CHUƠNG 83

CÁC NHÂN VẬT LĂNH ĐẠO

 

Luận về các nhân vật lănh đạo của hai chính quyền miền Bắc và miền Nam, một tư tưởng gia người Tây Phương mà người viết không nhớ tên, nói rằng:

Great minds discuss ideas;

Average minds discuss events;

Small minds! discuss people.

Bị ảnh hưởng bởi nghề nghiệp dạy sử trong nhiều năm và bởi tư tưởng trên đây, người viết chỉ căn cứ vào những tư tưởng và việc làm (tư tưởng biến thành hành động) của các nhân vật lănh đạo chính quyền của cả hai miền Bắc và Nam để luận về họ. Những tiểu tiết khác bị coi như không thích hợp với quan niệm viết sử của người viết.

Từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây, nhân vật lănh đạo chế độ (quân chủ, độc tài, dân chủ, v.v…) hay tổ chức (đảng phái, hội đoàn, phong trào, mặt trận, v v…) nào cũng giữ một vai tṛ vô cùng quan trọng. Người lănh đạo quốc gia giống như người lái con tầu ở giữa đại dương. NẾU người lái tầu không có tài cầm lái xoay sở tay lái để đối phó với những phong ba băo táp nổi lên bất ngờ, TH̀ con tầu sẽ bị sóng dồi, gió dập rồi bị lật và toàn thể mọi người ở trong tầu sẽ đi theo số phận của con tầu ch́m sâu vào ḷng biển. Tương tự như vậy, NẾU những người lănh đạo quốc gia không có khả năng thông minh, không có tài chính trị, không có tinh thần cách mạng, lại nặng ḷng vị kỷ, chỉ biết nghĩ đến quyền lợi cá nhân, gia đ́nh, phe đảng và tôn giáo của ḿnh mà không cần biết đến quyền lợi tối thượng của đất nước và dân tộc, TH̀ sớm hay muộn, họ sẽ biến chính quyền thành bộ máy đàn áp nhân dân và cực kỳ thối nát. Với t́nh trạng như vậy, đất nước sẽ đảo điên, nhân dân sẽ điêu đứng khốn khổ trăm bề. Nguợc lại, NẾU người lănh đạo chính quyền có khả năng thông minh, có tài chính trị, có tinh thần cách mạng đă từng lăn lộn với đời, kiên tâm bền chí, nhất quyết một ḷng chiến đấu cho quyền lợi tối thượng của dân tộc và đặt phúc lợi của nhân dân lên trên hết, TH̀ dù cho có phải trải qua bao nhiêu khó khăn, gian khổ và nguy hiểm, rồi cuối cùng họ cũng có thể vượt qua được hết tất cả và có thể đưa con thuyền quốc gia đến bờ bến vinh quang. Đây là quy luật của lịch sử không ai có thể phủ nhận được. Chúng ta hăy t́m hiểu các nhân vật lănh đạo ở miền Bắc và miền Nam trong những năm 1954-1975 để kiểm chứng quy luật lịch sử này.

A: Miền Bắc: Nhân vật lănh đạo chính quyền miền Bắc là các ông Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Vơ Nguyên Giáp, Tôn Đức Thắng, Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Hoàng Quốc Việt, và nhiều đảng viên cao cấp khác trong đảng Cộng Sản Việt Nam. Những nhân vật lănh đạo chính quyền miền Bắc cũng là nhân vật đă lănh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam và Mặt Trận Việt Minh trong cuộc Kháng Chiến 1945-1954, một cuộc kháng chiến trường kỳ gian khổ với công nghiệp lẫy lừng đánh bại được Liên Quân Xâm Lược Pháp – Vatican tại tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ khiến cho Đế Quốc Pháp phải công nhân nền độc lập của dân tộc rồi cuốn gói ra đi, khiến cho Liên Minh Đế Quốc Thực Dân Xâm Lược – Vatican phai tan vỡ. Các nhà việt sử đều ghi nhận rằng các nhà lănh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam và Mặt Trận Việt Minh hay các nhà lănh đạo chính quyền miền Bắc là những nhà cách mạng chuyên nghiệp, đă quyết tâm dấn thân và hiến ḿnh cho đại cuộc cứu nước từ thuở thiếu thời. Họ là những người thấu hiểu lịch sử thế giới, nhận diện được kẻ thù chính và kẻ thù phụ, đă học hỏi được những kinh nghiệm lịch sử của các cuộc Cách Mạng Pháp 1789, Chiến Tranh Cách Mạng Hoa Kỳ (1776-1783), Cách Mạng Pháp 1830, Cách Mạng Pháp 1848 với bài học Ba Lê Công Xă, Cách Mạng Mexico 1857, Cách Mạng Pháp 1870, Cách Mạng Ư 1870, Cách Mạng Nga 1917, Cách Mạng Trung Hoa 1911 và những bài học trong cuộc chiến Quốc - Cộng tại lục địa Trung Hoa trong những năm 1945-1949. Họ đều là những người có tài, tận tâm v́ nước v́ dân, không có tinh thần tự tư, tự lợi, tham ô, thối nát. Cho đến ngày nay, không có một tài liệu nào nói về các nhà lănh đạo Việt Minh 1945-1954 hay chính quyền Bắc trong những năm 1954-1975 có tỳ vết ǵ về tham nhũng hay lạm quyền để làm giầu cho gia đ́nh và thân nhân, và cũng không có tài liệu nào nói đến vấn đề tài sản của họ hoặc là họ có bao nhiều tiền gửi nhà ngân hàng ngoại quốc hay tậu măi bất động sản. Các ông Hồ Chí Minh, Vơ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Trường Chinh, Tôn Đức Thắng, Lê Duẩn, Hoàng Minh Giám, Huỳnh Thúc Kháng, v.v… đều là những người không hề bị tố cáo về tội lợi dụng quyền lực làm giầu cho cá nhân và gia đ́nh. Tất cả những công lao tận tụy hy sinh v́ dân v́ nước và những đức tính liêm chính trong suốt cuộc đời của họ đă làm cho họ xứng đáng được nhân dân ta đời đời kính mến, tôn vinh là các nhà ái quốc và anh hùng dân tộc, giống như những nhà ái quốc và anh hùng dân tộc khác trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước, mở nước va giữ nước của dân ta từ ngày lập quốc cho đến ngày nay. Riêng về ông Hồ Chí Minh, ngay cả đến kẻ thù không đội trời chung với ông và với Mặt Trận Việt Minh là Cao Ủy Đông Dương Thierry d’ Argenlieu cũng phải đưa ra những lời nhận xét đầy khâm phục. Những lời nhận xét này được sử gia Vũ Ngự Chiêu ghi lại với nguyên văn như sau:

Sinh năm 1889, 56 tuổi. Hiện nay chưa phải là nhà lănh đạo quốc gia mà chỉ là một thủ lĩnh cách mạng Cộng Sản. Đây là một người tinh tuyền về đạo đức: không có sự đút lót hay sai vạy nào có thể khiến ông ta đáng bị chỉ trích. Về phương diện tri thức, ông ta thu thập được khá nhiều; ông ta biết cách làm ḿnh nhỏ lại, khiêm tốn và ... thích ca ngợi người khác [un flatteur]. Ông ta thật ấm áp. Ông ta bén nhậy về vấn đề đối xử. Ông ta tự nguyện sử dụng những thuật ngữ t́nh cảm: t́nh bạn, t́nh hữu nghị [t́nh bác ái], chung thủy, sự ngay thẳng [thật thà], v.. v...

Nhưng ông ta biết rơ những ǵ ḿnh muốn. Ông ta muốn một qui chế biến Đại Nam thống nhất thành một dominion [xứ tự trị trong Liên Hiệp Bri-tên], theo tŕnh độ tiến hóa hiện tại. Giáo điều và lư tưởng, ông ta không đo lường được nếu sự trưởng thành chính trị đă cho phép điều đó hay chưa.

Sức mạnh to lớn của ông ta là sự thành thật liên tục. Có thể nào thay đổi ông ta mà ông ta không thấy đó là sự bội phản? Ông ta không tin tưởng ở ư định của chúng ta, dù ông ta ngưỡng mộ và chấp nhận sự ngay thẳng của chúng ta.

Ông ta chỉ tin tưởng ở những ǵ phục vụ kế hoạch [desseins] của ông ta. Ông ta lắm mưu kế. Ở lúc mà người ta ngỡ rằng có thể đạt thỏa thuận, ông ta khiến mọi sự trở lại từ đầu. Ông ta không thể, ông ta không muốn hủy bỏ những điều có lợi của hiệp định sơ bộ và phụ ước quân sự mà ông ta phải miễn cưỡng kư kết. Ông ta muốn rút ra từ nó nhiều hơn nữa. Giữ lại những ǵ ông ta thích, và quên lăng tất cả những thứ khác. Ông ta biết cách khéo léo ràng buộc những người thiếu thẩm quyền và không trách nhiệm hứa hẹn một cuộc thương thuyết ở Paris. Ông ta bám cứng vào đó…” 1

Sử gia William J. Duiker viết về ông Hồ Chí Minh với nguyên văn như sau:

Khi tin tức về cái chết của ông Hồ Chí Minh được loan truyền th́ khắp địa cầu đưa ra nhận xét về ông. Hà Nội nhận được tới hơn hai mươi hai (22) ngàn bức điện tín từ các thủ đô lớn của 121 quốc gia trên thế giới để bày tỏ lời ca ngợi ông và chia buồn với nhân dân Việt Nam. Một số các nươc theo chủ nghĩa xă hội tổ chức buổi lễ truy điệu ông và đưa ra những lời ca tụng ông. Thủ đô Mạc Tư Khoa chính thức ca tụng ông như là “người con vĩ đại của dân tộc anh hùng Việt Nam, một người lănh đạo xuất sắc của phong trào giải phóng dân tộc và cộng sản quốc tế, và là người bạn vĩ đại của Liên Bang Sô Viết.” Các nước trong Thế Giới Thứ Ba (các nước trung lập) cũng nhận xét về ông với những lời ca tung ông như là một người bảo vệ những người bị áp bức. Một bài báo phát hành ở Ấn Độ mô tả ông như là tinh túy của “dân tộc và là hiện thân của ḷng khát vọng tự do, của sự tranh đấu bền bỉ.” Những bài báo khác đề cao đức tính giản dị và thẳng thắn của ông. Một bài xă luận trong một tờ báo ở Uruguay (Nam Mỹ) ghi nhận “Ông có một tấm ḷng bao la như vũ trụ và có một t́nh thương vô bờ bến đối vào các trẻ em. Ông là gương mẫu về đức tính giản dị và thẳng thắn trong tất cả mọi phạm vi.” 

Phản ứng từ các thủ đố Tây Phương th́ không biểu lộ mạnh mẽ. Ṭa Bạch Ốc lặng thinh và các viên chức cao cấp trong chính quyền của Tổng Thống Nixon cũng không b́nh luận ǵ cả. Nhưng việc chú ư đến cái chết cúa ông Hồ Chí Minh đối với giới truyền thông trong các nước Tây Phương thật là mănh liệt. Những tở báo ủng hộ các phong trào phản chiến có khuynh hướng mô tả ông bằng những lời lẽ ca tụng ông như là một địch thủ xứng đáng và là một người bảo vệ những kẻ yếu, những người lép vế thế cô và những người bị áp bức. Ngay cả những người vẫn thường khăng khăng chống lại chế độ Hà Nội đánh giá ông bằng những lời lẽ kính trọng ông như là một người đă tận hiến cả cuộc đời cho đại cuộc chiến đầu giành độc lập và thống nhất đất nước cho tổ quốc ông, coi ông như là người phát ngôn xuất chúng cho các dân tộc bị bóc lột ở trên thế giới.”

 

Nguyên văn: (“The news of Ho Chi Minh’ s death was greeted with a outpouring of comment from around the globe. Eulogies flowed in from major world capitals, and Hanoi received more than twenty-two thousand messages from 121 countries offering the Vietnamese people condolences for the death of their leader. A number of socialists states held memorial services of their own and editorial comment were predictable favorable. An official statement from Moscow lauded Ho as a “great son of the heroic Vietnamse people, the outstanding leader of the international Communist and national liberation movement, and a great friend of the Soviet Union.” From the Third World countries came praise for his role as a defender of the oppressed. An article published in India described him as the essence of “the people, the embodiment of the ardent aspiration for freedom, of their endurance and struggle.” Others referred to his simplicity of manner and high moral standing. Remarked an editorial in Uruguayan newspaper: “He had a heart as immense as the universe and in a boundless love for the children. He is a model of simplicity in all fields.”

Reaction from Western capitals was more muted. The White House refrained from comment, and senior Nixon administration officials followed suite. But attention to Ho’s death in the Western news media was intense. Newspapers that supported the antiwar cause tended to describe him in favorable terms as a worthy adversary and a defender of the weak and oppressed. Even thoses who had admandtly opposed the Hanoi regime accorded him a measure of respect as one who had dedicated himself first and foremost to the independence and unification of his country, as well as a prominent spokeperson for the exploited peoples of the world.”)2

Tóm lại, các nhà lănh đạo chính quyền miền Bắc là những anh hùng dân tộc có công lao với đất nước giống như công lao của Đức Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trăi, Trần Nguyễn Hăn, Vua Quang Trung, Ngô Thời Nhậm, Ngô Văn Sở đối với dân tộc Việt Nam. Lịch sử đă ghi nhận như vậy.

B.- Miền Nam: Những nhân vật lănh đạo chính quyền nổi ở miền Nam (1954-1975) là các ông Bảo Đại, Ngô Đ́nh Diệm và Nguyễn Văn Thiệu.

VỀ ÔNG BẢO ĐẠI

Trong Chương 32 (Phần III trong bộ sách này) nói về chính nghĩa của một người hay một thế lực lên cầm quyền, người viết đă khẳng định rằng, sau khi kư các Hiệp Định Nhâm Tuất 1862 (nhường ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ cho Liên Minh Thánh Xâm Lược Pháp – Vatican), Giáp Tuất 1874 (nhường toàn bộ Nam Kỳ cho liên minh giặc), Qúi Mùi 1883 và Giáp Thân 1884 (dâng cả phần c̣n lại của đất nước là hai xứ Trung Kỳ và Bắc Kỳ cho liên minh Pháp - Vatican), nhà Nguyễn mất hết chính nghĩa không c̣n tư cách ǵ để ngồi vào ngôi vị lănh đạo quốc gia. Ông Bảo Đại vừa là ḍng dơi nhà Nguyễn vừa được Liên Minh Pháp - Vatican đưa lên làm vua bù nh́n cho hai thế lực này để phỉnh gạt hay lạc dẫn những người dân ngu dốt ít học lầm tưởng rằng Việt Nam vẫn c̣n độc lập v́ vẫn c̣n có vua ngồi trên ngai vàng ở Huế. Làm như vậy, họ hy vọng sẽ loại bỏ được cái nguyên nhân khiến cho người Việt Nam tham gia các lực lượng nghĩa quân chống giặc cứu nước. Thế nhưng, nhân dân Việt Nam ta vẫn không bị lừa chúng tưởng, và kể từ năm 1858, hết lớp người này qua lớp người khác, kẻ trước người sau, nối gót nhau lên đường chiến đấu đadnh đuổi quân cướp ngoại thù để đ̣i lại núi sông cho dân tộc.

Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Liên Minh Xâm Lăng Vatican - Pháp bị đế quốc Nhật lật đổ, những vẫn giữ ông vua gỗ Bảo Đại ở lại ngai vàng để làm tay sai cho Nhật. Ngày 15/8/1945, Nhật đầu hàng đồng Minh và quân Nhật ở Đông Dương ở trong t́nh thế bất động, chờ đợi quân đội Đồng Minh đế tước khí giới và chuẩn bị hồi hương. Lợi dụng cơ hội này, Mặt Trận Việt Minh đă lanh tay huy động toàn dân vùng lên khởi nghĩa giành độc lập. Thấy rằng đă hết thời làm vua gỗ cho các đế quốc thực dân xâm lược, ông Bảo Đại ban chiếu thoái vị và long trọng tuyên bố với quốc dân rằng “Trẫm thà làm dân một nước độc lập c̣n hơn làm vua một nuớc nô lệ”. Rồi sau đó, rồi ông nhận làm cố vấn chính trị (ngồi làm v́) cho chính phủ độc lập đầu tiên của Việt Nam do ông Hồ Chí Minh lănh đạo. Ngày 15/3/1946, ông được chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa cử đi cùng với phái đoàn đến thăm viếng ngoại giao chính phủ Tưởng Giới Thạch ở Trùng Khánh. Lợi dụng chuyến đi này, ông ở lại Trung Hoa, rồi di chuyển đến Hồng Kông sống vùi đầu trong thú ăn chơi hưởng lạc nổi tiếng là một “playboy”.

Sau đó, do Ṭa Thánh Vatican chủ mưu, đầu tháng 6 năm 1948, ông lại được Liên Minh Pháp – Vatican sử dụng trong chiêu bài “Giải Pháp Bảo Đại” để thành lập cái gọi là “chính quyền Quốc Gia” do ông làm Quốc Trưởng với dă tâm dùng người Việt đánh người Việt và dùng nhóm thiểu số tín đồ Da-tô cai trị đại khối nhân dân thuộc các tôn giáo khác. Việc Liên Minh Pháp – Vatican đưa ông lên giữ vai tṛ Quốc Trưởng của chính quyền quốc gia làm tay sai cho chúng trong giai đoạn 1945-1954 cũng giống như người Nhật đưa Phế Đế Phổ Nghi lên làm vua bù nh́n Măn Châu Quốc do họ lập ra vào năm 1931, và giống như người Pháp đưa ông Jean Bedel Bokassa lên cầm quyền ở nước Trung Phi trong vào ngày 1/1/1966 và bị vứt bỏ vào ngày 20/9/1979. Khi Pháp và Vatican c̣n tồn tại ở Việt Nam th́ ông c̣n được sử dụng. Khi Pháp không c̣n khả năng ở lại Việt Nam, Vatican bỏ rơi Pháp đi với Hoa Kỳ, ông cũng bị chúng loại bỏ giống như chúng đă loại bỏ một đôi giầy đă rách nát không c̣n dùng được nữa.

V́ được Liên Minh Pháp – Vatiacan đưa lên làm bung xung để cho hai thế lực Pháp và Vatican tung tác thống trị, đàn áp và bóc lột dân ta một cách tận t́nh, cho nên ông Bảo Đại chỉ việc nhắm mắt tuân lệnh kư vào những sắc lệnh, sắc chỉ, hay dụ hoặc quyết định do quan thày đưa ra. Dụ số 10 ban hành vào ngày 6/8/1950 ấn định quy chế các hiệp hội tôn giáo mà mục đích chính là hợp thức hoá việc chuyển nhượng khối bất động sản khổng lồ (đă ăn cướp của dân ta từ năm 1862 đến năm 1950) do các giáo sĩ người Pháp đứng tên chuyển sang cho tu sĩ Da-tô người Việt đứng tên, và dụ số 12 ban hành ngày 15/7/1951 ra lệnh “gọi khoá đầu tiên sĩ quan trừ bị và 60 ngàn thanh niên nhập ngũ” (cưỡng bách thanh niên Việt Nam đi lính chết thay cho lính Pháp và linh Da-tô) là những bằng chứng rơ rệt nhất cho sự kiện này. Đó là nói về tính cách bù nh́n của ông Bảo Đại.

Ngoài tính cách bù nh́n trên đây, ông Bảo Đại c̣n cấu kết với các phần tử Việt gian lừng lẫy như Nguyễn Văn Xuân, Nguyễn Văn Tâm, Phan Văn Giáo, Bẩy viễn, v.v… dù che chở cho chúng lộng hành, hà hiếp nhân dân, áp bức những người lép vế thế cô và làm ăn bất chính một cách công khai để được “nhận tiền cống hiến hàng tháng” mà điển h́nh nhất là việc cấu kết với băng đảng ăn cướp B́nh Xuyên của Bẩy Viễn. Sách The Politics of Heroin in Southeast Asia viết về sự cấu kết giữa ông Bảo Đại và băng đảng ăn cướp B́nh Xuyên với nguyên văn như sau:

Vào khoảng sau năm 1950 quân đội (viễn chinh Pháp) thưởng cho B́nh Xuyên một món làm ăn có rất nhiều lợi. Đó là việc buôn bán thuốc phiện. B́nh Xuyên khởi lập các cơ sở chế biến thuốc phiện sống thành sản phẩm cho khách hành tiêu thụ và phân phối đến hàng trăm các tiệm hút ở rải rác trong hai thành phố Sàig̣n và Chợ Lớn. Thuốc phiện sống này do người Mèo (ở Lào,vùng Tây Bắc Việt Nam) sản xuất, và được lính phụ lực Pháp chuyển vận về Sàig̣n bằng phi cơ. Họ chia tiền lời theo phần trăm (đă được ấn định) cho Vua Bảo Đại, cho Pḥng Nh́ Pháp và cho tổ chức lính phụ lực hỗn hợp trong quân đội Pháp có liên hệp với việc làm ăn này”. Nguyên văn: “Sometime after 1950 the French military awarded the Binh Xuyen another lucrative coloial asset, Saigon opium commerce. The Binh Xuyen started processing MACG’s raw Meo opium ad distributing prepared smokers’ opium to hundreds of dens scattered throughout the twin cities. The paid a fixed percetage of their profits to emperor Bao Dai, the French 2ème Bureau, and the MACG commandos.”3

Trên đây là bằng chứng về việc ông Bảo Đại cấu kết với các tổ chức tội ác B́nh Xuyên để chia chác lợi nhuận. Ngoài ra, ông Bảo Đại c̣n liên hệ trực tiếp đến chuyện mua quan bán chức trong chính quyền. Chuyện này được ông Bùi Nhung ghi lại trong cuốn Thối Nát với nguyên văn như sau:

“Khi nhà học giả Trần Trọng Kim xách chiếc va ly từ Nam Kinh trở về Hương Cảng, th́ ông Bảo Đại đương hồi “ba đào”. Học giả Trần Trọng Kim kể lại rằng:

“Lúc tôi tới nhà hàng “Ngài” trọ, hỏi được số pḥng ngài ở, tôi vội vă leo thang chân lên lầu, v́ thang máy đông người đợi. Ngài đương đánh “mặt chược” ở pḥng bên, ḿnh trần trùng trục. Ngài thấy tôi, liếc mắt ra hiệu, bảo cứ vào ngồi đợi trong pḥng ngài. Ư hẳn ngài không muốn cho ai biết hành tung chăng?”

Có người bào ông Bảo Đại đánh “mặt chược” cao lắm, nên khi ở Hương Cảng “hoạnh tài” giúp ông đỡ túng. Điều đó không biết có thực không, nhưng tôi được biết ông Bảo Đại đă có lúc phải cầm cố, bán chác cả đồ dùng để lấy tiền ăn. Một số người “ṭng vong” lẻ tẻ như các ông Đặng Văn Sung, Đỗ Đ́nh Đạo, Bùi Diễm, v.v… đều bữa nhịn, bữa ăn..

