MỤC LỤC

 

 

 
 

 

   Lời Giới thiệu của NXB

   Lời Mở đầu

 * * *

Chương 01

Chương 02

Chương 03

Chương 04

+ H́nh ảnh 1

Chương 05

Chương 06

Chương 07

Chương 08

Chương 09

Chương 10

Chương 11

Chương 12

Chương 13

Chương 14

Chương 15

Chương 16

Chương 17

Chương 18

Chương 19

Chương 20

 

THƯ MỤC

PHỤ LỤC

Phụ lục A

Phụ lục B

Phụ lục C

Phụ lục D

Phụ lục E

Phụ lục F

 

+ H́nh ảnh 2

 

* * *

 

CHƯƠNG VIII

 

CHỦ NGHĨA NHÂN VỊ

VÀ ĐẢNG CẦN LAO

 

Mùa hè năm 1958, sau khi nắm vững t́nh h́nh những cơ cấu trung ương của Nha An Ninh Quân đội bằng cách phối trí lại hệ thống tổ chức cho hợp lư hơn với chức năng của một bộ phận an ninh và t́nh báo thuần quân sự, cũng như phát động một số kế hoạch dài hạn nhằm nâng cao phẩm chất chuyên môn của nhân viên, tôi bèn bắt đầu đi thanh tra và nghiên cứu tại chỗ những đơn vị thuộc quyền ở khắp toàn quốc. Đơn vị đầu tiên dĩ nhiên là Sở An Ninh Quân đội thuộc quân khu I nằm tại Huế, một đơn vị có những công tác đặc biệt hơn những Sở khác v́ phạm vi trách nhiệm tiếp giáp với vĩ tuyến 17.

Cũng nhân dịp này, tôi muốn trở lại Huế sau hai năm xa vắng để thăm bạn bè, bà con cũ, cũng như ghé thăm ông Ngô Đ́nh Cẩn trong ngôi nhà ở Phú Cam năm xưa. Ngôi nhà đó, bây giờ, đă mất đi cái phong cảnh cũ mà tôi hằng lưu niệm, đă mất đi cái vẻ cổ kính đầy huyền thoại đă từng quyến rũ tâm hồn tôi ngày nào. Ngôi nhà lầu chính không thay đổi nhiều, chỉ sửa sang cho quang đăng và sinh động hơn. Vườn hoa quê mùa và đơn sơ thủa trước cũng đă được thiết kế lại như một cảnh vườn Nhật Bản quy mô với nhiều loại hoa quư và chim chóc thú vật.

Thời ông Diệm chưa cầm quyền th́ cảnh nhà Phú Cam đạm bạc, dưới mái tranh chỉ có bà Cụ Cố và mụ Luyến thui thủi ra vào, c̣n ngôi nhà Từ đường ở trên chỉ có ông Cẩn ngày đêm cô quạnh. Bây giờ th́ không khí của toàn bộ khuôn viên trở nên tấp nập oai nghiêm như dinh thự chốn công đường. Chỉ hai năm mà lắm thay đổi so với những kiến trúc bất biến của xứ Thần Kinh trầm lặng.

Dinh Ngô Đ́nh Cẩn được biệt phái một tiểu đội do Đại úy Tôn Thất Độ chỉ huy gồm toàn sĩ quan và hạ sĩ quan lo việc phục dịch trong nhà, làm công tác vệ sinh, chăm sóc cây cảnh chim chóc, và đặc biệt phụ trách luôn việc đồng áng mùa màng cho những mẫu ruộng ở An Cựu và ở miệt các Lăng. Nhờ có một người anh làm thượng sĩ trong tiểu đội phục dịch này mà đại tá Phùng Ngọc Trưng mới có thể cho tôi biết rằng mặc dù tiền bạc châu báu chất chồng, mặc dù dinh thự nhà cửa tậu măi đă rất nhiều mà ông Cẩn vẫn giữ cái tính keo kiệt bủn xỉn như thời c̣n hàn vi. Tiểu đội sĩ quan và hạ sĩ quan đó, hàng tháng phải đóng góp chung tiền lại để mua chổi, bóng đèn, ṿi nước, gạch đá, dụng cụ làm vườn và trăm thứ linh tinh khác... v́ đă có lần họ xin ông Cẩn ngân khoản bảo tŕ hàng tháng, bị ông mắng chưởi cho một trận và c̣n hăm dọa đuổi ra đơn vị tác chiến. Ngoài tiểu đội quân nhân được sử dụng như gia nô đó, ông Cẩn c̣n có một văn pḥng Quân Chính (quân sự và chính trị) do Đại úy Minh (Công giáo di cư) làm chánh văn pḥng để lo vấn đề giấy tờ, thư tín và liên lạc với người ngoài dinh.

Nhưng có lẽ những thay đổi của cảnh vật không làm tôi ngạc nhiên bằng những thay đổi của con người v́ sự kiện đập mạnh vào mắt nhất là sự thay đổi toàn diện nơi con người của mụ Luyến. Mụ Luyến mà tôi thường thấy trước kia là một mụ Luyến lam lũ, quê kệch, áo nâu quần đen, chân đi đất; c̣n mụ Luyến mà tôi gặp hôm nay mặt mày son phấn, áo quần lụa là, chân đi guốc hoa, ḿnh đầy nữ trang óng ánh và được mọi giới chức quyền gọi bằng Bà. Sự đắc thắng vinh quang của gịng họ Ngô Đ́nh quả thật đă được thể hiện rơ ràng nhất qua sự thay tính đổi h́nh nơi người đầy tớ gái quá nửa chừng xuân này.

Xe Jeep của Sở An Ninh Quân đội chở tôi đến dinh thự của Cẩn ở Phú Cam đúng lúc một viên chức đại diện cho Tỉnh trưởng Quảng Ngăi cũng vừa chở đến một bức sập gụ quư giá để dâng cho ông Cố vấn miền Trung. Bức sập gụ đó thật hiếm có v́ chỉ gồm một tấm liền mà bề ngang khoảng một thước sáu, bề dài hơn ba thước và bề dày phải hơn một tấc tây. Tôi bước vào cổng nhà lúc ông Cẩn và mụ Luyến c̣n đứng chỉ trỏ xem xét và trầm trồ khen ngợi bức sập gụ quư giá đó.

Phong cách của ông Ngô Đ́nh Cẩn vẫn không thay đổi bao nhiêu, vẫn bộ bà ba lụa trắng, vẫn nhai trầu nhóp nhép, chỉ trừ đôi guốc gỗ đă được thay bằng đôi giầy hạ, bề ngoài trông giống như một nhà phú hộ miền quê. Nói phô th́ ông Cẩn vẫn như độ nào, vắng mặt người ta th́ ông đều gọi họ bằng “thằng nọ thằng kia” dù người ta có tuổi cao đức trọng hay bộ trưởng, tướng tá. Thái độ mục hạ vô nhân vẫn là cái bệnh chung của tất cả anh em nhà họ Ngô. Trong một buổi nói chuyện ngắn ngủi, thỉnh thoảng ông Cẩn lại cho gọi một người vào để nạt nộ biểu dương oai quyền trước mặt tôi. Người đối thoại chỉ biết cúi đầu, miệng vâng dạ lia lịa. Những ai chưa biết rơ con người của ông Cẩn, khi nghe hay chỉ thấy ông làm những màn kịch cỡm này th́ sợ hăi lắm, nhưng đối với ông Vơ Như Nguyện và tôi, vốn biết ông Cẩn quá rơ, th́ cái tṛ “rung cây nhát khỉ” để làm dáng lănh tụ chỉ làm chúng tôi buồn cười và khinh thường hơn.

Thật ra tôi cũng không có chuyện ǵ mà bàn với ông Cẩn, chỉ đến thăm ông ta và nh́n lại ngôi nhà cũ, nơi mà ḿnh đă có nhiều kỷ niệm để xem thử thời thế đổi thay đă đem lại những thay đổi ǵ. Ngày hôm sau tôi được đại úy Nguyễn Tiến Sung, Chánh sở An Ninh Quân Đội quân khu I, tŕnh cho tôi một tấm thiệp của ông Hà Thúc Luyện, tỉnh trưởng Thừa Thiên, mời tới ăn cơm tối. Bữa tiệc đó thật ra là do ông Ngô Đ́nh Cẩn bày ra để đăi tôi tại ṭa hành chánh Thừa Thiên. Tôi thấy có đại biểu Chính phủ Hồ Đắc Khương, thiếu tướng Tư lệnh quân khu I là Lê Văn Nghiêm, cụ Đoàn Nhượng, chủ tịch Phong trào Cách mạng Quốc gia tỉnh Thừa Thiên, và độ 30 quan khách thân hữu. Trước khi ăn, ôngh Cẩn nâng chén chúc mừng tôi mới đi xa (Pháp) về và ca ngợi tôi là “nhà cách mạng”, “cán bộ trung kiên, tài ba nhất” của lănh tụ Ngô Đ́nh Diệm và của Đảng Cần Lao. Hôm ấy và vào thời đại ấy, quả là một vinh dự lớn lao cho tôi, v́ suốt đời ông Cần có coi ai ra ǵ đâu, có bao giờ ông đăi đằng ai đâu mà hôm nay lại dành cho tôi một sự tiếp đón long trọng với những lời chúc tụng cao quư. Thật thế, ngay cả ông Lê Văn Đồng (hiện ở Pháp), vừa là Bộ trưởng Canh nông vừa là ủy viên Trung ương Đảng Cần Lao, lại thừa lệnh Tổng thống đi kinh lư Tỉnh Quảng Trị, mà ông Cẩn c̣n ra lệnh cho Tỉnh trưởng Nguyễn Văn Đông (người Phú Cam) không thèm đón tiếp chỉ v́ ông Đồng đă không lo việc cung cấp cây gỗ cho ông Cẩn đầy đủ như ông ta đă lo cho giám mục Ngô Đ́nh Thục. Bữa tiệc hôm nay do đích thân ông Cẩn chủ tọa là một biến cố hăn hữu và đặc biệt, đă làm nhiều người ngạc nhiên. Nhưng từ trong thâm tâm tôi biết hành động đó của ông chỉ là một thủ đoạn.

