MỤC LỤC

 

 

 
 

 

   Lời Giới thiệu của NXB

   Lời Mở đầu

 * * *

Chương 01

Chương 02

Chương 03

Chương 04

+ H́nh ảnh 1

Chương 05

Chương 06

Chương 07

Chương 08

Chương 09

Chương 10

Chương 11

Chương 12

Chương 13

Chương 14

Chương 15

Chương 16

Chương 17

Chương 18

Chương 19

Chương 20

 

THƯ MỤC

PHỤ LỤC

Phụ lục A

Phụ lục B

Phụ lục C

Phụ lục D

Phụ lục E

Phụ lục F

 

+ H́nh ảnh 2

 

* * *

 

 CHƯƠNG VI

 

BẢO ĐẠI

VÀ NGÔ Đ̀NH DIỆM

 

Sau khi lực lượng B́nh Xuyên bị đánh tan vào đầu tháng 5 năm 1955, nh́n vào t́nh h́nh chính trị miền Nam lúc bấy giờ ta thấy không c̣n một cá nhân hay một tổ chức nào đủ uy tín quần chúng và thực lực chính trị hoặc quân sự để hồi phục lại được t́nh trạng cũ, nghĩa là t́nh trạng của những chính phủ thân Pháp. Hướng đi của thời đại và vận động lịch sử đă chuyển hóa nước ta vào một kỷ nguyên mới: kỷ nguyên của người dân đích thực làm chủ nước ḿnh.

Trên mặt lư thuyết, lúc bấy giờ Việt Nam có thể trở thành một nước theo chế độ quân chủ lập hiến (như Anh, Nhật, Ḥa Lan, Thụy Điển, Tây Ban Nha, Thái Lan…) nghĩa là giữ lại thực thể hoàng gia như một biểu tượng quốc gia vô quyền và vô hại để tránh một biến đổi quá độ trong xă hội đóng kín và bảo thủ như xă hội ta, hoặc có thể trở thành một nước theo chế độ Cộng Ḥa Đại Nghị (như Mỹ, Pháp…) để dứt khoát hẳn với nền quân chủ quá khứ và trao quyền làm chủ cho người dân. Đó là trên mặt lư thuyết. Trên thực tế, quần chúng đă chọn lựa rồi vào ngày 30 tháng 4 năm 1955 tại Ṭa Đô Chánh Sài G̣n qua nghị quyết của Hội Đồng Nhân Dân Cách Mạng, nghị quyết đ̣i truất phế Bảo Đại và tạm thời trao quyền lănh đạo đất nước cho ông Diệm trong lúc chờ đợi Hiến Pháp và Quốc Hội định đoạt chế độ tương lai của đất nước. Đó là một nghị quyết lịch sử, phát xuất trung thực từ ước vọng của quần chúng.

Tuy nhiên v́ cái nghị quyết hợp ḷng dân và hợp thời đại nhưng lại không hợp ư anh em ông Diệm nên anh em ông Diệm và mưu sĩ Trần Chánh Thành phải dùng đến thủ đoạn phân hóa, bẻ gẫy và hạ uy tín Hội Đồng hầu cướp lấy chính quyền mà không cần chờ đợi những quy định của Hiến Pháp và Quốc Hội. Ngày 10 tháng 5, anh em ông Diệm đơn phương thành lập chính phủ chính thức, gồm toàn người thân tín và những kẻ đầu hàng, không cần hỏi ư kiến của Hội Đồng, cũng không có một nhân vật nào của Hội Đồng được mời tham dự chính phủ đó.

Hội Đồng Nhân Dân Cách Mạng do ông Nguyễn Bảo Toàn làm chủ tịch, ông Hồ Hán Sơn làm Phó, và ông Nhị Lang giữ chức Tổng thư kư, nhưng Hội Đồng c̣n có một ban Thường Vụ cũng do ông Toàn kiêm chức Chủ tịch với các ủy viên là: Văn Ngọc, Hà Huy Liêm, Nguyễn Phổ, Hoàng Cơ Thụy, Nguyễn Hữu Khai, Huỳnh Minh Ư, Đoàn Trung C̣n, Nguyễn Văn Quyền. (Bốn nhân vật Nhị Lang, Hoàng Cơ Thụy, Huỳnh Minh Ư, Nguyễn Hữu Khai hiện đang có mặt tại Mỹ và Pháp ).

Để đạt mục đích nắm chặt chính quyền, anh em ông Diệm bèn ra lệnh cho nhóm ủy viên thân tín là các ông Hà Huy Liêm, Huỳnh Minh Ư, Nguyễn Hữu Khai, … cầm đầu thành phần thân ông Diệm trong Hội Đồng gây mâu thuẫn, chống đối nội bộ. Đồng thời anh em ông Diệm kết tội Hội Đồng qua Tổng thư kư Nhị Lang là đă thâm lạm biển thủ số tiền trên một triệu đồng, số tiền mà ông Diệm (qua Bộ Thông Tin) đă cấp cho Hội Đồng hoạt động.

Kẻ viết không dám nói rằng ông Nhị Lang và Hội Đồng đă thâm lạm biển thủ tiền bạc, nhưng trong bối cảnh loạn lạc lúc bấy giờ th́ sự chi tiêu của Hội Đồng thật khó mà chứng minh bằng giấy trắng mực đen. Huống chi số tiền dù có bị thất thoát th́ cũng đă chủ yếu sử dụng cho việc cứu văn địa vị ông Diệm qua cơn sóng gió ngặt nghèo.

Trước hành động phản bội của anh em ông Diệm, ông Nguyễn Bảo Toàn bèn từ chức Chủ tịch Hội Đồng để phản đối ông Diệm. Bị hăm dọa, ông lui vào bóng tối trong lúc Phó chủ tịch Hồ Hán Sơn trốn về Tây Ninh và bị giết một cách bí mật. Dư luận lúc bấy giờ cho rằng ông Nhu đă mua chuộc được tướng Cao Đài Nguyễn Thành Phương để ông này cho thuộc hạ hạ sát ông Hồ Hán Sơn. (Sau này tướng Nguyễn Thành Phương cũng bị ông Ngô Đ́nh Diệm mua chuộc để phản lại giáo chủ Phạm Công Tắc mà rồi cuối cùng ông Nguyễn Thành Phương cũng bị Ngô Đ́nh Nhu phản bội). C̣n Tổng thư kư Nhị Lang, người đă từng cầm súng dọa bắn tướng Nguyễn Văn Vỹ để cứu ông Diệm, bị công an của tướng Nguyễn Ngọc Lễ và Bộ Thông Tin của ông Trần Chánh Thành đ̣i bắt bớ và làm khó dễ. Tuy các mưu sĩ Ngô Đ́nh Nhu, Trần Chánh Thành có hạ nhục ông Nhị Lang (nghĩa là gián tiếp hạ nhục Hội Đồng) nhưng rồi cũng nương tay v́ sợ mang tiếng phản bội quá trắng trợn. Tuy nhiên ông Nhị Lang vốn là người có kinh nghiệm đấu tranh và có lẽ vẫn c̣n bị ám ảnh v́ cái chết khả nghi của tướng Tŕnh Minh Thế, lại sợ ông Ngô Đ́nh Nhu lắm thủ đoạn nên vội vă trốn lên Cao Miên, làm kẻ lưu vong để cùng với những người lưu vong khác hoạt động chống nhà Ngô. Ngoài ra, luật sư Hoàng Cơ Thụy vốn hết ḷng ủng hộ ông Diệm từ khi ông Diệm mới về nước, nhưng trước thủ đoạn của ông Ngô Đ́nh Nhu, cũng trở thành người đối lập quyết liệt với chế độ Diệm. 

Phê b́nh những biến cố trên đây, nhà viết sử Buttinger, vốn có mặt tại Sài G̣n lúc bấy giờ và thường gặp gỡ các ông Diệm, Nhu, đă cho ta một bức tranh đầy h́nh ảnh rối rắm, xảo quyệt, giành giật, biến ảo ly kỳ mà tôi muốn ghi chép lại nguyên văn bằng tiếng Anh để cho những sự kiện lịch sử được tŕnh bày trung thực:

In other tenebrous phases of these power struggles in South Vietnam, the truth can be glimpsed through the tightly woven screen of intrigues. This is not the case in the chain of events that began in the afternoon of April 30, 1955, when a gathering of some 200 persons at the Saigon town hall constituted itself as a General Assembly of Democratic and Revolutionary Forces of the Nation. Although the outcome of these events is known, what actually happened at various critical stages is not. The picture that emerges from the available conflicting reports is that of a weird kaleidoscope made up of hate, lust for power, greed, cowardice, and treachery.[1]

(Tạm dịch: Trong những giai đoạn tối tăm khác của những màn tranh giành quyền lực tại miền Nam Việt Nam th́ sự thật vẫn có thể thoáng thấy được qua những màn mưu mô đan dệt chặt chẽ vào nhau. Nhưng rất khó để biết rơ sự thật của những chuỗi biến cố đă bắt đầu vào chiều ngày 30 tháng 4 năm 1955, khi một nhóm khoảng 200 người họp nhau tại ṭa Đô Sảnh Sài G̣n tự gọi là “Hội Đồng Nhân Dân Cách Mạng”. Mặc dầu ta đă biết rơ kết quả của chuỗi biến cố này, nhưng chuyện ǵ đă thật sự xảy ra trong những giai đoạn quan trọng đó th́ không ai biết được. Những tường tŕnh mâu thuẫn về những biến cố này cho thấy một h́nh ảnh loạn xạ như nh́n qua kính vạn hoa, đầy màu sắc thù ghét, tranh quyền, tham lam, hèn hạ, và gian lận).

C̣n kư giả Francis J. Corley cho ta biết như sau:

“V́ thành phần lănh đạo của Hội Đồng gồm một số nhân vật thoát thai từ nhân dân mà ra với đầy ắp tâm chất cách mạng như Nguyễn Bảo Toàn, Hồ Hán Sơn, Nhị Lang, Tŕnh Minh Thế… và v́ nội dung của nghị quyết chỉ cho ông Diệm cái quyền tạm thời chứ chung kết vẫn dành cho Quốc Hội, tức là nhân dân, định đoạt, cho nên đă làm cho những người có truyền thống chính trị phong kiến và có tham vọng lănh tụ như anh em ông Diệm phải bất măn, nổi giận và cảm thấy bị đe dọa” [2].

Hội Đồng Nhân Dân Cách Mạng với tên tuổi của lănh tụ Ḥa Hảo Nguyễn Bảo Toàn và trong hoàn cảnh đất nước lúc bấy giờ quả thật là một tổ chức đầy uy tín, một tổ chức “làm lịch sử”. Hội Đồng đưa ra một quyết nghị vừa tạo chính nghĩa cho quốc gia, vừa cứu ông Diệm qua cơn khó khăn nguy hiểm, nhưng v́ sự phản bội của anh em ông Diệm mà Hội Đồng tan ră, chết yểu. C̣n những người muốn làm cách mạng để cải đổi xă hội th́ thân thế gặp phải cảnh lao lung đầy bất trắc, với một tương lai mịt mờ. Hội Đồng giải tán rồi, anh em ông Diệm bèn lật lá bài chính trị cuối cùng để qui thiên hạ về một mối, tức là lá bài truất phế Bảo Đại, vị Quốc trưởng hợp pháp, sự kiện mà tôi sẽ đi vào chi tiết trong phần sau của chương này.

Tuy nhiên trước khi tiếp tục nói về cuộc cờ oan trái giữa hai ông Bảo Đại và Ngô Đ́nh Diệm, tôi muốn mở một dấu ngoặc ở đây để có mấy lời nói về ông Nhị Lang và tác phẩm Phong Trào Kháng Chiến Tŕnh Minh Thế (PTKCTMT) của ông.

PTKCTMT ngoài phần chính yếu nói về cuộc đời và sự nghiệp của tướng Thế, tại chiến khu cũng như lúc về Thành, ngoài phần nói về hoạt động đấu tranh của ông Nhị Lang, tác giả c̣n muốn làm nổi bật một số biến cố mà tôi cần phải có những lời chất chính:

- Nguyên nhân nào buộc ông Nhị Lang phải lấy quyết định bỏ nước ra đi sang Cao Miên lưu vong để sống cuộc đời cơ cực và tủi nhục.

- Những phân trần dài ḍng về điểm ông bị nghi ngờ đă hoạt động cho Việt Cộng tại Cao Miên.

- Thái độ chống Cộng hung hăn quá khích của tác giả.

- Cái chết của tướng Tŕnh Minh Thế và của tướng Ba Cụt Lê Quang Vinh.