Đến cuối năm 1947, thời cuộc xoay chuyển, thực dân Pháp lại dùng ông Bảo Đại làm một con cờ! Tại Bắc Việt, một viên quan cai trị cũ, tên Cousseau được thực dân giao phó chức vụ điều động các chính khách và chính đảng để tôn ông Bảo Đại làm Quốc Trưởng. Ông Mao Trach Đông đánh ông Tưởng Giới Thạch càng mạnh, th́ thực dân Pháp càng hoạt động dữ, để mau mau nắm trọn quyền điều động Việt Nam, kẻo lỡ ra Việt Minh được Cộng Sản Tàu giúp th́ thêm khó - một khi đảng này làm chủ lục địa Trung Quốc. V́ thế, Cousseau luôn luôn tiếp xúc với Hoàng Đế lưu vong Bảo Đại tại Hương Cảng. Các chính khách Việt Nam “đánh hơi” thấy mùi, liền đổ xô tới. Giữa Việt Nam và Hương Cảng thuộc địa của Anh, phi cơ và tầu thủy chở các chánh khách Việt Nam đi lại như mắc cửi! Béo bở quá! Các chánh khách đăng tiền cho “ngài” tiêu xài! Các ông ấy tranh nhau lối buôn bán của Lữ Bất Vi và vô số kẻ đă thành công.

Một chánh phủ lâm thời được thành lập vào năm 1948. Thủ Tướng là Thiếu Tướng Nguyễn Văn Xuân, một vơ quan pháo binh kỳ tài, người Việt, quốc tịch Pháp. Chức Thủ Hiến Trung Phần và Nam Phần lọt vào tay hai ông Phan Văn Giáo và Trần Văn Hữu, c̣n chức Tổng Trấn Bắc Phần vào tay ông Nghiêm Xuân Thiện. Ông Bảo Đại được tháo khoán. Nhưng có lẽ số tiền Pháp thực dân tháo khoán cho ông Bảo Đại không được rộng răi lắm, thành thử các vị cao cấp trong chính phủ trung ương tạm thời tháng tháng trích một số tiền ở quỹ đen ra gửi cho ông Bảo Đại như sau:

Thủ Tướng Xuân 50 ngàn đồng.

Thủ Tướng Trần Văn Hữu 50 ngàn đồng.

Tổng Trấn Nghiêm Xuân Thiện 30 ngàn đồng.

C̣n Thủ Hiến Phan Văn Giáo bao nhiêu không biết. “Thị Trường” bán quan mua tước tại Việt Nam trong giai đọan này càng nhộn nhịp lắm. Năm 1948, tôi vớ được ba bản danh sách chánh quyền, chi chít những tên tuổi. Cả ba bản, tên một ông luật sư người Việt, vợ đầm, những vẫn Việt tịch bị ông Bảo Đại gạch ở chức vụ Bộ Trưởng Kinh Tế!, Một chức vụ bở nhất, hái ra tiền! Không phải ông Bảo Đại ghét ǵ ông luật sư đâu, nhưng cái chức đó khi đem “bán đấu giá” ngầm, có nhiều kẻ tranh giành quá! Ông luật sư mua hụt….

Ông Bảo Đại nằm tại Hồng Kông, cho nguyên Thủ Tướng Trần Trọng Kim về tiếp xúc với Cao Ủy Pháp tại Sàig̣n. Cụ Kim kể lại đoạn này với tôi, lúc tôi từ Hà Nội vào thăm cụ ở Nam Vang, đường Lasana số 4: “Tôi trở về nước có nhiệm vụ dọ dẫm xem Pháp có thật t́nh không, nghĩa là có cho Việt Nam tự do, độc lập thật sự như trong khối thịnh vượng chung của Anh không? (commonwealth). Tôi gặp ông Cao Ủy ở Sàig̣n. Sau một giờ chuyện tṛ, tôi biết rơ cái dă tâm của thực dân! Liên Hiệp Pháp chỉ là một thứ cái cũi chó mạ vàng! Ông Cao Ủy, lúc tiễn tôi ra cửa, có nhă ư, muốn nhân danh chính phủ Pháp giúp tôi một số tiền mở nhà in, để theo đuổi con đường văn hóa. Tôi cảm ơn, không nhận! Cũng tiền của dân Việt Nam, chứ tiền đâu của Pháp! Hồi Nhật đầu hàng Đồng Minh, các cố vấn Nhật biếu tôi một lúc cả 50 triệu để làm vốn mở mang văn hóa, tôi cũng kiếu, huống hồ của thực dân.”.4

 

Bản văn trên đây cho chúng ta cái nh́n chính xác về thực chất của “chính quyền quốc gia” và nhân vật lănh đạo đầu tiên của chính quyền này là ông Da-tô Vĩnh Thụy tức cựu Hoàng Bào Đại.

VỀ ÔNG NGÔ Đ̀NH DIỆM

Thân thế và tất cả những đặc tính bẩm sinh cùng với những nét đặc thù mà Giáo Hội La Mă đă dầy công nhào nặn ông ta thành người như thế nào đều đă được tŕnh bày đầy đủ ở Chương 61 ở trên và sẽ nói đầy đủ hơn nữa trong cuốn Ngô Đ́nh Diệm: Con Người Và Tội Ác. Ở đây, người viết xin tŕnh bày sơ lược về đặc tính cuồng tín, tuyệt đối trung thành với Ṭa Thánh Vatican, triệt để tuân hành những lệnh truyền của Giáo Hội La Mă cùng với 13 tội ác chống lại tổ quốc và dân tộc Việt Nam trong cuộc đời làm quan cho liên minh giặc Pháp – Vatican cũng như trong những năm được Liên Minh Mỹ - Vatican đưa lên cầm quyền ở miền Nam Việt Nam. Hy vọng phần tŕnh bày này sẽ giúp cho độc giả nh́n thấy rơ bộ mặt thật của ông ta.

Xuất thân từ một gia đ́nh có tới ba bốn đời nối tiếp nhau làm Việt gian bán nước cho Vatican và cho Pháp, chính bản thân ông Ngô Đ́nh Diệm cũng đă từng làm Việt gian bán nước cho Pháp, cho Vatican và mưu đồ bán nước cho Nhật. Năm 1950, ông được Vatican cho người dẫn sang Mỹ vận động với chính quyền Mỹ đưa về Việt Nam cầm quyền để phục vụ cho quyền lợi của Vatican và của Mỹ ở Việt Nam. Việc Hoa Kỳ đồng thuận với Vatican đưa ông Diệm về Việt Nam cầm quyền giống y hệt như sau này Hoa Kỳ đưa ông Hamid Kazai về cầm quyền ở Afghanistan vào ngày 22/12/2001 và đưa ông Iyad Allawi về cầm quyền ở Irak vào ngày 29/5/2004. Ai cũng biết rằng Hoa Kỳ làm việc ǵ cũng v́ quyền lợi của Hoa Kỳ, chứ không phải v́ quyền lợi của một cá nhân hay một thế lực nào ở ngoài nước Hoa Kỳ. Khi đồng thuận với Vatican trong việc đưa ông Diệm về Việt Nam cầm quyền, Hoa Kỳ có chủ đích riêng là muốn dùng ông Diệm làm tay sai cho Hoa Kỳ để tạm thời biến miền Nam Việt Nam thành tiền đồn chống Cộng theo “Chính Sách Be Bờ” (Containment Policy) của Hoa Kỳ lúc bấy giờ. Tuy là như vậy, Hoa Kỳ cũng vẫn đ̣i hỏi ông Diệm phải tuân hành một số điều kiện giống y như những điều kiện mà các nước khác đă nhận viện trợ Mỹ. Tất cả những nước như Hy Lạp, Thổ Nhĩ (vào năm 1947) cũng như các nước Âu Châu khác đă nhận viện trợ Mỹ trong Kế Hoạch Marshall (cũng vào năm 1947), Nhật Bản, Tây Đức và Nam Hàn (sau Kế Hoạch Marshall) đều là những nước nhân việ trợ của Myc và cũng nều chấp nhận những đ́eu kiện của Mỹ đưa ra. Đây là những điều kiện chung của Hoa Kỳ đặt ra cho các quốc gia được Hoa Kỳ viên trợ để tái thiết xứ sở và ổn định xă hội sau khi Đệ Nhị Thế Chiến chấm dứt. Những điều kiện này giống như một số điều kiện đă được nói rơ trong bản tối hậu thư của Hoa Kỳ gửi cho chính phủ Nhật Bản vào ngày 26/7/1945 đ̣i chính quyền Nhật phải đầu hàng. Dưới đây là một số những điều kiện này:

1.- Phải công nhận và ban bố quyền tự do ngôn luận, tự do tôn giáo và tự do tư tưởng cho nhân dân trong nước.

2.- Phải dẹp bỏ mọi giới hạn để phục hồi dân chủ trong nước.

Đây là nguyên tắc chung của chính quyền Hoa Kỳ (bất luận là thuộc đảng Cộng Ḥa hay Dân Chủ) nhằm tạo cho các nước đuợc Hoa Kỳ bảo trợ để tạo cho có vẻ là dân chủ, dù là nội t́nh chính quyền quốc gia này muốn làm ǵ th́ làm, miễn là đừng quá trớn khiến cho Hoa Kỳ bị mất mặt, bị lên án và bị chống đối.

Biết rơ ông Ngô Đ́nh Diệm là một tín đồ Da-tô cuồng tín, ít học và bất tài (như đă tŕnh bày trong Chương 61, tất nhiên là Hoa Kỳ cũng đă làm cho ông Diệm hiểu rơ phải thi hành những điều kiện của Hoa Kỳ đưa ra. Để cho chắc ăn hơn, ngay khi ông Diệm sắp sửa được đưa về Việt Nam cầm quyền, vào tháng 4/1954, Hoa Kỳ đă phải cử Đại-tá Edward G. Lansdale sang Sàigon để sắp đặt và chuẩn bị đủ mọi thứ cho ông Diệm về Việt Nam cầm quyền. Vị đại tá này được chỉ định ở lại Sàig̣n giữ vai tṛ cố vấn đặc biệt và luôn luôn ở bên cạnh ông Diệm với nhiệm vụ vừa để lo lắng an ninh cho cá nhân ông ta, vừa để củng cố uy tín và quyền lực cho ông ta, vừa để chỉ bảo cho ông ta biết cách hành xử công việc và biết ứng xử trong việc giao tiếp với mọi người sao cho phải lẽ để tỏ ra cho mọi người thấy ông ta có vẻ như là một nhà chính trị có khả năng thích ứng với hoàn cảnh chính trị của miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ. Sự kiện này đă được Cựu Tướng Edward Lansadle kể lại khá đầy đủ trong cuốn hồi kư Tôi Làm Quân Sư Cho Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm - bản dịch sang tiếng Việt của L.T. (Hoa Kỳ: Đại Nam, 1980?) nơi các trang 199-202, 220, 221, và 222-224. Trong Chương 61 ở trên và trong cuốn Ngô Đ́nh Diệm: Con Người Và Tội Ác, người viết cũng đă ghi lại rơ ràng sự kiện này.

Thế nhưng, căn bệnh cuồng tín về tôn giáo đă làm cho ông Diệm không những đă mất hết lư trí, mà c̣n cố t́nh không cần biết đến những điều kiện của Hoa Kỳ đ̣i hỏi ông ta phải cam kết khi c̣n chầu chực van xin, năn nỉ để được đưa về Việt Nam cầm quyền. Thái độ tráo trở và phản trắc này đă khiến cho Đại-tá Edward G. Lansdale phải hết ḷng khuyên răn mà cũng không được. Chuyện Đại-tá Edward G. Lansdale hết ḷng khuyên răn ông Diệm phải dân chủ hóa chính quyền nhưng không thành công, được chính Đại Tá Edward G. Lansdale kể lại trong cuốn hồi kư Tôi Làm Quân Sư Cho Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm với nguyên văn như sau:

"Tôi c̣n nhớ có lần tôi hỏi về việc giáo huấn đạo Thiên Chúa đối với người Việt, ông Diệm đă giảng cho tôi một hơi 5 giờ liền. Những buổi nói chuyện như vậy làm cho thông dịch viên Redick phải mệt đừ, dù rằng sức hiểu biết sinh ngữ của tôi đă dần dần khá hơn đủ để giúp cho Redick bớt chút gánh nặng." (Trang 220)

Tôi cố sức khuyến khích ông Diệm nghĩ đến những quyết định về bản chất của một cơ cấu chính trị khả dĩ đem lại cho miền Nam Việt Nam với một dân tộc tự do, một cơ hội sinh tồn trong thế giới tân tiến. Ông Diệm nên thảo luận về những triết thuyết chính trị chi phối Âu Châu hồi đầu thế kỷ, một vấn đề mà chính ông cũng đă đọc kỹ. Tôi đă phản đối một số đỉêm, ông Diệm nêu lên, nhắc cho ông nhớ rằng có những tư tưởng chính trị đă đem lại thống khổ cho nhân loại khi những kẻ tham vọng dùng nó để làm sai lạc những mục tiêu tối hậu, thí dụ như Mussolini sử dụng chủ nghĩa công đoàn." (trang 221):

"Ông Diệm đă hỏi tôi những câu tinh tế về vấn đề "hạn chế và cân bằng" giữa 3 ngành chính quyền Mỹ và yêu cầu tôi mô tả chi tiết cách thức sử dụng quyền hành của vị Tổng Thống. Một lần tôi đă vẽ một lược đồ chỉ rơ "hệ thống chỉ huy" từ Tổng Thống Mỹ trở xuống. Nhận thấy ông Diệm rất chú ư đến quy chế của Tổng Thống Mỹ, nên tôi c̣n kể cho ông nghe George Washington đă quan niệm vai tṛ của ḿnh như thế nào, đặt ra những tục lệ của những vai tṛ ấy và đă hành động như một trọng tài về chính trị ở trên tất cả mọi đảng phái ra sao. Tôi cho rằng rất ít người trong lịch sử có một cơ hội như Washington để trở thành "người cha của dân tộc". Rất có thể ông Diệm sẽ là một trong số rất ít người nói trên. Là một nhà lănh đạo quốc gia khi Việt Nam độc lập, tôi hy vọng ông Diệm sẽ sử dụng uy lực lănh đạo của ḿnh khôn khéo như Washington đă làm để được đời sau kính mến.

Sau này, khi nồi nước chính trị lại sôi sục ở Việt Nam, tôi luôn luôn nhắc ông Diệm rằng ông phải làm sao cho đời sau nhớ đến việc làm của ông. Tôi thường hỏi ông Diệm rằng: "Ông có nghĩ rằng đó là việc mà "người cha của dân tộc" phải làm không?" Thường thường th́ ông Diệm ngưng lại và suy nghĩ chút ít trước khi hành động. Có một lần trong cuộc bàn căi về tự do báo chí (trong đó tôi đă tỏ ư phản đối việc đóng cửa một tờ báo quốc gia hạng nhỏ), ông Diệm kịch liệt bác bỏ quan điểm của tôi và kết thúc câu chuyện bằng cách bảo tôi rằng "Đừng gọi tôi là papa nữa".

Giữa lúc ấy, nhiều người khác thúc bách ông Diệm làm những hành động chính trị. Hăng hái nhất trong số này là ông Nhu và ông Cẩn, mỗi người cầm đầu một số đoàn thể cách mạng có khi cạnh tranh lẫn nhau. Ông Nhu làm việc hàng ngày trong Dinh với ông Diệm như một vị phụ tá chính trị và t́nh báo, quả nhiên có ưu thế hơn trong chuyện cạnh tranh này. Ảnh hưởng của ông đối với ông Diệm gia tăng từ giữa năm 1955 trở đi. Tuy nhiên, ông Diệm cũng gặp ông Cẩn trong những dịp về thăm thân mẫu ở Huế hoặc trong những lần ông Cẩn ghé về Sàig̣n. Tôi muốn gặp ông Cẩn người mà tôi được nghe nhiều câu chuyện tâng bốc cũng có, chê bai cũng có. Ông Diệm vẫn hứa thu xếp cho tôi gặp ông Cẩn, nhưng lần nào cũng bị đ́nh hoăn. Sau cùng, ông Diệm bảo tôi rằng ông Cẩn chỉ là người quanh quẩn trong nhà, tôi không nên mất th́ giờ thăm "cậu em" ấy. Tôn trọng ư muốn của ông Diệm về việc gia đ́nh riêng, tôi không bao giờ (nghĩ) đến gặp ông Cẩn nữa.

Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia từng tham gia vào cục diện chính trị sôi đọng trong tháng 5/1955, lúc này đă có các cơ sở ở toàn quốc. Dù rằng ban chấp hành phong trào gồm những lănh tụ quốc gia có nghị lực, mỗi người đều có lực lượng hậu thuẫn riêng, nhưng người chi phối ban chấp hành là ông Nhu. Sang đầu mùa thu năm ấy, Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia càng ồn ào và tranh đấu mạnh hơn đ̣i truất phế Bảo Đại và ủng hộ ông Diệm. Ông Nhu và các đồng chí trong Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia đề nghị nhiều cải tổ về chính trị, có những đề nghị rơ ràng minh bạch, và có những đề nghị chỉ là ngấm ngầm tái lập những cơ chế chẳng tốt đẹp ǵ trong quá khứ. Một trường hợp nói trên là kế hoạch thiết lập một chương tŕnh "cộng đồng tự lực" trá h́nh mà tôi phản đối kịch liệt đến nỗi ông Diệm phải hủy bỏ. Lồng vào trong chương tŕnh đề nghị ấy là những guồng máy tổ chức dân chúng báo cáo lẫn nhau cũng giống y như tổ chức Mật Vụ Nhật Bản đă làm khi họ tổ chức liên gia "để kiểm soát dân chúng trong vùng chiếm đóng trong hồi Đại Chiến Thứ Hai. Tôi cảnh giác ông Diệm là không nên dùng những biện pháp pḥng vệ độc tài để chống lại hiểm họa độc tài của Cộng Sản. Những biện pháp này đi ngược lại với ước vong tự do của nhân dân và sẽ đưa đến sự oán ghét mà những kẻ muốn lật đổ ông sẽ khai thác và xuyên tạc. Làm như vậy là ông đă tiếp tay cho Hồ Chí Minh thay v́ phục vụ cho chính nghĩa.."5 

Đại Tá Edward G. Lansdale bất lực khuyên răn không được, đến lượt Đại-sứ Elbridge Durbrow cảnh cáo:

“3/5/1960: Sàig̣n: Durbrow nghĩ đến lúc phải “thêm răng cho những lời thuyết phục.” Đề nghị nói thẳng với Diệm về vấn đề tham nhũng, lộng hành của Cần Lao, không tận dụng tài lực trong việc chống Cộng, ngưng việc khiêu khích và thù hận Miên. Nếu Diệm không thay đổi, sẽ tạm ngưng gia tăng viện trợ. (FRUS, 1958-1960, I: Tài liệu 150) [Xem 9/5/1960.” 6 

Đại Sứ Elbridge Durbrow cảnh cáo cũng không được, anh em nhà Ngô vẫn càng ngày càng quá trớn, nhưng chính phủ Hoa Kỳ vẫn kiên tŕ, đặc phái ông Frederick E. Nolting sang Sàig̣n thay thế ông Elridge Durbrow để vừa khuyên răn vừa cảnh cáo anh em ông Diệm. Trước sự tận t́nh khuyên bảo như vậy của Hoa Kỳ, anh em nhà Ngô không những đă khồng hồi tâm và tỉnh thức, mà c̣n có âm mưu dùng mỹ nhân kế để lung lạc Đại-sứ Noltting, nhưng bị thất bại:

“Thứ Bảy, 13/4/1963: Sàig̣n: Nolting báo cáo đă từ chối lời mời lên Đà Lạt của Lệ Xuân.”7 .

16/4/1963; Sàig̣n: Nolting gặp Diệm. Thông báo sắp về Mỹ nghỉ. Diệm tuyên bố không yêu cầu giảm bớt số cố vấn mà chỉ thay đổi phương cách làm việc. Sau đó, Nolting than phiền về những lời tuyên bố của LỆ XUÂN. DIỆM hứa sẽ không c̣n tái diễn nữa.”8

Càng ngày anh em nhà Ngô và băng đảng Cần Lao càng lộng hành bất kể ǵ là quyền làm người, quyền sống và sinh mạng của nhân dân, bất kể cả dư luận quốc tế, ngang nhiên tiến hành chính sách Ki-tô hóa bằng bạo lực, đem xe tăng và quân lính đàn áp và tàn sát Phật tử ở Huế vào đêm 8/5/1963, gây cho 9 Phật tử bị chết thảm và 14 Phật tử khác bị thương. T́nh trạnh này đă khiến cho Phật Giáo buộc ḷng phải đứng lên đ̣i quyền b́nh đẳng về tôn giáo và đưa ra năm nguyện vọng, đ̣i chính quyền phải thỏa măn. Năm nguyện vọng này là:

1.- Băi bỏ lịnh cấm treo cờ Phật giáo;

2.- Cho Phật giáo hưởng quy chế ngang hàng với các hội truyền giáo Thiên Chúa Giáo;

3.- Chấm dứt khủng bố và các vụ bắt bớ Phật tử;

4.- Để tăng ni và Phật tử trự do truyền đạo và hành đạo;

5.- Bồi thường cho những gia đ́nh nạn nhân, và trường trị những nhân viên có lỗi đổ máu.9 

Nhân vụ này, Hoa Kỳ đă nghĩ đến phải dùng biện pháp mạnh đối với anh em nhà Ngô bằng cách gửi ông Henri Cabot Lodge sang Sàig̣n nắm giữ chức vụ đại sứ thay thế ông Frederick Nolting để chuẩn bị hành động, đồng thời cũng khuyên răn anh em nhà Ngô phải thỏa măn 5 nguyện vọng trên đây của Phật giáo. Thế nhưng, anh em nhà Ngô vẫn ngoan cố, không những đă không nghe lời khuyên răn của Hoa Kỳ mà c̣n đem quân tấn công các chùa chiền tại thủ đô Sàig̣n, Huế và nhiều thành phố lớn trên toàn lănh thổ, lùng bắt các nhà sư và Phật tử vào đêm ngày 20/8/1963, tổng càn và bắt giam học sinh sinh viên trên toàn quốc, khiến cho nhân dân thế giới hết sức phẫn nộ lên án và tố cáo Hoa Kỳ phải chịu trách nhiệm về những hành động bạo ngược của chính quyền Sàig̣n, một chính quyền mà chính Hoa Kỳ đă tạo dựng nên và nuôi dưỡng.

Dù là anh em ông Diệm và đảng Cần Lao vẫn tiếp tục lộng hành như vậy, và dù là đă chuẩn bị hành động để loại bỏ ông Diệm, nhưng Hoa Kỳ cũng vẫn không muốn thay ngựa giữa đường. V́ thế, vào cuối tháng 9/1963, Tổng Thống Kennedy lại cố gắng một lần chót, gửi phái đoàn McNamara đến tận Dinh Gia Long vào ngày 29/9/1963 để nhắc nhở cho anh em ông Diệm nhớ đến những điều kiện mà Hoa Kỳ đă ra giá khi ông ta được Vatican đưa đến tận nước Mỹ chạy chọt cầu xin để được đưa về Việt Nam cầm quyền và cũng là nói rơ cho ông Diêm biết về những việc ǵ phải làm và những việc ǵ không được làm. (Nguyễn Mạnh Quang, Việt Nam Đệ Nhất Công Ḥa Toàn Thư 1954-1963 (Houston, TX: Văn Hóa, 2000), tr 437-442. Thế nhưng, đem những chuyện dân chủ hóa chính quyền, việc tôn trọng các quyền tự do như tự do tôn giáo, tự do ngôn luận, tự do báo chí, v.v… nói chuyện với những tín đồ Da-tô cuồng tín nặng tinh thần Inquistion như anh em nhà Ngô và đảng Cần Lao, nhất là khi họ đă có quyền lực với bộ máy công an, mật vụ như thiên la địa vơng th́ chỉ là chuyện “nước đổ đầu vịt”, giống như đem thuyết tương đối của nhà bác học Albert Einstein (1879-1955) giảng giải cho những người ngu đần với chỉ số thông minh dưới 80. T́nh trạng này khiến cho Hoa Kỳ ở vào cái thế cùng đường, phải ra tay dứt bỏ cái của nợ mà chính Hoa Kỳ đă tạo nên.

