Thứ Hai, 27, tháng Ba, 2017
 
 
 
| Nghiên cứu và đối thoại |
Hồ Xuân Hương và quan Hiệp Trấn Sơn Nam Thượng Trần Ngọc Quán
Phạm Trọng Chánh
đăng ngày 11/11/2012
 

 

1   Trần Ngọc Quán quê Nghệ An, trước làm quan Cai Bạ doanh Quảng Đức (Chức vụ đứng đầu một doanh, tỉnh Thừa Thiên ngày sau). Tháng 2 năm Ất Hợi (1815) được bổ nhậm chức Hiệp Trấn Sơn Nam Thượng (Đại Nam Thực Lục 1/50/7a). Trấn này gồm hai tỉnh Hà Nội và Hưng Yên ngày sau và trị sở ở Châu Cầu (Phủ Lý). Trần Ngọc Quán nhậm tại chức được ba năm thì bị bệnh mất, tháng 5 năm Mậu Dần (1818), Cái chết còn nhiều nghi vấn vì nằm trong thời điểm một cuộc thanh trừng vây cánh Nguyễn Văn Thành tại Phú Xuân và Bắc Thành của phe Lê Văn Duyệt và Lê Chất.
Vừa đến Bắc Thành, Trần Ngọc Quán đã đến thăm Hồ Xuân Hương, người đồng hương và ra mắt bằng một bài thơ ca tụng nàng:

Tài cao nhả phượng thế gian kinh, May đến Long Thành được thấy danh.
Tài nàng viết ra, thốt ra như chim phượng múa, làm cả thế gian kinh ngạc, may mắn hôm nay đến thành Thăng Long, được thấy danh nàng vang dội như tiếng chuông.. Một vị quan lớn đứng đầu trấn mới đến đã tìm gặp nàng, ca tụng nàng như thế, chứng tỏ tiếng danh nàng đã vang dội đến kinh đô Phú Xuân như thế nào Trần Ngọc Quán khiêm nhường tài còn kém nàng, chạm con hạc hóa ra con cò. Nghề mổ rồng, ngề cao quý, không thiết thực, phép thuật chưa tinh. Nay đất khách được giao du với nàng thỏa lòng nguyện ước. Sắc đẹp và tài năng.vốn trời bẩm sinh. Gặp gỡ nhau đã quý huấn chi là người cùng một châu quận Thanh Nghệ Tĩnh. Thảo mấy vần thơ trên giấy ngư thư để ra mắt nàng.:

Thơ Hiệp Trấn Sơn Nam Thượng
Trần Ngọc Quán tặng Hồ Xuân Hương

Tài cao nhả phượng, thế gian kinh,
May đến Long Thành được thấy danh.
Chạm hạc tự cười tài vốn kém,
Mổ rồng thêm thẹn thuật chưa tinh.
Giao du đất khách, lòng mơ thỏa,
Tài mạo khuê dung trời vốn sinh.
Gặp gỡ huấn chi người một quận.
Ngư thư thảo vội một tờ trình.

Thơ Trần Ngọc Quán trong Lưu Hương Ký
Nhất Uyên dịch thơ

Nguyên tác phiên âm Hán Việt

Thổ phượng tài cao nhất thế kinh,
Long Thành hà hạnh thỉnh huyền linh.
Mỗi tàm khắc hộc tài do chuyết,
Tự tiếu đồ long kỷ vị tinh.
Khách địa giao du tùy xứ tại,
Khuê trang tài diện tự thiên sinh.
Tương phùng huống hựu tương đồng quận.
Lạc thảo ngư thư nhất đệ trình.

Chú thích:
Khắc hộc: chạm chim hạc hóa ra cò.
Đồ Long: Mổ rồng. Trang Tử có viết: Chu Phanh Manh đi học nghề mổ rồng ở nhà Chi Li Ích ba năm thành nghề, học xong chẳng có ai thuê mổ rồng cả, và chẳng có rồng để mổ, ý nói cái học không thực dụng.
Ngư thư: tờ giấy có in hình con cá ở đầu.