- Ḷng ngưỡng mộ vô biên của tác giả đối với hai ông Diệm – Nhu.

Rất tiếc là trong tác phẩm PTKCTMT tác giả đă không ghi lại một số biến cố vốn đă được nêu ra trong bài hồi kư Nguồn gốc nền Đệ Nhất Cọng Ḥa Việt Nam được đăng trên tuyển tập Quê Hương số Xuân năm 1977 xuất bản tại Costa Mesa, Hoa Kỳ, những biến cố có thể làm sáng tỏ thêm thái độ chính trị của tác giả dưới thời Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Ḥa Việt Nam.

… Năm 1956, ông (Nhị Lang) phải lưu vong qua Cam Bốt. Đến năm 1960, ông bí mật trở về nước, nửa đường bị quân Giải phóng bắt tại Đồng Tháp Mười, sau đó được thả ra rồi lại bị chính phủ Diệm bắt lại trong cuộc đảo chánh Nhảy Dù ngày 11-11-1960. Ông ngưng hoạt động một thời gian cho đến năm 1970, ông lại được bầu làm Tổng thư kư Ủy Ban Phối Hợp Hành Động các Chính Đảng…

Với sự hiểu biết của cá nhân tôi về Hội Đồng Nhân Dân Cách Mạng, về chế độ Ngô Đ́nh Diệm lúc bấy giờ, nay phối hợp với những lời phân trần của ông Nhị Lang trong tác phẩm PTKCTMT cùng với lời giới thiệu trên tuyển tập Quê Hương tôi muốn nêu lên những ư kiến sau đây:

- Ông Nhị Lang bảo rằng sở dĩ ông phải lưu vong sang Cam Bốt là để tránh sự tranh chấp giữa hai ông Văn Thành Cao và Nguyễn Thành Phương, và v́ chán nản bởi thái độ bất thân thiện của một số người của chế độ Diệm, đặc biệt là Bộ trưởng Trần Chánh Thành và tướng Nguyễn Ngọc Lễ, c̣n đối với anh em Tổng thống Diệm th́ ông Nhị Lang trước sau vẫn một ḷng kính phục. Trái lại, theo tôi th́ ông Nhị Lang ra đi v́ khiếp sợ và thâm thù anh em ông Diệm, ra đi với mưu đồ hợp tác với kẻ thù của Việt Nam Cộng Ḥa để lật đổ chế độ Ngô Đ́nh Diệm. C̣n hai ông Nguyễn Ngọc Lễ và Trần Chánh Thành chẳng qua chỉ là kẻ thừa hành, kẻ nhận mệnh lệnh của anh em ông Diệm để hạ nhục ông Nhị Lang trong lúc hai ông Diệm–Nhu bề ngoài vẫn tỏ ra c̣n ưu ái ông ta.

Sau khi Hội Đồng Nhân Dân Cách Mạng bị giải tán, chủ tịch Nguyễn Bảo Toàn phải lui vào hoạt động bí mật để chống nhà Ngô, hai ông Tŕnh Minh Thế và Hồ Hán Sơn bị chết một cách bí ẩn th́ ông Nhị Lang đâm ra lo sợ cho tương lai, số phận của ḿnh. Đă thế, ông Nhị Lang c̣n bị điều tra về thâm lạm tiền bạc, bị hai ông Thành và Lễ làm nhục, ông Nhị Lang đâm ra uất hận và căm thù tự cho là đă bị phản bội. Ngoài ra, ông Nhị Lang c̣n bất măn việc anh em ông Diệm nâng tướng Văn Thành Cao, một kẻ đối thủ của Nhị Lang, lên thay thế tướng Tŕnh Minh Thế làm cho ông ta càng ganh ghét và thù hận anh em ông Diệm hơn.

Ngoài ra, sự việc mà ông Nhị Lang từ Cam Bốt trở về Việt Nam một cách bí mật trước khi biến cố Nhảy Dù xảy ra để rồi sau biến cố đó, lại bị chế độ Diệm bắt bớ và suốt thời gian c̣n lại của chế độ Diệm, ông Nhị Lang phải sống âm thầm không có một hoạt động nào, càng cho thấy mối căm thù to lớn của ông ta đối với anh em ông Diệm.

Tôi lại c̣n nghi ngờ trong những ngày sống lưu vong tại Cam Bốt, có thể ông Nhị Lang đă có liên hệ với Việt Cộng (qua một cán bộ Cộng Sản tên là Ngô Điền) và đă cộng tác với chính quyền Sihanouk trong mưu đồ lật đổ chế độ Diệm. Những lời phân trần dài ḍng của ông về cuộc sống tại Cam Bốt, sự lưu tâm của Quốc trưởng Sihanouk đối với ông, sự trở về nước của ông trước khi biến cố Nhảy Dù xảy ra (biến cố mà tôi nghĩ rằng gián điệp Pháp đă cho Sihanouk biết trước), rồi lại vụ Việt Cộng bắt ông tại Đồng Tháp Mười để rồi lại thả ra, cho phép tôi nghi ngờ ông Nhị Lang đă có liên hệ với Cộng Sản và đă cộng tác với Sihanouk.

Một người già dặn đấu tranh như ông Nhị Lang há lẽ bỏ nước ra đi lưu vong chỉ v́ bất măn với hai ông Nguyễn Ngọc Lễ và Trần Chánh Thành? Một người có thành tích đấu tranh chống Cộng như ông há lẽ Việt Cộng bắt được rồi thả ra một cách dễ dàng? Ngoài ra ông liên hệ với chính quyền Sihanouk làm ǵ khi mà Sihanouk đang coi Việt Nam Cọng Ḥa là kẻ thù?

Vấn đề c̣n lại là tại sao ông Nhị Lang căm thù chế độ Diệm đến như thế mà trong tác phẩm PTKCTMT và trong bài Hồi kư đăng trên tuyển tập Quê Hương ông lại hết lời ca ngợi anh em Tổng thống Diệm và tuyên dương “Phong trào phục hồi tinh thần Ngô Đ́nh Diệm”. Tiếc thương hai ông Diệm Nhu tại sao măi đến năm 1970 Nhị Lang mới vào nghĩa trang thăm mộ hai ông?

Số là từ sau khi chế độ Diệm bị lật đổ, cũng như giới báo chí, giới chính trị đảng phái đă tố cáo lẫn nhau. Dư luận đă lên án ông Nhị Lang chạy theo nhà Ngô năm 1955 phản bội lại các đảng phái, phản bội Việt Nam Quốc Dân Đảng mà ông Nhị Lang từng là một đảng viên kỳ cựu, giúp cho nhà Ngô củng cố được địa vị và làm cho các đảng phái bị tiêu diệt. Từ đó, Nhị Lang thay đổi lập trường, trở lại đề cao và bênh vực nhà Ngô để chính nghĩa hóa việc làm của ḿnh vào thời 1955. Ngoài ra, Nhị Lang c̣n bị dư luận tố cáo là đă hoạt động cho Sihanouk và Việt Cộng như Bộ trưởng Trần Chánh Thành đă từng lên án, v́ thế ông Nhị Lang lại càng phải tỏ ra ḿnh vẫn là người chống Cộng quyết liệt. Muốn thế, ông Nhị Lang phải dựa vào uy thế nhóm Công giáo Cần Lao đang là hậu thuẫn chính trị chính yếu của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu và đang tổ chức phong trào “Phục Hồi Tinh Thần Ngô Đ́nh Diệm” mà cao điểm là vào năm 1970, năm mà ông Nhị Lang tái xuất giang hồ.

Trong mưu đồ xóa tội cho ông Diệm và để tỏ ra ḿnh tiếc thương Tổng thống Diệm và ông Nhu một cách ngoạn mục hơn, ông Nhị Lang đă hư cấu ra việc ông Nguyễn Ngọc Thơ v́ có bà con hoạt động cho Việt Cộng nên đă làm áp lực Tổng thống Diệm sát hại tướng Lê Quang Vinh. Nếu quả ông Thơ thân với Việt Cọng như ông Nhị Lang tố cáo th́ tại sao suốt 9, 10 năm trời, ông Diệm lại giao cho ông Thơ những chức vụ quan trọng trong chính quyền, đặc biệt là chức Phó Tổng thống kiêm nhiệm Kinh Tế và Tài Chánh. Ông Thơ quê ở Long Xuyên, vùng sinh sống và ảnh hưởng của Ḥa Hảo, ông Thơ lại có nhà cửa đồ sộ, có hàng trăm mẫu đất, có bà con mồ mả cha ông, ông Thơ dại ǵ mà gây thù oán với một lực lượng giáo phái đông đảo, can trường và quyết liệt sẵn sàng trả thù cho Đức Thầy, cho các đồng chí đồng đạo. Huống ǵ tướng Lê Quang Vinh lại là bà con gần của ông Thơ, việc này cựu Bộ Trưởng Nội Vụ Lâm Lễ Trinh (hiện ở Mỹ) biết rơ. Chẳng qua ông Thơ cũng như đại đa số nhân dân miền Nam lúc bấy giờ tin tưởng vào tương lai thanh b́nh hạnh phúc của đất nước do ông Diệm lănh đạo, nên ông đă nhận lời chiêu dụ tướng Ba Cụt về đầu hàng cũng như đă chiêu dụ tướng Nguyễn Giác Ngộ và rất nhiều phần tử Ḥa Hảo khác để giúp ông Diệm ổn định miền Tây. Ông Thơ có ngờ đâu ông Diệm lại ra lệnh cho ṭa án xử tử người anh hùng Ḥa Hảo của quê hương ông. Bảo rằng ông Thơ làm áp lực với ông Diệm giết Lê Quang Vinh, vậy th́ ai đă áp lực ông Diệm để ông Nguyễn Bảo Toàn, một lănh tụ Ḥa Hảo, bị ông Diệm ra lệnh sát hại? Không cần phải dài ḍng mà chỉ cần đọc “PTKCTMT” cũng thấy rằng ông Nhị Lang không đưa ra những chứng cớ cụ thể nào, chỉ có những suy luận một chiều mà lại dám xác quyết việc ông Thơ làm áp lực ông Diệm để sát hại tướng Lê Quang Vinh cũng như việc Mai Hữu Xuân giết tướng Tŕnh Minh Thế.

Cũng trong mục đích muốn đánh tan dư luận nghi ngờ ḿnh có liên hệ với Việt Cộng, ông Nhị Lang tỏ ra hung hăn hơn khi đưa ra nhiều nhận xét, nhiều kế hoạch chống Cộng vô lư như trường hợp ông đă chê trách Tổng thống Truman hay trường hợp dùng du kích đánh chiếm hai tỉnh địa đầu của Bắc Việt.

Hết ḷng đề cao Tổng thống Diệm ưu ái thủy chung với tướng Tŕnh Minh Thế, ông Nhị Lang bỏ lơ việc ông Diệm đă có lời lẽ khinh thị tướng Thế trước mặt Lansdale làm cho Lansdale nổi giận bảo ông Diệm đừng có những lời lẽ khinh chê tướng Thế như vậy nữa [3].   

Hai anh em ông Diệm–Nhu trong bước đường nguy khốn đă phải đích thân lên tận núi Bà Đen thỉnh cầu tướng Thế đem quân về thành cứu giúp, hành động đó có khác ǵ ba anh em Lưu Quan Trương đến Ngọa Long Cương thỉnh cầu Khổng Minh về pḥ tá, thế mà ông Diệm nỡ khinh thị tướng Thế khi quân đội B́nh Xuyên đă bị đánh bật qua bên kia cầu chữ Y. Như vậy ông Diệm có phải là người vong ân bội nghĩa không hở ông Nhị Lang?

