn. Có những nơi vận dụng phương pháp Thiền tập này kết hợp với nề nếp tu tập vốn có ở Việt Nam trước đây như ở một số chùa, Tu Viện tại miền Bắc California, Texas, Massachusetts…

       Việc tái dựng các truyền thống tu tập với sự có mặt của các trung tâm tu học nói trên là một yếu tố đáng khích lệ lúc này khi nh́n về viễn ảnh của PGVN ngày mai. Càng đáng khích lệ hơn khi quần chúng Phật tử ngày càng qui tụ về các trung tâm tu học, thể hiện tấm ḷng thiết tha cầu tu, cầu học và đưa sự tu học trở thành một nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống. Tu học trở thành một nhu cầu, đó hẳn là một dấu hiệu có tính cách quần chúng đáng mừng nhất trong hai thập niên cuối của thế kỷ này. Mặc dù không ồ ạt nhưng tác động tích cực và thầm lặng của nó vào con đường đi tới của PGVN chắc chắn sẽ được thấy rơ về lâu về dài sau này.

       

  1. Cũng là những yếu tố tích cực góp phần vào triển vọng của PGVN là những thành tựu trong một chừng mực nhất định của hai tổ chức Giáo Hội hiện nay ở Việt Nam.

       Không kể đến những thành tựu trước năm 1975, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (GHPGVNTN), trong mấy năm lại đây, đứng trên vị trí cố hữu của ḿnh, đă lên tiếng cho những khát vọng của dân tộc và của chính Phật Giáo. Đặt trong vị trí của một tổ chức tôn giáo lớn mà lại không thể công khai hoạt động và trong liên hệ với cảnh ngộ chung của dân tộc, sự lên tiếng của GHPGVNTN phải được xem là can đảm và cần thiết. Can đảm bởi v́ sự lên tiếng đó đă phải trả giá bằng giá của nhiều hy sinh, ngay cả hy sinh thân mạng. Và đó là một trong những cách thế biểu lộ tinh thần xứng đáng được ngưỡng mộ của người Phật Tử Việt. Cần thiết v́ nhu cầu chuyển hóa đất nước đ̣i hỏi phải có những tiếng nói khác với tiếng nói của người cầm quyền, những tiếng nói xuất phát từ người dân bị áp bức bất công và nói là nói cho những khát vọng của họ. Cũng cần thiết v́ nó góp phần khẳng định con đường của PGVN khi đối diện với cái khổ của con người – con đường không nằm ở bên này hay bên kia mà vượt qua tất cả mọi thế đối nghịch tương tranh của con người trong những hoàn cảnh lịch sử nhất định. Tiếc thay, tiếng nói của lương tâm đó đă không được nghe một cách nghiêm chỉnh như chính nó. Nhưng dù không được nghe một cách nghiêm chỉnh lúc này th́ âm hưởng của tiếng nói đó cũng sẽ c̣n để góp phần định hướng cho con đường đi tới của PGVN giữa những t́nh thế c̣n nhiều phức tạp sau này.

       Trong khi đó, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam (GHPGVN), trong những giới hạn lịch sử và tính chất của nó, cũng đă có những thành tựu đáng kể. Không nói đến những chùa chiền được tái tạo và xây dựng – không hẳn là do Giáo Hội này, GHPGVN ít nhất đă làm được hai điều có ư nghĩa lớn:

       Một là đă thực hiện được hệ thống các trường Phật Học từ Cơ Bản đến Cao Cấp và từ Nam đến Bắc để đào tạo các thế hệ Tăng sĩ cho ngày mai. Hẳn nhiên c̣n nhiều giới hạn trong việc tổ chức, trong nội dung chương tŕnh và phương pháp giáo dục và v́ vậy, liên hệ đến phẩm chất đào tạo, nhưng sự h́nh thành một hệ thống như vậy với số lượng Tăng ni sinh theo học đông đảo đă là điều có ư nghĩa lớn cho sau này. Nó chứng tỏ tấm ḷng thiết tha với tương lai của PGVN của những nhà lănh đạo Giáo Hội này; và chắc chắn thành quả đào tạo của nó sẽ góp phần quyết định cho tương lai của PGVN như tấm ḷng hoài băo của những người đă ra công thực hiện.

       Hai là Giáo Hội này đă tổ chức và thực hiện được bước đầu, Đại Tạng Kinh Việt Nam. Đây là một nỗ lực không chỉ tùy thuộc vào tài chánh mà c̣n vào khả năng trí tuệ trên nhiều lănh vực nghiên cứu, dịch thuật mà nếu không tập hợp được các khả năng này th́ không dễ làm ǵ được. Trong khi Phật Giáo ở các nước Trung Hoa, Nhật Bản, Tây Tạng, Đại Hàn và phần lớn các nước trong truyền thống Nam truyền đă có Đại Tạng từ lâu; và ngay cả Âu Mỹ mà lịch sử du nhập và phát triển Phật Giáo đang c̣n mới mẻ nhưng công tŕnh dịch thuật, nghiên cứu kinh điển Phật Giáo đă hết sức đồ sộ th́ gia tài của PGVN, trên lănh vực này, thực là ít ỏi. Cho nên, việc thực hiện Đại Tạng Kinh Việt nam là một đóng góp lớn vào sự nghiệp trí tuệ đang c̣n nghèo nàn của PGVN và là một công tŕnh cần thiết cho những thế hệ học Phật ở Việt Nam hôm nay và ngày mai.

       Những yếu tố đáng kể cho nh́n ra triển vọng của PGVN là đó. Nhưng bên cạnh và ngay nơi một số yếu tố đầy triển vọng này, PGVN cũng đang có nhiều nguy cơ hiểm họa.

       

  1. Một đa số quần chúng Việt Nam vẫn c̣n niềm tin Phật nhưng đó là niềm tin có quá nhiều tính chất tiêu cực và có nhiều những tác động tiêu cực ở ngoài vào trong khi không có nhiều những nỗ lực điều hướng và giữ ǵn niềm tin này ở các tổ chức Phật Giáo. Niềm tin Phật đó vốn không đơn thuần mà bị pha trộn với nhiều h́nh thái tín ngưỡng dân gian đầy những mê tín và dị đoan. Tin Phật, tin nhân quả đó nhưng cũng tin vào bói toán, cầu đảo, vào sự thưởng phạt của đủ loại thần, thánh, ma, quỷ; và v́ vậy, Đạo Phật vốn là đạo của Trí Tuệ, đă và đang c̣n bị nh́n bởi một số đông người như là Đạo của mê tín, dị đoan, hủ lậu. Ở miền Bắc – như được ghi nhận bởi nhiều người - niềm tin Phật của quần chúng trỗi dậy mạnh mẽ nhưng đồng thời cũng mạnh mẽ không kém, sự trỗi dậy của nhiều h́nh thức tín ngưỡng dị đoan của nhiều người “làm ăn” ở những h́nh thức tín ngưỡng này. Trong quá khứ, những h́nh thức này có thể đă là cái thành tŕ tín ngưỡng chống đỡ lại sức công phá của những giáo điều, tín điều ngoại nhập vốn cũng mê tín và dị đoan không kém. Nhưng trong tương lai không xa, đất nước đi vào con đường Tây phương hóa, như một điều không thể tránh – ít ra là trên mặt kinh tế - con đường lấy dục vọng làm động cơ thúc đẩy và v́ vậy có sức cám dỗ mănh liệt và kéo theo nó là cả những thành quả của khoa học, kỹ thuật làm thay đổi năo trạng và khuynh hướng sống của con người, một đạo Phật gắn liền với những mê tín, dị đoan chắc ǵ không bị lung lay, nghiêng đổ? Một Đạo Phật mê tín bị lung lay, nghiêng đổ chẳng có ǵ là đáng tiếc – đáng mừng là khác – nhưng nghiêng đổ để rồi, không có một Đạo Phật chánh tín thay vào th́ không chỉ là một nguy cơ suy tàn của Phật Giáo mà c̣n là cả một hiểm họa cho dân tộc trên mặt đạo đức. Một Đạo Phật chánh tín cho quần chúng không có, nguy cơ đó không phải trách nhiệm ở quần chúng mà là ở những người đang giữ ǵn mạng mạch của Phật Giáo ngày nay.

       Cũng trong viễn tượng của một xă hội Việt Nam có nhiều thay đổi và thay đổi với một tốc độ rất nhanh, những hiện tượng tiêu cực trong Phật Giáo hiện nay - đặc biệt là ở cơ cấu tổ chức và ở giới Tăng sĩ trên cả hai mặt phẩm chất đạo đức và khả năng - nếu không sớm điều phục th́ chỉ trở thành đối tượng cho những khai thác không mấy lương thiện của nhiều thế lực khác mà thời nào cũng có, góp phần lay đổ niềm tin Phật của quần chúng và mở lớn cơ nguy suy tàn của PGVN mà thôi.

       Ngay với một thành phần không nhỏ giới trí thức Việt Nam đang t́m về Phật Giáo như t́m về một nền tảng tư tưởng và đạo lư cho đời sống cũng sẽ không làm ǵ được nếu như Phật Giáo không có được môi trường thích hợp cho những sinh hoạt trí tuệ; và nếu như giới này chỉ thấy được cái hay của Đạo Phật trong kinh sách và trong quá khứ mà không thấy được cái hay của Đạo Phật trong hiện thực đời sống và xă hội trước mặt. Chánh Pháp, cuối cùng, may lắm th́ chỉ c̣n với một số cá nhân mà không thể trở nên ngọn đuốc hướng đạo cho đời sống tinh thần của ngay cả quần chúng Phật tử, nói ǵ đến xă hội.

       

  1. Nguy cơ suy tàn trên đây vốn liên hệ tới vai tṛ của các tổ chức Phật Giáo và phẩm chất của người Tu sĩ Phật Giáo.

       Tổ chức Phật Giáo trong mấy mươi năm nay cứ như một tấm thân ốm yếu bệnh hoạn lại cứ phải đắm trong một bầu không khí ô nhiễm. Ốm yếu, bệnh hoạn v́ như chưa bao giờ Phật Giáo Việt Nam có được những chuẩn bị đầy đủ cả về lư thuyết lẫn thực tế cho một tổ chức Giáo Hội vừa muốn giữ lại tinh thần của Tổ chức Tăng đoàn thời nguyên thủy; vừa muốn có đủ giáo quyền để đảm nhiệm tất cả các mặt thế trị phức tạp như các tổ chức tôn giáo ở Tây Phương. Rơ ràng đây là một ư hướng nhằm giải đáp những yêu cầu đặt ra cho một tổ chức tôn giáo trong xă hội hiện nay; và ở trường hợp của PGVN, c̣n là cái yêu cầu bức thiết của hoàn cảnh lịch sử lâu đời không cho phép PGVN thu ḿnh lại trong bốn bức tường của Thiền môn. Nhưng rơ ràng, hai ư muốn đó chứa đựng một nghịch lư đă không được trả lời thỏa đáng trên thực tế. Và v́ vậy mà, Tăng đoàn trở nên lỏng lẻo trong đời sống hành tŕ và tổ chức Giáo Hội th́ không đủ sức chủ động được các mặt thế trị phức tạp.

       Tăng đoàn trở nên lỏng lẻo v́ thiếu đi cái xương sống của nó là những truyền thống tu tập - điều mà một tổ chức Giáo Hội – dù cho có đủ giáo quyền đi chăng nữa – không thể đảm nhiệm được. Sự thiếu vắng những truyền thống tu tập, ngoài hai thời công phu và khóa lễ Tịnh độ ở các chùa, viện, đă làm cho đời sống người Tu sĩ thiếu nội lực tâm linh và phẩm chất người Tu sĩ ngày càng yếu kém trên cả hai mặt đạo đức và khả năng. Thiếu nội lực và yếu kém phẩm chất mà lại mang thân vào đời để đảm nhiệm các mặt thế trị phức tạp của một tổ chức Giáo Hội như yêu cầu mong muốn th́ thật khó tránh được cái “họa sát thân”. Cái họa đă rơ, ít ra là từ sau 1963 đến nay. Ngoại trừ một số vị giữ ḿnh nghiêm mật, c̣n một số lớn khác đă không tránh được cái “bả lợi danh” của thế tục. Hỡi ôi! Đức Phật như một gương mẫu vẹn toàn đă vức bỏ tất cả để thành tựu được tất cả mà ngày nay, một số Tu sĩ hành đạo lại chỉ muốn ôm giữ tất cả để phải mất tất cả th́ làm sao mà Phật Giáo thoát cảnh suy tàn! Một giáo lư cao đẹp chứa đầy tinh thần Từ Bi, Trí Tuệ, Vị Tha, Vô Ngă… mà ngày nay, một số người con Phật càng sống, càng hành đạo th́ bản ngă như lại càng to, càng lớn, càng thích loạn ngôn và múa may trên sân khấu đời. Nguy cơ khó tránh được là vậy.

       Các tổ chức Giáo Hội, cũng v́ vậy mà không chủ động được các mặt thế trị phức tạp. Trái lại, chính các mặt thế trị này lại lôi cuốn các tổ chức Giáo Hội vào trong vũng lầy của nó để có muốn dứt ra cũng không được. Hậu quả là, các hoạt động của Phật Giáo trên các mặt thế trị bị rơi vào trong những cực đoan bên này, bên kia trong cái thế đối nghịch của hoàn cảnh lịch sử và xă hội; để cuối cùng, nhiều khi không tránh được cái thảm cảnh “gà nhà bôi mặt đá nhau”. Con đường của Phật Giáo vốn là Trung Đạo, là con đường vượt trên và vượt qua các cực đoan đối nghịch trong tư tưởng và hành động và chỉ như vậy mới hiện thực được mục đích của nó giải thoát con người khỏi mọi sự ràng buộc đau khổ. Th́ ở đây, các tổ chức Giáo Hội lại cứ bị du vào cái thế “mua dây buộc ḿnh”. Đối nghịch giữa tổ chức này với tổ chức khác là điều khó tránh dù cùng là Phật Giáo với nhau. Càng khó tránh hơn là cái hiện tượng đối nghịch xung khắc ngay trong cùng một tổ chức Phật Giáo. Bởi v́, ở đây – như mọi tổ chức thế tục của con người – các mâu thuẫn về quan niệm, khuynh hướng, sở thích và tánh khí của cá nhân không lúc nào mà không phát sanh; và khi không có ǵ chế ngự được nó th́ mâu thuẫn trở thành xung khắc đối nghịch. Đường lối chính sách của tổ chức Phật Giáo, nếu có, cuối cùng chỉ có trên lư thuyết, c̣n trong thực tế th́ hoàn toàn tùy thuộc vào khuynh hướng, sở thích, cảm tính của các cá nhân lănh đạo, điều hành và theo sự tác động, ảnh hưởng, chi phối ở bên ngoài vốn đă đầy những trang chấp, đối nghịch. “Dở hay âu cũng tính trời, biết sao!” Đó là căn bệnh trầm kha của các tổ chức Phật Giáo. Ba cửa thanh tịnh của nhà Phật, Không, Vô Tướng, Vô Tác như chỉ c̣n trên trang kinh để thay vào đó, ba cửa Hữu (Tham), Tướng (Sân), Tác (Si) mở rộng để cho ngôi nhà Phật Giáo tràn ngập các mùi vị của thế tục; và sinh lực của nó bị cuốn trôi vào những hoạt động thế tục. Mối nguy thực đă quá rơ. Càng nguy hơn khi nó phải đắm ḿnh trong một bầu không khí ô nhiễm của ḷng người ly tán v́ sự ngăn cách của đủ thứ cảnh ngộ và chướng ngại; của hoàn cảnh chính trị, xă hội nhiễu nhương và của bao nhiêu thế lực chỉ muốn lợi dụng và biến Phật Giáo thành con cờ của họ.

       

  1. Một mối nguy khác có tính cách lịch sử giai đoạn nhưng lại ở trên một quy mô lớn, ảnh hưởng toàn diện lên các sinh hoạt của PGVN hiện nay là sự hiện diện song hành của hai tổ chức Giáo Hội ở Việt Nam: Giáo Hội PGVN Thống Nhất và Giáo Hội PGVN. Mặc dầu cả hai Giáo Hội đều có những đóng góp có ư nghĩa như đă nói; *và mặc dầu, đứng ở những vị trí khác nhau, người ta có thể có những cái nh́n khác nhau về mỗi Giáo Hội; nhưng, ngay cả sự hiện diện song hành của hai Giáo Hội vốn đă tiềm ẩn những cơ nguy khó lường.

       Không như mối liên hệ kiểu “ai tu phận nấy” giữa các tổ chức Tông phái với những truyền thống, pháp môn tu tập khác nhau - điều mà PGVN có nhưng đang thiếu, đang cần. Cũng không như mối liên hệ thân hữu dễ dàng được thiết lập giữa các tổ chức Giáo Hội tập hợp các thành phần khác nhau và sinh hoạt trong những môi trường, khu vực khác nhau của cùng một tôn giáo - điều mà PGVN có nhưng đang thiếu, đang cần. Cũng không như mối liên hệ thân hữu dễ dàng được thiết lập giữa các tổ chức Giáo Hội tập hợp thành các thành phần khác nhau và sinh hoạt trong những môi trường, khu vực khác nhau của cùng một tôn giáo - điều mà PGVN cũng đă từng có và không bao giờ phải trở thành vấn đề. Mối liên hệ giữa GHPGVN và GHPGVN TN có nhiều yếu tố phức tạp, tế nhị lại chịu sự tác động nặng nề của tâm cảm và hoàn cảnh chính trị không mấy “xuôi chèo mát mái” của đất nước; và v́ vậy mà trở thành vấn đề. Một bộ phận lớn của GHPGVN là GHPGVNTN. Nhưng không v́ vậy mà ta có thể nói, đây là hai Giáo Hội anh em dù giữa hai Giáo hội có nhiều thầy tṛ, anh em với nhau. Một Giáo Hội th́ ép ḿnh theo thời thế để duy tŕ mối đạo; và v́ vậy làm được nhiều việc nhưng cũng chịu nhiều nỗi đắng cay. Một Giáo Hội th́ không chịu ép ḿnh theo thời thế để nói tiếng nói cho những bất công, áp bức nên không làm được ǵ nhiều nhưng khẳng định được tinh thần có tính cách truyền thống của người Phật tử Việt Nam. Hai Giáo Hội biểu lộ hai thái độ phản ứng có tính cách nghịch hướng trước thời thế; và cả hai thái độ đều có những lư do thích đáng của nó. Việc nhận ra những lư do thích đáng này để bao dung được nhau không phải là điều khó, nếu ta vượt qua được những xúc cảm nhất thời và không để cho những tác động tiêu cực ở bên ngoài chi phối để nh́n ra được Con Đường Lớn của PGVN giữa những nghịch cảnh vốn đă rất đau long. Tiết thay, tác động tiêu cực của các thế lực bên ngoài quá nặng, kích động các mối xúc cảm nhất thời khiến cho việc nh́n nhận nhau, bao dung nhau thành khó. Càng khó hơn khi có một số người - ở cả hai - đứng hẳn vào trong quỹ đạo của các thế lực này để kết án lẫn nhau, tạo nên các màn “chỉ điểm, đấu tố” nhau một cách kỳ cục, khó coi chưa từng có trong lịch sử Phật Giáo. Đó là mối nguy thứ nhất đă được thấy của hiện trạng song hành hai Giáo Hội.

       Giáo Hội nào cũng có thầy. Thầy nào - bất kể chánh hay tà, chân hay ngụy, đấu tố hay bị đấu tố - cũng có một số người theo. Theo để học đạo. Đó là điều quá quư và không có ǵ để nói. Điều đáng nói là, những người theo để lợi dụng hoặc bị lợi dụng hoặc theo v́ cảm tính hay v́ chút liên hệ nào đó. Mối nguy nói đến trên đây sẽ không c̣n giới hạn trong một vài cá nhân liên hệ mà đă và sẽ mở rộng ra trong quần chúng đi theo này. Quần chúng lại là lớp người dễ bị kích động tâm lư - nhất là lúc nào cũng có sẵn người làm công việc kích động này và ở trong bầu khí đầy nghi kỵ, tranh chấp, thù nghịch bởi nhiều cảnh huống phân ly hiện nay. Đến đây th́ không chỉ là t́nh trạng ngăn cách, phân hóa, bất hợp tác giữa các khuynh hướng Phật Giáo mà là sự xung khắc thù nghịch giữa các khối lực quần chúng Phật Tử. Sẽ có nhiều lư lẽ để biện minh cho sự xung khắc, thù nghịch này của mỗi bên - nhất là cái lư lẽ nhị nguyên phi Phật Giáo “chánh-tà, chân-ngụy” đă được nói đến nhiều. Nhưng điều đó có ích ǵ hay chỉ xé nát và chôn vùi Phật Giáo trong bầu khí hận thù ở khắp mọi nơi và di lụy lâu dài cho các thế hệ Tăng ni và Phật tử mai sau. Đó là mối nguy thứ hai mà hiện trạng song hành hai Giáo Hội đă và sẽ chỉ làm cho nó ngày một thêm rộng, thêm sâu.

       Ngay đến đặt sự hiện diện hai Giáo Hội này vào một hoàn cảnh b́nh thường – nghĩa là như tất cả mọi tổ chức trong xă hội, “đường ai nấy đi” để không có nữa, các màn đấu tố và thái độ thù nghịch nhau – điều tốt đẹp nhất mà có người đă nghĩ tới và mong muốn – th́ v́ những liên hệ phức tạp của chúng, sự hiện diện song hành này cũng không thể trở thành b́nh thường. Chỉ những mặc cảm, thành kiến sâu dày đă có không thôi mà lại ở vào t́nh trạng “không thể không gặp nhau” trong đời sống và trên các mặt hoạt động v́ những liên hệ và tánh cách của nó, những va chạm thường xuyên là điều không thể tránh. Cũng là hoạt động từ thiện xă hội cho cùng một đối tượng nạn nhân đó mà gặp nhau không thể “tay bắt mặt mừng”như với một tổ chức tôn giáo khác cũng đă là khó nói, cũng đủ tạo nên những dư luận không mấy tốt đẹp và sự hoang mang dao động trong quần chúng huống ǵ những va chạm khó tránh. Oán tằng hội khổ là vậy. Rồi với những cơ sở hiện nay của Phật Giáo và những cơ sở mà bên này, bên kia đang đ̣i hỏi trả lại cho Phật Giáo, việc xác định chủ quyền của nó thuộc Giáo Hội này, Giáo Hội kia cũng không phải là điều giản dị; và ai đảm bảo, sẽ không có những tranh chấp làm tổn thương cho Phật Giáo sau này? Đó là mối nguy “tốt nhất” của hiện trạng song hành hai Giáo Hội.

TRƯỚC NGƯỠNG CỬA THẾ KỶ 21

       Đất nước Việt Nam đang thay đổi. PGVN cũng không thể ở măi trong t́nh trạng như hiện nay. Nhưng thay đổi như thế nào?

       Phật Giáo là một tôn giáo không có giáo điều nên là tôn giáo có khả năng thích ứng nhất với mọi đổi thay của hoàn cảnh; lại là một tôn giáo, tự bản chất, không trụ vào bất cứ pháp tướng nào. Ngay cả Pháp tướng Niết Bàn mà cũng không th́ huống ǵ các pháp tướng lịch sử và thời đại mà bản chất của nó chỉ là vô thường, vô ngă, chỉ là không.

       Trên b́nh diện tuyệt đối, “Chánh pháp cũng phải xả hà huống là phi pháp”. Âm vang của lời kinh đủ cho người có chí nguyện tu học và phụng sự Phật Pháp b́nh thản đi giữa mọi cơ nguy và đau khổ mà sống trọn chí nguyện của ḿnh. Nhưng trên b́nh diện tục đế của đời sống nhân văn và xă hội và với tất cả những liên hệ duyên khởi, người hoài tâm cho Đạo không thể không nh́n vào những triển vọng và cơ nguy của Đạo trong khi thực hiện chí nguyện của ḿnh. Nh́n vào để thấy, để biết. Biết đường mà đi. Biết cửa mà vào. Biết nguy cho Đạo để tránh. Biết an cho Đạo để làm. Biết tất cả đó là Pháp sinh diệt vô thường để không vướng mắc, kẹt dính vào đâu. Lại biết tất cả đó đều là nơi để thành tựu tất cả công hạnh tu tập để không hề chán nản, để trải ḷng, trải thân ra mà trọn nên chí nguyện cho Đạo, cho Đời. Đó là những ǵ mà các bậc Thầy Tổ xưa đă từng nêu gương để mở ra Con Đường Lớn của PGVN.

Con Đường Lớn của PGVN là ǵ?

       Đó là con đường không trụ, không bám vào bất cứ cực đoan đối nghịch nào trong mọi hoàn cảnh, mọi nơi, mọi thời. Mạng sống của con người và của lịch sử đă phải bị kềm hăm giữa hai bờ của những cực đoan đối nghịch ngay từ thưở bắt đầu của nó; và v́ thế, đă không một ngày nào trên mặt đất mà không có chiến tranh, thù hận. Con đường của Phật Giáo là con đường giải thoát - giải thoát con người khỏi mọi ngục tù của những thành kiến, tà kiến, thiên kiến, biên kiến, ngục tù của những quan niệm, ư hệ cực đoan, những động lực mù quáng đă gieo rắc chiến tranh, hận thù ở khắp nơi. Ư thức về tất cả những tai họa đă có, đang có và sẽ có cho dân, cho nước, cho đạo, PGVN không thể để ḿnh bị kẹt dính vào đâu trong những cực đoan đối nghịch mới có thể hiện thực được con đường giải thoát này.

       Đó là con đường không trụ, không bám vào bất cứ một pháp tướng lịch sử và thời đại nào. Mọi pháp tướng đều là không tướng, đều là giả hợp, vô thường, tạm bợ. Những pháp tướng lịch sử và thời đại của PGVN hiện nay đều là những phương tiện để hành đạo, để thực hiện công hạnh độ sanh của người con Phật Việt Nam chứ không thể và không nên là cửa ngỏ cho những lợi danh có tính cách thế tục là đầu mối cho những tranh chấp, tạo thành các cơ nguy cho Đạo. Mặc dù các pháp tướng đều cần thiết và có vai tṛ của nó – và v́ vậy, cần được quan tâm, giữ ǵn, xây dựng sao cho phù hợp với tinh thần Phật Giáo, với truyền thống và với nhu cầu của hoàn cảnh, thời đại – nhưng điều thiết yếu không phải là ôm giữ những pháp tướng này mà làm ǵ, làm thế nào để - bằng vào những pháp tướng đó - hiện thực được Đạo Phật trong đời sống của con người và xă hội cho hôm nay và mai sau.

       Đó là con đường của sự sống - sự sống cụ thể của con người trong những điều kiện tâm sinh lư và môi trường thiên nhiên xă hội, chính trị, văn hóa, kinh tế… của nó. Một Đạo Phật thực sự, v́ vậy, không thể không đối diện với những vấn đề của con người - những vấn đề căn bản của hiện sinh cũng như những vấn đề mà hoàn cảnh và thời đại đặt ra cho nó. Đối diện để cung ứng những phương pháp trị liệu và chuyển hóa chứ không phải để tạo thêm vấn đề cho con người. Chỉ với những phương pháp trị liệu và chuyển hóa này mà sự có mặt của Đạo Phật mới thực sự có ư nghĩa.

       Trong hoàn cảnh của Việt Nam hiện nay, cái cần có để cho Phật Giáo là con đường của sự sống là một Đạo Phật chánh tín cho quần chúng để đối trị với những mê tín đang c̣n đầy dẫy; là một nền giáo dục đặt căn bản ở sự tự giáo dục và việc tái dựng những truyền thống tu tập để đối trị với t́nh trạng sa đọa tâm linh của con người ngày nay – trong đó có cả giới Tu sĩ – đang bị cuốn trôi vào khuynh hướng hưởng thụ và t́m kiếm hư danh; và để có được cho đời, những bậc thầy có chí nguyện và hoài băo, có phẩm cách đạo đức và khả năng làm công việc đối trị và chuyển hóa này. Sau nữa, một sự nghiệp Trí Tuệ của PGVN cần được trân trọng xây dựng bên cạnh những xây dựng khác để cho cuối cùng, PGVN không phải chỉ c̣n lại những đống tro tàn của một thời ngổn ngang mà c̣n đó, một ngọn đuốc sáng cho dân tộc t́m lại được Phẩm Giá và thấy được đường đi về sự Thanh B́nh, An Lạc và Chân Lư sau khi đă đánh đổi quá nhiều đau thương, mất mát.

       Giữa biển trần mờ mịt, đâu chánh, đâu tà, đâu chân, đâu ngụy? Nói bao nhiêu cũng chỉ là nói mộng huống chi là những căi cọ với ngôn từ. Kỳ cùng, có lẽ chỉ có sự sống của con người với những đau khổ và hạnh phúc của nó mới cho được câu trả lời đích thực.

       Phật Giáo Việt Nam trước ngưỡng cửa Thế Kỷ 21. Triển vọng và cơ nguy. Tất cả đều đang có mặt và đang góp phần. Có Con Đường Lớn của PGVN dẫn con người Việt Nam đến trước ngưỡng cửa thế kỷ 21 hay là chỉ c̣n đó những tṛ chơi vẽ vời cảnh thế gian của tâm thức mộng mị trước khi khép lại cánh cửa cửa thế kỷ này? Kỳ cùng, cũng có lẽ, chỉ có người mang cái danh Phật Tử Việt Nam, Tu sĩ hay không là Tu Sĩ, với cái tâm và cuộc sống hiện thể của nó, mới quyết định được cho câu trả lời.

       Đem tấm ḷng thành viết để hiến cúng Đức Phật và dâng đến những tâm hồn đă từng khóc cười với Phật Giáo Việt Nam.

 

 Lư Nguyên Quân

Những ngày cuối năm 1996.

 

TINH TIẾN

PHẬT GIÁO :

SINH LỘ CHO NHÂN LOẠI?

 

       Nhân Loại? Lịch sử thành văn ghi lại nhiều chiến tranh hơn ḥa b́nh, nhiều áp bức hơn tự do, nhiều tranh chấp hơn đối thoại… Có thể nào khác được không khi Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi và Ác Kiến là sáu thuộc tính bản chất nhất của nhân thể, cũng có nghĩa là từ vô thỉ. Nhưng chỉ là vậy thôi sao, khi nhân loại cũng là Phật tính, là Bồ Tát Hạnh, là các tâm sở Dục như khát vọng tới lư tưởng, Thắng Giải như khả năng Chính Tri, Tinh Tiến như nỗ lực tự vượt ḿnh, Định Tuệ như giải pháp toàn năng… Tương quan của hai thiên hướng nội tại này, hai lực đẩy câu sinh này trong thời đại hiện nay và triển vọng trong thế kỷ 21 sẽ ra sao?

       Hăy nh́n thẳng, với mức độ Chân lượng tối đa, vào những ǵ đưa tới hiện trạng của nền Văn Minh Nhân Loại trong những thập niên cuối này, v́ thế có nhiều khả năng và trên nhiều vị thế được kéo dài và khuếch đại cho những năm sau 2000. Muốn viện dẫn cái ǵ đi nữa, muốn huênh hoang kiểu nào đi nữa, dù truyền thống văn hóa, dù giá trị Châu Á, dù minh triết Phương Đông,… thực tế là toàn cầu đang sống dưới dấu ấn của nền Văn Minh Phương Tây hiện h́nh trên các lĩnh vực kinh tế, quân sự, chính trị, văn hóa, … nghĩa là trên các lĩnh vực chủ đạo của hiện thực nhân sinh.

    Vậy th́ ta buộc phải bước nhanh trở xuôi từ…

       Thời Trung Cổ Châu Âu đặc trưng hóa bởi sự bỏ quên con người như một cứu cánh cho các hoạt động của chính họ, sao nhăng con người như một homo sapiens đối trước những thách thức của Tự Nhiên. Cái ǵ mâu thuẫn với Tự Nhiên, cái ấy sớm muộn rồi ra cũng sẽ tiêu vong. Vậy mà Con Người, tạm nói Tham, Nghi; tạm nói Sân, Ác Kiến; tạm nói Si, Mạn như những tiềm phục câu sinh của Chủ Nghĩa Cá Nhân, của lối sống thực dụng, của bạo lực cách mạng. Cho nên thời Phục Hưng, rồi thế kỷ Ánh Sáng, từng bước, qua đấu tranh bằng lư luận và qua lư luận bằng đấu tranh, đă phục hồi và đăng quang cái tư cách Cứu Cánh cái tính năng Lư Trí của Con Người. Trong giai đoạn vinh quang của sự Tiến Hóa chói lọi này, Pascal, Berkeley đă dịch sao lại Lock, Descartes được hỗ trợ cực kỳ hữu hiệu bởi Newton, Darwin. Vả chăng, trên hiện thực lịch sử, đường hướng duy lư và thực dụng, tinh thần nhân bản và duy vật, đă tự biện minh hùng hồn biết bao, qua biết bao những kỳ tích tiến hóa huy hoàng từ trên 300 năm nay trên các lĩnh vực cá nhân và cộng đồng, quốc gia và quốc tế. Làm sao khoa học tự nhiên có thể lớn mạnh đủ để giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác cho Phúc Lợi của Con Người, hay cũng vậy, cho Ngũ Dục: Sắc, Tài, Danh, Thực, Thụy? Làm sao khoa học nhân văn lại có thể trưởng thành đủ để phát triển sâu rộng Dân Chủ, Tự Do, B́nh Đẳng trong nội bộ quốc gia như những giải pháp cho cuộc xung đột giữa các tâm sở Phẫn, Hận, Năo, Tật… và Giải Đăi, Phóng Dật, Thất Niệm, Bất Tín… nếu Con Người như một thực thể hiện sinh lại bốc hơi trong tư thế bao trùm của một Đấng Toàn Năng được đại diện bởi một thế lực xă hội có, ở đâu cũng vậy, và thời nào cũng thế, có tính Phàm nhiều hơn tính Thánh; nếu Con Người như một hữu thể nhận thức lại bị hóa giải trong ánh hào quang rực sáng của một Đấng Toàn Tri phát biểu qua một thẩm quyền phán quyết bất khả kháng?