2. Hồ Xuân Hương đã họa đáp lễ bài thơ quan Hiệp Trấn: Tài tôi thẹn còn kém có ai kinh đâu, quan lớn khen quá lời. Chẳng qua mười năm qua tôi lận đận trong gió bụi phong trần tự dối mình như kẻ trộm bịt tai đi trộm chuông. Hồ Xuân Hương đối chữ « thỉnh huyền linh » bằng chữ « quán nhỉ linh » thật tài tình. Tiếng danh vang như chuông, đối với ăn trộm bịt tai đi trộm chuông, vừa dí dỏm, vừa khiêm nhường, tài nghệ chơi chữ Hồ Xuân Hương thật siêu việt, các chữ này không thể dịch ra thơ Việt được. Phải ngồi trước bàn cờ mới biết tay đối thủ, cần chi phải chọn chữ như Giả Đảo đắn đo mãi xem nên dùng chữ « thôi nguyệt » hay « sao nguyệt » mà khổ sở như người đang căng thẳng trong sáng tác nhạc. Là bánh xe hay là viên đạn tùy duyên tao ngộ (bánh xe chỡ người, đạn bắn người). Là chim phượng hay chim oanh là do tính trời sinh, chim phượng đậu cây ngô đồng, chim oanh đậu vườn nhà.Tạo vật đối với con người không cho tài năng cẩu thả. Là ngọc trai sáng, chắc có nơi dùng trang điểm cho đời, chứ không để xem trong bóng tối.

Hồ Xuân Hương họa thơ
Hiệp Trấn Sơn Nam Thượng
Trần Ngọc Quán

Tài tôi thẹn kém khiến ai kinh,
Lận đận mười năm tự dối mình.
Vào cuộc mới hay tay đối thủ,
Cần chi trau chuốt chữ cho tinh.
Là xe là đạn tùy tao ngộ,
Tùy phượng tùy oanh vốn bẩm sinh.
Tạo vật với người không cẩu thả.
Không mang ngọc sáng chốn u minh.

Thơ chữ Hán Hồ Xuân Hương trong Lưu Hương Ký
Nhất Uyên dịch thơ

Nguyên tác phiên âm Hán Việt

Quỷ vô tài diệu sử nhân kinh,
Thập tải phong trần quán nhỉ linh.
Dĩ thị lâm bình tri địch thủ,
Mạc tu sao nguyệt khổ đàn tinh.
Vị luân vị đạn tùy tao ngộ,
Thùy phượng thùy oanh nhậm phú sinh
Tạo vật ư nhân hà cẩu tích,
Minh châu hưu hướng ám trung trình.

Chú thích:
Quán nhỉ linh: Kẻ trộm bịt tai đi trộm chuông. Kẻ trộm bịt tai lại đi ăn trộm chuông, ngỡ không ai hay biết, nhưng tiếng chuông rung vang xa, mọi người đều hay.

Sao nguyệt: tích Giả Đảo làm được câu thơ: Điểu túc trì trung thụ. Tăng thôi nguyệt hạ môn. Đắn đo mãi nên dùng chữ thôi nguyệt hay sao nguyệt, từ đó chữ thôi nguyệt hay sao nguyệt chỉ việc lựa chọn chữ dùng trong thơ
Khổ đàn: lấy ý « khổ trung tác nhạc », khốn khổ trong việc sáng tác âm nhạc, ý nói cắng thẳng trong việc sáng tác thơ.
Luân: là bánh xe.

3. Một bài thơ chữ Hán ghi lại sự mệt mỏi, chán chường của Xuân Hương sau mười năm lận đận tâm sự cùng Trần Ngọc Quán. Cuộc sống mài mòn sự sáng suốt, giảm bớt những điều mắt thấy tai nghe.Giác quan mờ tối tấm thân như lá cỏ. Chỉ vì duyên phận mà tháng ngày phải long đong chạy vạy. Không thấy được tầm xa lúc nhục lúc vinh. Mái tóc điểm sương tinh thần mỏi mệt. Có ai bảo mùi vị cám bã dư thừa là thơm (đời Xuân Hương đã nhiều lần gian truân, như cám bã dư thừa) Thương tình quê hương còn say đắm lòng ta. Khêu ngọn đèn trong đêm lạnh thao thức chẳng yên giấc.