Phê b́nh tác phẩm PTKCTMT, bà Linh Bảo trong tạp chí Việt Nam Hải Ngoại (San Diego) của luật sư Đinh Thạch Bích đă viết như sau nơi mục Giữa Chúng Ḿnh:

... Theo LB biết th́ Hùng vào chiến khu ra mắt tướng Thế với một cuốn sách tên là “Con đường tranh đấu của chúng ta”. Tướng Thế đă cho in cuốn ấy để làm tài liệu lư luận căn bản của phong trào kháng chiến quốc gia. Nghe đâu anh (Nhị Lang) lúc vào khu với tướng Thế đă ra mắt với một bài thơ ca tụng lănh tụ, có câu đầu là: “Tŕnh Minh Thế, đấng anh hùng cứu quốc!” Hai cách ra mắt tương phản nhau như thế không thấy anh nói đến. Điều LB ngạc nhiên là: anh Hùng chẳng những là một chiến sĩ hữu danh, không những có tên mà lại có đến ít nhất là ba tên; trong cuốn sách anh viết anh Hùng thành ra một… chiến sĩ vô danh! Các anh em khác ở đây cũng đă chuyền tay đọc cuốn sách của anh. Đọc xong, những ai từng ở chiến khu Tŕnh Minh Thế cũng như những ai tuy không vào khu nhưng đă sống trong thời kỳ ấy, đều có những ư kiến khá… ly kỳ. H́nh như có một vài người bỗng đâm… ngứa ngáy định viết thêm, hay viết những “lịch sử kư sự” cùng một giai đoạn để bổ túc hay bổ khuyết, hay điều chỉnh, hay.. và… , hầu giúp người đời sau có thêm tài liệu mà so sánh… “lịch sử” và “kư sự”. LB hỏi anh ĐTB về 10 điều luật tử h́nh trong chiến khu Tŕnh Minh Thế. Anh ấy chỉ nhớ có 5 điều. Anh có nhớ đủ không? [4]

Những lời phê phán trên đây chẳng những cho thấy tác phẩm lịch sử kư sự của ông Nhị Lang có rất nhiều sai lầm khiếm khuyết mà quan trọng hơn, c̣n lên án ông Nhị Lang thiếu tác phong cách mạng và đă có những hành động đáng phải xử tử.

Ngoài nguyệt san Việt Nam Hải Ngoại ra, nguyệt san Thanh Niên Hành Động số ra mắt ngày 1-10-1985 phát hành tại San Jose, trong mục Điểm Sách đă có những phân tách tỉ mỉ hơn về tác phẩm PTKCTMT. Thanh Niên Hành Động c̣n so sánh sách ông Nhị Lang với sách của một kư giả Mỹ và của Lansdale, và đă cho thấy nhiều sự kiện trái nghịch. Để kết luận, Thanh Niên Hành Động viết như sau:

… V́ vậy, chúng ta không ngạc nhiên khi đối chiếu giữa cuốn hồi kư của Nhị Lang và của Lansdale có những sự kiện được viết ra rất trái nghịch…

Chúng ta đọc để có một cái nh́n chín chắn cho hành động và sự hy vọng. Cái nh́n chín chắn đó là biết rơ hơn nữa, ai là những thành phần bán đứng dân tộc… Một cuộc cách mạng có chính nghĩa phải phát xuất từ nguyện vọng của đại đa số nhân dân. Phải đặt quyền lợi dân tộc lên trên hết. Một lực lượng cách mạng thể hiện được con đường chính nghĩa này không thể “hợp tác” với những bọn người thối nát nhưng luôn mang danh nghĩa “quốc gia”, một chế độ phi dân tộc như Ngô Đ́nh Diệm. Đó là bài học cần được rút tỉa…[5]

C̣n ông Lê Nhật Thăng (trên tạp chí Ánh Sáng Dân Tộc) th́ viết thẳng rằng:

Tác phẩm “Phong Trào Kháng Chiến Tŕnh Minh Thế” chỉ đem lại một thông điệp đáng chú ư là tích cực chống Cộng Sản, c̣n lại chỉ là sự tập họp những khen ngợi bốn người. Đó là Tŕnh Minh Thế, Ngô Đ́nh Diệm, Ngô Đ́nh Nhu và “Le Moi” (cái Ta) c̣n ai ai cũng bị tác giả chê trách, sỉ vả hết thảy.

Riêng đối với tôi, sau khi tác phẩm PTKCTMT ra đời, ông Nhị Lang và ông Phan Xứng đă có nhă ư gởi tặng tôi một cuốn với lời đề tặng đầy thân t́nh gọi tôi là cố tri. Sau khi đọc xong sách, tôi bèn gởi thư để cám ơn tác giả đồng thời nêu lên một số sự kiện mà tôi không đồng ư với ông Nhị Lang. Nói rơ ra như thế để thấy rằng viết lại đoạn hồi kư trên này tôi không có ác ư với người bạn cũ mà tôi chỉ muốn làm sáng tỏ lịch sử để hậu thế khỏi hiểu lầm cha ông.

Rất tiếc, tấm ḷng chân thành của tôi đă bị ông Nhị Lang phản ứng hết sức hạ cấp và thô bạo. Ông viết báo để nhục mạ tôi, gán cho tôi là Cộng Sản và kích thích những thành phần Công giáo cuồng tín ở hải ngoại chống phá tôi. Nhưng sự thật vẫn là sự thật, nhiều độc giả đă viết bài đăng báo, viết sách để vạch trần tâm địa xấu xa và hành xử không lương thiện của ông Nhị Lang: như bà Yến Vân và cụ Vũ Trọng Kỳ trên báo Viet Press, như cụ Nguyễn Duy Hiệp trên báo Chấn Hưng, như ông Trương Thiện trên báo Tia Sáng, như nhà văn Lê Nhật Thăng trên báo Saigon BolsaÁnh Sáng Dân Tộc, như nhóm ông Vũ Đăng Quư và nhà văn Xuân Tước trên tờ Văn Hóa Colorado và đặc biệt là cuốn “Lột Mặt Nạ Những Con Tḥ Ḷ Chính Trị” của ông Lê Trọng Văn. Tất cả đă lột trần thủ đoạn gian trá và thiếu đạo đức của ông Nhị Lang và cuốn “Phong Trào Kháng Chiến Tŕnh Minh Thế” của ông ta.

 

-o0o-

 

Trở lại biến cố truất phế Bảo Đại, một biến cố lớn đă lột cả xác lẫn hồn của đất nước để biến thiên từ kỷ nguyên quân chủ qua kỷ nguyên dân chủ, tôi xin có vài hàng về thân thế và sự nghiệp của hai nhân vật tiêu biểu cho hai kỷ nguyên đó: ông Bảo Đại, vị vua cuối cùng của nhà Nguyễn; và ông Ngô Đ́nh Diệm, vị Tổng thống đầu tiên của Việt Nam Cộng Ḥa.

Triều đại nhà Nguyễn bắt đầu kể từ khi vua Gia Long lên ngôi năm 1802 cho đến khi chấm dứt dưới triều Bảo Đại năm 1945, đă trải qua 10 đời vua, mà gác qua một bên tội ác đă “rước voi về giày mả tổ” th́ nhà Nguyễn vẫn có nhiều vị vua đă có công tô điểm vàng son cho lịch sử nước nhà.

Trước hết tôi xin sơ lược về vua Gia Long, vị vua sáng lập ra triều Nguyễn, qua cái nh́n của nhà viết sử Phạm Văn Sơn:

Ở vua Gia Long, từ con người quân nhân đến con người chính trị có nhiều điểm đặc biệt khiến ta phải coi vua Gia Long cũng là một nhân vật kỳ liệt của lịch sử trên nhiều phương diện. Nhân vật này có nhiều điều hay mà cũng có nhiều điều dở.

Chiếu theo cội rễ th́ Gia Long thuộc về một ḍng họ có nhiều danh tướng, giàu mưu cơ, đảm lược, nhẫn nại, cần cù, thông minh, trác lạc, nhờ vậy mà trong thời trung suy, Nguyễn Ánh mới 17 tuổi đă cầm đầu được binh tướng, nắm vững được ḷng dân, bốn phen vinh nhục ở đất Gia Định, nhiều lần xiêu bạt ngoài khơi, trôi giạt cả vào đất Xiêm, nương nhờ triều đ́nh Vọng Các, có lúc phải hy sinh cả tính mạng (diệt trừ giặc Miên và Mă Lai cho Xiêm La) để mua chuộc thiện cảm của người ḥng có chỗ nương thân. Trên 20 năm ṛng, vua Gia Long xông xáo khắp các chiến trường, từ vùng Đồng Nai ra Thuận Hóa, vượt biển trèo non trong vùng khói lửa mịt mùng mà vẫn không bao giờ lui bước, con người ấy thật đáng là một chiến sĩ. Trước điểm này ta không thể không vỗ tay khen ngợi Thế Tổ nhà Nguyễn.

Về chính trị, khi sức cùng lực tận, Gia Long đă cho giám mục Bá Đa Lộc đem con ḿnh là Hoàng tử Cảnh đi cầu cứu với nước Pháp và luôn luôn giao thiệp khéo léo với các lân bang để lấy ngoại viện, nhờ đó mà chẳng những người Âu Châu mà cả các quân Xiêm, Miên, Lào thường qua lại đánh Tây Sơn giúp ḿnh. Ngoại giao đến thế là khéo léo tuy rằng mang người ngoài về đánh anh em trong nhà là làm một hành động không đẹp so với việc 12 Sứ quân trên tám thế kỷ về trước. Nhưng đến khi sự nghiệp đă thành, ngôi quốc chủ đă vững, Gia Long thay đổi luôn thái độ, lên tiếng kẻ cả với Xiêm, đặt Miên, Lào vào ṿng lệ thuộc. Tiến thoái kinh quyền đến thế quả thật là mau lẹ, quỉ quyệt… Tuy vậy, vua Gia Long cũng có một ít sở đoản như bạc bẽo và tàn nhẫn với các trung thần, như hành động trả thù dă man với đối thủ cũ là anh hùng Nguyễn Huệ, như đă biết dă tâm của cường quốc Tây phương mà không có kế sách để giữ cho nước khỏi bị “Bạch Họa”.[6]

Sau vua Gia Long, tuy các đế quốc Tây phương (đặc biệt là Pháp) bắt đầu phát động âm mưu thôn tính nước ta mà các vũ khí ban đầu là các dịch vụ buôn bán và sự phối hợp chặt chẽ với sinh hoạt truyền bá đạo Công giáo La Mă, nhưng dưới thời ba vị vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, quốc gia vẫn c̣n hoàn toàn độc lập và nắm giữ chủ quyền.

Ba vị vua này, nếu không phải là anh quân thời loạn th́ cũng đă chứng tỏ là minh vương thời b́nh, một ḷng v́ nước thương dân, phát huy được những thành quả của cha ông để lại dựa trên nền luân lư nhân nghĩa của nền Tam giáo. Chỉ tiếc rằng trên mặt phát triển kinh tế và vận dụng nhân tài vật lực của đất nước, họ vẫn c̣n nặng tinh thần bảo thủ, chủ trương bế môn tỏa cảng không chịu tiếp nhận những trào lưu văn hóa và kỹ thuật của nước ngoài để ḥa hóa trong một chính sách cải cách duy tân cho nước nhà thêm hùng mạnh. Đặc biệt dưới triều vua Tự Đức, ảnh hưởng Tống Nho của “Thiên Triều Trung Hoa” lại được dịp phát triển mạnh mẽ trong một xă hội tương đối ổn định, mà những ước lệ từ chương trở thành những mẫu mực đo lường sức mạnh văn hóa của quốc gia.

Cũng dưới triều đại của ba vị vua này, tuy có gửi một số phái đoàn (Bùi Viện đi Mỹ là một) để nghiên cứu nước ngoài, nhưng tinh thần bài ngoại triệt để biểu hiện qua chính sách cấm đạo, giết đạo đă vừa mắc mưu các cố đạo vừa tạo ra cái cớ cho đế quốc Pháp nắm được chính nghĩa (tại Pháp) để xua quân xâm lấn giang sơn. Đă có nhiều người của đời sau, hoặc v́ những xúc động chủ quan hoặc v́ những thiên kiến bè phái, đă nh́n chính sách này một cách phiến diện và đơn giản để lên án nặng nề ba vị vua trên mà không chịu đặt ḿnh vào khung cảnh của thời đại đó để suy nghiệm và phê phán cho khách quan hơn.  

Theo ư kiến riêng của tôi th́ trên mặt chính trị, và đặc thù hơn trên b́nh diện phát triển quốc gia và giao hệ quốc tế, quả thật các ông vua này đáng bị phê phán khắt khe. Nhưng ngược lại, trên mặt nhân văn, th́ các vị vua đó chỉ phản ánh ư nguyện của tuyệt đại đa số quần chúng mà thôi. Bốn chữ “B́nh Tây, Sát Tả”trong những bài hịch của các phong trào Văn Thân và Cần Vương do các sĩ phu chủ xướng là một trong những chủ điểm đấu tranh của các bản cương lĩnh chính trị này, để thể hiện cái ước vọng lớn lao và đại chúng của nhân dân là “giết Đạo trước rồi đánh Tây sau”.