       Không thể chối bỏ được rằng trong hơn 300 năm qua, trên b́nh diện hiện sinh, nhân loại đă chế ngự được nhiều tai ương mà trước đó được xem là vô phương khắc phục như đói rét, bệnh tật,…; trên b́nh diện nhận thức, đă vén mở được bức màn che phủ các thế giới vi mô và siêu vĩ mô mà trước đó được xem là nằm ngoài cảnh giới của sáu Liễu Biệt Thức: Nhăn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt, Thân, Ư, tức là ngoài toàn bộ (?) khả năng tri giác và trí tuệ của Con Người. Nhiên liệu vận hành các tiến bộ văn minh này được khai thác trong các kho thiên hướng ngũ dục và lư trí hướng ngoại; và khai thác ngày càng triệt để…

Trên lư thuyết,

       Ngũ Dục, đó là phương diện tác dụng của cấu tạo nhân thể “ngô hữu thân” định h́nh hóa trong khuôn đúc của Cộng Nghiệp và Biệt Nghiệp, hay nói một cách thô thiển theo khoa học, của thể chế xă hội và ADN. Lư trí hướng ngoại, đó là một phương thức phản xạ trí tuệ hay pháp chấp câu sinh và hậu đắc tạo dựng bởi Ư Thức hay Thức Thứ Sáu thao tác trên thông tin, tư liệu của tiền ngũ thức và dựa vào sự đạo diễn của Mạc-na (Manas) hay Thức Thứ Bảy. Ngũ Dục không tự ấn định cho nó một ranh giới cuối cùng và con người hiện đại say sưa buông thả vô hạn độ trong đại dương cực phân biệt của xă hội tiêu thụ. Lư trí hướng ngoại ngày một Mạn và Kiêu trước những thành tích chói lọi thu hoạch trên con đường Làm Chủ Tự Nhiên của nó, từ đó sự tương xung tương khắc ngày càng ác liệt giữa Con Người và, hay cái tưởng đâu là Trí Tuệ Nhân Loại và bên đối tác, Tự Nhiên khách quan.

       Ngũ Dục nơi mỗi cá nhân, mà nhiều khi được xếp vào hạng mục Nhân Quyền; Ngũ Dục nơi mỗi cộng đồng, mà nhiều khi được xếp vào hạng mục Tự Quyết, không dễ ǵ t́m ra cách thỏa măn, ngoài con đường xung đột vũ trang và chưa vũ trang, đừng nói vội sự thỏa măn nọ tất yếu đẻ ra truy cầu kia, và cứ thế, cứ thế cho đến một ngày “đẹp trời” Ngũ Dục của tất cả được hóa giải trong chiếc “nấm” Ngũ Dục mà một nhóm điên khùng dựng lên dưới chiêu bài văn minh, tôn giáo, chính nghĩa, chủ quyền… Ngũ Dục được vuốt ve, chiều chuộng ngày một âu yếm hơn, mặc nhiên tự đồng nhất hoá với Văn Minh, dưới sức nặng thuyết phục cực lớn đến nỗi dường như không c̣n cách nào cho phương châm thiểu dục của Lăo Tử, diệt dục của Đức Thích Ca có cơ may cất lên được tiếng nói, dù chỉ thều thào.

       Lư Trí hướng ngoại, bên cạnh kỳ tích thượng tri thiên văn, hạ tri địa lư, trung tri nhân sự, bằng những thành tựu ngoại thân hóa của nó, tức là những computer trí tuệ, đang ngày càng được tôn vinh như một quyền năng không bị hạn cục trong bất kỳ một khuôn viên nào từ sự truy t́m Chân Lư. Đồng thời, mỉa mai thay, và cũng đáng đời thay, đang tự ngày càng xói ṃn bản thân nó: cần ǵ nữa sự rèn luyện trí năng một khi robot có thể làm thay và làm tốt hơn.

Và trên thực địa,

       Các thành viên của nhóm G7, mục tiêu lư tưởng cho phần c̣n lại của nhân loại, không phải là thiên đường cho các chủ thể cấu thành: tội ác, bạo lực, ma túy, Sida, gia đ́nh phân ră, đức tin tiêu vong, đạo đức tàn lụi, lư tưởng thiếu vắng… Kể ǵ đến phần c̣n lại, ở đây, nếu không muốn nói, c̣n tệ hơn.

       Làm sao khác được nếu Con Người chỉ chuyên chú vào Ngũ Dục như lư do tồn tại của nó, các Ngũ Dục hoặc không được thỏa măn và không bao giờ được thỏa măn đầy đủ, hoặc chính nó thị hiện qua các hiện tượng. Tội ác ư? Đó là Tài; Sida ư? Đó là Sắc; Ma túy ư? Đó là Thụy; Bạo lực ư? Đó là Danh; Trọng bệnh ư? Đó là Thực. Hoặc lẫn lộn, và lẫn lộn trong gia đ́nh, đức tin, đạo đức, lư tưởng.

       Nói riêng Bạo Lực. Phải chăng bạo lực chỉ giới hạn trong một chiếc ô tô đầy ắp chất nổ quy ước TNT đủ làm sập cả một cao ốc ở Oklahoma City, Colombo… trong những tràng tiểu liên hoặc tiếng nổ của một quả lựu đạn trên một đường phố ở Alger, Cairo,… hay v́ nhân loại đang tiến cực nhanh trên con đường công nghệ dân sự cung cấp trở lại cho công nghệ quân sự, vật liệu làm bom nguyên tử cỡ nhỏ, như kết quả của xu hướng phi hàng loạt hóa (demassification) sản xuất, có thể t́m mua ngay… ở đầu phố, theo đúng thông báo của Builden, chuyên gia về vũ khí hạt nhân: “nếu không phải trong đời tôi, th́ có thể trong một tương lai gần, vũ khí hạt nhân sẽ được phổ biến đến tận tay cá nhân, có thể các cá nhân sẽ chế tạo được vũ khí hạt nhân bằng nguyên liệu đang lưu hành trên thị trường thương mại”, và nhân loại văn minh đương đại thiếu ǵ Trọc Đầu, Báo Đen, Hổ Tamil…

       Ngũ Dục, dưới tấm khăn phủ hữu phú loè loẹt màu chính nghĩa là phát triển sản xuất, nâng cao đời sống, phú cường tổ quốc, thị hiện trên đường hướng không ai dám phản bác để chuốc lấy danh vị phản bội, ít nữa mất gốc, và từ đó, và đồng thời cùng với cái bóng của nó, sự hủy diệt cân bằng sinh thái, sự ô nhiễm môi trường sống c̣n, sự phá vỡ thượng tầng ozon, sự thù địch trong quan hệ xă hội, sự vị kỷ trong nếp nghĩ và ứng xử… Con Người của Ngũ Dục, của xă hội tiêu thụ, của phát triển kinh tế,… có thể nào hợp lư hóa Ư Thức của họ về những hiểm họa đang đè nặng lên một Trái Đất đang lâm nguy và đang hẹp dần bằng những lời kêu gọi vu vơ, hàm hồ, lỗi thời của Thanh Tâm, của Quả Dục, của Ngũ Giới, của Thập Hạnh Balamật. Lư Trí… Hữu Phú sao được! Một khi nhờ tính năng này Con Người vượt lên đứng đầu muôn loài và có tham vọng tranh ngôi bá chủ với Thượng Đế.

       Hăy tạm xét thành tích của Lư Trí hay Trí Tuệ Hướng Ngoại trên ba b́nh diện:

       Tính chất Chính Trị của hai phần trên có tính ngàn đời, nhưng ít nữa về lâu về dài, không thể có sắc thái biệt lập với cái sắc thái nhân học đang chịu những biến động cực lớn có nguy cơ làm thay đổi cả cấu trúc sinh hóa của nhân thể.

     

       Nếu sang thế kỷ 21 Nhân Loại có thể không phạm phải cái ngu xuẩn lớn nhất là cuộc xung đột hạt nhân giữa các quốc gia - một điều cho tới nay không mấy chắc chắn, v́ trên đống gạch vữa của Bức Tường Berlin, đă rất nhanh hiện rơ tham vọng bá quyền của… , chúng tôi rất tán thưởng quan điểm của ẩn sĩ Hammoud về sự sổ lồng của các âm hồn tà giáo – th́ một hiểm họa mới, ngay bây giờ đây, đă thế chỗ rồi: nó c̣n trầm trọng hơn cái mà Huntington đă giả định, sự đụng độ giữa các nền văn minh, nó… chúng tôi muốn nói tới hiểm họa về một nhân loại vô chính phủ, về cái mà Vivekananda đă gọi là thể hỗn hống (amalgame) và giờ đây trở thành cực bác tạp, cực ô trọc hay PHÂN BIỆT. T́nh h́nh là như vậy đó khi ta nghĩ đến các nhóm sắc tộc Kurd, Tchéchène, Tamil, Serbe, Croate, Bosnia… kể cả những h́nh thức mới trong những nước văn minh của Lữ Đoàn Đỏ Ư, “Con Đường Sáng” Perou, khi ta nghĩ đến những tai họa khủng bố đă xảy ra rồi trên bầu trời, dưới mặt biển và sẽ dứt khoát xảy ra cả trên siêu xa lộ thông tin mà dấu hiệu báo trước là những đàn virus điện tử đang đe dọa nhiều cơ quan Nhà Nước, tổ chức tư nhân; khi ta nghĩ đến những stress mà từ đó cuộc sống vũ băo hiện đại sẽ làm nảy sinh những anh điên, chị khùng, có trong tay không chỉ hơi độc sarin (theo Seaquist, chiến lược gia ở Bộ Quốc Pḥng Mỹ: “một xí nghiệp hóa dược cũng có khả năng chế tạo vũ khí sinh học”), và rồi đây cả những trái ḿn siêu nhỏ tự tái sinh và v.v…. Cho nên…, nhưng c̣n quá hẹp ḥi và lạc quan, Warren Christopher cảnh cáo: “Nếu chúng ta không t́m ra được biện pháp nào đó để các nhóm sắc tộc khác nhau có thể chung sống trong một đất nước… th́ chúng ta sẽ có 5000 quốc gia, so với trên 100 như chúng ta hiện có”. Biện pháp nào? Hơn nữa rơ ràng Ngoại Trưởng Mỹ mới chỉ xem xét mặt chính trị của vấn đề. Bao quát hơn, trong cuộc gặp mặt giữa các cựu nguyên thủ quốc gia ở Colorado Springs, tháng 10-1995, cố Tổng Thống Pháp F. Mitterand nhận định: “Điều tuyệt đối cần cấp là năm 2000 phải định ra được các quyền của những nhóm thiểu số… Nếu không chúng ta sẽ chứng kiến sự tan ră và phân hủy rộng lớn, mà không ai c̣n đứng ngoài được nữa”.

       Và quan trọng hơn, cấp bách hơn và trực tiếp liên quan tới cuộc hội thảo này, khi ta nghĩ đến những giáo phái Davidiens, Hamas, “Đền Thờ Mặt Trời”, Aum Shinrikyo… đang mọc lên như nấm khắp mọi hang cùng ngơ hẻm. Giáo phái… Tôn Giáo… Tại sao vậy và ư nghĩa ǵ?

       **

       Nói đến Tôn Giáo…, trước hết và một cách phổ biến, đó là niềm tin vào sự hiện hữu của Đấng Thượng Đế được quan niệm qua h́nh tượng và tính cách con người lư tưởng hóa cực điểm. Đấng Thượng Đế, với tư cách ấy, “buộc” phải sáng tạo ra toàn bộ cái vũ trụ hiện thực này, và “buộc” phải có quyền lực tuyệt đối lên bất kỳ cái ǵ nằm trong vũ trụ ấy. Đồng thời, về sự hiện hữu của Linh Hồn như một sở thuộc của mỗi cá nhân, đặc trưng hóa cá nhân ấy và tồn tại vĩnh hằng.

       Niềm tin này được tŕnh bày lại và chi tiết hóa cho các mặt tâm linh và thế tục trong một hệ thống giáo điều nối tiếp nhau ít nhiều logic, bởi những tổ chức xă hội, một số rất nhanh chóng trở thành những thế lực xă hội hùng mạnh mà các tâm sở tham, mạn, sân, tật, san, phẫn, biên kiến, kiến thủ… nổi trội hơn nhiều lần các tâm sở tàm, quư, tinh tiến, vô tham, vô sân, bất hại, hành xả… mặc dù họ vẫn luôn luôn nhắc nhở, đ̣i hỏi các tín đồ phải tŕ giới nghiêm khắc, mà giới th́ ở tôn giáo nào cũng vậy, đều ít nhiều đồng nghĩa với các tâm sở thiện, cũng là các biện pháp pḥng ngừa, khống chế Ngũ Dục.

       Là đồng minh rất gần gũi, có thể gọi là nguồn dự trữ chiến lược của tôn giáo, mặc dù vẫn thường xuyên bị tôn giáo chối bỏ, hất hủi một cách hết sực khinh bỉ và Cực Kỳ Phi lư (!), mê tín dị đoan cũng tự định nghĩa trên niềm tin và sự hiện hữu của các sức mạnh siêu tự nhiên, những hữu thể siêu tự nhiên theo nghĩa không thể, về phía con người, tùy ư tri giác trực tiếp bằng các giác quan hoặc những công cụ khuếch đại, nhưng lại có thể gây nên những tác động vào sự sống c̣n của mỗi người thông qua những thủ pháp mà tŕnh tự nhân quả không nằm trong tri thức duy lư khoa học. Niềm tin loại này rất phổ biến trong nhân loại tuy có nồng độ rất khác nhau và không được “chủ thuyết hóa” bởi một lực xă hội nào và nhất là thường không bày tỏ một quan điểm cụ thể về một Thượng Đế “có tên họ”, h́nh như bởi v́ đó là tàn dư của giai đoạn vật linh luận và phiếm thần luận.

       Sự đăng quang của Lư Trí Hướng Ngoại lên ngôi thống trị Trí Tuệ đă thực hiện được trong 300 năm qua những kỳ tích chói lọi của Khoa Học và Kỹ Thuật, đă xây dựng được những xă hội công dân dân chủ và tự do, những phẩm chất xứng đáng nhất của con người với tư cách sinh vật xă hội; cả hai tổng hợp vào nửa sau của thế kỷ 20, trong xă hội tiêu thụ, lúc đầu như một thành công bất khả phản bác của những tư tưởng Ánh Sáng, rồi rất nhanh như những hiểm họa tiềm phục mà chính những tư tưởng ấy phải trả giá.

       Và trước hết, tất cả đều có ư nghĩa, đều có tác dụng đẩy lùi Thượng Đế, và cùng với Ngài, “đẩy lùi các tôn giáo vào bóng tối”. T́nh h́nh là như vậy, và không thể khác được; vài tiếng nói lẻ tẻ từ Pascal đến Einstein, từ Schopenhauer đến Bergson, lại là tiếng nói của Thế Trí Biện Thông (trừ Pascal) không thể vực tôn giáo khỏi sự tàn lụi của nó, bởi v́:

       

       

       Cho nên từ Friedrich Nietzsche (1844-1900) Thượng Đế đă chết, và cách nay vài ba thập kỷ, người ta đă tính chuyện thành lập khoa Thần Học về cái Chết của Thượng Đế. Dĩ nhiên cùng với Ngài, cả tôn giáo vốn lấy Ngài làm lư do tồn tại. Và như vậy tất cả đều quá hợp lư! Có điều… Lư Trí Khoa Học chưa hề bao giờ vét cạn được hiện thực nhân sinh và vũ trụ. Cho nên… và Chứng cớ là…

       Trong vài ba thập kỷ qua, nhân loại đă chứng kiến vụ bội thu của hàng vạn, hàng chục vạn những giáo phái trong các nước đang dẫn đầu nền văn minh hiện đại, tức là văn minh khoa học, duy lư và vật chất chủ nghĩa. Có những giáo phái đă trở thành nguy hiểm cho an toàn và ổn định của cả một quốc gia; có những giáo phái đă tiến lên chiếm vị trí trọng yếu về mặt ảnh hưởng và quyền lực đối với xă hội. Aum Shinrikyo làm nảy sinh vấn đề an ninh không chỉ trong phạm vi một đất nước; và Ikeda, người cầm đầu giáo phái Soka Gakkai được đánh giá là nhân vật có thế lực nhất ở Nhật: tổ chức Cứu Rỗi Toàn Thống đang thách thức sự sống c̣n của Nhà Nước Algérie… Cạnh đó, cả một quốc gia, cả một khu vực nữa, Iran, Iraq, Khối Hồi Giáo, Khối Nho Giáo,…. Đă 10 năm rồi, bản án tử h́nh vẫn lủng lẳng trên đầu người công dân của nước Anh Salmon Rushdie như một cái tát vào mặt nền Văn Minh Đương Đại, Duy Lư và Pháp Trị; và việc trục xuất Talisman Nasrin ra khỏi tổ quốc của bà dù sao cũng phải được xem như dấu hiệu của sự đồng thanh tương ứng. Và tuy phải đạo hơn và ôn ḥa hơn, Lư Quang Diệu hay Mohamed Matin có ư nghĩa ǵ nếu không phải cũng là những manh nha… Cho nên ở nhiều nơi trong thế giới Văn Minh đương đại, người ta, những nhà khoa học hay những người có tư duy khoa học, đang phải xem xét rất nghiêm túc một vấn đề rất khẩn trương: “Sự Phục Thù của Chúa” đang thị hiện vào những năm cuối của thế kỷ này và chắc chắn sẽ được thi hành ác liệt và tàn bạo hơn nhiều.

       Không phải là nhà khoa học, cũng không phải là người có tư duy khoa học, chúng tôi cũng không thấy trong những hiện tượng trên, dấu hiệu cho sự phục thù của Chúa; chỉ thấy ở đó dấu hiệu, dù đôi lúc và đôi nơi, có nhuốm sắc màu ảm đạm, cho khuynh hướng đi về tâm linh của nhân loại. Thực ra, đợi chi cho đến những năm này! Ngay từ đầu thế kỷ 20, Charles Lancelin đă tiên đoán “Khoa Học Huyền Bí sẽ là khoa học của thế kỷ 20”. Và rồi trước khi “thế kỷ 21 là Thế Kỷ Tâm Linh”, George Velgel đă thông báo: “Phi thế tục hóa thế giới là một trong những hiện tượng xă hội nổi bật của thế kỷ 20”.

       Chứng cớ, đó là sự kiện, và thế đă quá đủ. Tuy nhiên chúng ta có thể “bàn chơi” về Tại Sao và Thế Nào vậy.

       - Nếu Khoa Học một mặt cứ khư khư tinh thần quyết định luận của Vật Lư Newton và tinh thần bài trung của logic Aristote mà, hoặc chính v́ thế vẫn, hoặc không v́ thế không, tiếp tục tiến lên đánh đâu thắng đó trên khắp các trận địa của hiện thực nhân sinh th́ quả thực tôn giáo c̣n phải ấp a, ấp úng, găi đầu găi tai tự bào chữa cho quyền sống của nó trước ṭa án của Trí Tuệ Nhân Loại như nó từng làm thế từ thời Phục Hưng đến đầu thế kỷ 20. Song, từ thuyết Tương Đối trở lại nay, người ta không c̣n t́m đâu ra được cái thái độ tự chủ đầy ngạo mạn của Laplace, trái lại, dễ dàng nhận ra ở khắp nơi, hoặc một R. Feynman “Khoa học chẳng cho ta biết cái ǵ hết…, chẳng chứng minh cái ǵ hết”, hoặc một D. Hilbert “Trong Toán học, người ta không biết người ta đang nói cái ǵ và những điều người ta nói có đúng không”, hoặc một A. Zadeh, hoặc một Heisenberg… nhất là Heisenberg: Nguyên Lư Bất Định giáng một đ̣n chí tử vào quyền độc tôn của Khoa Học với tư cách những phán quyết sắt thép và đơn trị. Nói cách khác, chính khoa học thế kỷ 20 đă thu hẹp vương quốc của Tất Yếu bằng sự thừa nhận đế quốc của Ngẫu Nhiên. Cũng là tự thu hẹp quyền lực và oai phong của chính nó và mặc nhiên cho phép mọi khả năng cơ hội hiện thực. Từ đó cái Vô Lư của Tôn Giáo không c̣n là một luận cứ đủ để phản bát quyền tồn tại của Tôn Giáo.

       Lại càng như vậy, cái Vô Lư của Thượng Đế. Ngược lại là đằng khác. Chính Khoa Học đôi lúc không khỏi… “Ôi! Thời oanh liệt.. ôi Feuerbach, ôi Karl Marx…”. Chẳng hạn, gần đây nhất, góp phần vào một bản hợp tấu bắt đầu cũng đă lâu rồi, nhà bác học nổi tiếng thế giới Trịnh Xuân Thuận rất tin vào sự hiện hữu của Thượng Đế chỉ bởi v́, dựa vào tính toán của ông và các đồng nghiệp, vũ trụ này đă được tạo dựng theo một chương tŕnh được thi công chính xác đến từng một phần tỷ tỷ giây. Để đảm bảo được sự chính xác kinh khủng này – kinh khủng đối với ai? một giây mà đă là ngắn à? “Một satna bao gồm toàn bộ thời gian từ vô thỉ đến vô chung” - phải có một Đấng Thượng Đế đứng ra chủ tŕ chứ không thể mặc nhiên giao phó cho Ngẫu Nhiên được. Th́ ra nhà bác học rất tài năng và đạo đức ấy, vốn sợ Ngẫu Nhiên như nước sợ Chân Không, tin rằng Thượng Đế có thực v́ Ngài rất giỏi, giỏi bằng Con Người: chẳng phải cái gọi là chính xác đến một phần tỷ tỷ tỷ ấy chính là sản phẩm của Con Người, thậm chí của một số người nào đó hay sao? Mà những người này th́ quá thật đến nỗi câu hỏi “Tôi là Ai?” trở thành quá lố đối với họ! Thêm nữa chẳng phải chính Trịnh Xuân Thuận đă khẳng định ngay trên b́a cuốn sách: Và Con Người đă tạo ra Vũ Trụ! - Thế kỷ 20 là thế kỷ của thông tin, của giao lưu và kỹ thuật trắc nghiệm. Chính trong t́nh h́nh này mà nhiều hiện tượng mới gần gần đây thôi c̣n bị Khoa Học, và những người theo đuôi nó, đáng chú ư nhất là Tôn Giáo, ném thẳng tay vào sọt rác của mê tín dị đoan mà không cần xem xét thật giả ǵ hết, giờ đây lại được lôi ra, rồi kiểm tra, rồi đo đạc, rồi thí nghiệm, và cuối cùng trong nhiều trường hợp người ta buộc phải rụt rè công nhận “khoa học chưa giải thích được” thay v́ nói thẳng ra và ít ngu xuẩn hơn “nằm ngoài logic khoa học.”

       Từ đó, người bạn đồng minh trung thành, tuy thường bị rẻ rúng, của tôn giáo, dần dần ngẩng cao đầu, nói năng đàng hoàng với thiên hạ, tuy nhiều lúc, do tự ti lâu năm lại thêm ít học, cứ tự làm ḿnh lố bịch bằng cách vay mượn dăm ba chiếc lá nho khoa học rất rẻ tiền. Cũng có nghĩa là Tôn Giáo giờ đây đă hiểu ra hoặc phải hiểu ra rằng nó không cần quá rụt rè, khúm núm trước Khoa Học nữa mà cần hiên ngang hơn, tự tin hơn, đứng vững hai chân trên mảnh đất của nó.

       

       Chúng ta vừa bàn chơi ba động lực của khuynh hướng về tâm linh nhưng có một sự kiện không phải là nói chơi, đó là Tôn Giáo, bất kỳ tôn giáo nào, không hề tham gia tí nào vào sự h́nh thành bất kỳ một động lực nào trong ba động lực trên, bất kỳ… kể cả Phật Giáo. Mặc dù cả ba động lực ấy đều t́m được đáp án, vượt quá cả nội dung mà con người hiện đại đặt ra cho chúng trong kinh luận của Nhà Phật.

**

       Trong tất cả các tôn giáo, các hệ tư tưởng duy tâm, duy nhất chỉ có Đạo Phật đă làm được điều cực kỳ vĩ đại, đủ vô hiệu hóa mọi thách thức của Trí Tuệ Con Người trong mọi thời đại, trước mắt trong thế kỷ 21, ngay cả với mọi giả định về sự phát triển không thể h́nh dung được của Khoa Học và Kỹ Thuật, ấy là Đạo Phật đă phủ định: Thượng Đế như nguyên nhân đầu tiên của Tồn Tại

Và Linh Hồn như sở thuộc cá nhân, như lư do cho tín ngưỡng và tu tập.

       Mỗi nền Văn Minh đều h́nh dung Thượng Đế trong một mô h́nh riêng, có tính đặc thù về các mặt truyền thống, dân tộc, địa lư, lịch sử, … Thượng Đế Brahma hay Ishvara của người Ấn Độ, Đức Thích Ca tuy có thừa nhận chức năng coi sóc vũ trụ của Ngài, cái vũ trụ trong tri kiến của chúng sinh trong cơi Ta Bà, nhưng Đức Phật không đánh giá Ngài cao lắm, vẫn xếp Ngài vào giỏ Lục Đạo liên tục rỉ chảy vào ṿng Luân Hồi; chính bản thân Thượng Đế này cũng tự phản tỉnh tính hạn chế của ḿnh nên Ngài vẫn thường xuyên đến nghe Đức Phật thuyết pháp. Vậy ai đóng vai Thượng Đế Toàn Năng Toàn Tri bây giờ?

       Mặc dù Đức Thích Ca đă nói trắng ra, không úp mở, ṿng vo, bóng gió: “Thiên thượng, thiên hạ duy Ngă độc tôn” mặc dù cái tài tính toán chính xác và sắp xếp chi li trong ṿng 10-43 giây sau bức tường Planck chẳng ăn nhằm ǵ so với “Như Lai… cho đến giọt nước ở ngoài hằng sa thế giới, cũng biết số mục, không rời nơi đạo trường mà hiện khắp cả Mười Phương Thế Giới”,

“Thân ta bao trùm mười phương hư không vô tận ;

Trên đầu một mảnh lông hiện ra các cơi nước, ngồi trong một hạt bụi mà chuyển Đại Pháp Luân”

nhưng Đức Phật lại không tự cho ḿnh cái tư cách sáng thế, không phải v́ Người, thái Tử Sidartha, ḍng họ Gautama, con của Quốc Vương Suddhodana, mới sinh ra vào năm… nào có ăn nhằm ǵ với tuổi của vũ trụ ít nhất là 15 tỷ năm; đơn giản chỉ bởi v́…

       Đối trước cái vũ trụ quan sát được này (l’univers observable) – mà theo một giả thuyết thiên văn hiện đại về vũ trụ muôn thể (univers multiples) chỉ là một thứ bọt bèo (bulle) mất tăm trong một cái siêu vũ bọt bèo (bulle méta-univers), cái này đến lượt nó lại mất tăm trong… và cứ thế vô tận - Đức Phật có cái tư cách b́nh đẳng với bất kỳ một chúng sinh nào; nghĩa là một bộ phận? một thành phần? một mô h́nh thu nhỏ của Vũ Trụ. Không, toàn những câu chuyện trẻ con v́ nó vẫn không giải quyết được vấn đề nguyên nhân, vần đề phát sinh. Ấy vậy mà và trái lại, Đức Phật, và cùng với Ngài mỗi người chúng ta, đều có cái Tư Cách SÁNG THẾ: “Núi sông, thế giới, và hư không đều là vật trong CHÂN TÂM hiện ra… Các ông thấy có núi, có sông, có thế giới, có chúng sinh v́ các ông đều Mang Bệnh Nhặm Mắt (tức là Vô Minh ) từ vô thỉ… Toàn thể các chúng sinh trong Mười Phương Thế Giới đều do Vô Minh Vọng Động từ vô thỉ nên cùng Vọng Tưởng có thế giới như thế, có chúng sinh như thế hiện ra”.

       Hăy tạm tưởng tượng con mắt của chúng ta có thể xuyên sâu vào cấu trúc nguyên tử của vạn pháp th́ ta dễ h́nh dung, dễ tiếp cận tính chân lư tuyệt vời của khẳng định cực kỳ phi lư trên (!). Nhưng Đức Phật đâu thèm dừng lại ở mức nguyên tử, hay hạt quarks, hay ǵ ǵ đi nữa: “Cái giới hạn về sắc tướng đến Hạt Lân Hư là cùng tột. Nếu có thể làm phân ră hạt lân hư này một lần nữa th́ sẽ có Hư Không”. Rơ ràng: “Tính của SẮC là CHÂN KHÔNG”.

       Cái Chân Không xuất hiện thay thế cho sự tiêu vong của Lân Hư như lượng tử của vật chất, và ta không khỏi liên tưởng đến thí nghiệm bắn phá hạt cơ bản mới đây nhất làm mất tiêu vật chất trong Trường Chân Không Vật Lư. Mà Vật Chất chính là Không Gian, v́ ngày nay Không Gian không c̣n được quan niệm như cái Chứa trống rỗng mà như tính cách của vật chất: Vật Chất tạo ra Không Gian chứ không phải Không Gian chứa vật chất.

       Thế c̣n Thời Gian th́ sao? Cái thành phần cấu tạo thứ hai của Vũ Trụ? Chẳng phải Đức Phật vẫn nói đến Luân Hồi, đến Nhân Duyên, đến Quả Báo… và tất cả đều tất yếu diễn ra trong thời gian chứ c̣n trong cái ǵ khác nữa: “Ta nói thuyết nhân duyên là đúng về phần sự tướng chỉ các pháp trong thế gian mà nói, chứ không phải chỉ do Lư Tính Tuyệt Đối vậy”.

       Giống như chúng ta đang sống nhởn nhơ trên Trái Đất này với giờ, với phút, với giây, có cái chính xác của vàng ṛng, nhưng nếu ta rời khỏi Trái Đất với tốc độ gần bằng tốc độ tuyệt đối, hoặc lọt vào hố đen, hoặc vọt ra hố trắng… Đại khái các pháp trong thế gian và Lư Tính Tuyệt Đối khác nhau như vậy. Nhưng c̣n Tam Thế Chư Phật? Ông Duy Ma Cật đă đỡ lời Đức Thích Ca: “Do văn tự thế tục ghi chép nên nói có ba đời chứ chẳng phải Bồ Đề (tức là Trí Tuệ Tối Thượng) có Đời Đă Qua, Đời Sẽ Tới và Đời Hiện Nay”.

       Tóm lại, qua ống kính Vơ Phân Biệt của Trí Viên Thành Thực trên Vương Quốc của Chân Đế: “Cả cái Tự Nhiên ấy, cả cái Nhân Duyên ấy đều do CHÂN TÂM vọng động ra cả” Mà Chân Tâm th́ ai chẳng có, ai chẳng là chính Nó: “Cái CHÂN TÂM CỦA ÔNG, sao ông không tự nhận lấy, lại cần ta chỉ CHÂN TÂM cho nữa?”

       Nó có dáng dấp của Linh Hồn mà thoát khỏi cái Vô Lư cực lớn là tính Cá Ngă vĩnh hằng. C̣n Vọng Động? Đă là chuyện ảo, chuyện huyễn, như một giấc mơ, sao c̣n phải quá bận tâm đến Tại Sao hay Thế Nào, như ông Phú Lâu Na: “Chân Tâm bản nhiên thanh tịnh, vân hà hốt nhiên sinh sơn hà, đại địa?”.

       Vậy là? bởi v́ khoa học lư thuyết đang ngày càng, và không thể làm khác được, dấn bước trên con đường hóa giải hai thành tố cơ bản và duy nhất của Tồn Tại là Không Gian và Thời Gian, cho nên, không phải chỉ riêng cho thế kỷ 21 mà cho muôn đời sau này, Đạo Phật đă đem lại câu trả lời không bao giờ có thể vượt quá cho những câu hỏi về bản thể, về vũ trụ. Nhưng Con Người, nhưng chính chúng ta đang sống đây, có những nhu cầu trực tiếp, với những vấn đề cấp bách, trước những hiểm nguy gần kề mà phần trên chúng tôi đă điểm sơ sơ, tất cả c̣n khẩn thiết hơn, hiện thực hơn nhiều lần những vấn đề vũ trụ luận hay bản thể luận. Đạo Phật tuyệt vời thật, nhưng là tuyệt vời trong thế giới siêu việt cái cơi đời tầm thường mà quá thật này. Vậy nó có ích ǵ cho con người tầm thường và quá thực là chúng ta đây không?

       Cái Vĩ Đại thứ hai của Đạo Phật là những đối sách rất thực dụng của nó cho con nguời trên Tục Đế, dựa trên mặt thứ hai, mặt Vọng của CHÂN TÂM: “Tính của KHÔNG là CHÂN SẮC”.

       Nếu chúng ta chưa vượt được trường hấp dẫn của những chủng tử hữu lậu đă huấn tập mà c̣n bị câu thúc bởi cấu tạo sinh lư, bởi phân tử ADN, bởi tri thức đă học hỏi, bởi cảnh quan văn hóa, lịch sử… nghĩa là bởi Kiếp Trược, Kiến Trược, Phiền Năo Trược, Chúng Sinh Trược…Nếu chúng ta vẫn tin rằng ta là cái Có Thật trước nhất, đối trước cái Có Thật khác là Thế Giới và Chúng Sinh thù địch nhiều hơn thân thiện, th́ Đạo Phật c̣n chỉ ra một cái Có Thật không kém, đó là luận Nhân Quả, luật Luân Hồi. Đây là một răn đe, hoặc một động viên cho con người đang hướng thân, khẩu, ư của ḿnh vào con đường Thập Ác hay Thập Thiện. Thiên Đường và Địa Ngục đều có thật hết, với những ai tin rằng có thật cái Ngũ Dục mà họ gắn bó và hành động và suy nghĩ dưới sức đẩy của sáu Căn Bản Phiền Năo hay 21 Thiện Tâm Sở.

       Tất nhiên Tôn Giáo nào cũng đều khuyên người ta làm ta làm điều thiện, tránh điều ác với một phần thưởng Thiên Đường hay một trừng phạt Địa Ngục mà chỉ Thượng Đế mới quyết định, và quyết định một lần là xong hẳn cho mỗi người. Đạo Phật cũng chỉ rơ những ǵ đang chờ đợi con người thiện và ác, những ǵ ấy không do sự áp đặt hay ban phát của ai hết mà chỉ đến với họ từ chính bản thân họ, và đến trên rất nhiều quốc độ - tam thiên Đại thiên thế giới – và đến dưới mười dạng sinh tồn: Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sinh, Atula, Nhân, Thiên, Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, Phật, trong một ṿng tṛn bất tuyệt cho sáu loại đầu. Như vậy, lời dạy của Đức Phật, rất phù hợp với phương hướng suy nghĩ của nhân loại văn minh vừa thừa nhận tính tất yếu, vừa thừa nhận tính tự do: con người không phải chỉ là một con rối trong tay của một cái Nghiệp như một tiền định mà c̣n là quyền tự do lựa chọn hoặc dừng Nghiệp hoặc chuyển Nghiệp.

       Nhưng những hiện tượng này có thật không? Con người hiện đại có nhiều biện pháp trắc nghiệm, và Đức Phật đă chỉ ra một phương thức ngày càng chinh phục được Trí Tuệ Nhân Loại, đó là Tọa Thiền.