Ông Cẩn bày ra tiệc tùng, tôn quư và đề cao tôi thật ra chỉ v́ quyền lợi của ông. Ông Cẩn biết Tổng thống Diệm đặc biệt thương mến tôi, vả lại tôi thường dám nói thẳng những điều mà người khác e ngại không dám nói lên, cho nên ông muốn gây cảm t́nh với tôi để tôi khỏi báo cáo với ông Diệm những sai lầm tội lỗi. Ngoài ra, về dài, ông c̣n hy vọng sẽ lôi kéo được tôi về phe ông, v́ lúc này hai anh em Cẩn và Nhu đă đi đến giai đoạn tranh chấp khó hàn gắn được. Ông Cẩn tưởng lầm là tôi có thể tạo thế thăng bằng giữa ông ta và Nhu mà cộng sự viên thân tín của ông Nhu là bác sĩ Trần Kim Tuyến lại là người Cẩn rất thù ghét. Trong Dinh Độc lập, ông Cẩn có đồng minh là ông Vơ Văn Hải, Viên chánh văn pḥng đặc biệt của ông Diệm quyết liệt chống đối vợ chồng Ngô Đ́nh Nhu, nhưng ông Cẩn vẫn thấy chưa đủ v́ ông Diệm vẫn kính nể ông em khoa bảng luôn luôn ở sát cạnh ḿnh. Ông Diệm lại nể nang đến độ sợ hăi bà Nhu, người em dâu lắm mồm lắm miệng sẵn sàng gây chuyện thị phi có thể làm mất uy tín của Chính quyền của ông ta, nên những lời lẽ chống đối vợ chồng Ngô Đ́nh Nhu của ông Vơ Văn Hải không ảnh hưởng ǵ đến định kiến đă có của ông Diệm.

Lần ra Huế đó, mặc dù được ông Cố vấn miền Trung Ngô Đ́nh Cẩn ân cần tiếp đón và tỏ ư ve văn nhưng ḷng tôi vừa buồn rầu vừa lo lắng, v́ đằng sau cái huênh hoang trơ trẽn và cái oai quyền hống hách đó là một bức tranh ảm đạm của chế độ đang càng hiện rơ tại miền Trung.

Những đồng chí cũ của tôi, những bạn bè cũ của tôi, những cán bộ và chiến hữu đă từng vào tù ra khám, hy sinh gian khổ cho ông Diệm và cho tổ chức ngày xưa, chỉ chưa đầy ba năm mà đă vắng bóng biệt tích, kẻ th́ bị hạ tầng công tác đổi ra nước ngoài như hai ông Nguyễn Đôn Duyến và Trần Văn Hướng, kẻ th́ “cởi áo từ quan” về đi buôn như ông Vơ Như Nguyện, kẻ th́ bị mất chức như các ông Nguyễn Chữ và Vơ Thu Tịnh, kẻ th́ trốn Huế vào Nam như ông Nguyễn Vinh, kẻ th́ xa lánh chế độ như cụ Trương Văn Huế, kẻ th́ bị chế độ giam giữ như ông Trần Điền... Những người đó, ngày xưa, đă từng cùng với tôi tạo ra bức thành đồng để che chở cho ông Diệm lúc khốn cùng, đă từng cùng với tôi khắng khít làm thành những cơ phận kiên tŕ cho chiếc xe tổ chức của ông Diệm trong những giờ phút gian truân nguy hiểm mà bây giờ cảnh cũ c̣n đó người xưa đâu c̣n.

Bây giờ chỉ c̣n lại những Vưu Hồn, Bí Trọng khét tiếng như Hoát, Đông, Phong, Hiếu (ở Công An), như Đặng Sĩ ở quân đoàn I, quận Trợ, quận Thái, như tỉnh trưởng Nguyễn Văn Tất, Nguyễn Đ́nh Cẩn, Nguyễn Văn Đông... toàn là loại “đeo thánh giá mà chà đạp giáo điều Kitô”. Để bổ túc dữ kiện cho cuộc điều tra trước lúc đánh giá chế độ, tôi ghé thăm cụ Trương Văn Huế, một nhân sĩ Công giáo Phú Cam, bạn thân lâu năm của nhà Ngô, từng đứng đầu trong bản kiến nghị đệ lên Quốc trượng Bảo Đại xin cử ông Diệm làm Thủ tướng. Nhưng nay cụ là người bất măn với chế độ. Cụ vồ vập nói chuyện như để trút bớt nỗi ḷng uất hận của ḿnh: “Đại tá phải nhớ nhà Ngô thủa bần hàn khác, nay có quyền thế th́ khác, trước kia th́ nói chuyện cách mạng, đạo đức, liêm chính, nay th́ chỉ biết tham nhũng, bóc lột, làm tiền. Đại tá cứ nh́n vào việc xử tệ với ông Trần Văn Lư và nâng thằng Nguyễn Cao Thăng lên hàng dân biểu th́ rơ”. Cụ dằn giọng : “Anh em nhà Ngô là hàng phản phúc, hàng ăn cháo đá bát, tôi sẽ bỏ Huế tôi đi, ở đây chướng tai gai mắt lắm”.

Trong “Lá Thư Công Chánh” (số 37 tháng 10 năm 1986) kỹ sư Trần Sỹ Huân, một công sự viên của cụ Huế cho biết:

“Cụ là người cương trực, khí phách, từng bạt tai Tây, chống Nhật, bị Việt Cộng ám sát hụt. Khi ông Diệm lên cầm quyền, cụ giữ chức Trưởng khu Công Chánh Trung phần nhưng chỉ sau ba năm, cụ xin từ chức v́ bất đồng chính kiến với gia đ́nh họ Ngô mà cụ là một thành phần trụ cột trong Phong trào Cách mạng Quốc gia thời ấy”. Mấy năm sau tôi đến thăm cụ Huế sống cô đơn tại Đồng Đế Nha Trang. Có lẽ muốn trao gửi tâm sự cho người bạn trẻ, cụ nói: “Nghĩ cho cùng, thời xưa Tần Thủy Hoảng chôn sống 200 trí thức cũng phải. Thứ đồ gàn ấy để thêm cản trở việc nước. Chế độ (Ngô Đ́nh Diệm) này không tồn tại được lâu đâu. Nói Vương đạo mà làm Bá đạo. Đồ vong ân bội nghĩa”. Tôi thầm nghĩ chắc ông đang cưu mang một mỗi u hoài nào đó v́ ông là người khẳng khái không chịu xu nịnh, đua đ̣i, nên bỏ về đây “lăo giả an chi”.

Thật vậy, từ khi ông Diệm củng cố được quyền lực, từ khi các chiến khu Việt quốc và Đại Việt bị đánh tan và hai đảng ấy bị tê liệt hẳn, th́ tại miền Trung, ông Ngô Đ́nh Cẩn không c̣n ai là đối thủ nữa. Ông trở thành một thứ lănh chúa ở miền Trung và miền Cao nguyên với một triều đ́nh riêng, uy quyền riêng, lực lượng riêng. Chỉ mới mấy ngày ở Huế mà tôi đă nghe nói đến những vụ tham nhũng kinh khủng, nhiều vụ bắt bớ các nhà giàu tra tấn cho đến chết để làm tiền. Tôi cũng nghe nói đến hành động phá hoại Phật giáo rất hạ cấp. Tôi c̣n nghe nói ông Cẩn cho xây nhà mát ở Cửa Thuận, hàng tuần, hàng tháng đem người đẹp đến du hí chơi bời. Người ta c̣n kể cho tôi nghe mỗi lần đoàn xe ông Cẩn từ Huế xuống Thuận An hay ngược lại là dân chúng phải tránh thật xa, phải “khuynh cái hạ mă” như các cuộc vi hành của vua chúa thời phong kiến. Tôi được nghe nói bọn Cần Lao bắt buộc dân chúng bỏ đạo ông bà để theo đạo Thiên Chúa, những cán bộ công chức cấp thấp không theo đạo th́ sẽ bị thuyên chuyển đến những vùng xa xôi...

