BẢO ĐẠI
VÀ NGÔ Đ̀NH DIỆM
Sau khi lực
lượng B́nh Xuyên bị đánh tan vào đầu tháng 5 năm 1955, nh́n vào t́nh h́nh
chính trị miền Nam lúc bấy giờ ta thấy không c̣n một cá nhân hay một tổ chức
nào đủ uy tín quần chúng và thực lực chính trị hoặc quân sự để hồi phục lại
được t́nh trạng cũ, nghĩa là t́nh trạng của những chính phủ thân Pháp. Hướng
đi của thời đại và vận động lịch sử đă chuyển hóa nước ta vào một kỷ nguyên
mới: kỷ nguyên của người dân đích thực làm chủ nước ḿnh.
Trên mặt lư
thuyết, lúc bấy giờ Việt Nam có thể trở thành một nước theo chế độ quân chủ
lập hiến (như Anh, Nhật, Ḥa Lan, Thụy Điển, Tây Ban Nha, Thái Lan…) nghĩa
là giữ lại thực thể hoàng gia như một biểu tượng quốc gia vô quyền và vô hại
để tránh một biến đổi quá độ trong xă hội đóng kín và bảo thủ như xă hội ta,
hoặc có thể trở thành một nước theo chế độ Cộng Ḥa Đại Nghị (như Mỹ, Pháp…)
để dứt khoát hẳn với nền quân chủ quá khứ và trao quyền làm chủ cho người
dân. Đó là trên mặt lư thuyết. Trên thực tế, quần chúng đă chọn lựa rồi vào
ngày 30 tháng 4 năm 1955 tại Ṭa Đô Chánh Sài G̣n qua nghị quyết của Hội
Đồng Nhân Dân Cách Mạng, nghị quyết đ̣i truất phế Bảo Đại và tạm thời trao
quyền lănh đạo đất nước cho ông Diệm trong lúc chờ đợi Hiến Pháp và Quốc Hội
định đoạt chế độ tương lai của đất nước. Đó là một nghị quyết lịch sử, phát
xuất trung thực từ ước vọng của quần chúng.
Tuy nhiên v́
cái nghị quyết hợp ḷng dân và hợp thời đại nhưng lại không hợp ư anh em ông
Diệm nên anh em ông Diệm và mưu sĩ Trần Chánh Thành phải dùng đến thủ đoạn
phân hóa, bẻ gẫy và hạ uy tín Hội Đồng hầu cướp lấy chính quyền mà không cần
chờ đợi những quy định của Hiến Pháp và Quốc Hội. Ngày 10 tháng 5, anh em
ông Diệm đơn phương thành lập chính phủ chính thức, gồm toàn người thân tín
và những kẻ đầu hàng, không cần hỏi ư kiến của Hội Đồng, cũng không có một
nhân vật nào của Hội Đồng được mời tham dự chính phủ đó.
Hội Đồng Nhân
Dân Cách Mạng do ông Nguyễn Bảo Toàn làm chủ tịch, ông Hồ Hán Sơn làm Phó,
và ông Nhị Lang giữ chức Tổng thư kư, nhưng Hội Đồng c̣n có một ban Thường
Vụ cũng do ông Toàn kiêm chức Chủ tịch với các ủy viên là: Văn Ngọc, Hà Huy
Liêm, Nguyễn Phổ, Hoàng Cơ Thụy, Nguyễn Hữu Khai, Huỳnh Minh Ư, Đoàn Trung
C̣n, Nguyễn Văn Quyền. (Bốn nhân vật Nhị Lang, Hoàng Cơ Thụy, Huỳnh Minh Ư,
Nguyễn Hữu Khai hiện đang có mặt tại Mỹ và Pháp ).
Để đạt mục
đích nắm chặt chính quyền, anh em ông Diệm bèn ra lệnh cho nhóm ủy viên thân
tín là các ông Hà Huy Liêm, Huỳnh Minh Ư, Nguyễn Hữu Khai, … cầm đầu thành
phần thân ông Diệm trong Hội Đồng gây mâu thuẫn, chống đối nội bộ. Đồng thời
anh em ông Diệm kết tội Hội Đồng qua Tổng thư kư Nhị Lang là đă thâm lạm
biển thủ số tiền trên một triệu đồng, số tiền mà ông Diệm (qua Bộ Thông Tin)
đă cấp cho Hội Đồng hoạt động.
Kẻ viết không
dám nói rằng ông Nhị Lang và Hội Đồng đă thâm lạm biển thủ tiền bạc, nhưng
trong bối cảnh loạn lạc lúc bấy giờ th́ sự chi tiêu của Hội Đồng thật khó mà
chứng minh bằng giấy trắng mực đen. Huống chi số tiền dù có bị thất thoát
th́ cũng đă chủ yếu sử dụng cho việc cứu văn địa vị ông Diệm qua cơn sóng
gió ngặt nghèo.
Trước hành
động phản bội của anh em ông Diệm, ông Nguyễn Bảo Toàn bèn từ chức Chủ tịch
Hội Đồng để phản đối ông Diệm. Bị hăm dọa, ông lui vào bóng tối trong lúc
Phó chủ tịch Hồ Hán Sơn trốn về Tây Ninh và bị giết một cách bí mật. Dư luận
lúc bấy giờ cho rằng ông Nhu đă mua chuộc được tướng Cao Đài Nguyễn Thành
Phương để ông này cho thuộc hạ hạ sát ông Hồ Hán Sơn. (Sau này tướng Nguyễn
Thành Phương cũng bị ông Ngô Đ́nh Diệm mua chuộc để phản lại giáo chủ Phạm
Công Tắc mà rồi cuối cùng ông Nguyễn Thành Phương cũng bị Ngô Đ́nh Nhu phản
bội). C̣n Tổng thư kư Nhị Lang, người đă từng cầm súng dọa bắn tướng Nguyễn
Văn Vỹ để cứu ông Diệm, bị công an của tướng Nguyễn Ngọc Lễ và Bộ Thông Tin
của ông Trần Chánh Thành đ̣i bắt bớ và làm khó dễ. Tuy các mưu sĩ Ngô Đ́nh
Nhu, Trần Chánh Thành có hạ nhục ông Nhị Lang (nghĩa là gián tiếp hạ nhục
Hội Đồng) nhưng rồi cũng nương tay v́ sợ mang tiếng phản bội quá trắng trợn.
Tuy nhiên ông Nhị Lang vốn là người có kinh nghiệm đấu tranh và có lẽ vẫn
c̣n bị ám ảnh v́ cái chết khả nghi của tướng Tŕnh Minh Thế, lại sợ ông Ngô
Đ́nh Nhu lắm thủ đoạn nên vội vă trốn lên Cao Miên, làm kẻ lưu vong để cùng
với những người lưu vong khác hoạt động chống nhà Ngô. Ngoài ra, luật sư
Hoàng Cơ Thụy vốn hết ḷng ủng hộ ông Diệm từ khi ông Diệm mới về nước,
nhưng trước thủ đoạn của ông Ngô Đ́nh Nhu, cũng trở thành người đối lập
quyết liệt với chế độ Diệm.
Phê b́nh những
biến cố trên đây, nhà viết sử Buttinger, vốn có mặt tại Sài G̣n lúc bấy giờ
và thường gặp gỡ các ông Diệm, Nhu, đă cho ta một bức tranh đầy h́nh ảnh rối
rắm, xảo quyệt, giành giật, biến ảo ly kỳ mà tôi muốn ghi chép lại nguyên
văn bằng tiếng Anh để cho những sự kiện lịch sử được tŕnh bày trung thực:
In other
tenebrous phases of these power struggles in South Vietnam, the truth can be
glimpsed through the tightly woven screen of intrigues. This is not the case
in the chain of events that began in the afternoon of April 30, 1955, when a
gathering of some 200 persons at the Saigon town hall constituted itself as
a General Assembly of Democratic and Revolutionary Forces of the Nation.
Although the outcome of these events is known, what actually happened at
various critical stages is not. The picture that emerges from the available
conflicting reports is that of a weird kaleidoscope made up of hate, lust
for power, greed, cowardice, and treachery.