       Chúng tôi không đề cập ở đây những lợi ích của Tọa Thiền cho đời sống hiện sinh mà ai cũng đă biết cả, cũng không đề cập tới hiệu lực của Tọa Thiền đối với sự thủ đắc các quyền năng siêu việt quy luật vật lư học mà ta dễ phải công nhận; chúng tôi chỉ muốn lướt nhanh cái tính năng giác ngộ từng phần mà Tọa Thiền đem lại cho hành giả về vấn đề cốt tử của con người, tức là vấn đề “Tôi là Ai”, từ đó Thế Giới này là ǵ, từ đó, sao lại khác được, chí ít một cuộc sống ḥa b́nh, thăng tiến tâm linh trên Trái Đất này, bởi v́ chúng tôi tin tưởng sắt đá rằng qua Tọa Thiền chúng ta sẽ từng bước thể nghiệm được, sinh nghiệm được nhận định bất hủ của ngài Milarepa: “Hai ngụy thuyết căn bản của tư tưởng con người: Tin vào thực tại của những ǵ chỉ thuộc về Hiện Tượng và tin vào sự hiện hữu của Bản Ngă”.

       Chúng tôi nghĩ rằng sự tiến hóa thế tục của Nhân Loại sẽ được đo và chỉ được đo bằng một loại thước, cái thước của Dân Chủ và Tự Do. Những phẩm chất ấy vốn dĩ lại nằm trong Đạo Phật nhiều hơn bất kỳ một hệ tư tưởng nào mà con người đă và sẽ nghĩ ra. Đức Phật, mặc dù tất cả những vinh danh Thế Tôn, Thiên Nhân Sư, Điều Ngự Trượng Phu, Vô Thượng, Chính Biến Giác Tri, … vẫn khẳng định: “Ta là một vị Phật đă thành, các người là những vị Phật sẽ thành”,

thành ở đâu? “Ta thành Phật trong Tâm Chúng Sinh”.

      Khi Ngài c̣n tại thế và đi truyền pháp, Ngài thường dùng “phương tiện” để giáo độ, từ đó ngay cả những lời dạy của Ngài cũng không được Ngài gán cho cái ư nghĩa của giáo huấn tuyệt đối: “Pháp của ta như bè để qua sông. Khi đă qua được sông rồi c̣n dùng bè làm ǵ nữa”. Như vậy Pháp của Phật chỉ có tác dụng của một gợi ư: “Các người hăy tự thắp đuốc lên mà đi, mồi lửa vào Chính Pháp của ta”.

       Tinh thần Dân Chủ và Tự Do của Đạo Phật thực là vô địch, cho nên một người vốn chưa có danh vị Bồ Tát hay A La Hán, hay Thanh Văn, Duyên Giác, thậm chí cũng chẳng có địa vị trong giáo đoàn tăng lữ như các ông A Nan, Ca Diếp, Ưu Ba Ly,… mà vẫn có cái tư cách thuyết pháp cho tứ chúng, cho cả Bồ Tát, cả A La Hán, ngang bằng với Đức Phật, đó là Ngài cư sĩ áo trắng Duy Ma Cật. Mà Ngài lại toàn thuyết những pháp trái ngược với những lời dạy có tính kinh điển của Đức Thế Tôn, tỷ như: “Nếu Bồ Tát thi hành những việc trái đạo, đó là Bồ Tát thông đạt Đạo Phật”. Thông đạt đến mức: “Chẳng ĺa dâm, nô,…; chẳng cắt si, ái…; chẳng thấy Phật, chẳng nghe Pháp; sáu sư ngoại đạo là thầy, kết bạn với chúng ma; chê Phật, khinh Pháp, chẳng nhập chúng Tăng”.

       Chúng tôi không bàn đến ở đây tinh thần tương đối luận của Ngài Duy Ma Cật, chỉ lưu ư rằng trong Tục Đế vốn có tính tương đối, mặc dù vậy Đạo Phật không hề là vương quốc của tùy tiện, hay chủ nghĩa hư vô: “Tuy hành lẽ Không, nhưng trồng các cội lành, tuy hành lẽ Vô Tướng nhưng độ các chúng sinh, tuy hành lẽ Vô Tác nhưng thị hiện thụ lấy thân sống, tuy hành lẽ Vô Khởi nhưng khởi tất cả các nết lành”.

       Với loại sơ cơ, lưỡi gươm luân hồi nhân quả lúc nào cũng lủng lẳng trên đầu họ như một răn đe; với loại lợi căn, Tọa Thiền có tác dụng của ánh sáng soi rọi phương tiện thiện xảo. Có lẽ v́ chưa thấy rơ hiệu năng tuyệt đối của Tọa Thiền như phương pháp tu luyện cơ sở trên nguyên lư bao quát “Tam Giới Duy Tâm, Vạn Pháp Duy Thức” và phương pháp truyền đạo theo tinh thần “phương tiện” cho từng đối tượng và tŕnh độ, cho nên một con người (hết sức đáng kính) như Giáo Hoàng John Paul II vẫn tự cho phép ḿnh phát biểu một nhận định rất đáng tiếc về đạo Phật.

       Không ai cứu được con người, kể cả Đức Phật, ngoại trừ chính bản thân họ. Tương lai của Nhân Loại trong thế kỷ 21 sẽ ra sao? Đạo Phật chỉ là một gợi ư, dù có tính tối ưu v́ phù hợp sát nhất với đường hướng tiến hóa của Trí Tuệ Nhân Loại, nhưng nó vẫn chẳng phải là một đảm bảo tuyết đối. Lại càng như vậy khi…

**

       Thực sự, trên những tiêu chí “khoa học”, chúng tôi không đủ tư cách và hiểu biết để bàn về Đạo Phật trong hiện trạng và phương hướng triển vọng trong tương lai trên phạm vi thế giới. Ngay cả trên phạm vị quốc gia! Nhưng với tư cách một kẻ thất phu thành thực có đôi chút ư thức về “vũ trụ giai phận sự” và đă thấy, đă nghe, đă sống, chúng tôi vẫn mạnh dạn tŕnh bày đôi điều suy nghĩ nông cạn và nhận xét phiến diện về t́nh h́nh Phật Giáo Việt Nam.

       Trong vài thập kỷ qua, đất nước này đă trải qua nhiều biến động, cuốn hút một tôn giáo đứng ngoài tục giới như Phật Giáo vào ḍng thác cuồng nộ của nó và do đó gây nên những phân biệt không đáng có trong nội bộ Phật Giáo vốn, trong cứu cánh, chỉ quan tâm đến cái khổ làm người theo nghĩa luân hồi và nh́n nhận vũ trụ này chỉ như một tṛ huyễn hóa “Bồ Tát quán chúng sinh như một vị ảo sư nh́n thấy người ảo hóa của ḿnh”.

       Căn cứ trên thực tiễn hành xử của giới tăng ni, chúng tôi được gặp không nhiều lắm các vị tu hành thấm nhuần cái yếu nghĩa đó của Đạo Phật, đủ không để ḿnh sa đà vào những hoạt động thế tục và phù hoa không liên quan ǵ đến mục đích cứu độ của Phật Giáo. Từ đó, một hậu quả trực tiếp, gần như tất yếu, là hiện tượng tŕ giới thiếu nghiêm khắc khá phổ biến trong hàng ngũ Tăng Già. Mặc dù, trên mặt đời, tŕ giới là tư cách, là danh dự, là “quyền hành nghề” của người tu hành, cũng là của toàn thể Giáo Hội; trên mặt đạo, tŕ giới là yêu cầu số một, có tính bản thể cho Định, Tuệ hiện thực hóa, đặng tiến tới Cứu Cánh của Đạo. V́ vậy việc đầu tiên phải làm cho mọi Giáo Hội Phật Giáo hay Hội Phật giáo, danh xưng là ǵ đi nữa, là phải thanh lọc triệt để hàng ngũ tăng ni trên tiêu chuẩn tŕ giới, thay v́ nói quá nhiều đến những vấn đề chung cục chỉ có tác dụng tha hóa người tu hành trên cả hai lĩnh vực Lư và Sự.

       Ngay cả những vấn đề nội bộ, tức là liên quan đến Tiểu Thừa và Đại Thừa. Chúng tôi nghĩ rằng nếu như bằng cỗ xe nhỏ mỗi cá nhân nhà tu hành có khả năng hiện thực để đi đến những cấp bậc nào đó chỉ của thế giới hiện tượng thôi, chưa dám nói đến Niết Bán, Tịnh Thổ chi cả, trên những nẻo đường của Thiền Định, là điều có thể quan niệm được, h́nh dung được trên cơ sở thực nghiệm, th́ chúng tôi lại thấy yêu cầu và bản nguyện chở thật nhiều người trên cỗ xe thật lớn đế cùng đến Niết Bàn thật vui là một tham vọng thật cao mà thật tế chưa có một Hội Phật Giáo nào đă làm được, dù cho trên những tiêu chí thật đơn giản, thật sơ lược của lư thuyết. Cho nên, thay v́ quá lắm lời tự đề cao cái tư cách Đại Thừa, và dựa vào một số lời lẽ trong trong Kinh Luận mà miệt thị đạo hữu Tiểu Thừa của ḿnh, các Hội Phật Giáo nên dành th́ giờ và sức lực vào cố gắng làm giảm nhẹ những đau khổ tầm thường của con người thế tục bằng cách thường xuyên thực thi hạnh Bố Thí trong cả ba nội dung Tài, Pháp và Vô Úy, bắt đầu bằng sự phản tỉnh của bản thân trên các “thuộc tính nhân thể” là Tham, Giải Đăi và Úy của chính ḿnh. Chính ở đây sẽ được đánh giá bởi Nhân Loại thế tục, mà Hội Phật Giáo nào cũng cần đến, vai tṛ và vị trí của Phật Giáo trong những bước tiến hóa của văn minh nhân loại.

       Một phương tiện cực kỳ hữu hiệu liên quan đến hiệu lực của Pháp Thí mà tiếc thay cho đến nay các Hội Phật Giáo đều đă bỏ qua, đều đă không biết quan tâm đúng mức trong thực tiễn nhân sinh đương đại. Nếu ở nước Ấn Độ cổ vào thời đại Đức Phật tại thế, mọi người đều tin mà không đặt vấn đề ǵ về tính hiện thực của các hiện tượng siêu tự nhiên và các quyền năng huyền bí th́ thật quá tự nhiên, quá hữu lư, quá hợp đạo việc Đức Phật cấm các môn đồ của ḿnh thi triển thần thông và xếp vào loại tà giáo tất cả những môn phái tu hành chỉ nhằm sở đắc những quyền năng khuynh đảo con người và sự vật. Nhưng vào thời đại chúng ta đang sống đây, trong tinh thần duy lư và dưới sức ép của Khoa Học và Kỹ Thuật, người ta dễ dàng phản bác những chuyện trên, xem đó chỉ là di lụy của một thời bán khai, ấu trĩ, với sự đồng t́nh của không ít tăng ni, Phật tử quá ngây thơ mà cứ tưởng ḿnh khoa học và hiện đại, th́ chính những việc đó lại là những bằng cứ bất khả kháng cho các luận thuyết Duy Tâm trong đó Đạo Phật đứng hàng đầu. V́ vậy Giáo Hội Phật Giáo phải nghiêm túc nghiên cứu, sưu tầm các hiện tượng thần bí, lấy đó làm căn cứ sơ đẳng, làm phương tiện thiện xảo để giáo hóa hàng sơ cơ khoa học và duy lư những luận thuyết cao siêu cũng là siêu thực, phi lư trong Kinh Luận Phật Giáo; phải dành vị trí đặc biệt cho Mật Tông, Thiên Thai Tông… không kém ǵ Thiền Tông, Tịnh Độ Tông…; phải hỗ trợ tích cực Mật Tông để tông phái này làm tṛn được sứ mệnh của vị Hộ Pháp đối trước những đợt tấn công ác liệt của Khoa Học, Kỹ Thuật, của tinh thần duy lư, vật chất, thay v́ các nhà thuyết giảng Phật Giáo mải mê mô phỏng những phương pháp luận trong thế kỷ trước của các bộ môn khoa học xă hội Phương Tây, cứ tưởng làm như vậy là trang bị được cho ḿnh cái diện mạo hiện đại hấp dẫn lắm.

       Mặt khác, kho tàng Kinh Luận Phật Giáo chứa đựng đến vô hạn những giáo huấn mà các lư thuyết khoa học hiện đại và những phát hiện thực nghiệm mới nhất có thể được dùng làm những minh họa ít nhiều thành công, đây phải là một phương hướng hoạt động mà Hội Phật Giáo cần đặt ra cho các Phật Tử đang làm công tác khoa học ở ngoài đời, thay v́ Hội Phật Giáo hớn hở chộp lấy như một bằng cớ chứng minh giúp, như một chất liệu trang trí hộ cho bản thân họ, thay v́ lo cử các tăng ni ưu tú vào các trường cao cấp thế tục để mang về cho Hội những Sở Tri Chướng Phương Tây rồi ra chỉ có cái ư nghĩa của việc “nuôi ong tay áo”.

       Tạm thời cuối cùng, những không phải là dưới cùng, các tông phái Phật Giáo cần phải hiểu bản thân ḿnh như sự thị hiện của Phật Giáo trên một phương diện của cái “hiện thực huyễn hóa” có nhiều cấp độ này, thay v́ công kích nhau loạn xạ, miệt thị nhau bằng những luận điểm nhiều khi rất hẹp ḥi, tầm thường, thậm chí cả ngu xuẩn nữa. Các tông phái Phật Giáo thật sự phải coi nhau là những vị Bồ Tát có sứ mệnh khác nhau trong những quốc độ khác nhau, khác nhau như các ngài Quán Âm, Thế Chí, Văn Thù, Phổ Hiền, Di Lặc, Long Thụ, A Nan, Ca Diếp… đối trước những chúng sinh khác nhau, không bao giờ được phép tự coi ḿnh là người thừa kế duy nhất của Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

       Một lần nữa, xin cho phép chúng tôi tự giới thiệu chỉ là một thứ Phật tử dân dă, đă thành thực, ít ra trong một lúc bộc phát của vài ba thiện tâm sở từ cái tâm chúng sinh của ḿnh, bày tỏ đôi ba ư nghĩ và nhận xét mà chắc rằng rồi ra có nhiều cơ may được Giáo Hội Phật Giáo quan phương dành cho những lời phê phán không thương tiếc, mà chư tôn đức và chư thiện hữu trí thức trong hội thảo này đă dành cho một sự chú ư nhỏ nhoi nào đó, mà chúng tôi xin ghi nhận như một ân thưởng quá quư báu và chúng tôi chỉ biết đáp lại bằng tấm ḷng thành thực.

Tinh Tiến

20.02.1996

 

THÍCH TRUNG ĐẠO

 

NHỮNG VẤN ĐỀ TRƯỚC MẮT ĐỐI VỚI PHẬT GIÁO VIỆT NAM

 

Đạo Phật xuất hiện cách đây hơn 25 thế kỷ, trải qua những thăng trầm của lịch sử, từng chịu đựng biết bao thử thách khắc nghiệt, nhưng vẫn đứng vững và mỗi ngày một lớn mạnh, là v́ nó có đủ ba yếu tố: khế lư, khế cơ và khế thời. Trên phương diện khế lư, đương nhiên lấy nguồn cảm hứng từ sự giác ngộ của đức Thế tôn dưới cội bồ đề, nhưng về phương diện khế cơ và khế thời, các sứ giả của Như Lai cần khéo léo vận dụng tinh thần tùy duyên bất biến của giáo pháp để đáp ứng được mọi căn cơ và nhu cầu thời đại, th́ hiệu quả của chánh pháp mới phát huy một cách sinh động.

  1. GIỚI LUẬT, CẦN PHẢI CẬP NHẬT HÓA

       Tất cả mọi tổ chức, mọi đoàn thể muốn được ổn định và tồn tại, nhất thiết phải có những điều lệ làm kỷ cương và những tôn chỉ để hoạt động. Nếu không có những điều lệ làm cương lĩnh, chắc chắn tổ chức ấy không tồn tại lâu dài. Cũng thế, một tôn giáo muốn đạt được mục đích cao cả, cần phải có những giới luật thích hợp làm cơ sở mới duy tŕ được sự thanh tịnh. Chính đức Phật đă dạy: “Tỳ ni tạng trụ, Phật pháp diệc trụ, Tỳ ni tạng diệt, Phật pháp diệc diệt”. (Giới luật c̣n th́ Phật pháp c̣n, Giới luật mất th́ Phật pháp cũng mất).

       Như vậy, giới luật chính là mạng mạch của Phật Giáo, và chỉ có đức Phật mới có đủ thẩm quyền chỉ định, điều đó ai cũng hiểu. Thế nhưng, thời đại của chúng ta cách Phật đă 25 thế kỷ, do thời thế biến thiên, hoàn cảnh thay đổi, nên những điều Phật quy định trước kia, tuy ngày nay đại bộ vẫn c̣n giữ được giá trị hiện thực, nhưng có một ít chi tiết đă tỏ ra không c̣n phù hợp với căn cơ của chúng sinh và hoàn cảnh hiện tại. Nếu không điều chỉnh kịp thời, th́ tác dụng của giới luật chắc chắn sẽ bị hạn chế không ít. Do đó, thiết tưởng giáo hội cần có một số quy định mới cho phù hợp với những sinh hoạt của Tăng ni trong giai đoạn hiện tại, có như vậy mới phát huy được tác dụng của giới luật một cách trọn vẹn. Vấn đề này, chính Đức Phật xưa kia đă căn dặn: “Này các Tỳ kheo, tuy là những điều do Ta chế định, nhưng nếu không phù hợp với phong tục tập quán của địa phương đó, th́ không nên áp dụng. Trái lại, có những điều không do Ta quy định, nhưng vốn là phong tục tập quán của địa phương ấy, th́ không thể không thi hành” (Ngũ Phần Luật, ĐTK, 1421, tr 153a).

       Đó là tinh thần uyển chuyển của giới luật do Phật dạy. Và chúng ta cũng biết rằng Quốc gia nào không muốn cho Hiến Pháp và Luật pháp của ḿnh bị lỗi thời và vô hiệu lực, th́ Hiến pháp và Luật pháp ấy phải luôn luôn được tu chỉnh và bổ sung kịp thời. Nhưng, muốn cho pháp luật của quốc gia hay giới luật của tôn giáo phát huy đầy đủ tác dụng của nó, không ǵ hơn là nhờ đến phương tiện giáo dục hỗ trợ.

  1. TẦM QUAN TRỌNG CỦA GIÁO DỤC PHẬT GIÁO.

       Cổ đức từng nói: “Ngọc bất trác bất thành khí, nhân bất học bất tri lư”. (Ngọc không mài không thành vật quí, người không học không thông đạo lư). Hiện nay, vấn đề giáo dục Phật Giáo - chủ yếu là dành cho Tăng Ni quả thật có những khởi sắc đáng khích lệ. Thế nhưng trên thực tế, vẫn chưa đáp ứng một cách đầy đủ nhu cầu học hỏi của Tăng Ni. Do đó, thiết nghĩ, Giáo hội nên đặt vai tṛ giáo dục lên tầm quan trọng hàng đầu trong những Phật sự cấp bách hiện nay. Đồng thời những người giữa vai tṛ giáo dục phải có thực chất, đủ uy tín, và phương thức tổ chức giảng dạy phải tương đối nghiêm túc, có quy củ. Có như thế mới đạt được hiệu quả tốt nhất. Khi một ngôi trường được phép hoạt động, không những tŕnh độ hiểu biết của người học tṛ được mở rộng, mà cùng lúc kiến thức của người thầy cũng được nâng cao. Mà hễ tŕnh độ Phật học và thế học của Tăng ni được nâng lên đúng mức, th́ sức mạnh của Phật giáo tự nhiên được củng cố; nhờ đó, những lệch lạc và lủng củng ít nhiều tiềm tàng trong hàng ngũ Phật giáo dần dần sẽ bị loại trừ.

       Vấn đề cấp thiết nhất hiện nay đối với công tác giáo dục là thiếu sách giáo khoa Phật học, không những thiếu, mà hầu như chưa có. Chúng tôi đề nghị: Hiện thời những sách giáo khoa nào mà các nước khác đă soạn sẵn có thể dùng được, th́ chúng ta dịch sang tiếng Việt để sử dụng, c̣n loại sách giáo khoa nào chưa có th́ bắt buộc phải biên soạn. Có thể sách mới biên soạn lần đầu chưa được hoàn bị, nhưng qua thời gian, chúng ta sẽ hoàn chỉnh dần dần, chứ không nên cầu toàn trách bị. Thế nhưng, nếu muốn cho sự giáo dục đạt đến mức độ hoàn chỉnh, tất yếu phải có Tam tạng giáo điển bằng tiếng Việt. Đó là một trong những yêu cầu bức thiết nhất hiện nay của Phật Giáo Việt Nam.

  1. ĐẠI TẠNG VIỆT NAM, MỘT YÊU CẦU BỨC THIẾT

       Nh́n các nước Phật Giáo chung quanh chúng ta, gần như nước nào cũng đă có Tam tạng giáo điển bằng tiếng mẹ đẻ, chỉ có Việt Nam đến nay vẫn chưa có. Nguồn Tam tạng giáo điển gồm có hai: Hán tạng của Phật giáo Bắc truyền và Tạng Pali của Phật giáo Nam truyền.

       Về Hán tạng, hơn nửa thế kỷ qua, có những vị tôn túc đă cố gắng phiên dịch sang tiếng Việt được một số kinh luận đáng kể, nhưng so với toàn bộ Đại tạng vẫn c̣n chưa thấm vào đâu. Tuy vậy, những công tŕnh ấy thật vô cùng quí giá. Nhờ đó mà tŕnh độ phật học của Tăng ni Phật tử ngày càng tiến bộ rơ rệt. Nhưng h́nh như công việc phiên dịch chưa được phân công đồng bộ và hợp lư, v́ trong lúc c̣n nhiều dịch giả dịch đi dịch lại nhiều lần. Đề nghị từ nay, khi phiên dịch, các dịch giả nên tham khảo thư mục Phật giáo Việt Nam, xem những bộ kinh luận nào chưa phiên dịch th́ hăy phiên dịch, c̣n bộ nào đă có người dịch tương đối tạm ổn th́ khỏi phiên dịch, để đỡ tốn th́ giờ. Ngoại trừ những bản dịch chưa đạt th́ đương nhiên phải dịch lại. Về thư mục dùng để tham khảo th́ trước năm 1975 đă có hai bản: Một bản do thầy Tuệ Sĩ soạn, và một bản do nhà sách Minh Đức biên soạn. Nhưng từ đó đến nay, số lượng kinh sách đă gia tăng khá nhiều, do vậy, khi phiên dịch cần phải tham khảo thêm.

       Về Tam tạng Pali, sau bao năm miệt mài, cho đến nay Ḥa Thượng Minh Châu đă dịch gần xong Tạng kinh, c̣n Tạng luật và Tạng luận cũng đă có vài vị tôn túc bên Nam tông dịch được một ít. Công việc c̣n lại sẽ có các vị hậu bối tiếp tục trong thời gian sắp đến.

       Chúng ta có thể nói rằng, chỉ khi nào hai Tạng kinh Nam truyền và Bắc truyền được phiên dịch đầy đủ sang tiếng Việt th́ tŕnh độ Phật học ở nước ta mới được kể là ngang tầm với thời đại và quốc tế. Đành rằng hiện nay có một số vị tôn túc đọc được Tam tạng bằng tiếng nước ngoài, nhưng số này rất hiếm, và cũng không phải yêu cầu mà chúng ta mong đợi. Điều chúng ta mong muốn là tŕnh độ Phật học của quảng đại Tăng ni Phật tử Việt Nam phải tương đương với các nước có nền Phật học tiên tiến như Nhật Bản, Đài Loan vv… hiện nay.

  1. LỢI ÍCH CỦA TẠNG KINH BẰNG TIẾNG VIỆT

       Khi hai Tạng kinh được dịch đầy đủ sang tiếng Việt, mọi người sẽ có cơ hội nghiên cứu, học hỏi, nhờ đó, mà thấy được giá trị siêu việt của giáo lư đức Phật, biết những giáo lư nào do các vị Bồ tát Thánh Tăng khai triển sau này và v́ sao phải khai triển. (Phải chăng v́ muốn cho bánh xe Chánh pháp luôn luôn vận chuyển, ngơ hầu đáp ứng được mọi thời đại và mọi căn cơ của chúng sinh?).

       Một điều lợi ích khác mà chúng ta thấy rất rơ là những ai quan tâm t́m hiểu cả hai Tạng kinh sẽ dễ dàng rút ra một điểm nhất quán xuyên suốt trong giáo lư đức Phật; nhờ đó sẽ thông cảm được trước những bất đồng của các tông phái khác, để cùng nhau chung sức chung ḷng quyết tâm phụng sự chánh pháp.

       Xưa kia, khi Ngài Huyền Trang (602-664) chưa đi du học, nghe các vị pháp sư thuyết giảng có đôi chổ bất đồng, khiến cho Ngài rất hoang mang, không hiểu v́ sao cùng là Phật pháp mà lại có những dị biệt như vậy. Nhưng sau khi sang Ấn Độ du học, Ngài học kinh luận của tất cả các bộ phái Phật giáo với một thái độ khách quan, không thành kiến. Nhờ vậy, Ngài nhận ra được chung điểm nhất trí của giáo pháp, rồi soạn ra bộ Hội Tông Luận, xiển dương giáo nghĩa Nhất thừa của đạo Phật. Do đó, Ngài đă chiến thắng cực kỳ vẻ vang trong tất cả các cuộc tranh luận với các vị luận chủ, kể cả các vị giáo trưởng của ngoại đạo. Đáng tiếc là bộ Hội Tông luận của Ngài sau đó bị thất truyền.

       Khi nhận xét về ảnh hưởng của Phật Giáo tại Trung Quốc, học giả Lương Khải Siêu nói: “Nhờ công tŕnh phiên dịch Tam tạng kinh điển Phật giáo của các nhà Phật học mà kho tàng ngôn ngữ Trung Quốc giàu thêm được 35.000 từ”. Như vậy, nếu hai tạng kinh được Việt hóa toàn toàn, chắc chắn ngôn ngữ Việt Nam cũng sẽ phong phú thêm không phải là ít. Thế th́, đâu phải chỉ có Phật giáo mới có lợi mà nền văn học Việt Nam cũng được lợi ích rất nhiều.

       Điều quan trọng hơn nữa là khi có đầy đủ Đại Tạng kinh Việt Nam, các học giả sẽ có phương tiện nghiên cứu Phật học một cách đứng đắn, nhờ đó sẽ tránh được rất nhiều những ngộ nhận lệch lạc về Phật giáo. Và giả sử có kẻ nào đó vẫn cố t́nh hiểu sai, hoặc ác ư xuyên tạc Phật Giáo, th́ chúng ta sẽ có cơ sở vững chắc để đối thoại với họ một cách nghiêm túc.

  1. THÁI ĐỘ CẦN CÓ TRƯỚC NHỮNG SỰ CHỈ TRÍCH PHẬT GIÁO

       Những trường hợp ngộ nhận, phê phán hoặc chỉ trích Phật giáo, khái quát có thể xếp thành ba loại:

  1. Những chỉ trích phát xuất từ thiện chí xây dựng, v́ muốn bảo vệ tính chất trong sáng của đạo Phật, hoặc v́ bức xúc trước những suy thoái lệch lạc của Phật Giáo mà lên tiếng phê phán. Gặp trường hợp này, người Phật tử cần phải chân thành tiếp thu, thẳng thắn công nhận, và nỗ lực khắc phục những mặt yếu kém và lệch lạc đang tiềm tàng trong nội bộ Phật giáo.

  2. Những chỉ trích phát xuất từ sự ngộ nhận, hoặc v́ ganh tị, hoặc v́ những động cơ thiếu lương thiện, cố ư tung hỏa mù, làm cho công chúng hoang mang, gây ảnh hưởng không tốt, nhằm triệt hạ uy tín của Phật giáo. Đứng trước t́nh huống này, thiết tưởng người Phật tự phải thẳng thắn đối thoại, tŕnh bày rơ lẽ phải trái, làm cho chân lư được sáng tỏ, để trấn an mọi nỗi hoang mang. Nhưng phải giữ thái độ b́nh tĩnh nhă nhặn và công bằng, tránh những lời lẽ có tính cách gay gắt hoặc khiếm nhă. Như người xưa từng nhắc nhở: “Kỷ sở bất dục vật thí ư nhân, kỷ sợ dục giả khả thi ư nhân” (Những ǵ ḿnh không muốn th́ chớ làm cho người, những ǵ ḿnh muốn th́ nên làm cho người). Điều này chính đức Phật cũng đă dạy: “Nầy các Tỳ kheo, khi có người hủy báng Ta, hủy báng Pháp hay hủy báng Tăng, các ngươi không nên phẫn nộ, mà phải nói rơ những điểm không đúng sự thật là không đúng sự thật: - Như thế này, điểm này không chính xác, việc này không có giữa chúng tôi; việc này không xảy ra giữa chúng tôi. Trái lại, này các Tỳ kheo, nếu c̣ nguời tán thán Ta, tán thán Pháp hay tán thán Tăng, th́ các ngươi không nên đắc chí, mà hăy công nhận những ǵ đúng sự thật là đúng sự thật: - Như thế này, điểm này đúng sự thật, như thế này, điểm này chính xác; việc này có giữa chúng tôi; việc này đă xảy ra giữa chúng tôi” (Trường Bộ I, tr.14, ấn hành 1991, thuộc Đại Tạng Kinh Việt Nam).

  3. Những lời chỉ trích phát xuất từ ác ư hồ đồ, thiển cận hoặc nhảm nhí, và không có ảnh hưởng hay tác dụng ǵ đáng kể. Thiết tưởng, đứng trước trường hợp này, chúng ta không cần phải lên tiếng đối thoại, mà nên giữ im lặng. Nhưng không phải không làm ǵ cả, mà phải cố gắng tŕnh bày thật súc tích những đặc trưng của Phật giáo, như các đức tính từ bi trí tuyệ, tinh thần vô ngă vị tha, nhập thế tích cực của đạo Phật, cho mọi người thấy rơ. Một khi chân lư được cực lực tuyên dương, th́ mọi tà thuyết tự nhiên sẽ bị đào thải một cách thảm hại; cũng như khi vầng thái dương xuất hiện, th́ mọi bóng tối tức khắc bị xua tan, ch́m vào trong tàn lụi.

       Trên đây, chúng tôi chỉ nêu lên vài suy nghĩ thô thiển và những trăn trở có tính cách thời thượng, rất mong được sự thông cảm và chia sẽ của mọi người. Nếu các bạn tôn túc và những Phật tử giàu ḷng nhiệt thành thấy có những điểm nào đồng t́nh được, xin hăy lên tiếng hưởng ứng, khai triển rộng răi, để ai nấy đều nhận thức được vấn đề. Chính ư kiến của các vị mới đủ trọng lượng làm cho thao thức trăn trở kia biến thành những việc khả thi, những Phật sự ưu tiên mà Giáo hội phải quan tâm thực hiện.

Thích Trung Đạo

 

MINH CHI

PHẬT GIÁO VIỆT NAM THẾ KỶ XXI

 

       Hoan nghênh tạp chí Giao Điểm có sáng kiến đề xuất chủ đề “Phật Giáo Việt Nam Trong Thế Kỷ Mới”, và mời đông đảo các nhà Phật học trong và ngoài nước tham gia viết bài và tham luận. Tôi là người trong nước cho nên cho phép tôi phát biểu nhiều về Phật Giáo Việt Nam, Phật Giáo ở trong nước. Nếu trong bài, tôi có đề cập đến Phật Giáo nước ngoài, th́ cũng chỉ để liên hệ và so sánh.

       Theo tôi, Phật Giáo Việt Nam cần thiết để các nhà Phật học trong nước cũng như nước ngoài nước quan tâm nghiên cứu v́ những lư do sau đây:

       

    1. Phật Giáo Việt Nam có một bề dày lịch sử đáng kể suốt hơn 18 thế kỷ

       Chính cái bề dày lịch sử này tạo cho Phật Giáo và Việt Nam cơ hội tiếp xúc và ḥa nhập vào nhau nhuần nhuyễn khiến cho nhà thơ cận đại Hồ Dzếnh có thể viết: “Trang sử Phật,

Đồng thời là trang sử Việt

Trải bao độ hưng suy,

Có nguy mà chẳng mất”

       Trong quá tŕnh tiếp xúc và hội nhập lâu dài đó, đặc biệt là dưới hai triều đại Lư Trần, Phật Giáo thật sự là quốc giáo với những ông vua Phật tử xuất sắc như Lư Thái Tông và Lư Thánh Tông, Trần Thái Tông và Trần Nhân Tông. Thời đại Lư Trần cung cấp cho chúng ta mô h́nh một Phật Giáo gắn bó với dân tộc và phục vụ dân tộc, mà vẫn không làm tổn thương ǵ đến những chân giá trị tâm linh của đạo. Hai cuộc kháng chiến thắng lợi của nhà Lư chống quân Tống và của nhà Trần chống quân Nguyên đều diễn ra trong thời kỳ thịnh nhất của đạo Phật, với hệ tư tưởng chủ đạo và vũ trụ quan và nhân sinh quan Phật Giáo. Và hệ tư tưởng đó quyết không phải là một hệ tư tưởng tiêu cực, bi quan, lánh đời như một vài Nho gia muốn gán ép v́ ganh tỵ. Ai bảo chỉ có đạo Khổng mới lo được cho dân, cho nước, c̣n đạo Phật chỉ chuyên lo chuyện người chết và thế giới bên kia, c̣n đạo Khổng mới thật sự lo chuyện người sống và chuyện đời nay? Đạo Phật đời Lư Trần đă dứt khoát trả lời vấn đề này của Tống Nho, và trả lời bằng thực tế của những thành tích giữ nước và dựng nước vẻ vang chói lọi. Trong những thế kỷ gần đây, Phật Giáo Việt Nam không có vấn đề chạy theo ngoại bang mà c̣n tích cực đóng góp vào công tŕnh đánh đuổi ngoại xâm, giữ ǵn giang sơn gấm vóc.

       Về sự đóng góp của Phật Giáo đời Trần, Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam đă có công tŕnh nghiên cứu, xuất bản dưới tiêu đề “Thiền Học Đời Trần”’ trong đó tôi có viết bài Tổng Kết, mà một số tập san Phật Giáo của Việt Kiều ở Pháp và Mỹ có đăng lại. Ở đây, tôi không trở lại vấn đề này nữa. Tất nhiên, mô h́nh Phật đời Lư hay đời Trần không thể sao chép y nguyên thành mô h́nh của Phật Giáo Việt Nam ở thế kỷ 21, mặc dù có một số người muốn vậy. V́ làm như vậy sẽ là giáo điều, mà Phật Giáo Lư Trần là một Phật Giáo không giáo điều, không chấp tướng. Lẽ nào chúng ta lại đối đăi với Phật Giáo Lư Trần với thái độ giáo điều và chấp tướng?