Có lẽ v́ biết tôi có đặc quyền tŕnh thẳng với ông Diệm, có tư cách của một nhân viên an ninh cao cấp, lại là một người theo đạo Phật nên bà con, thân hữu kể cho nghe vô số tội ác của Ngô Đ́nh Cẩn và bọn Cần Lao. Dân chúng chỉ biết nghiến răng ngậm miệng chịu đựng v́ kêu trời nào có thấu. Ngay cả Phật giáo bị chính phủ Sài G̣n băi bỏ ngày nghỉ lễ Phật Đản trong chương tŕnh nghỉ lễ hàng năm để quân nhân công chức không thể đi chùa, đă kêu ca với không biết bao nhiêu đơn từ mà vẫn không được hồi âm huống ǵ dân đen sức yếu thế cô.

Cái biểu tượng uy quyền khiếp đảm nhất của ông Ngô Đ́nh Cẩn và cũng là cái khí giới tàn độc nhất để Cẩn xây dựng bạo lực và quyền uy là “Ban Công tác miền Trung” (tức là Ban Mật vụ Lưu động), một tổ chức lấy bạo lực vừa làm cứu cánh vừa làm phương tiện, một cách nôm na là người khác có khổ đau th́ ḿnh mới khoái lạc. Ban Công tác miền Trung như một đoàn hung thần bủa màng lưới sắt xuống đời sống của Quân Dân chính miền Trung mà cuối màng lưới, ở cái nút khóa oan nghiệt là trại giam người có tên là “Trại Chín Hầm”, một trại giam tuy lộ liễu hơn nhưng lại khủng khiếp hơn trại P42 ở sở thú Sài G̣n của ông Ngô Đ́nh Nhu. Sau này, khi ông Ngô Đ́nh Cẩn bị xử tử, trại Chín Hầm, trước khi bị phá hủy, trở thành một trung tâm thăm viếng của dân Thừa Thiên để dặn nhau ghi nhớ đời đời tội ác của nhà Ngô. Nhân sĩ Hoàng Trọng Thược, người Huế, đă kể lại một chứng tích như sau về trại “Chín Hầm”:

Ngô Đ́nh Cẩn có cho xây chín cái hầm dưới đất ở ngoại ô thành phố Huế để nhốt tù chính trị và những kẻ mà Cẩn định làm tiền. Ái Huyên, một nữ sinh Đồng Khánh Huế, nạn nhân của Cẩn, trong khi bị giam ở Chín Hầm đă sáng tác bài thơ:

Trước phong cảnh hữu t́nh ai có biết,

Rằng nơi đây địa ngục trần gian,

Nơi chứa chấp một chế độ bạo tàn,

Và cạnh đấy là cung vàng điện ngọc.

Du khách hỡi! Dừng lại đây nghe tiếng khóc,

Của oan hồn tử sĩ chết đau thương,

Những nấm mồ vô chủ suốt đêm trường,

Như quằn quại theo từng cơn gió buốt!

Trên nệm ấm kẻ bạo tàn đâu có biết,

Bao thân người chui rúc dưới tanh hôi,

Và nghe hồn khóc kể măi không thôi! [1]

Nếu những lời than khóc thảm thiết của dân Huế vẫn chưa đủ để làm xúc động và thức tỉnh một số sử gia “hoài Ngô" muốn che đậy sự thật lịch sử th́ xin hăy đọc tâm sự của ông Vơ Như Nguyện, một cán bộ trung kiên và thiết yếu của ông Diệm, một chứng nhân đă sống trong ḷng chế độ. Nguyên năm 1977, trong khi đang tị nạn tại Pháp và trong nỗi hoài niệm về dĩ văng quê nhà, ông Nguyện có viết một lá thư dài với nhiều t́nh tiết có tính cách sử liệu cho bạn là ông Hoàng Đồng Tiếu tại Portland (thuộc tiểu bang Oregon, Hoa Kỳ). V́ cả ba chúng tôi đều là bạn cố tri thân thiết của nhau nên ông Tiếu có chuyển lá thư đó lại cho tôi để tùy nghi sử dụng. Trong đoạn đề cập đến ông Ngô Đ́nh Cẩn, ông Nguyện đă viết:

“Năm 1963, như Bác rơ hơn ai hết, tôi ra tuyên ngôn tại Huế và bị Cẩn bỏ tù. Mặc dù trong khi “Tập đoàn Công Dân” của ông Cẩn mạnh, tôi từ chức ngang xương Tỉnh trưởng B́nh Định (1956) và đem cả họ hàng gia đ́nh đi quy y liền cho Cẩn thấy. Tôi đă từng phá cửa ngơ của ông Cẩn để vào nhà, đă từng đánh đập gia nô ông Cẩn ngay trước mặt ông ta và bảo rằng: “Vào nhà này thêm nhục nhă v́ vào đây không phải để đóng góp thực sự việc nước”. Ông Cẩn lập hồ sơ Bác và tôi là gián điệp Pháp, cả Duyến nữa, bắt thằng Quế (ông Vơ Văn Quế, hiện đang ở California, Hoa Kỳ) khai bọn ḿnh và thằng nhà giàu ở đường Trần Hưng Đạo đă liên lạc với tụi Tây... ông Cẩn bắt giam Bác và cho người ám hại tôi... nhưng tôi đă nói thẳng “Cậu là Tào Tháo, tôi là Dương Tu, nhưng Cậu không hại được tôi đâu”...[2]

Các ông Vơ Như Nguyện, Nguyễn Đôn Duyến, Hoàng Đồng Tiếu là những chiến hữu sắt son và xuất sắc nhất của nhà Ngô từ thời ông Diệm c̣n hàn vi, c̣n gặp khó khăn. Riêng ông Vơ Như Nguyện c̣n là chiến hữu của ông Diệm trong phong trào ủng hộ Cường Để trước năm 1945 đến nỗi đă bị Pháp bắt đày giam ở vùng núi rừng KonTum. Năm 1945, khi được thả về ông vẫn tiếp tục hoạt động chính trị để ủng hộ cho ông Diệm. Anh em ông Diệm hết sức quư mến ông Vơ Như Nguyện nên đă nhờ ông ta đứng làm Trưởng nam trong tang lễ ông Ngô Đ́nh Khôi.

Năm 1955, ông Diệm cử ông Nguyện làm Tỉnh trưởng B́nh Định, nhưng đến khi t́nh h́nh chính trị miền Nam tới hồi thuận lợi cho việc củng cố địa vị uy quyền th́ Ngô Đ́nh Cẩn lại t́m mọi cách để chống phá ông Nguyện với ư đồ gây cho ông Nguyện chán nản từ chức hầu đặt tay chân ḿnh vào chức Tỉnh trưởng đó. Ông Nguyện bất măn từ chức rồi về nhà đi buôn. Mấy năm sau, ông làm giáo sư Hán học cho đại học Huế và năm 1963, ông đă không thể bịt mắt che tai trước việc đàn áp Phật giáo nên đă cùng với nhiều giáo sư tại đại học Huế ra tuyên ngôn lên án chế độ, do đó bị Ngô Đ́nh Cẩn bắt giam. C̣n “Tập Đoàn Công Dân” là một tổ chức chính trị của một số linh mục và giáo dân do giám mục Phạm Ngọc Chi cầm đầu mà đảng viên chỉ toàn là người Công giáo. Nhưng v́ anh em ông Diệm chủ trương “độc đảng” nên “tập đoàn” phải tự giải thể để nhập vào Đảng Cần Lao. Vụ án gián điệp Pháp mà ông Nguyện, ông Duyến và ông Tiếu bị Ngô Đ́nh Cẩn vu cáo sẽ được đề cập đến trong mục “tham nhũng” sau này. Tuy nhiên qua lời tiết lộ trên đây của ông Nguyện, ai cũng thấy những người bị Cẩn ra lệnh bắt để làm tiền đều bị bắt oan thế mà ông Cao Thế Dung, trong cuốn sách Làm thế nào để giết một Tổng thống lại hết sức bênh vực Ngô Đ́nh Cẩn.

Từ ngày đi Huế về, t́nh trạng bi thảm của miền Trung do ông Ngô Đ́nh Cẩn và lực lượng Cần Lao gây ra đă làm cho tôi thấy lo lắng và bi quan cho chế độ. Tôi thương ông Diệm bao nhiêu th́ tôi lại ghét ông Cẩn và nhóm Cần Lao tại miền Trung bấy nhiêu. Từ ngày đó, tôi quyết không bao giờ gặp ông nữa và măi cho đến năm 1964, sau khi chế độ nhà Ngô bị lật đổ tôi mới trở lại Cố đô.

Tuy ở Sài G̣n, nhưng nhờ bằng hữu và hệ thống an ninh tại miền Trung của Nha, tôi biết rất rơ ông Cẩn và nhóm Cần Lao càng ngày càng lộng hành, càng lao đầu vào hố sâu tội lỗi, dân chúng miền Trung và miền Cao nguyên mỗi ngày mỗi thống khổ thêm và nỗi oán hận chế độ Diệm càng thêm chồng chất. Tôi thường tŕnh bày những tội lỗi sai lầm của ông Cẩn (và của cả vợ chồng Ngô Đ́nh Nhu) cho ông Diệm biết nên Cẩn giận tôi lắm, nhắn nhe là sẽ cho người ám sát tôi (cũng như đă hăm dọa sẽ chém đầu hai ông Trần Chánh Thành và Trần Kim Tuyến). Nhưng đời nào tôi sợ bọn gian hiểm, bất lương. Cẩn càng dọa nạt tôi th́ tôi càng hạ nhục ông bằng một chiến dịch kể tội Ngô Đ́nh Cẩn với bằng hữu và các cộng sự viên của ông ta. Thấy không lay chuyển được thái độ của tôi, ông Cẩn bèn dùng thủ đoạn cầu ḥa.