Nếu trên mặt chính trị, các vị vua đó có một chính sách khôn khéo hơn th́ Công giáo La Mă đă được du nhập vào Việt Nam và may ra được ḥa hóa thành một thứ Công giáo Việt Nam như trường hợp đạo Phật cách đây hai ngàn năm. Lỗi lầm chính trị của các vị vua này, sự cấu kết giữa chính quyền Pháp và Giáo hội La Mă Vatican lúc bấy giờ, những tham vọng mở mang nước Chúa của hội truyền giáo, và truyền thống chống ngoại xâm thể hiện chính đáng nhưng không đúng mức của dân ta. Đó là bốn yếu tố chính chi phối trạng huống lịch sử lúc bấy giờ và làm cho Hội Truyền Giáo Hải Ngoại Pháp quên đi chức năng rao truyền đức tin của Chúa trong nhân ái, để chỉ c̣n tiến hành nhiệm vụ cao cả của ḿnh như một trận chiến xâm thực văn hóa. Sự cố t́nh phê phán hệ quả của chính sách cấm đạo chỉ dựa trên mặt chính trị mà không đặt nó trong bối cảnh nhân văn của thời đại lúc bấy giờ, là một thái độ thiếu trách nhiệm và thiếu lương thiện của một số nhà viết sử muốn trốn tránh sự thật mà thôi!

Bây giờ th́ lịch sử đă chứng minh một cách quá rơ ràng và quá đầy đủ rằng chính cái tham vọng xâm thực văn hóa của Hội Truyền Giáo Pháp đă là nguyên nhân chủ yếu và lợi khí hữu hiệu của chính sách xâm lăng quân sự chính trị của đế quốc Pháp lúc bấy giờ. Trong tiến tŕnh cấu kết này, những khuôn mặt của Alexandre de Rhodes, Pigneau de Béhaine, Puginier, Pellerin, Taberd… đă là những chính trị gia lăo luyện khoác áo tu sĩ để tiến hành một thủ đoạn chính trị cổ điển nhất nhưng cũng hữu hiệu nhất: chia để trị. Họ chia dân ta thành hai khối lương giáo bất khả ḥa và bất khả dung.

Lịch sử của Hội Truyền Giáo Hải Ngoại gắn liền một cách chặt chẽ với lịch sử bành trướng ảnh hưởng của Pháp tại Đông Dương. Một trong những sáng lập viên của Hội, ông Pallu, đă đóng vai tṛ liên lạc giữa hai triều đ́nh Pháp và Huế. Vị giáo sĩ nổi tiếng nhất của Hội, Giám mục Adran Pigneau de Béhaine, đă chính thức gia tăng mối quan hệ này: Sự can thiệp của các hội viên của Hội Truyền Giáo vào chính t́nh Việt Nam đă dẫn đến hành động xâm lược vơ lực đầu tiên (của Pháp) [7].

Một số trí thức Thiên Chúa giáo Việt Nam như các ông Nguyễn Văn Trung, Lư Chánh Trung… hơn một trăm năm sau, trong khi suy nghiệm về sự bế tắc nhân văn của nền văn minh Tây phương và trong nỗi niềm khổ hận của một người Việt Nam lận đận, cũng đă nh́n thấy và nêu lên rơ sự thật này:

Tuy nhiên lịch sử đă cho thấy rằng từ khi Giáo Hội (La Mă) trở thành “Quốc Giáo” th́ cây gươm tinh thần của thánh Phao Lồ đă luôn luôn bị cám dỗ để biến thành cây gươm thép thật sự. Kể từ dạo ấy, mỗi khi hoàn cảnh cho phép, Giáo Hội đă không ngần ngại để dùng thế lực tiêu diệt các tôn giáo khác, đập phá các đền thờ “Tà thần”, đốt sách vở ngoại đạo, và đốt luôn bọn người bị xem là “Lạc Đạo” nếu không chịu sửa sai [8].

Cái hoàn cảnh không may đó đă đến với dân ta từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 20, để dân Việt trở thành đối tượng, nạn nhân của Hội Truyền Giáo Hải Ngoại Pháp và đoàn quân xâm lăng Pháp. Cho nên ông Lư Chánh Trung mới hạ bút viết mấy lời tâm huyết như là lời thú tội:

Ngày nay, mọi người đều đồng ư rằng việc cấm đạo dưới các nhà vua triều Nguyễn là một hành động bất nhân và sai lầm. Nhưng nếu chúng ta tự đặt ḿnh vào địa vị các nhà vua ấy, vào cái khung cảnh tâm lư thời đó, th́ có lẽ chúng ta khó có thể làm khác hơn [9].

“Khó có thể làm khác hơn” đó chỉ là thái độ “t́m về dân tộc” của những người Công giáo Việt Nam kiểu Nguyễn Văn Trung, Lư Chánh Trung. C̣n đối với anh em ông Diệm, đối với nhóm Công giáo Cần Lao th́ lời than trách của Lư Chánh Trung chỉ làm cho anh thêm mang tội: cái tội “lạc đạo”, cái tội “thân Cộng”, cái tội “bênh vực hành động những kẻ ngoại đạo”. May thay, Lư Chánh Trung vô t́nh được nhà trí thức Công giáo Etienne Vũ Đức Hạnh gián tiếp trưng bày bằng cớ về cái tội thực dân của các giáo sĩ ngoại quốc và cái tội làm tay sai cho kẻ xâm lăng của giáo dân Việt Nam dưới thế kỷ 19. Trong tác phẩm La place du Catholicisme dans les relations entre la France et le Viet-Nam de 1851 à 1870, dựa vào những tài liệu của một số tác giả Pháp và một số giáo sĩ ngoại quốc, Etienne Vũ Đức Hạnh đă viết như sau:

Sous Tự Đức, un grand nombre de catholiques Vietnamiens sont d’intelligence avec les Francais, certes, mais cette collaboration est plus materielle que formelle. Comment expliquer cet état de fait sans ajouter aux raisons précédentes les circonstances politiques à la fois troublées et troublantes de l’époque?

Les ambitions des Chúa Trịnh dans le Đàng Ngoài, des Chúa Nguyễn dans le Đàng Trong et celles momentanées des frères Tây Sơn ne connaissent plus de limites. Le peuple qui en souffre, surtout celui du Bắc Kỳ a la nostalgie des rois Lê dont it garde un souvenir ineffaceable. Bien que Chúa Nguyễn Phúc Ánh ait unifié l’Empire, la dynastie des Nguyễn n’est pas aimée; elle est à jamais considérée comme l’engeance d’insurpateurs.  La fidèlité des populations appelle la résurrection des Lê et à la recherche d’un rejeton royal. Ce qui explique le succès du prétendant catholique Lê Duy Phụng.

Au jour de Tự Đức, chrétiens et non chrétiens à l’instigation des missionnaires, résistent ici sourdement, là ouvertement au roi régnant mieux à la dynastie des Nguyễn pour plusieurs motifs. Les Nguyễn ont volé le trône des rois Lê. Leurs descendants actuels ont manqué le mandat du ciel pour avoir traité avec les envahisseurs et cédé à l’ennemi une portion du territoire national. Une seule différence: les chrétiens font cause commune avec les francais, les non chrétiens, les combattent”[10].

Tạm dịch:

Dưới triều Tự Đức, một số đông người Thiên Chúa giáo Việt Nam quả đă làm t́nh báo cho Pháp, nhưng sự cộng tác ấy chỉ có tính cách thực tiễn hơn là quy thức. Làm sao có thể giải thích được t́nh trạng ấy nếu không thêm cho những nguyên do ấy, những hoàn cảnh chính trị rối rắm đáng phải lo âu?

Tham vọng của chúa Trịnh Đàng Ngoài, chúa Nguyễn Đàng Trong và cả anh em Tây Sơn đều vô giới hạn. T́nh trạng ấy làm cho nhân dân đau khổ, nhất là nhân dân Bắc Kỳ vẫn hoài vọng nhà Lê mà họ đă có những kỷ niệm khó xóa mờ. Dù chúa Nguyễn Phúc Ánh đă thống nhất giang sơn, nhưng nhà Nguyễn không được thương mến và măi măi bị coi là những kẻ cướp quyền. Ḷng trung thành của dân chúng đ̣i hỏi sự phục hồi nhà Lê và t́m kiếm một hậu duệ. Lư do đó giải thích cho sự thành công của Lê Duy Phụng, kẻ tự nhận là người hậu duệ Thiên Chúa giáo của nhà Lê.

Dưới triều đại Tự Đức, theo sự xúi dục của các giáo sĩ ngoại quốc, người Thiên Chúa giáo và người không Thiên Chúa giáo kẻ th́ chiến đấu âm thầm, kẻ th́ công khai để chống lại những nhà vua đang tại vị hơn là chống lại nhà Nguyễn v́ nhiều nguyên nhân. Nhà Nguyễn đă cướp ngôi vua nhà Lê. Những vua nối quyền hiện tại th́ không c̣n thiên mệnh để kư kết với quân xâm lăng và nhượng một phần lănh thổ cho kẻ thù. Chỉ khác nhau là: người Thiên Chúa giáo th́ hợp tác với Pháp trong một mục tiêu chung, c̣n người không Thiên Chúa giáo th́ chiến đấu chống lại.

Gác một bên việc Etienne Vũ Đức Hạnh cố t́nh xuyên tạc lịch sử dân tộc, chúng ta thấy rơ ràng ông ta đă hân hoan vinh danh hành động làm tay sai cho thực dân của người Công giáo Việt Nam dưới thế kỷ 19.

Với cái tội phản quốc đó của giáo sĩ ngoại quốc và giáo dân Việt Nam th́ làm sao vua chúa nhà Nguyễn lại không “cấm đạo, giết đạo”.

Nói cho rơ ra th́ từ ngày đạo Chúa du nhập vào Việt Nam từ giữa thế kỷ 16 cho đến đời Tự Đức gần 300 năm trời, vua chúa nước ta với truyền thống hiếu ḥa và bản chất hiếu khách đă biết bao phen mở rộng ṿng tay để cho giáo sĩ và giáo dân tự do hành đạo. Khốn nỗi, các cố đạo “cứ được đằng chân lại lân đằng đầu” trong mưu đồ thôn tính Việt Nam cho nên mới có t́nh trạng cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng, các vua chúa nhà Nguyễn phải cấm đạo, giết đạo, sĩ phu Việt Nam phải phất cờ “B́nh Tây Sát Tả”. Những hành động đó tuy tàn ác nhưng lại là những biện pháp bắt buộc để cứu nước cứu dân trong t́nh thế quê hương lúc bấy giờ, một quê hương loạn ly tang tóc do chính các giáo sĩ và giáo dân gây ra mà nhà trí thức Công giáo Etienne Vơ Đức Hạnh lại cố t́nh để cao và bênh vực họ.

Vào cuối đời vua Tự Đức, đất nước từ từ mất dần về tay người Pháp. Rồi đến năm 1884, với hiệp ước kư kết giữa đại diện Pháp là Patenôtre và đại diện triều đ́nh An Nam là Nguyễn Văn Tường và Phạm Trọng Duật, th́ nước Việt Nam bị chia thành ba kỳ: Nam kỳ thuộc địa có quy chế như một tỉnh hạt của Pháp quốc do một Thống đốc Pháp cai trị, Bắc kỳ Bảo hộ do một thống sứ Pháp cai trị, và Trung kỳ Bảo hộ do một khâm sứ Pháp đứng đầu. Đối với xứ Bảo hộ Trung kỳ từ Thanh Hóa đến Phan Thiết, Pháp vẫn giữ lại nền quân chủ có vua và triều đ́nh với chút hư quyền, hư danh. (V́ vậy, từ đây, kẻ viết xin gọi nhà Nguyễn từ thời nước nhà bị đô hộ là nhà Mạt Nguyễn).

Thời Mạt Nguyễn, trừ vua Đồng Khánh là một ông vua hiền hậu nhưng chỉ ngồi trên ngai vàng được có ba năm rồi chết, c̣n những vị vua khác, có ông th́ là vua cách mạng, có ông th́ thuộc loại vua bù nh́n.

Về cách mạng th́ có:

Vua Hàm Nghi (1884) bỏ kinh thành ra Tuyên Hóa (Quảng B́nh) lập chiến khu, phất cao ngọn cờ Cần Vương chống Pháp. Rồi v́ thân cô thế yếu, lại bị một tên Mường (Trương Quang Ngọc) phản bội bắt Ngài giao cho Pháp nên bị Pháp đem đày ở Algérie.

Vua Thành Thái (1888-1920), lên ngôi khi mới 10 tuổi, là vị vua thông minh uyên bác, thấm nhuần tư tưởng cách mạng Trung Hoa và Nhật Bản, muốn thực hiện công cuộc cải cách quốc gia, đưa dân tộc đến con đường tân tiến. Nhưng tất cả việc làm của ông đều bị người Pháp ngăn trở, Vua tức giận giả cách điên rồ, ngấm ngầm xướng xuất đưa thanh niên ra nước ngoài cầu học để dùng vào đại cuộc sau này. Chính nhà vua cũng âm mưu xuất ngoại nhưng sự không thành nên năm 1907, khi Pháp ḍ biết được vua liên lạc với Phong Trào Đông Du để cầu viện Nhật Bản, bèn bắt  ép vua thoái vị và đày qua đảo Réunion ở Ấn Độ Dương.