ĐẶC TÍNH CUỒNG TÍN VÀ NGU DỐT CỦA ÔNG DIỆM.- Nói về con người cũng như những việc làm bất lương và phản dân tộc của ông Ngô Đ́nh Diệm trong cuộc đời hoạn lộ (từ năm 1922 đến năm 1933) và những cầm quyền ở miền Nam Việt Nam, các nhà viết sử đều đồng ư rằng, ông Diệm:

I.- Là một tín đồ Da-tô cuồng tín giống như tín đồ Da-tô người Tây Ban Nha thời Trung Cổ và đă hành xử như một phán quan của Ṭa Án Dị Giáo trong thời Trung Cổ. Đây là lời nhận xét của sử gia Bernard B. Fall ghi lại trong cuốn The Two Vietnams với nguyên văn như sau:

"Tính hiếu chiến của ông Ngô Đ́nh Diệm thuộc loại như thế này: Ḷng tin đạo đă biến ông ta thành con người hiếu chiến đến độ tàn nhẫn như một vị Đại Pháp Quan của Ṭa Án Dị Giáo trong thời Trung Cổ ở Tây Ban Nha. Quan điểm của ông ta về chính quyền là h́nh ảnh của một bạo chúa theo truyền thống quan lại phong kiến hơn là h́nh ảnh của một tổng thống theo hiến định của một nước cộng ḥa. Một người Pháp theo đạo Kitô La Mă khi nói chuyện với ông ta cố ư cao giọng những tiếng "tín ngưỡng của chúng ta" th́ ông ta thản nhiên trả lời rằng: "Ông biết mà, tôi tự coi tôi như là một tín hữu Kitô La Mă giống như người Kitô Tây Ban Nha," thế có nghĩa ông ta là một đứa con tinh thần (của Giáo Hội La Mă) với niềm tin hung hăng, dữ tợn và hiếu chiến hơn là một tín đồ dễ dăi và khoan dung giống như người Pháp theo đạo Kitô La Mă." Nguyên văn: ("Ngo Dinh Diem's militancy is of that kind: His faith is made less of the kindness of the apostles, than of the ruthless militancy of the Grand Inquisitor; and his view of government is made less of the constitutional strength of a President of the republic than of the petty tyranny of a tradition-bound mandarin. To a French Catholic interlocutor who wanted to emphazise Diem's bond with French culture by stressing "our common faith," Diem was reported to have answered calmly: "You know, I consider myself rather as a Spanish Catholic," i.e., a spiritual son of a fiercely aggressive and militant faith rather than of the easygoing and tolerant approach of Gallican Catholicism.")10 

II.- V́ cuồng tín với bản chấthiếu chiến đến độ tàn nhẫn như một vị Đại Pháp Quan của Ṭa Án Dị Giáo trong thời Trung Cổ ở Tây Ban Nha”, cho nên cái nhăn quan về chính trị của ông Diệm không thể nào đi ra ngoài cái khuôn khổ một chế độ đạo phiệt chuyên chế phong kiến lỗi thời mà Giáo Hội La Mă đă dầy công rèn luyện ông từ thuở mới mở mắt chào đời. Cái nhăn quan này được ông Đại Sứ Cabot Lodge viết trong công điện gửi về chính phủ Hoa Kỳ bằng những lời lẽ nói về t́nh trạng ngu dốt cũng như năo trạng phong kiến lạc hậu lỗi thời, phản tiến hóa của anh em ông Diệm với nguyên văn như sau:

"Chủ yếu chúng nó là một chế độ chuyên chính Á Châu thời Trung Cổ của loại gia đ́nh cổ điển, không hiểu ǵ cả hay rất ít, về các ngành nghề của chính quyền v́ dân. Chúng không thể ăn nói với dân chúng, không thể gây cảm t́nh với báo chí, chúng không thể ủy thác quyền hành hay tạo ta niềm tin, chúng không thể hiểu được tư tưởng chính phủ là công bộc của dân. Chúng nó chỉ quan tâm đến an ninh vật chất và sự sống c̣n của chúng, chống lại bất cứ mối đe dọa nào cộng sản hay không cộng sản."11

III.- V́ cuồng tín như vậy, ông Diệm mới tin rằng trước khi chết, ông Ba Cụt đă được rửa tội theo đạo Da-tô th́ tất nhiên là sẽ được lên thiên đường thẳng ro ro. Chuyện này được ông tướng Da-tô Huỳnh Văn Cao kể lại với nguyên văn như sau:

Ngày mai tôi thi hành đúng theo chỉ thị. Trở về Sàig̣n lúc ban chiều, tôi tŕnh Tổng Thống nhiệm vụ hoàn tất. Lại phải lo làm công việc văn pḥng bù lại cả ngày đi vắng.Tối đến vừa mới và (ăn) một chén cơm, Tổng Thống điện thoại gọi vào Dinh. Cụ lại giảng thuyết về thiêng liêng, thiên đàng, hỏa ngục, và xem ra Cụ rất lo lắng về phần hồn của Ba Cụt. Nửa đêm mới ra về.

Tắm gội xong lên giường ngủ là một giờ sáng. Tôi ngủ mê như cây gỗ. Th́nh ĺnh điện thoại reo vang, nghe bên kia ống nói là giọng Tổng Thống, “Ừ, vào đây có việc gấp”. Nh́n đồng hồ mới 5 giờ 30 sáng. Tôi vội vàng rửa mặt, chải đầu, ăn mặc chỉnh tề đi vào Dinh.

"Vừa bước vào cửa pḥng, Cụ tươi cười nở như hoa, đó là lần đầu tiên tôi trông thấy Cụ vui cười cởi mở quá sức. Cụ bảo: "Ba Cụt chịu phép rửa tội rồi. Giờ đây, Ba Cụt chết là về Thiên Đàng thẳng ro ro!" Tôi hỏi Cụ: "Con cũng cầu cho Ba Cụt được lên Thiên Đàng, nhưng nếu mấy mươi năm trời phạm đủ mọi thứ tội, mà bây giờ chịu phép rửa tội, th́ đươc lên thẳng Thiên Đàng, như vậy có bất công không". Cụ trợn mắt nh́n tôi, như quyết liệt bênh vực Ba Cụt, Cụ nói: "Thôi bị trảm quyết là một h́nh phạt quá sức rồi. Chúa tha thứ hết, Ừ, thế mà Ba Cụt hơn ḿnh rồi. Lên Thiên Đàng hạnh phúc lắm".

Và Cụ nói tiếp: "Chỉ có chừng ấy, tôi tin cho anh mừng, v́ mới được tin Cha Toán cho hay, thành tôi mới gọi anh đó". Tôi chào Cụ và trở về nhà ăn sáng. Vợ tôi hỏi: "Có chi mà Cụ kêu sớm thế?" Tôi đáp gọn: "Cụ mới làm bọ (bố) đỡ đầu Ba Cụt theo đạo, ông kêu vô tin cho biết bấy nhiêu." 12

IV.- Cuồng tín là tổng hợp của dốt nát, ngu đần và hợm hĩnh, ông Diệm cũng không thoát khỏi quy luật này. V́ dốt nát và ngu đần, cho nên ông Diệm mới trở thành hạng người không c̣n khả năng thông minh để ứng xử với những diễn biến t́nh h́nh để chụp lấy những cơ hội tốt đem đến cho ông. T́nh trạng này đă khiến cho ông cố vấn đặc biệt của ông là Đại-tá Lansdale phải bực ḿnh mà nói rằng ông là người “kém khôn ngoan về chính trị” và “không áp dụng nổi một giải pháp xây dựng cho một vấn đề khó khăn”. Dưới đây là nguyên văn câu chuyện này:

“Đề nghị của tôi về việc làm xa lộ khiến cho Bẩy Viễn thích thú. Tôi liền dàn xếp một cuộc gặp gỡ giữa Bảy Viễn và ông Diệm. Sau khi gặp nhau, Bẩy Viễn giận dữ ra về và trút cơn thịnh nộ lên đầu các tay cố vấn. Kết cuộc một người trong số cố vấn nầy bị bắn lủng ngực. Nghe được câu chuyện tai hại ấy, tôi liền tức tối đến gặp ông Diệm để t́m hiểu việc ǵ đă xẩy ra trong cuộc hội kiến với Bẩy Viễn. Ông Diệm cho tôi biết viên lănh tụ B́nh Xuyên đă đưa ra một đề nghị "tầm bậy" là hắn sẽ chấm dứt những hành vi sai lầm phi pháp và đem tiền của ra để kiến thiết một xa lộ. Tôi nói với ông Diệm rằng: "Đó là lư do khiến tôi xin Thủ Tướng tiếp kiến ông ta. Vậy Thủ Tướng đă trả lời ông ta ra sao? Ông Diệm nói: "Tôi bảo hắn rằng tôi không tin điều đó. Tôi không chấp nhận. Trước sau ǵ th́ hắn cũng chỉ là một tên vô lại". Tôi điếng người v́ sự kém khôn ngoan về chính trị của ông Diệm, và nói thẳng với ông Diệm như vậy. Ông ta đă không áp dụng nổi một giải pháp xây dựng cho một vấn đề khó khăn. B́nh Xuyên kiểm soát ngành cảnh sát và một đạo quân, được hậu thuẫn bằng tiền bạc của những hoạt động phi pháp. Thay v́ khuyến khích họ từ bỏ những hoạt động ấy, ông Diệm lại mua lấy sự oán ghét. Khi kẻ cướp bị khinh bỉ th́ chúng nguy hiểm không khác ǵ một người đàn bà. Một ngày nào đó, ông Diệm sẽ phải trả giá đắt cho sự kém khôn ngoan ấy."13

V.- T́nh trạng ngu đần của ông Diệm được thể hiện ra qua:

1.- Lời tuyên bố rằng “ông tin tưởng vào quyền lực của Vatican và ông cực lực chống Cộng” khi được các chính khách Hoa Kỳ thăm ḍ khả năng chính trị của ông trong bữa cơm chiều được tổ chức trong Khách Sạn Mayflower tại Washington D. C. vào tháng 10/1950.14

2.- Lời tuyên bố vào ngày 11/6/1963 rằng "Sau lưng Phật Giáo trong nước c̣n có Hiến Pháp, nghĩa là c̣n có tôi."15

3.- Lời tuyên bố vào ngày 26/10/1963 rằng:

“Chế độ này c̣n nhiều khuyết điểm, cũng c̣n hơn nhiều chế độ khác. Người ta chê là độc tài, nhưng chỉ ngại c̣n những thứ độc tài khủng khiếp hơn.... Tôi tiến th́ theo Tôi, Tôi lùi th́ bắn tôi, Tôi chết th́ trả thù cho Tôi."16

VI.- T́nh trạng ngu đần của ông Diệm được cụ Hoàng Xuân Hăn xác nhận và được ghi lại trong bài "Hoàng Xuân Hăn, Một Nhân Chứng Lịch Sử" đăng trong tờ Hợp Lưu số 29 tháng 6 & 7/1996 nơi các trang 74-75. Dưới đây là đoạn văn này:

"Hồi ấy, tôi vào chấm thi đấy, tôi có một người bà con rất thân với ông Diệm, có thể nói là thư kư riêng của ông Diệm. Ông Diệm hồi ấy viết cái ǵ hay nói cái ǵ th́ cũng cậu này làm cho cả. Cậu ta đậu bachot (Baccalauréat - thi tú tài), người đứng đắn và nhiều chính kiến lắm, Cậu ta nói với tôi: "Cụ Diệm muốn gặp - gọi tôi bằng chú - chú lắm. Làm thế nào để cháu đưa chú đến gặp cụ Diệm mà tụi Tây nó không biết." Thế rồi, một tối, cậu ta đến dắt tôi đi qua một cái vườn, rồi qua hàng rào, sang nhà ông ta. Ngồi đợi, tôi c̣n nhớ có cái đèn manchon sáng, không có điện tuy là ở Huế. Ông cụ này một chốc xuống, mặc khăn áo chỉnh tề, khăn đóng, tôi c̣n nhớ mặt trắng, người tăng tướng th́ không tăng tướng, nhưng người nho nhă lắm. Ông xuống ngồi với tôi một giờ rưỡi đồng hồ, chỉ hỏi một câu thôi: Chào ông, hay cám ơn ǵ đó. Rồi th́ ngồi, tôi ngượng quá, không thấy ông hỏi một cái ǵ cả, rồi tôi phải gợi câu hỏi để ông ta giả nhời, mà ông ấy giả nhời th́ cũng lại vắn vủi. Thôi tôi chán hết sức. Tôi nói rằng từ trước đến giờ nghe về đường réputation (tiếng tăm) người ta nói rằng ông... ǵ lắm, sao mà ông ấy như thế? Sau tôi hỏi cháu tôi, th́ cháu tôi nói: Cụ Diệm ở đây ai cũng trọng cả, chứ mà tính cụ ấy như thế, kín lắm! Thế tôi hỏi: "Đă mời tôi tới th́ cũng phải hỏi cái ǵ cho nó có câu chuyện chứ?" Không! Cái cảm tưởng của tôi về ông Diệm là thế này: "Một người đi tu mà nhiều khi lại đần độn là khác nữa."17

VII.- T́nh trạng ngu đần của ông Diệm cũng được Giáo-sư Lư Chánh Trung khẳng định và nhắn nhủ những người đồng đạo cuồng tín của ông đừng tiếp tục diễn cái tṛ mà ông gọi là “ḥ hét khóc lóc chung quanh cái tên Ngô Đ́nh Diệm như bầy quạ trên một xác chết” một cách “lố bịch và vô liêm sỉ”. Dưới đây là nguyên văn lời Giáo-sư Trung viết:

“Những cảm nghĩ mà tôi có thể nói và thấy cần phải nói, là những cảm nghĩ về ông Diệm, người đồng đạo của tôi và cũng là người chịu trách nhiệm trước lịch sử về cuộc đàn áp Phật Giáo năm 1963, dù cho cuộc đàn áp này có thực sự do chính ông quyết định hay không.

Tôi có gặp ông Diệm một lần, khi c̣n là sinh viên ở Louvain. Lúc ấy, ông đang nằm chờ thời trong một tu viện gần thành Bruges (Bỉ). Nhân dịp ông đến Louvain tiếp xúc với giới Đại Học, Đoàn Sinh Viên Công Giáo Việt Nam có mời ông đến ăn cơm và nói chuyện tại đoàn quán. Sau bữa cơm rất thanh đạm dưới bếp, ông được mời ngồi trên chiếc ghế bành duy nhứt trong pḥng khách, chúng tôi quây quần chung quanh.

Ông đă ngồi im như không nhúc nhích trong mấy tiếng đồng hồ, đă hút gần hết bao thuốc lá Belga của chúng tôi, đă nói thật nhiều và phần nhiều là nói một ḿnh. Ông không trả lời thẳng và đích xác một câu hỏi nào của chúng tôi, ngoại trừ một câu: Khi được hỏi ông quan niệm thế nào về dân chủ, ông nói rằng ông không có học nhiều về chính trị nên không được rơ lắm về các lư thuyết dân chủ, nhưng ông vừa đi quan sát nước Mỹ cũng như vài nước Âu Châu và ông thấy nền dân chủ Hoa Kỳ là tốt hơn hết.

Câu trả lời đó đă làm một số anh em chúng tôi thất vọng. Lúc ấy, chúng tôi không có một chút cảm t́nh đối với Mỹ v́ Mỹ giúp tiền cho Pháp trong cuộc chiến tranh Đông Dương và cũng đang nghi ngờ nền dân chủ Mỹ v́ cái chính sách chống Cộng ngu xuẩn, đượm nhiều hơi hám phát xít của nhà cầm quyền Mỹ (đặc biệt là cái phong trào "săn bắt Cộng Sản" của Thượng Nghị Sĩ Joseph Mac Carthy) và v́ sự can thiệp trơ trẽn của Mỹ vào các nước Châu Mỹ La Tinh như vụ lật đổ Chính Phủ Cấp Tiến Guatemala.” (trang 133-134)

Tuy thất vọng, tôi vẫn có cảm t́nh đối với ông, v́ có một cái ǵ đáng kính và dễ mến trong cái tác phong đạo mạo, trong cái dáng điệu cứng ngắc và ngượng nghịu của ông. Nhưng thiệt t́nh lúc ấy, tôi không ngờ rằng ông Diệm sẽ được suy tôn như là lănh tụ anh minh và cứu tinh của dân tộc.

Tôi đă kể lại dài ḍng bữa gặp gỡ đầu tiên với ông Diệm, v́ hôm nay tôi nhớ tới ông với thật nhiều thương xót, mà cũng v́ tôi muốn cho những phán đoán của tôi về ông được hiểu rơ là không do nơi ác cảm hay một sự bất măn cá nhân nào đối với ông.

Nh́n lại chín năm cầm quyền, tôi thành thực nghĩ rằng, ông chỉ là một huyền thoại lớn do người Mỹ và một số tay chân bộ hạ tạo ra để lợi dụng. Người Mỹ lợi dụng ông để thực hiện mưu đồ của họ, một số tay chân bộ hạ đă lợi dụng ông để ḅn rút những nguồn lợi béo bở của đất nước này và của viện trợ Mỹ.

Cái lỗi căn bản của ông là chính ông đă tin nơi cái huyền thoại “cứu tinh dân tộc, lănh tụ anh minh” đó. Ông đă tin nơi sứ mạng cứu nước của ḿnh đến nỗi không c̣n chấp nhận được bất cứ tiếng nói nào khác tiếng nói của ông, ngay cả những tiếng nói thật ôn ḥa và “xây dựng” như bức thơ trần t́nh của nhóm nhân sĩ Caravelle.

 

Cái lỗi căn bản của ông là đă xem người Mỹ cũng như tay chân bộ hạ của ông là những phương tiện để hoàn thành sứ mạng cứu nước trong khi chính ông mới là phương tiện của người Mỹ và một số tay chân bộ hạ.

Và sứ mạng cứu nước đă được ông đồng hóa sứ mạng chống Cộng, v́ đối với ông, Cộng Sản là sự xấu tuyệt đối phải tiêu diệt bằng mọi giá, kể cả cái giá lệ thuộc người Mỹ. Đó là một lỗi căn bản khác và tất cả sự mâu thuẫn của chính sách chống Cộng nằm ở chỗ này.” (trang 135-136.)

Ông đă tưởng ḿnh có thể lệ thuộc Mỹ một phần nào thôi, c̣n phần kia th́ vẫn “độc lập”, ông đă tưởng ḿnh có thể nhẩy vào ṿng tay người Mỹ trong một giai đoạn ngặt nghèo rồi thoát khỏi ṿng tay đó khi t́nh h́nh sáng sủa hơn, ông đă tưởng có thể chấp nhận làm con cờ trong một ván cờ rồi ngay trong ván cờ đó, có thể tự động đi một nước cờ riêng của ông.

Khi ông nh́n thấy đó chỉ là ảo tưởng th́ đă quá trễ: Ông đă chết v́ ảo tưởng đó. Và cái chết bi thảm của ông cho thấy một sự thật hết sức tầm thường: Không một con cờ nào có thể tự động đi một nước cờ cho riêng nó, dầu con cờ đó mang tên Ngô Đ́nh Diệm, và không một nước nhỏ nào có thể lợi dụng một nước lớn, nhất là nước đó mang tên Hoa Kỳ.

Bẩy năm đă qua và ngày nay, dư luận quần chúng có vẻ khoan hồng hơn đối với ông Diệm và chế độ cũ của ông, ngay cả những nơi nạn nhân của chế độ ấy. Lư do giản dị: với thời gian, kỷ niệm đă mờ nhạt, hận thù được xoa dịu, những ẩn ức dồn nén được giải tỏa. Trong khi đó, cái thực trạng của xă hội miền Nam mỗi ngày thêm xấu xa tệ hại, khiến cho người ta có khuynh hướng chỉ nhớ tới những nét tương đối dễ coi của chế độ Ngô Đ́nh Diệm, mỗi khi so sánh thời này với thời trước.

Nhưng từ đó mà cho rằng chế độ ông Diệm là một thời đại hoàng kim và chỉ cần bắt chước ông Diệm là có thể giải quyết những vấn đề đất nước, như một số chân tay bộ hạ của ông đang tuyên bố rùm beng th́ thật là lố bịch và vô liêm sỉ.

 

Những người đang ḥ hét khóc lóc chung quanh cái tên Ngô Đ́nh Diệm như bầy quạ trên một xác chết. Với cái âm mưu tái lập một chế độ Diệm không Diệm trong đó họ sẽ phè phỡn ḅn rút như xưa, xin họ nhớ cho rằng gịng lịch sử không bao giờ chẩy ngược chiều.

