
|
MỤC LỤC |
|
||
|
* * *
* * *
|
PHỤ LỤC BSÁU BÀI PHÂN TÍCH* * *
1. Lịch tŕnh h́nh thành và giải thể của Mặt trận Giải phóng Tạp chí Quê Mẹ - X.X.X. 2. Lời mở đầu của tác phẩm “Is South Vietnam Viable?” Is South Vietnam Viable? - Nguyễn Thái 3. Cuộc cánh mạng ngày 1-11-1963 Hội Khổng học Việt Nam - Ban chủ biên Tập san Minh Tân 4. Những xuyên tạc, ngộ nhận về Phật giáo Việt Nam Tạp chí Khai Phóng - Loạt bài của Nguyễn Kim Long và Lê Quân 5. Bề trái của chiếc mề đay Tuần san Việt Nam Tự Do - Phan Kư 6. Bất đắc dĩ khơi đống tro tàn Tạp chí Khai Phóng - Lê Nguyên Long
LỊCH TR̀NH H̀NH THÀNH VÀ GIẢI THỂCỦA MẶT TRẬN GIẢI PHÓNG
*Tác giả: X.X.X. Trích từ: Tạp chí Quê Mẹ số 63-64, xuất bản tại Pháp.
VAI TR̉ CỦA CHẾ ĐỘ SÀI G̉N TRONG VIỆC H̀NH THÀNH MẶT TRẬN
Mặt trận miền Nam đă được hài sẵn trong chiến lược của đảng Cộng Sản sau Hiệp định Đ́nh chiến Genève 1954. Và là một khái niệm được đóng khung chờ ngày có điều kiện tạo đủ nội dung mà hiện thực. Dựa trên chiêu bài dân tộc giải phóng, dấu kín vai tṛ cách mạng vô sản, mục đích tối hậu của đảng. Cho nên chỉ đề cao việc giải phóng đất nước, việc tranh thủ độc lập cho xứ sở. Mà không hề nói đến chuyện đấu tranh giai cấp, cải cách điền địa. Để người miền Nam khỏi ngờ vực, ḥng lôi cuốn họ mà khuynh loát chế độ Sài G̣n. Nhưng khi Hiệp định Genève thi hành việc qua phân hai miền Nam/Bắc, chế độ quốc gia được thiết lập ở Sài G̣n có căn bản độc lập rơ ràng, nhờ các đảm bảo quốc tế của cả hai khối cường quốc đă kư kết. Một nền độc lập c̣n phôi thai, nhưng nhiều hứa hẹn hiện thực, nếu nhân dân và chính quyền miền Nam nhất trí xây dựng hữu hiệu phần đất của ḿnh, không để cho Cộng Sản có chỗ cắm dùi ở đấy. Điều kiện tiên quyết để nhân dân và chính quyền miền Nam nhất trí được với nhau là phải thừa nhận vai tṛ chủ yếu của đất “Nam kỳ” cũ và dành cho người “Nam kỳ” quyền lănh đạo. V́ tất cả đời sống chính trị kinh tế, xă hội, văn hóa miền Nam, dù muốn dù không, rồi ra phải tùy thuộc nhân lực, tài nguyên, tinh thần, tâm lư của đồng bào đất “Nam kỳ” cũ. Trọng tâm miền Nam là đất “Nam kỳ” này. Thắng hay bại trước mắt phải thấy là do biết hay không biết nh́n nhận sự thực ấy. (Xem lại Quê Mẹ số 60, tr.21) Cho nên việc đặt Ngô Đ́nh Diệm cầm đầu Chính phủ miền Nam, đưa dần dà đến việc ông này tổ chức truất phế Bảo Đại, để độc tôn nắm giữ quyền chính, có thể xem như là một thứ “tội tổ tông” của chế độ Sài G̣n. Nhận định trên không đặt vấn đề khả năng cầm quyền. Vấn đề ấy là một chuyện khác. Mà vấn đề lôi cuốn người miền Nam theo chế độ quốc gia. Nhất là khi họ rơ ràng là xu hướng theo chế độ này từ ngày đ́nh chiến (xem Quê Mẹ số 60, tr.19). Nếu chính quyền do một người gốc “Nam kỳ” nắm giữ, tất có điều kiện thu hút đồng bào Nam bộ hơn người gốc nơi khác, như ông Diệm, và việc xây dựng một miền Nam không Cộng Sản có điều kiện thuận lợi hơn nhiều. Nhưng vừa thoát khỏi cuộc chiến tàn khốc, và nhân kháng chiến mà có kinh nghiệm Cộng Sản, nên quần chúng miền Nam mong mỏi được sống an b́nh, xa ĺa những hành động quá khích, sắt máu, ḥng mở đường cho việc xây dựng một quốc gia không Cộng Sản, tiến bộ, phát triển và văn hiến. Chế độ quốc gia tuy c̣n phôi thai nhưng nhiều hứa hẹn, nhờ hoàn cảnh thế giới đang thuận lợi cho việc thực hiện chủ quyền, trong bối cảnh phân biệt hai miền quốc gia và Cộng Sản. Thành ra, nhất đán, việc người cầm quyền không gốc “Nam kỳ”, đối với người “Nam kỳ” chưa thành vấn đề. Nhất là khi người này là một người “mới” không can dự chi vào chế độ “Đức Quốc Trưởng” trước đó. Lại được tiếng là người ái quốc và liêm khiết. Đồng bào Nam bộ vốn tính hiếu hảo, không có thiên kiến đối với nhân vật lănh đạo, nhưng chờ xem hành động. Và họ đang hướng theo con đường “dân tộc ḥa b́nh”, không thấy có duyên cớ chi để nói đến chuyện “giải phóng dân tộc”. Then chốt thời cuộc lúc bấy giờ là đây. Chiêu bài giải phóng, trong ba bốn năm tiếp sau hiệp định Genève, nhất định không ăn khách ngay được. Đó cũng là nguyên nhân khiến đến 1960 đảng Cộng Sản Việt Nam mới cho Mặt Trận Miền Nam xuất hiện. Và đây là lúc chế độ Sài G̣n có cơ hội hóa giải được “tội tổ tông”, nếu ông Diệm có đủ ư thức cùng khả năng thiết lập một chính quyền lôi cuốn. Rất tiếc là nắm trong tay những khả năng khá thuận lợi, Ngô Đ́nh Diệm đă thiếu hẳn ư thức và không đủ khả năng để làm công việc ấy. Lũ tướng tá về sau chỉ tiếp tục lăn trên cái đà thất bại ông đă dựng sẵn, mở đường cho các xe tăng Hà Nội tiến vào dinh Độc lập ngày 30 tháng 4 năm 1975. Trách nhiệm lịch sử của ông là đấy. Trách nhiệm lịch sử của Ngô Đ́nh Diệm là chỉ Cai Trị miền Nam để chống Cộng, bất cần đến nhân dân “Nam kỳ”.