Một hôm tôi đang ngồi nói chuyện với hai người bạn là đại tá Nguyễn Dinh và Phùng Ngọc Trưng (hiện ở Pháp) tại nhà riêng th́ bỗng ông kỹ sư Nguyễn Xuân Thưởng, Giám đốc Công Chánh miền Duyên hải, và ông Dân biểu Đoàn Đ́nh Dương đến thăm. Hai thuộc hạ cao cấp đó của Cẩn cho tôi biết họ được lệnh ông cố vấn miền Trung vào mời tôi ra Huế một chuyến để ông Cố vấn và tôi cùng nhau “thông cảm”, gây lại ḥa khí xưa... Họ mới nói tới đó là tôi nổi nóng ngay. Tôi bảo họ về nói với ông Cẩn rằng “Tôi thề sẽ không bao giờ gặp mặt ông ta nữa v́ ông ta chỉ là thứ chánh tổng, cường hào ác bá, không xứng đáng để tôi gặp gỡ nói chuyện”. Tôi bảo hai kẻ thân tín của ông Cẩn về nói rơ cho ông ta biết rằng Ngô Đ́nh Cẩn và nhóm Cần Lao đang phá hoại chế độ và đang phản bội Tổng thống Diệm. Tôi bảo họ về nhắn kỹ với ông Cẩn rằng “Đỗ Mậu chưa hề biết sợ ai, đừng có dọa dẫm, đừng có thủ đoạn mà uổng công...” Sợ liên lụy đến một người bạn vẫn c̣n nhiều bà con tại miền Trung nên nói đến đó tôi ra dấu cho đại tá Phùng Ngọc Trưng ra về, để tôi mạnh miệng hơn trong việc kể tội Ngô Đ́nh Cẩn. Có đúng như thế không hỡi anh Phùng Ngọc Trưng ơi!

 

-o0o-

 

Dưới thời Pháp thuộc, trong mưu đồ tiêu diệt nền tam giáo tại Việt Nam để có thể dễ dàng truyền đạo, các vị cố đạo ngoại quốc thường dựa vào quyền hành và luật lệ của thực dân hay dựa vào tiền bạc và thế lực của Chính phủ bảo hộ để mua chuộc giới b́nh dân Việt Nam theo Công giáo, xúi giục họ từ bỏ tục lệ phong hóa cổ truyền của dân tộc như học giả Đào Trinh Nhất nói rơ trong cuốn Phan Đ́nh Phùng. Phương cách và thủ đoạn đó không mang lại kết quả bao nhiêu cho tham vọng của các giáo sĩ Tây phương như học giả Đào Duy Anh đă tŕnh bày:

... Trong số những người theo Cơ Đốc giáo, một phần rất lớn là v́ lợi mà theo chứ không phải là v́ tín ngưỡng sâu xa, cho nên ta có thể nói rằng ảnh hưởng tinh thần của Cơ Đốc giáo đối với dân ta lại c̣n ít hơn những thành tích thực hiện nữa.[3]

Măi đến năm 1944, Công giáo mới cho ra đời cuốn Lịch sử đạo Thiên Chúa tại Việt Nam với hậu ư muốn chứng minh sự hiện hữu có nguồn gốc của giáo hội Thiên Chúa giáo Việt Nam trong lịch sử dân tộc Việt. Trong bài đề tựa, Đức khâm mạng Ṭa Thánh Drapier than phiền chỉ có dân nghèo, chỉ có giới b́nh dân dốt nát mới nghe theo tin mừng của Chúa Kitô, c̣n giới có học th́ cố t́nh không biết đến đạo lư của Gia Tô”. Ngay cả trí thức Công giáo như ông Lư Chánh Trung, Nguyễn Văn Trung cũng phải nêu lên lư do “bất khoan dung” của Thiên Chúa giáo làm cho các dân tộc Á Đông bất măn, khước từ.

Tôi nghĩ rằng sự bất khoan dung nói trên (ngoài những lư do khác) đă khiến cho Giáo hội va chạm nặng nề với các dân tộc Áá Đông và đă không thành công mỹ măn trong việc rao giảng tin mừng tại vùng này. Sau bốn thế kỷ giảng đạo với những phương tiện hùng hậu, những hy sinh lớn lao, phải nhận rằng số người Á Đông theo đạo luật thật là ít ỏi, ngoại trừ xứ Phi Luật Tân. Giáo hội đă xem các nền văn hóa Á Đông là vô giá trị, là sai lầm, tội lỗi, do đó đă gần như bắt buộc người Á Đông phải chọn lựa giữa dân tộc và giáo hội... vả lại, tŕnh độ đạo đức trung b́nh của người Thiên Chúa giáo Á Đông không có ǵ gọi là “cao” hơn những người không Thiên Chúa  Giáo.[4]

Như vậy, sau gần 400 năm rao giảng tin mừng, kết quả của việc truyền bá Thiên Chúa giáo tại Viêt Nam quả thật là nhỏ nhoi khiêm tốn, mà thể hiện rơ ràng nhất là Giáo hội Thiên Chúa giáo Việt Nam, tuy có cơ sở ở thượng tầng nhưng về mặt sâu gốc rễ vào quảng đại quần chúng th́ bị khước từ và bật dội ra khỏi tâm thức của đại khối dân tộc v́ tính bất khả ḥa và bất khả dung của nó. Năm 1945, với sự du nhập của chủ nghĩa Mác Xít (mà công khai là Hội Nghiên cứu Chủ nghĩa Mác Xít ở Hà Nội) và với hấp lực của một cuộc kháng chiến chống thực dân Tây phương do đảng Cộng sản điều động để vận dụng và kết hợp toàn dân, nhất là thành phần tiểu tư sản trí thức, nên các tu sĩ lănh đạo giáo hội Công giáo Việt Nam ư thức được mối nguy cơ đang làm suy hại khả năng truyền bá của Giáo hội (trên mặt tư tưởng cũng như hành động) nên đă phản ứng công khai và dứt khoát để đối kháng với sức mê hoặc vô thần của đảng Cộng sản.

Tôi c̣n nhớ lá thư luân lưu của Đức giám mục Phát Diệm Lê Hữu Từ lên án Cộng sản vô thần. Tôi c̣n nhớ ở Huế nhiều linh mục như cha Thích, cha Thính... thường diễn thuyết tại hội Quảng Tri đề cao thuyết duy linh và tôn vinh Thượng Đế... Dần dần, các vị linh mục như Bửu Dưỡng, Nguyễn Văn Thích, Lư Văn Lập cùng với ông Ngô Đ́nh Nhu đi đến quyết định phải chính trị hóa Giáo hội mà khởi đầu là h́nh thành một chủ thuyết vừa triết lư vừa chính trị gọi là chủ nghĩa Nhân Vị dựa theo thuyết Personnalisme của nhà trí thức Thiên Chúa giáo Pháp, ông Emmanuel Mounier. Tôi không có tham vọng giải thích thuyết Nhân Vị ở đây, nhưng về tổng quan th́ Nhân Vị là vị thế của con người, lấy con người làm giao điểm trong trục tương quan với đồng loại, thiên nhiên và Thượng Đế. Người là trung tâm để phục vụ, có ưu thế hơn các thực thể khác như dân tộc, nhân loại, hay nhu cầu vật chất. Con người có phần xác và phần hồn, mà linh hồn được coi là chủ yếu hơn v́ linh thiêng bất tử và là nguồn gốc của văn minh. Linh hồn có tính thiêng liêng v́ do chính Thượng Đế tạo ra và có khả năng vươn lên cảm thông với Thượng Đế... Trên mặt triết học, thuyết này chỉ là một triển khai có hệ thống những phạm trù tôn giáo mà thôi. Và thành phần trí thức Thiên Chúa giáo, mà chủ yếu  là một số linh mục học ở Pháp hoặc ở La Mă, và ông Nhu, đă thai nghén trong ṿng bí mật cho măi đến năm 1951, khi ông Nhu rời Đà Lạt xuống Sài G̣n (ở số 8 đường Ypres) mới bắt đầu thêm ư niệm về Cần Lao trong vế thứ hai của lư thuyết, và công khai phổ biến trên tuần báo Xă Hội do ông chủ trương.