(Tạm dịch:
Trong những giai đoạn tối tăm khác của những màn tranh giành quyền lực tại
miền Nam Việt Nam th́ sự thật vẫn có thể thoáng thấy được qua những màn mưu
mô đan dệt chặt chẽ vào nhau. Nhưng rất khó để biết rơ sự thật của những
chuỗi biến cố đă bắt đầu vào chiều ngày 30 tháng 4 năm 1955, khi một nhóm
khoảng 200 người họp nhau tại ṭa Đô Sảnh Sài G̣n tự gọi là “Hội Đồng Nhân
Dân Cách Mạng”. Mặc dầu ta đă biết rơ kết quả của chuỗi biến cố này, nhưng
chuyện ǵ đă thật sự xảy ra trong những giai đoạn quan trọng đó th́ không ai
biết được. Những tường tŕnh mâu thuẫn về những biến cố này cho thấy một
h́nh ảnh loạn xạ như nh́n qua kính vạn hoa, đầy màu sắc thù ghét, tranh
quyền, tham lam, hèn hạ, và gian lận).
C̣n kư giả
Francis J. Corley cho ta biết như sau:
“V́ thành phần
lănh đạo của Hội Đồng gồm một số nhân vật thoát thai từ nhân dân mà ra với
đầy ắp tâm chất cách mạng như Nguyễn Bảo Toàn, Hồ Hán Sơn, Nhị Lang, Tŕnh
Minh Thế… và v́ nội dung của nghị quyết chỉ cho ông Diệm cái quyền tạm thời
chứ chung kết vẫn dành cho Quốc Hội, tức là nhân dân, định đoạt, cho nên đă
làm cho những người có truyền thống chính trị phong kiến và có tham vọng
lănh tụ như anh em ông Diệm phải bất măn, nổi giận và cảm thấy bị đe dọa”
.
Hội Đồng Nhân
Dân Cách Mạng với tên tuổi của lănh tụ Ḥa Hảo Nguyễn Bảo Toàn và trong hoàn
cảnh đất nước lúc bấy giờ quả thật là một tổ chức đầy uy tín, một tổ chức
“làm lịch sử”. Hội Đồng đưa ra một quyết nghị vừa tạo chính nghĩa cho quốc
gia, vừa cứu ông Diệm qua cơn khó khăn nguy hiểm, nhưng v́ sự phản bội của
anh em ông Diệm mà Hội Đồng tan ră, chết yểu. C̣n những người muốn làm cách
mạng để cải đổi xă hội th́ thân thế gặp phải cảnh lao lung đầy bất trắc, với
một tương lai mịt mờ. Hội Đồng giải tán rồi, anh em ông Diệm bèn lật lá bài
chính trị cuối cùng để qui thiên hạ về một mối, tức là lá bài truất phế Bảo
Đại, vị Quốc trưởng hợp pháp, sự kiện mà tôi sẽ đi vào chi tiết trong phần
sau của chương này.
Tuy nhiên
trước khi tiếp tục nói về cuộc cờ oan trái giữa hai ông Bảo Đại và Ngô Đ́nh
Diệm, tôi muốn mở một dấu ngoặc ở đây để có mấy lời nói về ông Nhị Lang và
tác phẩm Phong Trào Kháng Chiến Tŕnh Minh Thế (PTKCTMT) của ông.
PTKCTMT ngoài
phần chính yếu nói về cuộc đời và sự nghiệp của tướng Thế, tại chiến khu
cũng như lúc về Thành, ngoài phần nói về hoạt động đấu tranh của ông Nhị
Lang, tác giả c̣n muốn làm nổi bật một số biến cố mà tôi cần phải có những
lời chất chính:
- Nguyên nhân
nào buộc ông Nhị Lang phải lấy quyết định bỏ nước ra đi sang Cao Miên lưu
vong để sống cuộc đời cơ cực và tủi nhục.
- Những phân
trần dài ḍng về điểm ông bị nghi ngờ đă hoạt động cho Việt Cộng tại Cao
Miên.
- Thái độ
chống Cộng hung hăn quá khích của tác giả.
- Cái chết của
tướng Tŕnh Minh Thế và của tướng Ba Cụt Lê Quang Vinh.
- Ḷng ngưỡng
mộ vô biên của tác giả đối với hai ông Diệm – Nhu.
Rất tiếc là
trong tác phẩm PTKCTMT tác giả đă không ghi lại một số biến cố vốn đă được
nêu ra trong bài hồi kư Nguồn gốc nền Đệ Nhất Cọng Ḥa Việt Nam được
đăng trên tuyển tập Quê Hương số Xuân năm 1977 xuất bản tại Costa Mesa, Hoa
Kỳ, những biến cố có thể làm sáng tỏ thêm thái độ chính trị của tác giả dưới
thời Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Ḥa Việt Nam.
… Năm 1956,
ông (Nhị Lang) phải lưu vong qua Cam Bốt. Đến năm 1960, ông bí mật trở về
nước, nửa đường bị quân Giải phóng bắt tại Đồng Tháp Mười, sau đó được thả
ra rồi lại bị chính phủ Diệm bắt lại trong cuộc đảo chánh Nhảy Dù ngày
11-11-1960. Ông ngưng hoạt động một thời gian cho đến năm 1970, ông lại được
bầu làm Tổng thư kư Ủy Ban Phối Hợp Hành Động các Chính Đảng…
Với sự hiểu
biết của cá nhân tôi về Hội Đồng Nhân Dân Cách Mạng, về chế độ Ngô Đ́nh Diệm
lúc bấy giờ, nay phối hợp với những lời phân trần của ông Nhị Lang trong tác
phẩm PTKCTMT cùng với lời giới thiệu trên tuyển tập Quê Hương tôi muốn nêu
lên những ư kiến sau đây:
- Ông Nhị Lang
bảo rằng sở dĩ ông phải lưu vong sang Cam Bốt là để tránh sự tranh chấp giữa
hai ông Văn Thành Cao và Nguyễn Thành Phương, và v́ chán nản bởi thái độ bất
thân thiện của một số người của chế độ Diệm, đặc biệt là Bộ trưởng Trần
Chánh Thành và tướng Nguyễn Ngọc Lễ, c̣n đối với anh em Tổng thống Diệm th́
ông Nhị Lang trước sau vẫn một ḷng kính phục. Trái lại, theo tôi th́ ông
Nhị Lang ra đi v́ khiếp sợ và thâm thù anh em ông Diệm, ra đi với mưu đồ hợp
tác với kẻ thù của Việt Nam Cộng Ḥa để lật đổ chế độ Ngô Đ́nh Diệm. C̣n hai
ông Nguyễn Ngọc Lễ và Trần Chánh Thành chẳng qua chỉ là kẻ thừa hành, kẻ
nhận mệnh lệnh của anh em ông Diệm để hạ nhục ông Nhị Lang trong lúc hai ông
Diệm–Nhu bề ngoài vẫn tỏ ra c̣n ưu ái ông ta.
Sau khi Hội
Đồng Nhân Dân Cách Mạng bị giải tán, chủ tịch Nguyễn Bảo Toàn phải lui vào
hoạt động bí mật để chống nhà Ngô, hai ông Tŕnh Minh Thế và Hồ Hán Sơn bị
chết một cách bí ẩn th́ ông Nhị Lang đâm ra lo sợ cho tương lai, số phận của
ḿnh. Đă thế, ông Nhị Lang c̣n bị điều tra về thâm lạm tiền bạc, bị hai ông
Thành và Lễ làm nhục, ông Nhị Lang đâm ra uất hận và căm thù tự cho là đă bị
phản bội. Ngoài ra, ông Nhị Lang c̣n bất măn việc anh em ông Diệm nâng tướng
Văn Thành Cao, một kẻ đối thủ của Nhị Lang, lên thay thế tướng Tŕnh Minh
Thế làm cho ông ta càng ganh ghét và thù hận anh em ông Diệm hơn.
Ngoài ra, sự
việc mà ông Nhị Lang từ Cam Bốt trở về Việt Nam một cách bí mật trước khi
biến cố Nhảy Dù xảy ra để rồi sau biến cố đó, lại bị chế độ Diệm bắt bớ và
suốt thời gian c̣n lại của chế độ Diệm, ông Nhị Lang phải sống âm thầm không
có một hoạt động nào, càng cho thấy mối căm thù to lớn của ông ta đối với
anh em ông Diệm.