MỘT CHẾ ĐỘ TOÀN QUYỀN
Người viết nắm giữ được một số tài liệu liên hệ đến thời điểm khai sinh chính quyền Ngô Đ́nh Diệm, rơi răi sau ngày lễ Các Thánh 1963. Theo các tài liệu này, có thể nêu lên một số sự kiện ư nghĩa. Trước tháng 7 năm 1954, khi Bảo Đại chịu áp lực phải đưa Ngô Đ́nh Diệm ra cầm quyền ở miền Nam, và theo yêu cầu của ông Diệm, một người miền Trung am hiểu “Nam kỳ” đă soạn cho ông Diệm một tường tŕnh t́nh h́nh chính trị Sài G̣n, thực trạng và sức nặng chính trị của các giáo phái vùng Đồng Nai, Cửu Long. Kết luận bản tường tŕnh này là đừng nhận thức các giáo phái theo quan điểm tôn giáo, mà phải nh́n ảnh hưởng chính trị của họ trong ḷng quần chúng “Nam kỳ”. Phải nương theo ảnh hưởng ấy mà đi vào ḷng quần chúng “Nam kỳ”, nhất thiết không nên để các giáo phái trở thành đối nghịch. Càng không nên t́m cách chia rẽ giáo phái và quần chúng ấy, để không gây kẽ hở tạo cơ hội cho Cộng Sản chen vào. Tháng 12 năm 1954, khi Chính phủ Sài G̣n thu hồi dinh Độc Lập người Pháp vừa giao lại, Ngô Đ́nh Nhu có vời một số người trước đây có thiện cảm với ông Diệm, nhưng v́ lí do này khác, đứng ngoài ṿng không muốn cộng tác với chế độ Diệm. Có người đă nói đến chuyện “tội tổ tông” của chế độ mới và đặt vấn đề hóa giải, nếu muốn miền Nam thoát khỏi ách Cộng Sản. Tóm tắt đề nghị ấy là: khi người “Nam kỳ” không giữ quyền lănh đạo chính trị, phải chia quyền lănh đạo ấy với họ, đưa họ vào các trung tâm quyết định của nhà nước, của quốc gia, đặt họ trước trách nhiệm cứu nước. Ông Diệm chỉ nên giữ vai tṛ đảm bảo cho các chính quyền miền Nam dân chủ và tự do, không Cộng Sản. Nhưng con người khó thoát khỏi bản chất cố hữu của ḿnh. Ngô Đ́nh Diệm không lột được xác quan lại cũ để vươn lên hàng một chính khách đúng mức đáp ứng các vấn đề Việt Nam lúc bấy giờ. Lại càng không đóng nổi vai tṛ lănh đạo trong hoàn cảnh phức tạp, tế nhị bên trong cũng như bên ngoài đất nước. Cho nên Ông không xây dựng một chế độ chính trị mà chỉ thiết lập một chế độ cai trị, hành chánh. Một chế độ “toàn quyền” miền Nam, hệt như chế độ Toàn quyền Đông Dương cũ của người Pháp. Nhà nước Sài G̣n chỉ là một tổ chức quyền lực ghép lên dân chúng trong cơi, như ván ghép ghép vào gỗ. Hành chánh để cai trị dân th́ có. Dùng luật pháp để bảo vệ trật tự trên cơ sở một tổ chức công an cảnh sát giàu phương tiện và bất chấp nhân t́nh. Các ông huyện Tây học cũ của triều đ́nh Huế được tận dụng, người th́ đi các tỉnh lo việc củng cố thế lực c̣n mong manh của lănh tụ, người th́ ở thủ đô, rập theo khuôn sáo miền Bắc Cộng Sản, tổ chức liên gia, tố cộng, ḥng kiểm soát dân chúng. Nhưng chính trị th́ không. V́ coi nhẹ việc dung hợp nhân dân, ngờ vực dân Đồng Nai Bến Nghé. Chọn lọc kỹ lớp khuyển mă người Nam gọi dạ bảo vâng, rồi tự măn là dành nhiều địa vị cho người “Nam kỳ” đúng theo sự đ̣i hỏi của t́nh thế. Quan trọng hơn cả là việc đối xử với thành phần cựu kháng chiến chống Pháp quay về thành. Năm 1949, nhóm Tinh Thần gồm một số trí thức Sài G̣n ủng hộ Ngô Đ́nh Diệm, đă cưỡng ông Diệm chấp nhận một số tuyên cáo cam kết với anh em kháng chiến sẽ dành cho họ một địa vị, một phần trách nhiệm đúng mức, khi họ trở về với chính thể quốc gia độc lập về sau. Năm năm sau, quả ông Diệm lên cầm quyền, và anh em kháng chiến trở về thành đă chịu nhiều điêu đứng trong cái chế độ cảnh sát trị của ông. (Đồng bào đang ở Pháp có thể t́m gặp Trần Văn Đỗ, một thành viên của nhóm Tinh Thần, để xác minh sự kiện). Những hy vọng ban đầu của người miền Nam dần dà tan biến. Chính từ đó người trong nước mới bắt đầu ư thức về cái “tội tổ tông” của chế độ Sài G̣n, một chế độ “toàn quyền” có tính cách thống trị mà họ không thể nh́n nhận được. (Xem Quê Mẹ số 20) Một chế độ họ không muốn chấp nhận, sống trong đó họ chịu nhiều tai ương, nên dễ mang tâm lư ly khai. Đây là thời kỳ đảng Cộng Sản tích cực ly gián nhân dân và chính quyền. Tuy vậy, người miền Nam cho là ḿnh ở vào cảnh “trên đe dưới búa”, tới dở lui cũng dở, mà thôi, Cộng Sản chưa lôi cuốn được. Có nhận ra tâm lư ấy mới hiểu sức mạnh của phong trào Phật giáo vào các năm 60, lật đổ chế độ Ngô Đ́nh Diệm. Sức mạnh của một quần chúng muốn thoát khỏi cảnh trên đe dưới búa, cảnh phải chọn lựa giữa Cộng Sản