Vua Duy Tân (trị v́ từ 1907-1916) là con vua Thành Thái, c̣n nhỏ tuổi mà đă nhiều phen bộc lộ nỗi căm thù thực dân Pháp. Nhân một buổi bơi thuyền câu cá ở cửa Tùng (Quảng Trị), nhà vua ra một câu đối cho thượng thư Nguyễn Hữu Bài, người của Pháp, để ḍ xem ḷng dạ ông này như thế nào:

Ngồi trên nước khôn ngăn được nước,

Trót buông câu đă lỡ phải lần.

Đáp lại, thượng thư Nguyễn Hữu Bài khuyên nhà vua nên nhắm mắt chịu thua thời cuộc:

Ngẫm việc đời mà ngán cho đời,

Liều nhắm mắt tới đâu hay đó.

Vua Duy Tân liền phán: “Thầy th́ hay liều thôi chứ không bao giờ nghĩ cách đương đầu với nghịch cảnh”. Tất nhiên, làm sao ông Nguyễn Hữu Bài, con đẻ của Hội Truyền Giáo Hải Ngoại, có thể đương đầu với thực dân Pháp được.

Tuy nhiên, vua Duy Tân vốn ư chí bất khuất nên quyết tâm đợi thời cơ để làm cách mạng phục hồi nền độc lập cho đất nước. Thế chiến thứ nhất xảy ra đă là một cơ hội tốt đẹp, rồi lại gặp được các đồng chí yêu nước như hai ông Trần Cao Vân và Thái Phiên hết ḷng hỗ trợ, nên Ngài bèn quyết định phất cờ khởi nghĩa. Chẳng may quốc vận c̣n gặp lúc truân chuyên, việc đại nghĩa của vua Duy Tân thất bại, Ngài bị bắt và bị đày qua đảo Réunion lúc mới 17 tuổi.

Trong thế chiến thứ Hai, hoàng tử Vĩnh San (tức là vua Duy Tân) có một thời gian mang cấp bậc Thiếu tá của Pháp. Ngày 10 tháng 6 năm 1945, Ngài đă lên tiếng trên đài phát thanh Brazzaville thuộc Pháp, đại ư hô hào toàn dân Việt Nam nên nghe theo tiếng gọi của tổ quốc mà đứng lên xây dựng nước nhà, nêu cao danh dự cho giống ṇi.

Ngày 26 tháng 12 năm 1945, Ngài bị chết trong một tai nạn máy bay ở xứ Bangui thuộc Trung Phi. Theo dư luận hồi đó th́ cái chết thê thảm này có nhiều chi tiết bí ẩn, có giả thiết cho rằng chính thực dân gây nên để chặn đường về nước của một nhà ái quốc được toàn dân tín nhiệm [11].

Thế là nhà Mạt Nguyễn có ba vị vua yêu nước và có tinh thần cách mạng bị Pháp bắt đi đày ở Châu Phi. Sự kiện đó đă phần nào trực tiếp đóng góp cho quyết tâm đấu tranh chống Pháp của sĩ phu trong nước và trở thành đề tài gây xúc động cho nhiều văn nghệ sĩ yêu nước lúc bấy giờ. Nhà Nho Phan Quốc Quang, hiệu là Thượng Tân Thị, quê ở Thừa Thiên, cảm xúc cảnh cha con vua Thành Thái v́ nước v́ dân mà bị đọa đày, ông bèn thác lời vợ vua làm ra mười bài thơ nhan đề là Khuê Phụ Thán được truyền tụng trong nhân gian mà vào thời Pháp đô hộ, ai đọc lên cũng không cầm được nước mắt. Bài thơ nói lên nỗi ḷng cô đơn lẻ bóng của một người khuê phụ nơi quê nhà ngày đêm mỏi ṃn đợi chồng trông con:

Khô héo lá gan cây đỉnh Ngự,

Đầy vơi giọt lệ nước sông Hương.

Nỗi đau xót của một người đàn bà trước thảm cảnh quê hương dâu bể, tử biệt sinh ly, đă làm cho sông núi cỏ cây, vốn là vật vô t́nh mà cũng phải “giọt lệ đầy vơi, can trường khô héo”.

Sau những vùng vẫy tuyệt vọng của vua Duy Tân, các vị vua c̣n lại của nhà Mạt Nguyễn chỉ là những đóm lửa le lói của một triều đại đang đến hồi suy tàn, nhất là lúc đó chính quyền thực dân đă đủ thời gian và lực lượng để củng cố bộ máy bảo hộ của họ, cũng như lúc đó quần chúng đă ư thức được nhiệm vụ năng động đích thực của ḿnh để đứng lên thay vua mà cứu nước.

Cho nên hai vị vua c̣n lại là Khải Định và Bảo Đại chỉ hành xử như những vị vua bù nh́n, hoặc cúi đầu tuân phục lệnh người Pháp như vua Khải Định, hoặc cô đơn buông xuôi theo số mệnh như vua Bảo Đại mà thôi.

Thật vậy, vua Khải Định (trị v́ từ 1916–1925) bị sĩ phu lên án là Việt gian, bù nh́n, khoán trắng việc nước vào tay thực dân Pháp. Cụ Phan Chu Trinh đă từng gọi vua Khải Định là “Dân Tặc”, và năm 1922, khi vua Khải Định sang Pháp dự cuộc triển lăm quốc tế, cụ Phan đă gởi một lá thư trách nhà vua bảy điều: Tôn bậy quân quyền, Lạm hành thưởng phạt, Thích chuộng hư văn, Xa xỉ quá mức, Phục sức lố lăng, Chơi bời vô độ, và Hành động ám muội trong việc bang giao với Pháp.

C̣n cụ Nghè Ngô Đức Kế, hiệu là Tập Xuyên, chủ bút báo Hữu Thanh, năm 1924 th́ lại châm biếm bằng bài thơ lên án Khải Định như sau: [12]  

HỎI GIA LONG

            Ai về địa phủ hỏi Gia Long,

Khải Định thằng này phải cháu ông?

Một lễ tứ tuần vui lũ trẻ,

Trăm gia ba chục khổ nhà nông.

Mới rồi ngoài Bắc tai liền đến,

Năm ngoái sang Tây ỉa văi cùng.

Bảo hộ trau dồi nên tượng gỗ,

Vua thời c̣n đó, nước thời không.

Vua Bảo Đại (1925–1945), vị vua cuối cùng của nhà Nguyễn, là con trai độc nhất của vua Khải Định, nhưng đặc biệt diện mạo cùng phong độ lại khác hẳn vua cha. Ông có nét mặt chữ điền, đi đứng nghiêm trang, ăn nói đàng hoàng, dáng điệu đường bệ chững chạc. Rất nhiều tài liệu cho thấy ông Bảo Đại không phải là con ruột của vua Khải Định, v́ vua Khải Định mang bịnh bất lực không thể gần gũi đàn bà.

Vua Bảo Đại húy là Vĩnh Thụy, sinh năm 1913 (Quư Sửu) tại kinh thành Huế. Ngày 28 tháng 4 năm 1922, ông được vua cha tấn phong làm Đông Cung Hoàng Thái Tử, nghĩa là tước vị của một thái tử sẽ được quyền nối ngôi vua. Ngày 15 tháng 5 năm 1922, khi ông mới lên chín tuổi, th́ được vua cha và chính phủ Bảo Hộ cho đi Pháp du học. Trong thời gian ở Pháp, ông được vua Khải Định gởi gấm cho ông Charles (một vị cựu khâm sứ Trung kỳ) để giám hộ như một người cha nuôi săn sóc trông coi. Năm 1925, khi vua Khải Định băng hà, Bảo Đại về nước để chịu tang và để làm lễ đăng quang lên ngôi Hoàng Đế. Sau đó, ông trở lại Pháp để tiếp tục việc học cho đến năm 1932 th́ về nước vĩnh viễn, và chính thức tức vị để điều khiển triều đ́nh An Nam.

Nhân dân ta từ ngày bị Pháp đô hộ vẫn liên tục kiên cường chiến đấu chống lại kẻ thù xâm lăng. Ngay cả dưới triều Khải Định mà việc nước hầu như đă khoán trắng cho thực dân Pháp và cho Hội Truyền Giáo Hải Ngoại Pháp qua ông Vơ Hiển Nguyễn Hữu Bài (nhất là trong khoảng thời gian 1925–1932, từ khi vua Khải Định băng hà cho đến ngày ông Bảo Đại về nước chấp chánh), lửa cách mạng vẫn hừng hực cháy trong ḷng dân tộc Việt. Ngọn lửa đó đă được đốt bừng lên và được nuôi dưỡng mạnh nhờ ảnh hưởng của bản án tử h́nh chí sĩ Phan Bội Châu. Lửa cách mạng mănh liệt đến nỗi trước cao trào đấu tranh của toàn dân phản kháng bản án này, thực dân đành phải hủy bản án và đem Cụ về quản thúc tại kinh thành Huế (1925). Trong khoảng thời gian đó, những phong trào cách mạng và những biến động quan trọng đă liên tiếp xảy ra: đảng Tân Việt Cách Mạng gồm đa số là những trí thức trẻ ra đời tại Huế, phong trào Sô Viết nổi lên ở Nghệ Tĩnh và cuộc nổi loạn đẫm máu của Việt Nam Quốc Dân Đảng ở Bắc Việt do anh hùng Nguyễn Thái Học cầm đầu. Lại c̣n ảnh hưởng của phong trào Cường Để tại hải ngoại, của Phong Trào Đông Kinh Nghĩa Thục, của cuộc tranh đấu đ̣i dân quyền của chí sĩ Phan Chu Trinh… tất cả đă là những hỏa sơn ầm ĩ cháy trong ḷng dân tộc. V́ vậy, trước ư chí đối kháng của nhân dân để bày tỏ sự bất măn đối với chế độ bảo hộ và nhất là đối với triều đ́nh mục nát già nua, người Pháp bèn lợi dụng việc vua trẻ Bảo Đại hồi loan để trẻ trung hóa triều đ́nh, và hứa sẽ để cho nhà vua thực hiện một số cải cách mong xoa dịu ḷng dân, mà việc đầu tiên là sa thải lớp quan lại già cả về hưu trí để thay thế bằng một lớp người trẻ trung hơn.

Những quan lại lớn tuổi này chẳng những là lớp người lạc hậu không hợp thời để theo kịp với dân trí mỗi ngày một tiến bộ, mà đa số những vị quan này là những nịnh thần tham nhũng, làm tay sai cho Pháp. Bài thơ của Cụ Nghè Ngô Đức Kế dưới đây đủ nói lên cái tư cách của lớp quan lại áo măo xênh xang mà thật ra chỉ là những con bung xung làm gai mắt mọi người:

Cu li đành phận chớ ra oai,

            Chuyên chế ăn quen thói cũ hoài.

            Quân chủ cờ bay vui trước mắt,

            Dân quyền trống đánh chán bên tai.

            Bài, Liêm giảo hiểm khoe tài trí

            Huề, Thụ thông minh gọi bất tài.

            Cấm hết công môn tiền hối lộ,

            Ngoài ra Tiềm Để mặc ḷng ai. [13]

(Bài, Liêm, Huề, Thụ là tên bốn vị Thượng thư mà Bài tức là ông Nguyễn Hữu Bài người đỡ đầu cho ông Diệm, và Huề tức là ông Thân Trọng Huề, ông ngoại của bà Ngô Đ́nh Nhu).

Trong lớp quan lại già nua đó, người nổi tiếng nhất là ông Nguyễn Hữu Bài. Nổi tiếng v́ ông đă là tay sai đắc lực nhất của hai thế lực Thực Dân lúc bấy giờ. Một là hệ thống cai trị của Pháp, và một là hội Truyền giáo Hải ngoại Pháp. Ông cũng nổi tiếng v́ với tư cách đó, ông lại là vị tể tướng cầm đầu triều chính trong thời gian vua Bảo Đại du học tại Pháp, quả thật ông Nguyễn Hữu Bài là một thứ vua không ngai. Thời bấy giờ, số phận quan lại từ trên xuống dưới đều nằm trong tay ông, đời sống nhân dân cũng nằm trong tay ông qua những chính sách ông đề nghị với chính phủ Bảo Hộ.