       Khi suy nghĩ về Phật Giáo Việt Nam ở thế kỷ 21, th́ mô h́nh Phật Giáo Lư- Trần chỉ là một tư liệu tham khảo tốt mà thôi. Một ví dụ, có một số nhà phật học nước ngoài muốn và đă đề nghị Phật Giáo nên có quy chế quốc giáo như là dưới thời Lư-Trần hay là như ở Lào, Campuchia và Thái Lan hiện nay. Tôi cho rằng đó là một ư muốn và đề nghị rất thiện chí nhưng không cần thiết. Quư vị cứ đọc quyển “Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam” do Việt Triết thuộc Ủy Ban Khoa Học Xă Hội Việt Nam th́ rơ. Hiện nay mà đ̣i cho Phật Giáo Việt Nam có quy chế quốc giáo chỉ là gây thêm khó khăn cho Phật Giáo Việt Nam mà thôi. Tuy nhiên, dẫu không đ̣i có một quy chế như vậy nhưng chúng ta vẫn khẳng định một cách dứt khoát là Phật Giáo đă từng có một bề dày lịch sử hơn 18 thế kỷ ở Việt Nam, và trong quá tŕnh lịch sử đó, Phật Giáo đă thật sự hội nhập vào nền văn hóa Việt Nam, như một thành tố không thể chia cắt của nền văn hóa Việt Nam và xă hội Việt Nam.

       Chúng ta cũng khẳng định là Phật Giáo đă cống hiến cho dân tộc Việt Nam những chân giá trị tinh thần, đă từng thể hiện sáng chói trong sự nghiệp cứu nước và dựng nước của hai thời đại Lư và Trần và cả các thời bị ngoại bang đô hộ Phật Giáo đă không làm tay sai cho ngoại bang mà đứng lên chống lại… Nói tóm lại, Phật Giáo hội nhập lâu đời vào nền văn hóa Việt Nam, gắn bó với xă hội Việt Nam và dân tộc Việt Nam trong mọi bước đi thăng trầm của lịch sử, nhưng tuyệt đối không đánh mất những giá trị tâm linh siêu việt, toàn cầu, có tính vũ trụ của nó (Xem chú thích I ở cuối bài). Đó là một trong những nét đặc sắc của mô h́nh Phật Giáo Việt Nam ở thế kỷ XXI sắp đến này. Tôi gọi đó là đặc sắc thứ nhất của Phật Giáo Việt Nam, một đặc sắc không thể bỏ qua được, khi chúng ta bàn về Phật Giáo Việt Nam ở thế kỷ 21.

       

    1. Truyền thống b́nh đẳng và dân chủ của Phật Giáo Việt Nam

       Tất nhiên, trong những văn bản chính thức của Phật Giáo Việt Nam, không có các khái niệm và từ ngữ b́nh đẳng và dân chủ. Thế nhưng tinh thần b́nh đẳng và dân chủ th́ có, và có rất rơ. Xin nêu một số ví dụ: Phật Giáo Việt Nam từ sớm đă có quy chế nữ tu sĩ: Sa Di Ni và Tỷ Kheo Ni. Một Tỷ Kheo Ni đời Lư là Ni Sư Diệu Nhân là một Tổ thuộc thế hệ thứ 17 gịng Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi. Hiện nay, ở Việt Nam số Ni đông hơn số Tăng rất nhiều. Trong khi đó, th́ ở các nước Đông Nam Á láng giềng, theo Phật Giáo Nam Tông, như Thái Lan, Campuchia, Lào, Myanmar (Miến Điện) đều không có phụ nữ xuất gia. Phụ nữ có thể cạo đầu, ở tu viện, nhưng chỉ được mặc áo trắng, không được mặc áo vàng và hưởng các quyền lợi của tu sĩ. T́nh h́nh này, theo tôi không đúng với tinh thần b́nh đẳng của đạo Phật, mà cũng không phù hợp với lời dạy của Phật Thích Ca. Bởi v́, theo đúng lời Phật nói với ông A Nan, th́ phụ nữ có thể giác ngộ và giải thoát, chứng quả A La Hán như nam giới vậy. Trong Kinh tạng Pali, có cuốn “Trưởng Lăo Ni Kệ” chép các bài kệ giác ngộ của các Tỷ Kheo Ni, dưới thời Phật đă chứng quả A La Hán.

       Một dấu hiệu b́nh đẳng và dân chủ khác của Phật Giáo Việt Nam là vị trí của hàng cư sĩ. Lịch sử Phật Giáo Việt Nam ghi nhận có những cư sĩ chiếm vị trí hàng đầu trong giới Phật học nước nhà, được cả hàng tại gia cũng như xuất gia tôn trọng, không khác ǵ những bậc thầy trong đạo. Xin đơn cử ở đây một vài vị mà tất cả chúng ta đều biết tiếng: Vua Lư Thái Tông, đời Lư, được xem như là học tṛ đắc pháp của Thiền Sư Thiền Lăo thuộc thế hệ thứ 6 gịng Thiền Vô Ngôn Thông, và vua cũng được xem là một vị Tổ thuộc thế hệ thứ 7 của ḍng Thiền này.

       Vua Lư Thánh Tông, cũng không xuất gia, nhưng cũng được suy tôn là học tṛ đắc pháp của Thiền Sư Thảo Đường, và được xem như là vị Tổ thứ 2 của ḍng Thiền Thảo Đường. Ḍng Thiền Vô Ngôn Thông c̣n có hai cư sĩ xuất sắc nữa là Thông Thiên (thuộc thế hệ thứ 13) và Ứng Thuận (thuộc thế hệ thứ 15). Phật Giáo đời Trần có Trần Thái Tông, là ông vua khai sáng ra triều nhà Trần, và là tác giả cuốn “Khóa Hư Lục” nổi tiếng, và nhất là cư sĩ Tuệ Trung, vị thầy đáng kính của Trần Nhân Tông, là ông vua xuất gia, là sơ Tổ của phái Thiền Trúc Lâm.

       Lịch sử Phật Giáo Việt Nam cận và hiện đại cũng ghi tên nhiều vị cư sĩ tài ba, như cụ Tâm Minh Lê Đ́nh Thám, người đă sáng lập ra “An Nam Phật Học Hội”, sáng lập ra trường Phật Học Báo Quốc để đào tạo lớp Tăng tài trẻ, sáng lập và làm Tổng biên tập tờ báo Phật học “Viên Âm”. Ông cũng sáng lập ra Đoàn “Phật Học Đức Dục”, nhằm truyền bá đạo Phật trong giới thanh niên trí thức thời bấy giờ. Tác giả bài này cũng là một trong những thành viên đầu tiên của Đoàn Phật Học Đức Dục, mà bác sĩ Lê Đ́nh Thám từng là người sáng lập và bảo trợ. Đoàn đă xuất bản một số sách Phật học, viết theo thể văn mới và có nội dung thiết thực cho nên đă có tiếng vang nhất định trong giới thanh niên nam nữ học sinh lúc bấy giờ. Ở ngoài Bắc cũng vào thời ấy, song song với việc thành lập Hội Phật Giáo Bắc Kỳ, cũng có nhiều cư sĩ có tŕnh độ Phật học cao, như các cư sĩ Thiều Chửu, tổng biên tập báo “Đuốc Tuệ”’, Trần Văn Giáp, Lê Dư, Nguyễn Trọng Thuật (ông này là thư kư Ban Nghiên Cứu Phật Học, được thành lập vào tháng 1 năm 1935). Ở Nam Kỳ lúc bấy giờ, nổi danh nhất là cụ Chánh Trí Mai Thọ Truyền, người sáng lập ra Hội Phật Học Nam Kỳ, có trụ sở tại chùa Xá Lợi.

       B́nh đẳng giữa nam và nữ, b́nh đẳng giữa xuất gia và tại gia, sự b́nh đẳng đó, theo tôi là điều kiện tiên quyết của mọi triển vọng phát triển lành mạnh của Phật Giáo Việt Nam, hiện nay cũng như ở thế kỷ XXI. Tôi nhấn mạnh vấn đề này v́ nó phù hợp với truyền thống b́nh đẳng vốn có của Phật Giáo Việt nam, đă được minh chứng qua cả bao thế hệ cư sĩ nổi danh trong làng Thiền Việt Nam, và được Trần Thái Tông tóm gọn trong câu sau đây, có thể là phương châm chỉ đạo cho Phật Giáo Việt Nam, từ nay và măi măi về sau: “Mạc vấn đại ẩn tiểu ẩn, hư biệt tại gia xuất gia bất câu tăng tục, chỉ yếu biện tâm bổn vô nam nữ, hà tu trước tướng “ (Khoá Hư Lục) ; Dịch: “Không kể là ẩn dật lớn hay nhỏ, không kể là tại gia hay xuất gia, tăng hay tục, điều cốt yếu là biện tâm, vốn không phân biệt nam nữ, sao lại c̣n chấp tướng”.

       Rơ ràng, Phật Giáo mà Trần Thái Tông quan niệm không phải là Phật Giáo của riêng người xuất gia, của riêng giới Tăng lữ, càng không phải là Phật Giáo của riêng nam giới xuất gia, như hiện nay ở các nước Đông Nam Á theo Phật Giáo Nam Tông… mà là một Phật Giáo thật sự b́nh đẳng của cả nam và nữ, của cả xuất gia và tại gia, nghĩa là của tất cả mọi người. Trong câu trích dẫn của Trần Thái Tông trên đây, có các từ đại ẩn, tiểu ẩn. Đại ẩn là sống giữa đời mà vẫn tu đạo và vui với đạo, đúng như lời của Trần Nhân Tông (cháu ruột Trần Thái Tông) trong bài thơ chữ Hán kết thúc bài phú “Cư Trần Lạc Đạo” của Vua:

“Cư trần lạc đạo thả tùy duyên,

Cơ tắc xan kề, khốn tắc miên”

        Dịch:

“Ở đời vui đạo hăy tùy duyên,

Hễ đói th́ ăn, mệt ngủ liền”.

       Đó là lối tu ẩn dật lớn, c̣n tu ở chùa, lánh vào núi mà tu chỉ là tiểu ẩn, tức là lối tu ẩn dật nhỏ. Đúng như vậy, Phật Giáo chỉ cho chúng ta một phương pháp tu hành không cần phải cạo đầu vào chùa, không cần lánh lên núi sống cô độc một ḿnh, mà sống ngay giữa đời như người b́nh thường mà vẫn giác ngộ và giải thoát. Tôi tin rằng, chừng nào mà Phật Giáo c̣n hạn chế và khép ḿnh trong chùa chiền và giới Tăng lữ, th́ khó mà nói Phật Giáo có gốc rễ sâu bền trong một quốc gia xă hội.

       Hiện nay, những người Việt Nam b́nh thường kể cả một số người mác xít, chỉ cảm thấy có nhu cầu đến chùa thật sự khi có người thân thuộc qua đời, hay là khi có người ốm nặng. Chỉ trong những trường hợp như vậy, người ta mới tổ chức lễ cầu siêu và cầu an. Đó chính là tâm lư rất phiến diện cho rằng đạo Phật cần cho người chết và người ốm, chứ không cần cho người sống và khoẻ mạnh! Đây đúng là quan niệm tàn dư của Tống Nho hủ lậu, vẫn c̣n ảnh hưởng rơi rớt trong quần chúng nhân dân ta.

       Tôi tin là Phật Giáo Việt Nam ở thế kỷ XXI phải là một Phật Giáo tiếp nối tư tưởng b́nh đẳng và dân chủ, không những về tinh thần mà cả trong thiết chế và tổ chức nữa. Thí dụ: Chúng ta sẽ nghiên cứu lại quy chế “bát kính pháp” (xem chú thích I cuối bài), đặt Ni chúng vào một địa vị thấp kém hơn Tăng chúng rất nhiều. Chúng ta cần nghiên cứu bối cảnh xă hội-lịch sử của quy chế đó. Có người đặt câu hỏi: Phải chăng xă hội thời Phật là một xă hội phân biệt đẳng cấp và rất trọng nam khinh nữ. Do đó, Phật đặt ra quy chế bát kính pháp trên thực tế là để bảo vệ nữ giới khỏi bị nam giới quấy rối? Một lư do nữa là Luật tạng, trong Đại hội kiết tập lần thứ nhất ở thành Vương Xá đă được kiết tập theo tinh thần bảo thủ của Thượng tọa Bộ, lúc bấy giờ chiếm đa số trong số A La Hán tham gia cuộc kiết tập? Dù sao, th́ một quy chế như vậy không c̣n thích hợp nữa trong thế giới hiện tại, đặc biệt là ở xă hội Việt Nam, với người phụ nữ “tay ḥm ch́a khóa”, nắm quyền tài chính trong gia đ́nh (Lệnh ông không bằng cồng bà).

       Quan hệ nam nữ trong Chúng cũng như ngoài xă hội là một loại quan hệ thật sự b́nh đẳng, hai bên nam nữ phải thật sự tôn trọng nhau. Tôi nghĩ, quan hệ giữa tại gia và xuất gia, giữa cư sĩ và tu sĩ cũng phải thấm nhuần một tinh thần b́nh đẳng và dân chủ như vậy.

    1. Vị trí của tu sĩ và chùa trong thời đại mới

       Hiện nay, ở nước ta, vị trí của tu sĩ Phật Giáo nổi bật nhất là trong các lễ lạc ở chùa, đặc biệt là trong các lễ cầu siêu và cầu an. Cũng như nhà chùa chủ yếu là nơi tu sĩ tổ chức và chủ tŕ mọi lễ lạc tôn giáo, tất nhiên là có ngoại lệ, nhưng ngoại lệ ít lắm. Tôi không phủ nhận tác dụng an ủi tạm thời của các lễ lạc tôn giáo, trong đó có các lễ cầu siêu và cầu an. Nhưng t́nh h́nh sẽ thế nào, nếu trong tương lai, giáo lư về nghiệp của đạo Phật được phổ biến rộng răi, trở thành kim chỉ nam cho mọi hành vi ứng xử của Phật tử. Đến khi ấy, mọi người Phật tử đều giác ngộ rằng, “con người là chủ nhân của nghiệp, là kẻ thừa tự của nghiệp, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là thai tạng… (Trung Bộ Kinh 3, Kinh Tiểu Nghiệp Phân Biệt, Bản dịch Thích Minh Châu), tất cả mọi chuyện hạnh phúc hay bất hạnh xảy ra trong đời ḿnh, đều là do nghiệp, tức là do những hành động nơi ư, lời nói và thân của ḿnh làm ra từ trước, chứ không do một Thượng đế hay quỷ thần nào an bài… Muốn có đời sống an vui, hạnh phúc th́ chỉ có một cách là tạo nghiệp thiện, nghiệp lành, trừ bỏ mọi nghiệp ác, nghiệp bất thiện…Đúng theo lời dạy của Phật:

   “Chư ác mạc tác,

Chúng thiện phụng hành,

Tự tịnh kỳ ư,

Thị chư Phật ngôn”.

Nghĩa: Bỏ mọi điều ác,

Làm mọi điều lành

Tự làm trong sạch tâm ư,

Là lời dạy chư Phật”

                                        (Kinh Pháp Cú)

 

       Chỉ có bản thân ḿnh, với ư nghĩ trong sạch, lời nói trong sạch, hành động trong sạch mới có thể làm trong sạch được bản thân ḿnh, chứ không phải chỉ đi chùa, lễ bái, gọi Tăng bằng thầy và xưng con là có thể rửa sạch mọi tội lỗi ḿnh đă phạm và tiếp tục phạm. Tu sĩ là biểu trưng sống động của giác ngộ và giải thoát. Nhờ tâm của họ được giải thoát cho nên mọi hành động của họ, lời nói của họ cũng có đạo vị giải thoát. Nếu được như vậy, họ xứng đáng là bậc đạo sư tâm linh, có khả năng hướng dẫn mọi người trên con đường giác ngộ và giải thoát. Đó là vị trí phải có, nên có của người tu sĩ Phật Giáo trong tương lai, ở thế kỷ XXI. C̣n nếu họ không chịu học tập, không lo tu hành, chỉ lo đi cúng và được lợi dưỡng nhiều nhờ đi cúng, th́ họ chỉ là thầy cúng, chứ đâu có phải là đạo sư tâm linh, đâu có phải là biểu trưng sống động của đạo giải thoát và giác ngộ. Chúng ta hăy để cho họ yên vị trong nghề thầy cúng. Nghề đó cũng cần thiết đối với những người bất hạnh, cần được an ủi, cần được giúp đỡ. Nhưng họ không được rao truyền rằng, mọi người hăy đến chùa, đến với họ, th́ tự khắc mọi nghiệp chướng sẽ tiêu trừ, mọi tội lỗi sẽ được rửa sạch! Rao truyền như vậy th́ Phật Giáo bị đồng hóa với một số tôn giáo khác, và phải chăng là bật đèn xanh cho mọi tội ác, bởi lẽ, cứ phạm tội ác rồi đến chùa cúng lễ và mọi tội ác sẽ được rửa sạch, có khác nào bọn mafia quốc tế rửa sạch đồng đôla vấy máu qua các thao tác ngân hàng vậy! (Xem chú thích III cuối bài).

       Tôi nhắc lại là tôi không thể phê b́nh và phủ nhận tác dụng của lễ bái, mặc dù tác dụng đó là rất hạn chế và mang nhiều tính phương tiện hơn là cứu cánh. Tôi chỉ phê b́nh những ai, dù tăng hay tục, rao truyền rằng, cứ đi chùa, mời chư Tăng làm lễ cầu an, cúng đường trai tăng là mọi tội ác được tiêu trừ, mọi nghiệp chướng được xóa sạch. Nói như vậy, có khác nào nói, người gây nhiều oán thù, chỉ việc đi chùa Hương, đến suốt Giải Oan, múc nước ở suối giải oan uống, th́ mọi oán thù đều xóa sạch! Một người có chút lương tri, chứ không cần có tŕnh độ Phật học cao, cũng nhận thấy là muốn giải oan, th́ phải thay đổi nếp sống, nghĩa là sống thiện, không tự ḿnh gây oán thù thêm nữa, thêm bạn bớt thù… chứ không thể xuống tắm ở suối Giải Oan hay là uống nước suối Giải Oan là có thể giải trừ mọi oán thù do tự ḿnh gây ra.

       Khi Phật c̣n tại thế, Ngài đă bác thuyết “tế đàn vạn năng” của Bà La Môn Giáo. Lẽ nào Phật Giáo Việt Nam ở thế kỷ XXI lại vẫn đi lại con đường “tế lễ vạn năng” của Bà La Môn Giáo hay sao?

       Lễ bái ở chùa, lễ cầu siêu và cầu an đều trong chừng mực nó an ủi tinh thần người chết cũng như người sống, nó nhắc nhủ mọi người dự lễ noi theo lời dạy của Phật làm mọi điều lành, tránh mọi điều dữ v.v… Chứ lễ bái đâu có khả năng rửa sạch tội lỗi nếu tâm vẫn c̣n bất thiện? Phật Giáo Việt Nam ở thế kỷ XXI phải là Phật Giáo của lư trí, không thể dung túng những tập tục mê tín dị đoan có thể là nguồn lợi dưỡng đáng kể và người có trí không thể chấp nhận được. Ở đây, một lần nữa, chúng ta nhắc lại câu của nhà bác học Albert Einstein ca ngợi “Phật Giáo như một tôn giáo đáp ứng được những yêu cầu của khoa học hiện đại” (Xem chú thích II ở cuối bài). Đồng thời, Phật Giáo cũng là tôn giáo rất nhân bản, nó tôn vinh giá trị con người như là chủ nhân của cuộc sống của ḿnh, chứ không phải là kẻ cầu xin quỷ thần ban ơn, ban phước.

       Vị trí của chùa Việt Nam – ít nhất là các chùa tiêu biểu – cũng phải có sự thay đổi trong thời đại mới, ở thế kỷ XXI. Chùa Phật, vẫn là nơi tiến hành các khoá lễ giản dị, nhưng giàu ư nghĩa biểu trưng, đồng thời phải là một trung tâm Phật học, một cơ sở văn hóa lớn hoặc nhỏ, với thư viện có đầy đủ ba Tạng kinh điển, với những sách Phật học và thế học có giá trị, bằng tiếng Việt và bằng các thứ tiếng khác, một nơi giảng pháp, một nơi tọa đàm giáo lư, một nơi hành thiền và trao đổi kinh nghiệm hành thiền, một nơi làm các công tác văn hóa và từ thiện, một nơi có phong cảnh đẹp, có nhiều cây và hoa, một danh lam thắng cảnh. Nói tóm lại, chùa Phật là một nơi mà cảnh vật cũng như người (tu sĩ) đều toát lên đạo vị giải thoát và giác ngộ của đạo Phật.

       Đáng tiếc là hiện nay, trong Nam cũng như ngoài Bắc có một số chùa (không phải là số đông! Mong sao được như vậy) đă thật sự biến thành những nơi tấp nập cho người ra vào xin xăm, xin thẻ, nhờ thầy xem đất, xem tướng, bói toán. Những ngôi chùa trông bề ngoài khang trang to lớn, người ra vào như đi chợ, khói hương nghi ngút, nhưng thật ra chỉ là những chùa thiếu hương vị giải thoát, thiếu nhận thức đâu là phương tiện, đâu là cứu cánh của Phật Giáo. Ngôi chùa Việt Nam ở thế kỷ XXI không thể như vậy được.

       Ở đây, nhân tiện, tôi muốn nói đôi chút về “cái tệ” hái lộc chùa đầu xuân. Tệ này rất là phổ biến ở miền Bắc. Ở trong Nam, cũng có nhưng ít hơn. Cứ đến mùa xuân hàng năm người tấp nập đi chùa hái lộc để cầu phước, khiến cho sau đêm mồng một Tết ta là vườn các chùa đều xơ xác, nhiều cây cành lá bị bóc trụi. Nếu tục lệ hái lộc chùa là một truyền thống của Phật Giáo Việt Nam đi chăng nữa, th́ truyền thống hái lộc đó phải được cải tiến, v́ không, nó sẽ mâu thuẫn với truyền thống và đạo đức môi trường, vốn là một truyền thống tốt đẹp của Phật Giáo nói chung và Phật Giáo Việt Nam nói riêng. Dần dần nên thay thế tục lệ hái lộc bằng phong trào trồng lộc ở vườn chùa, mỗi năm vào ngày xuân đến. Tất cả mọi phật tử cần tranh thủ bảo vệ, tôn tạo và phát triển vườn chùa, biến mỗi vườn chùa thành một công viên quốc gia tầm cỡ nhỏ (miniature national park). Theo tôi, đây là một vấn đề cấp thiết, không nên chờ đợi đến thế kỷ XXI mới bắt tay làm, mà phải bắt tay làm ngay trong mùa xuân tới. Phật Giáo Việt Nam ở thế kỷ XXI phải là một Phật Giáo bảo vệ môi trường, kể cả môi trường nhân văn và môi trường thiên nhiên, biến mỗi cảnh chùa thành một phong cảnh Bụt thật sự, đúng theo tinh thần của câu: “Đất vua, chùa làng, phong cảnh Bụt”.

4. Phật Giáo Việt Nam tôn vinh con người, giúp cho con người sống hạnh phúc, hoàn thiện nhân cách và cống hiến tối đa

       Trong thế kỷ sắp tới, giá trị nhân bản phải là giá trị của mọi giá trị, là thước đo của mọi giá trị. Mọi phát kiến khoa học, mọi sáng tạo văn học nghệ thuật tôn giáo cần được đánh giá theo góc độ đó, dựa vào tiêu chuẩn nó đề cao giá trị nhân bản hay không, có đem lại thêm hạnh phúc cho con người hay không hay ngược lại chỉ là tang tóc, và bất hạnh, có hay không khích lệ ư chí vươn lên, và nỗ lực sáng tạo của con người, hay là ngược lại chỉ làm xói ṃn ư chí của con người, khuyên con người cam chịu sự an bài của số phận.

       Lịch sử Phật Giáo Việt Nam ghi nhận nhiều lời của các nhà Phật học, hay các Thiền Sư khẳng định vị trí quư trọng của con người. Thí dụ các câu:

“Nhậm vận thịnh suy vô bố úy,

Thịnh suy như lộ thảo đầu phô” (Thiền Sư Vạn Hạnh đời Lư)

Dịch ư: Khéo léo vận dụng (quy luật) thịnh suy th́ không c̣n sợ hăi,

(Nhưng đối với ta) thịnh hay suy cũng là (mong manh) như hạt sương trên đầu ngọn cỏ.

“Mê chi cầu Phật

Hoặc chi cầu Thiền

Thiền Phật vô cầu…!”

                                         (Diệu Nhân – Ni Sư đời Lư)

Dịch ư :

Mê mới cầu Phật

Hoặc mới cầu Thiền

Không cầu Phật, không cầu Thiền”.

 

“Nam nhi tự hữu xung thiên chi,

Hưu hướng Như Lai hành xứ hành”

                                            (Thiền Sư Quảng Nghiêm đời Lư)

Dịch ư :

Làm trai có ư chí cao vọt đến trời,

Thôi, không đi lại con đường của Phật nữa.

 

       Chúng ta hỏi: Tại sao là Thiền Sư, là học tṛ Phật mà lại có những tư tưởng và lời nói trái thường như vậy? Đó là v́, trước khi nhập Niết Bàn, Phật đă từng khuyên học tṛ rằng phải dựa vào bản thân ḿnh, đừng có dựa vào cái ǵ khác, phải lấy ḿnh làm ngọn đèn, phải tự thắp đuốc lên mà đi… (Xem các Kinh Đại Bát Niết Bàn - Trường Bộ Kinh I và Kinh Du Hành - Trường A Hàm I). Khác biệt với giáo chủ các tôn giáo khác, đức Phật Thích Ca luôn khuyên mọi người hăy tin tưởng vào khả năng của chính ḿnh để thành tựu giác ngộ và giải thoát. Ngài nói: “Ta là Phật đă thành, các người là những vị Phật sẽ thành”. Trên thực tế, Phật đă đặt chúng ta ở một vị trí b́nh đẳng với Phật, khi Ngài nói một câu như vậy. Trong bài Kinh: “Các vị ở Kesaputta”, thuộc Tăng Chi Bộ tập I, một lần nữa, Phật lại đặt niềm tin của ḿnh vào con người có khả năng phân biệt đúng sai, thiện ác, chứ không cần dựa vào sách vở, dư luận, truyền thống, hay bất cứ một sức mạnh nào khác ở bên ngoài.

       “Này các Kalamas, chớ có tin v́ nghe truyền thuyết, chớ có tin v́ theo truyền thống, chớ có tin v́ nghe người ta nói, chớ có tin v́ được kinh điển truyền tụng, chớ có tin v́ đó là lư luận siêu h́nh, chớ có tin v́ điều đó đúng theo một lập trường, chớ có tin vào những dữ kiện được đánh giá hời hợt, chớ có tin v́ điều đó phù hợp với định kiến của ḿnh, chớ có tin v́ điều đó được bậc đạo sư của ḿnh nói ra. Nhưng này các Kalamas, khi nào tự ḿnh biết rơ như sau: Các điều này là bất thiện, các điều này là có hại, các điều này bị những người có trí chỉ trích, các điều này thực hiện sẽ đem lại bất hạnh và khổ đau. Này các Kalamas, khi biết rơ như vậy, th́ hăy từ bỏ các điều ấy đi” (Tăng Chi Bộ Kinh I. Kinh: Các Vị ở Kesapputa, trang 338).

       Bài Kinh trích dẫn trên đây có nhiều bản Hán dịch, Việt dịch và Anh dịch, nội dung chỉ có khác nhau đôi chút nhưng ư tứ chung của bài Kinh là con người có khả năng tự ḿnh phán đoán, qua tư duy lô gíc và thực nghiệm đánh giá mọi điều thiện và bất thiện, đúng và sai, v.v…. Bài này tuy được phát biểu cách đây hơn hai ngh́n năm nhưng đến nay vẫn mang tính thời đại nóng hổi. Nó có giá trị một thông điệp gửi cho cả loài người, ở ngưỡng cửa của thế kỷ XXI này, khi loài người đang c̣n xâu xé tàn sát nhau bởi những định kiến vô lư về sự khác biệt của tôn giáo và tư tưởng hệ, về sắc tộc và chủng tộc, những định kiến mà bất cứ một đầu óc lành mạnh và tỉnh táo nào cũng nhận thấy là trái thường, phi đạo đức, làm sao mà vẫn lôi kéo được hàng vạn, hàng triệu người vào những cuộc chiến tranh và thảm sát, đôi khi mang quy mô diệt chủng, không phải chỉ xảy ra ở Châu Phi hay châu Á lạc hậu, mà ngay cả ở giữa ḷng Châu Âu vốn tự xưng là văn minh và khai sáng!

       Đạo Phật ở thế kỷ XXI có nhiệm vụ đánh thức, khơi dậy niềm tin của con người ở khả năng phán xét phải trái, thiện ác của bản thân ḿnh, nhất định không nghe theo kẻ cơ hội và giáo điều, dù chúng mang nhăn hiệu ǵ. Tôi rất tâm đắc với những lời phát biểu sau đây của hai ông Vua đầu đời Trần, cả hai đều là những nhà Phật học lỗi lạc, tức là Trần Thái Tông và Trần Nhân Tông. Trần Thái Tông viết trong Khóa Hư Lục: “Ngă thân tức Phật thân thị, vô hữu nhị tướng”. Nghĩa: Thân ta tức là thân Phật, không có hai tướng!

       Rơ ràng, Trần Thái Tông nói câu trên, không phải là nói cho riêng ḿnh mà là nói cho tất cả mọi người, mọi chúng sanh. Ông viết trong Khóa Hư Lục: “Khái thức Bồ Đề giác tính, cá cá viên thành…” Nghĩa là “sao lại không biết tính giác Bồ Đề, mọi người đều có đầy đủ…” (Khóa Hư Lục – Bài “Khuyến Phát Tâm Văn”). Ư tứ là tất cả mọi người, tất cả chúng sanh đều có đầu đủ bản tánh giác ngộ ở trong ḿnh, bản tính đó là Phật tánh, là cái khả năng vốn có của mỗi người chúng ta sẽ thành Phật trong tương lai.

       Trần Nhân Tông cũng nói lại tư tưởng đó của ông nội là Trần Thái Tông, nhưng với một giọng văn dân dă hơn:

   “Bụt ở trong nhà,

Chẳng phải t́m xa,

Nhân khuẩy bổn, nên ta t́m Bụt.

Chỉn mới hay chính Bụt là ta” (Cư Trần Lạc Đạo Phú – Hoàng Xuân Hăn dịch nôm)

Chữ khuẩy bổnquên mất gốc.

       Có thể nói Phật Giáo Việt Nam đă tôn vinh con người lên địa vị Phật, địa vị của bậc Thánh giác ngộ tối cao, bậc Thánh đă đạt tới cảnh giới bất tử, an lạc tuyệt đối, giác ngộ hoàn toàn. Chúng ta vốn là Phật nhưng lại không tự biết, cho nên cứ đi t́m Phật ở đâu đâu, không chịu quay đầu lại t́m Phật ở trong bản thân ḿnh. Nhân dân Việt Nam có câu: “Phật ở trong nhà, cầu Thích Ca ở ngoài đường”. Tôi xin phép thay ba chữ ở ngoài đường bằng các chữ tại chùa. V́ chùa có tượng Phật, có ông Phật bằng gỗ, sơn son thếp vàng, nhưng ông Phật thật chính là ở trong chúng ta.

       Thế kỷ XXI là thế kỷ của khoa học, của một Phật Giáo Việt Nam “đáp ứng mọi yêu cầu của khoa học hiện đại”. Thế kỷ XXI cũng là thế kỷ của những giá trị nhân bản, thế kỷ của con Người. Phật Giáo Việt Nam ở thế kỷ XXI cũng phải là Phật Giáo tiếp nối truyền thống rất nhân bản, một Phật Giáo tôn vinh con người và phục vụ con người, đáp ứng những yêu cầu tâm linh cao đẹp nhất của con người.

       Hiện nay, có một vài nhà Thiền Việt Nam (họ là số ít, nhưng ảnh hưởng của họ không nhỏ) thường nhấn mạnh tính siêu lư trí của Thiền và coi nhẹ mọi thao tác tư duy lô gíc. Họ thích thú với những câu trái thường như ngày là đêm, đêm là ngày, cực ác là thiện, cực thiện là ác… Tôi rất tôn trọng lối tu của quư vị nhà Thiền đó, nhưng theo tôi, tuyên truyền rộng răi một lối suy nghĩ trái thường như vậy là không có lợi, thậm chí c̣n rất là có hại nữa. V́ với lối tu và lối suy nghĩ như vậy, chúng ta sẽ mặc nhiên tự biến chúng ta thành những người trái thường, lập dị, đồng thời cũng biến đạo Phật thành một cái ǵ huyền bí, xa lạ với con người và xă hội loài người. Đạo Phật đề cao trí tuệ thực nghiệm, mà sách Phật thường gọi là tu tuệ. Chữ tu ở đây, tôi hiểu là thực nghiệm. Bất cứ một chân lư nào, dù là siêu việt như là Niết Bàn Phật Giáo, hay là những chân lư tương đối của thế giới hiện tượng, đều phải qua thực nghiệm mới có thể nắm bắt một cách thấu đáo được. Thí dụ, chúng ta có thể nhờ tra tự điển mà biết được say rượu đại khái là do uống nhiều rượu, hơi men bốc lên đầu làm cho đầu óc người mất tỉnh táo… nhưng đích thực say rượu là thế nào th́ chỉ có uống rượu đến say mới biết, nghĩa là phải tự ḿnh thực nghiệm uống rượu mới biết. Nói cách khác, tu tuệ không phải là sự hiểu biết do xuất gia, ở chùa mà có, mà lo do thực nghiệm mà có. Thực nghiệm ở đây là sống, thực hành, chứ không có nghĩa ǵ khác. Einstein, khi nói tới đạo Phật tương lai, cũng nói tới thực nghiệm:

       “Covering both the natural and the spiritual, it should be based on a religious sense, arising from the experience of all things, natural and spiritual, as a meaningful unity” . Dịch: Bao quát cả (thế giới) tự nhiên và tâm linh, nó phải dựa trên một ư thức tôn giáo, nảy sinh từ sự thực nghiệm mọi sự vật, tự nhiên và tâm linh, như là một tổng thể có ư nghĩa.