và Ngô Đ́nh Diệm. Quần chúng ấy đă hội tụ trong phong trào Phật giáo. Tuy thế, đă có ly cách giữa chính quyền và quần chúng Nam bộ, là có chỗ cho Cộng Sản khuấy động, làm ầm ĩ chuyện Phú lợi, chuyện Ấp Bắc, chuyện Đồng Khởi, một nói thành mười, thành trăm, rồi nhân đó mà cho Mặt Trận xuất hiện công khai năm 1960. Chứ thật t́nh thời cuộc lúc này chẳng có chi mà sôi động bất thường, và cũng không hề có một phong trào đi bưng ào ạt để thành hàng ngũ cho Mặt Trận. Sức mạnh duy nhất lúc bấy giờ là Phật giáo, không phải là Cộng Sản nép sau Mặt Trận. Bằng cớ là trong t́nh h́nh chế độ Sài G̣n sụp đổ đang chông chênh, đảng Cộng Sản không thừa cơ hội mà thao túng nổi. Nhưng khi Ngô Đ́nh Diệm sụp đổ, Mỹ trực tiếp can thiệp vào chính t́nh h́nh miền Nam, đưa các tướng lănh lên cầm quyền, đổ bộ lính Mỹ mở cuộc chiến tranh mới, th́ các con cờ đều thay đổi, và từ đó người miền Nam bắt đầu để tai đến lời tuyên truyền “giải phóng dân tộc” của Mặt Trận. Cũng từ đó thế giới chống chiến tranh Việt Nam đă tiếp tay cho Cộng Sản thành công trong công việc kết nên thế b́nh phong kín đáo ấy để có thể ngang nhiên dấu tay thực hiện mục tiêu miền Bắc thôn tính miền Nam.
MẶT TRẬN XUẤT HIỆN
Ngày 20-12-1960, Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam chính thức ra mắt. Báo chí Cộng Sản, trong nước, ngoài nước, rầm rộ loan báo tin này. Nhưng điều không được nêu lên, và ít người biết đến, là trong kỳ đại hội thứ III của Đảng Lao Động (Đảng Cộng Sản Việt Nam), ngày 5-10-1960, Tổng thư kư Lê Duẩn báo cáo việc thành lập Mặt Trận là “để bảo đảm thắng lợi hoàn toàn của công cuộc cách mạng tại miền Nam, dưới sự lănh đạo của Đảng Mác-xít Lê-nin-nít và giai cấp công nhân”. Cương lĩnh, chính sách, đường lối của Mặt Trận được nêu rơ trong bản báo cáo này. Trong tạp chí Học Tập (tiền thân của “Tạp chí Cộng Sản” ngày nay), cơ quan chính thức của Đảng Lao Động, số tháng 4-1961, Trường Chinh ghi: Mục đích của cuộc đấu tranh là để lật đổ chính phủ miền Nam bằng Mặt Trận, rồi sau đó thay Mặt Trận bằng một Chính phủ dân chủ. Sơ khởi, Mặt Trận công bố chính sách: - Ngoại giao trung lập. - Vô hiệu hóa các lực lượng không Cộng Sản. Các cơ quan thông tấn quốc tế đồng loạt loan báo việc thành lập Mặt Trận là một biến cố lớn, và ghi nhận như một khúc quanh quyết định cho t́nh h́nh Việt Nam. Báo chí Tây phương nói chung, xem Mặt Trận là một tổ chức chính trị của miền Nam, biệt lập với Đảng Cộng Sản miền Bắc, và hy vọng rằng trong tư thế ấy, Mặt Trận sẽ tạo được một tương quan lực lượng với chính quyền Sài G̣n, mà thế giới đă thấy rơ là phong kiến và thoái hóa, để đạt một giải pháp dung ḥa, có thể đưa miền Nam đến một chế độ dân chủ, phát triển, không Cộng Sản và trung lập. Giới trí thức tả phái Âu Châu, nhất là ở Pháp, c̣n ngụp lặn sâu trong huyễn tượng cách mạng thế giới do Mạc Tư Khoa chủ năo qua các đảng Cộng Sản tại chỗ mỗi nước, đón chào Mặt Trận như một thành công lớn của tinh thần cách mạng trong nhân loại. Từ cách nh́n ấy, cả một tầng lớp đầu óc cách mạng khoa cử, sách vở, kẻ hứng người tung, xưng tụng Mặt Trận là biểu hiện của phong trào giải phóng các dân tộc c̣n bị áp bức trên thế giới. Từ ngày tuyên bố thành lập, đến hơn một năm sau, Mặt Trận mới họp đại hội thứ I, từ 18-2 đến 3-3-62. Địa điểm đại hội được nêu là tại vùng Giải Phóng, nhưng kỳ thực là ở Hà Nội. Tham dự đại hội là các đại biểu của một số đông đoàn thể, gồm đủ đảng phái chính trị, liên đoàn nhân dân và các hội ái hữu này khác. Nhưng xét đến nơi, chỉ một số ít đă hiện diện sẵn ở Hà Nội, đông đảo là các đoàn thể vội vàng được thành lập trên giấy tờ hơn là trên thực thể, để choán cho đủ chỗ thành công. Đại hội kết thúc công tác bằng một nghị quyết chính sách, đường lối và bầu một ban Trung Ương gồm 52 người. Chủ tịch là Luật sư Nguyễn Hữu Thọ1. Đường lối, chính sách hoàn toàn rập theo đúng bản báo cáo của Lê Duẩn nói ở trên. Các nhân vật then chốt của Mặt Trận được giữ kín. Danh tính những người được nêu chính thức đều là những người đă từng là cán bộ đảng viên thời chín năm (thời chống Pháp), vây quanh vài ba nhân vật miền Nam được nâng lên hàng đầu, như các ông Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát, Phùng Văn Cung.