Tâm sự

Trí giảm thông minh, mắt kém tinh.
Thân như cây cỏ, mù u minh.
Nợ duyên tùy phận ngày rong ruổi,
Sao thấy tầm xa nỗi nhục vinh.
Mái tóc điểm sương hồn mỏi mệt,
Cám thừa ai bảo vị thơm lành,
Hồn quê say đắm tình ta nhỉ,
Đêm lạnh đèn khuya dạ chẳng an.

Thơ chữ Hán Hồ Xuân Hương trong Lưu Hương Ký
Nhất Uyên dịch thơ

Nguyên tác phiên âm Hán Việt

Ma diệt thông minh giảm kiến tinh,
Tắt mao tâm khiếu thặng như đình,
Chỉ duyên tùy phận cấp bôn tẩu,
Vị đắc phóng hoài tề nhục vinh.
Đầu thượng tuyết sương thần diệc quyện.
Ôn dư tào bạch vị phi hinh.
Lân hương tình chủng si ư ngã,
Tiễn tận hàng đăng bất yên canh.

Lúc này Xuân Hương đã tìm được tình yêu nơi Trần Phúc Hiển, nên đối với Trần Ngọc Quán, Xuân Hương tâm sự, nỗi lòng mình, đã trải qua bao nhiêu nỗi phong trần, nay tâm sự cùng anh, xem anh như người thân trong nhà, chúng ta quý nhau vì tình đồng hương mà thôi.

4. Với sự khuyến khích của Trần Ngọc Quán, khuyên Hồ Xuân Hương lập Hội Tao Đàn Cổ Nguyệt Đường, để cùng nhau xướng họa ngâm thơ. Hồ Xuân Hương mời các danh sĩ cùng về gặp nhau, Nay phận gái còn e lệ dám cất cờ, theo tục lệ thói đời chưa biết hay dỡ, đem lời vàng ngọc xướng họa cùng nhau, đem nợ tang bồng trả với thơ. Anh em bốn biển cùng chung một nhà, tứ hải giai huynh đệ, mình sẽ không hổ thẹn với tiền nhân ngày trước, như Vua Lê Thánh Tôn từng lập Hội Tao Đàn Nhị Thập Bát Tú, nay chúng ta cùng ngồi lại xướng họa ngâm thơ, được bao nhiêu bài thì vui bấy nhiêu còn hơn không. Đây là bài thơ xướng, Xuân Hương gửi mời các bạn:

Xuân Hương xướng

E lệ đàn tao, dám cất cờ,
Phong tình chước ấy đã hay chưa.
Đem lời vàng ngọc gieo nên tiếng,
Sẽ nợ tang bồng trả với thơ.
Gặp gỡ cùng là trong bốn bể.
Phao tung kẻo thẹn trước nghìn xưa.
Sau này dầu có bao nhiêu nữa,
Dẫu có bao nhiêu mặc bấy giờ.

Thơ chữ Nôm Hồ Xuân Hương trong Lưu Hương Ký

5. Không phải Xuân Hương dễ dàng trong việc mời các danh sĩ đến Cổ Nguyệt Đường cùng xướng họa. Người thì vui vẻ nhận lời dễ dàng, nhưng cũng có kẻ cười nàng là « thèo đảnh », đàn bà mà dám cất cờ mời nam giới đến uống rượu ngâm thơ. Có lẽ cũng phải đủ 28 người mới ra Hội Tao Đàn. Trong một bài thơ gửi Trần Ngọc Quán. Hồ Xuân Hương « báo cáo » tình hình mời các danh sĩ đồng hương Nghệ Tĩnh. Vác cắm lên Tao Đàn ngọn cờ mời các thi nhân. Anh, em xem như người thân trong nhà. Gom hết gió trăng trong bầu rượu, Kể chuyện phiêu lưu trên sông hồ vào lời thơ. Nơi Cổ Nguyệt Đường góp người cùng chung chí hướng, làm cho quê hương Hoan Châu được nở mặt nở mày. Có bao nhiêu tài tử đến đây, nhưng cũng có kẻ xấu miệng đặt cho em là « thèo đảnh ».