Và nếu họ không c̣n một chút tự trọng, xin họ dầu sao cũng thương dùm ông Diệm, Tội nghiệp ông! Tôi ứa nước mắt mà viết câu này, xin họ hiểu cho.” 18

NHỮNG RẶNG NÚI TỘI ÁC CỦA ÔNG DIỆM.- Trên đây là nói về thân thế, ḍng dơi, đặc tính cuồng tín về tôn giáo và đặc tính ngu dốt bẩm sinh của ông Ngô Đ́nh Diệm. Những yếu tố này đă khiến cho ông Ngô Đ́nh Diệm lao vào hố sâu tội ác chống lại tổ quốc, chống lại dân tộc một cách điên cuồng và mù quáng. Dưới đây là những rặng núi tội ác của ông đă được sách sử ghi nhận:

I.- Hành động tra tấn dă man các nhà cách mạng để tâng công quan thày người Pháp.- Phương cách tra tấn các nhà ái quốc của ông Ngô Đ́nh Diệm thật là hết sức tinh vi và vô cùng quái đản. Nạn nhân bị trói ngồi vào một chiếc ghế có khoét lỗ ở chính giữa, rồi cho đốt đèn cầy ở dưới ghế. Lửa bốc lên làm cháy bỏng tới ruột gan của nạn nhân. Với t́nh trạng này, nếu là người không có ư chí sắt đá của ḷng yêu nước, sẽ cung khai và thú nhận hết tất cả những ǵ theo ư muốn của ông Diệm. Sự kiện này được nhà báo lăo thành An Khê Nguyễn Bính Thinh ghi lại với nguyên văn như sau:

Khi ông làm tri phủ Ḥa Đa đă nổi tiếng là tay sai đắc lực của Pháp, lùng bắt và tra tấn các nhà cách mạng rất dă man bằng cách xông lửa nến (đèn cày) dưới ghế ngồi. Ông cho trói chặt người bị lấy khẩu cung vào ghế ngồi, mặt ghế có khoét lỗ ở ngay hậu môn chỗ ngồi, bên dưới đốt ngọn đèn cầy cho lửa xông lên, dần dần ruột gan, tim phổi người nọ (nạn nhân) bị sấy lửa, khô dần đi, không chịu nổi, dù có khai để chấm dứt cực h́nh nhưng hậu quả về sau không lường được. Lối tra tấn dă man này, ngay với các bót giam của Pháp, như bót Catinat, cũng chưa dám dùng.”19

 

II.- Hồ hởi Ki-tô hóa nhân dân miền Nam.- Khi vừa mới được Hoa Kỳ và Vatican đưa về cầm quyền, anh em nhà Ngô đă hô hởi tuyên bố:

Tôi có cả một chương tŕnh, đă bàn với Đức Giám-mục (Ngồ Đ́nh Thục) sẽ lần hồi tiến tới chỗ mà Hội Truyền Giáo hoạt động một thế kỷ mới đạt tới, c̣n chúng ta chỉ cầm quyền mười năm thôi là cả miền Nam này sẽ theo Công Giáo hết.” 20 

III.- Hăng say thi hành lệnh truyền của Vatican cưỡng bách nhân dân miền Nam phải dùng từ kép “công giáo” để thay thế cho các từ “Da-tô giáo”, “Ki-tô giáo”, “Cơ đốc giáo” và “Thiên Chúa giáo” mà dân ta vốn đă quen sử dụng từ mấy thế kỷ trước. Sự kiện này được Linh-mục Vũ Đ́nh Hoạt ghi lại trong cuốn Tôn Giáo Chính Trị Quan như sau:

"Nếu nói hoặc viết chỉ nguyên Công giáo mà thôi, th́ đó phải hiểu và bắt buộc phải hiểu chứ không thể hiểu khác đi được: đó chính là Giáo Hội La Mă hoặc Vatican mà Đức Giáo Hoàng là vị lănh đạo tinh thần tối cao của toàn thể Thế Giới Công Giáo. Riêng tại Việt Nam kể từ năm 1533 cho đến năm 1954 khi mà các danh từ Thần Học và Kinh Thánh chưa được Hàn Lâm Viện Hóa, nói cách khác chưa được Đại Chủng Viện thuần túy Việt Nam dịch thuật các sách giáo khoa và Phụng Vụ cũng như Kinh Thánh các danh từ cổ như Thiên Chúa Giáo hoặc Gia Tô Giáo trong các sách vở lịch sử hay "Nhà Đạo" vẫn được hiểu cách chung là Đạo Công Giáo, v́ lẽ khi đó chưa có đạo Tin Lành trên đất nước Việt Nam, và các nhà truyền giáo cũng chỉ nguyên thuộc Hội Truyền Giáo Thừa Sai Ba Lê (MEP) mà thôi. Kể từ năm 1954 về sau này khi mà đă có Đại Chủng Viện Việt Nam chuyên môn dịch các sách Kinh Đạo Thần (Kinh Thánh, Đạo Đức và Thần Học), lúc ấy mới có sự phân biệt rơ "Công Giáo" (Catholic), bắt nguồn từ Kinh Tin Kính "Tôi tin có Hội Thánh duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền". (Sách lễ giáo dân sở di trú và tị nạn USCC. Hoa Thịnh Đốn, trang 1370). Vậy kể từ năm 1954 về sau này, các sách vở Việt Nam, nếu muốn trực chỉ nguyên Giáo Hội la Mă hoặc Vatican, th́ bắt buộc phải dùng danh từ Công Giáo (Catholic), chứ không thể nào dùng danh từ Thiên Chúa Giáo hoặc Gia-tô hoặc Ki Tô được. " 21

 

IV.- Coi miền Nam như là của riêng của Giáo Hội La Mă và thi nhau thao túng chính quyền.- Sự kiện này được Linh-mục Trần Tam Tỉnh ghi nhận trong cuốn Thập Giá Và Lưỡi Gươm với nguyên văn như sau:

“Từ năm 1955 đến 1963 là thời vàng son của chủ nghĩa cha chú, với những lợi ích thật chẳng bao nhiêu, nhưng với những hà lạm gây nhiều tiếng tăm hơn, nhất là trong khi dân chúng gồm 90% là ngoài công giáo mà bị kiềm hăm dưới một thứ “chính phủ công giáo”. Khắp nơi, ở thành phố cũng như tại nông thôn, chiếc áo chùng thâm là biểu tượng của quyền thế. (Tại các vùng công giáo di cư, cha xứ là toàn quyền, là những ông vua tuyệt đối. Giám-mục Ngô Đ́nh Thục cũng phải thừa nhận những chuyện hà lạm của các nhà độc tài áo đen. Trong một thư gửi cho một bạn cũ, ông viết: “Người ta có cả trăm hồ sơ tố giác các linh mục ăn cắp tiền của di cư, bằng những danh sách ma, bằng cách tẩy xóa sổ sách, bằng cách thu xếp để chiếm đoạt tiền bạc của chương tŕnh cải cách ruộng đất, hoặc bán hàng viện trợ Mỹ (theo lời tố cáo của chính bà con di cư) hay là giữ tiêu riêng các khoản tiền ho nhận để xây dựng nhà ở cho bà con di cư.” Nhà nước (và cả Giáo quyền) dễ dăi cứ nhắm mắt làm ngơ các vụ đó, bởi v́ linh mục rất cần cho việc huy động dân chúng trong cuộc chống Cộng.” 22 

V.- Hăng hái Ki-tô hóa và cảnh sát hóa bộ máy chính quyền bằng những tố chức công an mật vụ như thiên la địa vơng.- Nói về bộ máy hay các tổ chức công an mật vụ của chế độ Ngô Đ́nh Diệm, sử gia Joseph Buttinger ghi nhận như sau:

“Với ḷng say mê bắt chước phuơng cách tổ chức của Cộng Sản, ông Nhu cho thiết lập nhiều tổ chức kiểm soát nhân dân. Các tổ chức này đă làm cho chế độ bị thù ghét bởi ngay cả những người mà sự ủng hộ của họ hết sức cần thiết cho chế độ. Đó là những người nắm quyền chỉ huy quân đội. Những tổ chức công an, mật vụ và cảnh sát nhận lệnh trực tiếp từ ông Nhu. [Kư giả] Halberstam nói rằng có tới 13 tổ chức cảnh sát, công an và mật vụ khác nhau. Tổ chức mật vụ quan trọng nhất của ông Nhu là một tổ chức gài những chỉ điểm viên vào trong các cơ quan của chính quyền do Bác-sĩ Trần Kim Tuyến làm giám đốc. Tổ chức này có danh xưng tàng h́nh là Sở Nghiên Cứu Xă Hội và Chính Trị Phủ Tổng Thống. Ông Nhu cho tổ chức những buổi họp "tự kiểm thảo" theo kiểu Cộng Sản ở trong Đảng Cần Lao Nhân Vị, và tổ chức Thanh Niên Cộng Hoà mặc đồng phục mà ông là "Vị Lănh Đạo Tối Cao". Ông bắt chước các phương pháp phát xít để kiểm soát nhân dân. Cái gọi là "Lực Lượng Đặc Biệt" của chế độ và những cung cách mà ông Nhu sử dụng lực lượng này vào năm 1963 giống y như vai tṛ "Đạo Quân Thần Tốc" của chế độ Đức Quốc Xă. Mặt khác, việc thiết lập các tổ mật vụ gài trong các tổ chức này và trong chính quyền, ư đồ tổ chức nhân dân thành những tổ (nhóm nhỏ) mà tổ trưởng phải chịu trách nhiệm về ḷng trung thành của các tổ viên, việc tổ chức các cuộc họp tố Cộng, việc sử dụng kỹ thuật tuyên truyền và việc quấy phá nhân dân vốn đă mệt nhoài v́ những cuộc mit tinh và biểu t́nh ủng hộ lănh tụ vĩ đại và chế độ, tất cả đều là bắt chước theo Cộng Sản. Không có một mánh mung chuyên chế độc tài nào là ông Nhu không sử dụng và ông ta luôn luôn làm ra vẻ những mánh mung này là do chính ông vừa mới sáng chế ra. Chỉ có một thứ vũ khí mà ông không bao giờ nghĩ tới để sử dụng trong cuộc đấu tranh chống lại chủ nghĩa Cộng Sản. Thứ vũ khí đó là chế độ dân chủ." Nguyên văn: "It was Nhu who, with his passion for imitating Communist methods, created the various instruments of government control over the population that made the Diem regime hated even by people on whose support it depended: the leaders of the armed forces. The regime 's secret services and special information and police forces took their orders from Nhu. Halberstam says that at one time there existed no less than thirteen different secret police organizations. The most important of Nhu's secret services was an organization of informers inside the administration headed by Dr. Tran Kim Tuyen, whose euphemistic title was Director of Political and Social Research Service of the Presidency. Nhu held Communist-type "self-criticism" sessions in the semisecret Personalist Party, and with his uniformed Republican Youth, of which he was "Supreme Leader", he imitated fascist methods of popular control. The regime's so-called Special Forces, and the manner in which Nhu used them in 1963, were reminiscent of the role of the Storm Troopers under the Nazis. On the other hand, the setting up of secret cells in existing organizations and in the administration, the attempt to organize all citizens into small groups whose leaders were made responsible for the members' loyalty, the rallies to denounce Communists, the propaganda techniques, and the perpetual harassment of a tired population with meetings and "spontaneous" demonstrations in favor of the regime and its great leader, all these were borrowed from the Communists. There were not one totalitarian strategem that Nhu did not employ, always pretending that it was his own latest invention. The only weapons he never thought of using in the struggle against Comminism were the weapons of democracy") 23

Các tổ chức công an, mật vụ, cảnh sát và an ninh quân đội của chính quyền miền Nam lúc bấy giờ được cụ Đơ Mậu mô tả với nguyên văn như sau:

Họ có năm cơ quan an ninh t́nh báo mà bốn nổi và một ch́m: Nổi là Công An Cảnh Sát, An Ninh Quân Đội, Lực Lượng Đặc Biệt và Sở Nghiên Cứu Chính Trị, c̣n ch́m là hệ thống Đảng Viên Cần Lao và các bộ phận mật vụ t́nh báo phụ thuộc. Tất cả như thiên la địa vơng, như tai vách mạch rừng bao vây lấy nhân sự và các hoạt động chống đối. Họ có Ngô Đ́nh Nhu tuy bất lực trong việc quản trị quốc gia nhưng lại xuất sắc trong các âm mưu và thủ đọan tiêu diệt đối lập, nhất là bản chất vốn lạnh lùng và tàn ác không một chút do dự. Họ lại có những cấp thuộc hạ thi hành mệnh lệnh một các mù quáng và có những phương tiện của quốc gia muốn sử dụng, muốn tiêu xài bao nhiêu cũng được.”24

VI.- Ban hành những sắc lệnh, sắc luật, dụ và luật để chuẩn bị và hợp thức hóa chính sách Ki-tô hóa bằng bạo lực.- Những tài liệu này đều được sách sử ghi lại rơ ràng:

11/1/1956: Sàig̣n: Diệm kư Sắc Lệnh số 6 bắt giữ bất cứ ai có hành động làm hại đến an ninh công cộng.

Theo tài liệu chính phủ, trong năm 1956 có khoảng 20 ngàn cán bộ CS bị cải huấn tại trại tập trung. Đáng kể nhất là trung tâm Phú Lợi (6.000).”25 

21/8/1956: Sàigon: Diệm ra Sắc Luật 47: Lên án tử h́nh những hành vi phá rối trị an có liên hệ với Cộng Sản.”26 .

“6/5/1959: Sàig̣n: Diệm ban hành Luật 10/59 nhằm diệt Cộng và thiết lập toà án quân sự lưu động để xét sử cán bộ Việt Cộng. Ṭa án này có quyền chung thẩm; dùng Dụ số 47 năm 56 để trừng trị Việt Cộng.27 

Tiếp theo là nhiều luật khác ác độc hơn được cho ra đời. Sự kiện này được sách sử ghi lại đầy đủ và rơ ràng. Giáo sư Lê Xuân Khoa viết về những việc làm này của chính quyền Ngô Đ́nh Diệm trong cuốn Việt Nam 1945-1975 với nguyên văn như sau:

 

“Ngoài ra, cần phải nhắc đến sắc lệnh số 10/62 hạn chế tự do cá nhân do Tổng Thống ban hành ngày 16/5, qui định mọi cuộc hội họp hay tụ họp dù là xum họp gia đ́nh cũng phải có giấy phép của Sở Cảnh Sát địa phương.

Về mặt an ninh, từ tháng Giêng 1956 đă có sắc lệnh 6/56 của Tổng Thống cho phép các cơ quan an ninh bắt giữ bất cứ người nào có hành động phương hại đến an ninh quốc gia. Tháng Năm 1959, lại có đạo luật số 10/59 thiết lập Ṭa Án Quân Sự Lưu Động để gia tăng hiệu lực ngăn chặn những hoạt động khủng bố của cộng sản. Tháng Năm 1962, Tổng Thống lại ra Sắc Lệnh số 11/62 thiết lập Ṭa Án Quân Sự Mặt Trận tại ba Vùng Chiến Thuật với thẩm quyền kết án chung thân mà người bị kết tội không được phép kháng cáo. Các bản án tử h́nh đều được tŕnh lên Tổng Thống xem xét và quyết định. Tất cả những văn kiện pháp lư này đều có lư do là ngăn ngừa và trừng trị những hành động phá hoại của cộng sản. Đó là một sai lầm chính trị quan trọng của Ngô Đ́nh Diệm không những làm suy yếu hàng ngũ quốc gia mà c̣n khiến cho nhiều người yêu nước ở miền Nam đồng ư hợp tác với cộng sản. Thật khác hẳn với chủ trương liên hiệp với những lănh tụ quốc gia, dù chỉ là sách lược tạm thời, của Hồ Chí Minh sau Cách Mạng Tháng Tám 1945 để xây dựng và củng cố lực lượng kháng chiến chống Pháp. Sách lược đó cũng đă được sử dụng thành công chống lại Ngô Đ́nh Diệm mà kết quả là sự ra đời của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam.

Trong những năm đầu của chính quyền Ngô Đ́nh Diệm, chiến dịch tố cộng và diệt cộng đă truy lùng và trừng phạt không những cán bộ cộng sản nằm vùng mà c̣n cả những người đă đi theo Việt Minh chống Pháp mặc dù họ không phải là đảng viên cộng sản. Những người này đă không chọn di cư ra Bắc sau khi Hiệp Định Genève chia đất nước làm đôi, nhưng ngọai trừ một số rất ít, đều không ủng hộ chính phủ Diệm. Cuối năm 1958, có tin là 1.000 người đă bị giết ở trại tập trung Phú Lợi khiến Hà Nội tổ chức biểu t́nh phản đối và đ̣i Ủy Hội Quốc tế Kiểm Sóat Đ́nh Chiến (UHQT) điều tra. Thân nhân của nhiều cán bộ ra Bắc tập kết cũng bị giữ, tra khảo và làm tiền bởi các viên chức địa phương. Tác giả Bùi Tín nhắc lại những biện pháp hăi hùng đối với những nạn nhân của chiến dịch tố cộng:

Các chiến dịch tố cộng, diệt cộng, với sắc lệnh 10/59, đưa máy chém khắp các vùng để trừng trị các lực lượng cộng sản đang ẩn dấu trong dân. Hà Nội gọi đó là cuộc chiến tranh một bên trong các tài liệu tổng kết.

Các chiến dịch tố cộng ở đồng bằng sông Cửu Long, ở Khu 5, bắt vợ con những người “cộng sản” (thật ra phần lớn chưa hoặc không phải là cộng sản, chỉ là những người kháng chiến chống thực dân Pháp) từ bỏ những người chồng đi tập kết ra Bắc; những người kháng chiến cũ, gia đ́nh họ bị quản thúc, kiểm sóat gắt gao, gây nên một không khí rất căng thẳng.”

Đối với các đảng phái quốc gia có khả năng trở thành đối thủ trong cuộc tranh giành quyền lực th́ những cuộc thanh trừng đă được chính quyền Ngô Đ́nh Diệm thực hiện từ đầu năm 1955, trước khi dẹp yên loạn B́nh Xuyên và những nhóm tôn giáo đối lập. Ở miền Trung, vào tháng Ba (1955), Ngô Đ́nh Cẩn đă dẹp xong các mật khu của Đại Việt tại Ba Ḷng (Quảng Trị) và Phú Yên. “Kế tiếp, bắt đầu tiêu diệt các hệ Việt Nam Quốc Dân Đảng tại Quảng Nam, Quảng Ngăi, B́nh Định, Kontum và nhiều tỉnh khác, trên 20 người bị bắt giữ, kể cả Trịnh Thể, Nguyễn Tiến Long, Trần Bích Kiện, Hồ Văn Anh, Phan Thiệp (Quận Trưởng Tam Kỳ) cùng nhiều giáo viên trường Khải Định Huế….” 28 

VII.- Thi hành chính sách Ki-tô hóa miền Nam bằng bạo lực, bắt giam, tra tấn hơn 500 ngàn người và tàn sát hơn 300 ngàn người.- Tất cả đều được nhà viết sử và chứng nhân ghi lại trong các tác phẩm của họ. Linh-mục Trần Tam Tỉnh ghi nhận trong cuốn Thập Giá và Lưỡi Gươm như sau:

"Mùa hè năm 1955, Ngô Đ́nh Diệm tung ra chiến dịch Tố Cộng và qua luật 10/1959, ông đă lập các Toà Án Quân Sự Đặc Biệt, như bộ máy đàn áp. Luật này, kết án tử h́nh và phải thi hành trong ṿng ba ngày, khỏi có quyền bào chữa, tất cả những người Cộng Sản, những người có quan hệ với Cộng Sản (những chiến sĩ yêu nước chống Pháp, cả cha mẹ và bạn bè của họ), tất cả những bị cáo được xem là phạm đến an ninh quốc gia. Các cuộc càn quét đă dẫn về hàng ngàn "tên đỏ", từ nay gọi là Việt Cộng và nhiều người trong số đó đă bị giết... Trong lănh vực này, tài liệu bí mật của Lầu Năm Góc (Bộ Quốc Pḥng Hoa Kỳ) cũng giống những ǵ do chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa phổ biến hồi đó: "Suốt thời gian của cái gọi là Chiến Dịch Tố Cộng được tung ra vào mùa hè năm 1955, từ 50,000 (50 ngàn) đến 100,000 (100 ngàn) người đă bị nhốt vào ngục. Nhưng bản báo cáo có nói, phần lớn những kẻ bị bắt giam đây không phải là đảng viên Cộng Sản". Đó là lời của F. Butterfield viết trong bản phân tích Tài Liệu Lầu Năm Góc (Bộ Quốc Pḥng Hoa Kỳ). Tác giả c̣n thêm: "Chương tŕnh công dân vụ, đă thất bại, bởi v́ Tổng Thống Diệm hầu như chỉ phát (gửi) toàn những người di cư miền Bắc hay là Công Giáo đến các làng đó. Nông dân cho rằng những thứ người đó không phải là người của họ (Pentagon Papers, trang 12]"29 .

Sách "Vietnam Why Did We Go?" ghi rơ như sau:

"Giữa năm 1955 và 1960, tối thiểu có tới 24 ngàn người bị thương, 80 ngàn người bị hành h́nh hay bị sát hại bằng cách này hoặc bằng cách khác, 275 ngàn người bị bắt tra vấn và giam giữ. Cuối cùng có tới 500 ngàn (khoảng nửa triệu) người bị cầm tù tại các trại giam. Bộ máy đàn áp của chính quyền Da-tô (Công Giáo) trở nên hết sức ghê gớm và tàn bạo khiến cho Hoa Kỳ đă phải vừa ngấm ngầm vừa công khai phản đối chính sách Da-tô hóa quá trơ trẽn của chính quyền Diệm. Nhiều tu sĩ Phật giáo theo gương ni cô Thanh Quang quyết tâm phản đối chế độ đạo phiệt Da-tô Ngô Đ́nh Diệm. Phải can đảm lắm người ta mới có thể chuẩn bị để tự thiêu cho mục đích duy tŕ niềm tin tôn giáo. Các nam nữ tu sĩ Phật Giáo tự thiêu đă làm sống lại tinh thần Phật Giáo của hàng triệu Phật Giáo đồ khiến cho họ quyết tâm chống lại những luật lệ bất công của chính quyền Diệm. Giáo Hội La Mă chẳng hề tỏ ra đau buồn hay kính phục những người tử đạo Phật Giáo này." Nguyên văn: ("Between 1955 and 1960 at least 24,000 were wounded, while 80,000 people were executed or otherwise murdered, 275,000 had been detained or interrogated. Eventually, about 500,000 were sent to concentration or detention camps. The Catholic state machinery of suppression became so overpowering and ruthless that the US had to protest, privately and officially, the barefaced religious character of Diem's Catholic policy. Many more Buddhist monks followed the example Nun Nu Thanh Quang in protest against Diem's Catholic regime. It took tremendous personal courage to prepare oneself for death by fire in order to uphold one's own religious belief. The self-immolation of Buddhist monks and nuns helped revive the religiosity of millions of Buddhists, who became determined to resist the unjust laws of Diem government. The Catholic Church never expressed any sorrow or admiration for those Buddhist martyrs.")30 

Sách Đảng Cần Lao ghi lại con số nạn nhân như sau:

"Ngồi tại Dinh Độc Lập, Ngô Đ́nh Diệm có ngờ đâu ông em ḿnh đă nhân danh Đảng Cần Lao Nhân Vị mà nhúng tay vào máu người một cách khủng khiếp đến thế. Số người mà tại Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngăi, Qui Nhơn và Khánh Ḥa... đă bị cán bộ Cần Lao giết, v́ vu cho là Cộng Sản, phá hoại chế độ... đă được kiểm kê vào các năm 1964-1965 là 300,000 (300 ngàn) người! Hơn ba trăm ngàn người chết oan, để rồi chỉ có một ḿnh Cẩn ở miền Trung đền tội, thật là một điều bất công cùng cực!" 31

Chúng ta thấy các nguồn tài liệu trên đây đưa ra ba con số nạn nhân bị giết hại không giống nhau. Linh-mục Trần Tam Tỉnh chỉ nói đến con số nạn nhân bị bắt, bị giam trong các Chiến Dịch Tố Cộng được phát động vào mùa hè năm 1955 mà thôi, và không nói rơ con số nạn nhân bị sát hại là bao nhiêu. Trong khi đó th́ sách ."Vietnam Why Did We Go?" lại nói rơ các con số nạn nhân bị bắt, bị tra vấn, bị thương tật, bị sát hại và bị đưa vào các trại giam. Sách Đảng Cần Lao nói rơ con số nạn nhân bị sát hại ở các tỉnh Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngăi, Qui Nhơn và Khánh Ḥa là 300 ngàn người.

Sự khác biệt về các con số này đă trở thành cái cớ cho tín đồ Da-tô cuồng tín người Việt căi cuội, căi cối, căi chày để phủ nhận việc tàn sát đồng bào ta trong các chiến dịch "làm sáng danh Chúa" ở Liên Khu V được ngụy trang bằng các Chiến Dịch Tố Cộng của chế độ đạo phiệt Da-tô Ngô Đ́nh Diệm trong thời kỳ này. Sự thật là 3 con số này đều đúng cả. Chúng ta không biết v́ lư do ǵ Linh-mục Trần Tam Tỉnh đă không nói đến con số nạn nhân bị giết hại (v́ chưa nắm vững vấn đề hay chưa có con số chắc chắn hoặc v́ một lư do thầm kín mà ông không tiện nói ra), những ông cũng nói lửng "nhiều người trong số đó đă bị giết".