THỜI ĐIỂM 1960
Đưa Mặt Trận chính thức xuất hiện, Đảng Cộng Sản xem 1960 là thời điểm thuận lợi, khi cho rằng các điều kiện chủ quan cũng như khách quan đă hội đủ (xem Quê Mẹ 60-61-62-63-64). Báo chí Cộng Sản và các hăng thông tấn xă quốc tế ầm ĩ loan báo tin Mặt Trận thành lập, nhưng những người quan sát thời cuộc tại chỗ tất không khỏi lấy làm lạ trước thái độ hầu như thản nhiên của người miền Nam. Không phải tin này bị chính quyền bưng bít. Mà có muốn cũng không bưng bít nổi, khi người miền Nam tự do xem báo chí, sách vở nước ngoài, nghe các đài truyền thanh quốc tế, giao thiệp rộng răi với người ngoại quốc. Thêm vào đó, các cán bộ Cộng Sản nằm vùng tích cực đưa tin này ra khuấy động dư luận khắp nơi trong nước. Người miền Nam thản nhiên v́ hiểu rằng đây chỉ là một đ̣n phép chính trị của phe Cộng Sản, không có thực chất bao nhiêu. Sự khác biệt giữa dư luận trong nước và dư luận quốc tế trước biến cố “khai sinh mặt trận”, ai đă từng sống trong ḷng thời cuộc miền Nam lúc bấy giờ tất c̣n nhớ rơ. Phân tích sự khác biệt này là nắm được bản chất thực của Mặt Trận trong thời điểm 1960.
T̀NH H̀NH MIỀN NAM NĂM 1960
Để thi hành hiệp định Genève, hai miền Nam Bắc phân định và được các cường quốc chính thức đảm bảo. Kế đến, việc trưng cầu dân ư để thống nhất năm 1956 bị hủy bỏ. Chế độ hai miền đối nghịch nhau nhưng đều có căn bản pháp lư vững vàng. Công cuộc tập kết hai bên đă thực hiện khá tốt, mỗi bên đều bận bịu nhiều, trước hết, vào việc tổ chức cơ cấu nhà nước, xây dựng chế độ riêng, tuyên truyền cho đường lối của ḿnh, kết hợp quần chúng ḥng thiết lập quốc gia, giải quyết các nhu cầu cấp thiết của mỗi miền. Trong hoàn cảnh ấy, và khi hiệp định đă chấm dứt chiến tranh, súng đạn đă im tiếng, th́ các hậu ư bên này hay bên kia về một cuộc tranh chấp bằng vũ lực tạm thời phải dẹp sang một bên dành ưu tiên cho việc củng cố nền tảng của chế độ. Cho nên, ḥa b́nh đă tái lập cứ thế mà kéo dài. Và có thể nói là suốt chín năm chế độ Đệ Nhất Cộng Ḥa, miền Nam đă sống thanh b́nh, quần chúng miền Nam dành công sức để xây dựng lại đời sống của ḿnh, trong không khí thanh b́nh ấy, ở các đô thị cũng như ở thôn quê.
QUẦN CHÚNG MIỀN NAM
Nói đến quần chúng miền Nam lúc bấy giờ, là nói đến một hỗn hợp phức tạp. Thành phần đông đảo hơn cả là người “Nam kỳ”. Những người đang sống trên chính đất gốc của ḿnh, đất “Nam kỳ”, từ nay trở thành nền tảng lănh thổ quốc gia: 65% dân số. Tương lai của quốc gia từ vĩ tuyến 17 đổ xuống tất nhiên tùy thuộc vào đất “Nam kỳ” và vào người “Nam kỳ”. Đất ph́ nhiêu đủ nuôi ăn cả nước. Người có mức độ văn hóa, chuyên nghiệp cao hơn nơi khác. Gồm sẵn một số cơ sở thương nghiệp, kỹ nghệ có thể làm bước đầu cho việc phát triển kinh tế lúc bấy giờ là một ưu tiên. 30% dân số khác của miền Nam gồm người đất “Trung kỳ” bên dưới vĩ tuyến 17. Chật vật nhiều xưa nay, nhưng vẫn không khỏi phải nhờ đến lúa gạo “Nam kỳ” để có thể giáp mùa hàng năm. Thành phần c̣n lại, 5%, là đồng bào Bắc Việt di cư. Và một số vài ngàn người, từ Bắc từ Trung, theo nhân vật lănh đạo vào Nam thiết lập chế độ mới. Gồm quan lại, công chức cũ, cùng tập đoàn tay chân, sớm có muộn có, đă quây quần dưới trướng ông Ngô Đ́nh Diệm. Lấy thành phần di cư làm căn bản quần chúng, lấy tay chân làm ṇng cốt cho chế độ Cộng Ḥa.