Theo giáo sư Nguyễn Văn Xuân th́ ông Nguyễn Hữu Bài có đến 5 đồn điền chung quanh Huế, có đồn điền rộng đến cả 1.000 mẫu ruộng. Phê b́nh ông Nguyễn Hữu Bài, vị giáo sư đại học Huế đă viết:

Đối với chúng ta, ngày nay có thể công kích Nguyễn Hữu Bài, ông gia của Ngô Đ́nh Khôi và ông gia hụt của Ngô Đ́nh Diệm, cho rằng chỉ là một thứ “bồi Tây” dù ông được liệt vào hạng “Đày vua không Khả, đào mả không Bài”, và những nhàn điền (đồn điền) của ông chỉ theo phương thức bóc lột tư bản Tây phương tàn nhẫn và trong sự thật cũng đáng gọi là tên chủ đồn điền quỷ quyệt [14].

Ngoài ra trong tác phẩm “Hoàng Tử Vĩnh Sang” của sử gia Vũ Ngự Chiêu (tr. 113–114) có trích đăng một lá thư của vua Thành Thái từ Saint Denis gởi về cho vợ, tố cáo Thượng Thư Nguyễn Hữu Bài – trong cuộc nổi dậy của vua Duy Tân – đă lập kế xúi dục vua Duy Tân bỏ Đại nội ra ngoài Hoàng thành để Tây bắt.

Với một thành tích tay sai đắc lực của hai thứ thực dân như thế, và với sự tích lũy tài sản lớn lao như thế mà lại tự xưng là người có ḷng yêu nước yêu vua, dám “đày vua không Khả, đào mả không Bài” th́ quả thật là một sự lạ đối với người có hiểu biết về tâm lư t́nh báo và lư luận chính trị. C̣n ông Ngô Đ́nh Khả th́ lại là người đă theo đại Việt gian Nguyễn Thân cầm quân đánh phá chiến khu Phan Đ́nh Phùng, đào mả Cụ lên rồi lấy thuốc súng trộn với thi hài Cụ bắn đi cho mất tích (tài liệu của tạp chí Lên Đường số ra mắt, Houston, trong phần phụ lục E). Ngoài ra, qua bức thư gởi cho Toàn quyền Decoux, giám mục Ngô Đ́nh Thục (xem phần phụ lục) xác nhận Cụ Ngô Đ́nh Khả và hai con Ngô Đ́nh Khôi, Ngô Đ́nh Diệm đều là tay sai đắc lực của thực dân Pháp.

C̣n trường hợp ông Nguyễn Hữu Bài không kư giấy đào mả vua cần được phân tách kỹ càng hơn. Theo tác phẩm “Hồ sơ Vua Duy Tân” mà cụ Hoàng Trọng Thược, một nhân sĩ người Huế và cũng là một nhà viết sử, th́ Nguyễn Hữu Bài là người mà vua Duy Tân không ưa mấy, nhất là lúc ông Nguyễn Hữu Bài cho đào đất t́m vàng trong Đại nội. Vua hỏi:

- Đại nội nầy thuộc về ai rứa thầy?

- Tâu: của Vua.

- Vậy tôi có bảo đào đâu?

- Tâu: v́ kho ta thiếu tiền và người Pháp đang đánh nhau với Đức.

- Nước Pháp bị xâm lăng chứ nước ta không bị xâm lăng đó sao?

Nguyễn Hữu Bài vâng đầu bái phục. Song v́ t́nh thế, Ấu Chúa cũng không làm sao ngăn được việc làm của người Pháp.

Đất cấm địa nơi vua đang ở và vua c̣n sống, mà ông Nguyễn Hữu Bài dám cho đào lên để t́m vàng dâng cho Tây, th́ câu “Đày vua không Khả, đào mả không Bài” có c̣n ư nghĩa là câu truyền tụng để “vinh danh” cho ông Nguyễn Hữu Bài nữa hay không?!

Để những nhà Sử học có thêm tài liệu nghiên cứu về tội làm tay sai cho thực dân Pháp và cho Hội Truyền Giáo Hải Ngoại Pháp của ông Nguyễn Hữu Bài và cha con ông Ngô Đ́nh Khả, tôi xin đề nghị quư vị đọc thêm các tác phẩm khác như “Hồ Chí Minh Con Người và Huyền Thoại” của Chính Đạo, như “Hoàng Tử Vĩnh Sang” của Vũ Ngự Chiêu, như “Việt Nam Niên Biểu Nhân Vật Chí” của Chính Đạo do nhà xuất bản Văn Hóa (Houston, Texas, Hoa Kỳ) phát hành.

Trong kế hoạch trẻ trung hóa triều đ́nh này, vua Bảo Đại đă đồng ư trọng dụng hai nhân vật nổi tiếng là hai ông Ngô Đ́nh Diệm và Phạm Quỳnh. Ông Ngô Đ́nh Diệm là một vị Tuần Vũ 32 tuổi của một tỉnh nhỏ (B́nh Thuận), được Vơ Hiển Nguyễn Hữu Bài tiến cử giữ chức Thượng thư Bộ Lại đầu triều. Và ông Phạm Quỳnh là một học giả chủ nhiệm báo Nam Phong, nhưng đồng thời cũng là bạn thân của Marty (Giám đốc sở Chính trị của Phủ Toàn quyền), được cử giữ chức Thượng thư Bộ Giáo dục kiêm Ngự tiền văn pḥng của Hoàng Đế. Khi chấp nhận hai vị Thượng thư này, rơ ràng trong sự chọn lựa chính trị của vua Bảo Đại, yếu tố “trẻ” không phải là yếu tố quyết định nhất mà chính v́ với một Ngô Đ́nh Diệm trung quân, rường mối nhà Nguyễn sẽ vững vàng không lo hậu họa, và với một Phạm Quỳnh thân Pháp, tương quan Pháp Việt sẽ dễ dàng hơn để có thể thực hiện những cải tổ cần thiết. Hai vị đại thần đó sẽ bổ túc cho nhau để giúp cho vua Bảo Đại vận hành triều đ́nh An Nam để có thể thực hiện những cải cách xă hội mà người Pháp đă hứa hẹn với ông.

Nhưng bao nhiêu lời hứa hẹn của thực dân đều như nước chảy qua cầu, dân bị trị vẫn là dân bị trị, vua bù nh́n vẫn là vua bù nh́n. Vua Bảo Đại bất lực bó tay để đi từ bất măn đến chán nản, Thượng thư Ngô Đ́nh Diệm xin từ quan, việc triều chính nằm trong tay ông Phạm Quỳnh và người Pháp. Do đó, trong thời gian làm vua, ông Bảo Đại chỉ c̣n biết săn bắn và thể thao, thường sống ở đồn điền Quảng Trị, ở Bạch Mă, Đà Lạt hơn là giam ḿnh trong bốn bức tường thành nội cung với cỏ mọc rêu phong. Từ khi chấp chánh cho đến ngày 9 tháng 3 năm 1945 (ngày Nhật Bản đảo chánh), ông cố giảm thiểu càng ít càng tốt mối ràng buộc với Pháp trong những chính sách thất nhân tâm. Công việc của ông chỉ là công việc tế lễ, như lễ ở Nam Giao, cúng kỵ các tiên vương, ban phát sắc bằng huy chương cho hàng quan lại, c̣n mọi việc cai trị ông giữ thế mắt đui tai điếc. Thần dân chỉ biết ông Bảo Đại là một vị vua bù nh́n mà có ai hiểu nỗi tâm sự thầm kín của ông đâu.

Ông Bảo Đại làm vua bù nh́n nhưng nếu những ai đă từng sống đồng thời với ông, chịu khó quan sát cảnh ngộ của ông ta đều phải nhận rằng nếu ta ở vào địa vị của ông th́ cũng khó thể làm ǵ được khác hơn. Vua Bảo Đại hoàn toàn bị bao vây kềm kẹp, nhất cử nhất động của ông ta đều bị thực dân theo dơi kiểm soát gắt gao. Họ đặt quan hầu người Pháp bên cạnh, họ lập cho ông một đội lính khố vàng (Ngự Lâm Quân) do viên Đại úy Bond trực tiếp chỉ huy, đóng ngay trong Hoàng thành để canh chừng những hành động chống đối của nhà vua. Họ đặt các vị Thượng thư toàn là tay chân thân tín của họ để ngăn cản vua mưu đồ thực hiện những cuộc cải cách, hay những âm mưu nổi loạn như các vua tiền triều. Thế mà người Pháp vẫn chưa vừa ḷng, họ c̣n đặt những viên cố vấn người Pháp gọi là Hội lư bên cạnh các vị Thượng thư để kiểm soát các vị này, và để triều đ́nh An Nam thi hành cho đúng những chỉ thị do Toàn Quyền và Khâm Sứ ban bố.

Vừa không đủ khả năng và điều kiện nhân tâm cũng như điều kiện hoạt động để phát khởi một cuộc đấu tranh, vừa phải khôn khéo hóa giải những áp lực chính trị có thể làm sụp đổ vĩnh viễn triều đại nhà Nguyễn, vua Bảo Đại chỉ c̣n hai chọn lựa: hoặc làm một vị vua tay sai mang tội với lịch sử, hoặc làm một vị vua bù nh́n bất lực cho hậu thế chê cười. Và ông đă chọn lựa. Hậu thế chỉ có thể chê cười mà không thể kết ông tội bán nước hay tay sai.

Hăy nh́n vào cuộc hôn nhân của ông Bảo Đại để thấy chính sách cai trị thâm độc và chặt chẽ của thực dân, để nh́n thấy những kế hoạch đường dài và những toan liệu kỹ lưỡng của sự cấu kết giữa chính quyền thực dân Pháp và Hội Truyền Giáo Hải Ngoại Pháp.

Trong những năm cuối cùng của Bảo Đại ở Pháp vào lúc đă ở tuổi trưởng thành, họ cho một nữ sinh tên là Marie Thérèse Nguyễn Thị Lan, con một nhà phú hộ theo Công giáo là ông Nguyễn Hữu Hào ở Nam Kỳ, đi Pháp du học. Tất nhiên cô Marie Thérèse phải là một tiểu thư dù không hoàn toàn sắc nước hương trời th́ vẫn có được cái đẹp kiều diễm đài các để có thể làm rung động trái tim của một nhà vua trẻ đang đến tuổi rạo rực t́nh yêu đôi lứa. Trong thời kỳ ông Bảo Đại c̣n bận học hành, họ chưa cho đôi trai tài gái sắc gặp nhau, mà đợi đến khi ông xuống tàu về nước chính thức cầm đầu triều đ́nh, đến khi ông thấy ḿnh đă trưởng thành và có trách nhiệm với quốc dân th́ họ mới tổ chức cho Marie Thérèse Nguyễn Thị Lan gặp ông Bảo Đại. Ban đầu họ cho cô Lan lân la gần ông mỗi khi ông đứng một ḿnh trên boong tàu nh́n ngắm sóng nước trùng dương. Cho đến khi hai người đă vượt khỏi giai đoạn khách sáo sơ giao th́ họ bắt đầu tổ chức cho đôi uyên ương khắng khít nhau hơn trong những buổi dạ hội trên chuyến tàu xuyên đại dương bất tận.

Chỉ tội nghiệp cho bà Từ Cung Thái Hậu, v́ trong lúc con ḿnh ở nơi đất khách quê người th́ bà đă lo nghĩ đến tương lai của ḍng họ, đă nghĩ đến việc t́m bạn trăm năm cho con. Tại Huế, Bà đă cho ḍ xét thân thế, phẩm hạnh, sắc đẹp của bao nhiêu tiểu thư khuê các, con những vị đại thần để Bà có thể lựa chọn một nàng dâu cho Hoàng tộc, một Hoàng Hậu tương lai cho nước An Nam. Bà đă chọn được một nữ sinh con một vị đại quan có sắc đẹp nghiêng nước nghiêng thành mà bà mẹ của tiểu thư đó cũng sùng mộ đạo Phật như Bà. (Tiểu thư này sau lấy chồng họ Phạm, giáo sư trường Quốc học Huế). Bà chỉ đợi con ḿnh ngự giá hồi loan chính thức điều khiển việc nước là làm lễ thành hôn cho đôi lứa. Cuộc đời của Bà xuất thân từ nơi dân giả, phúc đức cha ông đẩy đưa Bà được tiến cung làm Hoàng Hậu nên Bà cố học hỏi cho thành người đài các chốn vi cung, cố trau dồi đức hạnh cho thành người vợ hiền dâu thảo. Nhưng chẳng may chồng mất sớm, Bà lại chỉ có một mụn con trai nên Bà thiết tha mong cho con trưởng thành để nối nghiệp vua cha và nối dơi tông đường. V́ thế, đối với Bà, việc t́m kiếm một nàng dâu đức hạnh mọi bề là điều quan trọng thiết yếu nhất. Quan trọng v́ không phải chỉ thương con mà c̣n v́ danh dự triều đại nhà Nguyễn nữa.