Bản văn trong sách "Vietnam Why Did We Go?" nói rơ con số nạn nhân bị thương là 24 ngàn người, bị giết là 80 ngàn người, bị tra vấn là 275 ngàn người, và bi đưa vào các trại giam là 500 ngàn người. Ai đă từng là chứng nhân hay nạn nhân có kinh nghiệm với việc tra tấn của các hung thần Da-tô cuồng tín hoặc đă đọc các tài liệu nói về thảm cảnh các tù nhân ở trong các trại giam của các chế độ đạo phiệt Da-tô đều biết rơ là tất cả những thành phần thuộc các tôn giáo khác nếu chẳng may lọt vào tay các ông hung thần này đều có thể coi như đă chết. Để kiểm chứng xem luận cứ này có đúng hay không, xin đề nghị quư vị nên:

1.- Đến thăm viên Bảo Tàng Wax Museum ở thành phố Victoria trên ḥn đảo Vancouver (Canada), hay viện Bảo Tàng Medieval ở Đường Jefferson thuộc khu Fisherman Warf trong thành San Francisco, California trong đó người ta có trưng bày hơn 40 h́nh cụ tra tấn do Ṭa Án của Giáo Hội La Mă sáng chế ra để tra tấn những nạn nhân gọi là "tà giáo".

2.- Đọc các sách nói về các h́nh cụ cùng những phương cách tra khảo các nạn nhân của các Toà Án H́nh Sự của Giáo Hội La Mă, đọc những tài liệu nói về cái bản chất dă man của những tín đồ Da-tô cuồng tín đối xử với những thành phần thuộc các tôn giáo khác vào những khi họ có quyền lực trong tay. Cuốn Công Giáo Chính Sử của Giáo Sư Trần Chung Ngọc (nơi các trang 107-116, và 203-209) và cuốn Vatican Thú Tội Xin Lỗi? (cả hai cuốn này đều do Giao Điểm xuất bản (P.O. Box 2188, Garden Grove, CA., 92842 USA, điện thoại: 222-4444) và Chương 11 trong cuốn Thưc Chất Của Giáo Hội La Mă của người viết (Tacoma, TXB, 1999) đều có nói đến những sự thực kinh hoàng trong vấn đề nay.

3.- Tiếp xúc với nhũng người đă từng nạn nhân bi chế của chế độ đạo Phiệt Da-tô Ngô Đ́nh Diệm bắt giam và tra tấn ở Sài g̣n cũng như ở miền Trung.

4.- Đi đến tận nơi thăm lại những tàn tích của các trại giam Chín Hầm ở Huế, P42, Trại Vơ Tánh, trại Cây Mai ở Sàig̣n.

5.- Đọc các sách hồi kư của các nạn nhân đă từng bị chế độ Da-tô Ngô Đ́nh Diệm bắt giam và tra tấn. Một trong những cuốn sách đó là hai cuốn Biến Cố 11 của Giáo Sư Trần Tương.

Hầu hết hơn 300 ngàn nạn nhân bị tàn sát và bị thủ tiêu trên đây đều được rất nhiều sử gia và chứng nhân xác nhận không phải lả Cộng Sản. Các bản văn trích dẫn từ trong sách Thập Giá và Lưỡi Gươm của Linh-mục Trần Tam Tỉnh và những bản văn trích dẫn từ trong các sách khác như đă tŕnh bày ở trên cho chúng ta thấy rơ sự kịện này. Ngay cả ông Tướng Da-tô Hùynh Văn Cao cũng phải than phiền và xác nhận sự thật này với nguyên văn như sau:

Các chiến dịch Trương Tấn Bửu, Đinh Tiên Hoàng, Hoàng Diệu, Nguyễn Huệ đă hoàn tất, mang lại sự thống nhất cho Quân Đội Việt Nam Cộng Ḥa, nhưng đồng thời cũng gây nên bao cảnh năo ḷng giữa người quốc gia.

Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm bảo tôi rằng: “V́ phải lo chuẩn bị đối phó với Cộng Sản, đành phải mạnh ta, chứ biết làm sao hơn được!” 

Tuy nhiên, hai sự kiện không thể nào quên, đó là cái chết của Ba Cụt, và cái chết của một số anh em chiến sĩ giáo phái tại miền Trung và tại Quang Trung.

Trên b́nh diện chính trị, tôi phản đối những cái chết oan uổng ấy v́ đó là những con người chống Cộng.” 32

Thực ra, NẾU không có chính quyền Hoa Kỳ và các nhà quan sát quốc tế, đặc biệt là các phóng viên báo chí người Âu Mỹ, TH̀ con số nạn nhân bị sát hại trong kế hoạch Ki-tô hóa nhân dân miền Nam vào những năm đó c̣n lên cao gấp bội phần

Căn cứ vào đâu mà người viết có thể nói như vây?

Xin thưa, ôn cố tri tân. Nh́n vào những thành tích sát hai người dân thuộc các tôn giáo khác nằm dưới ách thống trị của các chế độ đạo phiệt Da-tô tay sai của Giáo Hội ở Âu Châu trong thời Trung Cổ, ở Croatia trong thời những năm 1941-1945, ở Rwanda (Phi Châu) trong năm 1994 cũng như căn cứ vào đặc tính cuồng tín của ông Ngô Đ́nh Diệm mà sử gia Bernard B. Fall đă ghi nhận như đă tŕnh bày ở trên, và căn cứ vào đặc tính cuồng tín của tín đồ Da-tô được coi là thành phần ṇng cốt và tin tưởng nhất của chế độ mà tiêu biểu cho hộ là ông Da-tô Nguyễn Văn Chức (tác giả viết lá thư đề ngày 25/2/1955 gửi Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm), người viết mới có thể đi đến kết luận như vậy.

1.- Về con số nạn nhân của các chế độ đạo phiệt Da-tô ở Âu Châu trong Thời Trung Cổ, có rất nhiều sách sử đă nói đến vấn đề này. Riêng sách Smokescreens nói rơ con số nạn nhân bị sát hại bởi bàn tay của chính quyền đạo phiệt Da-tô Tây Ban Nha ở chính quốc và ở thuộc địa lên tới 68 triệu người:

Chỉ nội trong thời kỳ thi hành chương tŕnh Inquisition ở Tây Ban Nha, Giáo Hội La Mă đă tra tấn, gây thương tật và sát hại là 68 triệu, và nhiều nạn nhân này cũng là những người Thiên Chúa Giáo tin tưởng vào Thánh Kinh." [The Roman Catholic Institution tortured, maimed and murdered 68 million people during the Spanish Inquisition alone, and many these were Bible-believing Christians."33

2.- Về con số nạn nhân bị sát hại trong thời chế độ đạo phiệt Da-tô Ante Pavelich trong những năm 1941-1945, sách The Vatican’s Holocaust ghi nhận:

"Trong thời kỳ Croatia là quốc gia độc lập và lấy đạo Da Tô làm quốc giáo, có trên 700 ngàn đàn ông, đàn bà và trẻ em bị giết hại. Nhiều người bị hành h́nh, bị tra tấn, bị bỏ cho chết đói, bị thiêu sống cho đến chết. Hàng trăm người bị cưỡng bách phải theo đạo Da-tô (Thiên Chúa La Mă). Các ông linh-mục của Giáo Hội La Mă làm quản giáo tại các trại tù tập trung; nhiều tu sĩ khác của Giáo Hội là sĩ quan trong các đơn vị quân đội đă phạm tội ác tàn bạo. 700 ngàn trong tổng số dân có mấy triệu người tức là khoảng 1/3 dân số bị các đoàn lính dân quân Da-tô giết hại" Nguyên văn: During the existence of Croatia as an independent Catholic State, over 700,000 men, women and children perished. Many were executed, tortured, died of starvation, or burned to death. Hundreds were forced to become Catholic. Catholic padres ran concentration camps; Catholic priests were officers of the military corps which committed such atrocities. 700,000 in a total population of a few million, proportionally, would be as if one-third of the USA population had been exterminated by a Catholic militia.”34

3 .- Về con số nạn nhân bi Giáo Hội La Mă sát hại ở Rwanda (Phi Châu) vào năm 1994.- Chỉ trong ṿng 100 ngày trong năm 1994, chính quyền đạo phiệt Gia-tô của Giám-mục Augustin Misago tại Rwanda đă sát hại tới hơn 800,000 (8000 ngàn) những người thuộc các tôn giáo khác. Dưới đây là một số tài liệu nói về thảm trạng này.Trước hết bản tin phổ biến vào ngày 5/ 11/ 2000 trên mạng http:/www.vietnamdaily.com loan truyền như sau:

"Tin Quốc Tế.- Giám Mục Thiên Chúa Giáo Có Thể Bị Tử H́nh Tại Rwanada: Kigali, Rwanda (TH).- Một công tố viên nói hôm Thứ Tư là ông đă yêu cầu lên án tử h́nh một giám mục Thiên Chúa Giáo La Mă về tội diệt chủng trong năm 1994 liên hệ tới các vụ tàn sát ít nhất nửa triệu người, gồm cả nhiều người bị chém tại các nhà thờ nơi họ chạy vào lánh nạn.

Giám Mục Augustin Misago, 56 tuổi, là chức sắc đầu tiên của Giáo Hội bị truy tố về tội diệt chủng liên hệ tới các cuộc tàn sát sắc dân thiểu số Tutsis trong 90 ngày. Giám Mục kêu vô tội về tội cáo buộc diệt chủng và các tội chống nhân loại.

Trong vụ xử gây căng thẳng quan hệ giữa Rwanda và Ṭa Thánh Vatican, Giám-mục Misago bị cáo buộc đă đẩy ba linh mục và trên 10 học sinh tới chỗ chết v́ không cho họ tá túc trong giáo xứ của giám mục.

Kết từ phần buộc tội hôm Thứ Ba, công tố viên Edward Kayihura cũng yêu cầu Giám-mục Misago và chính phủ bồi thường 93,750 Mỹ kim cho các gia đ́nh nạn nhân.

Các cuộc tàn sát bắt đầu hồi tháng 4/1994, khi ấy Giám-mục Misago là chức sắc cao cấp nhất của Giáo Hội ở giáo xứ Gikongoro nơi hàng chục ngàn người bị giết. Giám mục Misago là chức sắc cao cấp nhất của Giáo Hội Thiên Chúa Giáo trong số trên 20 linh mục và nữ tu bị truy tố về tội diệt chủng. Hai linh mục đă bị kết án tử h́nh.

Các cuộc tàn sát chấm dứt với chiến thắng của Mặt Trận Ái Quốc Rwanda do sắc dân Tutsis lănh đạo lật đổ chính phủ của sắc dân Hutu.

Trên 125,000 can phạm diệt chủng bị tù tại Rwanda. Trên 1500 người đă được đưa ra ṭa xét xử và 300 người bị án tử h́nh."35 

Rwanda là một quốc gia tí hon. Diện tích vỏn vẹn chỉ có 26,338 cây số vuông, và dân số là 8,196,000 (vào năm 1995) trong đó 65% theo đạo Kitô La Mă. Vốn là hai vùng đất Rwanda và Burundi cùng bị Đức chiếm làm thuộc địa từ thập niên 1890. Đức là quốc gia bại trận trong trận Đệ Nhất Thế Chiến. Năm 1919, Hội Quốc Liên cho hợp nhất hai vùng đất này thành xứ Rwanda và giao cho nước Bỉ (theo đạo Kitô La Mă) quản trị. V́ thế mà tín đồ Kitô La Mă lên tới 65%.

Về con số nạn nhân Tutsis bị chính quyền đạo phiệt Da-tô tàn sát trên đây, kư giả Joe Lauria của tờ The Boston Globe ghi nhận là 800 ngàn người. Bài báo của kư giả này với tựa đề là "U.N.'s inaction blamed for Rwanda killings" U.S. Belgium also criticized in report on 1994 genocide in African country" được tờ The News Tribune (Tacoma) số ra ngày Thứ Sáu 17/12/1999 đăng lại với nguyên văn như sau:

"New York: V́ Liên Hiệp Quốc đă không quan tâm đến những lời cảnh cáo nhắc đi nhắc lại về nạn tàn sát người tập thể diến ra ở Rwanda vào năm 1994, khiến cho 800 ngàn người Tutsis và Hutus ôn ḥa bi sát hại trong ṿng chưa đầy 100 ngày. Đây là bản báo cáo của một ủy ban độc lập vào ngày Thứ Năm (vừa qua).

Bản báo cáo nói rằng, cộng đồng thế giới đă không ngăn chặn thảm trạng diệt chủng này và cũng không ngăn chặn cái nạn này ngay từ khi nó bắt đầu xẩy ra. Sự việc này bắt nguồn từ "sự thiếu tài nguyên và thiếu ư chí chính trị" cả trước và sau khi thiểu số người Hutus tiến hành việc tàn sát người Tutsus khởi đầu từ ngày 6 tháng 4 năm 1994.

Các chuyên viên điều tra nói rằng, ông Tổng Thư Kư Liên Hiệp Quốc Kofi Annan, người cầm đầu lực lượng duy tŕ ḥa b́nh, Hoa Kỳ và Bỉ, tất cả đều phải chịu trách nhiệm về việc không chặn đứng thảm trạng giết người diệt chủng này. Bản báo cáo cho rằng Hoa Kỳ đă đặt vấn để tốn phí cho lực lượng duy tŕ ḥa binh lên trên việc cứu sồng sinh mạng con người và tố cáo Bỉ đă triệt thoái quân đội quá mau, bỏ rơi hai ngàn người ở trường kỹ thuật và để mặc cho nhiều người bị sát hại.

Bản báo cáo ghi nhận lần thứ hai trong ṿng hai tháng rằng Liên Hiệp Quốc nh́n nhận đă thất bại, không thể chặn đứng được thảm trạng tàn sát tập thể này mà đáng lư ra có thể ngăn chặn được. Trong một bản báo cáo nội bộ vào tháng 10, Liên Hiệp Quốc đă nhận trách nhiệm về thảm trạng tàn sát hầng ngàn tín đồ Hồi giáo người Bosnia trong năm 1995 ở Srebrebia, thuộc xứ Bosnia.

Trong lời tuyên bố hôm Thứ Năm (vừa qua), ông Tổng Thư Kư Liên Hiệp Quốc Annan nói rằng, "cả hai bản báo cáo - một của riêng tôi và một của ủy ban độc lập điều tra ở Rwanda - phản ảnh sâu xa sự quyết tâm tŕnh bầy sự thật về những thảm trạng này." Ông đă yêu cầu cho điều tra vụ thảm sát ở Rwanda vào tháng 3. Ban điều tra bắt đầu làm việc vào tháng 6. Ủy ban này do Thủ Tướng Ingvar Carlson của nước Thụy Điển làm trưởng ban. Bản báo cáo dày 58 trang nói rằng lệnh của Hội Đồng An Ninh Liên Hiệp Quốc ban hành cho lực lượng duy tŕ ḥa b́nh ở Rwanda không đầy đủ và những điều ghi trong đó không được rơ ràng. Bản báo cáo cũng nói rằng các viên chức Liên Hiệp Quốc kể cả ông Tổng Thư Kư Annan đă không hành động ǵ sau khi nhận được bằng chứng rơ ràng về vụ diệt chủng có kế họach rất là chu đáo, và ông cựu trưởng đoàn Liên Hiệp Quốc Boutros Boutros -Ghahi đă không thông báo cho Hội Đồng An Ninh biết về tín tức này.

Trong lời tuyên bố vào hôm Thứ Năm, ông Tổng Thư Kư Annan thú nhận rằng Liên Hiệp Quốc đă khoanh tay đứng nh́n trong khi thảm trạng diệt chủng dưới một h́nh thức thuần túy là tội ác ghê gớm nhất xẩy ra." Tất cả chúng tôi đều cảm thấy hối hận sâu xa v́ rằng chúng tôi đă không làm ǵ hơn để ngăn chặn tội ác này. Khi xẩy ra tội ác này có Quân Đội Liên Hiệp Quốc ở đó. Nhưng đạo quân này lại không nhận được lệnh và cũng không được trang bị những thứ cần thiết để th́ hành nhiệm vụ ngăn chặn những hành động tội ác diệt chủng này. Nhân danh Liên Hiệp Quốc, tôi nh́n nhận sự thất bại này và xin bày tổ ḷng hối tiếc và ân hận sâu xa của tôi về thảm trạng này."

(Đây là nguyên văn bản tin này bằng Anh ngữ: "New York.- The United Nations ignored repeated warnings of an impending massacre in Rwanda in 1994, paving the way for an orgy of ethnic killing that left 8000,000 Tutsis and moderate Hutus dead in less than 100 days, in an independent panel reported Thursday.

"The international community did not prevent the genocide, nor did it stop the killing once the genocide had begun," the report said. This stemmed from a "lack of resources and political will" before and after the massacre of Tutsis by the minority Hutus began Aptil 6, 1994. 

U.N. Secretary Geneal Kofi Annan, then head of U.N. peacekeeping forces, the United States and Belgium all bear some responsibility for failing to stop the genocide, the investigators said. The report suggested the United States put controlling the cost of peacekeeping operations above saving lives and accused Belgium of pulling its peacekeeping troops out too quickly - at one point abandoning 2,000 people in a technical school and leaving many of them to be murdered. 

The findings marked the second time in two months the U.N. has acknowledged failing to stop mass killings that could have been prevented. In an internal report in October, the U.N. accepted blame for the massacre of thousands of Bosnian Moslem men in 1995 in Srebrenia, Bosnia.

"Both reports - my own on Srebrenica and that of the independent inquiry on Rwanda - reflect a profound determination to present the truth about these calamities," Annan said Thursday in a statement. Annan requested the inquiry into the Rwanda massacre in March. The panel, which began work in June, was headed by former Swedish Prime Minister Ingvar Carlson. The 58 page report said the mandate the Security Council gave the U.N. peackeeping force in Rwanda was inadequate and its rules of engagement unclear. It said U.N. officials, including Annan, failed to act after receiving direct evidence of a carefully planned genocide, and former U.N. chief Boutros Boutros-Ghahi did not inform the Security Coincil of the information.

In a statement Thursday, Annan admitted the U.N. stood by during a genocide of the "purest and most evil form." 

"All of us must bitterly regret that we did not do more to prevent it. There was a United Nations force in the country at the time, but it was neither mandated nor equipped for the kind of forceful action which would have been needed to prevent or halt the genocide. On behalf of the "U.N.”, I acknowledge this failure and express my deep remorse."36

4.- Về đặc tính cuồng tín của ông Ngô Đ́nh Diệm, xin xem lại đoạn văn trích dẫn trong sách The Two Vietnams của sử Bernard B. Fall ở trên.

5.- Đặc tính cuồng tín của ông Da-tô Nguyễn Văn Chức được thể hiện ra qua những lời lẽ của chính ông trong lá thư gửi đề ngày 25/2/1955 gửi cho Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm. Dưới đây là nguyên văn của lá thư này: 

Sàig̣n, ngày 25 tháng 2 năm 1955.

Kính gửi Cụ NGÔ-Đ̀NH-DIỆM,

Thủ-Tướng

Chính-Phủ Việt-Nam

Thưa Thủ-Tướng,

1.- T́nh h́nh Việt-Nam trong mấy tháng gần đây thật là hết sức khó khăn và phức tạp. Tương-lai Tổ-Quốc nói chung và tương-lai Công-Giáo Việt-Nam nói riêng, thật đáng quan-ngại. Càng quan-ngại hơn khi cả Thế-giới tự-do và Thế-giới Công-Giáo đang nhiệt-thành giúp đỡ chúng ta cố-gắng, nỗ-lực vượt qua mọi khó khăn trở-ngại, để tích-cực chuẩn-bi chờ ngày chiến-thắng-Việt-Minh Cộng Sản.

2.- Những thí-nghiệm và những việc làm của Chính-Phủ không phải là không có kết-quả, những vẫn c̣n nhiều cheo leo và khó khăn to lớn khác luôn luôn t́m cơ hội phá hoại. T́nh-trạng ấy bắt buộc Chính-Phủ phải có một hậu-thuẫn to lớn, vững chắc, trung-thành, có tổ chức mạnh mẽ và có hành động thiết thực.

3.- Trong tinh-thần ấy, CẦN-LAO NHÂN-VỊ CÁCH-MẠNG ĐẢNG đă có công rất nhiều nhưng tiếc rằng chưa được tất cả những người Công-Giáo Việt-Nam hâm-mộ. Người ta e rằng: trong t́nh trạng ấy, CLNVCM chỉ có thể là một đoàn-thể có bề rộng mà thiếu bề sâu.

4.- Trung-thành với Giáo-lư, người Công-Giáo Việt-Nam trong lúc này, đ̣i hỏi một đoàn-thể hoàn-toàn Công-Giáo, có tính-chất tôn-giáo. Cuộc di-cư của đồng-bào Công-Giáo Bắc-Việt phải là một cuộc chuẩn-bị tinh-thần và đạo-đức, một cuộc rèn luyện can trường và đức TIN để rồi c̣n chiến-đấu với Cộng-Sản (v́ C.S. c̣n-tấn công).

5.- V́ vậy, chúng tôi nghĩ cần phải gấp đưa ra trong lúc này một đoàn-thể tạm gọi là THẬP-TỰ-QUÂN H̉A-B̀NH để vừa thúc đẩy mọi hoạt-động Công-Giáo đang cần-thiết trong giai-đoạn này và phụ-họa với hoạt-động của CLNVCM, vừa chứng minh rằng : không phải chỉ có người C.S. tuyên truyền yêu Ḥa-B́nh mà những người Quốc-Gia cũng biết yêu Hoà-B́nh một cách thành-thực.

6.- THẬP-TỰ-QUÂN H̉A-B̀NH, theo ư chúng tôi nghĩ, là một cuộc tập-hợp lớn lao nhất của người Công-Giáo Việt-Nam. Ảnh-hưởng của nó sẽ quan-trọng và do đó, trở nên một lực-lượng hậu-thuẫn đắc-lực nhất, trung-thành nhất của Thủ-Tướng. Nó lại c̣n có những lợi ích :

A.- Làm cho người Công-Giáo Việt-Nam vững tin và luôn luôn vững tin dù có phải gian-khổ cũng vẫn hiên-ngang, chiến đấu cho đức TIN, như vậy lực lượng tinh-thần chống Cộng sẽ vô cùng vững chắc.

B.- Làm cho sự lănh đạo của Thủ-Tướng càng ngày càng vững chắc và có kết-quả v́ có một khối Công-Giáo lớn, mạnh, có tổ chức, có tranh đấu, làm hậu thuẫn.

C.- Làm cho Thế-Giới tự-do và Thế Giới Công Giáo nức ḷng ủng-hộ cho cuộc tranh-đấu chính-trị hiện nay và cuộc chiến-đấu quân-sự mai kia của Q.G.V.N.