TƯƠNG QUAN GIỮA CHẾ ĐỘ VÀ QUẦN CHÚNG
Ngô Đ́nh Diệm thiết lập chế độ của ḿnh trên những thành phần nhân dân phức tạp như vậy mà nhất đán không gặp một khó khăn nào từ quần chúng. Những khó khăn buổi đầu ông đă vấp phải đều do nguồn gốc tương tranh quyền lợi giữa ông và các thế lực đối đầu với ông (như B́nh Xuyên, như Nguyễn Văn Hinh), quần chúng miền Nam nói chung không can dự vào. Điều đáng nêu lên trước hết, là tinh thần “Nam kỳ quốc”, trước kia thường được nhắc đến để dè bỉu người Nam, xem như là một trở ngại lớn cho tinh thần thống nhất dân tộc, nay không thấy phát hiện. Tuy điều kiện để nó phát hiện đă có đủ, nhất là khi quyền binh nằm trong tay một người không phải gốc “Nam kỳ”. Người “Nam kỳ” không đố kị chút nào với chế độ mới, trong đó họ không được dành một phân quyền lực xứng đáng với tầm quan trọng của họ. Không đố kỵ chút nào với nhân vật cầm đầu chế độ, họ chưa hề nghe nói đến tên tuổi, mà nay làm chủ phần đất gốc gác của họ. Người ta có thể thấy rơ thái độ cởi mở ấy trong cách đồng bào miền Nam tiếp đón đồng bào miền Bắc di cư. Sốt sắng, thân t́nh. Các khu định cư người Bắc ở Cái Sắn, ở Biên Ḥa, được bà con địa phương nâng đỡ, chẳng bao lâu đă trở thành những vùng an sinh phồn thịnh. Thái độ tích cực ấy bắt nguồn từ bản chất, từ tính t́nh của người Nam kỳ. Đời sống thường dễ dăi, không hề phải lo đói, nên họ có một tâm hồn thật cởi mở, thương người. Tính t́nh phóng khoáng ấy khiến họ hầu như không có tham vọng quyền bính. Ḷng yêu nước thành truyền thống từ thuở Trương Công Định, Nguyễn Trung Trực, Thủ Khoa Huân cần vương, khiến họ giữ được tinh thần dân tộc dù trải 80 năm thuộc địa bị tách rời khỏi phần kia của đất nước2. Không hề có đầu óc phân ly. Người “Nam kỳ” không có đầu óc phân ly như người Trung, người Bắc thường lo sợ. Nhưng điều oái oăm là, với chế độ Ngô Đ́nh Diệm, tinh thần phân ly được phát động mạnh mẽ và ngược chiều. Thay v́ người “Nam kỳ” phân ly với chế độ cưỡng chế họ dưới quyền một người không cùng gốc, th́ chế độ này lại tự phân ly với người “Nam kỳ” bằng chính sách Bắc trị trên đất Nam kỳ. Tính phân ly ngược chiều ấy nằm trong bản chất của chế độ và bản chất của nhân vật cầm quyền, ông Ngô Đ́nh Diệm. Nằm trong bản chất của người cầm quyền chính, v́ ông Diệm xem ḿnh như đương nhiên mang một thiên mệnh cứu dân, cứu nước. Tính khổ tu và óc tôn giáo của ông đă khiến ông nh́n đâu cũng chỉ thấy có tội lỗi. Càng thấy tội lỗi rơ hơn ở những ai không đứng cùng một phía với ông. Người khác đạo, người khác gốc, người ngoài ṿng gia đ́nh, ngoài ṿng thân thuộc của ông, người nghĩ khác, nói khác ông, đều có thể là những người tội lỗi. Quan niệm thiện ác được ông mang áp dụng trọn vẹn và cứng ngắc ở phạm vi quyền chính ông cầm trong tay. Nhưng thiện hay ác do ông định nghĩa lấy. Thành ra ngờ vực là căn bản sinh hoạt chính trị của ông. Coi thường người khác là căn bản trong thái độ đối xử của ông. Cho rằng ai cũng phải thần phục ḿnh, trung thành với ḿnh, tôn thờ ḿnh là căn bản suy tưởng của ông. Từ bản chất ấy, từ thái độ ngờ vực người khác ấy, từ quan niệm thiên mệnh ông mang, ông đă tập họp rồi dung túng quanh ông một lớp tay chân và một lớp khuyển mă, đau đáu giữ ǵn thế nào cho khỏi thất sủng, hơn là làm được việc cho ông. Thành ra một thứ triều đ́nh, tách rời chế độ và người cầm đầu chế độ xa ĺa quần chúng trong nước. Mà thành phần chủ yếu của quần chúng này, như nói ở trên, là người “Nam kỳ”. Phần khác, ưu tư tôn giáo, nhu cầu củng cố thế lực, khiến ông Diệm xem thành phần Bắc Việt di cư là căn bản chủ yếu của chế độ. Dùng họ làm lực lượng hậu cần của chế độ, ông Diệm ly khai hẳn với thành phần đa số là người Nam kỳ. Từ tâm lư ly khai ngược chiều ấy, ông đi đến tâm lư kỳ thị người Nam, xem họ không xứng đáng trong cái nh́n “yêu nước” của ông.
MỘT CHẾ ĐỘ BẮC TRỊ, GIA Đ̀NH TRỊ, VÀ CẢNH SÁT TRỊ
Chế độ được thiết lập cũng mang bản chất phân ly. Nhất thiết không có một người “Nam kỳ” nào tham dự vào trung tâm quyết định nhà nước, từ trung ương đến địa phương. ở thượng tầng, của đáng tội, người Nam, người Trung hay người Bắc đều bị kỳ thị hết. Chẳng có ai chen vào trung tâm quyết định việc nước dành riêng cho các anh em ông Diệm (người trong nước gọi chung là gia đ́nh trị). Nhưng ở các địa phương, hàng tỉnh trưởng gồm toàn tay chân, thân tín người Bắc, người Trung, không có lấy một người Nam nào (người trong nước gọi là Bắc trị). Nhưng tai hại hơn cả là tính phân ly của một thứ chế độ mà bản chất không phải là chính trị mà là cai trị. Vấn đề chính của ông Diệm nằm trong quan niệm phải củng cố rồi nắm vững quyền bính cá nhân của ḿnh để chống Cộng. Chứ không phải xây dựng một miền Nam không Cộng Sản, hưng vượng, phát triển tự do, để làm nổi bật những giá trị văn hóa, xă hội, nhân sự, khiến ai cũng thấy rơ một miền Nam đáng cho người chuộng tự do, chuộng nhân phẩm chọn làm đất sống. Thành ra chế độ không đặt nặng vấn đề phát triển kinh tế, văn hóa, xă hội, mà đặt nặng vấn đề an ninh. Vấn đề chính của ông Diệm là cai trị, không phải là chính trị. Từ bản chất ấy, nền móng của chế độ là tổ chức công an, mật vụ. Chi chít đến nỗi các anh em của ông mỗi người đều có riêng một tổ chức mật vụ hoạt động cho chủ ḿnh, bất chấp luật pháp (người trong nước gọi là cảnh sát trị). Ghép lên tính phân ly của chế độ, của người lănh đạo, dần dà thái độ phân ly của các bộ hạ tay chân. Nhất là ở các địa phương. Từ đó nạn cường hào ác bá trở nên một tệ nạn cuối cùng tách hẳn quần chúng “Nam kỳ” khỏi chính quyền. Ưu tư của nhân dân và ưu tư của chính quyền từ đó trở nên trái ngược với nhau, vấn đề của nhân dân không phải là vấn đề của nhà nước, và ngược lại. Lợi cho chế độ là hại cho dân, hại cho chế độ là lợi cho dân. Sau cùng, đó là tâm lư thấy được của người “Nam kỳ” trong các biến cố khuynh đảo chế độ Ngô Đ́nh Diệm các năm 1960 đến 1963. Cảnh hoan lạc của nhân dân miền Nam ngày lễ Các Thánh năm 1963 biểu hiện rơ rệt sự phân cách hoàn toàn giữa chế độ ông Diệm và quần chúng “Nam kỳ”. Cái chết của ông Diệm, ông Nhu là nỗi vui chung của cả nước, vui đúng, vui sai lại là chuyện khác. T́nh trạng phân ly giữa chính quyền và nhân dân ấy đă tạo thời điểm cho phe Cộng Sản đưa Mặt trận ra ánh sáng năm 1960.