Ký Sơn Nam Thượng Hiệp Trấn Trần Hầu

Vác cắm đàn tao một ngọn cờ,
Ấy người thân đấy phải hay chưa.
Lắc đầy phong nguyệt lưng bầu rượu,
Giắt lỏng giang hồ nửa túi thơ.
Đình nguyệt góp người chung đỉnh lại,
Trời Hoan mở mặt nước non xưa,
Bấy nay tài tử bao nhiêu tá ?
Thèo đảnh khen ai khéo đặt cho.

Thơ chữ Nôm Hồ Xuân Hương trong Lưu Hương Ký

Chú thích:
Chung đỉnh: nhà quyền quý ngày xưa, thức ăn để trong đỉnh sứ có nắp đậy lại, đến giờ ăn rung tiếng chuông.
Hoan Châu: vùng Nghệ An, Hà Tĩnh.
Thèo đảnh: lắm chuyện, ngày nay còn chữ đỏng đảnh, mụ đảnh.

6 Lưu Hương Ký chép bài thơ Hiệp Trấn Trần Ngọc Quán họa thơ Hồ Xuân Hương: Trận bút Hội Tao Đàn xông pha quyết giật cờ, tài tình ai đó đã biết hay chưa. Tôi mơ đến giấc Vu Sơn như Sở Trang Vương cùng Thần Nữ núi Vu nơi Dương Đài suốt năm canh trăng sáng. Nên theo dòng nước vào cung như chàng Vu Hựu thả lá đề thơ cùng cung nữ Hàn Thúy Tần. Nàng đã khoe tài lạ trước thì tôi nay như Lưu Thần, Nguyễn Triệu tìm về chốn Đào Nguyên. Bao nhiêu tài tử, giai nhân đến đây, nhưng tôi với nàng có duyên nợ chưa trả xong.. Bài thơ cho thấy Trần Ngọc Quán trêu chọc tỏ tình. Dĩ nhiên là quan Hiệp Trấn, mọi người phải nhường bước bầu làm Thi Tướng.

Quan Hiệp Trấn Sơn Nam Thượng
Trần Ngọc Quán họa thơ Hồ Xuân Hương

Trận bút xông pha quyết giật cờ,
Tài tình ai đã biết cho chưa.
Giấc Vu man mác năm canh nguyệt,
Duềnh Ngự lênh dênh một lá thơ.
Tơ liễu đã khoe tài lạ trước,
Nguồn đào học hỏi lối quen xưa,
Giai nhân tài tử dường nào đấy,
Hay nợ bình sinh chửa giả cho.

Thơ chữ Nôm Trần Ngọc Quán chép trong Lưu Hương Ký

7. Hồ Xuân Hương đã họa lại bài thơ quan Hiệp Trấn: Bao nhiêu người đến đây cùng xướng họa thơ, quan lớn được bầu làm Thi Tướng Tao Đàn. Tiếc rằng em là phận gái, hận không uống rượu được nhiều. Duyên em đã có bến hết là phận hoa trôi bèo lạc với dòng thơ. Em đã vâng lời quan Tham Hiệp Trần Phúc Hiển sẽ về nơi non cao bể rộng Vịnh Hạ Long, nhưng tình đồng hương chúng ta vẫn ý xưa, anh em một nhà. Còn nợ thi phú nơi trần gian phải trả, chúng ta còn tiếp tục xướng họa ngâm thơ.

Hồ Xuân Hương họa thơ Trần Ngọc Quán

Đàn tao từng mấy mặt treo cờ,
Thua được lần nhau phải thế chưa.
Tả hận phấn son cùng chén rượu,
Ngưng duyên bèo lạc với dòng thơ.
Non cao bể rộng vâng lời cả,
Nước chảy hoa trôi vẫn ý xưa,
Còn nợ trần gian còn phải trả,
Dẫu bao giờ hết liệu bây giờ.

Năm 1974 GS Nguyễn Huệ Chi có tìm ra ở Thanh Hóa trong một quyển sách đã mục nát một bài thơ khác nhan đề Hà Nội tỉnh Hiệp Quận tặng Hồ Xuân Hương , bài thơ chỉ còn lại bốn câu:

Một khóm mây xanh cắm ngọn cờ,
Hỏi người đồng quận ấy hay chưa ?
Rót nghiêng phong nguyệt lưng bầu rượu,
Dệt sóng giang hồ nửa túi thơ .