Tôi lại c̣n
nghi ngờ trong những ngày sống lưu vong tại Cam Bốt, có thể ông Nhị Lang đă
có liên hệ với Việt Cộng (qua một cán bộ Cộng Sản tên là Ngô Điền) và đă
cộng tác với chính quyền Sihanouk trong mưu đồ lật đổ chế độ Diệm. Những lời
phân trần dài ḍng của ông về cuộc sống tại Cam Bốt, sự lưu tâm của Quốc
trưởng Sihanouk đối với ông, sự trở về nước của ông trước khi biến cố Nhảy
Dù xảy ra (biến cố mà tôi nghĩ rằng gián điệp Pháp đă cho Sihanouk biết
trước), rồi lại vụ Việt Cộng bắt ông tại Đồng Tháp Mười để rồi lại thả ra,
cho phép tôi nghi ngờ ông Nhị Lang đă có liên hệ với Cộng Sản và đă cộng tác
với Sihanouk.
Một người già
dặn đấu tranh như ông Nhị Lang há lẽ bỏ nước ra đi lưu vong chỉ v́ bất măn
với hai ông Nguyễn Ngọc Lễ và Trần Chánh Thành? Một người có thành tích đấu
tranh chống Cộng như ông há lẽ Việt Cộng bắt được rồi thả ra một cách dễ
dàng? Ngoài ra ông liên hệ với chính quyền Sihanouk làm ǵ khi mà Sihanouk
đang coi Việt Nam Cọng Ḥa là kẻ thù?
Vấn đề c̣n lại
là tại sao ông Nhị Lang căm thù chế độ Diệm đến như thế mà trong tác phẩm
PTKCTMT và trong bài Hồi kư đăng trên tuyển tập Quê Hương ông lại hết lời ca
ngợi anh em Tổng thống Diệm và tuyên dương “Phong trào phục hồi tinh thần
Ngô Đ́nh Diệm”. Tiếc thương hai ông Diệm Nhu tại sao măi đến năm 1970
Nhị Lang mới vào nghĩa trang thăm mộ hai ông?
Số là từ sau
khi chế độ Diệm bị lật đổ, cũng như giới báo chí, giới chính trị đảng phái
đă tố cáo lẫn nhau. Dư luận đă lên án ông Nhị Lang chạy theo nhà Ngô năm
1955 phản bội lại các đảng phái, phản bội Việt Nam Quốc Dân Đảng mà ông Nhị
Lang từng là một đảng viên kỳ cựu, giúp cho nhà Ngô củng cố được địa vị và
làm cho các đảng phái bị tiêu diệt. Từ đó, Nhị Lang thay đổi lập trường, trở
lại đề cao và bênh vực nhà Ngô để chính nghĩa hóa việc làm của ḿnh vào thời
1955. Ngoài ra, Nhị Lang c̣n bị dư luận tố cáo là đă hoạt động cho Sihanouk
và Việt Cộng như Bộ trưởng Trần Chánh Thành đă từng lên án, v́ thế ông Nhị
Lang lại càng phải tỏ ra ḿnh vẫn là người chống Cộng quyết liệt. Muốn thế,
ông Nhị Lang phải dựa vào uy thế nhóm Công giáo Cần Lao đang là hậu thuẫn
chính trị chính yếu của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu và đang tổ chức phong
trào “Phục Hồi Tinh Thần Ngô Đ́nh Diệm” mà cao điểm là vào năm 1970, năm mà
ông Nhị Lang tái xuất giang hồ.
Trong mưu đồ
xóa tội cho ông Diệm và để tỏ ra ḿnh tiếc thương Tổng thống Diệm và ông Nhu
một cách ngoạn mục hơn, ông Nhị Lang đă hư cấu ra việc ông Nguyễn Ngọc Thơ
v́ có bà con hoạt động cho Việt Cộng nên đă làm áp lực Tổng thống Diệm sát
hại tướng Lê Quang Vinh. Nếu quả ông Thơ thân với Việt Cọng như ông Nhị Lang
tố cáo th́ tại sao suốt 9, 10 năm trời, ông Diệm lại giao cho ông Thơ những
chức vụ quan trọng trong chính quyền, đặc biệt là chức Phó Tổng thống kiêm
nhiệm Kinh Tế và Tài Chánh. Ông Thơ quê ở Long Xuyên, vùng sinh sống và ảnh
hưởng của Ḥa Hảo, ông Thơ lại có nhà cửa đồ sộ, có hàng trăm mẫu đất, có bà
con mồ mả cha ông, ông Thơ dại ǵ mà gây thù oán với một lực lượng giáo phái
đông đảo, can trường và quyết liệt sẵn sàng trả thù cho Đức Thầy, cho các
đồng chí đồng đạo. Huống ǵ tướng Lê Quang Vinh lại là bà con gần của ông
Thơ, việc này cựu Bộ Trưởng Nội Vụ Lâm Lễ Trinh (hiện ở Mỹ) biết rơ. Chẳng
qua ông Thơ cũng như đại đa số nhân dân miền Nam lúc bấy giờ tin tưởng vào
tương lai thanh b́nh hạnh phúc của đất nước do ông Diệm lănh đạo, nên ông đă
nhận lời chiêu dụ tướng Ba Cụt về đầu hàng cũng như đă chiêu dụ tướng Nguyễn
Giác Ngộ và rất nhiều phần tử Ḥa Hảo khác để giúp ông Diệm ổn định miền
Tây. Ông Thơ có ngờ đâu ông Diệm lại ra lệnh cho ṭa án xử tử người anh hùng
Ḥa Hảo của quê hương ông. Bảo rằng ông Thơ làm áp lực với ông Diệm giết Lê
Quang Vinh, vậy th́ ai đă áp lực ông Diệm để ông Nguyễn Bảo Toàn, một lănh
tụ Ḥa Hảo, bị ông Diệm ra lệnh sát hại? Không cần phải dài ḍng mà chỉ cần
đọc “PTKCTMT” cũng thấy rằng ông Nhị Lang không đưa ra những chứng cớ cụ thể
nào, chỉ có những suy luận một chiều mà lại dám xác quyết việc ông Thơ làm
áp lực ông Diệm để sát hại tướng Lê Quang Vinh cũng như việc Mai Hữu Xuân
giết tướng Tŕnh Minh Thế.
Cũng trong mục
đích muốn đánh tan dư luận nghi ngờ ḿnh có liên hệ với Việt Cộng, ông Nhị
Lang tỏ ra hung hăn hơn khi đưa ra nhiều nhận xét, nhiều kế hoạch chống Cộng
vô lư như trường hợp ông đă chê trách Tổng thống Truman hay trường hợp dùng
du kích đánh chiếm hai tỉnh địa đầu của Bắc Việt.
Hết ḷng đề
cao Tổng thống Diệm ưu ái thủy chung với tướng Tŕnh Minh Thế, ông Nhị Lang
bỏ lơ việc ông Diệm đă có lời lẽ khinh thị tướng Thế trước mặt Lansdale làm
cho Lansdale nổi giận bảo ông Diệm đừng có những lời lẽ khinh chê tướng Thế
như vậy nữa
.
Hai anh em ông
Diệm–Nhu trong bước đường nguy khốn đă phải đích thân lên tận núi Bà Đen
thỉnh cầu tướng Thế đem quân về thành cứu giúp, hành động đó có khác ǵ ba
anh em Lưu Quan Trương đến Ngọa Long Cương thỉnh cầu Khổng Minh về pḥ tá,
thế mà ông Diệm nỡ khinh thị tướng Thế khi quân đội B́nh Xuyên đă bị đánh
bật qua bên kia cầu chữ Y. Như vậy ông Diệm có phải là người vong ân bội
nghĩa không hở ông Nhị Lang?
Phê b́nh tác
phẩm PTKCTMT, bà Linh Bảo trong tạp chí Việt Nam Hải Ngoại (San
Diego) của luật sư Đinh Thạch Bích đă viết như sau nơi mục Giữa Chúng
Ḿnh:
... Theo LB
biết th́ Hùng vào chiến khu ra mắt tướng Thế với một cuốn sách tên là “Con
đường tranh đấu của chúng ta”. Tướng Thế đă cho in cuốn ấy để làm tài liệu
lư luận căn bản của phong trào kháng chiến quốc gia. Nghe đâu anh (Nhị Lang)
lúc vào khu với tướng Thế đă ra mắt với một bài thơ ca tụng lănh tụ, có câu
đầu là: “Tŕnh Minh Thế, đấng anh hùng cứu quốc!” Hai cách ra mắt tương phản
nhau như thế không thấy anh nói đến. Điều LB ngạc nhiên là: anh Hùng chẳng
những là một chiến sĩ hữu danh, không những có tên mà lại có đến ít nhất là
ba tên; trong cuốn sách anh viết anh Hùng thành ra một… chiến sĩ vô danh!