       Đúng như là nhà bác học Einstein nói, tất cả mọi vấn đề, thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên, cũng như thuộc lĩnh vực tâm linh, đều phải qua thực nghiệm mới có thể nắm bắt một cách thấu đáo. Tuy đạo Phật đề cao trí tuệ thực nghiệm, nhưng nó cũng không xem nhẹ trí tuệ học hỏi và trí tuệ tư duy, mà sách Phật thường gọi là văn tuệ (học hỏi mà biết) và tư tuệ (tư duy mà biết). Chúng ta nhớ lại lời Phật nói với những người Kalamas, khi Phật nói đến “những điều bị những người có trí chỉ trích”, th́ đó là văn tuệ, c̣n khi Phật nói “tự ḿnh biết rơ các điều này là bất thiện, là có hại…”, đó tức là tư tuệ, là hiểu biết do tự ḿnh tư duy. C̣n khi Phật nói “các điều này, nếu thực hiện sẽ đemlại bất hạnh và khổ đau” đó tức là tu tuệ, hiểu biết bằng thực nghiệm. Như vậy, khi có người nói chân lư tối hậu Niết Bàn (là siêu việt lư trí, tư duy lô gíc) th́ họ nói đúng, nhưng khi họ phủ nhận mọi giá trị của văn tuệ và tu tuệ, mọi giá trị của học hỏi và tư duy lô gíc, th́ họ phạm sai lầm. Nếu thế, th́ Phật Thích Ca tán thán ông A Nan là “đa văn” tức là Phật sai lầm hay sao?

       Không phải như vậy, văn tuệ và tư tuệ đều có giá trị của nó. Chân giá trị con người chính là ở chỗ nó biết học hỏi những điều nó chưa biết, và ở chỗ có biết tư duy, lập luận một cách lô gíc. Tư duy lô gíc nhằm phân biệt phải trái, thiện, ác là một đặc sắc đáng quư của con người. Tại sao con người lại bỏ rơi đặc sắc đáng quư đó, để rồi nghe theo một số người đầu cơ, lập ra đủ mọi giáo phái kỳ quặc, tuyên truyền các thuyết về ngày tận thế, về sống buông thả t́nh dục để t́m những cảm giác siêu việt, tuyên truyền nam nữ sống khoả thân thành bầy! Chính lúc này, hơn lúc nào khác, Phật Giáo phải đề cao khả năng tư duy độc lập của con người để t́m ra lẽ phải, để phân biệt chính, tà, thiện ác. Vừa rồi, tôi nói người đầu cơ tôn giáo. Nhưng người đầu cơ chính trị cũng nguy hại không kém. Chính họ rao truyền những định kiến phân biệt tôn giáo, chủng tộc, sắc tộc và dân tộc hẹp ḥi dẫn tới những cuộc chiến tranh và xung đột triền miên, đôi khi bột phát thành những cuộc tàn sát có quy mô diệt chủng!

       Phật Giáo Việt Nam ở thế kỷ XXI phải thật sự và xứng đáng là Phật Giáo của trí tuệ, Phật Giáo của những người có trí, không có mê tín và cuồng tín, tự ḿnh nương tựa vào chính ḿnh, không t́m một nơi nương tựa nào khác, tự ḿnh thắp đuốc lên mà đi, tự ḿnh lấy ḿnh làm ngọn đèn, lấy chánh pháp làm ngọn đèn v.v… như Phật thường khuyên bảo.

       Nếu không có lư trí, không có khả năng tư duy, th́ đúng như Blaise Pascal nói con người là một thứ lau sậy hèn yếu mà thôi, thế nhưng con người biết tư duy, và khả năng tư duy đó nâng cao con người lên địa vị tối linh giữa các loài động và thực vật (L’home n’est qu’un Roseau mais un Roseau pensant – Pascal. Người chỉ là một thứ lau sậy, nhưng là một thứ lau sậy biết tư duy).

5. Phật Giáo Việt Nam ở thế kỷ XXI sẽ là một Phật Giáo biện tâm và hướng nội

       Thế giới hiện đại là một thế giới ồn ào, náo loạn, sôi động. Ngoại cảnh càng ồn ào, náo loạn và sôi động bao nhiêu th́ nội tâm càng cần được yên tĩnh, b́nh lặng và trong sáng bấy nhiêu. Phật Giáo biện tâm và hướng nội sẽ giúp con người thành tựu được một nội tâm như vậy. Hướng nội là để cân bằng với hướng ngoại. Một tờ báo phương Tây đă dùng ảnh dụ sinh động ví von người hiện đại như một người có một chân buộc vào chiếc máy bay phản lực c̣n chân kia th́ buộc vào một xe ḅ kéo! Một tờ báo khác viết, về mặc khoa học vật lư th́ người Mỹ đang ở thời đại nguyên tử, nhưng về mặt tâm lư học th́ người Mỹ đang ở thời đại đồ đá! Tâm lư học Phật Giáo có thể điều chỉnh t́nh trạng mất cân bằng đó của con người hiện đại. Có lẽ v́ vậy mà Thiền học Phật Giáo đă tỏ ra rất hấp dẫn đối với người phương Tây, trong gần một thập kỷ lại đây, và trong quyển sách “The Way of Zen” (Con Đường Thiền), tác giả, một người Tây Phương, Alan W. Watts viết: “Thiền là một trong những quà tặng quư báu nhất của châu Á cho thế giới” (Zen is one of the most precious gift of Asia to the world – The Way of Zen p.3).

       Nhưng xu thế hướng nội của Phật Giáo Việt Nam c̣n có một cội rễ sâu xa hơn: Tức là đối với Phật Giáo, chân lư không phải là năm ở bên ngoài mà là ở bên trong của mỗi người chúng ta. Tư tưởng đó xuyên suốt lịch sử Phật Giáo Việt Nam từ khi Phật Giáo du nhập vào đất nước ta. Các phương pháp điều thân, điều tâm được áp dụng trong các phái Thiền Việt Nam chủ yếu là nhằm điều ḥa nội tâm (điều thân hay điều hơi thở chỉ là phương tiện), nhằm chuyển dần nội tâm từ tán loạn trở thành định tĩnh, từ chỗ hướng ngoại, chạy theo thanh sắc v.v… chuyển thành hướng nội, từ chỗ mê mờ trở thành sáng suốt, từ chỗ thô động, bất kham trở thành nhu nhuyễn dễ sử dụng, hướng tâm đến đâu là tuỳ theo ư ḿnh. Một người tu tập tâm và điều ḥa được tâm như thế sẽ là một người có sức mạnh phi thường! Sớ giải Kinh Kim Cang có câu: “Tâm chế nhất xứ, vô sự bất biện”. Nghĩa là tâm được chế ngự vào một nơi th́ không có việc ǵ mà không làm được!

Trong Kinh tạng Pali, thường ghi lời Phật khuyến khích học tṛ ḿnh tu tập tâm, chế ngự và điều phục tâm:

“Khó nắm giữ, khinh động,

Theo các dụng quay cuồng,

Lành thay! điều phục tâm.

Tâm điều an lạc đến. (Pháp Cú. Kệ 35)

Kẻ thù hại kẻ thù

Oan gia hại oan gia

Không bằng tâm hướng tà

Gây ác cho tự thân.

Điều cha mẹ bà con

Không có thể làm được,

Tâm hướng chánh làm được

Làm được tốt đẹp hơn.

                                                 (Pháp Cú. Kệ 42-43)

 

Chỉ có hướng nội, thật sự tu tập tâm và điều phục tâm, chúng ta mới có thể đạt tới kết quả như vậy. V́ sao? V́ trong con người chúng ta, tâm là kẻ làm chủ. Tâm nghĩ ác, th́ lời nói tùy theo cũng ác, thân hành động cũng ác. Trái lại, nếu tâm nghĩ thiện, th́ lời nói cũng thiện và thân hành động cũng thiện. Trong Kinh Phật cũng thường nói tâm của Phật sáng suốt, thuần tịnh, nhu nhuyễn dễ sử dụng, cho nên nếu Phật hướng tâm nhớ lại các kiếp trước của ḿnh, th́ Phật nhớ lại tường tận không phải là một, hai, kiếp sống mà vô lượng kiếp về trước. Quyền năng siêu nhiên nhớ lại các kiếp sống trước như vậy, sách Phật gọi là túc mạng thông, hay túc mạng minh. Với tâm sáng suốt, thuần tịnh, nhu nhuyễn dễ sử dụng, Phật c̣n có nhiều quyền năng siêu nhiên khác nữa, mà sách Phật gọi là sáu quyền năng siêu nhiên hay sáu phép thần thông.

       Trên đây, tôi đă nói thẳng, nói thật tâm tư của tôi đối với Phật Giáo Việt Nam ở thế kỷ XXI. Ư kiến chân thành, nhưng lời văn có thể vụng về. Rất mong ban biên tập Giao Điểm lượng thứ và quư đọc giả gần xa thông cảm.

       Tôi cầu mong cho đến thế kỷ XXI này, (c̣n bao lâu nữa đâu) Tăng Ni Phật Tử trong nước ḥa hợp, Phật tử trong nước và ngoài nước đều ḥa hợp, Phật tử Việt Nam và Phật tử cả thế giới ḥa hợp. Dưới ánh sáng của hạnh lục ḥa của Phật Giáo, cả thế giới là Phật Giáo hay không phải Phật Giáo cũng ḥa hợp, không khác ǵ một quốc gia thống nhất mà tất cả chúng ta đều là công dân, là thành viên. Giấc mơ muôn thuở “Bốn biển đều là anh em” (tứ hải giai huynh đệ) sẽ được thực hiện. Trên thế giới sẽ không c̣n chiến tranh nữa.

Minh Chi

(Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam,

Trưởng Ban Phật Giáo Việt Nam)

Phần chú thích

      1. Bát kính pháp là tám phép ứng xử của Ni đối với Tăng, trong đó có các phép như: Ni dù trăm tuổi, khi thấy Tỳ Kheo Tăng mới thọ giới, cũng phải đứng dậy đón tiếp, hỏi han, lễ bái, thỉnh ngồi.

II. Toàn câu của Albert Einstein nói về đạo Phật như sau (trong bài, tôi chỉ trích một phần, không trích dẫn hết):

       “The religion of the future will be a cosmic religion. It would transcent a personal God and avoid dogmas and theology. Covering both the natural and spiritual, it should be based on a religious sense, arising from the experience of all things, natural and spiritual, as a meaningful unity. Buddhism answers this description. If there is any religion that would scope with modern scientific needs, it would be Buddhism”.

       Dịch: Tôn giáo tương lai sẽ là một tôn giáo vũ trụ. Nó phải vượt trên một Thượng Đế cá nhân, tránh giáo điều và thần học. Bao quát cả hai lĩnh vực tự nhiên và tâm linh, nó phải dựa trên một ư thức tôn giáo, nảy sinh từ sự thực nghiệm của mọi sự vật, tự nhiên và tâm linh, (được quan niệm) như một thể thống nhất có ư nghĩa. Phật Giáo đáp ứng một mô tả như vậy. Nếu có một tôn giáo thỏa măn được những yêu cầu của khoa học hiện đại, th́ tôn giáo đó là đạo Phật.

III. Tư tưởng tu sĩ có thể rửa tội cho tín đồ cũng bị phê b́nh ngay cả trong nội bộ của đạo Gia Tô. Chứng cớ là câu sau đây của Thomas Paine, trong cuốn “The Age of Reason” trang 100: “Tư tưởng cho rằng… tu sĩ có thể rửa tội, tuy là h́nh như nó không tồn tại nữa, đă gây tổn thương cho t́nh cảm nhân loại và chuẩn bị cho con người phạm đủ mọi tội ác”. The Age of Reason – Thomas Paine. Page 100. (The idea… that priests could forgive sins, though it seems to exist no longer, had blunted the feelings of humanity and prepared men for the commission of all crimes)

Tư liệu tham khảo chính:

  1. Thiền Học Đời Trần, Viện Nghiên Cứu Phật Học chủ biên và xuất bản 1991.

  2. Khóa Hư Lục, Trần Thái Tông, Bản Hán. Bản Việt của Đào Duy Anh

  3. Cư Trần Lạc Đạo Phú, Trần Nhân Tông, Hoàng Xuân Hăn dịch nôm

  4. Tỷ Kheo Ni Giới - Giới Đàn Ni, Thích Minh Phát soạn dịch. Thành Hội Phật Giáo thành phố Hồ Chí Minh xuất bản

  5. Trung Bộ Kinh III, bản dịch Thích Minh Châu

  6. Kinh Pháp Cú, bản dịch Thích Minh Châu

  7. Thơ Văn Lư Trần, Tập 1 và 3, Viện Văn Học xuất bản

  8. Trường Bộ Kinh I, bản dịch Thích Minh Châu

  9. Trường A Hàm I, bản dịch Thích Thiện Siêu

  10. Tăng Chi Bộ I, Bài Kinh: Các vị ở Kesaputta. Bản dịch Thích Minh Châu.

 

HỒNG NGỌC

 

NHỮNG ĐẠI PHÁP NẠN CỦA PHẬT GIÁO VIỆT NAM

 

       Viết bài cho tuyển tập “Phật Giáo Trong Thế Kỷ Mới” theo phương pháp Tứ Diệu Đế, như ban chủ trương Giao Điểm đề nghị, là một việc có phần khó cho tôi. V́, trước hết, có một số vấn đề, lúc mô tả hiện tượng th́ chính nó đă hàm chứa nguyên nhân tạo tác và cũng hé mở phương thức giải quyết rồi.

       Thứ hai, có những sự kiện, cứ để chúng ẩn ẩn, hiện diện, hay qua bóng dáng mờ mờ ảo ảo sẽ làm cho đọc giả có óc suy tưởng và diễn dịch dồi dào hơn, và do đó sẽ có nhiều sáng kiến độc đáo cho các phương thức giải quyết. Tôi nghĩ như thế sẽ tốt đẹp hơn là nói thẳng, nói thực, nhiều lúc sẽ thiếu tế nhị và thiếu ái ngữ.

       Điểm cuối cùng là, dẫu cố gắng đến đâu nhưng nếu có vài ư, vài câu, vài đoạn không được đẹp cho lắm th́ quí “đọc giả” cũng hiểu được rằng trong một thời đại mà quyền tự do ngôn luận được công nhận như một điều kiện phổ quát th́ vài câu nói th́ thào của tôi cũng chẳng lấy đó làm quan trọng, mà tốt hơn là nên suy nghĩ những điều tŕnh bày ấy có đúng hay không. Một thí dụ cụ thể là, cựu Bộ Trưởng Quốc Pḥng Hoa Kỳ, Mc Namara, viết cả quyển sách nói rằng, trong cuộc chiến trước đây, Việt Nam là kẻ chính nghĩa và Hoa Kỳ là kẻ phi nghĩa. Nói như thế, nhưng ông cũng chẳng bị bỏ tù hoặc bị chụp mũ là Cộng Sản bao giờ.

       Với vài nhận định nêu trên, tôi viết bài góp ư ngắn này tùy theo ng̣i bút đẩy đưa, nhớ ǵ viết đó. Và cũng chỉ viết được vài khía cạnh nhỏ của một số vấn đề. Trong cách nh́n có tính “ham hố” v́ có quá nhiều điều muốn viết muốn nói nhưng chua thể thực hiện, nên chỉ nêu ra một số “hiện tượng” để từ đó hi vọng chúng ta sẽ có biện pháp sửa đổi.

    1. ĐẠI PHÁP NẠN TẠI HẢI NGOẠI

   1. Người lănh đạo không thể đi sau quần chúng

       Lúc bỏ nước ra đi từ năm 1975, đa số hàng tôn túc đều có mộng “lấp biển vá trời”, mang một hoài băo lớn lao cho một cuộc hành tŕnh mới. Nhưng lúc được định cư một thời gian, các mộng ước lúc đầu dần dần trôi theo mây gió, mà nguyên nhân chính yếu là do hàng cư sĩ gây ra. Thay v́ khuyến khích giúp đỡ tăng ni tu và học, các tín đồ đă góp tiền dựng lập chùa để có nơi tới lui học đạo, cầu an, cầu siêu, kư linh, kư tự. Đó là một việc làm cần thiết, nhưng lúc có chùa, đa số các hội viên đều bận rộn lo kế sinh nhai, nên tất cả từ việc lớn đến việc nhỏ đều phó thác cho vị trụ tŕ. Như thế, người Phật tử đă biến vị thầy của ḿnh thành người “nô lệ” cho cái cơ sở vật chất ấy, không c̣n th́ giờ để tu và học thêm, ngay cả thiếu th́ giờ để đọc sách, báo bằng Việt ngữ chứ chưa nói đến ngoại ngữ, hay học một môn ngoại điển nào, mà một người sống trên một quốc gia khác, nên biết ít nhiều ngôn ngữ của họ để giao thiệp.

       Hậu quả của vấn đề là, hơn 20 năm qua ở hải ngoại, trong lúc xă hội ngày càng phát triển, kiến thức con người ngày càng mở rộng, th́ một số ít các vị lănh đạo của chúng ta chỉ sử dụng mớ kiến thức học được từ trước năm 1975, mà nhiều lúc, có những điều hay, học được th́ đă quên bớt, và có cái đă lỗi thời th́ không biết để bỏ đi. Như thế, người Phật tử đă vô t́nh biến người lănh đạo của ḿnh tụt hậu, đi sau quần chúng, làm sao lănh đạo có kết quả tốt được.

       Có người sẽ lư luận rằng, đức Khổng Tử, Phật Thích Ca đâu có học nhiều đâu mà cũng được tán tụng là vạn thế sư biểu, cũng được xưng hô là thiên nhân chi đạo sư. Có thể nói rằng, hầu hết chúng ta không phải là Khổng Tử và chỉ là Phật sẽ thành. Do đó, trong xă hội ngày nay, đ̣i hỏi người lănh đạo trước hết phải có tu và thứ đến là phải có học. Nếu sở học, nhất là phần nội điển thấp hơn quần chúng làm sao lănh đạo được quần chúng.

       Trong lănh vực Gia Đ́nh Phật Tử (GĐPT) cũng thế. Các huynh trưởng kỳ cựu là những người rất tốt, gần suốt cuộc đời xă thân v́ lư tưởng GĐPT, sống chết v́ đạo, nhất là qua các thời kỳ nhiễu nhương của thế sự nhân tâm. Nhưng hoàn cảnh xă hội và tŕnh độ nhận thức của thế hệ trẻ ngày nay, đ̣i hỏi thành phần huynh trưởng kỳ cựu phải cập nhật hóa tư tưởng của ḿnh, chương tŕnh và phương pháp sinh hoạt cũng phải đổi mới cho thích hợp với thời đại tân tiến. Thí dụ, thời xưa, lúc khoa học c̣n thô sơ, con người phải dùng đến các tín hiệu để liên lạc với nhau, nhưng ngày nay, với điện thoại cầm tay không cần dây (cordless), chúng ta có thể liên lạc được với nhau một cách dễ dàng ngay cả giữa cảnh núi rừng hoang dă. Một bản tin quan trọng cách xa vạn dặm, từ Úc gởi qua Hoa Kỳ, chẳng hạn, chỉ cần vài phút là có thể gửi bằng máy fax, đâu cần phải thổi c̣i, phất cờ tín hiệu. Đây là một thí dụ trong muôn ngàn vấn đề cần phải cải đổi để phát triển và tồn tại c̣n không th́ GĐPT chỉ c̣n là các lớp Việt ngữ, hoặc nơi gặp gỡ của giới trẻ với lứa tuổi dưới 18 mà thôi, v́ lúc lên đại học, các đoàn sinh này cảm thấy GĐPT không phải là môi trường để họ có được những tiếp thu mới, và người huynh trưởng của họ về khả năng không làm cho họ học thêm được nhiều điều cần thiết. Bởi thế, chúng ta thấy, tại các đô thị, sự sút giảm số lượng đoàn sinh GĐPT có tŕnh độ đại học. Nói rơ hơn, lúc vào đại học, có nhiều em thiếu niên thiếu nữ không c̣n tiếp tục đến với GĐPT nữa, mà nguyên nhân chính là nơi đây không c̣n cung ứng cho họ một số kiến thức mới như lúc c̣n là đoàn sinh oanh vũ.

       Tại chùa của H.T. Thích Đức Niệm miền Nam California, tháng 11, 1981, sau đám tang của huynh trưởng Phan Bản Cẩn, tôi có tŕnh bày t́nh trạng này với một số anh chị em huynh trưởng cao cấp như anh Nguyễn Hữu Liêm (hiện tại là luật sư, ở San Jose, California), nhưng có lẽ quá sớm đối với nhiều vị ngoại trừ anh Nguyễn Hữu Liêm.

2. Nạn lạm phát chùa chiền

       Lúc người Phật tử trong nước đọc báo thấy người Việt hải ngoại lập được hơn 250 cảnh chùa. Họ nghĩ rằng tất cả các chùa đều có mái cong, có rồng, có phụng, có trúc, có mai, với cảnh trí u huyền lưng lưng thoát tục, nhưng thực tế không phải vậy. Hiện nay có khoảng trên 20 chùa xây cất có quy củ, số c̣n lại chỉ là một căn nhà nhỏ (và nhiều vùng cũng chỉ nên có như vậy thôi) với giá tiền mua khoảng dưới 100.000 Mỹ kim. Trả trước 20.000 (hai chục ngàn), số c̣n lại trả góp khoảng 30 năm, mỗi tháng khoảng 600 Mỹ kim, tiền lời 8% mỗi năm. Nếu trả không được ngân hàng sẽ tịch thu. Do đó, tháng nào vị trụ tŕ cũng lo nghĩ xoay sở cho đủ tiền trả nợ hàng tháng. Đó là chưa kể tiền điện, điện thoại, nước, gas (chất đốt), thuế và tiền bảo tŕ. Cũng có chùa, cơ sở nhỏ, nội dung sinh hoạt chưa có tầm cỡ, nhưng dùng danh từ hơi lớn hơn như Quốc Tế, Thế Giới… Danh và Thực chưa phải là một cặp xứng đôi.

       Mặc dầu khó khăn về tài chánh, nhưng nhiều nơi làm chùa không phải v́ nhu cầu tín ngưỡng mà vi nhu cầu cá nhân. Có vài người làm chùa cũng để thỏa măn cái ngă hơn là v́ nhu cầu thực tế. V́ thế, có nơi, chùa cách nhau chỉ vài con đường mà số lượng tín đồ quá ít không phải có nhiều chùa như thế. Đó là chưa kể khoảng chừng 15 đến 20 năm nữa là tối đa, chùa sẽ không có bổn đạo, v́ số Phật tử lớn tuổi đă qua đời, lớp trẻ th́ ít đến v́ nhiều lư do: ngôn ngữ bất đồng, thầy nói tiếng Việt mà Phật tử của thế hệ mới đa phần nói tiếng Anh, tiếng Pháp…, tŕnh độ văn hóa chênh lệch, cách tổ chức và nghi lễ không đáp ứng với lối nh́n của thời đại. Đó là chưa nói đến đa số Phật tử ngoại quốc (gốc không phải là người Việt) lại là thành phần hoàn toàn bất đồng ngôn ngữ với nhiều vị thầy của Phật Giáo Việt Nam ở nước ngoài. Hơn 50 năm trước đây, người Nhật phần lớn ở Hạ Uy Di (Hawaii), và người Hoa tại California đă đi con đường mà Phật Giáo Việt Nam tại hải ngoại đang nhầm lẫn ngày hôm nay. Kết quả là, hàng trăm ngôi chùa của hai cộng đồng Phật tử này bị xoá tên trên bản đồ Mỹ Quốc. Hoặc có vài chùa đồ sộ c̣n lại tại các đảo ở Hawaii, nhưng chỉ để làm cảnh trí cho khách du lịch hơn là chốn thanh quy tu học như trước đây. Rất tiếc, các gương trước mắt ấy, nhưng nhiều người Phật tử chúng ta không học được bài học đích đáng nào, mà cứ vẫn đi vào con đường thất bại của hai cộng đồng Nhật và Hoa nói trên. T́nh trạng này, tôi cũng đă có dịp báo động trong buổi họp thành lập Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ năm 1980 tại Thiền Viện, số 928 S. New Hampshire, Los Angeles, California, USA, do cố H.T. Thiên Ân làm viện trưởng.

       Nếu nh́n vào lịch sử truyền bá Phật Giáo của các vị tổ sư Ấn Độ và Trung Hoa vào Giao Châu trong các thế kỷ trước, và các vị sư đem đạo Phật Việt Nam vào cộng đồng phương Tây ngày nay, chúng ta rất lấy làm tiếc, nhưng cơ hội vẫn c̣n, nếu hàng Phật tử xuất gia và tại gia ư thức được vấn đề và có chương tŕnh cụ thể.

       Một con số ước lượng là, Phật Giáo Việt Nam tại hải ngoại mỗi năm phải tốn mất 6 triệu Mỹ kim (mỗi chùa tốn 2 ngànMỹ kim mỗi tháng, 250 chùa, nhân cho 12 tháng) để duy tŕ và trả nợ tiền mượn ngân hàng mua nhà làm chùa. Nếu số lượng 250 “ngôi” chùa giảm xuống chỉ c̣n một nửa th́ Phật Giáo Việt Nam có thể dành được 3 triệu Mỹ kim mỗi năm để phát triển Phật Giáo trong nước và hải ngoại. Đó là chưa nói đến số lượng c̣n lại một nửa này (125 ngôi chùa), nếu không có lối truyền đạo nhắm vào người bản xứ, như các vị tổ sư Ấn Độ và Trung Hoa sang Việt Nam trong các thế kỷ trước, th́ số chùa c̣n lại này sẽ bị vắng bóng tại hải ngoại như đă tŕnh bày ở trên.

       Do đó, người Phật tử cúng đường tiền làm chùa thế nào để chánh pháp của đức Như Lai được lưu truyền, chứ không nên thiếu cân nhắc để như đem muối bỏ biển, có thể không được phước mà c̣n thêm tội, và người có trách nhiệm nên làm thế nào để pháp Lục ḥa của Phật được áp dụng, tránh bớt một số việc làm không cần thiết.

3. Phe ta đánh phe ḿnh

       Một cách tổng quát, tương đối hơn 20 năm qua các giáo phái Tin Lành Việt Nam tại hải ngoại hầu như không làm chính trị, nói rơ hơn là không chống Cộng. Do đó, hiện nay họ truyền đạo rất dễ tại Việt Nam, không ai để ư hoặc nghi ngờ. Trong khi đó cũng có tôn giáo không c̣n chống Cộng như trước, mà chuyển qua chiến lược ném đá dấu tay tinh vi hơn, xúi dục kẻ khác chống Cộng giùm để tạo áp lực trong nước.

       Về phía Phật Giáo, th́ một số đă trúng kế, múc nước cho kẻ khác rửa chân mà cứ tưởng rằng ḿnh là kẻ “anh hùng chống Cộng”. Một cách khách quan, có thể nói được rằng, vài vị trong hàng tôn túc, mấy năm qua làm quá nhiều về những công việc mà họ có kinh nghiệm quá ít. Bỏ sở trường, làm sở đoản. Sở trường của quí ngài là tu, học, làm tấm gương đạo hạnh cho thiên hạ soi chung. Nói như giáo sư Cao Huy Thuần “có tu th́ có tất cả”, không tu th́ mồ mả và nhang khói chẳng c̣n (HN). Nhưng buồn thay, một vài vị chống Cộng có tính hung hăng, mất tư cách, không nghiên cứu tường tận để biết cái nào nên chống cái nào nên bênh, nếu chống th́ chống cách nào, bênh th́ nên bênh ai bỏ ai, bênh cái đúng, chống cái sai. Chứ không thể làm chính trị theo kiểu con ḅ rừng, cứ thấy màu đỏ là húc. Mà điển h́nh là H.T. Thanh Từ, T.T. Khế Chơn, T.T. Phước Trí bị mấy thầy chụp cho cái mũ là Cộng Sản, là tôn giáo vận. Cũng như nhiều năm trước đây có hai, ba thầy ra thông báo lên án chụp mũ H.T. Trí Thủ và H.T. Đôn Hậu nhưng vài tháng sau đó chính mấy vị này lại cử hành lễ truy điệu. Có thể nói rằng, có vài người lợi dụng chiêu bài chống Cộng để chống nhau, tạo sự chia rẽ trong hàng tôn túc, tạo hố sâu giữa Phật tử trong và ngoài nước để có lợi cho ngoại nhân. Chống Cộng thiếu ư thức đă xé nát tập thể tăng tín đồ ra nhiều mảnh.

       Nếu để ư vào các vị “anh hùng chống cộng” này chúng ta sẽ thấy. Lần đại hội Thanh Niên Thiên Chúa Giáo tại Denver, Colorado, Hoa Kỳ bốn năm trước đây, có treo cờ đỏ sao vàng (để lấy ḷng), nhưng chúng ta không thấy mấy vị “anh hùng” này chống. Hoặc có nhiều chức sắc Thiên Chúa Giáo từ Việt Nam ra quyên góp tiền tại các nhà thờ ở hải ngoại, chúng ta cũng không thấy mấy “anh hùng” nêu trên ra tuyên cáo chống mà chỉ thấy t́nh trạng phe ta chống phá phe ḿnh. Đó là chưa kể một số viên chức trong một giáo hội hiện nay giả vờ chống Cộng để che đậy việc buôn bán đầu tư tại Việt Nam, hoặc có vị soạn “kế hoạch kinh tế” du lịch để đầu tư trong nước. Đưa ra hai dẫn chứng này, tôi không hàm ư chụp mũ hai vị là Cộng Sản, nhưng để cho thấy cái mâu thuẫn của vấn đề và cái khó của t́nh thế. Cũng có một vị khác trong hàng tôn túc hiện đang có chức vụ trong giáo hội, bị dư luận nghi rằng CIA đă móc nối, v́ lúc tị nạn trong trại, chỉ ở lại có ba ngày th́ được bốc ra ngay, mà không cần qua các thủ tục và qui chế của người tị nạn.

       Nếu ai không chống Cộng, th́ bị vài tờ báo có khuynh hướng TCG chụp mũ là Cộng Sản, người đó phải viết bài chống Cộng để minh oan. Như thế, là trúng kế thêm một lần nữa. Thí dụ, hồi tháng 6, 1996, tại Colorado, một bài báo kư tên là Bạch Long đăng trong bản tin Chiến Hữu. Bái viết nói rằng Phật Giáo chống Cộng c̣ mồi, chống giả hiệu, H.T. Huyền Quang là tên Công Sản. V́ từ đầu năm 1996, GHPGVNTNHN tại Hoa Kỳ không chống Cộng hăng như trước. Lời lẽ của bài viết rất thiếu văn hóa, đáng lư ra, tự nó đă cho thấy giá trị của bài viết như thế nào rồi. Nhưng ngày 10.7.1996, thấy có bức thư của chùa Như Lai viết lên án Cộng Sản để minh oan.

       Người Phật tử rất đau ḷng lúc thấy vài đài phát thanh và truyền h́nh thân TCG (như đài Little Saigon tại quận Cam) không phỏng vấn những vị tôn túc có đạo cao đức trọng, có tầm nh́n xa thấy rộng nhưng thường thấy họ phỏng vấn một vài vị mà tác phong c̣n thấp kém và kiến thức th́ giới hạn, để làm cho thính giả khán giả dèm pha. Tệ hại hơn, là vài vị trong số này lại thích xuất hiện trên đài.

       Bỏ sở trường, làm sở đoản, đi từ trúng kế này đến mắc mưu khác. Tâm của các vị nói đây rất tốt, nhưng sở trường về chính trị muôn mặt quá thô thiển, không biết áp dụng khế lư khế cơ chuyển phát luân vào thời đại mới. Việc làm thiếu nghiên cứu tường tận của vài vị này rất nguy hiểm cho Phật Giáo.

4. Phật giáo chưa có tầm vóc, v́ đệ tử Phật chỉ c̣n một chúng

       Lúc Phật chuyển pháp luân 26 thế kỷ trước đệ tử của ngài có bốn chúng: tỳ kheo, tỳ kheo ni, ưu bà tắc (nam cư sĩ), ưu bà di (nữ cư sĩ). Qua các thời đại, Phật Giáo thịnh hành như thời vua A Dục tại Ấn Độ, thời nhà Đường tại Trung Hoa, và thời Lư Trần tại Việt Nam, đệ tử Phật cũng c̣n bốn chúng hỗ trợ, tương tác lẫn nhau để truyền tŕ chánh pháp. Nhưng tại Việt Nam, nhất là sau 1963, v́ thời cuộc nhiễu nhương, Phật Giáo đi vào con đường tục đế hơn thánh đế, nạn lạm dụng quyền hành, lợi dụng danh nghĩa của một thiểu số cư sĩ để tiến thân, nhất là qua các thời kỳ ứng cử bầu cử. Do đó, các tổ chức giáo hội rất thận trọng trong việc mời một số cư sĩ có khả năng đảm đương công việc của giáo hội. Tuy nhiên, cũng có một số quư thầy trong vài tổ chức Phật Giáo trong cũng như ngoài nước, thấy mấy ông cư sĩ “khó bảo”, nên bao quát tất cả các chức vụ ngay cả các công việc mà hàng tăng giới thiếu kinh nghiệm, như vấn đề chính trị, kinh tế và ngoại giao. Có nơi, h́nh ảnh của cư sĩ trong giáo hội là chỉ để “làm kiểng” hơn là cộng tác chia xẻ các trọng trách. Một vài tổ chức giáo hội hiện nay, trong nước cũng như hải ngoại, thậm chí có nhiều vị tăng cũng như tục nhận chức vụ, nhưng suốt một nhiệm kỳ (vài năm) công việc cũng chẳng thấy thực hiện được bao nhiêu điều đă được giao phó. Nhưng đến kỳ đại hội, cũng thấy có những bản tường tŕnh “ngoạn mục”, những bài diễn văn “nảy lửa” mà nội dung và kết quả th́ c̣n khiêm tốn.

       V́ thế, Phật Giáo cần phải điều chỉnh phương pháp tổ chức, sử dụng nhân sự đúng khả năng, qui định và theo dơi các chường tŕnh đă đề xuất. Phật tử tại gia phải qui kính tam bảo, thực sự hộ tŕ chánh pháp. Bốn chúng đệ tử của Phật lúc nào cũng phối hợp chặc chẽ bổ túc cho nhau để bước vào thế kỷ mới.