Nhưng v́ lư thuyết này không xuất sinh từ thực tế lịch sử và không phù hợp với hiện thực xă hội của dân tộc mà chỉ là phó sản chắp vá của một giáo lư tôn giáo cộng với một số lư thuyết xă hội tả khuynh Tây Phương nên cuối cùng không thành h́nh được một Sử quan nhất quán để vận dụng vào thực tế đấu tranh của nước nhà. Những bài nghiên cứu công phu trên tuần báo Xă hội (cũng như sau này trên tạp chí Quê Hương dưới thời ông Diệm) do đó chỉ là những món trang sức trí thức quư giá cho một thiểu số mà thôi. Tuy quư giá thật đấy nhưng chỉ là một thứ trang sức, nghĩa là vô dụng và vô nghĩa cho hiện trạng xă hội Việt Nam.

Cho đến năm 1953, nhờ những yếu tố khách quan của quốc tế, mà chủ yếu là sự yểm trợ chủ động của khối Thiên Chúa giáo La Mă và Hoa Kỳ qua thế cờ Ngô Đ́nh Diệm (chứ không phải nhờ tác động của lư thuyết Nhân Vị Cần Lao), ông Nhu mới quyết định năng động hóa lư thuyết của ḿnh. Một mặt ông Nhu (cùng các ông Trần Văn Đỗ, Trần Chánh Thành, Nguyễn Tăng Nguyên, Trần Trung Dung) xin phép Thủ tướng Bửu Lộc cho ra đời một lực lượng thợ thuyền lấy tên là “Liên đoàn Lao Công” (Lao là lao động, Công đặc biệt nghĩa là Công giáo) dựa theo mô thức lănh đạo và tổ chức của lực lượng thợ thuyền Thiên Chúa giáo Pháp.

Theo kư giả danh tiếng Neil Sheehan th́ chính CIA đă chi tiền cho “Lực lượng thợ thuyền Công giáo Pháp” vốn có móc nối với anh em nhà Ngô. Sau khi anh em ông Dulles không c̣n hy vọng vào một Bảo Đại có thể chống nổi Cộng sản Hồ Chí Minh, CIA bèn yểm trợ tài chính cho Ngô Đ́nh Nhu qua hệ thống “Lực lượng Thợ thuyền Công giáo Pháp” để quấy phá Bảo Đại hầu có thể đưa Ngô Đ́nh Diệm về Việt Nam làm Thủ tướng. (Xem “A Bright Shinning Lie”, trang 179). Mặt khác, họ h́nh thành một hội nghị “Đại đoàn kết” vào tháng 9 năm 1953, đ̣i hỏi ḥa b́nh cho Việt Nam, với sự tham dự của ông Nhu và các đoàn thể chánh trị gồm luôn cả Bảy Viễn và các giáo phái.

Về Đại hội Đại Đoàn kết này, có một ngộ nhận lịch sử cần làm sáng tỏ. Một số người căn cứ vào một đoạn viết của Bảo Đại trong cuốn Le Dragon d’Annam (tr. 328) - một hồi kư mà nhà nghiên cứu sử Chính Đạo đă phát hiện rằng người chủ biên thật sự là một sĩ quan cấp tướng người Pháp chứ không phải là Bảo Đại - để cho rằng chính ông Nhu là người đóng vai tṛ chủ động của phong trào này.

Theo tôi, ông Nhu chỉ là người tham dự thụ động chứ không hề ở trong cấp lănh đạo của Phong trào này. Cụ Trần Văn Ân, Tổng thư kư của chính Phong trào này đă liệt kê đầy đủ những khuôn mặt lớn của Phong trào trong Chủ tịch đoàn gồm có cụ Trần Trọng Kim, Đức hộ pháp Phạm Công Tắc, ông Lương Trọng Tường, Linh mục Hoàng Quỳnh (đại diện Đức cha Lê Hữu Từ) và Thượng tọa Tố Liên nhưng tuyệt nhiên không nhắc nhở ǵ đến tên của ông Ngô Đ́nh Nhu cả (xem tạp chí Đuốc Từ Bi số 26, ngày 1/5/87, California).

Không những thế, ông Đoàn Thêm lại cho rằng người kiến trúc sư của Đại hội này lại chính là Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm để làm “theo sát đường lối của Quốc Trưởng”:

Đối với Pháp, ông (Nguyễn Văn Tâm) cũng lâm vào cảnh khó xử như ông Hữu v́ ai cũng biết rằng ông cùng gia đ́nh ông đều thật t́nh thân Pháp. Tuy nhiên, ở địa vị Thủ tướng, ông đă phải theo sát đường lối Quốc Trưởng, lên tiếng đ̣i thay đổi quy chế Liên Hiệp Quốc (6-6-53), Triệu tập một Quốc dân Đại hội để xét lại t́nh trạng bang giao Việt - Pháp và đưa yêu sách trả quyền cho Việt Nam (10-9-53). (Những Ngày Chưa Quên, Đoàn Thêm, tr. 196-197).

Với cụ Trần Văn Ân, Tổng thư kư nằm trong nội bộ của đại hội, và ông Đoàn Thêm, người nổi tiếng khả tín v́ tỉnh thức và tỉ mỉ theo dơi chuyện từng ngày, th́ đoạn Hồi kư nói trên của vua Bảo Đại là một nhầm lẫn (vô t́nh hay cố ư?) cần sửa lại cho đúng. Nếu không, lại có người căn cứ vào đó mà suy diễn bậy rằng vua Bảo Đại cử ông Ngô Đ́nh Diệm làm Thủ tướng là nhờ thành tích và uy tín của anh em ông ta chứ không phải v́ áp lực của Mỹ và Pháp như sự thật lịch sử đă diễn ra.

Song song với hai công tác nổi đó, ông Nhu bí mật hoạt động để cho ra đời đảng “Cần Lao Nhân Vị Cách mạng”. Thật ra, không ai biết được đảng Cần Lao Nhân Vị khai sinh như thế nào và bao giờ ngoại trừ ông Nhu và các đồng chí của ông Nhu đă nói trên kia, và cũng không ai thấy được cương lĩnh, nội quy của đảng như thế nào để nghiên cứu mà đồng ư hay chống đối. Nhưng qua một số bài báo biểu lộ tư tưởng của ông Nhu trên tuần báo Xă Hội, và qua những đề tài giảng dạy tại Trung Tâm Nhân Vị Vĩnh Long sau này, nhiều người, như nhà văn Chu Bằng Lĩnh, đă phải chán nản nặng lời phê phán thuyết Nhân Vị của ông Ngô Đ́nh Nhu là một thứ pha trộn đầu Ngô ḿnh Sở, chắp vá bằng một mớ tư tưởng hổ lốn, góp nhặt mọi thứ một ít từ giáo lư Thiên Chúa giáo đến chủ nghĩa Nhân Vị của Mounier, pha thêm thuyết Nhân ái của Khổng Tử, cộng thêm vài nét của Chủ nghĩa Tư bản lẫn lộn với Chủ nghĩa Duy Linh chống Cộng... Phải chăng v́ sự pha trộn quá tham lam đến độ nghịch lư đó mà Stanley Karnow đă nhận định rằng:

Thuyết Nhân Vị của Ngô Đ́nh Nhu đă chịu hai sự tai hại. Thứ nhất là ngay cả giới trí thức mà c̣n không thể hiểu nổi thuyết đó là ǵ huống chi quần chúng. Thứ hai là ông Ngô Đ́nh Nhu bị người thừa kế của ông Mounier lên án “gian lận” trên tờ báo Thiên Chúa giáo Esprit tại Pháp   [5]

Ông Nhu cố gắng tổng hợp một cách quá gượng ép nhiều hệ thống tư tưởng vào thuyết Nhân Vị của ông ta v́ tuy chủ yếu mô phỏng thuyết Nhân Vị của Mounier nhưng ông lại muốn có những thêm bớt, đổi thay cho có vẻ đó là sáng tạo độc lập riêng của ḿnh. Đă  thế, ông Nhu tuy là một người Việt trí thức nhưng lại xuất thân từ trường Tây nên không viết được hay không muốn viết bài bằng quốc ngữ mà chỉ viết bằng tiếng Pháp, rồi có người dịch ra tiếng Việt. Do đó bản dịch không lột hết được tư tưởng của ông ta. Nguyên bản tiếng Pháp đă khúc mắc khó hiểu v́ khó khăn diễn đạt th́ bản dịch Việt ngữ chắc chắn như một mớ chỉ rối. Chẳng trách, ngay đến giờ này, một lư thuyết gia đă nhận là chỉ đạo sinh mệnh quốc gia suốt chín năm trời như thế mà không để lại được một tác phẩm nghiên cứu nào, lại càng không để lại một vết tích suy tư nào trong tâm thức dân tộc, ngoại trừ một thiểu số “hoài Ngô” chỉ biết ḥ hét hai chữ Nhân Vị nhạt nhẽo.