Các anh em khác ở đây cũng đă chuyền tay đọc cuốn sách của anh. Đọc xong,
những ai từng ở chiến khu Tŕnh Minh Thế cũng như những ai tuy không vào khu
nhưng đă sống trong thời kỳ ấy, đều có những ư kiến khá… ly kỳ. H́nh như có
một vài người bỗng đâm… ngứa ngáy định viết thêm, hay viết những “lịch sử kư
sự” cùng một giai đoạn để bổ túc hay bổ khuyết, hay điều chỉnh, hay.. và… ,
hầu giúp người đời sau có thêm tài liệu mà so sánh… “lịch sử” và “kư sự”. LB
hỏi anh ĐTB về 10 điều luật tử h́nh trong chiến khu Tŕnh Minh Thế. Anh ấy
chỉ nhớ có 5 điều. Anh có nhớ đủ không?
Những lời phê
phán trên đây chẳng những cho thấy tác phẩm lịch sử kư sự của ông Nhị Lang
có rất nhiều sai lầm khiếm khuyết mà quan trọng hơn, c̣n lên án ông Nhị Lang
thiếu tác phong cách mạng và đă có những hành động đáng phải xử tử.
Ngoài nguyệt
san Việt Nam Hải Ngoại ra, nguyệt san Thanh Niên Hành Động số ra mắt
ngày 1-10-1985 phát hành tại San Jose, trong mục Điểm Sách đă có những phân
tách tỉ mỉ hơn về tác phẩm PTKCTMT. Thanh Niên Hành Động c̣n so sánh sách
ông Nhị Lang với sách của một kư giả Mỹ và của Lansdale, và đă cho thấy
nhiều sự kiện trái nghịch. Để kết luận, Thanh Niên Hành Động viết như sau:
… V́ vậy,
chúng ta không ngạc nhiên khi đối chiếu giữa cuốn hồi kư của Nhị Lang và của
Lansdale có những sự kiện được viết ra rất trái nghịch…
Chúng ta đọc
để có một cái nh́n chín chắn cho hành động và sự hy vọng. Cái nh́n chín chắn
đó là biết rơ hơn nữa, ai là những thành phần bán đứng dân tộc… Một cuộc
cách mạng có chính nghĩa phải phát xuất từ nguyện vọng của đại đa số nhân
dân. Phải đặt quyền lợi dân tộc lên trên hết. Một lực lượng cách mạng thể
hiện được con đường chính nghĩa này không thể “hợp tác” với những bọn người
thối nát nhưng luôn mang danh nghĩa “quốc gia”, một chế độ phi dân tộc như
Ngô Đ́nh Diệm. Đó là bài học cần được rút tỉa…
C̣n ông Lê
Nhật Thăng (trên tạp chí Ánh Sáng Dân Tộc) th́ viết thẳng rằng:
Tác phẩm “Phong
Trào Kháng Chiến Tŕnh Minh Thế” chỉ đem lại một thông điệp đáng chú ư
là tích cực chống Cộng Sản, c̣n lại chỉ là sự tập họp những khen ngợi bốn
người. Đó là Tŕnh Minh Thế, Ngô Đ́nh Diệm, Ngô Đ́nh Nhu và “Le Moi” (cái
Ta) c̣n ai ai cũng bị tác giả chê trách, sỉ vả hết thảy.
Riêng đối với
tôi, sau khi tác phẩm PTKCTMT ra đời, ông Nhị Lang và ông Phan Xứng đă có
nhă ư gởi tặng tôi một cuốn với lời đề tặng đầy thân t́nh gọi tôi là cố tri.
Sau khi đọc xong sách, tôi bèn gởi thư để cám ơn tác giả đồng thời nêu lên
một số sự kiện mà tôi không đồng ư với ông Nhị Lang. Nói rơ ra như thế để
thấy rằng viết lại đoạn hồi kư trên này tôi không có ác ư với người bạn cũ
mà tôi chỉ muốn làm sáng tỏ lịch sử để hậu thế khỏi hiểu lầm cha ông.
Rất tiếc, tấm
ḷng chân thành của tôi đă bị ông Nhị Lang phản ứng hết sức hạ cấp và thô
bạo. Ông viết báo để nhục mạ tôi, gán cho tôi là Cộng Sản và kích thích
những thành phần Công giáo cuồng tín ở hải ngoại chống phá tôi. Nhưng sự
thật vẫn là sự thật, nhiều độc giả đă viết bài đăng báo, viết sách để vạch
trần tâm địa xấu xa và hành xử không lương thiện của ông Nhị Lang: như bà
Yến Vân và cụ Vũ Trọng Kỳ trên báo Viet Press, như cụ Nguyễn Duy Hiệp
trên báo Chấn Hưng, như ông Trương Thiện trên báo Tia Sáng,
như nhà văn Lê Nhật Thăng trên báo Saigon Bolsa và Ánh Sáng Dân
Tộc, như nhóm ông Vũ Đăng Quư và nhà văn Xuân Tước trên tờ Văn Hóa
Colorado và đặc biệt là cuốn “Lột Mặt Nạ Những Con Tḥ Ḷ Chính Trị”
của ông Lê Trọng Văn. Tất cả đă lột trần thủ đoạn gian trá và thiếu đạo đức
của ông Nhị Lang và cuốn “Phong Trào Kháng Chiến Tŕnh Minh Thế” của
ông ta.
-o0o-
Trở lại biến
cố truất phế Bảo Đại, một biến cố lớn đă lột cả xác lẫn hồn của đất nước để
biến thiên từ kỷ nguyên quân chủ qua kỷ nguyên dân chủ, tôi xin có vài hàng
về thân thế và sự nghiệp của hai nhân vật tiêu biểu cho hai kỷ nguyên đó:
ông Bảo Đại, vị vua cuối cùng của nhà Nguyễn; và ông Ngô Đ́nh Diệm, vị Tổng
thống đầu tiên của Việt Nam Cộng Ḥa.
Triều đại nhà
Nguyễn bắt đầu kể từ khi vua Gia Long lên ngôi năm 1802 cho đến khi chấm dứt
dưới triều Bảo Đại năm 1945, đă trải qua 10 đời vua, mà gác qua một bên tội
ác đă “rước voi về giày mả tổ” th́ nhà Nguyễn vẫn có nhiều vị vua đă có công
tô điểm vàng son cho lịch sử nước nhà.
Trước hết tôi
xin sơ lược về vua Gia Long, vị vua sáng lập ra triều Nguyễn, qua cái nh́n
của nhà viết sử Phạm Văn Sơn:
Ở vua Gia
Long, từ con người quân nhân đến con người chính trị có nhiều điểm đặc biệt
khiến ta phải coi vua Gia Long cũng là một nhân vật kỳ liệt của lịch sử trên
nhiều phương diện. Nhân vật này có nhiều điều hay mà cũng có nhiều điều dở.
Chiếu theo cội
rễ th́ Gia Long thuộc về một ḍng họ có nhiều danh tướng, giàu mưu cơ, đảm
lược, nhẫn nại, cần cù, thông minh, trác lạc, nhờ vậy mà trong thời trung
suy, Nguyễn Ánh mới 17 tuổi đă cầm đầu được binh tướng, nắm vững được ḷng
dân, bốn phen vinh nhục ở đất Gia Định, nhiều lần xiêu bạt ngoài khơi, trôi
giạt cả vào đất Xiêm, nương nhờ triều đ́nh Vọng Các, có lúc phải hy sinh cả
tính mạng (diệt trừ giặc Miên và Mă Lai cho Xiêm La) để mua chuộc thiện cảm
của người ḥng có chỗ nương thân. Trên 20 năm ṛng, vua Gia Long xông xáo
khắp các chiến trường, từ vùng Đồng Nai ra Thuận Hóa, vượt biển trèo non
trong vùng khói lửa mịt mùng mà vẫn không bao giờ lui bước, con người ấy
thật đáng là một chiến sĩ. Trước điểm này ta không thể không vỗ tay khen
ngợi Thế Tổ nhà Nguyễn.