V́ những lư do ấy, chúng tôi lấy làm hân hạnh được kính gửi THỦ TƯỚNG:

7.- Bản ĐIỀU-LỆ và NỘI-QUY đại-cương của THẬP-TỰ-QUÂN H̉A-B̀NH tuy chưa được hoàn-hảo nhưng cũng đă bao gồm những phần chính trong chương-tŕnh hoạt-động.

8.- Chúng tôi có ư-định, nếu đại cương điều lệ ấy được Thủ-Tướng đồng ư th́ xin Thủ-Tướng cho tham-khảo ư kiến các Đức Giám-Mục, các vị linh-mục, các Chiến-sĩ Công Giáo tiến-hành, các nhân-vật Công-Giáo và các nhân-viên lănh-đạo CLNVCM để gấp đi đến một cuộc Hội-nghị sơ-bộ nghiên-cứu Điều-lệ và Nội-quy, chương-tŕnh vận-động thành-lập để kịp cho tới đầu tháng Đức Mẹ (tháng 5 dương-lịch) sắp tới, THẬP-TỰ-QUÂN H̉A-B̀NH có thể ra đời được.

Thưa Thủ-Tướng,

Kính xin Thủ-Tướng vui ḷng khứng nhận những tấm t́nh mỹ-hảo tận-tâm của tôi cùng những ư-nghĩ trung-thành luôn luôn cầu Chúa và Đức Mẹ xuống ơn thiêng liêng cho Thủ-Tướng trong công-cuộc lănh-đạo Quốc-Gia Việt-Nam chiến-thắng Cộng-Sản vô-luân, vô thần.

Trọng-kính

Kư tên,

NGUYỄN-VĂN-CHỨC

Địa -chỉ

NGUYỄN-VĂN -CHỨC  Mộc đóng dấu ghi rơ ngày nhận là ngày 26/2/1955

Nhà Ông Mười, Phố Băng, Đường làng số 19, Phú Nhuận, GIA-ĐỊNH (Xem phụ bản)37

Lá thư trên đây của ông Da-tô Nguyễn Văn Chức cho ta thấy tín đồ Da-tô người Việt luôn luôn chủ trương thành lập một đạo quân Thập Tự gồm toàn những tín đồ Da-tô giống như các đạo Quân Thập Tự trong thời Trung Cổ để tiêu diệt những thành phần thuộc các tôn giáo khác.

VIII.- Tổ chức đại lễ vào tháng 2 năm 1959 rồi mời vị Khâm Sứ đại diện của Vatican tại Sàig̣n là Hồng Y Agagianian để chủ tế để dâng nước Việt Nam cho Giáo Hội dưới h́nh thức dâng cho “Đức Mẹ Vố Nhiễm”.- Sự kiện này được Linh-mục Trần Tam T́nh ghi lại trong cuốn Thập Giá và Lưỡi Gươm như sau:

"Chính phủ Công Giáo" càng ngày càng lộ liễu khi ngành công binh, từng đoàn quân xa và vật liệu của chính phủ đưa ra xử dụng trong việc cất nhà thờ, chủng viện, các nhà cho thuê thuộc ṭa giám mục, khi các cán bộ nông thôn và công chính được phái đi lo việc trồng dương liễu và dừa cho đức cha, khi các binh sĩ được biệt phái thường trực tại văn pḥng Công Giáo Tiến Hành, khi các giám mục có chỗ danh dự đứng bên cạnh tổng thống trong các nghi lễ công cộng, hay là trong các cuộc duyệt binh, khi chính phủ phê nhận luật gia đ́nh của bà Nhu, em dâu của Diệm, áp dụng trong một nước mà 90% dân không phải là Công Giáo - các khoản luật gần giống như trong Giáo luật. Khỏi nói tới việc dựng tượng Đức Mẹ do tay tổng thống, có giám mục nọ kia phụ vào, tại nhiều điểm ranh giới để "nhờ Đức Mẹ che chở đất nước khỏi nạn Cộng Sản."

Quả thế, Đức Mẹ cũng bị đưa vào môi trường của chủ nghĩa hiếu thắng huênh hoang, nhất là nhân dịp Đại Hội Thánh Mẫu tháng 2 năm 1959, có Hồng Y Agagianian, sứ thần của Đức Giáo Hoàng qua chủ sự. "Ba trăm ngàn giáo hữu đă đi theo cuộc rước khổng lồ trong ngày kết thúc, sau đó hồng y đă long trọng dâng nước Việt Nam cho Đức Mẹ Vô Nhiễm" theo tin tức báo chí thời ấy. Để cuộc rước đó được thành công, ngoài sự tưởng tượng của Roma và Paris, người ta đă huy động hàng ngàn tên công binh để xây cất một bệ lớn trước nhà thờ chính ṭa Sàig̣n, để dựng lên những cổng chào, đồng thời đưa ra hàng trăm xe cam nhông để vận chuyển hàng chục ngàn giáo dân từ các tỉnh về.

Đức Mẹ cũng được cung kính đặc biệt tại La Vang ở quăng 30 km (cây số) mạn nam vĩ tuyến 17. V́ những lư do chính trị, ngôi nhà nguyện nhỏ mất hút trong rừng núi, bỗng trở nên một nơi hành hương cho toàn thể người Công Giáo Việt Nam, thậm chí là của toàn nhân dân Việt Nam! Được mệnh danh là "thành lũy thế giới tự do chống Cộng Sản", ngôi nhà nguyện khiêm tốn này vừa được nâng lên hàng vương cung thánh đường từ sau Đại Hội Thánh Mẫu, đă tiếp nhận vào tháng 8/1961 một cuộc hành hương khổng lồ nhất trong lịch sử chế độ Diệm. Ngày 16/8/(1961), tổng thống đích thân phó thác tương lai nước Việt Nam cho Đức Mẹ La Vang. Trước mặt 200,000 người hành hương, đầy đủ các giám chức của Giáo Hội, các bộ trưởng và công chức cao cấp, phần lớn không phải là Công Giáo, Tổng Giám Mục Ngô Đ́nh Thục đă đọc lời kính dâng nước Việt Nam cho Đức Mẹ, sau cuộc rước kiệu không lồ

Nhằm biến La Vang thành một thứ Lộ Đức Việt Nam, hàng giám mục đă tổ chức sổ số La Vang để lấy cho được cỡ 10 triệu đồng dành cho việc xây cất nhà thờ mới với các tượng Thánh Giá và cái hồ "làm phép lạ". Vé số được phân phối cho các công chức, Công Giáo hay không cũng mặc, bằng cách khấu trừ tiền lương của họ. Các học sinh nghèo nhất tại các trường miền Nam cũng phải mua vé số. Một số vé được giao cho các xă phân phối. Tại Sàig̣n, một bữa tiệc kiểu Mỹ được tổ chức, trong đó mỗi khách được mời phải đóng 2 500 (2 ngàn rưỡi) đồng (ngang một tháng lương của công nhân gọi là để đóng góp cho Trung Tâm Quốc Gia La Vang. Danh sách các ân nhân "tự nguyện" của La Vang rất dài, với những người đứng đầu sổ là Phó Tổng Thống người Phật Giáo, các bộ trưởng, các tướng tá, mỗi người dâng cúng từ 10 ngàn đến 20 ngàn đồng. Đối với Nhà Nước cũng như Giáo Hội, La Vang không phải chỉ là một trung tâm tôn giáo mà c̣n là biểu thị của chế độ chống Cộng..."38

IX.- Cương quyết bảo vệ gần 400 ngàn mẫu (Anh) ruộng đất của Giáo Hội La Mă mặc dù Hoa Kỳ đă bỏ tiền ra tài trợ và đă thúc giục nhiều lần phải thực thi chương tŕnh cải cách điền địa, giúp cho anh em nông dân có ruộng cày để nuôi sống gia đ́nh hầu giảm bớt cái cảnh bất công về kinh tế trong nông thôn. Sự kiện này đều được sách sử ghi lại đầy đủ và rơ ràng. Sách Việt Nam Niên Biểu 1939-1975 Tập I C: 1955-1963 ghi lại như sau:

Thứ Ba, 5/7/1956.- SÀIGON: Diệm tiếp Reinhardt và Barrows về kế hoạch cải cách ruộng đất. Tham dự có Nguyễn Hữu Châu, Nguyễn Ngọc Thơ và Ladejinsky, cố vấn cải cách ruộng đất của Diệm. VNCH trù tính mua lại khoảng 1 triệu mẫu đất của chủ điền rồi bán lại cho dân. Mỗi chủ điền từ nay chỉ được sở hữu từ 60 đến 200 mẫu. (trước đây, khoảng 6,000 (6 ngàn) chủ điền làm chủ 45% đất ruộng miền Nam, vào khoảng 1 triệu mẫu). Dự trù giá mua một mẫu từ 5,000 (5 ngàn) tới 15,000 (15 ngàn) đồng; như thế sẽ cần một ngân khoản 7 tỉ đồng hay 200 triệu Mỹ kim. Sẽ trả chủ điền 10-15% bằng tiền mặt, sau đó trả bằng trái phiếu quốc gia từ 10 đến 15 năm. Thơ yêu cầu Mỹ cho vay hay viện trợ từ 10 tới 20 triệu Mỹ kim để trả trước cho chủ điền. (Trong thư gửi PTT Richard Nixon ngày 6/7, tăng lên từ 20 tới 30 triệu Mỹ kim.

Nông dân sẽ phải trả tiền mua đất trong ṿng 5 năm, không phải trả tiền lời. (FRUS, 1955-1957, I: Tài liệu 337).39

Thế nhưng, với tinh thần “tuyệt đối tin tưởng vào Ṭa Thánh Vatican” như đă công khai tuyên bố với các chính khách Mỹ có thế lực trên sân khấu chính trị Hoa Kỳ trong bữa cơm chiều tại Khách Sạn Mayfower ở Washington D.C. vào đầu tháng 10/1955, cho nên khi bị chính quyền Hoa Kỳ thúc giục thi hành chính sách cải cách ruộng đất trên đây, ông Ngô Đ́nh Diệm lại toa rập với Giáo Hội La Mă để qua mặt chính quyền Hoa Kỳ, không rớ tới khối ruộng đất khổng lồ gần 400 ngàn mẫu của Giáo Hội. Sự kiện này được sử gia Joseph Buttinger ghi lại như sau:

"Hơn nữa, hàng trăm ngàn anh em nông dân được Sở Nông Nghiệp Tín Dụng giúp đỡ bằng cách cho vay tiền làm vốn mà trước kia họ phải vay của bọn chủ nợ tư nhân với giá cắt cổ. Nhưng v́ không có đại diện thực sự của họ cho nên đại khối nông dân ở nông thôn vẫn tiếp tục là nạn nhân (bị bóc lột) của giới địa chủ và viên chức chính quyền. Giá nộp tô hợp pháp được quy định là 25% nhưng hầu như khắp nơi không có ai quan tâm hay để ư tới. v́ rằng tá điền thường cho là nếu không quá 30% là may mắn lắm rồi. Ngay cả những năm sau năm 1960, khi Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam phát động cuộc chiến chống lại chính quyền miền Nam là lúc tranh giành ḷng dân, lôi kéo nhân dân về phía ḿnh, mà t́nh trạng này vẫn như vậy. Các ông địa chủ có quân lính trở lại các vùng do Việt Minh kiểm soát trước đó để đ̣i nông dân phải nộp tô cho họ với giá cao hơn giá chính quyền ấn định. Chỉ có sự đồng thuận hay tiếp tay của chính quyển th́ giới địa chỉ mới làm được như vậy.

Anh em nông dân bất măn v́ không được quyền chiếm hữu những đất đai không có chủ mà chính họ đă liên tục canh tác cho đến lúc đó. Đây là sự thực. Ngay cả với 43 ngàn giáo dân Bắc Kỳ đến định cư ở Cái Sắn cũng chống lại những khế ước với về chính sách nộp tô như vậy, nhất là lúc đó chính quyền đă cắt giảm tiền trợ cấp định cư cho họ.

Việc thi hành chương tŕnh cải cách điền địa một cách vụn vặt và chắp vá trong một phạm vi hạn hẹp như vậy đă gây tai hại cho việc cải tiến về chính trị của đất nưỡc. Sự kiện này cũng cho chúng ta thấy rơ những lời cao rao rằng chế độ của ông Ngô Đ́nh Diệm là một chế độ cách mạng chỉ là những lời tuyên truyền giả dối rỗng tuếch. Ông Diệm không có khả năng nhận thức được rằng cuộc cách mạng quốc gia chỉ có thể hoàn thành được vào khi mà tất cả những tàn dư của chế độ thuộc địa cũ đă bị quét sạch, và bằng những chương tŕnh cách mạng cấp tiến về xă hội và kinh tế. Đối với đại khối nông dân, trong thời chế độ thực dân thuộc địa, giai cấp địa chủ phong kiến bóc lột họ là một sự thực. V́ thế cho nên, chỉ khi nào chế độ thực dân thuộc địa bị xóa bỏ th́ khi đó mới có thể chấm dứt được chế độ địa chủ bóc lột giai cấp nông dân.

Trong thực tế, v́ không bị loại bỏ bởi chương tŕnh cải cách điền địa, giai cấp địa chủ đă từng cấu kết với chế độ thực dân thuộc đía trong nhiều thập niên, đă thành công trong việc đ̣i lại những quyền lợi của họ trong thời chế độ Diệm. Tối đại đa số trong số 6,300 địa chủ (đa số là nhũng địa chủ vắng mặt) chiếm hữu 45% ruộng lúa ở miền Nam. Đại đa số những địa chủ này không bị ảnh hưởng bởi chương tŕnh cải cách điền địa của chính phủ, vi rằng họ chỉ làm chủ vào khoảng 300 mẫu, giới hạn mà luật lệ nhà nước quy định cho phép được giữ lại (không bị truất hữu). Tuy nhiên, ngay cả trong số 2,500 địa chủ chiếm hữu 40 phần trăm ruộng lúa ở miền Nam, cho tới cuối năm 1962, cũng chỉ có 1,584 địa chủ bị truất hữu một phần ruộng đất của họ mà thôi. Ruông đất do Giáo Hội La Mă làm chủ ước lượng vào khoảng 370 ngàn (370,000) mẫu không hề bị đụng (rớ) tới.”

[Nguyên văn:"Furthermore, the plight of hundreds of thousands of peasants was eased by the National Agrarian Credit Office, which was created in April, to supply peasants in temporary needs funds with loans previously obtainable only at usurious rates. But the absence of any kind of democratic representation of the peasnts meant that the rural masses continued to be victimized by landlords and government officials. The legal rent of 25% of crop was widely disregarded - tenants considered themselves lucky if their rent was no more 30 per cent. Even after 1960, when insurrection made the struggle for peasant loyalty the overriding political issue, abusive treatment of peasants remained widespread.

Landlords, returning with the army to former guerrilla-held regions, extracted rents far above the legal limit. Since this was possible only with the help or acquiescence of the Saigon appointed local officials, the peasants more often than not regretted having returned to government control. The peasants also resented not getting the ownership of formerly unocuppied land, but instead being settled on it as tenants. This was true even of land which the refugees, largely through their own efforts, had opened for cultivation. "At the Cái San development in southwestern Vietnam, for example there was so much resistance to tenancy contracts by the 43.000 resettled refugees that the government cut off daily subsistence payment in order to bring the refigees around."

The narrow scope and the fragmentary execution of the agrarian reform, so fateful for the country's political evolution, reveal a great deal about Diem's political philosophy and the hollowness of his claim that his was a revolutionary regime. Diem was unable to see that Vietnam's national revolution could be completed and all remenants of colonialism wiped out only through radical economic and social reforms. For the peasant masses, exploitation under a feudal land regime had been the dominant reality of colonialism. Colonialism, therefore, would not end for them until landlordism was abolished.

Far form being eliminated by a thorough agrarian reform, the landlords, for decades the associates of the colonial regime, were in fact the group that, more than any other, succeeded in asserting its interests under Diem. A maximum of 6,300 persons (most of them absenteee landlords) owned 45 per cent of all rice land in the South. The vast majority of them were not at all affected by the land-transfer program, since they owned less than the approximately 300 acres the law permitted them to retain. But even of the 2.500 who owned 40 per cent of the Southern rice land, only 1.584 had been partly expropriated by late 1962. (Land held by the Roman Catholic Church, estimated about 370,000 acres was not subject to transfer."40

Cũng nên biết, trong những năm 1862-1954, ỷ thế là thành viên trong Liên Minh Pháp - Vatican thống trị Việt Nam, Giáo Hội La Mă đă dùng cả trăm phương ngàn kế, kể cả những mánh mung bỉ ổi nhất và đê tiện nhất để chiếm đoạt không biết bao nhiêu cơ man ruộng đất và các tài nguyên khác của nhân dân ta. Theo các tài liệu sử, cho tới giữa thập niên 1920, riêng về ruộng đất canh tác không thôi, Giáo Hội đă cướp đoạt và làm chủ tới 25% (1/4) ruộng đất canh tác ở miền Nam Việt Nam, chưa kể ở miền Trung và miền Bắc. Sự kiện này được Linh-muc Trần Tam Tỉnh ghi nhận trong cuốn Thập Giá và Lưỡi Gươm với nguyên văn như sau: 

"Tháng 7 năm 1924, tại Đại Hội V Cộng Sản Quốc Tế, thanh niên Hồ Chí Minh lúc đó gọi là Nguyễn Ái Quốc, đă lên tiếng cảnh cáo chủ nghĩa thực dân bóc lột và vai tṛ của Giáo Hội trong chuyện này. Chỉ một ḿnh Nhà Chung Công Giáo mà chiếm hết một phần tư đất trồng trọt ở Nam Kỳ. Phương thế chiếm hữu các đất đai đó rất là đơn giản: Dùng tham nhũng, hối lộ và cưỡng ép. Đây là một vài ví dụ rơ ràng. Nhà Chung lợi dụng khi mất mùa để cho nông dân vay tiền. Tiền lời cho vay rất nặng, nên con nợ sẽ không thanh toán nổi khi tới ngày trả, và như thế là đất cầm trở thành đất Nhà Chung. Giáo Hội không từ một việc nào để nắm những giấy tờ hệ lụy bí mật và nhờ đó dọa dẫm các quan chức, bắt họ phải làm theo ư ḿnh muốn. Giáo Hội cũng liên minh với những tay tài phiệt để khai thác các vùng đất nhượng cho không và những thửa ruộng cướp được của nông dân. Giáo Hội có người của ḿnh nắm giữ những vai tṛ thế giá trong chính quyền thuộc địa"

Ai cũng biết, những lời phê phán kể trên rất phù hợp một phần sự thật. Paul Mené trong cuốn "Pháp và An Nam Giữa Hai Lằn Đạn" (Paris 1928) ..Ông viết: "Hội Nhà Chung được tổ chức hùng mạnh ở Nam Kỳ. Nhà Chung rất giầu có, chiếm hữu nhiều vùng đất bao la và có nhiều bổng lộc quan trọng tại phần lớn các xí nghiệp địa phương, nhờ những khoản tiền vốn Nhà Chung bỏ vào đó, nhân danh Nhà Chung hoặc phần nhiều là qua trung gian người thứ ba. Trong thời gian Pháp xâm lăng Việt Nam, Nhà Chung đóng một vai tṛ quan trọng như ai cũng biết. Nhà Chung đă tổ chức một hệ thống t́nh báo hoàn bị, cung cấp tin tức cho biết tất cả những ǵ liên hệ tới những con người, những công ty, những công cuộc, những hành động và phương án chính trị tại Đông Dương. Nhà Chung đă đặt được người thân tín của ḿnh vào tất cả các cơ quan, vào hầu hết các xí nghiệp tại các trung tâm lớn cũng như tận cùng những tỉnh xa xôi."

"Trong một báo cáo mật gửi lên Toàn Quyền Đông Dương, viên Thống-sứ Nam Kỳ đă tŕnh với quan thầy rằng: "Không nên quên rằng từ những năm đầu cuộc chiếm đóng của chúng ta, Nhà Chung đă quan tâm chiếm cho được tại Nam Kỳ những tài sản khổng lồ. Nhà Chung có tất cả 28.500 hecta ruộng, không kể đất đai ở thành thị cũng như các bất động sản và của cải khác. Tại miền Tây Nam Kỳ, Nhà Chung làm chủ vùng đất lớn rộng tới ba bốn, hoặc sáu ngàn hecta". [Sàigon 14-12-1934.]41

Chính v́ t́nh trạng này, cho nên khi đến thay thế Pháp ở miền Nam, Hoa Kỳ đă thôi thúc chính quyền Ngô Đ́nh Diệm phải xúc tiến chương tŕnh cải cách điền địa để đem lại ruộng cày cho nông dân hầu tranh thủ ḷng dân mới hy vọng được nhân dân ủng hộ. Nhưng v́ được Vatican dẫn sang tới tận nước Mỹ chạy chọt với với chính quyền Hoa Kỳ đưa về Việt Nam cầm quyền làm tay sai cho cả Giáo Hội lẫn Hoa Kỳ, và v́ đă tuyên bố “tin tưởng vào quyền lực của Vatican”, tất nhiên là ông Diệm phải bảo vệ tất cả những tài sản của Giáo Hội tại miền Nam Việt Nam bằng cách phải qua mặt Hoa Kỳ với những mánh mung tránh né, không rớ tới khối ruộng đất khổng lồ mà Giáo Hội đă ăn cướp của nhân dân Việt Nam trong những năm 1862-1954. Sau này, chính quyền quân phiệt Da-tô Nguyễn Văn Thiệu cũng phải hành động như chính quyền đạo phiệt Da-tô Ngô Đ́nh Diệm vậy. 