MẶT TRẬN KHÔNG CÓ THỰC
Loạt bài trước đưa đến kết luận: t́nh h́nh phân cách giữa chính quyền và nhân dân miền Nam đă tạo hoàn cảnh cho Mặt trận h́nh thành rồi xuất hiện năm 1960. Trong môi trường phân cách ấy, đi từ đệ nhất sang đệ nhị Cộng Ḥa miền Nam, Ngô Đ́nh Diệm ngày càng mất dân đến chỗ sụp đổ, và các tướng lănh cầm quyền sau ông không ở vào cái thế lôi cuốn được dân về với chính quyền quốc gia. Sự thờ ở của quần chúng miền Nam đối với chế độ Sài G̣n, mở cửa cho Cộng Sản Hà Nội tha hồ cùng với các cán bộ nằm vùng gốc Nam kỳ, kẻ tung người hứng, vẽ mày vẽ mặt cho Mặt trận có một tầm vóc quốc tế. Nhưng Mặt trận không có thực. V́ đảng Cộng Sản không thể dung túng một Mặt trận có thực, tức là có căn bản nhân dân. Để trở thành một tổ chức tập họp lực lượng quần chúng, song hành với đảng Cộng Sản Hà Nội. Điều này tối kỵ với đảng. Thêm vào đó, dân miền Nam cũng không xu hướng Mặt trận như người ta thường lầm tưởng. Loạt bài sau đây sẽ phân tích lần lượt việc ông Diệm đánh mất dân, việc các ông tướng không làm ǵ lôi kéo được dân và thực trạng dân miền Nam không theo Mặt trận, nên Mặt trận không có thực.
NGÔ Đ̀NH DIỆM ĐÁNH MẤT DÂN MIỀN NAM. PHÂN CÁCH GIỮA CHẾ ĐỘ VÀ NHÂN DÂN MIỀN NAM (trước 1975)
Hiệp định Genève, mang chữ kư các cường quốc, đảm bảo cơ sở quốc tế công pháp của Sài G̣n, đối diện với Hà Nội. Chính quyền c̣n phải được thiết lập, trên căn bản nhân vật lănh đạo là người mới muốn dứt khoát với thực trạng cũ ḿnh không dự phần. Nhằm mở một kỷ nguyên khác theo nguyện vọng chung trong nước. Mọi việc phải bắt đầu lại trong một bầu không khí vừa phấn khởi, vừa thiếu ổn định, của một xă hội từ chiến tranh đi vào ḥa b́nh. T́nh huống nhân dân c̣n lẫn lộn, phức tạp, tâm trạng mọi người chưa lắng đọng kịp. Mục tiêu dài hạn: xây dựng miền Nam không Cộng Sản thành một quốc gia phát triển vững mạnh, tự do, dân chủ, có đủ giá trị hấp dẫn, chờ ngày thống nhất. Ngô Đ́nh Diệm, sau gần năm năm sống ở ngoài, về nước cầm quyền tháng 7-1954 trong hoàn cảnh nói trên. Với nhiều lẽ thuận, nhiều lẽ nghịch, chủ quan có, khách quan có. Phải nhận ra trước, để hiểu các sự việc về sau làm sụp đổ miền Nam.
Lẽ thuận: Hậu thuẫn quốc tế và quần chúng trong nước. A. Quốc tế: - Sức ủng hộ của Hoa Kỳ, dựa trên thế lực Công giáo ở Mỹ, và của thế giới tự do. Nhiều hứa hẹn viện trợ kinh tế, để phát triển (chương tŕnh Colombo, cơ quan USAID), việc trợ kỹ thuật, viện trợ quân sự, để pḥng thủ (tổ chức Liên pḥng Đông Nam Á SEATO). - Pháp từ bỏ quyền bá chủ Việt Nam. Quân đội Pháp trú đóng chỉ giữ nhiệm vụ trật tự thi hành hiệp định, sớm muộn phải rút. Ba Lê mong giải kết duyên nợ thuộc địa một cách thuận lợi, ḥng mưu cầu lợi ích kinh tế lâu dài sau đó. - Các nước Đông Nam Á, nhất là Cao Mên và Lào, đang lo ngại đà tiến của Cộng Sản, xem miền Nam như một tiền đồn, sẵn sàng ủng hộ một cách kín đáo. - Chiến tranh nguội chia thế giới thành hai khối: Cộng Sản và dân chủ tự do. Khối các nước tự do chờ những kết quả sơ khởi của Sài G̣n để ủng hộ và giúp đỡ cụ thể. B. Nội Bộ: - Ngô Đ́nh Diệm là người mới, không dính líu trong chế độ Quốc trưởng. Lại được tiếng là yêu nước, đạo đức, liêm khiết, các đức tính thời thượng lúc bấy giờ. - Trong địa vị Thủ tướng, được toàn quyền hành động, không chịu chỉ thị, không có kiểm soát của Bảo Đại. Một năm sau làm Tổng thống. - Đất nước đi vào Ḥa b́nh, nhân dân náo nức, lạc quan. Ông Diệm không phải là người có công mang lại ḥa b́nh, nhưng được hưởng cái lợi tâm lư do hoàn cảnh ấy tạo nên. - Cuộc di tản vĩ đại của một triệu đồng bào miền Bắc, bỏ mồ mả quê hương, vào Nam tránh nạn Cộng Sản, chọn lựa miền Nam quốc gia theo ông.