Về chính trị,
khi sức cùng lực tận, Gia Long đă cho giám mục Bá Đa Lộc đem con ḿnh là
Hoàng tử Cảnh đi cầu cứu với nước Pháp và luôn luôn giao thiệp khéo léo với
các lân bang để lấy ngoại viện, nhờ đó mà chẳng những người Âu Châu mà cả
các quân Xiêm, Miên, Lào thường qua lại đánh Tây Sơn giúp ḿnh. Ngoại giao
đến thế là khéo léo tuy rằng mang người ngoài về đánh anh em trong nhà là
làm một hành động không đẹp so với việc 12 Sứ quân trên tám thế kỷ về trước.
Nhưng đến khi sự nghiệp đă thành, ngôi quốc chủ đă vững, Gia Long thay đổi
luôn thái độ, lên tiếng kẻ cả với Xiêm, đặt Miên, Lào vào ṿng lệ thuộc.
Tiến thoái kinh quyền đến thế quả thật là mau lẹ, quỉ quyệt… Tuy vậy, vua
Gia Long cũng có một ít sở đoản như bạc bẽo và tàn nhẫn với các trung thần,
như hành động trả thù dă man với đối thủ cũ là anh hùng Nguyễn Huệ, như đă
biết dă tâm của cường quốc Tây phương mà không có kế sách để giữ cho nước
khỏi bị “Bạch Họa”.
Sau vua Gia
Long, tuy các đế quốc Tây phương (đặc biệt là Pháp) bắt đầu phát động âm mưu
thôn tính nước ta mà các vũ khí ban đầu là các dịch vụ buôn bán và sự phối
hợp chặt chẽ với sinh hoạt truyền bá đạo Công giáo La Mă, nhưng dưới thời ba
vị vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, quốc gia vẫn c̣n hoàn toàn độc lập và
nắm giữ chủ quyền.
Ba vị vua này,
nếu không phải là anh quân thời loạn th́ cũng đă chứng tỏ là minh vương thời
b́nh, một ḷng v́ nước thương dân, phát huy được những thành quả của cha ông
để lại dựa trên nền luân lư nhân nghĩa của nền Tam giáo. Chỉ tiếc rằng trên
mặt phát triển kinh tế và vận dụng nhân tài vật lực của đất nước, họ vẫn c̣n
nặng tinh thần bảo thủ, chủ trương bế môn tỏa cảng không chịu tiếp nhận
những trào lưu văn hóa và kỹ thuật của nước ngoài để ḥa hóa trong một chính
sách cải cách duy tân cho nước nhà thêm hùng mạnh. Đặc biệt dưới triều vua
Tự Đức, ảnh hưởng Tống Nho của “Thiên Triều Trung Hoa” lại được dịp phát
triển mạnh mẽ trong một xă hội tương đối ổn định, mà những ước lệ từ chương
trở thành những mẫu mực đo lường sức mạnh văn hóa của quốc gia.
Cũng dưới
triều đại của ba vị vua này, tuy có gửi một số phái đoàn (Bùi Viện đi Mỹ là
một) để nghiên cứu nước ngoài, nhưng tinh thần bài ngoại triệt để biểu hiện
qua chính sách cấm đạo, giết đạo đă vừa mắc mưu các cố đạo vừa tạo ra cái cớ
cho đế quốc Pháp nắm được chính nghĩa (tại Pháp) để xua quân xâm lấn giang
sơn. Đă có nhiều người của đời sau, hoặc v́ những xúc động chủ quan hoặc v́
những thiên kiến bè phái, đă nh́n chính sách này một cách phiến diện và đơn
giản để lên án nặng nề ba vị vua trên mà không chịu đặt ḿnh vào khung cảnh
của thời đại đó để suy nghiệm và phê phán cho khách quan hơn.
Theo ư kiến
riêng của tôi th́ trên mặt chính trị, và đặc thù hơn trên b́nh diện phát
triển quốc gia và giao hệ quốc tế, quả thật các ông vua này đáng bị phê phán
khắt khe. Nhưng ngược lại, trên mặt nhân văn, th́ các vị vua đó chỉ phản ánh
ư nguyện của tuyệt đại đa số quần chúng mà thôi. Bốn chữ “B́nh Tây, Sát
Tả”trong những bài hịch của các phong trào Văn Thân và Cần Vương do các
sĩ phu chủ xướng là một trong những chủ điểm đấu tranh của các bản cương
lĩnh chính trị này, để thể hiện cái ước vọng lớn lao và đại chúng của nhân
dân là “giết Đạo trước rồi đánh Tây sau”.
Nếu trên mặt
chính trị, các vị vua đó có một chính sách khôn khéo hơn th́ Công giáo La Mă
đă được du nhập vào Việt Nam và may ra được ḥa hóa thành một thứ Công giáo
Việt Nam như trường hợp đạo Phật cách đây hai ngàn năm. Lỗi lầm chính trị
của các vị vua này, sự cấu kết giữa chính quyền Pháp và Giáo hội La Mă
Vatican lúc bấy giờ, những tham vọng mở mang nước Chúa của hội truyền giáo,
và truyền thống chống ngoại xâm thể hiện chính đáng nhưng không đúng mức của
dân ta. Đó là bốn yếu tố chính chi phối trạng huống lịch sử lúc bấy giờ và
làm cho Hội Truyền Giáo Hải Ngoại Pháp quên đi chức năng rao truyền đức
tin của Chúa trong nhân ái, để chỉ c̣n tiến hành nhiệm vụ cao cả của ḿnh
như một trận chiến xâm thực văn hóa. Sự cố t́nh phê phán hệ quả của
chính sách cấm đạo chỉ dựa trên mặt chính trị mà không đặt nó trong bối cảnh
nhân văn của thời đại lúc bấy giờ, là một thái độ thiếu trách nhiệm và thiếu
lương thiện của một số nhà viết sử muốn trốn tránh sự thật mà thôi!
Bây giờ th́
lịch sử đă chứng minh một cách quá rơ ràng và quá đầy đủ rằng chính cái
tham vọng xâm thực văn hóa của Hội Truyền Giáo Pháp đă là nguyên nhân chủ
yếu và lợi khí hữu hiệu của chính sách xâm lăng quân sự chính trị của đế
quốc Pháp lúc bấy giờ. Trong tiến tŕnh cấu kết này, những khuôn mặt của
Alexandre de Rhodes, Pigneau de Béhaine, Puginier, Pellerin, Taberd… đă là
những chính trị gia lăo luyện khoác áo tu sĩ để tiến hành một thủ đoạn chính
trị cổ điển nhất nhưng cũng hữu hiệu nhất: chia để trị. Họ chia dân ta thành
hai khối lương giáo bất khả ḥa và bất khả dung.
Lịch sử của
Hội Truyền Giáo Hải Ngoại gắn liền một cách chặt chẽ với lịch sử bành trướng
ảnh hưởng của Pháp tại Đông Dương. Một trong những sáng lập viên của Hội,
ông Pallu, đă đóng vai tṛ liên lạc giữa hai triều đ́nh Pháp và Huế. Vị giáo
sĩ nổi tiếng nhất của Hội, Giám mục Adran Pigneau de Béhaine, đă chính thức
gia tăng mối quan hệ này: Sự can thiệp của các hội viên của Hội Truyền Giáo
vào chính t́nh Việt Nam đă dẫn đến hành động xâm lược vơ lực đầu tiên (của
Pháp)
.
Một số trí
thức Thiên Chúa giáo Việt Nam như các ông Nguyễn Văn Trung, Lư Chánh Trung…
hơn một trăm năm sau, trong khi suy nghiệm về sự bế tắc nhân văn của nền văn
minh Tây phương và trong nỗi niềm khổ hận của một người Việt Nam lận đận,
cũng đă nh́n thấy và nêu lên rơ sự thật này:
Tuy nhiên lịch
sử đă cho thấy rằng từ khi Giáo Hội (La Mă) trở thành “Quốc Giáo” th́ cây
gươm tinh thần của thánh Phao Lồ đă luôn luôn bị cám dỗ để biến thành cây
gươm thép thật sự. Kể từ dạo ấy, mỗi khi hoàn cảnh cho phép, Giáo Hội đă
không ngần ngại để dùng thế lực tiêu diệt các tôn giáo khác, đập phá các đền
thờ “Tà thần”, đốt sách vở ngoại đạo, và đốt luôn bọn người bị xem là “Lạc
Đạo” nếu không chịu sửa sai
.