      1. ĐẠI PHÁP NẠN TRONG NƯỚC

       Lúc gặp vài vị trong giáo hội nói rằng Phật Giáo tại Việt Nam gặp đại pháp nạn, tôi thăm hỏi quan điểm của các đại pháp nạn. Có vị đă trả lời tiền hậu bất nhất, rất xa rời với hiện thực. Tôi có đề nghị nên về Việt Nam để điều nghiên vấn đề tường tận, không nên phỏng đoán t́nh h́nh và phản ứng theo cảm tính. Trăm nghe không bằng một thấy. Đối với Phật tử trong nước cũng thế, không nên có tinh thần trọng ngoại, vọng ngoại rất sai lầm. Không phải cái ǵ có nhăn hiệu nước ngoài là đều tốt đẹp cả. Có điều mà chúng ta không thể tưởng tượng nổi, nhưng có thật, như cuộc thăm ḍ khoa học cho thấy trên 50% thế hệ trưởng thành của người Hoa Kỳ không biết quả đất quay quanh mặt trời, mỗi năm một lần, v́ kinh thánh dạy rằng quả đất phẳng, có cột trụ chống đỡ do Chúa tạo ra, đứng yên một chỗ, mặt trời quay quanh quả đất, nên họ bị ám ảnh từ nhỏ đến lớn (Xin xem cuốn Ki Tô Giáo, Từ Thực Chất Đến Huyền Thoại, và báo West Coast Times, 24.05.1996). Thí dụ: Pháp Quốc là trưởng nữ của ṭa thánh Vatican, nhưng hiện nay có 5% Phật Giáo, 6% Tin Lành (theo tuần báo Mai California) và chỉ có khoảng 15% Thiên Chúa c̣n thực hành tín ngưỡng (in a traditional Roman Catholic country where only about 15% actively practice their faith, Los Angeles Times, Friday, 20.09.1996).

       Tóm lại, v́ thiếu nghiên cứu tường tận vấn đề, nên bên trong nạn nhân của bên ngoài, bên ngoài nạn nhân của bên trong, vấn đề có phần lệch lạc thiếu chính xác. Nói vậy, tôi không có ư cho rằng các vần đề đều sai mà có cái đúng. Nhưng nên biết cái nào đúng cái nào sai. Nên nh́n vấn đề trong tương quan tương duyên của khế cơ khế lư. Thực tế, Phật Giáo Việt Nam có mấy đại pháp nạn mà phần lớn là tại hải ngoại như đă nêu trên, và sau đây là vài pháp nạn trong nước.

  1. Nạn tăng ni lạm phát, lượng cao, phẩm thấp

       Sau 1975, số lượng tăng ni trẻ tại Việt Nam gia tăng nhanh chóng, nhất là những năm gần đây, số Phật tử trẻ xuất gia đông đảo do vài nguyên nhân chính sau đây:

       Lúc thâm hiểu được phần nào giáo lư căn bản của Phật, hàng cư sĩ phát nguyện xuất gia để truyền tŕ chánh pháp, đem lại lợi ích cho quần sanh. Với cái sơ tâm xuất gia mạnh mẽ, ấp ủ trong ḷng hoài băo cao quư ấy, nếu được giáo dưỡng đúng mức, thành phần đông đảo quư hóa này sẽ trở thành những bậc trưởng tử lỗi lạc của đức Như Lai, nắm giữ mạng mạch của Phật Giáo. Bên cạnh những tâm hồn quí báu ấy, cũng có một số rất ít v́ hoàn cảnh kinh tế, hoặc vài lư do cá biệt khác nên muốn xa ĺa cuộc đời trần thế. Dẫu động cơ nào đưa người Phật tử đến cửa Phật, mà nếu duyên may gặp được vị bổn sư chỉ dạy có phương pháp, gặp được môi trường đào tạo hữu hiệu, th́ hàng sơ tâm xuất gia này sẽ là những viên ngọc quí cho Phật Giáo.

       Rất tiếc, một số ít quí vị trụ tŕ đă nhận chúng xuất gia thiếu cân nhắc, và thiếu nhiều phương diện. Một số ít trường Phật học lại thiếu các vị giáo thọ tài ba, và thiếu phương pháp sư phạm hiện đại, nên vấn đề tu và học của tăng ni thiếu hẳn chất lượng. Nhiều lớp học, mang nặng không khí buồn tẻ, chán nản, kéo dài nhiều năm nhưng kết quả không được như ư muốn. Thí dụ, cuốn kinh Tứ Thập Nhị Chương (có 42 chương rất ngắn), thay v́ chỉ dạy mất 10 giờ là xong, có trường, thầy dạy mất từ bốn đến sáu tháng. Nếu t́nh trạng này không cải tiến kịp thời, th́ đó là một đại pháp nạn cho tiền đồ Phật Giáo, v́ số lượng tăng ni quá lớn mà phẩm chất vẫn c̣n khiêm tốn. Chôn vùi thời gian nhiều năm, trong trường lớp, nhưng kết quả thu thập th́ c̣n quá ít.

       Nếu người xuất gia có đạo hạnh kém, kiến thức thô thiển, nhất là về Phật pháp, sẽ làm cho tín đồ ối đố dèm pha, thiếu kính trọng và người ngoài khai thác. Hệ quả của vấn đề là, thay v́ quy y Phật Pháp Tăng, tín đồ sẽ quy y với ngoại đạo tà giáo. T́nh trạng này không những ảnh hưởng tai hại cho cơ đồ Phật Giáo mà c̣n làm lung lay nền tảng đạo đức của quốc gia xă hội. Đây cũng là quốc nạn, nguyên nhân do pháp nạn nói trên. Một hôm viếng thăm ngôi chùa tại Long Thành, tỉnh Đồng Nai, tôi thấy số lượng quí chú mới xuất gia tăng từ bốn vị năm 1991, đến 42 vị năm 1995. Tôi phát biểu nửa đùa, nửa thật với vị trụ tŕ, cũng là chỗ quen thân, rằng thầy nhận người xuất gia quá nhiều là thầy phá Phật Giáo. Vị thầy hiền lành, cẩn trọng hỏi lư do. Tôi kính cẩn thưa rằng, một vị trụ tŕ lúc thu nhận người xuất gia phải có ba điều kiện tối thiểu:

       Một, có cơm áo để nuôi, nếu phải dùng phần lớn th́ giờ để làm rẫy canh tác cho cuộc sống th́ không có th́ giờ để tu và học. Hai, phải có phương tiện để học cả nội điển lẫn ngoại điển. Ba, thầy phải có th́ giờ để hướng dẫn đời sống nội tâm. Kinh nghiệm đời cho thấy, đa số con cái của các gia đ́nh người Hoa (hay thành phần có cửa hàng buôn bán) rất hư hỏng. V́ cha mẹ lo buôn bán, con do người giúp việc nuôi và giáo dục trực tiếp. Như thế, người ở đóng vai làm cha làm mẹ và làm thầy giáo của các đứa bé. Điều đó cho thấy th́ giờ cha mẹ dành cho con cũng như th́ giờ thầy dành cho đệ tử rất cần thiết, ảnh hưởng đến tư tưởng và nếp sống của thành phần son trẻ.

       Nếu thiếu ba điều kiện cần thiết nêu trên, một số đệ tử lớn lên, có thể sẽ trở thành hiện tượng mà tôi vô phép gọi là “Đường đường tăng tướng, dung mạo khả nghi” th́ rất đại họa cho Phật Giáo. Một cư sĩ lúc có hành động thiếu “đạo đức” chỉ mang tiếng cho một gia đ́nh. Nhưng một vị tu sĩ mô phạm thiếu hạnh, sẽ mang tiếng cho cả một tập thể.

       Người Phật tử được dạy rằng “y pháp bất y nhân” nhưng bên cạnh đó, họ cũng được giáo huấn “tăng đáo cũng như Phật Lai”, xem thầy như vị Phật sống. Nếu niềm tin hay thần tượng của họ bị sụp đổ th́ cả vũ trụ trong ḷng họ cũng sẽ đổ theo. Nói như ư của một triết gia, con người trụy lạc trong dục vọng, c̣n mất mát ít hơn là mất mát sự tin tưởng say sưa trong ḷng họ.

  1. Chưa có một chương tŕnh thiết thực đối với các Phật tử xa đô thị

       Nếu tại hải ngoại có vài nơi làm chùa không phải do nhu cầu tín ngưỡng mà v́ nhu cầu cá nhân, th́ ở trong nước cũng có vài nơi như thế. Một số tăng ni có đệ tử hay thân nhân ở nước ngoài, nên việc quyên góp tiền làm chùa hay tu bổ, nhiều lúc, trở nên một phong trào. Nhưng rất tiếc, là phong trào này chỉ chú trọng đến các tỉnh và đô thị lớn, c̣n các chùa làng, các nơi hẻo lánh xa thành phố rất ít được quan tâm, nhất là tại Bắc Việt, nơi đó t́nh trạng bị chiến tranh lâu năm và số người vược biên lại quá ít, nên sự cúng đường đóng góp của Phật tử nước ngoài, so với miền Trung và Nam, quả t́nh là quá cách biệt. Lục Tổ Huệ Năng dạy, Phật vô nam bắc, nhưng nhiều Phật tử Việt kiều chúng ta thích giúp tại địa phương ḿnh hơn là các nơi khác. V́ thế Phật Giáo miền Bắc ít phát triển về mọi mặt.

       T́nh trạng lập chùa mới, tu bổ chùa cũ thiếu sự phối trí đồng đều, th́ thành phần nhân sự cũng không kém phần trở ngại. Số lượng tăng ni tại Việt Nam trên 20 ngàn, nhưng có được bao nhiêu vị đủ tŕnh độ để làm trụ tŕ và giảng sư. Có được bao nhiêu vị chịu dấn thân đi đến các vùng quê để thuyết pháp độ sinh. Nhiều quận, xă thôn, 10 năm chưa thấy được bóng dáng một vị sư trong các buổi trong các buổi lễ, c̣n tại đô thị th́ t́nh trạng tấp nập với những chiếc áo nâu, áo vàng tung bay phất phới.

      1. VÀI GÓP Ư CẢI THIỆN

       Để cải thiện các khuyết điểm nêu trên, tôi xin đề nghị vài ư kiến thô thiển.

       

  1. Tùy theo nhu cầu tín ngưỡng, phương tiện tài chánh, số lượng tín đồ và hoàn cảnh kinh tế của quần chúng địa phương, để giới hạn hoặc gia tăng số lượng xây chùa mới, sửa chùa cũ. Phật Giáo là một tôn giáo đem vui cứu khổ, do đó, không nên làm những ngôi chùa quá nguy nga đồ sộ trước sự nghèo đói của quần chúng, và kêu gọi tín đồ cúng đường đóng góp quá nhiều hoặc làm chùa dư thừa như một vài nơi tại hải ngoại. Số lượng chùa th́ nhiều nhưng chẳng có bao nhiêu cái đáng giá.

  2. Phải có tiêu chuẩn tối thiểu về cơ sở vật chất, tài chánh và th́ giờ của một vị trụ tŕ lúc thu nhận đệ tử mới, phải trắc nghiệm, tập sự một thời gian trước lúc cho xuống tóc.

  3. Mở các khóa tu huấn cấp tốc và định kỳ, để bồi dưỡng kiến thức sư phạm mới cho quí vị giáo sư, giáo thọ của các trường Phật Học.

  4. Mở khóa giảng dạy bằng phương pháp hiện đại, đào luyện cấp tốc hoặc tu huấn cho quư vị trụ tŕ và giảng sư để cung ứng cho nhu cầu phát triển Phật Giáo và thăng tiến quốc gia trong thời đại mới. Nếu không có các khoá huấn luyện tu học th́ như đẩy người ra khơi mà không cung cấp hành trang.

  5. Mở lớp học hàm thụ cho các cư sĩ nhất là các vùng xa đô thị.

  6. Muốn phát triển mạnh, hài ḥa, không gây đàm tiếu, Phật Giáo Việt Nam trong và ngoài nước có nên suy nghĩ một ḍng tu mới bên cạnh ḍng thanh tịnh xuất gia hiện có? Ḍng này đặt tên là ḍng Pháp Sư (Dharma teacher) hay nói nôm na là thầy giảng đạo như mục sư Tin Lành. Ḍng pháp sư có quyền lập gia đ́nh, giới luật, nhiệm vụ và y phục khác với giới thanh tịnh, xuất gia. Thật ra đây không phải là điều mới mẻ. Nếu đọc sử Phật Giáo đời Trần, chúng ta thấy, vua Trần Nhân Tông, sư tổ phái Trúc Lâm, không những gọi ngài Tuệ Trung là pháp sư mà xưng tụng là Thượng Sĩ (tức là Bồ Tát) mặc dầu ngài Tuệ Trung có gia đ́nh vợ con. Phật giáo Nhật Bản mạnh, nhờ có sự cải cách. Nhiều vị thiền sư nổi tiếng của một môn phái thiền tại Nhật có gia đ́nh, mà điển h́nh là thiền sư Suzuki, đạo hạnh và tư tưởng của ngài nhất là bộ Thiền Luận đă dẫn hàng triệu người trí thức Tây Phương đến với đạo Phật. Hiện nay, Phật Giáo Tích Lan (tiểu thừa) tại Hoa Kỳ đang có khóa huấn luyện khoảng trên 20 vị pháp sư, và sư bà Karuna, đệ tử của cố H.T. Thiên Ân cũng làm lễ thọ giới cho vài vị (nam) pháp sư người Hoa Kỳ tại Los Angeles, California.

       Đây là một gợi ư mới mẻ đối với Phật tử Việt Nam trong nước, nhưng thời đại cũng cho thấy, cần phải uyển chuyển hợp khế lư khế cơ. Ai có thể thanh tịnh xuất gia càng quí, tấm gương mô phạm muôn đời, nhưng nếu không được trọn vẹn th́ nên công khai. Và vị nào từ hàng cư sĩ vào thọ giới và theo ḍng pháp sư một thời gian, nếu cảm thấy có thể thanh qui phạm hạnh được, th́ giáo hội sẽ làm lễ thọ giới để tiến lên hàng thanh tịnh xuất gia. Như thế, c̣n hơn là một vài chú mới xuất gia vài năm, nằm trong thế kẹt, tiến thối lưỡng nan. Nếu không có lối thoát đă dự liệu, Phật giáo sẽ gặp trở ngại lớn.

       

  1. Phật tử tại gia trong và ngoài nước nên qui kính Tam Bảo nhiều hơn nữa, xóa bỏ tất cả các dị biệt, nếu có, từ trước, tham gia tích cực vào các cương tŕnh hoằng dương Phật pháp vào thời đại. Ủng hộ các chương tŕnh bổ ích, cụ thể, từ chối tham gia các công tác Phật sự thiếu nghiên cứu và không thích hợp với khế lư khế cơ mà Phật đă dạy.

       Hải ngoại có khoảng gần một triệu Phật tử, nếu tất cả đều ư thức được vấn đề, nỗ lực và tích cực, thường xuyên mỗi năm, mỗi người đóng góp một Mỹ Kim (tổng cộng 1 triệu Mỹ kim mỗi năm) cho bảy chương tŕnh trên. Như thế, Phật Giáo Việt Nam mới có tầm vóc để góp phần vào việc làm tốt đời, đẹp đạo.

       

  1. Điều kiện của một giáo hội mạnh theo kiểu tôn giáo Tây Phương: Ki Tô Giáo (Thiên Chúa và Tin Lành) mạnh nhờ áp dụng năm điều kiện sau: Huấn luyện, Tổ chức, Đoàn kết, Có tiền, Cuồng tín. Đưa ra năm điều kiện trên, tôi không hàm ư là Phật Giáo muốn mạnh th́ phải bắt chước kẻ khác như những việc mà họ đă và đang làm:

       Thời đại này, họ áp dụng con đường xâm chiếm lănh thổ qua cuốn kinh Thánh và qua lá phiếu. Chúng ta hăy nghe lời phát biểu thấm thía của vị lănh giăi thưởng Nobel về ḥa b́nh năm 1984 là giám mục Desmond Tutu, đă than thở cho số phận các nước Phi Châu của ông như sau:

       “Chúng tôi có đất, các giáo sĩ có cuốn Kinh Thánh. Chúng tôi tin họ và cầu nguyện với cuốn Kinh Thánh trong tay và hai mắt nhắm lại. Lúc mở mắt, chúng tôi có cuốn Kinh Thánh c̣n các giáo sĩ có tất cả đất đai của chúng tôi”. (We have our lands and they came with their Bible. We believe in them and we pray with the Bible in our hands and our eyes closed. When we open our eyes, we have the Bible and they have our lands. Trích trong cuốn Tại Sao Không Theo Đạo Chúa trang 189, 1994).

       Ngoài ra một vài tổ chức có tính tôn giáo áp dụng sáu kế hoạch dài hạn và ngắn hạn như sau:

    1. Ném đá dấu tay, xúi dục kẻ khác chống Cộng để tạo mậu thuẫn. Mà tiếc thay nhiều người bị trúng kế, dọn cỗ cho họ xơi.

    2. Dùng phương tiện ngoại giao cấp cao làm giảm thiểu căng thẳng giữa đôi bên để bành trướng.

    3. Đút lót, hối lộ các cơ quan công quyền để phát triển.

    4. Đưa một số khoa bảng giúp việc cho các cơ quan nhưng thực chất là để lấy tin và làm nội gián.

    5. Tạo điều kiện, giúp phương tiện du học cho một số thành phần trẻ để trồng người, đợi chờ cơ hội chính trị lúc thời cơ đến.

      1. Thay đổi niềm tin người sắc tộc để lập các quốc gia nhỏ trong một quốc gia lớn.

       Phật Giáo không có và sẽ không bao giờ có các sách lược và kế hoạch thế tục nói trên, nhưng nêu ra để quí độc giả kiểm nghiệm.

       Nh́n vào các tổ chức Phật Giáo, chúng ta không tránh khỏi các điều buồn sau đây:

Hồng Ngọc

Nov. 15, 1996

***

PHẦN HAI

GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

 

THÍCH CHƠN THIỆN

 

VAI TR̉ CỦA GIÁO DỤC TRONG HƯỚNG PHÁT TRIỂN
CỦA PHẬT GIÁO

 

      1. PHÁT TRIỂN PHẬT GIÁO DƯỚI THỜI ĐỨC PHẬT

       Sau ngày giác ngộ, Đức Phật lên đựng “Chuyển vận bánh xe Pháp” hay “xây dựng Vương quốc trí tuệ” (Dhammacakka – pavattana) v́ hạnh phúc an lạc của số đông. Giáo hội Phật Giáo dưới sự lănh đạo của Ngài gồm có bốn chúng: Tăng, Ni, Nam và Nữ cư sĩ. Tăng sĩ th́ học Pháp, hành Pháp và hộ tŕ chư Tăng về đời sống vật chất (Thực Phẩm, áo mặc, chỗ ở và thuốc men). Có một Đoàn thể cư sĩ đặc biệt được thành lập để cùng tu học và giới thiệu Pháp đến với đời. Đức Phật đă dạy riêng “Tứ Nhiếp Pháp” (Bố Thí, Ái Ngữ, Lợi hành, Đồng sự) cho hai cư sĩ đắc quả A-na-hàm Hatthaka và Citta - để điều khiển các sinh hoạt của đoàn thể cư sĩ này. Như thế, Pháp đă được giới thiệu dưới ba h́nh thức:

       Mùa An cư mùa mưa là lúc chư Tăng phát triển việc học và hành pháp. Đây là h́nh thức “tu nghiệp” cho nghiệp vụ giáo dục. Đấy là con đường phát triển Phật Giáo, một đường hướng giáo dục con người, dưới sự hướng dẫn của Thế Tôn.

    1. HƯỚNG PHÁT TRIỂN PHẬT GIÁO NGÀY NAY VÀ NGÀY MAI

       Xă hội ngày nay đă thay đổi nhiều. Đời sống của Tu sĩ và Cư sĩ cũng theo đó đổi thay. Dù vậy, con đường phát triển Phật Giáo ngày nay và ngày mai vẫn cần đến mô h́nh cũ, thể hiện nguyên tắc “Tùy duyên nhi bất biến”, vẫn cần đến các điều kiện tất yếu như:

    1. VAI TR̉ GIÁO DỤC VÀ HƯỚNG PHÁT TRIỂN PHẬT GIÁO

       Từ các yêu cầu trên, hướng phát triển Phật Giáo thật sự cần dựa vào một đường hướng giáo dục được thực hiện quy mô, bao gồm các công tác Phật sự trọng điểm như:

  1. Kế hoạch đào tạo Tăng, Ni và Cư sĩ tài.

  2. Chương tŕnh và kế hoạch truyền Pháp đến với đời.

  3. Thể hiện thành truyền thống một nếp sống đạo cho hàng cư sĩ.

  4. H́nh thành một hệ thống giáo dục Phật Giáo (cơ sở, thư viện, kinh sách giáo khoa, giảng dạy và ngân sách điều hành và phát triển).

  5. Cấp Giáo phẩm có đủ điều kiện lănh đạo. Hàng cư sĩ đặc biệt đặc trách các công tác văn hóa, giáo dục, xă hội Phật Giáo theo hướng phát triển của xă hội.

  6. Kiết tập văn, sử và tư tưởng Phật học Việt Nam.

  7. H́nh thành Đại tạng kinh tiếng Việt.

       Nếu các Phật sự trọng điểm trên được thực hiện th́ điều kiện để tồn tại và phát triển của Phật Giáo sẽ liền có mặt. Xin trân trọng đóng góp một số thiển ư vào đề tài hội thảo. Xin cảm ơn Quí vị.

Thích Chơn Thiện

 

TRẦN TUẤN MẪN

 

MỘT SỐ NHẬN ĐỊNH VỀ VIỆC GIÁO DỤC

VÀ ĐÀO TẠO TĂNG NI

 

      1. LỜI MỞ ĐẦU

       Bài này nêu một số nhận định về việc giáo dục và đào tạo Tăng Ni, được tŕnh bày bởi một cư sĩ Phật tử chứ không phải một Tôn đức giáo phẩm. Do đó, các ư kiến trong nội dung có thể thiếu phần trang trọng và sâu sắc. Tuy vậy, với tấm ḷng thành luôn luôn muốn đóng góp vào công cuộc phát triển đạo Phật, người tŕnh bày có may mắn ở trong ngành sư phạm đă hơn 30 năm, trong đó có gần 10 năm tham gia vào việc soạn chương tŕnh, vào ban giám hiệu và ban giảng huấn của Trường Cao Cấp Phật học Việt Nam; lại nữa, do cơ duyên gắn bó với nhà chùa từ nhỏ theo truyền thống gia đ́nh, có nhiều người thân thuộc xuất gia, người tŕnh bày bài này nghĩ rằng có thể đóng góp một số ư kiến về việc giáo dục và đào tạo Tăng Ni, và may ra được sự đóng góp, chỉ giáo của chư Tôn túc cũng như hàng Học giả.

       Người tŕnh bày sẽ đề cập đến truyền thống giáo dục và đào tạo Tăng Ni từ thời Đức Phật và về sau, qua đó có minh họa tương đối kỹ hơn về việc giáo dục và đào tạo Tăng Ni tại Việt Nam.

      1. MỘT SỐ NÉT KHÁI QUÁT VỀ VIỆC GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TĂNG NI

       Kinh Itivuttaka có ghi lời Phật dạy rằng có ba hạng người xuất hiện ở đời đem lại hạnh phúc cho số đông, v́ an lạc của Trời và Người, đó là Đức Như Lai, chư vị A-La-Hán và chư Tỳ-kheo hữu học. Ở đây, chúng ta chú ư rằng Đức Phật trỏ đến vị trí quan trọng của Tỳ-kheo hữu học, tức là những vị c̣n cần phải tu học, cần phải được huấn luyện và đào tạo. Lại nữa, cụm từ quan trọng là “đem lại hạnh phúc cho số đông”, tức là chức năng xă hội của người tu sĩ Phật Giáo. Qua đó chúng ta thấy Đức Phật đă khẳng định rằng chư Tăng Ni cần phải được học tập, rèn luyện để tự thăng tiến và giúp người khác thăng tiến đến mục đích giải thoát tối hậu.

       Trong thời Đức Phật, ngoài một số vị A-la-hán xin Đức Phật vào rừng sâu, sống biệt lập để tu tập, chư vị đắc Thánh quả cũng như chưa đắc Thánh quả hầu hết đều trực tiếp hoặc gián tiếp (qua các Trưởng lăo) thọ nhận sự giáo dục của Đức Phật. Khi giáo đoàn chỉ mới gồm 60 vị Tỳ-kheo đắc Thánh quả, Đức Phật đă nhấn mạnh đến chức năng xă hội và chức năng giáo dục, đào tạo của chư vị mà dạy rằng chư vị hăy đi khắp nơi, v́ hạnh phúc của số đông… Nhưng ư nghĩa giáo dục và đào tạo nổi bật từ khi giáo đoàn Tỳ-kheo gồm 1250 vị trú tại Tịnh xá Veluvana do vua Bimbisara (Tần-bà-sa-la) dâng cúng và sau khi lễ an cư kiết hạ được thiết lập. Cũng từ đó, khi nhiều trú xứ của chư Tỳ-kheo được thiết lập ở các vùng xa, vùng nông thôn (àvasa) hoặc thành thị (àrama), hoặc về sau các trú xứ được gọi bằng một số tên khác thường là do kiểu dáng kiến trúc như Lena, Vihàra, Addhaya, Pàsàda, Hammiya vv… th́ bấy giờ người ta có thể xem là những cơ sở giáo dục nội trú theo nghĩa ngày nay.

       Cơ sở lớn và nổi tiếng nhất được xem như một đại học viện của Phật giáo là Nalanda ở Bắc Ấn Độ, vào thế kỷ thức 2 do ngài Long Thọ (Nagarjuna) làm viện trưởng. Về sau, Phật giáo bị suy vi tại Ấn Độ, th́ lại phát triển sang Tây Tạng, Miến Điện, Tích Lan, Trung Hoa, Việt Nam… và các cơ sở và hệ thống giáo dục Tăng Ni vẫn theo h́nh thức cũ, nhưng ở mức độ lớn nhỏ tùy theo từng địa phương, từng thời đại.

       Tại Việt Nam, Luy Lâu được xem là một Trung tâm nghiên cứu và truyền bá đạo Phật đầu tiên lại khá đồ sộ nhưng đứng về mặt giáo dục và đào tạo Tăng Ni th́ các ngôi chùa lại đóng vai tṛ cơ bản và quan trọng. Các ngôi chùa lần lượt được xây dựng, khởi từ vị khai sơn, vị trụ tŕ và một số ít Tăng chúng, sự giáo dục, truyền thọ h́nh thành trong từng chùa, biệt lập, đơn lẽ. Tuy thế, nhà chùa lại có thể được xem là những trường học đầu tiên của đất nước. Kể từ trước và suốt thời kỳ Bắc thuộc, nhân dân lầm than cơ cực, bị áp bức đủ mọi mặt, chỉ riêng giới tu sĩ Phật giáo tương đối đỡ bị khổ ải v́ sưu dịch do bấy giờ Phật giáo mới du nhập và phát triển ở Trung Quốc và giới tu sĩ ở đấy được kính trọng, có ảnh hưởng đến giới cai trị Bắc phương tại Giao Chỉ. Các vị sư Giao Chỉ được xem là những bậc trí thức v́ ngoài kinh điển, chư vị c̣n học đủ môn ngoại điển của người Trung Hoa, từ đó một số chùa c̣n thu nhận con em của dân trong xóm làng đến học.

       Đến khi đạo Phật hưng thịnh ở Việt Nam, các chùa chiền, các Thiền phái và các Tông phái phát triển, việc giáo dục, đào tạo Tăng Ni cũng được phát triển nhưng vẫn mang tính cục bộ, chưa có hệ thống rơ rệt. Công cuộc giáo dục và đào tạo Tăng Ni có khởi sắc vào thời kỳ chấn hưng. Năm 1920 đến 1934, tại Nam Kỳ, Ḥa Thượng Từ Phong ở đạo tràng Giác Hải Chợ Lớn dạy các Tăng sĩ. Ngài Khánh Ḥa mở lớp Phật học tại Bến Tre. Ngài Chí Thành cũng mở trường Phật học tại Bến Tre, đặc biệt có một trường Ni tại Bạc Liêu. Ngài Huệ Quang, ngài Khánh Anh cũng mở trường tại Trà Vinh, Long An, Phật học đường Lưỡng Xuyên mở lớp Tăng, lớp Ni riêng biệt. Tại Bắc Kỳ bấy giờ có 2 lớp tiểu học cho Tăng và cho Ni ở Phúc Yên, Hải Hưng. Chùa Quán Sứ mở trường Trung Học Phật Học, chùa Sở ở Hà Đông mở trường Đại học. Giáo dục Phật giáo tại Bắc Kỳ bấy giờ đă có cấp Tiểu học, Trung học và Đại học ngoài các khóa học trong các kỳ An cư. Tại Trung Kỳ, ta thấy có trường Trung đẳng Phật học tại B́nh Định (1937), trường Tiểu học Phật học tại Phan Rang, Phật học đường gồm 2 cấp Tiểu và Trung học tại Đà Nẵng, tại Huế, chùa Trúc Lâm mở trường An Nam Phật học sau đó là chùa Báo Quốc với chương tŕnh học có hệ thống hơn gồm 6 năm Tiểu học, 3 năm Trung học. Cấp Đại học cũng được mở và thu nhận được 10 Tăng sĩ. Ngoài ra, các chùa Vạn Phước, Tường Vân, Từ Đàm đều có mở trường Phật học.

       Từ thời chấn hưng Phật Giáo, sự giáo dục vào đào tạo Tăng Ni đă đi dần vào hệ thống. Chương tŕnh 3 cấp Tiểu, Trung và Đại ở các địa phương khác nhau cũng có nhiều nội dung giống nhau. Tuy vậy, số Tăng sinh mỗi trường lớp cũng chỉ từ vài ba chục đến một trăm; lại nữa, hầu hết các trường lớp không mở được lâu dài, phần lớn là do thời cuộc, do tài chánh, nhân sự. Từ những năm 50, 60, các Phật học viện, tu viện được tổ chức tương đối quy củ và có chất lượng, tuy vậy số Tăng Ni được đào tạo cũng rất hạn chế. Ta có thể kể: Phật học viện Việt Nam, tức Phật học viện Hải Đức Nha Trang (1956), Phật học đường Phước Ḥa ở Trà Vinh (1956), Tu viện Nguyên Thiều ở B́nh Định (1956), Ni học viện Tăng già ở Sài G̣n (1957), Ni học viện Từ Nghiêm ở Sài G̣n (1960). Sau đó, Phật học viện Pháp Hội, về sau chuyển sang chùa Xá Lợi, có một chương tŕnh Đại học Phật học khá hoàn bị và khi Đại học Vạn Hạnh được thành lập năm 1968 tại Saigon th́ giáo dục Phật giáo đă có cấp học cao nhất với nhiều phân khoa của Đại học đúng nghĩa.

       Công cuộc giáo dục Tăng Ni đến đây đă có bước tiến dài, nội dung Giới Định Tuệ được giảng dạy cụ thể, đầy đủ với tổ chức chặt chẽ, phương pháp sư phạm đúng đắn và lực lượng giáo sư, giảng viên khá mạnh. Cái mới nữa là Tăng Ni sinh c̣n được học nhiều môn ngoại điển, phù hợp với sự tiến triển của thời đại. Rơ ràng Đại học Vạn Hạnh ngoài số đông sinh viên nam nữ Phật tử gồm nhiều ngàn người, số Tăng Ni sinh ở phân khoa Phật học khá đông và ở các khoa khác cũng không phải là ít. Tuy nhiên, một hệ thống giáo dục Phật giáo đúng nghĩa vẫn chưa được h́nh thành về phần giáo dục và đào tạo cơ bản, tức là chưa thường xuyên và chưa có hệ thống tổ chức đối với các trường Sơ cấp, Trung cấp, Cao đẳng….

      1. VIỆC GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TĂNG NI HIỆN NAY Ở VIỆT NAM

       Từ sau ngày đất nước thống nhất, sau một thời gian khá dài vận động và chuẩn bị, đến năm 1981, Giáo hội PGVN được thành lập, thống nhất 9 tổ chức và hệ phái Phật giáo. Lại phải mất vài năm để củng cố, ổn định tổ chức và sinh hoạt, Giáo hội đă hoạt động khá mạnh mẽ và từ đó đến nay, đă đạt được nhiều thành quả khả quan. Nổi bật nhất là việc giáo dục và đào tạo Tăng Ni. Trong ṿng 10 năm trở lại đây, hiện đă có 23 trường cơ bản Phật học trên toàn quốc, 2 trường Cao cấp Phật học và hai lớp Cao đẳng Phật học. Đó là chưa kể các lớp Phật học riêng lẻ tại các chùa, các khóa đào tạo giảng sư của ban Hoằng Pháp và một số khoá chuyên ngành khác như y tế, từ thiện xă hội v.v… Như vậy công cuộc giáo dục và đào tạo Tăng Ni được tiến hành khá đồng bộ trên khắp cả nước. Số Tăng Ni sinh tại mỗi trường từ khoảng 60 đến 100, thậm chí có 2, 3, hay 5 trăm Tăng Ni sinh ở nhiều trường cơ bản. Trường Cao cấp Phật học đă đào tạo được 3 khóa ở TP. Hồ Chí Minh và 2 khoá ở Hà Nội. Số Tăng Ni sinh tốt nghiệp Cao cấp Phật học (tương đương với Cử nhân) tính đến hết khóa hiện nay khoảng 500 người. Một số đang theo học các khóa Cao học, Tiến sĩ Phật học tại Đài Loan, Nhật Bản, Sri Lanka và nhất là tại Ấn Độ (riêng tại Ấn Độ, số Tăng Ni nghiên cứu sinh hiện khoảng 30 người). Chương tŕnh học của các lớp cùng cấp, cách tổ chức điều hành, sinh hoạt của các trường tương đối giống nhau. Một ưu điểm nữa là các trường đều có dạy nhiều môn ngoại điển, phù hợp với xă hội, thời đại như văn, triết, sử, sinh ngữ, sinh thái, quản trị, văn minh, xă hội học. Đó là chưa kể các buổi ngoại khóa về một vấn đề thời sự, khoa học, văn học…

       Ngành giáo dục Tăng Ni chỉ trong ṿng 10 năm, đă đạt được những thành tựu tốt đẹp, mở ra những triển vọng mới đầy khích lệ. Tuy vậy, trong giai đoạn đầu của phát triển, những khó khăn, tồn đọng không phải là ít. Khó khăn tồn đọng lớn nhất của ngành giáo dục Tăng Ni hiện nay cũng như các ngành khác là khó khăn về tổ chức, nhân sự và tài chánh. Ba mặt này có liên hệ mật thiết với nhau v́ một mặt được phát triển, cải tạo th́ các mặt kia cũng được phát triển, cải tạo.