Ông Ngô Đ́nh Nhu, cha đẻ của thuyết Nhân Vị Cần Lao, sinh tại Huế vào ngày 7 tháng 10 năm 1910, sau khi đỗ cử nhân Văn chương tại Pháp, ông vào trường “Quốc gia Cổ Tự Học” (Ecole Nationale des Chartres, ngành Archiviste Paléographe), một trường nổi tiếng ở Paris mà nếu tôi không lầm th́ người Việt Nam duy nhất trước đó chỉ có cụ Phan Vô Kỵ. Ra trường và về Việt Nam năm 1938, ông Nhu làm việc cho Nha Văn Khố Trung Ương Đông Dương tại Hà Nội từ năm 1938 đến năm 1943. Từ năm 1943, ông làm chủ sự pḥng Văn Khố Ṭa Khâm Sứ Huế, và trong thời gian này ông được ông Trần Văn Lư, Đổng lư Ngự Tiền Văn pḥng của Nam triều, mời giữ chức Chủ tịch Hội đồng Chỉnh đốn Châu Bản của Văn Khố nhà Nguyễn. Năm 1945 sau khi Nhật đảo chính Pháp, ông được chính phủ Trần Trọng Kim cử giữ chức giám đốc Văn Khố Trung Ương tại Hà Nội. Tuy là một nhà trí thức xuất thân từ một gia đ́nh quan lại nhưng ông không chịu viết bằng tiếng Việt mà chỉ viết bằng tiếng Pháp. Chứng tỏ là về mặt tác phẩm ông chỉ viết độc nhất một bảo khảo luận độ 7, 8 trang mà lại viết bằng tiếng Pháp nhan đề là “La Fête de l’Ouverture du Printemps à Hanoi sous les LE Posterieurs”;[6] và dưới thời Đệ nhất Cộng ḥa, hầu hết diễn văn quan trọng của ông Diệm đều do ông Nhu viết bằng Pháp văn rồi ông Vơ Văn Hải dịch ra quốc ngữ. Cần phải nói rơ ra như thế để giải thích về những bài viết kư tên Ngô Đ́nh Nhu trên tuần báo Xă Hội với ư và văn khúc mắc khó hiểu, nên đă làm cho kư giả Karnow nhận định chính xác rằng “những người trí thức cũng không hiểu nổi thuyết Nhân Vị của Ngô Đ́nh Nhu”.

Hiến pháp Việt Nam Cộng Ḥa năm 1956 tuy là sự đóng góp trí tuệ của nhiều người nhưng cái sườn chính vẫn do ông Nhu soạn ra. Cũng như bản chung quyết của Hiến pháp trước khi biểu quyết tại Quốc Hội Lập Hiến để trở thành văn kiện căn bản của quốc gia là do ông Nhu nhuận đính và chung quyết. Bản Hiến pháp này, ngoài một vài từ ngữ mà trên mặt tượng thanh có vẻ Nhân Vị hoặc có liên hệ đến thuyết Duy Linh như “giá trị siêu việt”, “sứ mạng”, “nhân vị”, “duy linh”, “tạo hóa”,... c̣n nội dung thật sự của nó đă không xiển dương được chút nào yếu tính căn bản - nếu có - của thuyết Nhân Vị. Có hai lư do để giải thích hiện tượng này: Thứ nhất là v́ thuyết  Nhân Vị hỗn tạp quá nên không có những yếu tính đặc thù để tạo ra nét độc đáo riêng biệt cho Hiến pháp; và thứ hai là nhu cầu quyền lực chính trị quá lớn nên ông Nhu đă bất chấp cái nội dung Nhân Vị - dù c̣n mơ hồ chưa thành h́nh - để đưa vào Hiến pháp những nguyên tắc chính trị chà đạp sinh hoạt dân chủ của quốc gia và quyền tự do của công dân để tập trung quyền hành vào một thiểu số thống trị. Nghĩa là chủ xướng tối đa tính độc tài trong bộ luật căn bản và cao cấp nhất của quốc gia.

Muốn xem một hiến pháp là dân chủ hay độc tài, ta chỉ cần nghiên cứu hai quan niệm: một là quyền lực quốc gia qua h́nh thái tổ chức cơ cấu quốc gia thuộc về ai, và hai là quyền hành của công dân được công nhận và quy định như thế nào?

Hiến pháp Đệ Nhất Cộng Ḥa, trong thiên “Điều khoản Căn bản”, điều 2, viết rằng “Chủ quyền thuộc về toàn dân” nhưng đoạn 3, điều 3 th́ lại xác định “Tổng thống lănh đạo quốc dân”[7] nghĩa là tách rời hai ư niệm “chủ quyền” và “quyền lực” ra khỏi nhau. Làm sao nhân dân có thể làm chủ được quốc gia khi Tổng thống - chứ không phải họ - lănh đạo quốc dân?, dù “quốc dân ủy nhiệm vụ hành pháp cho Tổng thống dân cử và nhiệm vụ lập pháp cho quốc hội cũng do dân cử” (điều 3, đoạn 1). Mà “ủy” theo bản dịch Pháp văn chính thức [8] lại có nghĩa là “phong” (investir) tức là trao toàn quyền. Một cách thực tế, cứ 5 năm, người dân cầm lá phiếu để “phong” một ông Tổng thống để cai trị ḿnh rồi trở về không c̣n tham dự ǵ vào quyền lực quốc gia nữa. Như ta sẽ thấy rơ trong bản Hiến pháp ở các mục sau cũng như trên thực tế của 9 năm cai trị, Tổng thống Diệm tập trung trong tay những quyền hành hợp hiến to lớn mà Quốc hội chỉ là một bộ phận phụ thuộc được dùng để luật hóa các quyết định chính trị của hành pháp mà thôi. Cũng do đó, nguyên tắc Phân quyền cơ bản được đề ra trong Hiến pháp chỉ c̣n là chiêu bài xảo trá để đánh bóng cho chế độ.

Chủ quyền thuôc về toàn dânTổng thống lănh đạo quốc dân nghe không khác ǵ Đảng lănh đạo, nhân dân làm chủ... của Hiến pháp Cộng Sản hiện nay tại quê nhà. Điểm khác biệt duy nhất là Cộng Sản tập trung quyền lực vào một chính trị bộ nhiều người c̣n hiến pháp 1956 th́ tập trung quyền lực vào một Tổng thống Diệm. Nguyên tắc chủ quyền đă bị chà đạp như thế, đến quan niệm toàn dân th́ lại càng mơ hồ hơn nữa. Bản dịch tiếng Pháp đăng trên công báo là “Chủ quyền thuộc về toàn thể quốc dân” và chữ quốc dân này c̣n được dùng nhiều lần trong Hiến pháp.

Quốc dân, theo lư thuyết dân chủ Tây phương mà hiến pháp 1956 áp dụng, là một tập thể trừu tượng không những bao gồm thế hệ hiện tại mà c̣n cả các thế hệ đă qua và sau này nữa, nó là một “pháp nhân tách rời khỏi những cá nhân hợp thành quốc gia” [9], và luật có thể ấn định những điều kiện để hành xử chức năng “quốc dân” đó như điều 18 đă quy định rằng “quyền bầu cử và ứng cử phải theo thể thức và điều kiện luật định” hoặc “quyền bầu cử và ứng cử phải theo thể thức và điều kiện luật định” hoặc điều 50 xác định rằng phải hội “đủ các điều kiện khác dự liệu trong luật tuyển cử”.

V́ quốc dân (national Vietnamien) không phải là nhân dân (peuple Vietnamien) nên ngay cả cái chủ quyền mà người dân miền Nam được nắm giữ một cách trừu tượng ở phần đầu của Hiến pháp thật ra cũng chỉ là một thứ chủ quyền lư thuyết trên giấy tờ.

Như vậy, 2 nguyên lư căn bản nhất làm cơ sở chỉ đạo cho hiến pháp 1956 là Chủ quyền của ai Ai lănh đạo đă nói lên rất rơ ư đồ của ông Ngô Đ́nh Nhu muốn tập trung quyền lực vào một cá nhân Tổng thống để có thể cai trị một cách độc tài, phản dân chủ. Cho nên ta không lấy làm ngạc nhiên khi thấy quyền Hành pháp của Tổng thống chẳng những đă lấn át quyền của Quốc hội mà có khi c̣n bao gồm cả tính Lập pháp nữa.

Tổng thống bổ nhiệm và cách chức tất cả các công chức dân và quân sự (điều 37); bổ nhiệm các sứ thần (điều 35), là tổng tư lệnh tối cao của quân đội (điều 37); có quyền ân xá, ân giảm, hoán cải h́nh phạt, huyền án (điều 37); kư kết, phê chuẩn các hiệp định quốc tế, thay mặt quốc gia trong việc giao thiệp với ngoại quốc (điều 35), tuyên chiến và kư kết ḥa ước với sự thỏa thuận của chỉ một nửa túc số quốc hội (điều 36); tuyên bố t́nh trạng khẩn cấp báo động, giới nghiêm (điều 44); tổ chức trưng cầu dân ư (điều 40). Và v́ các vị thẩm phán tối cao đều do Tổng thống bổ nhiệm (và được xem như một công chức có thể bị cách chức) nên trên thực tế Tổng thống chẳng những đă trực tiếp nắm gần hết mọi cơ cấu của Hành pháp từ cấp Bộ trưởng, Tướng lănh cho đến nhân viên hốt rác, anh binh nh́ mà c̣n có khả năng khuynh loát và điều động Tư pháp nữa. Quyền Lập pháp tuy nói là thuộc về Quốc hội (điều 55) nhưng trên thực tế Tổng thống cũng có quyền làm luật; nhưng trong khi quyền làm luật của Tổng thống th́ bất khả xâm phạm ngược lại, quyền làm luật của Quốc Hội có thể bị Tổng thống khống chế. Thật vậy, ngoài cái quyền đương nhiên được chuyển dự thảo ra Quốc hội (để hầu hết) được phê chuẩn nhanh chóng (điều 56), hiến pháp 1956 c̣n cho phép Tổng thống, v́ lư do khẩn cấp, có quyền ban hành sắc luật giữa hai khóa họp Quốc hội (điều 41), hoặc trong “t́nh trạng khẩn cấp, chiến tranh, nổi loạn, khủng hoảng kinh tế hoặc tài chính”, Tổng thống có thể được Quốc hội ủy quyền ra sắc luật thường xuyên (điều 41). Điều khôi hài là chỉ có Tổng thống mới được nhận định và tuyên bố trong trường hợp nào th́ t́nh trạng trở thành khẩn cấp (điều 44).