Cái hoàn cảnh
không may đó đă đến với dân ta từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 20, để dân Việt trở
thành đối tượng, nạn nhân của Hội Truyền Giáo Hải Ngoại Pháp và đoàn quân
xâm lăng Pháp. Cho nên ông Lư Chánh Trung mới hạ bút viết mấy lời tâm huyết
như là lời thú tội:
Ngày nay, mọi
người đều đồng ư rằng việc cấm đạo dưới các nhà vua triều Nguyễn là một hành
động bất nhân và sai lầm. Nhưng nếu chúng ta tự đặt ḿnh vào địa vị các nhà
vua ấy, vào cái khung cảnh tâm lư thời đó, th́ có lẽ chúng ta khó có thể làm
khác hơn
.
“Khó có thể
làm khác hơn” đó chỉ là thái độ “t́m về dân tộc” của những người Công giáo
Việt Nam kiểu Nguyễn Văn Trung, Lư Chánh Trung. C̣n đối với anh em ông Diệm,
đối với nhóm Công giáo Cần Lao th́ lời than trách của Lư Chánh Trung chỉ làm
cho anh thêm mang tội: cái tội “lạc đạo”, cái tội “thân Cộng”, cái tội “bênh
vực hành động những kẻ ngoại đạo”. May thay, Lư Chánh Trung vô t́nh được nhà
trí thức Công giáo Etienne Vũ Đức Hạnh gián tiếp trưng bày bằng cớ về cái
tội thực dân của các giáo sĩ ngoại quốc và cái tội làm tay sai cho kẻ xâm
lăng của giáo dân Việt Nam dưới thế kỷ 19. Trong tác phẩm La place du
Catholicisme dans les relations entre la France et le Viet-Nam de 1851 à
1870, dựa vào những tài liệu của một số tác giả Pháp và một số giáo sĩ
ngoại quốc, Etienne Vũ Đức Hạnh đă viết như sau:
Sous
Tự Đức, un grand nombre de catholiques Vietnamiens sont d’intelligence avec
les Francais, certes, mais cette collaboration est plus materielle que
formelle. Comment expliquer cet état de fait sans ajouter aux raisons
précédentes les circonstances politiques à la fois troublées et troublantes
de l’époque?
Les
ambitions des Chúa Trịnh dans le Đàng Ngoài, des Chúa Nguyễn dans le Đàng
Trong et celles momentanées des frères Tây Sơn ne connaissent plus de
limites. Le peuple qui en souffre, surtout celui du Bắc Kỳ a la nostalgie
des rois Lê dont it garde un souvenir ineffaceable. Bien que Chúa Nguyễn
Phúc Ánh ait unifié l’Empire, la dynastie
des Nguyễn n’est pas aimée; elle est à jamais considérée comme l’engeance
d’insurpateurs. La fidèlité des populations appelle la résurrection des Lê
et à la recherche d’un rejeton royal. Ce qui explique le succès du
prétendant catholique Lê Duy Phụng.
Au
jour de Tự Đức, chrétiens et non chrétiens à l’instigation des
missionnaires, résistent ici sourdement, là ouvertement au roi régnant mieux
à la dynastie des Nguyễn pour plusieurs motifs. Les Nguyễn ont volé le trône
des rois Lê. Leurs descendants actuels ont manqué le mandat du ciel pour
avoir traité avec les envahisseurs et cédé à l’ennemi une portion du
territoire national. Une seule différence: les chrétiens font cause commune
avec les francais, les non chrétiens, les combattent”.
Tạm
dịch:
Dưới
triều Tự Đức, một số đông người Thiên Chúa giáo Việt Nam quả đă làm t́nh báo
cho Pháp, nhưng sự cộng tác ấy chỉ có tính cách thực tiễn hơn là quy thức.
Làm sao có thể giải thích được t́nh trạng ấy nếu không thêm cho những nguyên
do ấy, những hoàn cảnh chính trị rối rắm đáng phải lo âu?
Tham
vọng của chúa Trịnh Đàng Ngoài, chúa Nguyễn Đàng Trong và cả anh em Tây Sơn
đều vô giới hạn. T́nh trạng ấy làm cho nhân dân đau khổ, nhất là nhân dân
Bắc Kỳ vẫn hoài vọng nhà Lê mà họ đă có những kỷ niệm khó xóa mờ. Dù chúa
Nguyễn Phúc Ánh đă thống nhất giang sơn, nhưng nhà Nguyễn không được thương
mến và măi măi bị coi là những kẻ cướp quyền. Ḷng trung thành của dân chúng
đ̣i hỏi sự phục hồi nhà Lê và t́m kiếm một hậu duệ. Lư do đó giải thích cho
sự thành công của Lê Duy Phụng, kẻ tự nhận là người hậu duệ Thiên Chúa giáo
của nhà Lê.
Dưới
triều đại Tự Đức, theo sự xúi dục của các giáo sĩ ngoại quốc, người Thiên
Chúa giáo và người không Thiên Chúa giáo kẻ th́ chiến đấu âm thầm, kẻ th́
công khai để chống lại những nhà vua đang tại vị hơn là chống lại nhà Nguyễn
v́ nhiều nguyên nhân. Nhà Nguyễn đă cướp ngôi vua nhà Lê. Những vua nối
quyền hiện tại th́ không c̣n thiên mệnh để kư kết với quân xâm lăng và
nhượng một phần lănh thổ cho kẻ thù. Chỉ khác nhau là: người Thiên Chúa giáo
th́ hợp tác với Pháp trong một mục tiêu chung, c̣n người không Thiên Chúa
giáo th́ chiến đấu chống lại.
Gác
một bên việc Etienne Vũ Đức Hạnh cố t́nh xuyên tạc lịch sử dân tộc, chúng ta
thấy rơ ràng ông ta đă hân hoan vinh danh hành động làm tay sai cho thực dân
của người Công giáo Việt Nam dưới thế kỷ 19.
Với
cái tội phản quốc đó của giáo sĩ ngoại quốc và giáo dân Việt Nam th́ làm sao
vua chúa nhà Nguyễn lại không “cấm đạo, giết đạo”.
Nói
cho rơ ra th́ từ ngày đạo Chúa du nhập vào Việt Nam từ giữa thế kỷ 16 cho
đến đời Tự Đức gần 300 năm trời, vua chúa nước ta với truyền thống hiếu ḥa
và bản chất hiếu khách đă biết bao phen mở rộng ṿng tay để cho giáo sĩ và
giáo dân tự do hành đạo. Khốn nỗi, các cố đạo “cứ được đằng chân lại lân
đằng đầu” trong mưu đồ thôn tính Việt Nam cho nên mới có t́nh trạng cây muốn
lặng mà gió chẳng ngừng, các vua chúa nhà Nguyễn phải cấm đạo, giết đạo, sĩ
phu Việt Nam phải phất cờ “B́nh Tây Sát Tả”. Những hành động đó tuy tàn ác
nhưng lại là những biện pháp bắt buộc để cứu nước cứu dân trong t́nh thế quê
hương lúc bấy giờ, một quê hương loạn ly tang tóc do chính các giáo sĩ và
giáo dân gây ra mà nhà trí thức Công giáo Etienne Vơ Đức Hạnh lại cố t́nh để
cao và bênh vực họ.
Vào
cuối đời vua Tự Đức, đất nước từ từ mất dần về tay người Pháp. Rồi đến năm
1884, với hiệp ước kư kết giữa đại diện Pháp là Patenôtre và đại diện triều
đ́nh An Nam là Nguyễn Văn Tường và Phạm Trọng Duật, th́ nước Việt Nam bị
chia thành ba kỳ: Nam kỳ thuộc địa có quy chế như một tỉnh hạt của Pháp quốc
do một Thống đốc Pháp cai trị, Bắc kỳ Bảo hộ do một thống sứ Pháp cai trị,
và Trung kỳ Bảo hộ do một khâm sứ Pháp đứng đầu. Đối với xứ Bảo hộ Trung kỳ
từ Thanh Hóa đến Phan Thiết, Pháp vẫn giữ lại nền quân chủ có vua và triều
đ́nh với chút hư quyền, hư danh. (V́ vậy, từ đây, kẻ viết xin gọi nhà Nguyễn
từ thời nước nhà bị đô hộ là nhà Mạt Nguyễn).