X.- Độc quyền buôn bán, chuyển vận, phân phối thuốc phiện và cho tái lập hàng trăm tiệm hút ở Chợ lớn, rồi cho phát triển lên đến hàng ngàn tiệm hút để thu lợi bất kể ǵ là làm nguy hại đến xă hội và tương lai của dân tộc. Sự kiện này được sách The Politics of Heroin in Southeast Asia tŕnh bày khá đầy đủ trong một tiểu mục dài 7 trang có tựa đề là “Diem’s Dynasty and Nhu Bandits” (Triều đại Ngô Đ́nh Diệm và băng đảng ăn cướp Ngô Đ́nh Nhu). V́ giới hạn của bài viết này, người viết chỉ trích dẫn một đoạn ngắn trong tiểu mục này như sau:

“Dù là hầu hết các tiệm hút ở Sàig̣n đă đóng cửa cả ba năm rồi, hàng ngàn dân nghiện người Tầu và người Việt vẫn c̣n thèm muốn được hút trở lại. Ông Nhu cho người tiếp xúc với những lănh tụ của các tổ chức có thế lực của người Tầu ở Chợ Lớn để mở lại các tiệm hút và thiết lập một hệ thống phân phối thuốc phiện nhập cảng lậu cho họ sử dụng. Chỉ trong ṿng có mấy tháng, các tiệm hút thuốc phiện này đă hoạt động trở lại, và năm năm sau, một phóng viên của tờ Time – Life lượng định ở Chợ Lớn có tới 2.500 tiệm hút thuốc phiện họat động công khai.” Nguyên Văn: “Although most of Saigon’s opium dens had been shut for three years, the city’ s thousands of Chinese and Vietnamese addicts were only too willing to resume or expand their habits. Nhu used his contacts with powerful Cholon Chinese syndicate leaders to reopen the dens and set up a distribution network for smuggled opium. Within a matter of months hundreds of opium dens had been open reopened, and five years later one Time-Life correspondent estimated that there were twenty-five dens operating openly in Sagon‘ s sister city Cholon.”42

 

Thuốc phiện có tác dụng làm hại cho sức khỏe của người nghiện và làm nguy hại cho xă hội. Một khi đă lâm vào cảnh nghiện ngập, tâm hồn nạn nhân luôn luôn ở trong cơi mơ màng như rơi vào cơi mộng du khiến cho tinh thần bạc nhược và thể xác cũng trở nên suy nhược lần lần. Cũng v́ thế mà không có mấy người nghiện thuốc phiện lại có thân thể cường tráng và ư chí mănh liệt để lăn lộn với đời trong việc mưu sinh Một người với tinh thần bạc nhược và thân thể cũng suy nhược th́ tất nhiên không những không c̣n là con người b́nh thường hầu có thể lăn lộn với đời trong việc mưu sinh để tự tồn một cách b́nh thường, mà hàng ngày c̣n phải chi tiêu rất nhiều tiền cho nhu cầu nghiện thuốc phiện. Kinh nghiệm cho thấy rằng những người nghiện thuốc phiện đều là những người làm cho gia đ́nh lâm vào cảnh khốn đốn đau thương có thể làm khánh kiệt cả gia sản, rồi trở thành một thứ kư sinh trùng ăn bám và gây hại cho xă hội. Với t́nh trạng như vậy, chắc chắn là những người nghịện thuốc phiện không thể nào tham gia vào đại cuộc đấu tranh cho đất nước và dân tộc. V́ những lư do này mà đă từ lâu, tất cả những chính quyền của các quốc gia trong cộng đồng thế giới đều cố gắng hạn chế việc trồng cây thuốc phiện hay sản xuất thuốc phiện sống, hạn chế việc buôn bán thuốc phiện hay phân phối thuốc phiện bằng bất cứ h́nh thức nào, và chỉ được sử dụng thuốc phiện trong phạm vi y dược mà thôi. Cũng v́ lẽ này, bất kỳ một chính quyền nào mà công khai hay bí mật chủ trương việc trồng hay sản xuất thuốc phiện hoặc là tổ chức hệ thống buôn bán hay phân phối thuốc phiện đều bị coi như là một chính quyền bất chính, giống như một băng đảng ăn cướp. Cũng v́ lư do nà mà tác giả Alfred W. McCoy mới gọi thẳng chính quyền Ngô Đ́nh Diệm là “Diem’s Dynasty and Nhu Bandits” (Triều đại Ngô Đ́nh Diệm và băng đảng ăn cướp Ngô Đ́nh Nhu.)

Dựa vào con số 2,500 tiệm hút thuốc phiện ở Chợ Lớn (chưa kể những tiệm hút khác ở ngoài Sàig̣n Chợ Lớn), chúng ta hăy làm con tính để lượng định sự tác hại này cho người dân miền Nam đến mức độ nguy hiểm như thế nào? Nếu mỗi tiệm hút có vào khoảng 100 khách hàng th́ con số người nghiện thuốc phiện ở trong thành phố Sàig̣n Chợ Lớn đă lên tới 100 X 2,500 = 250,000 người. 

Như vậy là chỉ nói riêng ở trong thành phố Sàig̣n Chợ Lớn với dân số vào khoảng hai triệu người (vào thời điểm 1963) mà đă có tới 250,000 người nghiện thuốc phiện, tức là 250 ngàn gia đ́nh rơi vào t́nh khốn đốn đau thương. Nếu mỗi gia đ́nh trung b́nh là hai vợ chồng và 2 đứa con, th́ con số người lâm vào cảnh khốn đốn đau thương do “Triều đại Ngô Đ́nh Diệm” và “băng đảng ăn cướp Ngô Đ́nh Nhu” gây ra lên tới 4 X 250, 000 = 1,000,000 người.

 

Chúng tôi sẽ tŕnh bày đày đủ vấn đề này trong cuốn Ngô Đ́nh Diệm: Con Người Và Tội Ác. Cuốn sách này đang được biên soạn.

XI.- Đồng loă với quân đội Mỹ trong việc sử dụng chất độc da cam rải xuống đồng ruộng và rừng cây trong lănh thổ miền Nam Việt Nam. Sự kiện này được sách sử ghi lại như sau:

Ngày 30/11/1961, Tổng Thống John F. Kennedy phê chuẩn cho quân đội Mỹ tiến hành chiến dịch khai quang đồng cỏ Việt Nam. Quyết định này được Ngô Đ́nh Diệm, lúc đó là Tổng Thống Nam Việt Nam ủng hộ nhiệt liệt. Diệm cho rằng ông ta “biết cộng sản ở đâu” và tin rằng chiến dịch này sẽ thành công mĩ măn.” 43 V́ được Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm “ủng hộ nhiệt liệt”, chiến dịch khai quang này được quân đội Mỹ cho tiến hành ráo riết trên đất nước Việt Nam và hậu qủa ghê gớm của chiến dịch này được sách sử ghi nhận như sau:

“Quân đội Mỷ rải 77 triệu lít chất độc da cam xuống miền Nam và Trung Việt Nam, gây ảnh hưởng và tác hại đến môi truờng của 2,630,000 mẫu Tây và gần 5 triệu người sống trong 35,585 thôn ấp44

XII.- Vinh danh các giáo sĩ và tín Da-tô người Việt đă phạm tội chống lại tổ quốc Việt Nam: Ngay khi vừa được Hoa Kỳ và Vatican đưa về cầm quyền ở Việt Nam, chính quyền Ngô Đ́nh Diệm cùng bọn Việt gian Da-tô tay sai của Giáo Hội ở Sàig̣n hồ hởi vinh danh những giáo sĩ và tín đồ Da-tô người Việt đă đền tội chống lại tổ quốc Việt từ thế kỷ 17. Hành động bất chính này được thực hiện bằng cách dùng danh tính những tên Da-tô tội đồ này đặt tên cho các trường học, đường phố ở Sàig̣n và ở nhiều thành phố lớn khác ở miền Nam Việt Nam. Ai đă từng sống ở Sàig̣n trong những năm 1954-1975 đều thấy có một số trường học và đường phố Sàig̣n mang tên những tên tội đồ phản quốc này.

Về trường học, chúng ta thấy có các trường học như Trường Pétrus Kư, Trường Nguyễn Tường Tộ, Trường Trần Lục, Trường Hồ Ngọc Cẩn, Trường Nguyễn Bá Ṭng, Trường Nguyễn Duy Khang (ở Thị Nghè), Trường Lê Bảo Tịnh, Trường Thánh Thomas (Nhà Thờ Ba Chuông), v.v… Về đường phố, chúng thấy có Đường Tổng Đốc Lộc (Da-tô Trần Bá Lộc), Đường Tổng Đốc Phương (Da-tô Đỗ Hữu Phương), Đường Alexandre de Rhode, Đường Pétrus Kư, Đại Lộ Ngô Đ́nh Khôi, Đường Nguyễn Bá Ṭng, Đường Huỳnh Tịnh Của, Đường Phát Diệm, Đường Bùi Chu, v.v… Đặc biệt ở Vĩnh Long, lại có Đại Lộ Ngô Đ́nh Thục.

Người viết tin rằng, trong thời gian này, các thành phố khác ở miền Nam Việt Nam cũng ở trong t́nh trạng giống như ở Sàig̣n và Chợ Lớn.

XIII- Dung túng và đồng loă với các anh em trong gia đ́nh, với tu sĩ Da-tô và băng đảng Cần Lao lũng đoạn chính quyền, thao túng tất cả mọi phạm vi hoạt động trong đời sống nhân dân để cướp đoạt tài nguyên của đất nước, thi nhauà vơ vét những khối tài sản và tiền bạc khổng lổ làm của riêng và cống hiến cho Giáo Hội La Mă. Vấn đề này đă được tŕnh bày khá đầy đủ trong Mục XXI ở trên nói về vấn để bảo quản tài sản của Giáo Hội La Mă và kinh tài bất chính. 

Trên đây chỉ là 13 tội ác trong cái rừng tội ác của ông Ngô Đ́nh Diệm trong cuộc đời Việt gian làm tay sai cho Liên Minh Đế Quốc Thực Dân Pháp – Vatican và những năm được Mỹ và Vatican về cầm quyền ở miền Nam Việt Nam. V́ những tội ác trời không dung, đất không tha này mà Ngô Đ́nh Diệm và ông Ngô Đ́nh Nhu đă phải đền tội trước sự phẫn nộ và căm thù của quân dân miền Nam vào sáng sớm ngày 2/11/1963 trên đường áp tải về Bộ Tổng Tham Mưu Quân Đội tại Tân Sơn Nhất, Sàg̣n, và ông Ngô Đ́nh Cẩn với tục danh là “Lănh Chúa Miền Trung” cũng phải đền tội tại khám Chí Hoà, Sàig̣n vào sáng sớm ngày 9/5/1964.

Cũng v́ đă phạm những tội ác tầy đ́nh trên đây mà ông Ngô Đ́nh Diệm và anh em ông ta bị nhân dân Việt Nam đời đời nguyền rủa và khinh bỉ như là một hạng người “cơng rắn về cắn gà nhà” hay “rước voi về giầy mà tổ”, c̣n tệ hơn cả Lê Chiêu Thống, và bị ngay cả người Hoa Kỳ khinh rẻ. Dưới đây là bằng chứng:

A.- Trong bài viết Bài Học Chiến Tranh Việt Nam Nh́n Từ Hậu Trường Chính Trị Hoa Kỳ, ông Lương Minh Sơn ghi nhận:

“Với hai yếu tố v́ tôn giáo và v́ chống Cộng, ông Diêm được Đức Hồng Y Spellman tiếp tục giới thiệu với William O. Douglas, Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện, Thượng Nghị Sĩ Mike Mansfield, Thượng Nghị Sĩ John F. Kennedy, Allen Dulles, Giám Đốc Trung Ương T́nh Báo CIA, và anh của ông Dulles là Ngoại Trưởng John Foster Dulles [MAN, Tr. 58]. Từ đó, ông Diệm trở thành con đáp số gần như mỹ măn trong bài toán chính trị của một phe phái có ư muốn can dự vào Việt Nam:

1.- Chính sách đối ngoại đang đ̣i hỏi Hoa Kỳ phải xây dựng một thành tŕ chống Cộng ở Việt Nam.

2.- Ngoại Trưởng John Foster Dulles đang muốn t́m một lănh tụ chống Cộng theo khuôn mẫu đạo đức và xă hội Thiên Chúa Giáo.

3.- Đức Hồng Y Spellman đang cần Hoa Kỳ thay thế Pháp ở Việt Nam, và cũng cần một giáo dân trung kiên như ông Diệm để lănh đạo công cuộc chống Cộng như lời kêu gọi của Đức Giáo Hoàng Pius XII.

Điều c̣n lại sau cùng cho kế hoạch chính trị hỗn hợp này là làm thế nào để giải thích cho Hội Đồng Chính Phủ và Quốc Hội Hoa Kỳ về kinh nghiệm chính trị và khả năng lănh đạo của ông Ngô Đ́nh Diệm? Tổng Thống Eisenhower cũng chỉ có thể trấn an Hội Đồng Chính Phủ bằng câu nói, “Trong đám mù, thằng chột làm vua,”.[HER]. Điều này cho thấy: một là ông Diệm không có một thành tích chính trị nào đáng kể, hai là ông Diệm không có khả năng lănh đạo, hoặc ba là người Mỹ hoàn toàn không biết ǵ về ông Diệm.”

Đầu năm 1954, Ngoại Trưởng John Foster Dulles khuyến dụ Pháp khuyên nhủ Bảo Đại bổ nhiệm ông Ngô Đ́nh Diệm về Việt Nam làm thủ tướng. ].” 45

B.- Trong bài viết “Tôi đọc Truyện Kiều Và Tuổi Trẻ” đăng www.giaodiem.com, tháng 2/2006, Giáo-sư Trần Chung Ngọc ghi nhận lại lời nói khinh bỉ ỉ đối với ông Ngô Đ́nh Diệm của Tổng Thống Johnson. Dưới đây là nguyên văn lới nói khinh bỉ này:

Tôi nhớ đến lời Tổng Thống Lyndon Johnson khen ông Ngô Đ́nh Diệm là Winston Churchill của Đông Nam Á. Khi kư giả Stanley Karnow hỏi Johnson có phải Tổng Thống thực sự nghĩ như vậy không? Johnson đă trả lời thẳng thừng: "Cục phân, nó là thằng nhóc duy nhất mà chúng ta có ở đó" (Shit, he is the only boy we got there).” 46

C.- Trong khi đó th́ những nhân vật cao cấp trong chính quyền Hoa Kỳ đương thời khinh rẻ và gọi ông Diệm là “thằng chó đẻ”. Sự kiện này được nhà viết sử Nguyễn Kỳ Phong ghi lại trong cuốn Vũng Lầy của Bạch Ốc… với nguyên văn như sau:

Khi vấn đề ông Diệm được đem ra bàn căi, đề nghị của nhóm Hilsman bị ban tham mưu Liên Quân, bộ quốc pḥng và CIA phản đối (giám đốc CIA John McCone căi: “Có thể Diệm là một thằng chó đẻ, những ông ta là thằng chó đẻ của phía tụi ḿnh…”)47

D.- Trong bài viết Khi Đồng Minh Không Tháo Chạy, ông Phan Nhật Nam viết:

Cũng cần đặt thêm một vấn đề: Ai là "Đồng Minh" mà tác giả Nguyễn Tiến Hưng muốn nói? Người Mỹ ư? Chúng tôi thấy thật không ổn - Chẳng bao giờ người Mỹ là "Đồng Minh" của VNCH – Họ khai sinh ra nhà nước VNCH, là ông chủ lớn ("Big Boss") của các phe nhóm cai thầu chống Cộng và cai thầu chiến tranh. Tiến Sĩ Hưng hẳn biết rơ hơn ai hết. Điều nầy trải dài khắp cuốn sách.

C̣n những người Việt giữ vai tṛ cầm đầu được đánh giá như thế nào? Các nhà lănh đạo Mỹ thường coi các nhà lănh đạo VNCH như "ngựa [horses]" hay "boys." Báo cáo của Tướng Westmoreland cũng đầy những chi tiết cười ra nước mắt tủi nhục về các cấp Tướng lănh VNCH…”48

Tội ác của ông Ngô Đ́nh Diệm đối với dân tộc và tổ quốc Việt Nam lớn lao và ghê gớm như vậy! Ấy thế từ khi cái gọi là “Phong Trào Phục Hưng Tinh Thần Ngô Đ́nh Diệm” ra đời vào cuối thập niên 1960 trong thời chính quyền quân phiệt Da-tô Nguyễn Văn Thiệu, đặc biệt là từ năm 1975, ở hải ngoại, hàng năm, cứ vào ngày 1 tháng 11, các cộng đồng Da-tô người Việt đều tổ chức lễ giỗ ông Diệm tại các nhà thờ và tại một vài nơi công cộng rất là ĺnh đ́nh để suy tôn và vinh danh ông ta như là một nhà đại ái quốc đă hy sinh v́ đất nước và dân tộc.

Chúng ta phải giải thích cái hiện tượng quái đản này như thế nào cho hợp lư?

Theo sự hiểu biết của người viết, sự giải thích bằng hai luận cứ dưới đây có thể được coi là hợp lư nhất:

1.- Mối liên hệ giữa một đế quốc xâm lăng đánh chiếm một quốc gia làm thuộc địa và quốc gia bị cưỡng chiếm làm thuộc địa là mối liên hệ thù nghịch bất cộng đái thiên. Những thắng lợi, những tin vui, những anh hùng dân tộc và những thứ như mề đay kim khánh, bảo quốc huân chương của (hay ở bên phía) quân xâm lăng thống trị đối với nhân dân tại quốc gia bị cưỡng chiếm làm thuộc địa là những thất bại, những tin buồn, những tên phản quốc và những biểu tuợng đau đớn nhục nhă khôn nguôi, và ngược lại. Đây là một quy luật lịch sử. Mối liên hệ giữa đế quốc Vatican và dân tộc Việt Nam cũng không đi ra ngoài quy luật lịch sử này. Do đó, những vị anh hùng trong các lực lượng nghĩa quân Việt Nam trong các cuộc chiến chống Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican từ năm 1858 đế năm 1954 và trong cuộc chiến thống nhất đất nước 1954-1975 đều bị Giáo Hội La Mă và tín đồ Da-tô người Việt goi là những quân phản loạn và là quân xâm lăng Bắc Việt. Trái lại, những tín đồ Da-tô bị dân tộc Việt Nam chiến đấu trong hàng ngũ Liên Minh Xâm Lăng Pháp – Vatican đều bị dân ta coi i là Việt gian phản quốc, nhưng lại được Vatican và tín đồ Da-tô người Việt coi là anh hùng dân tộc của nước Chúa Vatican của họ, và có thể được Vatican phong thánh. 117 tên tội đồ đối với dân tộc Việt Nam được Giáo Hội phong tháng vào ngày 19/6/1988 và ông Ngô Đ́nh Diệm đền tội trước sự phẫn nộ của quân dân miền Nam Việt Nam vào sáng sớm ngày 2/11/1963 ở vào trường hợp này. Do đó, chúng ta không lấy ǵ làm ngạc nhiên khi thấy:

A.- Hàng năm, vào ngày 1/11/1963, tín đồ Da-tô người Việt hè nhau tổ chức làm lễ giỗ anh em ông Ngô Đ́nh Diệm và Ngô Đ́nh Nhu rất là linh đ́nh và hết sức long trọng cùng với những chiến dịch viết bài suy tôn tên tam đại Việt gian này lên hàng đại anh hùng dân tộc.

B.- Song song với việc làm trơ trẽn và vô liêm sỉ này là một chiến dịch phổ biến những bài viết hoặc những lời vu khống Phật giáo bị Cộng Sản giật giây hay xúi giục và những lời chửi bới, sỉ vả, hạ nhục những người chủ truơng trong đó có cả những người Hoa Kỳ và những người đă tham gia vào các phong trào tranh đấu chống lại và lật độ cái chế độ đạo phiệt khốn nạn này. 

2.- Hơn nữa, bằng chính sách ngu dân và nhồi sọ, Giáo Hội La Mă đă thành công biến những người Công Giáo Việt Nam thành những người vong bản “thà mất nước, chứ không thà mất Chúa” (như Linh-mục Hoàng Quỳnh đă lớn tiếng hô hào giáo dân trong cuộc biểu t́nh tại cổng Bộ Tổng Tham Mưu Quân Đội ở Sàig̣n vào ngày 27/8/1964) chỉ biết “tin tưởng vào quyền lực của Vatican” (như ông Ngô Đ́nh Diệm đă tuyên bố), giống như một thứ ếch ngồi đáy giếng với niềm tin “Nhất Chúa, nh́ Cha, thứ ba Ngô Tổng Thống!”. Với những hạng người như trên, việc suy tôn và vinh danh ông Ngô Đ́nh Diệm lên hàng đại anh hùng của nước Vatican (nước Chúa) của họ th́ cũng là lẽ đương nhiên mà thôi!

Cũng may là không phải tất cả những tín đồ Da-tô người Việt đều biến thành những hạng người như trên. Chúng ta thấy những người như Bác-sĩ Nguyễn Văn Thọ, Linh-mục Trần Tam Tỉnh, ông Giuse Phạm Hữu Tạo, ông Charlie Nguyễn, Giáo-sư Lư Chánh Trung, v.v… th́ lại khác hẳn và có các nh́n đối với Giáo Hội La Mă vàn những việc làm này của những tín đồ Da-tô người Việt cuồng tín giống như cái nh́n của đại khối dân tộc. Cũng như đại khối dân tộc, những nguời này cũng coi 117 người được Giáo Hội La Mă phong thánh vào ngày 19/6/1988 và Ngô Đ́nh Diệm là những tên tội đồ của dân tộc. Để kiểm chứng vấn đề này, độc giả có thể t́m đọc những bài viết hay tác phẩm của họ th́ sẽ thấy rơ. Những lời lẽ trong cuốn Những Ngày Buồn Nôn của Giáo-sư Lư Chánh Trung mà chúng tôi đă trích dẫn ở trên là một trong những bằng chứng rơ ràng nhất và hùng hồn nhất cho sự kiện này. Xin ghi lại dưới đây mấy ḍng chữ quan trọng này để quư vị dễ dàng nh́n ra sự thực của vấn đề:

“Những cảm nghĩ mà tôi có thể nói và thấy cần phải nói, là những cảm nghĩ về ông Diệm, người đồng đạo của tôi và cũng là người chịu trách nhiệm trước lịch sử về cuộc đàn áp Phật Giáo năm 1963, dù cho cuộc đàn áp này có thực sự do chính ông quyết định hay không….

Những người đang ḥ hét khóc lóc chung quanh cái tên Ngô Đ́nh Diệm như bầy quạ trên một xác chết. Với cái âm mưu tái lập một chế độ Diệm không Diệm trong đó họ sẽ phè phỡn ḅn rút như xưa, xin họ nhớ cho rằng gịng lịch sử không bao giờ chẩy ngược chiều…”49

Người viết không biết có phải v́ những hành động ghê tởm khác Giáo Hội La Mă và của tín đồ Da-tô trong suốt chiều dài lịch sử từ khi cái tôn giáo này được Hoàng Đế Constantine cho ra đời vào thập niên 310, hay v́ có cùng suy nghĩ như Giáo-sư Lư Chánh Trung, nhà báo Long Ân đă có nhận xét về Giáo Hội La Mă và tín đồ Da-tô bằng những lời đầy chua sót như sau:

Con người đă nhân danh tôn giáo để làm những chuyện điên cuồng nhất, đă nhân danh tôn giáo để biện minh cho quyền lực phi nhân áp đặt lên đầu kẻ khác. Con người đă phản lại tôn giáo, đă chặt đứt cây cầu đưa đến cuộc t́m kiếm chính ḿnh, đă cúi đầu trên bốn chân để từ con người trở về với con người súc sinh.” 50 

 

Nếu dùng ngôn từ “con người súc sinh” của nhà báo Long Ân trên đây lồng vào trong đoạn văn của Giáo-sư Lư Chánh Trung cùng theo với những sự kiện lịch sử có liên hệ đến ḍng họ Ngô Đ́nh, chúng ta sẽ có một đoạn văn nói về lễ giỗ ông Ngô Đ́nh Diệm như sau:

Hàng năm, cứ vào ngày 1 tháng 11, người Việt hải ngoại được chứng cái cảnh những “con người súc sinh” lại “ḥ hét khóc lóc chung quanh cái tên súc sinh tam đại Việt gian Ngô Đ́nh Diệm như bầy quạ trên một xác chết với cái âm mưu tái lập một chế độ Diệm không Diệm trong đó họ sẽ phè phỡn ḅn rút như xưa.”

Đến đây, người viết cũng xin mượn lời Giáo-sư Lư Chánh Trung để nói cho những người này biết rằng “xin hăy nhớ cho rằng gịng lịch sử không bao giờ chẩy ngược chiều.”

Không biết những người này có hiểu được câu nói trên đây hay không, v́ rằng có bao giờ họ được học những bài học lịch sử theo đúng nghĩa của lịch sử đâu, ngoài những bài giảng giáo lư Da-tô ở trong các nhà thờ. Nếu có được học bài học lích sử nào th́ đó cũng chỉ là những bài lịch sử đă bị vo tṛn bóp méo theo ư của Giáo Hội La Mă rồi mới được cho vào chương tŕnh học của các trường mà họ theo học.