Năm 1831 Vua Minh Mạng mới chia Sơn Nam Thượng ra hai tỉnh Hà Nội và Hưng Yên. Bài thơ có lẽ do một nhân vật trong tao đàn dưới quyền Hiệp Trấn Trần Ngọc Quán phụ trách riêng cố kinh Thăng Long chăng ?

8. Các cuộc họp thơ tao đàn không chỉ tổ chức tại Cổ Nguyệt Đường mà còn tổ chức tại phủ đường Châu Cầu nơi trấn nhậm của Hiệp Trấn Sơn Nam Thượng Trần Ngọc Quán. Bài thơ này là một trong bốn bài do GS Nguyễn Huệ Chi và GS Hồ Tuấn Nhậm tìm ra ở Thanh Hóa công bố trên Tạp Chí Văn Học số tháng 3 năm 1974. Bài thơ có ý như sau :
Xuân Hương hứa với quan Hiệp Trấn sẽ dự hội thơ vào rằm tháng 7 năm 1815 (trung thu) tại trấn lỵ Châu Cầu, nhưng sợ bà Hiệp Trấn ghen, nên mặc dầu nhiều thư dục tới nhưng nàng không đi, nên viết bài thơ này để xin lỗi: « Tôi lỡ hẹn đến với mùa thu, với trăng tròn, nên bây giờ lòng ăn năn. Thật cái kiếp mong manh này nợ hứa hẹn nhiều. Nếu tôi về Châu Cầu chơi vài hôm thì gặp bà Hiệp Trấn bà sẽ ghen đối xử với tôi « mát mẻ », tử tế nhưng sẽ châm biếm, còn tôi tránh mặt ngụ tại quán khách, lòng bà sẽ không yên. Cám ơn quan lớn đã viết thơ nhờ nguời thư lại mang đến dục nhiều lần, muốn viết thư phúc đáp nhưng bút ngại ngần. Tôi là thân phận đàn bà dám đâu so ngọn bút cùng nam giới. Nhờ quan là Thi tướng trong làng thơ cân nhắc đồng cân thẩm định.
Thế là Xuân Hương, không tham dự, lại tránh được lời ghen tuông và nghi ngờ của bà Hiệp Trấn. Bài thơ này thật là bài thơ nôm tuyệt tác, chứa đựng nhiều tín hiệu thông tin phức tạp, tế nhị. Thật ra lúc này nàng đã yêu Tham Hiệp Trấn Yên Quảng Trần Phúc Hiển, nên tránh tiếng, không tham dự, nhưng gửi bài thơ tham dự thay nàng.

Xuân Hương tặng Hiệp Trấn Sơn Nam Thượng
Trần Ngọc Quán

Hẹn thu, hẹn nguyệt luống ăn năn,
Cái kiếp phù sinh những nợ nần.
Cửa viện xuân về hoa mát mẻ,
Đài trang nương náu nguyệt băn khoăn.
Duềnh xanh nước chảy tin lai láng,
Lá thắm gieo thơ, bút ngại ngần.
Son phấn dám đâu so ngọn bút,
Mượn tay thi tướng nhắc đồng cân.

9. Hiệp Trấn Sơn Nam Thượng Trần Ngọc Quán chết bất ngờ năm 1818, trong lúc Tham Hiệp Yên Quảng Trần Phúc Hiển, chồng Hồ Xuân Hương bị bắt, vua Gia Long phê án tử hình.
Mối quan hệ Trần Ngọc Quán với vụ án Nguyễn Văn Thuyên, và cha là Trung Quân Nguyễn Văn Thành thống lĩnh toàn quân đội dưới triều Vua Gia Long như thế nào ?. Bản án và cái chết của Binh Bộ Thương Thư Đặng Trần Thường cùng Tham Tri Bộ Lễ Nguyễn Gia Cát, Thiêm Sự Bộ Lễ Vũ Quý Đĩnh như thế nào ? Dưới cặp mắt soi mói của Tổng Trấn Lê Chất cùng Lê Văn Duyệt đang triệt hạ toàn bộ vây cánh Nguyễn Văn Thành. Chỉ cần một quan hệ nhỏ: Nguyễn Văn Thuyên đến dự Hội Tao Đàn do Trần Ngọc Quán tổ chức, hay Trần Ngọc Quán từng được Nguyễn Văn Thành che chỡ cũng đủ làm Trần Ngọc Quán mất ăn, mất ngủ lo âu mà chết. Những liên hệ đó nếu có chỉ là việc bình thường, nhưng trong tình thế Vua Gia Long đang nghi ngờ các tướng, thì thật là một thảm họa.