Bà không ngờ rằng trong lúc Bà đang sống những giây phút rộn ràng của bất kỳ một người mẹ nào đang lo chuyện trăm năm cho con th́ người Pháp, ở trong những văn pḥng của các thế lực giáo quyền và thế quyền, cũng âm thầm thực hiện âm mưu vượt quyền hạn và giết giấc mơ của Bà để cưới vợ cho vua Bảo Đại dựa vào những tiêu chuẩn chính trị của chính sách bảo hộ lâu dài.

Vua Bảo Đại về nước được một thời gian, việc triều chính tạm yên th́ vợ chồng ông Charles, người giám hộ, bắt đầu lo chuyện thành hôn cho ông. Vào khoảng cuối năm 1933, ông bà Charles rủ vua Bảo Đại đi Đà Lạt, tại khách sạn Lang Biang huy hoàng tráng lệ, bà Charles dẫn tiểu thư Marie Thérèse chính thức giới thiệu với nhà vua trẻ tuổi trước sự chứng kiến của quan Toàn quyền Pierre Pasquier. Tất nhiên khi đă có phù phép của chúa tể thực dân tại Đông Dương th́ cuộc hôn nhân chính trị giữa vua Bảo Đại và cô Nguyễn Thị Lan nhất định phải thành. Nó phải thành trên nỗi đau khổ cay đắng của Bà Từ Cung, của những vị đại thần trong Tôn Nhân Phủ và của cả Hoàng gia. Đó là lần đầu tiên trong lịch sử nước nhà, triều đ́nh Việt Nam có một vị Hoàng Hậu theo Công giáo La Mă qua sự sắp đặt của các thế lực phương Tây. Sau 400 năm, công tác truyền giáo đạt đến cao điểm bằng sự có mặt của một nữ tín đồ trong chốn thâm cung của triều đ́nh Việt Nam. Và cô Marie Thérèse từ nay được mang danh hiệu là Nam Phương Hoàng Hậu.

Lịch sử đế quốc thực dân Pháp đă cho thấy rằng Hội Truyền Giáo Hải Ngoại Pháp luôn luôn chủ trương Công giáo hóa Việt Nam, không chỉ là đối với người Việt Nam thuộc hàng dân dă mà chủ yếu là hạng người Việt Nam thuộc đẳng cấp cao nhất của triều đ́nh. Thời Nguyễn Ánh, Pigneau de Béhaine đă khuyến dụ được Hoàng Tử Cảnh, nay đến thời vua Bảo Đại họ đặt một hoàng hậu người Công giáo th́ tất nhiên trong tương lai vị vua kế vị ông Bảo Đại cũng sẽ là một ông vua đă được rửa tội từ lúc mới sinh ra để tô bồi cho “la fille ainée de l’Eglise en Extrême Orient” (Trưởng nử cuả Giáo hội tại Viễn đông)

Chẳng thế mà vị đại diện ṭa Thánh ở Đông Dương, Đức Khâm Mạng Drapier, đă tôn vinh cuộc hôn nhân Bảo Đại - Nguyễn Thị Lan trong cuốn Lịch sử đạo Thiên Chúa ở Việt Nam. Trong bài đề tựa cuốn sách, sau khi ca ngợi sự bành trướng của đạo Công giáo La Mă trên mảnh đất thuộc địa màu mỡ, Đức Khâm Mạng Drapier huênh hoang viết:

“… Việc kể ra cũng đi theo một thứ tự với lịch sử thế tục v́ đời sống của Công giáo đă lẫn với đời sống xă hội Việt Nam từ bốn trăm năm nay. Trong khoảng thời gian ấy, có hai việc cách nhau hàng trăm năm đă tỏ rằng Công giáo bao giờ cũng “trung thành với đế quốc Việt Nam”(sic). Việc đức giám mục D’Adran giúp nhà Nguyễn và việc đức Bảo Đại phong (?) lên ngôi Hoàng Hậu một thiếu nữ ḍng dơi vọng môn Công giáo hồi đầu chiến tranh  [15].

Tuy nhiên đây là một cuộc hôn nhân dị giáo trái với giáo luật thời bấy giờ nhưng tại sao Bảo Đại vẫn cưới được Nguyễn Thị Lan. Th́ ra thực dân đă có kế hoạch sẵn. Theo cuốn “Việt Nam Niên Biểu Nhân Vật Chí” của Chính Đạo (tr. 36, 37) th́:

Năm 1934: Lấy Nguyễn Hữu Thị Lan, con gái một đại điền chủ miền Nam. V́ Thị Lan có đạo Kitô, gây nhiều trở ngại. Ngô Đ́nh Thục cực lực chống đối v́ theo đúng phéo đạo Kitô, Bảo Đại phải “rửa tội” rồi mới được thành hôn. Sau đó, Pháp dàn xếp cho một giáo sĩ ngoại quốc bí mật làm lễ cưới theo phép đạo. Như thế Bảo Đại trở thành vua Kitô đầu tiên trong lịch sử Việt Nam.

Cũng trong cuốn sách này, Đức Khâm Mạng lại trách móc những phản kháng của người Việt Nam mà đại diện là giới sĩ phu nho sĩ: “Núp ḿnh sau bức thành chữ Nho, các nhà cựu học không thể nhận được Tin Lành Cứu Thế. Các nhà tân học chịu ảnh hưởng một nền giáo hóa thế tục cố t́nh không muốn biết đến đạo lư Gia Tô”.[16]

Lúc nêu lên hai sự kiện lịch sử của thời Gia Long và thời Bảo Đại, cũng như lúc chê bai giới sĩ phu VN, Đức Khâm Mạng Drapier muốn chứng tỏ một cách công khai rằng quá tŕnh phát triển của Công giáo tại Việt Nam luôn luôn gắn liền với giai cấp triều đ́nh quư tộc ở mức độ cao nhất, và có cả “Thế” lẫn “Lực” mạnh nhất trên đất nước Việt Nam này mà thể hiện rơ ràng nhất (của sự liên tục này) là Thượng thư đầu triều Nguyễn Hữu Bài khi từ chức đă đề cử (và đă được chấp thuận) một vị khác thế ḿnh, ông Ngô Đ́nh Diệm, mà cả hai người, cũ cũng như mới, đều có những liên hệ chặt chẽ trên cả hai mặt đức tin lẫn sự tuân phục với Hội Truyền Giáo Hải Ngoại.

Nói cho đúng, từ khi gặp cô Marie Thérèse trên chuyến tàu hồi hương cho đến tận khi lập thành Hoàng Hậu, ông Bảo Đại không cảm thấy bị ép buộc và t́nh yêu đôi lứa hẳn phải có sự đồng thuận của cả hai bên. Tuy nhiên, điểm đáng nhấn mạnh ở đây là t́nh yêu đó được tác thành trong một thủ đoạn chính trị vượt hẳn sự sáng suốt của một người thanh niên đang ngụp lặn trong t́nh yêu, như Lư Bạch ngày xưa ngây ngất nhảy xuống nước ôm trăng mà không biết ḿnh sẽ vùi thân dưới ḍng sông lạnh.

Trường hợp hôn nhân của vua Bảo Đại và cô Marie Thérèse chỉ là một trong rất nhiều h́nh thái kiểm soát, vận dụng, khai thác một vị vua của các thế lực thế quyền và giáo quyền Pháp. Tôi muốn nêu lên trường hợp đó là để chứng minh rằng ông Bảo Đại dù có muốn cũng không thể làm ǵ hơn được, dù có lúc ông đă muốn có những cải cách, những vận động để cứu triều đại nhà Nguyễn và cứu chính nước Việt Nam của ông. Trôi nổi trong một hoàn cảnh như thế, sự bất lực chính trị đă biến sự bất măn thành ra một sự chán nản tâm lư và sinh lư. Ông chỉ c̣n biết mượn những thú thể thao để khuây khỏa cho phù hợp với thói quen phóng khoáng của cuộc sống Paris mà ông đă bị điều kiện hóa từ ngày ông du học ở Pháp.

Năm 1945, sau khi được tiếp xúc nhiều lần với vua Bảo Đại, học giả Trần Trọng Kim đă có nhận xét: “Vua Bảo Đại thông minh, am hiểu t́nh h́nh. Trong thời Bảo hộ của nước Pháp, h́nh như Ngài chán nản không làm ǵ cả, chỉ săn bắn và tập thể thao. Ngài có vẻ trang nghiêm và nói những điều rất đứng đắn”[17]. Học giả Trần Trọng Kim quả thật đă mô tả đúng tâm sự của một con người bất đắc dĩ phải làm vua bù nh́n, làm một vị vua không nổi loạn được v́ bị kềm kẹp, không làm tay sai được v́ ḷng yêu nước nồng nàn, và nhất là không tự xử thân mạng được v́ trách nhiệm duy tŕ ḍng dơi nhà Nguyễn.

Khi Nhật đảo chánh Pháp ngày 9 tháng 3 năm 1945, ông Bảo Đại đă biết lợi dụng vận hội mới đó để khước từ dĩ văng đau thương, ông đă tuyên bố Độc Lập cho Việt Nam, xé bỏ mọi hiệp ước liên hệ với nước Pháp, chấm dứt nền đô hộ gần trọn thế kỷ. Có lẽ sẽ có người cho rằng súng đạn và sức mạnh của quân đội Nhật Bản đă giúp cho ông Bảo Đại có ḷng yêu nước. Nói thế quả thật tội nghiệp cho ông ta bởi v́ ngày 16 tháng 8 năm 1945, khi Nhật Bản sửa soạn đầu hàng Đồng Minh và nước Pháp của De Gaulle đang sửa soạn đổ bộ để tái chiếm Việt Nam, ông vẫn có can đảm và sáng suốt gởi thông điệp cho Tổng thống Truman để nhờ Tổng thống Mỹ gởi lời phản kháng đến Tổng thống De Gaulle:

Hoàng Đế Bảo Đại

Gởi Tổng Thống Truman

Được tin Chủ tịch Chính phủ Lâm thời Pháp sẽ yết kiến Các hạ để giải quyết t́nh thế tương lai của Đông Dương, Quả nhân xin tin Các hạ biết rằng các nước Đông Dương đă tuyên bố độc lập và quả quyết giữ vững nền độc lập ấy.

Riêng về phần dân tộc Việt Nam, chúng tôi không coi kiều dân Pháp là kẻ thù, lại trọng nhân mạng và tài sản của họ, nhưng chúng tôi sẽ cực lực phản kháng việc nước Pháp lập lại nền thống trị của họ trên đất nước Việt Nam bất cứ theo một chế độ nào.

Chính sách thực dân nay không hợp thời nữa! Một dân tộc Việt Nam đă có bốn ngàn năm lịch sử và một dĩ văng vẻ vang không thể chịu ở dưới quyền một dân tộc khác.

Nước Pháp nên cúi đầu theo lẽ công bằng ấy, mà Mỹ quốc là một nước hào hiệp đă từng công khai tuyên bố và bảo vệ điều đó.

Nước Pháp phải vui ḷng thừa nhận chân lư đó để tránh khỏi tai vạ và để cho chiến tranh đừng xảy ra trên đất nước chúng tôi. Trong cuộc chiến tranh vừa kết liễu, dân tộc chúng tôi tuy không tham chiến mà cũng đă chịu bao nhiêu nỗi khổ, nên chúng tôi chỉ mong tham dự vào một cuộc kiến thiết mới: kiến thiết một nền ḥa b́nh với công lư trên toàn thế giới.

Quả nhân nhờ Các hạ chuyển đạt thư này sang quư chính phủ của hai nước Anh Quốc và Trung Hoa.

Bảo Đại

Đồng thời với bức thông điệp gởi cho Tổng Thống Truman, vua Bảo Đại cũng đă gởi cho tướng De Gaulle một bức thư với lời lẽ hết sức nhă nhặn mà cũng vô cùng cứng rắn. Ông báo cho tướng De Gaulle biết là nếu nước Pháp vẫn quyết tái lập nền thuộc địa trên đất nước Việt Nam th́ “… dân tộc Việt Nam không muốn và cũng không thể chịu đựng một cuộc đô hộ nào nữa, mỗi làng sẽ là một ổ kháng chiến, mỗi người cộng sự cũ của Pháp sẽ là một kẻ thù…” [18]

Những lời tuyên bố nồng nàn t́nh yêu nước và sự bày tỏ thái độ quyết liệt đối với Pháp khi quân đội Pháp sắp sửa tái xâm chiếm Việt Nam, đă nói lên quyết tâm của vua Bảo Đại nhất định khước từ quá khứ, dù quá khứ ấy đă được đan bằng những sợi dây liên hệ giữa ông và nước Pháp.