       Tăng Ni về sau phải trải qua những thăng trầm, thậm chí trong một thời gian dài, có khi việc đào tạo Tăng Ni chỉ có tính cục bộ, một vị Thầy dạy cho một hoặc hai đệ tử, nội dung giáo dục lẻ tẻ, rời rạc có khi như tách biệt với cuộc sống bên ngoài, và từ đó, có những lúc Phật giáo suy vi trầm trọng.

       Dù những khó khăn, hạn chế nói trên, ngành giáo dục Tăng Ni tại Việt Nam vẫn phát triển mạnh. Sở dĩ như vậy là nhờ quyết tâm, nỗ lực toàn thể Tăng Ni và Phật tử, do sự ủng hộ của nhiều cơ quan, tổ chức thân hữu trong và ngoài nước và do một số Tôn túc, chuyên gia có tài năng, đức độ và kinh nghiệm trong ngành giáo dục. Nhưng thành quả của công việc giáo dục và đào tạo Tăng Ni sẽ lớn hơn nhiều nếu những trở ngại trên được giải quyết.

       Sau đây là sơ phác một số điểm trong phương hướng phát triển ngành giáo dục và đào tạo Tăng Ni tại Việt Nam.

  1. Cần vận động tài chánh đủ cho các sinh hoạt giáo dục và đào tạo: Trung ương giáo hội cần kêu gọi sự hổ trợ của các ban, ngành, viện cho giáo dục. Các trường tăng cường sự vận động tài chánh. Giáo hội cần có cơ sở kinh tài để chi phí cho giáo dục. Các Tăng Ni sinh trước khi vào trường cần vận động thầy Tổ, người thân, Phật tử đóng góp tài vật cho nhà trường đều đặn để chia xẻ các chi phí với nhà trường.

  1. Tăng cường số lượng và chất lượng của đội ngũ giảng dạy, hành chánh, tổ chức; tăng cường chương tŕnh tu học, tu nghiệp và tham quan đến các cơ sở giáo dục Phật giáo ở nhiều nước bạn trên thế giới: mở các cuộc hội thảo, hội nghị giáo dục tại địa phương, trong nước và có tính quốc tế; mở rộng kế hoạch hợp tác, trao đổi văn hóa giáo dục các nước bạn.

  1. Soạn thảo, cải biến và thống nhất chương tŕnh học cho các cấp, từ Sơ cấp đến Đại học (hiện nay chưa có chương tŕnh Sơ cấp hay Tiểu học Phật giáo, các chùa đều phải tự lo đào tạo các chúng điệu, mức độ và nội dung không đồng bộ, c̣n tùy tiện theo hoàn cảnh của từng chùa).

  1. Cập nhật hóa chương tŕnh học cho phù hợp với sự phát triển của đất nước và thời đại; cần chuyên môn hóa thành từng ban hay khoa để có sự chuyên sâu trong đào tạo; ví dụ, có khoa dạy về nghi lễ, về công tác xă hội, về sư phạm, về hành chánh v.v…. Chương tŕnh ngoại điển cần thay đổi cụ thể cho phù hợp với thời đại để Tăng Ni sinh khi ra trường có thể dễ dàng truyền bá Chánh pháp, tham gia công tác xă hội, xây dựng đất nước và góp phần xây dựng ḥa b́nh, hạnh phúc cho thế giới.

  1. Tiến hành việc đổi tên các trường Cao Cấp Phật Học thành trường Đại học Phật học với các tổ chức, sinh hoạt đúng nghĩa của một Đại học (hiện nay, năm 1996, Thừa Thiên Huế đang chuẩn bị xin mở một Đại học Phật học, như vậy có thể trong thời gian tới, cùng với hai Trường Cao cấp hiện nay, sẽ có 3 trường Đại học Phật học trên cả nước).

  1. Và trên hết, cần giáo dục đạo đức cho Tăng Ni sinh. Những sa đọa đạo đức xă hội, nếp sống văn minh vật chất hiện nay có ảnh hưởng đến giới tu sĩ. Trong Giới Định Tuệ, Giới được kể làm đầu và từ thời đức Phật, nội dung đào tạo Tăng Ni, trước hết là giới luật, là đạo đức của người xuất gia. Kinh nghiệm cho thấy giáo dục đạo đức khó hơn giáo dục kiến thức kỹ năng và phần lớn các tu sĩ trở lại với đời sống tại gia đều là những người được đào luyện khá tốt về kiến thức và kỹ năng.

      1. KẾT LUẬN

       Xây dựng một nền giáo dục và đào tạo Tăng Ni vững mạnh là bổn phận của tất cả những ai lưu tâm đến sự phát triển của Phật Giáo. Người tu sĩ Phật giáo hơn ai hết là những Sứ giả của đức Như Lai, đem Chánh pháp đến cho đời, thực hiện thông điệp giải thoát của Đức Phật. Người tu sĩ Phật giáo cần phải được giáo dục và đào tạo để xứng đáng với chức năng cao cả đó.

       Ngành giáo dục Tăng Ni nước ta đang phát triển nhưng những khó khăn vẫn c̣n rất nhiều. V́ giáo dục là giáo dục con người và con người là con người đang sống với cộng đồng xă hội luôn luôn thay đổi, nên việc cải tiến nội dung giảng dạy, tổ chức, phương pháp và biện pháp giáo dục phải được thực hiện không ngừng.

Trần Tuấn Mẫn

 

Thích Nữ Karuma Dharma

 

SỰ HUẤN LUYỆN TU SĨ TÂY PHƯƠNG

 

       Sư Bà Karuna Dharma (Thích Nữ Ân Từ), Tiến Sĩ Phật Học, cựu giáo sư trung học, là một trong những đệ tử người Hoa Kỳ của cố H.T. Thích Thiên Ân. Qua bài viết “Sự Huấn Luyện Tu Sĩ Tây Phương” (The Training of the Western Monk), chúng ta sẽ thấy những giai đoạn có quy củ và chương tŕnh mà một sư bà người Hoa Kỳ qui y cho tín đồ, thu nhận đệ tử, cho thọ giới và cuộc sống hằng ngày của tu sĩ Phật Giáo. Một trong những điểm rất mới của Sư Bà là một nữ tu thọ kư và truyền giới cho nam tu sĩ và tùy theo căn cơ của đệ tử để cho thọ giới Tỳ Kheo hay giới Pháp Sư (Dharma Teacher). Bài viết bằng tiếng Anh, do đạo hữu Đoàn Văn B́nh chuyển ngữ.

       Quốc Tế Thiền Viện Phật Giáo tọa lạc trung tâm thành phố Los Angeles, như ngôi chùa ở một thành phố tân tiến, phương pháp đào tạo cũng phải uyển chuyển để thích ứng với hoàn cảnh. Tôi sẽ đi vào vấn đề này với ư thức rằng nó sẽ có khác với những trung tâm khác.

       Trung tâm này đến nay đă được 26 năm do cố Ḥa Thượng Thích Thiên Ân sáng lập và là Viện Trưởng cho đến năm 1980, ngài viên tịch. Là đệ tử thâm niên của ngài, tôi trở thành người kế vị từ năm 1981 cho đến nay. Phương pháp huấn luyện và tu tập ngày nay so với lúc Ḥa Thượng c̣n tại thế có đôi chút thay đổi. Tôi là giám viện, sau khi bị tai biến mạch máu cách đây mười ba năm, đă phải giao phó hầu hết công việc tại trung tâm cho vị thủ chúng là Sư Cô Thích Nữ Ân Tịnh (Sarika Dharma), cô cũng vừa mới qua đời sau một cơn bịnh. Bây giờ th́ công việc huấn luyện tại Thiền Viện lại phải giao cho môn đồ trẻ của tôi là Đại Đức Kusala Ratana Karuna, vị này sẽ thụ đại giới trong tháng tới, thay v́ phải đợi đến đại giới đàn tháng 12 năm 1997. V́ trung tâm cần phải có một vị Tỷ Kheo điều hành: tôi và Ḥa Thượng Ratanasara đă quyết định như vậy. Thêm nữa, các vị sư đă được sự huấn luyện của vị Phó Viện Trưởng, Tỳ Kheo Sri Lanka, T.Tọa Havanpola Shanti, Viện Trưởng Buddhist College, sư trưởng Sinhalese và Ḥa Thượng Havanpola Ratanasara. Tất cả đều là ban giáo thọ tại Thiền Viện này. Do đó học chúng ở đây gồm cả tiểu thừa và đại thừa.

       V́ là một Thiền Viện ở một thành phố lớn, phải tự lực cánh sanh, nên không phải tất cả chúng tăng đều ở tại Thiền Viện. Một số ở tại gia và đi làm. Đó là sự linh động mà cố Ḥa Thượng Thiên Ân đă tùy duyên hành xử trong việc thu nhập đệ tử. Tôi là người đến thụ huấn đầu tiên, khi tôi đang là giáo sư trung học. Vị thủ chúng, Sư Cô Sarika Dharma lúc đó cũng ở ngoài, đi dạy để nuôi hai con. Bây giờ, hai học tăng của chúng tôi cũng ở ngoài, đến Thiền Viện tu học một tuần vài lần. Số c̣n lại đều thường trú tại trung tâm, hiến cúng cả cuộc đời cho đạo pháp. Tất nhiên các vị sơ tâm ưu-bà-tắc, ưu-bà-di đều tu tại gia.

       Những ai muốn trở thành tăng sĩ đều phải trải qua một chương tŕnh tu học. Bước đầu là tín đồ, rồi ưu-bà-tắc (nam Phật tử), ưu-bà-di (nữ Phật tử), thọ tam qui, ngũ giới. Họ phải trải qua tối thiểu là sáu tháng nghiên cứu và thực hành Phật pháp. Họ phải tham dự ít nhất một khóa Thiền tập cuối tuần để chúng tôi giám sát giới luật. Mỗi năm có ba khóa Thiền chính: Lễ Phật Đản (Cuối tháng 5), lễ Vu Lan (cuối tháng 8) và lễ Thành Đạo (tuần thứ hai tháng 12).

       Sau một năm thử thách và đă tham dự ít nhất là một khóa hè tu tập, họ có thể xin xuất gia để theo học một năm Phật học về lịch sử và sự truyền bá Phật Giáo, tại Buddhist College, khóa này do tôi và Ḥa Thượng Ratanasara đảm trách, bắt đầu với những dữ kiện lịch sử Ấn Độ từ trước khi đức Phật xuất thế, cho đến sự bành trướng của đạo Phật suốt từ đó cho đến ngày nay. Qua khóa học này, học viên có thể hiểu được cách thức mà các tôn phái Phật Giáo được thành lập và tồn tại, cũng như giáo ư và lễ nghi Phật Giáo ngày nay ra sao… Lúc bấy giờ, năm vị giáo thọ của Thiền VIện sẽ truyền tiếp thêm ba giới cho học tăng.

       Bước kế tiếp là lễ thọ đại giới. Tôi thường từ chối sự thỉnh cầu đầu tiên của giới tử, v́ đó là một trách nhiệm nặng nề không biết tôi có thể gánh vác nổi không, sợ rằng tôi không có đủ thời giờ để theo sát đệ tử một khi họ sa ngă. Tôi phải cầm chắc rằng thí sinh đó đă có quyết tâm kiên cường, th́ mới dám nhận. Có một số người xin thọ đại giới không chân chính, hoặc v́ sự cung kính, hoặc tưởng rằng vị sư là người chỉ ngồi đó thiền định suốt ngày, hoặc bất măn cuộc đời, thất t́nh yếm thế, hoặc cũng có người làm ăn thất bại. Cho nên tôi phải giám định tâm lư, khả năng của họ một cách cẩn thận. Một khi tôi thấy người đó tâm lư ổn định, có khả năng, không bị nợ chồng chất, với quyết tâm bất thối, tôi mới chấp thuận. Thiếu một trong các điều kiện đó, tôi sẽ từ chối ngay.

       Ai đă trải qua được hai năm huấn luyện, sẽ được thọ giới kế tiếp cao hơn. Đến đây, thí sinh (giới tử) có hai sự lựa chọn hoặc, thụ 250 giới Tỳ Kheo, 348 giới Tỳ Kheo Ni hoặc thụ 25 giới làm Pháp Sư. Pháp Sư là một nhà truyền giáo, có thể có gia đ́nh b́nh thường, có thể để râu tóc chút ít, trang sức nếu muốn. Trong trường hợp ấy người đó nhận một áo vàng có giải đeo cổ, và một saffron kesa (tọa cụ) trong khi các vị Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni th́ nhận y vàng có sọc phước điền và tọa cụ.

       Sau khi thọ đại giới, Tỳ Kheo/Tỳ Kheo Ni rồi, th́ phải hứa thân cận bên bổn sư ít nhất là năm năm, phải tham dự các khóa tỉnh tu cũng như các lớp đào tạo. Họ cũng được giao phó một số nhiệm vụ mới tại Thiền Viện, phải chấp tác chủ nhật, coi sóc thư viện, nhang, đăng, v.v… Cũng có thể họ được biệt phái đi ủy lạo các lao xá địa phương, viết thư thăm hỏi tù nhân, đi thăm bệnh viện, hay bất cứ việc ǵ thích hợp. Tất cả mọi người có nhiệm vụ giữ ǵn sạch sẽ giảng đường, chánh điện, vườn tược. Thiền Viện có sân trước, vườn sau, có cây ăn trái, có hoa cần chăm sóc thường xuyên.

       Tăng chúng ai cũng sử dụng được máy điện toán (computer) và hệ thống internet để tra cứu, và liên lạc với thế giới bên ngoài. Công việc tương lai của Phật Giáo cần thiết phải sử dụng kỹ thuật tân tiến của thời đại.

       Trong mấy tháng hè tôi đảm trách các lớp cao cấp, mỗi tuần một buổi và tối thứ ba. Ngoài ra, tôi vẫn chủ tŕ các lớp nghi thức; tôi dạy họ tụng kinh, đánh chuông, mơ, chiêng trống, cũng như vài bài kinh tiếng Việt, để họ có thể cử hành các khóa lễ. Chúng tôi tụng kinh tiếng Việt ít thôi, v́ từ khi Ḥa Thượng Thích Thiên Ân viên tịch, chúng tôi không c̣n làm lễ cho cộng đồng Việt Nam nữa. Trong vài khóa lễ, chúng tôi tụng bằng tiếng Việt vài bài kệ ngắn như Kệ Dâng Hương, Tán Phật. Phần c̣n lại chúng tôi tụng kinh bằng tiếng Anh. Nghi lễ có đôi chút thay đổi để phù hợp và đồng thể với Hội Tăng Già. Tỷ dụ như bài tâm kinh, Heart Sutra, th́ chúng tôi tụng là “Because The Bodhisattva Follows Prajnaparamita… There is no fear and far from all fantasy…” Ngoài các nghi thức tụng niệm, các học viên c̣n phải đọc và thảo luận một số kinh sách và chủ đề quan yếu Phật pháp. Mỗi học viên tự chọn một kinh/sách nào đó nghiên cứu thật kỹ rồi thuyết tŕnh cho cả lớp nghe và cho biết họ tiếp nhận được ǵ.

       Hằng ngày Thiền Viện bắt đầu bằng khóa kinh sáng, tọa thiền từ 7 giờ đến 8 giờ 30. Tiếp đó, mỗi vị tự sửa soạn bữa điểm tâm của ḿnh, rồi bắt đầu chấp tác lúc 9h sáng. Đến chiều, dự lớp học từ 6 giờ 30 cho đến 9 giờ tối. Và kết thúc mỗi ngày bằng một giờ tọa thiền từ 9 giờ 30 đến 10 giờ 30 tối. Chủ nhật, chúng tôi có khóa tụng kinh, tọa thiền từ 9 giờ đến 10 giờ 30, tiếp theo là khóa lễ chủ nhật vào lúc 11 giờ.

       Đến nay, sau 15 năm từ khi cố Ḥa Thượng Viện Trưởng viên tịch, chúng tôi mới tổ chức được một Đại giới đàn đầu tiên, cách đây hai năm. Đó là một vinh hạnh lịch sử đối với Thiền Viện này, một Đại giới đàn do một phụ nữ tổ chức và truyền giới. Ḥa Thượng Ratanasara đóng vai giáo thọ. Ḥa Thượng Ahangama Dhammarama, Sri Lanka, và Ni Sư Thích Nữ Diệu Từ, Sacramento đồng làm phó giáo thọ. Chức giám luật do Hoà Thượng Yin Hal, Trung Hoa và Ni Sư Inquon Lee Sunim, Đại Hàn, đồng thủ diễn. Tại Đại giới đàn này, có tám vị thụ Tỳ Kheo Ni giới trong giáo phái Tibet (Tây Tạng), bốn phụ nữ Việt Nam mà một vị là Ni Cô Tiểu Thừa (Theravada). Có hai vị thụ giới Tỳ Kheo, một Hoa Kỳ, một Việt Nam; hai vị được thụ phong Pháp Sư, hai vị Sramaneras (Sa Di), hai vị Sramanerikas (Sa Di Ni), tám vị Attha Sillas, tất cả là người Mỹ. Ḥa Thượng Ratanasara và tôi chủ tŕ đại lễ, nói lên một biểu tượng cho một giới đàn liên tôn đầu tiên.

       Mỗi giới tử nhận pháp hiệu do bổn sư họ đặt cho và được viết lên chiếc áo cổ truyền của tôn phái họ. Do đó, họ đều được truyền thừa, bất kể là truyền thừa nào. Làm như thế, chúng tôi thừa tiếp các tôn phái Phật Giáo. Có Theravada (Tiểu Thừa), có Mahayana (Đại Thừa), có Vajrayana (Kim Cang thừa), tất cả đó đều là bản thể của Phật pháp, tượng trưng cho sự b́nh đẳng của Đại lễ.

       Tôi tin rằng Đại lễ đó là tiêu biểu đồng thể mà cả nước Mỹ sẽ trông vào. Thứ Nhất, phụ nữ đóng vai tṛ quan trọng trong Phật Giáo, không phải chỉ là Nam Pháp Sư, hay chỉ coi bếp núc. Nếu Phật Giáo mà thành công ở đất nước này th́ phải bỏ quan niệm về giới tính, và phải có sự b́nh đẳng giới tính. Thứ hai, đây là lần đầu tiên mà các Sư Hoa Kỳ truyền giới cho đệ tử và tín đồ Hoa Kỳ, đó mới thực sự là hạt giống Phật pháp được gieo trồng vào trong tim của Mỹ quốc. Ḥa Thượng Thích Thiên Ân đă dạy chúng tôi rằng Phật pháp chỉ thực sự được hoằng dương một khi mà đệ tử của ngài truyền giới cho đệ tử của họ. Các giới tử có pháp hiệu theo bổn sư của họ: tận cùng bằng Karuna, Sarida hoặc Ratanasara. Thật là một Đại lễ đặc biệt, được đệm nhạc bởi Chrys, cô là đứa bé đầu tiên mà Ḥa Thượng Thích Thiên Ân đă quy y cho.

       Trong khi chúng tôi diễn hành từ Zendo (thính đường), nơi mà các giới tử được bổn sư làm lễ thọ kư, đến Vinaya Hall (đại điện) trong một điệu nhạc trầm hùng, 100 bồ câu trắng được phóng sinh, bay lên trời cao. Khung cảnh đó thật đă làm cho người xem náo nức. Buổi lễ cũng được xen lẫn bởi các vũ điệu Trung Hoa và Sri Lanka cung nghinh Phật bảo và tăng bảo. Đại lễ kéo dài ba giờ đồng hồ theo nghi thức truyền thống trong sự tán thưởng của dân chúng địa phương.

       Một sự thay đổi khác là đường hướng đào tạo của trung tâm. Tôi không bao giờ quyết định một điều ǵ mà không tham vấn với các chức sắc các tự viện khác. Mọi quyết định liên hệ đến Tăng già đều được quyết định bởi tất cả các đoàn thể chúng tăng, tự viện, kể cả công việc hiệu đính các kinh sách tụng niệm, theo thể thức đầu phiếu.

       Thiền Viện rất chúng trọng đến cách thức huấn luyện tín đồ, và cộng đồng nếu nói rộng ra. Tại đây, những người thường trú lâu năm cũng tổ chức lễ Thanksgiving (lễ Tạ Ơn), chúng tôi vừa ăn những món truyền thống Thanksgiving, vừa ăn các món chay. Đă hai năm nay đa số họ về với gia đ́nh trong lễ Thanksgiving, nên chúng tôi đă không tổ chức lễ tại đây. Viện cũng tổ chức lễ Giánh Sinh (với cây Giáng Sinh và các quà tặng) khi có nhiều em nhỏ cư trú, và chúng tôi giải thích cho các em tham dự rằng cây Giáng Sinh không phải là lễ của người theo đạo; nó tượng trưng cho một tinh thần yêu thương, quần tụ…

       Chúng tôi trở nên năng động trong một cộng đồng rộng lớn, tham dự lễ “Lotus Festival”, lễ “L.A. Asian”, lễ “Pacific Islanders Festival”, lễ “Mở Mắt Rồng”, lễ “Đua Thuyền Rồng” v.v… Chúng tôi dự lễ theo y phục của ḿnh, và thường được giải “Y Phục Đẹp Nhất”. Năm đầu chúng tôi mặc y phục như ngài Tam Tạng thỉnh kinh, theo sau với các người ăn mặc như khỉ, lợn v.v…. Năm ngoái, chúng tôi hóa trang như những tên hải tặc trên con tàu với một nhà sư Trung Hoa đứng ở đầu tàu. Trên những hóa trang bằng T-shirt màu vàng có câu “Ai đă thực sự t́m ra Mỹ Châu?” Năm 458 nhà sư Trung Hoa pháp hiệu là Fa Sang đă du hành từ Alaska đến Mexico với năm vị Tỳ Kheo. Năm 1100 Erik In Red du hành đến bờ biển miền đông (East Coast). Ba năm qua, chúng tôi tổ chức lễ Halloween cho những người vô gia cư và trẻ em bất hạnh. Chúng tôi cũng đóng vai tṛ chính trong ngày “The Day of Hands Across L.A.” (nối lại ṿng tay) biểu trưng cho một sự tự hào chống lại sự nổi dậy rối loạn của vùng Trung Nam… Chúng tôi c̣n đưa bàn tay tới các ngục thất trong vùng bằng cách viết thư thăm hỏi, biếu họ sách vở, và những đồ dùng khác, qui y cho họ bằng điện thoại một khi họ đă nắm được một số giáo lư căn bản. Đại Đức Kusala đến giảng cho phạm nhân ở khám Lancaster.

       Chúng tôi cũng rất hăng hái trong những công tác liên tôn và liên hữu Phật Giáo. Theo tôi, ở Hoa Kỳ, tất cả giáo phái phải đứng lên cùng một giới tuyến, cùng hiểu biết tương trợ lẫn nhau kể cả những bằng hữu không phải là Phật Giáo. Chúng tôi tích cực tham dự các buổi hội thảo “Phật giáo – Cơ Đốc Giáo” mỗi tháng một lần từ năm năm qua.

       Chúng tôi khuyến khích tăng tín đồ hăy hoà nhập và tham dự các hoạt động xă hội, song song với nỗ lực đem giáo pháp của Phật cúng hiến cho thời đại, và cho sự khủng hoảng trầm trọng về tín ngưỡng của người Tây Phương hiện nay.

Karuna Dharma

Oct. 1996

 

HUYỀN CƯƠNG LÊ TRỌNG CƯỜNG

 

DỊCH, TỤNG, GIẢNG KINH VÀ TIẾN HÀNH NGHI LỄ PHẬT GIÁO

BẰNG TIẾNG VIỆT

 

        Một Cuộc Cách Mạng Lớn Lao và Bức Thiết

       Sau ngày đất nước thống nhất, một người bạn cũ của tôi, nhà trí thức ở Sài G̣n, có hỏi tôi: “Hồi cuối thập kỷ 50 anh học Đại Học Bách Khoa Hà Nội th́ học bằng thứ tiếng (ngôn ngữ) ǵ? Hẳn là không dùng tiếng Pháp, tiếng Anh. Vậy dùng tiếng Nga hay tiếng Tàu?”. Tôi trả lời: “Tiếng Việt”’. Anh bạn tṛn mắt ngạc nhiên: “Không rỡn đấy chứ? Đại học Luật Khoa, Văn Khoa có từ thời Pháp, th́ học bằng tiếng Việt c̣n có thể tin, chứ khoa học - kỹ nghệ th́ tiếng Việt đâu có đủ từ để diễn đạt!”

       Ngang đây, có thể thấy rằng tầm nh́n của người lănh đạo quả là quan trọng đối với nhịp độ phát triển ngôn ngữ dân tộc. Tôi c̣n nhớ những ngày đầu Việt Nam hóa giáo dục đại học, không ít người thiếu tin tưởng vào sự thành công của sự nghiệp lớn lao, đầy khó khăn này. Nhà nước đă có chủ trương đứng đắn và truyền trao được quyết tâm của ḿnh tới đội ngũ trí thức Việt Nam hồi đó, đă khơi dậy và nuôi dưỡng phong trào viết sách, giảng dạy và học tập bằng tiếng Việt trong các trường đại học, cả khoa học xă hội lẫn khoa học tự nhiên. Bước đầu bao giờ cũng đầy chông gai, gian khổ. Nếu ngại vất vả, thiếu tự tin, không mạnh dạn bắt tay tháo gở khó khăn th́ chẳng thể có được thành tựu như ngày nay. Như đă thấy, theo thời gian, ngôn ngữ Việt Nam từng bước vượt qua bao thử thách gian nan, để hôm nay đây nh́n lại không khỏi tự hào. “Ngày nay đất nước Việt Nam hoàn toàn độc lập… Người Việt Nam đă có một thứ chữ (ngôn ngữ) riêng, đủ sức diễn đạt tư tưởng của dân tộc ta. Chữ quốc ngữ có khả năng phiên dịch các loại sách văn hóa, khoa học, triết học, tôn giáo… của nước ngoài. Đây là một vinh hạnh lớn lao cho xứ sở ḿnh, mà tổ tiên ta chưa từng có” (HT Thích Thanh Từ - Diễn văn khai mạc lễ khánh thành Thiền Viện Trúc Lâm Đà Lạt – 1994).

       Gợi nhớ đôi nét trong quá tŕnh phát triển ngôn ngữ Việt Nam mấy chục năm qua theo đà vươn lên của đất nước, với ḷng quyết tâm của cả dân tộc tự khẳng định ḿnh trên trường quốc tế, là để tạo màu nền cho câu chuyển bàn về vấn đề tiếng Việt trong việc cập nhật hóa cách thái hoằng truyền đạo Phật ở nước ta hôm nay.

       Cũng như bất kỳ công cuộc truyền bá tư tưởng nào, sự nghiệp xiển dương Phật pháp ở nước ta xưa và nay đều vấp phải một trở ngại lớn lao và rất cơ bản. Đó chính là hàng rào ngôn ngữ. Điều này, có thể nói, là kết quả của một quá tŕnh lịch sử nhiều thế kỷ dân tộc ta đă trải qua. Nhưng tư tưởng ngần ngại, khi phải thay đổi một thói quen huân tập bao đời “sính dùng kinh sách chữ Hán”, cũng là một nguyên nhân nổi rơ.

       Do hoàn cảnh lịch sử, hầu hết kinh sách Phật giáo truyền tới nước ta từ trước đến nay đều thuộc ḍng Bắc truyền Hán tạng do người Trung Hoa phiên dịch từ chữ Phạn (Sanskrit) sang chữ Hán. Người Việt xưa chịu ảnh hưởng ngàn năm Bắc thuộc cũng quen dùng chữ Hán diễn đạt tư tưởng ḿnh, nên các tăng ni và nho sĩ đọc kinh sách chữ Hán không gặp trở ngại đáng kể. Tuy nhiên trên giác độ hoằng pháp cũng dễ dàng thấy rằng những tư tưởng cao siêu trong kinh sách Phật giáo khó có thể thấm sâu trong quảng đại quần chúng phật tử b́nh dân do hàng rào ngôn ngữ này. Chính đó là kẽ hở để mê tín dị đoan có thể xen vào, làm méo mó h́nh ảnh phong trào Phật giáo nước ta, mà lịch sử đă hơn một lần ghi lại sự kiện Nhà Nước và những nhà hoạt động Phật giáo chân chính phải bận tâm giải quyết.

       Những chiến thắng quân sự vang dội thời Lư Trần chẳng những giữ vững nền độc lập chính trị của tổ quốc mà c̣n tạo điều kiện để dân tộc Việt Nam ngẩng cao đầu khẳng định nền độc lập về văn hóa và tôn giáo. Đời Trần không chấp nhận lệ thuộc nước ngoài về bất cứ phương diện nào, kể cả tôn giáo. Trong tinh thần tự chủ - tự cường lên cao đó, ḍng Thiền Trúc Lâm Yên Tử ra đời. Đó là ḍng Thiền duy nhất do thiền sư Việt Nam thành lập, cô đọng những nét tinh túy nhất của Phật giáo Việt Nam thời ấy. Các nhà lănh đạo đời Trần chủ trương học cái hay của người để biến thành cái hay của ḿnh. Chính nhờ quá tŕnh “biến thành” này mà lịch sử c̣n ghi lại những áng thơ, văn, luận, kệ Phật được sáng tác bằng chữ Nôm (tiếng Việt được viết theo kiểu chữ Hán). Tuy số lượng chưa nhiều nhưng sự có mặt của chung góp phần tạo thêm sức mạnh cho công cuộc hoằng truyền đạo pháp thấm sâu trong đại chúng, và Phật giáo đời Trần đă nổi lên như những trang rạng rỡ nhất trong lịch sử Phật giáo Việt Nam.

       Từ khi giao lưu với phương Tây, dần dần người Việt Nam đă có chữ viết theo bộ chữ cái La Tinh (chữ quốc ngữ). Vào quăng giữa và cuối thế kỷ 20, các nhà hoạt động Phật giáo Việt Nam đă cố gắng nhiều trong công việc dịch thuật kinh luận ra chữ quốc ngữ và dấy lên làn gió mới chấn hưng Phật giáo. Bước phát triển này với những gương mặt tiền phong đáng kính, như BS Tâm Minh Lê Đ́nh Thám, cụ Tuệ Nhuận Văn Quang Thùy, cụ Thiều Chửu, và nhiều vị khác nữa, đă in một dấu son trong lịch sử Phật giáo Việt Nam cận đại. Tuy nhiên, đó mới chỉ là những bưới đi ban đầu trong sự nghiệp dịch thuật kinh sách ra tiếng Việt, nên không thể tránh khỏi những hạn chế của nó. Hầu hết trong các bản dịch kinh luận thời ấy tồn tại một tỷ lệ lớn các từ Hán Việt, và nhất là phong cách biểu đạt c̣n chưa thoát khỏi ảnh hưởng của cấu trúc ngôn ngữ Hoa Hán. V́ vậy, nh́n chung chúng c̣n khá xa vời so với tiếng Việt phổ thông hiện đại. Có thể nói, phần lớn các bản dịch kinh luận Phật Giáo giai đoạn này vẫn gần giống như bản phiên âm Hán Việt viết bằng chữ quốc ngữ. Thực trạng đó làm giảm đáng kể sức mạnh hoằng truyền chính pháp trong đại chúng.

       Trong số các tăng ni, Phật tử đọc tụng kinh luận hằng ngày, không ít người có thể thuộc nằm ḷng cả bản kinh dài dăm, bảy, có khi tới cả chục trang sách phiên âm Hán-Việt, hoặc những bản thần chú bằng tiếng Phạn, Pali, hoặc bằng phiên âm Hán- Việt, nhưng kỳ thực chẳng hiểu nội dung nói ǵ, nếu không muốn nói là hiểu sai. Trong lời nói đầu cuốn Bát Nhă Dư Âm, NXB Hà Nội – 1995, HT Thích Phổ Tuệ đă dũng cảm bộc bạch: “Bát-Nhă Ba-La-Mật-Đa Tâm Kinh chính là đoạn văn tâm điểm, thiết yếu… thường được tŕ tụng, nhưng tôi vẫn chưa hiểu nghĩa lư ǵ”.

       Khi được hỏi lư do v́ sao ưa đọc kinh bằng âm Hán-Việt và tŕ chú bằng tiếng Phạn, Pali hoặc phiên âm Hán-Việt, một số Phật tử đă thật ḷng trả lời. Dưới đây tôi xin được phép tóm tắt mấy ư chính trong các lời đáp ấy:

  1. Để tăng thêm tính trang nghiêm trong lúc tu hành. Nếu dùng tiếng Việt e giảm bớt sự nghiêm cẩn, v́ xưa có câu “Nôm na là cha mách qué”.

  2. Tụng kinh, đọc chú bằng tiếng Việt sợ chư Phật-Tổ không hiểu, nên không gia hộ cho người tu chóng được quả Thánh.

       Ôi! Đêm dài nô lệ đă qua lâu rồi, mà tàn dư tư tưởng của nó vẫn c̣n hằn sâu trong tâm trí một số người, để đến bây giờ không ít người c̣n nghĩ rằng “Nôm na là cha mách qué”, rằng tụng kinh tiếng Việt giảm đi tính nghiêm cẩn! Đúng là “vô t́nh chúng ta bị lệ thuộc văn hóa nước ngoài một cách đáng tiếc” (HT Thích Thanh Từ, tlđd).

       Thử hỏi trong câu chuyện thường ngày giao tiếp ở những nơi trọng thị, trong các văn bản chính thức, Nhà Nước, trong các sách được dùng trên các giảng đường đại học về triết học, khoa học - kỹ thuật… ta đang dùng thứ ngôn ngữ ǵ, nếu không phải là tiếng Việt? Vậy mà có ǵ là “mách qué”, có mất đi chút nào tính nghiêm cẩn?

       Phật dạy: “Tất cả chúng sinh đều có Phật tính”, Tổ Bồ-Đề Đạt-Ma cũng từng nói: “Không có Phật ngoài tâm… Bỏ tâm, t́m Phật ở nơi ngoài là mê sảng… Không có sự giác ngộ nào ở ngoài tâm linh động”. Vậy th́ tụng kinh, tŕ chú là để ai nghe, ai hiểu, ai huân tập, ai chuyển nghiệp, ai chứng ngộ, nếu không phải là chính người tu và các bạn cùng tu? Vậy “tại sao chúng ta không mạnh dạn thay đổi nghi lễ cúng tụng thành ra tiếng Việt cho mọi người dễ hiểu, dễ cảm thông?” (HT Thích Thanh Từ, tlđd).

       Thời chuyển pháp luân Đức Phật thường nhắc các đệ tử phải tự ḿnh thắp đuốc mà đi, không ai có thể tu thay ḿnh được. Nếu tin và ỷ lại vào sự gia hộ của chư Phật Tổ là hoàn toàn trông cậy ở sự trợ giúp từ bên ngoài (tha lực), người Phật tử sẽ mất dần ḷng tự tin. Đây chính là môi trường thuận lợi cho các loại “trái độc” mê tín dị đoan sinh sôi nảy nở, cản trở bước đường tiến tu của hành giả.