Trần Trọng Kim trong Việt Nam Sử LượcTTHL. Bộ Giáo Dục Sàigòn 1971 dịch bài thơ của Nguyễn Văn Thuyên và kể lại sự kiện:

Ái Châu nghe nói lắm người hay,
Ao ước cầu hiền đã bấy nay.
Ngọc phách Kinh Sơn tài sẵn đó,
Ngựa kỳ Ký Bắc biết lâu thay.
Mùi hương hang tối xa nghìn dậm,
Tiếng phượng gò cao suốt chín mây,
Sơn tể phen này dù gặp gỡ,
Giúp nhau xoay đổi hội cơ này.

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

Văn đạo Ái Châu đa tuấn kiệt
Hư hoài trắc tịch dục cầu ty.
Vô âm cửu bảo Kinh Sơn phác,
Thiên tướng phương tri Ký Bắc kỳ.
U cốc hữu hương thiên lý viễn,
Cao cương minh phượng cửu thiên tri,
Thư hồi nhược đắc sơn trung tể,
Tác ngã kinh luân chuyển hóa ky.

Bài thơ nguyên Nguyễn Văn Thuyên nghe người ở Thanh Hóa Nguyễn Văn Khuê, Nguyễn Đức Nhuận có tiếng là hay chữ. Văn Thuyên làm bài thơ sai tên Nguyễn Trương Hiệu cầm đi mời vào chơi. Tưởng bài thơ này chẳng qua lời lẽ của người thiếu niên nói ngông mà thôi, không ngờ tên Hiệu đưa cho Nguyễn Hữu Nghi xem, Hữu Nghi xui tên Hiệu đi cáo với Lê Văn Duyệt. Lê Văn Duyệt vốn ganh ghét Nguyễn Văn Thành, nay thấy bài thơ này, nắm lấy đem vào tâu vua Gia Long, vua sai bắt Nguyễn Văn Thuyên đem bỏ ngục. Bọn nịnh thần vin vào ngôn từ bài thơ bắt bẻ tội tâu với vua Gia Long là Nguyễn Văn Thành có ý làm phản.
Một hôm bãi triều rồi, ông Thành chạy theo nắm lấy áo vua mà kêu khóc rằng: « Thần theo bệ hạ từ nhỏ đến bây giờ, nay không có tội gì mà bị người ta cấu xé. Bệ hạ nỡ lòng nào ngồi nhìn để người ta giết thần mà không cứu. » Vua Thế Tổ giật áo ra đi vào cung, rồi từ đó cấm không cho ông Thành vào chầu nữa và sai Lê Văn Duyệt đem con Nguyễn Văn Thành ra tra hỏi, bắt phải nhận tội. Nguyễn Văn Thành sợ tội uống thuốc độc mà chết, còn Nguyễn Văn Thuyên bị chém. Tiến Sĩ Vũ Trinh, anh rễ Nguyễn Du (chồng Nguyễn thị Diên, chị cùng cha cùng mẹ), người viết tựa Truyện Kiều đầu tiên, thầy dạy Nguyễn Văn Thuyên đang làm Hữu Tham Tri Bộ Hình bị đày đi Quảng Nam từ năm 1816 đến 12 năm sau năm 1828 mới được ân xá.