VỀ ÔNG NGUYỄN VĂN THIỆU

Sinh ngày 5/4/1923 trong một gia đ́nh đánh cá ở Phan Rang, ông Nguyễn Văn Thiệu được gia đ́nh cho theo học hết bậc tiểu học và có một số vốn tiếng Pháp đủ để làm thông ngôn cho người Pháp trong phạm vi giới hạn. Cũng v́ có một chút vốn liếng tiếng Pháp, cho nên ngay khi Pháp trở lại tái chiếm Đông Dương, năm 1946, ông Thiệu liền hăng say t́nh nguyện đi lính cho quân Pháp. Năm 1947, ông đuợc quan thày gửi theo học lớp sĩ quan đặc biệt ở Đập Đá, tốt nghiệp với cấp bậc thiếu úy và đưa đến phục vụ trong một đơn vị của đạo quân đánh thuê cho Liên Minh Pháp – Vatican. Vào thời điểm 1954, ông đă leo lên cấp bậc thiếu tá. Khi ông Ngô Đ́nh Diệm được Vatican và Mỹ đưa về Việt Nam cầm quyền, ông Thiệu đă lanh trí nh́n ra sự thật là muốn được thăng quan tiến chức th́ phải theo đạo Da-tô. Sự kiện này được cựu Đại Tá Phạm Văn Liễu viết trong cuốn "Trả Ta Sông Núi 2" với nguyên văn như sau:

"Sau năm 1954, ông Thiệu đă được lên tới cấp Thiếu Tá, phục vụ tại Bộ Tư Lệnh Đệ Nhị Quân Khu ở Huế, dưới quyền Đại Tá Trương Văn Xương. Mùa Thu năm 1954, khi cuộc tranh chấp giữa Tướng Nguyễn Văn Hinh và Thủ Tướng Diệm bùng nổ, Thiếu Tá Thiệu gia nhập Đảng Con Ó, cùng với Trung Tá Trần Thiện Khiêm, Thiếu Tá Hoàng Xuân Lăm, Đại Úy Trần Văn Trung, Nguyễn Văn Mạnh, v.v... để yểm trợ Nguyễn Văn Hinh. Sau khi Tướng Hinh phải rời nước, nhóm Thiếu Tá Thiệu bị đưa về Sàig̣n điều tra. Để thoát khỏi sự nghi kỵ của chế độ Diệm, Thiếu Tá Thiệu xoay qua đường giây Thiên Chúa Giáo của nhà vợ.

Nguyên ông Thiệu lấy bà Kim Anh, người Mỹ Tho, có đạo Thiên Chúa, đă lâu nhưng không chịu rửa tội.... Nhưng sau ngày ông Diệm cầm quyền, đạo Thiên Chúa biến thành một thứ ch́a khóa danh vọng và quyền lực cho những ai tham vọng. Bởi thế, ông Thiệu quyết tâm "trở lại với đạo". Trung Tá Thiệu cẩn thận năn nỉ Linh-mục Bửu Dưỡng, lư thuyết gia bản xứ của Đảng Cần Lao, đích thân rửa tội cho ông ta ở Đà Lạt. Nhờ vậy, ông Thiệu được thăng cấp Đại Tá và được giao cho nắm Sư Đoàn 1 rồi Sư Đoàn 5 ở Biên Ḥa. Đại Tá Thiệu c̣n được vào Quân Ủy của Đảng Cần Lao.”51 

Sách Việt Nam Niên Biểu Nhân Vật Chí viết về Nguyễn Văn Thiệu như sau:

"Ngày 19/6/11965, Thiệu được của làm Chủ Tịch Ủy Ban Lănh Đạo Quốc Gia, tức Quốc Trưởng. Ngày 3/9/1967, nhờ sự tiếp tay của Hồng Y New York là Francis Spellman và Đại Sứ Ellsworth Bunker, Thiệu "đắc cử" Tổng Thống nền Đệ Nhị Cộng Ḥa (1957-1975) với 34.8% số phiếu." 52

Đọan văn do cựu Đại Tá Phạm Văn Liễu trên đây cho chúng ta thấy ông Nguyễn Văn Thiệu thuộc loại người theo đạo là để chiếm ḷng tin của Giáo Hội La Mă với hy vọng sẽ thăng quan tiến chức. Đoạn văn trích từ sách Việt Nam Niên Biểu Nhân Vật Chí cho thấy rơ Nguyễn Văn Thiệu nhờ có Hồng Y Spellman (Giáo Hội La Mă) và Đại Sứ Bunker của Hoa Kỳ "tiếp tay" mới được đưa lên làm tổng thống để tiếp nối Ngô Đ́nh Diệm tiếp tục làm những công việc cho Giáo Hội La Mă và cho Hoa Kỳ mà Ngô Đ́nh Diệm đă làm trước kia. Khác với Ngô Đ́nh Diệm, Nguyễn Văn Thiệu thuộc lọai “theo đạo để tạo danh đời” (thường thường là lưu manh), không thuộc lọai siêu cuồng tín và siêu ngu xuẩn như anh em ông Diệm và băng đảng Cần Lao. Ông Thiệu theo đạo với mục đích duy nhất là lợi dụng Giáo Hội La Mă làm cái cầu để tiến thân, để rồi trả ơn Giáo Hội bằng cách để cho nhóm tín đồ Da-tô cuồng tín cho ra đời cái gọi là "Phong Trào Phục Hưng Tinh Thần Ngô Đ́nh Diệm" và để mặc cho "bọn quạ đen" tung ḥanh, rúc rỉa thân xác miền Nam Việt Nam, chứ không triệt để tiến hành Kế Hoạch Kitô Hóa miền Nam như ông Diệm đă làm trước kia. Đặc biệt hơn nữa, ông Thiệu không cuồng tín ngu xuẩn quá hăng say theo đuổi Kế Hoạch Ki-tô hóa nhân dân miền Nam băng bạo lực đến độ phản lại Hoa Kỳ như ông Diệm đă làm. V́ vậy mà trước khi cuốn cờ bỏ chạy, Hoa Kỳ đă hết ḷng lo cho các ông Nguyễn Văn Thiệu và Trần Thiện Khiêm chạy trước vào chiều tối ngày 25/ 4/1975.

Về đề tham nhũng và kinh tài bất chính kể cả tội ác độc quyền nhập cảng và phân phối thuốc phiện lậu ở miền Nam, ông Thiệu và những người có thế lực trong chính quyền Sàigon trong thời ông giữ chức vụ tổng thống rất lừng danh, không những không kém ǵ thời triều đại Ngô Đ́nh Diệm bằng đảng ăn cướp Ngô Đ́nh Nhu mà c̣n vuợt xa hơn nhiều. Tội ác tham nhũng như mua quan bán chức và các việc kinh tài bất chính khác sẽ được tŕnh bày trong một chương sách nói về vấn nạn tham nhũng ở sau. Riêng về dịch vụ nhập cảng lậu và phân phối thuốc phiện và bạch phiến trong những năm ông Thiệu nắm giữ chức vụ tổng thống miền Nam Việt Nam được tác giả Alfred W. McCoy đă phải dành tới gần 60 trang sách (166-222) trong cuốn sách The Politics of Heroin in Southeast Asia để tŕnh bày đầy đủ với rất nhiều chi tiết trong đó nêu đích danh những nhân vật cao cấp trong chính quyền cả hành pháp và lập pháp, có cả sơ đồ của hệ thống tổ chức nhập cảng lậu và phân phối cho các khách hàng tiêu thụ. Chúng tôi sẽ nói rơ vấn đề này trong một tác phẩm khác. 

 

Cũng cần nên biết là bên cạnh ba nhân vật Bảo Đại, Ngô Đ́nh Diệm và Nguyễn Văn Thiệu, c̣n có những tu sĩ và tín đồ Da-tô thuộc loại siêu cuồng tín có ảnh hưởng trực tiếp đến chính sách cai trị của chính quyền miền Nam trong những năm 1954-1975, ngoại trừ một thời gian ngắn từ ngày 1/11/1964 cho đến ngày 19/6/1966. Đó là những nhân vật như Ngô Đ́nh Nhu, Ngô Đ́nh Cẩn, Bà Ngô Đ́nh Nhu nhũ danh Trần Lệ Xuân, Trương Vĩnh Lễ, Huỳnh Văn Cao, Giám-mục Ngô Đ́nh Thục, Giám-mục Phạm Ngọc Chi, Giám-mục Nguyễn Văn B́nh, Linh-mục Hoàng, Linh-mục Toán, Linh-mục Mai Ngọc Khuê, Linh-mục Cao Văn Luận, Linh-mục Trần Đ́nh Vận, Linh-mục Bửu Dưỡng, Linh-mục Raymond Jaegher, Linh-mục Nguyễn Bá Lộc, Linh-mục Tô Đ́nh Sơn, Giám-mục Nguyễn Văn Thuận, Linh-mục Nhuận, Linh-mục Hoàng Quỳnh, Linh-mục Nguyễn Lạc Hóa, v.v... 

Những phần trên tŕnh bày trên đây cho chúng ta thấy rơ vai tṛ ghê gớm của Giáo Hội La Mă ở hậu trường sân khấu chính trị tại miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975. Mục nói về yếu tố Vấn Nạn Giáo Hội La Mă tại miền Nam sẽ giúp cho quư vị nh́n thấy rơ hơn về vấn đề này.

Tóm lại, các nhà lănh đạo miền Bắc là những nhà ái quốc với những thành tích suốt đời tận tụy hy sinh v́ nước đă tạo được công nghiệp vô cùng vĩ đại là đă giành lại quyền độc lập cho dân tộc, khiến cho toàn thể nhân dân thế giới đều phải nể phục, ngoại trừ nhóm thiều số tín đ̣ Da-tô người Việt cuồng tín và nhóm thiểu số người vong bản khác có quyền lợi gắn chặt với Liên Minh Pháp – Vatican trước kia và với chính quyền miền Nam trong những năm 1954-1975. Chính v́ lẽ này mà họ (các nhà lănh đạo miền Bắc) được toàn thể nhân dân ta kính mến, xứng đáng được suy tôn lên hàng nhà ái quốc và anh hùng dân tộc. Chính v́ lẽ này mà họ mạnh tin rằng, nếu cuộc tổng tuyển cử thống nhất đất nước được tổ chức vào tháng 7 năm 1956, th́ chắc chắn miền Bắc sẽ đại thắng.

Trong khi đó th́ tại miền Nam cả ba nhân vật lănh đạo và những nhân vật thân cận có ảnh hưởng mạnh với ba nhân vật này đều là những tín đồ Da-tô có thành tích làm Việt gian bán nước cho Vatican và cho Pháp hoặc là từ nhiều đời, hoặc là từ thời 1858-1845, hoặc là từ thời Kháng Chiến 1945-1954. Đây là những hạng người lưu xú vạn niên, những tên thiên cổ tội nhân, những tên tội đồ của dân tộc, trong ḿnh mang đầy những tội ác phản dân hại nước, đặc biệt là tên tam đại Việt gian Da-tô Ngô Đ́nh Diệm vừa có thành tích tra tấn dă man các nhà cách mạng chống Liên Minh Pháp – Vatican trong thập niên 1920, vừa có trách nhiệm về cái chết thảm thương của hơn 300 ngàn nạn nhân trong những những chiến dịch “mở mang nước Chúa” vào những năm 1955-1963, vừa mang tội hồ hởi đồng lơa và tán thành quyết định để cho “quân đội Mỹ rải 77 triệu lít chất độc da cam xuống miền Nam và Trung Việt Nam, gây ảnh hưởng và tác hại đến môi truờng của 2,630,000 mẫu Tây và gần 5 triệu người sống trong 35,585 thôn ấp” (Nguyễn Văn Tuấn, Sđd., tr 171). Với những hạng người như vây, thử hỏi làm sao nhân dân miền Nam có cảm t́nh và ủng hộ họ? Chính v́ lẽ này mà ông Ngô Đ́nh Diệm phải chống lại việc tổ chức tổng tuyển cử hống nhất đất nước vào tháng 7/1956 như Hiệp Định Genève đă quy định.

Nhận xét chung về các nhà lănh đạo chính quyền miền Nam, ngay cả tín đồ Da-tô hết ḷng tôn vinh ông Ngồ Diệm như ông Tú Gàn (bút hiệu của cựu Thẩm-phàn Nguyễn Cần) cũng phải viết những lời lẽ như sau:

Sự thật lịch sử nếu được nói ra sẽ làm nhiều người đau buồn, nhưng nếu không nói ra, nhiều người và tổ chức lại cứ tiếp tục đi theo đường cũ làm đất nước rối tung, nên tốt hơn cả là nói ra: Nghiên cứu hoạt động của các đảng phái gia trong cuộc chiến Việt Nam từ 1947 đến 30/4/1975, chúng ta sẽ thấy đa số lănh tụ các đảng phái này chỉ lo đi vận động để được Pháp rồi Mỹ đưa lên cầm quyền, chứ không hề có một kế hoạch xây dựng đất nước nào. Chính quyền nào cho ghế th́ ủng hộ để bảo vệ ghế, chính quyền nào không cho ghế th́ chống phá, làm cho sụp đổ để được lên thay thế. Họ không có chính sách hay đường lối ǵ. Đường lối của họ khi cầm quyền là đường lối mà Pháp hay Mỹ đă vạch ra. Do đó, khi Pháp hay Mỹ thay đổi chính sách hay đường lối, họ không biết xoay trở cách nào, cứ múa rối lung tung đưa đến mất nước.

Trong hội nghị Genève 1954, Việt Minh chỉ nói chuyện với Pháp chứ không nói chuyện với chính phủ quốc gia và coi chính phủ này như một bộ phận của Pháp. Do đó, dù chính phủ Ngô Đ́nh Diệm không chịu kư hiệp định Genève, hiệp định đó vẫn được đem ra áp dụng, chính phủ Ngô Đ́nh Diệm không thể cưỡng lại được.

Trong hội nghi Paris, Hà Nội cũng không chịu nói chuyện với Sài G̣n mà chỉ nói chuyện với Washington. Hà Nội coi Sài G̣n ngang với Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Mỹ cũng đồng ư như vậy và VNCH v́ bị lệ thuộc quá nhiều, cũng phải đi theo Mỹ, không c̣n cách nào khác.” 53 Trong mục Ư Kiến (biến thành tranh luận) về đề tài “Về một trường hợp viết sử thiếu trung thực (1)” do ông Da-tô ngoan đạo Nguyễn Văn Lục nêu ra và đưa lên www.danchimviet.com tháng 7/2006, một độc giả lấy bút hiệu là “Thằng Bờm” Củ Chi nhận xét về các nhân vật lănh đạo miền Nam trong những năm 1954-1975 với nguyên văn như sau: 

Thật t́nh mà nói, giới lảnh đạo quân sự và chính trị của hai chế độ đệ nhất và đệ nhị VNCH là một lủ tay sai của Pháp đào tạo để phục vụ cho thực dân Pháp cho nên trong máu họ mang tính tay sai lúc nào cũng nh́n trước ngó sau ông chủ có vừa ḷng hay phật ư cho nên khi nắm quyền lảnh đạo ở Sàig̣n nhưng mắt cứ để ư ở Washington, Paris, Rome. Trong số này cũng có nhưng rất hiếm người có ḷng với quốc gia dân tộc th́ lại bị tập đoàn Ngô Đ́nh Diệm loại bỏ bằng nhiều h́nh thức. Trong quân đội và hành chánh có nhiều người trẻ được đào tạo sau khi thực dân Pháp cáo chung, họ có tài có tâm huyết song không phải là cấp chỉ đạo mà là những kẻ thừa hành th́ làm được ǵ v́ quyền cao chức trọng nằm trong tay đám tay sai của thực dân Pháp đào tạo quyết định. Đó là nguyên nhân thất bại của VNCH. Đó là sự thực lịch sử.” 54

Tóm lại, về yếu tố các nhà lănh đạo chính quyền, miền Bắc có rất nhiều lợi thế hơn miền Nam. Đây là một trong các yếu tố quyết định trong cái lẽ tất bại của miền Nam trong Cuộc Chiến Thống Nhất Đất Nước 1954-1975.


---------------------------------------------------------------------------------------------------

1 Chính Đạo, “Hiệp Ước Sơ Bộ 6/3/1946” do chính tác giả gửi người viết ngày 7 tháng 4 năm 2000.

2 William J. Duiker, Ho Chi Minh (New York: m J. Duiker, 2000), p. 562.

3Alfred W. McCoy, The Politics of Heroin in Southeast Asia (New York: Harper Colophon Books, 1972), p.118.

4 Bùi Nhung, Thối Nát, Houston, TX: Xuân Thu 1976), tr. 97-100.

5 Edward G. Lansdale, Tôi làm quân sư cho Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm (Sàig̣n: Đại Nam?, 1972), tr. 220, 221, 222-224.

6 Chính Đạo, Việt Nam Niên Biểu 1939-1975 Tập I-C 1955-1963 (Houston, TX: Văn Hóa, 2000) tr 175. 

7 Chính Đạo, Sđd., tr. 275

8Chính Đạo, Sđd., tr. 276.

9 Đoàn Thêm, 1945-1964 Việc Từng Ngày (Los Alamitos, CA: Xuân Thu, ?), tr. 347.

10 Bernard F. Fall, The Two Vietnams (New York: Frederick A. Praeger, 1964), p. 236.

11 Hoàng Ngọc Thành & Thân Thị Nhân Những Ngày Cuối Cùng Của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm (San Jose, CA: Quang Vinh & Kim Loan & Quang Hiếu, 1999) tr. 282.

12 Huỳnh Văn Cao, Một Kiếp Người (Chantilly: Virginia: Thu Minh Huỳnh, 1993) trang 52-53.

13 Edward G. Lansdale, Sđd., tr 55.

14 Lê Hữu Dản, Sự Thật – Đặc San Xuân Đinh Sửu 1997 (Fremont, CA: TXB, 1997), tr. 23.

15 Đoàn Thêm, Sđd., tr. 351.

16 Hoàng Ngọc Thành & Thân Thị Nhân Đức, Những Ngày Cuối Cùng Của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm [Hoàng Ngọc Thành & Thân Thị Nhân Đức, Những Ngày Cuối Cùng Của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm (San Jose, CA: Quang Vinh & Kim Loan & Quang Hiếu, 1999), trang 405.

17Chính Đạo, Nh́n Lại Biến Cố 11/11/1960 (Houston, Texas: Văn Hóa, 1997), trg 116-117.

18 Lư Chánh Trung, Những Ngày Buồn Nôn (Sàig̣n: Đối Diện,1972), tr. 133-134, 134-135 và 137-138.

19 Để biết đầy đủ nhiều chi tiết về những hành động của ông Diệm trong những năm 1915 cho đến năm 1945, xin xem bài viết Xin Bạn Đồng Nghiệp Thận Trọng Ng̣i Bút của tác giả An Khê Nguyễn Bính Thinh đăng trong Tài Liêu Soi Sáng Sự Thật của tác giả Lê Hữu Dản (Wesminster, CA: Văn Nghệ, 1996), 325-334.

20 Hoàng Trọng Miên, Đệ Nhất Phu Nhân, Tập I (Los Alamitos, CA: Xuân Thu, 1989), tr 428.

21 Vũ Đ́nh Hoạt, Việt Nam Tôn Giáo Chính Trị Quan - Tập II ( Falls Church, VA: Alpha, 1991), trang 1013-1014.

22 Trần Tam Tỉnh, Thập Giá Và Lưỡi Gươm (Paris, Sudestasie, 1978), tr.124.

23 Joseph Buttinger, Vietnam: A Dragon Embattled (New York: Frederick A. Praeger, 1967), p 956

24 Đỗ Mậu, Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi (Westminster, CA: Văn Nghệ, 1994), tr 645.

25 Chính Đạo, Sđd., tr 85.

26 Chính Đạo, Sđd., tr 102.

27 Chính Đạo, Sđd., tr 151.

28 Lê Xuân Khoa, Việt Nam 1945-1995 (Bethesda, MD, 2004), tr. 435-437.

29 Trần Tam Tỉnh, Sđd., trang 130-131.

30 Avro Manhattan, Vietnam Why Did We Go? (Chino, CA: Chick Publications, 1984), p. 117.

31 Chu Bằng Lĩnh, Đảng Cần Lao (San Diego, CA: Mẹ Việt Nam, 1993), tr. 133.

32 Hùynh Văn Cao, Sđd., tr. 52.

33 J. T. C., Smokescreens (Chino, CA: Chick Publications, 1983), p. 35.

34 Avro Manhattan, The Vatican’s Holocaust (Springfield, MO: Ozark Book, 1986) p. VII.

35 http://www.vietdaily.com. Ngày 5/11/2000.

36 Joe Lauria (The Boston Globe) "U.N.'s inaction blamed for Rwanda killings" The News Tribune [Tacoma] December 17, 1999.

37Nguyễn Mạnh Quang, Việt Nam Đệ Nhất Cộng Hoda Toàn Thư 1954-1963 (Tacoma, WA: TXB, 1998), tr 527-529. 

38 Trần Tam T́nh, Sđd., tr. 126-128.

39 Chính Đạo, Sđd., tr 98.

40 Joseph Buttinger, Ibid., pp 932-933.

41 Trần Tam Tỉnh, Sđd., tr. 76-78.

42 Alfred W. McCoy, Ibid., p. 160.

43 Nguyễn Văn Tuấn, Chất Độc Màu Da Cam và Cuộc Chiến Việt Nam (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 2005), tr. 35.

44 Nguyễn Văn Tuấn, Sđd., tr 171.

45 Lê Hữu Dản. Sự Thật - Đặc San Xuân Đinh Sửu 1997 (Fremont, Caĺornia, 1997), trang 23-24.

46 Trần Chung Ngọc. “Tôi đọc Truyện Kiều Và Tuổi Trẻ.” www.giaodiem.com, tháng 2/2006

47 Nguyễn Kỳ Phong, Vũng Lầy cua Bạch Ốc: Người Mỹ và Chiến Tranh Việt Nam (Fall Church, VA:Tiếng Quê Hương, 2006), tr 171-172.

48 Phan Nhật Nam. “Đồng Minh Không Tháo Chạy.” My-Loan" TONGMYLOAN@wanadoo.fr Ngày 21/4/2006.

49 Lư Chánh Trung, Sđ d., tr.133 và tr. 138.

50 Nguyễn Mạnh Quang, Việt Nam Đệ Nhất Cộng Ḥa Toàn Thư 1954-1963 (Houston, TX: Văn Hóa, 2000), tr. 340.

51 Phạm Văn Liễu, Trả Ta Sông Núi 2 (Houston, TX: Văn Hóa, 2003) tr. 307-308.

52 Chính Đạo, Việt Nam Niên Biểu Nhân Vật Chí (Houston, TX: Văn Hóa, 1997), tr 403.

53 Tú Gàn. “T́m Đường Trở Về?” Nguồn: lugiang2000@vinet.com.: Ngày 1/9/2006.

54 Nguồn: Nguyễn Văn Lục. “Về một trường hợp viết sử thiếu trung thực. (1)” www.danchimviet.com. Ngày 11/7/2006.