Thời
Mạt Nguyễn, trừ vua Đồng Khánh là một ông vua hiền hậu nhưng chỉ ngồi trên
ngai vàng được có ba năm rồi chết, c̣n những vị vua khác, có ông th́ là vua
cách mạng, có ông th́ thuộc loại vua bù nh́n.
Về
cách mạng th́ có:
Vua
Hàm Nghi (1884) bỏ kinh thành ra Tuyên Hóa (Quảng B́nh) lập chiến khu, phất
cao ngọn cờ Cần Vương chống Pháp. Rồi v́ thân cô thế yếu, lại bị một tên
Mường (Trương Quang Ngọc) phản bội bắt Ngài giao cho Pháp nên bị Pháp đem
đày ở Algérie.
Vua
Thành Thái (1888-1920), lên ngôi khi mới 10 tuổi, là vị vua thông minh uyên
bác, thấm nhuần tư tưởng cách mạng Trung Hoa và Nhật Bản, muốn thực hiện
công cuộc cải cách quốc gia, đưa dân tộc đến con đường tân tiến. Nhưng tất
cả việc làm của ông đều bị người Pháp ngăn trở, Vua tức giận giả cách điên
rồ, ngấm ngầm xướng xuất đưa thanh niên ra nước ngoài cầu học để dùng vào
đại cuộc sau này. Chính nhà vua cũng âm mưu xuất ngoại nhưng sự không thành
nên năm 1907, khi Pháp ḍ biết được vua liên lạc với Phong Trào Đông Du để
cầu viện Nhật Bản, bèn bắt ép vua thoái vị và đày qua đảo Réunion ở Ấn Độ
Dương.
Vua
Duy Tân (trị v́ từ 1907-1916) là con vua Thành Thái, c̣n nhỏ tuổi mà đă
nhiều phen bộc lộ nỗi căm thù thực dân Pháp. Nhân một buổi bơi thuyền câu cá
ở cửa Tùng (Quảng Trị), nhà vua ra một câu đối cho thượng thư Nguyễn Hữu
Bài, người của Pháp, để ḍ xem ḷng dạ ông này như thế nào:
Ngồi trên nước khôn ngăn được nước,
Trót buông câu đă lỡ phải lần.
Đáp
lại, thượng thư Nguyễn Hữu Bài khuyên nhà vua nên nhắm mắt chịu thua thời
cuộc:
Ngẫm việc đời mà ngán cho đời,
Liều nhắm mắt tới đâu hay đó.
Vua
Duy Tân liền phán: “Thầy th́ hay liều thôi chứ không bao giờ nghĩ cách đương
đầu với nghịch cảnh”. Tất nhiên, làm sao ông Nguyễn Hữu Bài, con đẻ của Hội
Truyền Giáo Hải Ngoại, có thể đương đầu với thực dân Pháp được.
Tuy
nhiên, vua Duy Tân vốn ư chí bất khuất nên quyết tâm đợi thời cơ để làm cách
mạng phục hồi nền độc lập cho đất nước. Thế chiến thứ nhất xảy ra đă là một
cơ hội tốt đẹp, rồi lại gặp được các đồng chí yêu nước như hai ông Trần Cao
Vân và Thái Phiên hết ḷng hỗ trợ, nên Ngài bèn quyết định phất cờ khởi
nghĩa. Chẳng may quốc vận c̣n gặp lúc truân chuyên, việc đại nghĩa của vua
Duy Tân thất bại, Ngài bị bắt và bị đày qua đảo Réunion lúc mới 17 tuổi.
Trong thế chiến thứ Hai, hoàng tử Vĩnh San (tức là vua Duy Tân) có một thời
gian mang cấp bậc Thiếu tá của Pháp. Ngày 10 tháng 6 năm 1945, Ngài đă lên
tiếng trên đài phát thanh Brazzaville thuộc Pháp, đại ư hô hào toàn dân Việt
Nam nên nghe theo tiếng gọi của tổ quốc mà đứng lên xây dựng nước nhà, nêu
cao danh dự cho giống ṇi.
Ngày
26 tháng 12 năm 1945, Ngài bị chết trong một tai nạn máy bay ở xứ Bangui
thuộc Trung Phi. Theo dư luận hồi đó th́ cái chết thê thảm này có nhiều chi
tiết bí ẩn, có giả thiết cho rằng chính thực dân gây nên để chặn đường về
nước của một nhà ái quốc được toàn dân tín nhiệm
.
Thế
là nhà Mạt Nguyễn có ba vị vua yêu nước và có tinh thần cách mạng bị Pháp
bắt đi đày ở Châu Phi. Sự kiện đó đă phần nào trực tiếp đóng góp cho quyết
tâm đấu tranh chống Pháp của sĩ phu trong nước và trở thành đề tài gây xúc
động cho nhiều văn nghệ sĩ yêu nước lúc bấy giờ. Nhà Nho Phan Quốc Quang,
hiệu là Thượng Tân Thị, quê ở Thừa Thiên, cảm xúc cảnh cha con vua Thành
Thái v́ nước v́ dân mà bị đọa đày, ông bèn thác lời vợ vua làm ra mười bài
thơ nhan đề là Khuê Phụ Thán được truyền tụng trong nhân gian mà vào
thời Pháp đô hộ, ai đọc lên cũng không cầm được nước mắt. Bài thơ nói lên
nỗi ḷng cô đơn lẻ bóng của một người khuê phụ nơi quê nhà ngày đêm mỏi ṃn
đợi chồng trông con:
Khô héo lá gan cây đỉnh Ngự,
Đầy vơi giọt lệ nước sông Hương.
Nỗi
đau xót của một người đàn bà trước thảm cảnh quê hương dâu bể, tử biệt sinh
ly, đă làm cho sông núi cỏ cây, vốn là vật vô t́nh mà cũng phải “giọt lệ đầy
vơi, can trường khô héo”.
Sau
những vùng vẫy tuyệt vọng của vua Duy Tân, các vị vua c̣n lại của nhà Mạt
Nguyễn chỉ là những đóm lửa le lói của một triều đại đang đến hồi suy tàn,
nhất là lúc đó chính quyền thực dân đă đủ thời gian và lực lượng để củng cố
bộ máy bảo hộ của họ, cũng như lúc đó quần chúng đă ư thức được nhiệm vụ
năng động đích thực của ḿnh để đứng lên thay vua mà cứu nước.
Cho
nên hai vị vua c̣n lại là Khải Định và Bảo Đại chỉ hành xử như những vị vua
bù nh́n, hoặc cúi đầu tuân phục lệnh người Pháp như vua Khải Định, hoặc cô
đơn buông xuôi theo số mệnh như vua Bảo Đại mà thôi.
Thật
vậy, vua Khải Định (trị v́ từ 1916–1925) bị sĩ phu lên án là Việt gian, bù
nh́n, khoán trắng việc nước vào tay thực dân Pháp. Cụ Phan Chu Trinh đă từng
gọi vua Khải Định là “Dân Tặc”, và năm 1922, khi vua Khải Định sang Pháp dự
cuộc triển lăm quốc tế, cụ Phan đă gởi một lá thư trách nhà vua bảy điều:
Tôn bậy quân quyền, Lạm hành thưởng phạt, Thích chuộng hư văn, Xa xỉ quá
mức, Phục sức lố lăng, Chơi bời vô độ, và Hành động ám muội trong việc bang
giao với Pháp.
C̣n
cụ Nghè Ngô Đức Kế, hiệu là Tập Xuyên, chủ bút báo Hữu Thanh, năm
1924 th́ lại châm biếm bằng bài thơ lên án Khải Định như sau:
HỎI GIA
LONG
Ai về địa phủ hỏi Gia Long,
Khải Định
thằng này phải cháu ông?
Một lễ tứ
tuần vui lũ trẻ,
Trăm gia ba
chục khổ nhà nông.
Mới rồi
ngoài Bắc tai liền đến,
Năm ngoái
sang Tây ỉa văi cùng.
Bảo hộ trau
dồi nên tượng gỗ,
Vua thời
c̣n đó, nước thời không.
Vua Bảo Đại
(1925–1945), vị vua cuối cùng của nhà Nguyễn, là con trai độc nhất của vua
Khải Định, nhưng đặc biệt diện mạo cùng phong độ lại khác hẳn vua cha. Ông
có nét mặt chữ điền, đi đứng nghiêm trang, ăn nói đàng hoàng, dáng điệu
đường bệ chững chạc. Rất nhiều tài liệu cho thấy ông Bảo Đại không phải là
con ruột của vua Khải Định, v́ vua Khải Định mang bịnh bất lực không thể gần
gũi đàn bà.