Cái chết Nguyễn Văn Thành, chỉ là một cái chết nối dài danh sách các công thần hàng đầu của vua Gia Long. Trước đó Đỗ Thành Nhơn, bị ám sát giữa bàn tiệc. Võ Tánh, Ngô Tùng Chu bị bỏ rơi tại thành Bình Định, hai mươi ngày sau khi Gia Long chiếm Phú Xuân, đợi khi họ hết lương tự vẫn rồi, Gia Long mới đem quân chiếm lại. Binh Bộ Thượng Thư Đặng Trần Thường, người từng là quan Tào Binh, chỉ huy toàn quân đội Bắc Thành dưới quyền Nguyễn Văn Thành bị xử thắt cổ, vì những tội vớ vẫn.

Nguyễn Văn Thành, trên đỉnh cao danh vọng, Trung Quân chỉ huy toàn quân đội, kiêm Tổng Tài Quốc Sử Quán, Soạn Luật Gia Long. Đọc bài Văn Tế Trận Vong Chiến Sĩ cả nước sụt sùi khóc. Một người văn võ toàn tài (dù bài văn tế do Phan Huy Ích, hay Nguyễn Huy Lượng làm hộ). Nguyễn Văn Thành có thể « đảo chánh », vua Gia Long như chơi. Chỉ có vua mới cầu hiền, tìm người tài, như tìm ngọc trong đá, tìm ngựa Ký Bắc chạy xa ngàn dậm, tìm nhân tài như hoa lan trong hang tối hương xa ngàn dậm, tìm người tài, nơi Ngọa Long Cương như Khổng Minh hay tìm Phượng Sồ. Gặp gỡ nơi núi cao để ăn thề làm loạn chăng ? Triều đình đã bền vững, nay còn muốn xoay đổi, nhân cơ hội cha Chỉ huy toàn quân đội mà lật đổ triều đình chăng ? Nguyễn Văn Thuyên, nếu cha làm vua thì hắn sẽ làm Thái tử nối ngôi. Cha con Nguyễn Văn Thành phải tội chết. Công lao trăm trận vào ra chiến trường bị xóa sạch.

Tại Bắc Thành, Tổng Trấn Lê Chất, cùng phe phái với Lê Văn Duyệt diễn dịch lời thơ:
Nguyễn Văn Thuyên cầu hiền người Châu Ái (Thanh Hóa). Trần Ngọc Quán tụ tập người đồng hương Nghệ Tĩnh lập Hội Tao Đàn cùng Hồ Xuân Hương. Xưa nay Châu Hoan, châu Ái, Thanh Nghệ Tĩnh nơi phát xuất nhiều nhân tài, các triều đại Trần, Hồ, Lê đều phát xuất từ nơi này. Trần Ngọc Quán từng là Quan Cai Bạ Quảng Đức bao trùm cả kinh đô Phú Xuân, liên hệ hẵn mật thiết với Trung Quân Nguyễn Văn Thành. Nguyễn Văn Thuyên thường ra Bắc Hà cư trú nơi đâu ? Tổng Trấn Lê Chất chỉ cần gọi Trần Ngọc Quán đến tằng hắng mấy câu cũng đủ quan Hiệp Trấn chết đứng. Khi Trần Ngọc Quán chết rồi, thì bà Hiệp Trấn cũng đem thơ ra đốt, các danh sĩ tham gia Tao Đàn Cổ Nguyệt Đường cũng thi nhau đốt thơ văn. May thay có một nhân vật trong gia đình cụ Cử Nguyễn Văn Tú làng Hành Thiện, Nam Định còn cất giữ một văn bản thơ Lưu Hương Ký mang chú dẫn của Hoan Trung Cổ Nguyệt Đường Xuân Hương nữ xử tập. Cái may thứ hai ông Đào Thái Tôn sau 40 năm cất giữ Lưu Hương Ký làm của riêng đã trả lại cho Viện Văn Học.

Paris 4-2012

Source : http://www.vanhoanghean.com.vn/dat-va-nguoi-xu-nghe/nguoi-xu-nghe/4590-ho-xuan-huong-va-quan-hiep-tran-son-nam-thuong-tran-ngoc-quan-.html

Link: http://www.giaodiemonline.com/noidung_detail.php?newsid=7070
 
| Chủ Trương | Hướng dẫn kỹ thuật | Tài liệu Anh ngữ | Cài đặt Unicode |