V́ ngân sách là sức mạnh huyết mạch của chế độ nên ông Ngô Đ́nh Nhu đă duy tŕ cho được điều 43 của Hiến pháp để đề pḥng đối lập có thể làm tê liệt chính quyền. Điều 43 viết rằng “trong trường hợp ngân sách không được Quốc hội chung quyết trong thời hạn ấn định ở điều 60 th́ Tổng thống có quyền kư sắc luật ngân sách cho tài khóa sau” và “nếu về sau Quốc hội có bác bỏ hoặc sửa đổi những điều khoản của sắc luật ngân sách th́ Quốc hội phải giải quyết các hậu quả gây nên do việc bác bỏ hoặc sửa đổi”. Thật chưa có một hiến pháp nào có lối văn vừa cảnh cáo vừa đe dọa quốc dân như điều 43 này!

Cũng trong hiến pháp này, về thể thức biểu quyết của Quốc hội, “một dự án hoặc dự thảo luật được Quốc hội chấp thuận chỉ có giá trị nếu hội đủ túc số 1/3 tổng số dân biểu” (điều 69). Quy định “đa số phục tùng thiểu số” phản dân chủ này chỉ có thể giải thích bằng ư đồ chính trị đen tối của ông Nhu muốn đề pḥng trường hợp tổng số dân biểu gia nô của ḿnh bị trở thành thiểu số trong Quốc hội. Nhưng trong khi Quốc hội “dễ dăi” với Tổng thống như thế th́ ngược lại khi Tổng thống phủ quyết một đạo luật của lập pháp, Quốc hội phải hội đủ túc số 3/4 khó khăn mới được tái thông qua. Mà 3/4 này phải “minh danh đầu phiếu” (điều 58) để Tổng thống điểm mặt xem ai đă dám chống lại quyền phủ quyết của ḿnh!

Ngoài ra Tổng thống có quyền đ́nh chỉ việc áp dụng một hoặc nhiều đạo luật trong những vùng mà Tổng thống tuyên bố t́nh trạng khẩn cấp (điều 44). Một viện Bảo hiến có được quy định để nghiên cứu và quyết định xem các điều khoản có bất hợp hiến không, nhưng viện này gồm 9 người th́ vị chủ tịch và 4 thẩm phán hay luật gia đă do Tổng thống bổ nhiệm rồi (điều 86). Cuối cùng, Tổng thống có quyền đề nghị sửa đổi hiến pháp (điều 90) và Uỷ ban sửa đổi hiến pháp phải “tham khảo ư kiến” không những của Viện Bảo hiến (bù nh́n) rồi mà c̣n của cả Tổng thống nữa (điều 91).

Tóm lại, theo Hiến pháp 1956 này, cái Hiến pháp đă làm b́nh phong dân chủ cho chế độ Ngô Đ́nh Diệm suốt 7 năm, th́ Tổng thống có đầy đủ quyền lực để triệt tiêu hoặc làm tê liệt các đạo luật nào mà ḿnh không vừa ư cũng như để ban hành và thi hành các đạo luật nào có lợi cho ḿnh.

Nếu Tổng thống đă khống chế quốc hội như vậy, th́ ngược lại Quốc hội có quyền ǵ đối với Tổng thống không ? Tổng thống không bắt buộc phải điều trần trước Quốc hội, không chịu trách nhiệm trước Quốc hội và không thể bị Quốc hội bất tín nhiệm để lật đổ. Tổng thống tiếp xúc với Quốc hội “bằng thông điệp” và nếu muốn “có thể dự các phiên họp của Quốc hội”, cũng như chỉ “khi thấy cần, Tổng thống thông báo cho Quốc hội biết t́nh h́nh Quốc gia” (điều 39).

Qua những điều kể trên, ta thấy rơ rằng khi thiết kế ra Hiến pháp này, quả thật ông Nhu đă muốn cho anh ḿnh trở thành một thứ Đế vương phong kiến với những h́nh thức và ngôn ngữ có vẻ dân chủ tự do... Chính ông Ngô Đ́nh Diệm cũng đă công khai bày tỏ sự tán đồng nội dung của bản Hiến pháp này trong bài phỏng vấn của nhật báo Pháp Le Figaro ngày 23 và 24 tháng 3 năm 1959: “Cần phải nhớ lại quá khứ của chúng tôi. Chế độ chính trị ở Việt Nam thời nào cũng vậy, đă thành lập trên nguyên tắc điều khiển việc nước không phải do những đại biểu của quốc dân mà do những ông vua có những tể tướng sáng suốt phụ tá... Chúng tôi phải lập lại ở Việt Nam hệ thống luân lư như ngày xưa” [10].

Ông Nhu đúng là vị “tể tướng sáng suốt” đă mang vị vua Ngô Đ́nh Diệm phong kiến của thời đại quân chủ về làm nguyên thủ của nước Việt Nam Cộng ḥa theo Tổng thống chế, để xây dựng tự do dân chủ cho miền Nam chống Cộng! Trách ǵ nước chẳng mất!

 

Quan niệm thứ nh́ của Hiến pháp 1956 mà ta phải xét đến là quyền hành của người dân được quy định như thế nào trong chương “Quyền lợi và nhiệm vụ của người dân”. Đây cũng là chương nói lên rơ ràng nhất cái kỹ thuật lừa bịp tinh vi của ông Ngô Đ́nh Nhu, cha đẻ của Hiến pháp 1956, phát xuất từ sự đánh giá sai lầm sức mạnh của một chế độ dân chủ tự do, và sức mạnh vô địch của quần chúng trong cuộc chiến tranh chống lại một kẻ thù như Cộng sản.

Phát xuất từ quan niệm cơ bản rằng chỉ cần một chính quyền mạnh (trong nghĩa bạo lực quân sự hoặc bạo lực chính trị) là chế độ có thể tồn tại vững bền, Hiến pháp 1956 đă nhân danh chủ nghĩa chống Cộng để kiểm soát và giới hạn tối đa mọi quyền tự do và dân chủ của người dân. Quan niệm này không đếm xỉa đến nhân dân như là sức mạnh trụ cột và trường kỳ của miền Nam Việt Nam, cũng như không đếm xỉa đến sinh hoạt dân chủ như là vũ khí hữu hiệu nhất để đối kháng với kẻ thù.

Thật vậy, sau khi đă mở đầu Hiến pháp với một mớ từ ngữ ma quái trong triết lư Duy linh và sau khi đă bắt buộc phải xác định một cách không thể tránh được những nguyên lư căn bản mà Hiến pháp nào (kể cả Hiến pháp Cộng sản) cũng phải đề ra như “quốc gia công nhận và bảo đảm những quyền căn bản của con người” (điều 5), “mọi người dân đều có quyền sinh sống tự do và an toàn” (điều 9), th́ đến lúc đi vào từng chi tiết cụ thể của từng sinh hoạt của người dân, mọi điều đưa ra cho có vẻ tự do dân chủ đều bị giới hạn lại ngay bằng một điều khác liền.

Hiến pháp xác định “quyền tự do nghiệp đoàn và quyền đ́nh công được công nhận” nhưng điều 25 ngay sau đó lại nói rằng việc sử dụng các quyền này phải “theo những thể thức và điều kiện luật định” (Luật định như Dụ số 23 về việc thành lập Nghiệp đoàn bắt phải nộp điều lệ để chính quyền cứu xét và quyết định, nhưng Dụ này lại không định ra một giới hạn nào cả về thời gian cứu xét). Hiến pháp cũng xác định có quyền đ́nh công nhưng cũng ngay trong điều 25 đó th́ “quyền đ́nh công không được thừa nhận đối với nhân viên và công nhân trong các ngành hoạt động liên quan đến quốc pḥng, an ninh công cộng hoặc các nhu cầu thiết yếu của đời sống tập thể” nhưng lại không có một văn kiện “luật định” nào giải thích rơ ràng các ngành đó cả mà chỉ do Tổng thống hoặc chính quyền xác định lấy.