Vua Bảo Đại
húy là Vĩnh Thụy, sinh năm 1913 (Quư Sửu) tại kinh thành Huế. Ngày 28 tháng
4 năm 1922, ông được vua cha tấn phong làm Đông Cung Hoàng Thái Tử, nghĩa là
tước vị của một thái tử sẽ được quyền nối ngôi vua. Ngày 15 tháng 5 năm
1922, khi ông mới lên chín tuổi, th́ được vua cha và chính phủ Bảo Hộ cho đi
Pháp du học. Trong thời gian ở Pháp, ông được vua Khải Định gởi gấm cho ông
Charles (một vị cựu khâm sứ Trung kỳ) để giám hộ như một người cha nuôi săn
sóc trông coi. Năm 1925, khi vua Khải Định băng hà, Bảo Đại về nước để chịu
tang và để làm lễ đăng quang lên ngôi Hoàng Đế. Sau đó, ông trở lại Pháp để
tiếp tục việc học cho đến năm 1932 th́ về nước vĩnh viễn, và chính thức tức
vị để điều khiển triều đ́nh An Nam.
Nhân dân ta từ
ngày bị Pháp đô hộ vẫn liên tục kiên cường chiến đấu chống lại kẻ thù xâm
lăng. Ngay cả dưới triều Khải Định mà việc nước hầu như đă khoán trắng cho
thực dân Pháp và cho Hội Truyền Giáo Hải Ngoại Pháp qua ông Vơ Hiển Nguyễn
Hữu Bài (nhất là trong khoảng thời gian 1925–1932, từ khi vua Khải Định băng
hà cho đến ngày ông Bảo Đại về nước chấp chánh), lửa cách mạng vẫn hừng hực
cháy trong ḷng dân tộc Việt. Ngọn lửa đó đă được đốt bừng lên và được nuôi
dưỡng mạnh nhờ ảnh hưởng của bản án tử h́nh chí sĩ Phan Bội Châu. Lửa cách
mạng mănh liệt đến nỗi trước cao trào đấu tranh của toàn dân phản kháng bản
án này, thực dân đành phải hủy bản án và đem Cụ về quản thúc tại kinh thành
Huế (1925). Trong khoảng thời gian đó, những phong trào cách mạng và những
biến động quan trọng đă liên tiếp xảy ra: đảng Tân Việt Cách Mạng gồm đa số
là những trí thức trẻ ra đời tại Huế, phong trào Sô Viết nổi lên ở Nghệ Tĩnh
và cuộc nổi loạn đẫm máu của Việt Nam Quốc Dân Đảng ở Bắc Việt do anh hùng
Nguyễn Thái Học cầm đầu. Lại c̣n ảnh hưởng của phong trào Cường Để tại hải
ngoại, của Phong Trào Đông Kinh Nghĩa Thục, của cuộc tranh đấu đ̣i dân quyền
của chí sĩ Phan Chu Trinh… tất cả đă là những hỏa sơn ầm ĩ cháy trong ḷng
dân tộc. V́ vậy, trước ư chí đối kháng của nhân dân để bày tỏ sự bất măn đối
với chế độ bảo hộ và nhất là đối với triều đ́nh mục nát già nua, người Pháp
bèn lợi dụng việc vua trẻ Bảo Đại hồi loan để trẻ trung hóa triều đ́nh, và
hứa sẽ để cho nhà vua thực hiện một số cải cách mong xoa dịu ḷng dân, mà
việc đầu tiên là sa thải lớp quan lại già cả về hưu trí để thay thế bằng một
lớp người trẻ trung hơn.
Những quan lại
lớn tuổi này chẳng những là lớp người lạc hậu không hợp thời để theo kịp với
dân trí mỗi ngày một tiến bộ, mà đa số những vị quan này là những nịnh thần
tham nhũng, làm tay sai cho Pháp. Bài thơ của Cụ Nghè Ngô Đức Kế dưới đây đủ
nói lên cái tư cách của lớp quan lại áo măo xênh xang mà thật ra chỉ là
những con bung xung làm gai mắt mọi người:
Cu li đành
phận chớ ra oai,
Chuyên chế ăn quen thói cũ hoài.
Quân chủ cờ bay vui trước mắt,
Dân quyền trống đánh chán bên tai.
Bài, Liêm giảo hiểm khoe tài trí
Huề, Thụ thông minh gọi bất tài.
Cấm hết công môn tiền hối lộ,
Ngoài ra Tiềm Để mặc ḷng ai.
(Bài, Liêm,
Huề, Thụ là tên bốn vị Thượng thư mà Bài tức là ông Nguyễn Hữu Bài người đỡ
đầu cho ông Diệm, và Huề tức là ông Thân Trọng Huề, ông ngoại của bà Ngô
Đ́nh Nhu).
Trong lớp quan
lại già nua đó, người nổi tiếng nhất là ông Nguyễn Hữu Bài. Nổi tiếng v́ ông
đă là tay sai đắc lực nhất của hai thế lực Thực Dân lúc bấy giờ. Một là hệ
thống cai trị của Pháp, và một là hội Truyền giáo Hải ngoại Pháp. Ông cũng
nổi tiếng v́ với tư cách đó, ông lại là vị tể tướng cầm đầu triều chính
trong thời gian vua Bảo Đại du học tại Pháp, quả thật ông Nguyễn Hữu Bài là
một thứ vua không ngai. Thời bấy giờ, số phận quan lại từ trên xuống dưới
đều nằm trong tay ông, đời sống nhân dân cũng nằm trong tay ông qua những
chính sách ông đề nghị với chính phủ Bảo Hộ.
Theo giáo sư
Nguyễn Văn Xuân th́ ông Nguyễn Hữu Bài có đến 5 đồn điền chung quanh Huế, có
đồn điền rộng đến cả 1.000 mẫu ruộng. Phê b́nh ông Nguyễn Hữu Bài, vị giáo
sư đại học Huế đă viết:
Đối với chúng
ta, ngày nay có thể công kích Nguyễn Hữu Bài, ông gia của Ngô Đ́nh Khôi và
ông gia hụt của Ngô Đ́nh Diệm, cho rằng chỉ là một thứ “bồi Tây” dù ông được
liệt vào hạng “Đày vua không Khả, đào mả không Bài”, và những nhàn điền (đồn
điền) của ông chỉ theo phương thức bóc lột tư bản Tây phương tàn nhẫn và
trong sự thật cũng đáng gọi là tên chủ đồn điền quỷ quyệt
.
Ngoài ra trong
tác phẩm “Hoàng Tử Vĩnh Sang” của sử gia Vũ Ngự Chiêu (tr. 113–114)
có trích đăng một lá thư của vua Thành Thái từ Saint Denis gởi về cho vợ, tố
cáo Thượng Thư Nguyễn Hữu Bài – trong cuộc nổi dậy của vua Duy Tân – đă lập
kế xúi dục vua Duy Tân bỏ Đại nội ra ngoài Hoàng thành để Tây bắt.
Với một thành
tích tay sai đắc lực của hai thứ thực dân như thế, và với sự tích lũy tài
sản lớn lao như thế mà lại tự xưng là người có ḷng yêu nước yêu vua, dám
“đày vua không Khả, đào mả không Bài” th́ quả thật là một sự lạ đối với
người có hiểu biết về tâm lư t́nh báo và lư luận chính trị. C̣n ông Ngô Đ́nh
Khả th́ lại là người đă theo đại Việt gian Nguyễn Thân cầm quân đánh phá
chiến khu Phan Đ́nh Phùng, đào mả Cụ lên rồi lấy thuốc súng trộn với thi hài
Cụ bắn đi cho mất tích (tài liệu của tạp chí Lên Đường số ra mắt,
Houston, trong phần phụ lục E). Ngoài ra, qua bức thư gởi cho Toàn quyền
Decoux, giám mục Ngô Đ́nh Thục (xem phần phụ lục) xác nhận Cụ Ngô Đ́nh Khả
và hai con Ngô Đ́nh Khôi, Ngô Đ́nh Diệm đều là tay sai đắc lực của thực dân
Pháp.
C̣n trường hợp
ông Nguyễn Hữu Bài không kư giấy |