2. Lẽ Nghịch: Một thế giới thiên vị và mù quáng. A. Quốc tế: - Miền Nam là đối tượng bành trướng của quốc tế Cộng Sản, sau Trung Quốc (1949) và sau miền Bắc Việt Nam (1954). Chiến lược và mưu đồ xích hóa thế giới nhằm việc thôn tính miền Nam đến cùng. Nhiệm vụ tiền phương thuộc phần Hà Nội. Một nhiệm vụ quốc tế, hoàn toàn không phải là một nhiệm vụ dân tộc. Song song, Bắc Kinh giữ nhiệm vụ hậu cần. Đầu năo là Mạc Tư Khoa. Thành ra, giữa Mỹ và Sài G̣n, quan hệ chỉ có tính cách viện trợ phương tiện, ủng hộ tinh thần, để bảo vệ tự do cho một quốc gia nhỏ, trong mức độ tán đồng của dư luận nội bộ Hoa Kỳ. Mà dư luận một nước dân chủ th́ lại dễ giao động đến có thể xoay ngược chiều. Việc ủng hộ và viện trợ không thể vô giới hạn, cũng không thể kéo dài măi được, nếu không đạt kết quả sớm. Hiệp định Ba Lê 1973 là một minh chứng. Chính dư luận Mỹ đă buộc Hoa Thịnh Đốn bỏ rơi Sài G̣n. Trái ngược hẳn lại, giữa Liên Xô và Hà Nội, quan hệ là chuyện phân chia công tác và nhiệm vụ nhắm một cứu cánh chung: xích hóa thế giới. Hà Nội đứng ở tuyến đầu. Bắc Kinh tuyến hậu. Mạc Tư Khoa là trung tâm chỉ đạo và lănh đạo. Cho nên không phải là chuyện viện trợ và ủng hộ. Mà là chuyện bành trướng của khối Cộng Sản thế giới. Nhiệm vụ này trường kỳ. Thế giới từng bước một phải rơi vào tay Mạc Tư Khoa, nhân danh cách mạng vô sản. Không giới hạn phương tiện về công sức, về của cải. Không giới hạn về nhân mạng, về tai ương của chiến tranh. Cho nên không có chuyện Mạc Tư Khoa bỏ rơi Hà Nội v́ lẽ này hay lẽ khác, như Hoa Thịnh Đốn đă bỏ rơi Sài G̣n v́ quân đội Mỹ thiệt hại nhiều. Nói cho cùng: Sài G̣n khác. Hoa Thịnh Đốn khác. Nhất đán v́ quyền lợi chung có thể đi với nhau, nhưng vẫn là hai. Mạc Tư Khoa và Hà Nội lại chỉ là một. Trong vấn đề Nam Việt Nam. Như thế, Sài G̣n không phải chỉ đương đầu với Hà Nội, mà thực sự phải đương đầu với toàn khối Cộng Sản, không những với Mạc Tư Khoa mà c̣n cả với Trung Hoa, với Đông Âu. - Trong khối các nước dân chủ Tây phương, khái niệm cách mạng thế giới chống tư bản chủ nghĩa đang hồi thời thượng. Giới trí thức, nhất là tả phái, bị mê hoặc theo những giá trị họ ngưỡng mộ là cách mạng, sẽ thay đổi được thế giới, thay đổi được con người, tranh nhau tán dương Cộng Sản, tâng bốc Liên Xô là thiên đường hạ giới. Jean Paul Sartre đă không ngần ngại tuyên bố: “Chỉ có là chó mới chống Cộng”. V́ thế, trong vấn đề Việt Nam, họ luôn luôn về hùa với Hà Nội. Solzhenitsyne chưa sang Tây Âu, ảnh hưởng của họ có tính cách thời thượng, làm thiệt hại nhiều cho miền Nam khi muốn vận động dư luận quốc tế, vận động ngoại giao, để bênh vực cái thế của ḿnh. Đến cả tướng De Gaulle, trong tuyên ngôn ở Nam Vang của ông, trên đường công du thuộc địa Nouvelle Calédonie, lên án Mỹ can thiệp vào Việt Nam, cũng đă có một ảnh hưởng thật tai hại cho Sài G̣n. Tuyên ngôn của ông đă được xem là một trong các yếu tố đưa đến thất bại của Hoa Kỳ ở miền Nam. - Các nước Đông Nam Á chưa đạt đến mức phát triển khả quan, nên tổ chức ASEAN chưa h́nh thành được như hiện nay để có một tiếng nói chung bênh vực Sài G̣n, mà thế giới không thể không chú ư đến được. - Các nước trong thế giới đệ tam, tuy gọi là trung lập nhưng lại thiên Hà Nội v́ muốn gần Liên Xô. - Ông Diệm thù người Pháp nên không biết lợi dụng việc họ có mặt và ảnh hưởng ở miền Nam, như quân đội Nhật đă làm từ 1941 đến 1945, như ông Hồ Chí Minh đă làm từ 1945 đến 1946. B. Nội Bộ: - Tội tổ tông của chế độ Ngô Đ́nh Diệm: Miền Nam chỉ là đất Nam kỳ mở rộng, ông Diệm không phải gốc Nam kỳ và người Nam kỳ không biết ông Diệm mà chỉ nghe đồn về ông mà thôi. - Mặt tiêu cực trong con người ông Diệm. 1. Thiếu tầm vóc: Không có đủ tầm vóc một lănh tụ quốc gia, một chính khách quốc tế. V́ học thức giới hạn, kiến thức thiếu sót, nên không am hiểu đến nơi các biến chuyển lớn trong thế giới, sau thế chiến thứ hai; không nh́n rơ được các vấn đề đất nước, trong thời điểm thiếu ổn định về mọi mặt sinh hoạt xă hội lúc bấy giờ, khi