Cũng vậy, nói rằng ‘tính cách riêng tư của thư tín không thể bị xâm phạm” nhưng lại thêm “trừ khi cần bảo vệ an ninh công cộng hay duy tŕ trật tự chung” (điều 12); cho người dân có quyền “tự do đi lại và cư ngụ” rồi lại thêm ngoại trừ trường hợp “luật pháp ngăn cản v́ duyên cớ vệ sinh hay an ninh công cộng”; xác định người dân có quyền “tự do xuất ngoại” nhưng trừ “trường hợp luật pháp hạn chế v́ lư do an ninh, quốc pḥng, kinh tế, tài chánh hay lợi ích công cộng” (điều 13); nói rằng có quyền “tự do hội họp và lập hội” nhưng giới hạn “trong khuôn khổ luật định” (điều 15); Hiến pháp cũng công nhận là “chỉ có thể bắt giam người khi có câu phiếu của cơ quan có thẩm quyền” mà lại không xác định “cơ quan có thẩm quyền” là những cơ quan nào cho nên sau này có rất nhiều cơ quan mật vụ an ninh ch́m nổi của ông Nhu, ông Cẩn, không nằm trong hệ thống của Bộ Tư pháp mà vẫn có quyền bắt người dù có hoặc không có câu phiếu.

Nói chung, để kiểm soát và bóp nghẹt quyền của người dân, Hiến pháp 1956 đă tung ra một mớ gươm Damoclès treo trên đầu người dân với những từ ngữ mà chính quyền muốn giải thích như thế nào cũng được như “điều kiện luật định, lư do quốc pḥng, an ninh công cộng, an toàn chung, trật tự chung, lợi ích công cộng, đạo lư công cộng...” Và để bảo đảm tối đa sự kiểm soát này, Hiến pháp c̣n nâng chủ trương nầy lên thành nguyên tắc tổng quát trong điều 28: “quyền của mỗi người đều được xử dụng theo những thể thức và điều kiện luật định”. Điều 28 quỷ quyệt này đóng kín một cách hoàn toàn và vĩnh viễn tất cả mọi hy vọng của người dân về mọi sinh hoạt dân chủ và an toàn cá nhân dưới chế độ, đồng thời trao lại một cách hoàn toàn và vĩnh viễn quyền sinh sát vào tay một thiểu số gia đ́nh họ Ngô đang nắm quyền lực trong tay.

Ngoài kư giả Shaplen (trong bài The Cult of Diem) đă nặng lời chỉ trích Hiến pháp 1956 của Đệ nhất Cộng ḥa, nhiều luật gia Việt Nam tên tuổi cũng đă nghiêm khắc lên án Hiến pháp đó là độc tài, cổ hủ không liên hệ ǵ với thuyết Nhân Vị cả. Luật gia Đoàn Thêm trong “Những ngày chưa quên” đă phải bỏ ra 11 trang (kể từ trang 23) để phân tách sự liên hệ giữa thuyết Nhân Vị và Hiến pháp Đệ Nhất Cộng ḥa, liên hệ giữa Hiến pháp và Quốc hội, giữa Quốc hội và Tổng thống, đă có một nhận xét như sau đây:

Triết lư chính trị của ông (Ngô Đ́nh Nhu) muốn đưa ra, đă được tóm tắt trong đoạn mở đầu và phần căn bản của Hiến pháp 26-10-1956, lại được nhấn mạnh... đă thành khẩu hiệu chính thức. Tuy nhiên, những ư tưởng này chỉ thể hiện ra hai thiên đầu của hiến pháp 1956. C̣n ở phần cơ cấu chính quyền, nghĩa là khi chuyển sang phần ứng dụng, và nếu xét về luật công pháp th́ rất khó thấy tương quan ǵ giữa lư thuyết Nhân Vị và các guồng máy quốc gia. Bởi thế, năm 1956 tôi không hoài nghi, tuy một số người hài ḷng và cho là lần đầu tiên chúng ta mới kiến tạo được trên một căn bản triết lư chính trị vững vàng. Trái lại, tôi đă ghi nhận áp lực rất mạnh mẽ của thực tế, của nhân vật và thời cuộc trong việc xây đắp móng nền của chế độ.

Luật gia Nguyễn Hữu Châu, giáo sư đại học Luật khoa Paris, nguyên Bộ trưởng Bộ Phủ Thủ tướng VNCH năm 1957, 1958 và có liên hệ với chính t́nh miền Nam, đă có những phán xét không tốt đẹp ǵ cho Hiến pháp Nhân Vị 1956 của Đệ nhất Cộng ḥa. Trong Luận án Cao học Luật khoa (Mémoire DES, 1960) ông Nguyễn Hữu Châu (hiện ở Pháp) sau khi phân tách từng chương từng mục đă kết luận rằng:

“Xét đến lịch sử các cơ chế và tư tưởng chính trị của Việt Nam, thật khó mà không công nhân rằng hệ thống của Hiến pháp ngày 26-10-1956 quả là một sự thoái hóa so với hệ thống chính trị cổ truyền. Tại v́ Hiến pháp 26-10-1956 đă giữ lại những ǵ kém tiến bộ nhất của chế độ xưa cũ, rồi bổ túc bằng những sự kiềm chế tân tiến nhất.

Do đó mà cái ư niệm về lănh đạo (leadership) được tŕnh bày trong bản dịch chính thức của Hiến pháp Việt Nam Cộng ḥa không có cái ư nghĩa mà các nhà Xă hội học Mỹ trao gửi lúc đầu.

(Dans l’histoire des institutions et des idées politiques du Vietnam, il sera difficile de ne pas reconnaitre que le système de la constitution du 26 Octobre 1956 constitua une regression par rapport au système politique traditionnel. Car il a repris de l’ancien système ce qu’il a le moins progressiste pour le completer par les moyens de contrainte les plus modernes. Ainsi cette notion de Leadership qui figure dans la traduction officielle de la Constitution de la République du Vietnam n’a pas le sens que les sociologues Américains lui donnent original).

C̣n giáo sư Nguyễn Văn Bông, Thạc sĩ Công Pháp, Viện trưởng Viện Quốc gia Hành chánh Sài G̣n th́ trong đoạn kết của giáo tŕnh năm thứ nhất Cử nhân Luật về môn Luật Hiến pháp và Chính trị học của Đại học Luật khoa Sài G̣n, đă viết rằng:

Thật vậy, ngay ở điều khoản thứ ba, chúng ta nhận thấy “Tổng thống Lănh đạo Quốc gia”. Tổng thống bổ nhiệm và cách chức các sứ thần cùng công chức cao cấp không cần ư kiến của Quốc hội. Trái với nguyên tắc phân nhiệm mà điều 3 ghi rơ là “nguyên tắc phân nhiệm giữa hành pháp và lập pháp phải rơ rệt”. Hiến pháp 1956 dành cho Tổng thống quyền kư sắc luật giữa hai khóa họp Quốc hội, quyền kư sắc lệnh tuyên bố t́nh trạng khẩn cấp, báo động hoặc giới nghiêm.

Một sự tập trung quá mức quyền hành cùng sự thủ tiêu đối lập và sự hiện diện của một chính đảng duy nhất đă đưa chế độ Ngô Đ́nh Diệm lần lần đi đến một chế độ quyền hành cá nhân áp dụng những phương tiện chuyên chế mà tiếng súng ngày 1-11-1963 đă đưa vào dĩ văng.

Nội dung của Hiến pháp 1956 là thoái hóa và độc tài như thế nhưng có một người cứ ngoan cố và xuẩn động binh vực cho bằng được. Đó là ông Nguyễn Văn Chức, cựu luật sư, cựu Thượng nghị sĩ, nguyên Chủ tịch Liên đoàn Công giáo Việt Nam tại Mỹ:

“V́ Hiến pháp không có hiệu lực cưỡng hành thực tế và tất nhiên trên việc điều hành quốc gia cho nên ít khi người ta dựa vào Hiến pháp để phê b́nh một chế độ, một chính quyền.

Ông Đỗ Mậu và những kẻ đứng sau đă dựa vào Hiến pháp đệ nhất Cộng ḥa để lên án chính quyền Ngô Đ́nh Diệm, đồng thời phân tách và phê b́nh Hiến pháp như một học giả. Rất tiếc họ không đủ khả năng v́ vậy đă phạm những điều sai lầm thô bạo”.

Viết như thế, ông Chức đă dại dột tự tố cáo ḿnh ba điều:

- Thứ nhất là vừa nông cạn về luật học vừa ấu trĩ về chính trị học. Hiến pháp chính là văn kiện Luật pháp cao nhất trong sinh hoạt của một quốc gia. Từ căn bản đó và trong khuôn khổ đó, một hệ thống pháp luật “thực tế và tất nhiên” được h́nh thành để làm trọng tài cho một xă hội dân sự. Phê b́nh Hiến pháp chính là phê b́nh bản chất của chế độ, c̣n phê b́nh các bộ luật th́ mới là phê b́nh hiện tượng của chế độ. Huống ǵ Hiến pháp 1956 lại là sản phẩm đầu tay của chế độ Ngô Đ́nh Diệm chứ không phải là thừa kế từ một chế độ khác. Cho nên phê phán sản phẩm đó chính là phê phán căn cước chính trị và văn hóa của chế độ. Hiểu Hiến pháp kiểu ông Chức là, trên mặt lịch sử, cho chế độ đứng ngoài Hiến pháp hoặc cho Hiến pháp độc lập với chế độ như ông Diệm đă