       Mới đây Trung Ương Giáo Hội Phật Giáo đă chỉ đạo việc phiên dịch và ấn hành Đại Tạng Kinh Việt Nam, cùng một số kinh khác. Nghi thức tụng kinh hai thời: buổi trưa (Tâm Kinh Bát Nhă) và buổi tối (Nghi Thức Sám Hối – Vua Trần Thái Tông) đă được dịch hoàn toàn ra tiếng Việt và được thực hành tại Thiền Viện Trúc Lâm Đà Lạt. Những sự kiện ấy quả là những tấm gương sống động, đầy sức thuyết phục đáng để các chùa, các viện khác và những ai c̣n do dự noi theo.

       Bước đầu c̣n nhiều khó khăn nên không thể cầu toàn. Dù chưa thực hoàn hảo, th́ sự có mặt các kinh luận tiếng Việt cũng là đáng khích lệ lắm rồi. “Điều đó giúp người đọc và người nghe dễ hiểu, dễ thâm nhập… Trong sự chuyển dịch buổi đầu không tránh khỏi chói tai người nghe (v́ chưa quen tai) và c̣n nhiều thiếu sót, song chúng tôi bạo dạn tạo một cái nhơn nhỏ, mong sau này sẽ đâm chồi, nảy tược nhiều hơn… Chúng tôi cố làm sống lại những cái hay, cái đẹp của tổ tiên ḿnh, đồng thời Việt hóa nghi thức tu hành để tránh cái lỗi tha hóa lâu nay chúng ta vấp phải” (HT Thích Thanh Từ, tlđd).

       Đó là những dấu hiệu đáng mừng, làm thay đổi quan trọng t́nh trạng tŕ trệ bấy nay trong việc dịch thuật kinh luận và tiến hành nghi thức tu hành, góp phần tạo thêm sức mạnh trong sự nghiệp hiện đại hóa Phật giáo Việt Nam. Phải chăng đó là những dấu hiệu mở đầu một cuộc cách mạng lớn lao và bức thiết đối với cách thái truyền bá Phật pháp, dấy lên một phong trào mạnh mẽ, sâu rộng trong giới Tăng Ni, Phật tử nay mai?

       Dịch thuật kinh luận Phật Giáo quả là một công việc thầm lặng và đầy khó khăn, gian khổ. Như trên đă nói, tuy nguồn gốc kinh luận là từ Ấn Độ, viết bằng chữ Phạn, nhưng phần lớn có mặt ở nước ta lại là kinh bản Hán tạng. Đặc điểm của ngôn ngữ Hoa-Hán là rất hàm súc, nhưng ngữ pháp thiếu chặt chẽ, vắng mặt các dấu ngắt câu, do đó nhiều khi khó hiểu và dễ gây lầm lẫn đáng tiếc cho người đọc. Người xưa thường nói ba lần chép lại coi như mất gốc (tam sao thất bổn), huống chi là dịch thuật. Hơn nữa, không phải chỉ dịch một lần, mà thực tế có thể là hơn hai lần. Ví dụ, từ chữ Phạn dịch sang chữ Hán, rồi từ chữ Hán chuyển sang âm Hán-Việt, cuối cùng dịch sang tiếng Việt. Vả lại trước đây không có nguồn tài liệu nào khác để đối chiếu, tham khảo ngoài nguồn Hán tạng.

       Trong dịch thuật, nhất là dịch kinh luận, số lượng nguồn tài liệu tham khảo nhiều khi đóng vai tṛ đáng kể, thậm chí quyết định, đối với chất lượng bản dịch. Trước đây do nguồn tư liệu hạn hẹp trong khuôn khổ Hán tạng, cho nên gặp chỗ khó khăn dịch giả thường t́m lối thoát bằng cách dịch âm Hán-Việt trong các bản dịch c̣n quá nhiều.

       Ngôn ngữ nói của người Việt cổ đă có từ xa xưa. Ngàn năm Bắc thuộc đẩy tiếng Việt xuống hàng thứ yếu, chỉ phát triển chậm chạp và tiềm tàng trong dân gian một cách tự phát. Khi có chữ viết La-tinh hóa, tiếng Việt mới được chấn hưng và phát triển có tổ chức. Vai tṛ tiếng Việt trong đời sống văn hóa Việt Nam ngày càng được củng cố và năng cao. Tuy nhiên giai đoạn đầu và giữa thế kỷ 20, vốn từ vựng tiếng Việt c̣n thiếu trầm trọng, nhất là mảng khái niệm trừu tượng. Thực tế lịch sử đó cũng là một nguyên nhân khách quan dẫn tới t́nh trạng một số bản dịch kinh luận không khác là bao so với bản phiên âm Hán-Việt.

       Bên cạnh hoàn cảnh khách quan đă mô tả ở trên, cũng phải kể đến nguyên nhân chủ quan người dịch. Nếu như người dịch thiếu một kỹ năng thành thạo, một thói quen dùng từ gốc Việt, hoặc chưa nhuần nhuyễn sử dụng cấu trúc câu tiếng Việt trong việc diễn đạt những tư tưởng, những khái niệm trừu tượng, vi diệu như trong kinh luận Phật giáo, và nhất là chưa xây dựng cho ḿnh một quan niệm đúng đắn đối với vai tṛ tiếng Việt, một ư thức tự cường dân tộc, th́ dù người ấy có tŕnh độ nho học uyên bác đến đâu cũng dễ rơi vào t́nh trạng bê nguyên từ vựng và cấu trúc ngôn ngữ Hán vào bản dịch. Thật đáng tiếc, giờ đây hiện tượng này vẫn c̣n tồn tại!

       Dịch như thế tuy giúp cho người không biết chữ Hán “phát âm” kinh luận một cách dễ dàng, nhưng chẳng giúp ǵ cho việc t́m hiểu kinh luận; khác nào ngay khi giúp phá bỏ bức tường dày đặc, th́ lại dựng một hàng rào thép chặn đứng, làm cho người tu khó bề vượt qua, nói chi tới việc thể nhập chân lư, thoát khỏi mê lầm.

       Như vậy, dịch thuật kinh luận Phật giáo đ̣i hỏi ở người dịch, ngoài tri thức uyên áo về Phật học, kỹ năng nhuần nhuyễn trong biểu đạt ngôn ngữ Việt và có nhiều nguồn tài liệu (thông tin) tham khảo, c̣n cần một tinh thần làm việc tự giác, giác tha cao cả, theo gương bi, trí, dũng của Đức Phật trong thời chuyển pháp luân.

       Nói theo ngôn ngữ thời đại, dịch thuật kinh luận theo tinh thần này thực chất là tiến hành một cuộc cách mạng lớn lao và bức thiết đối với công cuộc hoằng pháp, nhằm cập nhật hóa ngôn ngữ Phật giáo trong kinh luận, tạo ra công cụ sắc bén để phổ biến chính pháp, tránh được những hiểu lầm cho người tu, hạn chế những mê tín dị đoan đáng tiếc. Đối với bản thân người dịch, dịch thuật theo tinh thần này cũng có thể coi là một cuộc “lột xác” thực sự, để từ bỏ một quan niệm, một thói quen cố hữu, một lề lối dịch thuật đă có từ xưa, xây dựng một phong thái, một chất lương dịch thuật mới hoàn toàn Việt Nam, đầy sức thuyết phục. Chỉ theo tinh thần đó, nay mai Phật giáo Việt Nam mới mong có cơ hội đóng góp vai tṛ quan trọng của ḿnh đối với sự nghiệp bảo tồn và phát triển nền văn hóa truyền thống của dân tộc trong bối cảnh đất nước mở cửa hiện nay.

       Một khi giao lưu giữa các dân tộc được phát triển th́ hiện tượng thâm nhập giữa các ngôn ngữ là điều đương nhiên, nhất là ở những quốc gia láng giềng, có mối quan hệ lịch sử lâu đời, như Việt Nam và Trung Quốc. Chính hiện tượng thâm nhập ngôn ngữ giúp cho ngôn ngữ mỗi nước thêm phong phú. Tuy nhiên không v́ thế mà ỷ lại, cứ bê nguyên văn hoặc phiên âm kinh luận chữ Hán để dùng.

       So với trước đây, công việc dịch thuật kinh luận Phật giáo ngày nay thuận lơi hơn nhiều nhờ những nguồn tài liệu khác ngoài nguồn Hán tạng. Trên thế giới đă có rất nhiều kinh Phật được dịch từ chữ Phạn, chữ Pali sang tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Đức… lưu hành rộng răi. Như mọi người đều biết, các ngôn ngữ Ấn-Âu có đặc điểm là ngữ pháp chặt chẽ, sáng sủa, ít gây nhầm lẫn cho người đọc. Tham khảo và đối chiếu các nguồn tài liệu khác nhau sẽ giúp người dịch nắm đúng ư kinh, giải tỏa những khó khăn gặp phải trong lúc dịch. Ngoài ra, việc tham chiếu c̣n giúp người dịch chọn được cách biểu đạt hay nhất, đúng nhất, xứng hợp nhất.

       Dưới đây xin gợi ra đôi điều cần lưu ư trong công tác dịch thuật kinh luận để tham khảo:

  1. Chỉ nên dùng từ gốc Hán (hoặc gốc nước ngoài khác) trong trường hợp không có từ gốc Việt tương đương.

  2. Có thể dịch thoát những đoạn văn kinh luận được viết theo văn phong quá cổ. Có thể lược dịch những đoạn quá rườm rà, miễn sao không làm sai nghĩa của nguyên bản.

       Nhiều khi dịch từng từ một (mot à mot) làm cho câu văn trở nên ngớ ngẩn, thậm chí c̣n là phản lại tác giả. Trong trường hợp ấy không nên bám sát từng từ của chính văn, mà tốt nhất nên lược bớt, chỉ cốt giữ phần tinh yếu của đoạn văn. Thật ra cái gọi là chính văn trong kinh bản Hán tạng cũng chỉ là bản dịch tiếng Hoa-Hán mà thôi, chứ đâu phải là chính văn chữ Phạn. Vả lại, ngay cả nguyên bản chữ Phạn thực chất cũng chỉ là bản ghi chép từ những kỳ kết tập sau khi Đức Phật nhập diệt có khi tới hàng trăm năm.

       Đức Phật đă từng dạy: “Sau khi Như Lai diệt độ, người nào có thể biên chép, giữ nhận, đọc tụng, cúng đường, giải kinh cho người khác thời người đó được Như lai lấy áo chùm lên ḿnh…”. Xem thế đủ biết Đức Phật đánh giá rất cao sự nghiệp hoằng truyền chính pháp. Đối với Phật giáo Việt Nam có lẽ công việc có ư nghĩa nhất hiện nay trong sự nghiệp hoằng pháp chính là phiên dịch kinh luận ra tiếng Việt.

       Trong niềm trăn trở về một kỷ nguyên mới của Phật giáo, như nhà vật lư nổi tiếng Albert Einstein tiên đoán: “Tôn giáo tương lai sẽ là một tôn giáo toàn cầu, vượt trên mọi thần linh, giáo điều và thần học… Chỉ có Phật giáo mới đáp ứng đầy đủ các điều kiện ấy”, phải chăng trên đường học Phật và hoằng pháp, các nhà hoạt động Phật giáo VIệt Nam cần mạnh dạn bỏ lại phía sau ḿnh những thói quen, sức ỳ và khuôn mẫu đă lỗi thời; với tinh thần bi, trí,dũng, quyết tâm thực hiện Việt hóa việc tụng, giảng, hiểu kinh và tiến hành nghi lễ Phật giáo; đưa Phật giáo Việt Nam tiến kịp thời đại.

       Để kết thúc bài này, xin mạn phép chép ra đây hiến quư vị một phỏng tác từ Tâm Kinh Bát Nhă, chúng tôi mới soạn nhân mùa Phật Đản Bính Tư vừa qua. Lần đầu tiên viết theo thể loại diễn ca nhằm chuyển dịch lư huyền từ một bản kinh cao siêu, vi diệu như kinh này ra tiếng Việt, quả thực là bạo gan và không tránh khỏi sai sót. Chân thành mong quí vị khoan dung, lượng thứ và chỉ dạy cho. Người viết bài này xin hết ḷng biết ơn quí vị.

Huyền Cương Lê Trọng Cường

 

NGỢI CA TRÍ TUỆ TỘT CÙNG

(HAY LÀ BÁT NHĂ DIỄN CA)

 

  1. Tâm Nguyện: “Nương theo TRÍ TUỆ TỘT CÙNG (1)

            Cội nguồn Chính Pháp vô song nhiệm mầu”

  1. Bồ Tát Quán Tự Tại

Khi vào sâu quán định

Trong TRÍ TUỆ TỘT CÙNG

Thấy sự vật trùng trùng

Vốn là KHÔNG TỰ TÍNH (2)

Nên đă qua khỏi hẳn

Mọi phiền năo trong ḷng

  1. Ngài liền nói pháp rằng:

“Nghe đây, Xá-Lỵ-Phất!

KHÔNG chẳng ǵ khác ǵ SẮC,

SẮC chẳng khác ǵ KHÔNG

KHÔNG chính thật là SẮC.

Cả THỌ, TƯỞNG, HÀNH, THỨC

Bản chất cũng là KHÔNG

Các pháp ấy đều mang

MỘT TÍNH KHÔNG xuyên suốt

Chúng chẳng sinh, chẳng diệt.

Chẳng thiếu, cũng chẳng thừa.

Chẳng sạch, cũng chẳng nhơ.

Bên trong TÍNH KHÔNG ấy.

Năm UẨN chẳng hề thấy (3)

Cũng chẳng thấy sáu TRẦN (5)

Cũng chẳng thấy sáu THỨC (6)

Chẳng có MÊ LẦM gốc (7),

Nên chẳng HẾT MÊ LẦM;

Cho đến chẳng LỤI TÀN (8),

Cũng chẳng HẾT TÀN LỤI.

Chẳng KHỔ, TẬP, DIỆT, ĐẠO;

Cả TRÍ, ĐẮC cũng không.

Soi kỹ mới TÍNH KHÔNG

Chẳng thấy pháp nào hết.

  1. Bởi chẳng có CÁI ĐƯỢC (9)

  Bậc Bồ Tác mới nương

  Theo TRÍ TUỆ TỘT CÙNG

  Trú niệm trong tự tại,

  Tâm chẳng bị ngăn ngại

  Do chẳng vướng mắc ǵ

  Nên chẳng phải sợ chi,

  Bậc Bồ-Tát ĺa hết

  Huyễn Tưởng và ảo giác.

  Cuối cùng là NIẾT BÀN (10)

  Thực chứng tại thế gian

  Tất cả các Đức Phật

Quá khứ và hiện tại

Cũng như trong tương lai

Đều nương TRÍ TUỆ này

Đạt GIÁC NGỘ SIÊU TUYỆT (11)

  1. “Bởi thế cũng nên biết

Chính TRÍ TUỆ TỘT CÙNG

Có đầy đủ công năng

TIÊU TAN HẾT SẦU KHỔ (12)

Khác nào một câu chú

Ngời sáng và thiêng liêng (13)

Một câu chú vô song (14)

Đúng thật, chẳng hư dối”

  1. Từ sâu trong vắng lặng

Nơi TRÍ TUỆ TỘT CÙNG

Với định lực thân tâm

Bồ-Tát liền nói chú:

“Qua rồi! Qua rồi!

Qua bên kia rồi!

    Cùng qua bên kia rồi!

    Cùng qua bên kia rồi!

    Vui thay SỰ TỈNH THỨC!” (15)

HUYỀN CƯƠNG

Phỏng tác Tâm Kinh Bát Nhă

Hà Nội, mùa Phật Đản,

Bính Tư – PL 2540

 

CHÚ DẪN

  1. Nguyên văn chữ Phạn (NVCP): Prajna Paramita

  2. Theo lư duyên sinh – duyên khởi, mọi sự vật có tính vô thường – vô ngă. Mọi sự vật không thể tự sinh ra (hay mất đi); trái lại, do duyên hợp đủ mà h́nh thành, hết duyên th́ lại trở về không; thực chất chỉ là giả hợp hay là huyền có mà thôi.

  3. Năm UẨN gồm SẮC, THỌ, TƯỞNG, HÀNH, THỨC (phiên âm Hán-Việt)

  4. Sáu CĂN gồm NHĂN (mắt), NHĨ (tai), TY (mũi), THIỆT (lưỡi), THÂN (thân thể), Ư (ư thức).

  5. Sáu TRẦN gồm SẮC (h́nh sắc), THANH (âm thanh), HƯƠNG (mùi), VỊ (vị), XÚC (gợn), PHÁP (pháp).

  6. Sáu THỨC gồm:

  1. PAHV: Vô minh căn bản

  1. PAHV: Lăo tử

  2. PAHV: Sở đắc

  3. NVCP: Nirvana.

  4. PAHV: Vô thượng chính đẳng chính giác

  5. PAHV: Năng trừ nhất thiết khổ ách

  6. PAHV: Đại thần chú, đại minh chú

  7. PAHV: Vô đẳng đẳng chú

  8. NVCP: “Gate! Gate! Paragate! Parasamgate! Bodhi Svaha!”

PAHV: “Yết đế! Yết đế! Ba la yết đế! Ba la tăng yết đế! Bồ đề tát bà ha!”

Bản dịch tiếng Anh của Edward Conze

“Gone! Gone! Gone beyond! Gone altogether beyond! O what an awakening, all hail!”

Bản dịch tiếng Pháp của J. Bacot:

“Tous arrivent! Arrivent! Arrivent sur l’autre rive! Tous ensemble arrivent sur l’autre rive! Gloire à l’illumination!”

 

VƠ Đ̀NH CƯỜNG

 

SỰ ĐÓNG GÓP CỦA NGƯỜI CƯ SĨ PHẬT TỬ TRONG CÔNG CUỘC

PHÁT TRIỂN PHẬT GIÁO

 

    1. CHỨC NĂNG, VỊ TRÍ CỦA NGƯỜI CƯ SĨ PHẬT TỬ

       Cư sĩ là một trong bốn chúng đệ tử của Đức Phật. Cư sĩ gồm có số đông, trong khi các tu sĩ Phật giáo, là thành phần nổi bật, xuất thân từ Cư sĩ. Do đó giới Cư sĩ là lực lượng cần phải tu học, phải thăng hoa để trong hoàn cảnh thuận tiện trở thành tu sĩ. Đức Phật luôn dặn ḍ chư đệ tử “V́ lợi ích và hạnh phúc số đông”, số đông ở đây nổi rơ nhất là thành phần cư sĩ. Như vậy, Cư sĩ là đối tượng để được xây dựng và xây dựng một xă hội đúng theo Chánh Pháp của đức Phật. Đức Phật từng dạy Cư sĩ Anathapindika: “Này gia chủ, vị Thánh đệ tử hộ tŕ các Tỳ-kheo bằng cách cúng dường y phục, thực phẩm, sàng tọa và dược phẩm”. Lời dạy ấy đă thành truyền thống hộ tŕ chư Tăng Ni của các Cư sĩ kể từ 25 thế kỷ qua.

       Mặt khác, nhận giáo pháp của đức Phật, người cư sĩ có bổn phận phải nổ lực tu tập, thực hành và góp phần truyền bá giáo pháp, tức là góp phần chuyển pháp luân để đem ánh sáng giải thoát cho đời. Như vậy, chức năng, vị trí của người Cư sĩ vô cùng quan trọng trong việc phát triển Phật giáo trong ư nghĩa độ tha cũng như chuẩn bị hoàn cảnh tốt đẹp cho việc tự độ của ḿnh.

    1. SỰ THAM GIA XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN PHẬT GIÁO CỦA NGƯỜI CƯ SĨ PHẬT TỬ

       Trong thời đức Phật, giáo đoàn Tỳ kheo phát triển nhanh chóng, mạnh mẽ, mang h́nh thức Giáo hội là do sự hộ tŕ, đóng góp xây dựng của quần chúng cư sĩ. Tên tuổi các vị vua như Bimbisara, Ajatasattu, Pasenadi…, các đại Cư sĩ như Anathapindika, Visakhà, Migaràmata, Jivaka, Mahanàma, Ambapàli… Cư sĩ Citta Machikasandika đứng đầu một hội chúng gồm nhiều ngàn người cùng học, cùng thảo luận pháp được đức Phật khen ngợi. Ngoài ra c̣n có nhiều Cư sĩ nổi danh về thuyết pháp như nam Cư sĩ Hathaka Alavaka, nữ Cư sĩ Suppavasà Koliyadhità, được đức Phật khen ngợi là đệ nhất thuyết pháp. Trong kinh điển Đại thừa, Ngài Duy Ma Cật được xem là vị Cư sĩ có tuệ giác bậc nhất trong thời kỳ đức Phật.

       Về sau, khi đức Phật đă nhập Đại Niết bàn, nhiều vị vua chúa ở Ấn Độ, Tích Lan, Trung Hoa, Việt Nam… đều ra sức ủng hộ Phật giáo, trong đó vị vua có công lao lớn nhất trong việc hoằng dương Chánh pháp là vua Asoka ở Ấn Độ. Ở Việt Nam, sự đóng góp của Cư sĩ trong công cuộc phát triển Phật giáo nổi rơ nhất là vào đời Trần, khi vua quan và cả hoàng tộc đều một ḷng ủng hộ Phật giáo. Vua Trần Nhân Tông được xem như một Asoka của Việt Nam và Tuệ Trung Thượng Sĩ có thể được ví như Duy Ma cật của Ấn Độ, như Bàng Uẩn ở Trung Hoa.

       Ở đây, chúng tôi muốn nhấn mạnh đến công lao xây dựng và phát triển Phật giáo của giới cư sĩ Việt Nam, đặc biệt trong thời kỳ chấn hưng Phật giáo và trong suốt 5, 6 mươi năm tiếp theo cho đến ngày nay. Trước làn gió mới chấn hưng Phật giáo Trung Hoa và Ấn Độ, Phật giáo Việt Nam cũng chuyển ḿnh và những cải cách mới xứng đáng để tạo thành một phong trào chấn hưng Phật giáo Việt Nam, trong đó lực lượng cư sĩ, đặc biệt là giới trí thức tân học đă có những đóng góp lớn lao.

       Tại Nam Kỳ, năm 1930, hội Nam kỳ Nghiên cứu Phật học ra đời với một lực lượng Cư sĩ khá mạnh gồm Phạm Ngọc Vinh, Huỳnh Văn Quyền, Trần Nguyên Chấn, Trần Văn Khuê, Nguyễn Văn Nhơn, Lê Văn Phổ, Nguyễn Văn Cần, lấy tạp chí Từ Bi Âm làm tiếng nói chính. Năm 1932, Phật học Tùng thư ra đời nhằm phổ biến kinh sách Phật học, do cư sĩ Đoàn Trung C̣b đứng đầu vớI sự hợp tác của một nhóm cư sĩ Nguyễn Văn Vật, Nguyễn Trung Hiếu, Nguyễn Văn Thiện… Năm 1934, một số đông Cư sĩ với sự lănh đạo của chư tôn Ḥa Thượng, Thượng tọa thành lập hội Lưỡng Xuyên Phật học. Năm 1936, các cư sĩ mở Hội Tịnh Độ cư sĩ có tầm họat động lớn khắp các tỉnh Nam bộ, đến các vùng xa xôi. Hội có tạp chí Pháp Âm làm tiếng nói, với các cư sĩ chủ đạo như Lê Văn Hậu, Trần Quỳnh… Đồng thời, Hội Phật học Kiêm Tế cũng hầu hết là cư sĩ, có khuynh hướng cải tiến xă hội với tạp chí Tiến Hóa. Năm 1950, Cư sĩ Chánh Trí Mai Thọ Truyền cùng một số cư sĩ Phật tử trí thức tân học, lập hội Phật học Nam Việt, tạo nên một sinh khí mới trong giới học Phật với những sinh hoạt sáng tác, nghiên cứu dịch thuật Phật học. Tạp chí Từ Quang của Hội ra đời từ năm 1950 đến năm 1973 đă giúp ích rất nhiều cho sự học hỏi của giới Phật tử. Hội có tầm hoạt động khá rộng răi, gồm 40 tỉnh hội và chi hội khắp miền Nam.

       Tại Bắc Kỳ, năm 1935, Hội Phật giáo Bắc kỳ ra đời, ṇng cốt gồm các cư sĩ giới trí thức Tân và Cổ học như Sở Cuồng Lê Dư, Nguyễn Hữu Kha, Nguyễn Năng Quốc, Bùi Kỷ, Trần Trọng Kim, Cung Đ́nh Bính, Trần Văn Giáp, Nguyễn Can Mộng, Nguyễn Đỗ Mục, Nguyễn Văn Tố… Tờ báo Đuốc Tuệ của Hội đă góp phần không nhỏ trong công cuộc truyền bá Giáo lư Phật giáo.

       Tại Trung kỳ, năm 1932, Hội An Nam Phật học ra đời, mở đầu một giai đoạn phát triển mạnh của Phật giáo miền Trung và đóng góp lớn cho phong trào chấn hưng Phật giáo cả nước. Ngoài chư tôn Ḥa thượng, Thượng tọa sáng lập, các Cư sĩ có công lao rất lớn trong việc xây dựng và phát triển Hội cũng như cải tiến, chấn hưng Phật giáo như Bác sĩ Lê Đ́nh Thám, Nguyễn Khoa Tần, Ưng Bàng, Bửu Bác, Viễn Đệ, Trần Đăng Khoa, Tôn Thất Tùng, Nguyễn khoa Toàn, Bà Diệu Không… Tạp chí Viên Âm của Hội sớm có uy tín nhờ nỗ lực hiệu năng của Cư sĩ Tâm Minh Lê Đ́nh Thám. Năm 1940, Đoàn Thanh niên Phật học Đức Dục ra đời, sau đó là Gia đ́nh Phật Hóa Phổ do cư sĩ Lê Đ́nh Thám sáng lập, nhằm giáo dục, truyền bá Phật pháp cho thanh thiếu niên. Trong khoảng thời gian này, Cư sĩ Lê Đ́nh Thám tham gia giảng kinh luận Phật học, đào tạo nhiều vị xuất sắc, sau này là những bậc Tôn túc ṇng cốt trong giáo hội. Năm 1947, Gia đ́nh Phật tử ra đời, như là một sự hóa thân và phát triển của Gia đ́nh Phật Hóa Phổ, ban Hướng dẫn đầu tiên của Gia Đ́nh Phật tử Thừa thiên gồm các cư sĩ Vơ Đ́nh Cường, Tống Hồ Cầm, Phan Cảnh Tuân, Văn Đ́nh Hy, Cao Chính Hựu, Phan Xuân Sanh, Hoàng Thị Kim Cúc, Đặng Tống Tịnh Nhơn, Lê Văn Dũng… Từ những GĐPT đầu tiên ở Huế, phong trào GĐPT đă phát triển ra nhiều tỉnh ở trong Nam và ngoài Bắc. Đến năm 1973 số Đoàn sinh Gia đ́nh Phật tử lên đến 200.000 người.

       Song song với việc phát triển GĐPT, một đóng góp lớn khác của giới cư sĩ Phật tử là việc xây dựng và phát triển hệ thống trường Bồ Đề. Thành phần ban Giám hiệu, ban Bảo trợ, Văn pḥng và nhất là lực lượng Giáo sư phần lớn đều là các Cư sĩ Phật tử. Chỉ tính đến năm 1963, đă có 163 trường Bồ Đề tại miền Nam.

       Một góp công khác cũng là một hy sinh to lớn của giới cư sĩ Việt Nam được thể hiện nổi bật là phong trào chống độc tài và kỳ thị Phật giáo của chính quyền Ngô Đ́nh Diệm 1963. Các cư sĩ Phật tử, gồm đủ mọi thành phần trí thức, lao động chân tay, thương gia, tiểu thương… gồm nam nữ, già trẻ, dưới sự lănh đạo chư Tôn đức trong Giáo hội, hoặc tự phát, đă đứng lên đấu tranh, vận động quần chúng và đă bị giết, bị tù đày, tra tấn không kể xiết.

       Thực ra, nếu không có sự đóng góp công sức của hàng Cư sĩ th́ Phật giáo không thể nào phát triển được; v́ như trên đă nêu về chức năng và vị trí của người cư sĩ, chúng ta thấy Cư sĩ là đối tượng truyền bá, học tập, thực hành giáo lư của đức Phật, chính các Cư sĩ đang sống trong ḷng xă hội, đang làm văn hóa, chính trị, đạo đức, cũng như đang thực hiện, đang cải tạo và đang sống trong các lĩnh vực thuộc cơ sở hạ tầng cũng như các kiến trúc thượng tầng của mọi sinh hoạt của con người.

    1. PHƯƠNG HƯỚNG ĐÓNG GÓP CHO PHẬT GIÁO CỦA NGƯỜI CƯ SĨ PHÂT TỬ TRONG HIỆN TẠI CŨNG NHƯ TRONG TƯƠNG LAI

       Sự phát triển kinh tế, khoa học kỹ thuật trong những thập niên cuối thế kỷ 20 đă tạo ra những vấn đề lớn cho xă hội loài người. Chiến tranh, suy thoái đạo đức, khủng bố bạo lực, ô nhiễm môi trường, sinh thái v.v… là những biểu hiện của tham sân si, điều này cũng có ư nghĩa là hạnh phúc con người bị giảm thiểu, trong khi đau khổ vẫn cứ tăng lên. Phật giáo luôn nêu cao thông điệp cứu khổ và cứu cánh giải thoát, cần phải nhập thế nhiều hơn và để được như thế, người Cư sĩ Phật tử với truyền thống đóng góp, xây dựng và phát huy đạo Phật, là những người đang sống trong ḷng xă hội, nhạy bén với các vấn đề của thời đại, cần phải có phương hướng hoạt động cụ thể để hành động v́ lư tưởng của Phật giáo, v́ hạnh phúc của số đông:

  1. Trước hết là giới Cư sĩ cần phải tranh thủ được sự chứng minh và lănh đạo của chư vị cao Tăng, chư tôn túc trong Giáo hội. Được như thế, ư nghĩa Tam Bảo được trọn vẹn, tự bản thân Cư sĩ đang làm Phật sự cũng như quần chúng sẽ được khích lệ, niềm tin Phật sẽ gia tăng không ngừng.

  1. Người Cư sĩ phải không ngừng tu tập giáo lư của đức Phật để tự ḿnh thăng tiến và lôi cuốn những người chung quanh. Nhiều nhóm Phật học Cư sĩ cần phải được thiết lập có tổ chức và mở rộng sinh hoạt trong từng chùa, từng địa phương, từng tỉnh, trong nước và tùy theo tầm cỡ hoạt động, có thể mang tính chất quốc tế. Người cư sĩ trong hội cần tham gia nghiên cứu kinh điển, giảng pháp, thảo luận. Do vấn đề tổ chức và quan điểm, không phải đặt vấn đề thống nhất các hội đoàn Phật học khi hoàn cảnh chưa thuận tiện. Càng nhiều hội đoàn, không khí sinh hoạt càng phong phú, đa dạng. Sách báo của từng hội đoàn cần phát hành đều đặn để khích lệ quần chúng nghiên cứu và học Phật.

  1. Cần thành lập các hội đoàn chuyên ngành để chuyên môn hóa sinh hoạt của các Cư sĩ Phật tử, ví dụ Hội hay Đoàn Phật tử nghiên cứu hay thực hiện kế hoạch phát triển xă hội, bảo vệ môi sinh, bảo vệ ḥa b́nh, xây dựng và phát triển đạo đức, giáo dục, văn hóa Phật giáo. Thậm chí cần có những hội đoàn nghiên cứu khoa học kỹ thuật, thương mại, ngân hàng v.v…. Nói chung, cần thể hiện nếp sống Phật giáo trong tất cả mọi lĩnh vực sinh hoạt của xă hội.

  1. Xây dựng, giáo dục thế hệ trẻ có nếp sống năng động, phù hợp với thời đại nhưng lấy giáo lư Phật giáo làm chỉ nam. Người Cư sĩ có thể đứng ra mở trường, nhà giữ trẻ… tiến đến một hệ thống trường Bồ-đề như mấy chục năm trước đây ở Việt Nam. Tổ chức Gia đ́nh Phật tử cần được xây dựng, phát triển và cải tiến về tổ chức và nội dung sinh hoạt cho phù hợp với thời đại, từng địa phương…

  1. Người Cư sĩ có cần phải giữ bổn phận đối với chư Tăng Ni, tham gia các công tác Phật sự tại chùa, thường xuyên đến chùa để nghe giảng kinh, sinh hoạt tôn giáo, cúng dường Tăng Ni, trong hoàn cảnh cho phép, người Cư sĩ cần tham gia vào ban lănh đạo trong các tổ chức của giáo hội, cố gắng làm một thành viên trong tổ chức Giáo hội địa phương hoặc trung ương, thể hiện ư nghĩa tứ chúng đồng tu mà đức Phật đă thiết lập.

    1. KẾT LUẬN

       V́ đệ tử Phật gồm tứ chúng, trong đó có hai chúng là Cư sĩ nam và nữ, cho nên nếu không có Cư sĩ th́ không thành ư nghĩa Giáo Hội Phật Giáo. Nếu không có Cư sĩ, những Cư sĩ có điều kiện tốt để tu tập, để trở thành Tu sĩ sẽ không có, và do đó sẽ không có Tăng già. Xây dựng và phát triển Phật giáo là bổn phận của người Cư sĩ, thực tế lịch sử đă chứng minh Phật giáo muốn phát triển mạnh cần phải có sự đóng góp tích cực công sức của giới Cư sĩ.

       Những nét khái quát về phương hướng hoạt động trên chỉ là những gợi ư, cần được bổ sung, cần được lập kế hoạch cụ thể theo từng nội dung hoạt động. Và trước hết, để có thể thực hiện lư tưởng giải thoát, diệt trừ khổ đau, người Cư sĩ cần có ḷng tin kiên cố đối với Tam Bảo, có trí tuệ và khả năng trong thực hành, có đức hạnh và có quyết tâm v́ Đạo v́ Đời.

 

Vơ Đ́nh Cường

 

BS BÙI MỘNG HÙNG

 

ĐẠO PHẬT CÓ THỂ ĐEM LẠI NHỮNG

G̀ CHO GIÁO DỤC NGÀY NAY?

 

       Giáo dục căn bản là truyền đạt. Thế hệ này truyền lại cho thế hệ khác kinh nghiệm sống của một cộng đồng. Những lư thuyết, những thực hành, những thủ thuật trong các nghề nghiệp để sinh nhai kiếm sống, đó là một phần rất thực tiễn, không thể thiếu của giáo dục. Nhưng chỉ là một phần mà thôi. V́ sống c