ḥa b́nh trở về và đất nước qua phân. Thành ra không phân biệt được vấn đề chính, vấn đề phụ, và định sai thứ tự ưu tiên các công việc phải làm. 2. Nhân sinh quan hẹp ḥi: Ông Diệm trọng đạo đức, thuần thành về tín ngưỡng. Đau đáu lo giữ ḿnh đến nỗi quên người, nên sợ kẻ khác làm hỏng việc ḿnh. Thành ra không giám tin ai và thường ngờ vực tất cả, hóa ra người lănh đạo mà rất quả giao. Lẫn lộn tốt, xấu, theo đạo đức b́nh thường, với điều hay, dở, trong hành động nhà nước. Cuối cùng đi đến độc tôn, độc đoán, ḿnh cho là phải ḿnh cho là trái đều là phải, là trái, không ai căi được. Nên không chịu nổi ai nói khác ḿnh, không chấp nhận đối lập. 3. Không dám tin người: Thung dung được với người thân tín sẵn, mà lúng túng với người chưa quen. Thành ra chỉ biết có anh em, thân quyến trong gia đ́nh, chỉ gần tay chân bộ hạ. Khi lên cầm quyền, trong vấn đề dùng người, chỉ chọn kẻ chịu làm tay sai, không chọn người cộng tác ngang hàng. 4. Quan liêu gia đ́nh: Gia đ́nh và thủ túc nhiều tham vọng quyền lực, quyền lợi. Từ Trung, từ Bắc vào, làm thêm nặng cái tội tổ tông của chính quyền Diệm. 5. Xung khắc về bản chất giữa ông Diệm và dân Nam kỳ: Nam kỳ dưới chế độ thuộc địa trực trị có luật pháp rơ ràng, nên được đảm bảo ít nhiều tự do. Nay kháng chiến thành công, dân tại chỗ đ̣i dân chủ, không sẵn sàng chấp nhận một nhà nước câu thúc quá đáng. Ông Diệm, xuất thân là đại thần triều đ́nh Huế cũ, cá tính con người ông không để cho ông sử dụng quyền bính cách khác hơn là quan liêu, lệnh từ trên ban xuống, không có đối thoại, trao đổi với ai. Người Nam kỳ tính phóng khoáng, cởi mở, cả tin, không có tham vọng quyền bính, không bận tâm chính trị mấy. V́ thế, mà sau kinh nghiệm kháng chiến, họ không thích Cộng Sản, nhưng đă từng tranh đấu với nhau, họ không chống Cộng. Ông Diệm và tả hữu tay chân lấy việc chống Cộng làm quốc sách, chê người Nam kỳ là ấu trĩ. 6. Không biết sử dụng thành quả kháng chiến Dân Tộc: Thành quả kháng chiến là niềm tự hào của dân Nam kỳ. Nhưng lại là vết hằn trong tâm thức ông Diệm. Quần chúng Nam kỳ kháng chiến theo truyền thống Trương Công Định, Nguyễn Trung Trực, Thủ Khoa Huân v.v... để giải phóng đất nước. Không phải để theo Mác, theo Lênin. Họ xem kẻ thù chính là thực dân Pháp. 7. Ông Diệm không tham dự kháng chiến. Đứng ngoài ṿng một thời, và một thời gian sau đó xuất ngoại sang sống ở Hoa Kỳ. Sự kiện lịch sử này có thể giải thích. Kháng chiến do người Cộng Sản lănh đạo. Quần chúng nhằm mục đích ngắn hạn tranh thủ độc lập, không cần nh́n xa hơn để ngờ vực, Cộng Sản mưu đồ cách mạng vô sản thế giới, không cần chú ư đến mục đích dài hạn của đảng Cộng Sản. Ông Diệm chống Cộng, kẻ thù chính của dân tộc, trong con mắt ông, là Cộng Sản. Ông không thể tham dự kháng chiến, không thể tranh đấu dành độc lập chung với Cộng Sản. Một phần v́ ông không chấp nhận lănh đạo Cộng Sản trong kháng chiến. Phần khác, ông muốn tranh đấu giành độc lập theo một đường lối khác. Thái độ ông khả kính. Đường lối ông có giá trị. Nehru ở Ấn Độ, Soekarno ở Nam Dương chứng minh nhận xét này. Và có lẽ họ đă mở đường cho ông Diệm. Cho nên, nhất thời, ông không thể để cho phong trào quần chúng trong nước lôi cuốn vào cuộc kháng chiến mà ông biết về sau tất nhiên bị Cộng Sản lợi dụng. Lịch sử sẽ ghi nhận định của ông là đúng. Kháng chiến thành công. Pháp phải từ bỏ quyền bá chủ Việt Nam và ông Diệm được đưa lên cầm quyền trên nửa phần phía Nam đất nước. Trên đó Nam kỳ là địa cư chính và trọng yếu nhất. Đây là cớ sự tạo một mặc cảm thật tế nhị, thật phức tạp, trong tâm thức con người Ngô Đ́nh Diệm. Nam kỳ kháng chiến đă phần nào ngược với chủ trương chống Cộng của ông. Nên ông mặc cảm như phong trào này cũng chống ông. Nay kháng chiến thành công trên mảnh đất Nam kỳ ông trực tiếp tiếp thu kết quả. Trong tiềm thức ông, ông thấy có chi đó bất ổn. Tâm lư tự xem ḿnh là người phi thường khiến ông hóa giải điều bất ổn này một cách sai lạc. Đến chỗ đố kỵ người Nam kỳ. 8. M& |