Nhưng chẳng may cho vận nước c̣n phải chịu cảnh ngửa nghiêng nên toàn dân lại hướng về cuộc kháng chiến của Việt Minh, và thêm vào đó ông Bảo Đại lại không tham quyền cố vị, không luyến tiếc điện ngọc ngai vàng, vui vẻ từ bỏ ngôi báu để tránh cho quốc dân một cuộc huynh đệ tương tàn. Ông đă tuyên bố:

Hạnh phúc của dân Việt Nam,

Độc lập của nước Việt Nam,

Muốn đạt được mục đích ấy, Trẫm đă tuyên bố hy sinh tất cả mọi phương diện và cũng v́ phương diện ấy, Trẫm muốn sự hy sinh của Trẫm phải bổ ích cho tổ quốc.

… trong giờ phút nghiêm trọng này, đoàn kết là sống, chia rẽ là chết.

… cho nên mặc dầu Trẫm hết sức bùi ngùi cho nỗi làm vua 20 năm, mới gần gũi dân được mấy tháng, chưa làm được ích lợi ǵ cho quốc dân như ḷng Trẫm mong muốn, Trẫm cũng quả quyết thoái vị để nhường quyền điều khiển quốc gia cho một chính phủ dân chủ cộng ḥa.

… c̣n về phần Trẫm, sau 20 năm ngai vàng bệ ngọc đă biết bao ngậm đắng nuốt cay, từ nay Trẫm lấy làm vui được làm dân Tự Do của một nước Độc Lập, chứ Trẫm nhất quyết không để ai lợi dụng danh nghĩa của Trẫm hay của Hoàng gia mà lung lạc quốc dân nữa…

(trích một đoạn trong chiếu thoái vị của vua Bảo Đại nhân dịp trao bảo kiếm, ngọc tỷ cho ông Trần Huy Liệu, đại diện Việt Minh tại lầu Ngọ Môn ngày 25 tháng 9 năm 1945)

Chính tấm ḷng hy sinh cao cả của vua Bảo Đại, hy sinh quyền uy tối thượng, hy sinh bệ ngọc ngai vàng, hy sinh cả sự nghiệp mấy trăm năm trời của vua chúa nhà Nguyễn mà lúc bấy giờ vào thời điểm quân Pháp đang lăm le tái chiếm Việt Nam, quốc dân đă quên hết cái dĩ văng 20 năm trời làm vua bù nh́n của vua Bảo Đại để chỉ thấy nơi ông một công dân Vĩnh Thụy đầy ḷng yêu nước.

Năm 1946, khi Cựu Hoàng đang thong dong với đời sống tự do của một công dân th́ ông Hồ Chí Minh, v́ gặp nhiều khó khăn chống đối, nên muốn nhường quyền lại cho ông để ông hứng chịu những hậu quả đen tối của t́nh thế. Tuy nhiên ông Bảo Đại đă không tham quyền tham danh để bị mắc mưu. Ông kể chuyện này cho ông Phạm Văn Bính nghe khi ông Bính đến gặp ông ở một biệt thự tại đường Trần Hưng Đạo, Hà Nội. (Lúc bấy giờ, ông Bính đang là cộng sự viên của ông Nguyễn Tường Tam và đang hoạt động cho phong trào Ngũ Xă, một phong trào chống Cộng do bác sĩ Phan Quang Đán cầm đầu).

            Cựu Hoàng mỉm cười bảo tôi:

Tôi đă nhă nhặn nhưng cương quyết từ chối. Cụ Hồ khôn ngoan quá mức. Một là Cụ thử ḷng tôi c̣n ham chính quyền không, hai là Cụ muốn trút lên đầu tôi những sự khó khăn hiện tại.

Cụ thấy sinh viên, thanh niên và dân chúng biểu t́nh đ̣i Việt Minh trả lại chính quyền cho tôi. Cụ làm như Cụ dân chủ tột bực. Cụ biết nội các nào cũng không qua nổi mặt Việt Minh, và một khi nội các Vĩnh Thụy không làm được ǵ cho quốc dân đồng bào, th́ sinh viên, thanh niên đang ủng hộ tôi sẽ chán nản và không c̣n tín nhiệm tôi nữa.

Tôi đă thoái vị để được hưởng tự do của một người công dân, chẳng lẽ tôi tham một chức Thủ tướng làm bù nh́n cho Cụ Hồ hay sao? [19]

 Vai tṛ Cộng Sản quốc tế của ông Hồ Chí Minh lần lần hiện rơ nên lợi dụng chuyến đi Trùng Khánh, khi trở về, vua Bảo Đại đă ở lại luôn Hồng Kông. Sau đó, theo lời kêu gọi của người Quốc gia, ông đứng ra thương thuyết với đại diện của Pháp, ông Bollaert, Cao ủy của Pháp tại Đông Dương.

Kể về giai đoạn này, ông Đoàn Thêm, một nhà văn nổi tiếng, một cựu Đổng lư Văn pḥng của Bộ Phủ Tổng Thống Việt Nam Cọng Ḥa, đă viết:

Ngày 15-5-1947 và ngày 10-9-1947 tại Hà Đông, ông Ballaert đọc diễn văn hứa hẹn thừa nhận trên nguyên tắc sự độc lập trong Liên Hiệp Pháp. Y cũng biết rằng những nhân vật được mời ra hợp tác đều mắc tiếng bị mua chuộc nên không được ủng hộ, nên y kêu gọi tất cả đoàn thể các gia đ́nh tinh thần (famille spirituelle).

Khốn nỗi, các gia đ́nh ấy lại chia rẽ, lục đục, hoặc chưa có dịp xum họp để t́m đường lối chung. Nếu nói chuyện với từng nhà th́ chỉ thấy những thành kiến, những ư niệm cố chấp, những quyền lợi tương phản. Vậy phải t́m một nhân vật nào sẵn uy tín, được toàn quốc biết tên tuổi, đứng trên các đảng phái để liên lạc, quy tụ các phe nhóm địa phương rồi chính thức đàm thoại với Pháp. Tất nhiên người đó lại phải có thái độ ôn ḥa, có dĩ văng đáng tin cậy, thực ḷng thừa nhận cho Pháp những quyền lợi quan trọng mà Pháp phải huy động toàn lực để duy tŕ.

Đủ các điều kiện ấy th́ ai cũng thấy chỉ có Cựu Hoàng Bảo Đại… Tại Việt Nam, báo Thời Sự của nhóm Nghiêm Xuân Thiện, Trần Trung Dung ở Hà Nội là một trong những tờ báo đầu tiên đưa ra ư kiến thỉnh Cựu Hoàng về nước lănh đạo quốc gia và để chống Cộng. Rồi nhiều cuộc biểu t́nh khá lớn đă tiếp diễn như ở Huế ngày 12-8-1947, ở Hà Nội ngày 1-9-1947, và cả ở Sài G̣n để ủng hộ và yêu cầu Cựu Hoàng đứng ra cứu văn thời cuộc…

Trước sự ủng hộ nồng nhiệt của quốc dân và của mọi giới nhân sĩ, Bảo Đại mới lên tiếng với phóng viên ngoại quốc: “Nếu quả thật quốc dân c̣n tín nhiệm th́ ông sẵn sàng đàm phán với Pháp”. Kế đó, ông nhận lời mời của Bollaert tới gặp Cao ủy tại vịnh Hạ Long (6-12-47) trao đổi ư kiến rồi lại trở về Hương Cảng…

Sau một thời gian trả giá, cuộc thương thuyết ngày 5 tháng 6 năm 1948 đi đến một thỏa thuận: “Bollaert nhân danh chính phủ Pháp long trọng tuyên bố thừa nhận Việt Nam độc lập trong Liên Hiệp Pháp”. Cựu Hoàng xác nhận chính thức hóa việc điều đ́nh với Pháp trên căn bản đó và chính phủ trung ương lâm thời của tướng Nguyễn Văn Xuân ra đời [20].

Mặc dầu đă xác nhận chính thức đứng ra thương thuyết với Pháp, nhưng vua Bảo Đại cũng tự biết những nhược điểm và ưu điểm của ḿnh cho nên ông đă tỏ ra rất khôn ngoan cẩn trọng trong việc đấu tranh cho đất nước. Ông biết người Pháp cần ông ta làm người đối thoại, nhưng ông cũng biết người Pháp sẵn sàng phản bội để quay về thỏa hiệp với lực lượng của ông Hồ Chí Minh. Ông biết chống Cộng Sản là điều tối quan trọng của phe quốc gia, nhưng ông cũng biết phải làm thế nào để thỏa măn ư nguyện tối thiểu của quốc dân, cho nên sau thỏa ước vịnh Hạ Long, ông tiếp tục ráo riết đấu tranh với Pháp một cách can đảm (bravely) và khôn khéo (skillfully) để tạo cái thế đứng vững chắc cho ông và cho phe quốc gia chống Cộng sau này như Buttinger đă nói rơ [21].

Dù chính phủ Nguyễn Văn Xuân ra đời (27-5-48), vua Bảo Đại vẫn chưa chịu về nước mà tiếp tục kiên nhẫn đấu tranh để đạt cho bằng được hai mục tiêu: thứ nhất là thống nhất ba kỳ mà đặc biệt là sát nhập Nam Kỳ vào cộng đồng quốc gia (là điều kiện mà lực lượng hữu phái của Pháp và “nhóm ly khai Nam Kỳ quốc” vẫn ngoan cố chống đối), và việc thứ hai là nước Pháp phải chính thức thừa nhận nền thống nhất và độc lập của Việt Nam. Ông đi Pháp và qua bao nhiêu vận động khó khăn, cuối cùng, một hiệp ước chính thức ra đời (kư kết ngày 8-3-1949) giữa ông và Tổng thống Pháp Vincent Auriol. Dù vậy, ông vẫn chờ đợi cho việc thống nhất ba kỳ thật sự hoàn thành rồi ngày 13-6-49 ông mới chịu trở về nước và chính thức giữ chức quốc trưởng.

Khách quan nh́n lại khung cảnh phức tạp của lịch sử lúc bấy giờ với hai lực lượng ưu thế nhất đang tranh giành quyền làm chủ nước Việt Nam mà một bên là bộ máy viễn chinh Pháp có binh hùng tướng mạnh, có một tập đoàn tay sai bản xứ trung thành, có một mẫu quốc to lớn yểm trợ… và một bên, lực lượng kháng chiến Việt Nam có đảng Cộng Sản lănh đạo, có đại đa số quần chúng sẵn ḷng hy sinh, có thế lực Cộng Sản quốc tế làm hậu phương lớn… th́, trong cái thế gọng ḱm nghiệt ngă đó, nếu không có vua Bảo Đại với ư thức trách nhiệm (dù chưa thật sự toàn vẹn), với khả năng ngoại giao (dù chưa thật sự đủ khôn khéo) để đấu tranh với cả Pháp lẫn Việt Minh để tạo một thế đứng cho phe quốc gia, để khai sinh lá cờ vàng ba sọc đỏ, th́ thử hỏi số phận những người chống Cộng sẽ đi về đâu? Vào bưng th́ bị Cộng Sản vận dụng, dinh Tề th́ trở thành Việt gian, nhắm mắt bịt tai làm kẻ đui điếc th́ mang tội hèn nhát với lịch sử trong khi Việt Minh đă giành lấy mất chánh nghĩa dân tộc, trong khi thực dân Pháp đang giành độc quyền chống Cộng để thực hiện chủ trương tái xâm lăng của De Gaulle như lời tuyên bố của ông ta trong bài diễn văn đọc tại Brazzaville (Congo) năm 1944. Cho nên lá cờ chống Cộng của vua Bảo Đại phất lên, cho nên chính quyền Việt Nam (quốc gia) mà vua Bảo Đại là biểu tượng, nếu chỉ thực sự phản ánh đúng đắn mà chưa đầy đủ ước nguyện và vị thế của các lực lượng th́ ít nhất, trong giai đoạn đó, cũng đă đặt nền móng và cũng đă phân định biên cương cho sự hiện diện của một lực lượng “đả Cộng chống Pháp” mà, ít nhất trên mặt quốc tế, đă được các cường quốc và ṭa thánh La Mă Vatican công nhận.

Nếu cho rằng không có ông Bảo Đại th́ cũng sẽ có một nhân vật khác thoát thai từ lực lượng này để điền vào chỗ trống đó của lịch sử, th́ xin hỏi nhân vật đó là ai? Những chánh khách thân Pháp ư ? Những chính trị gia trong “gia đ́nh tinh thần” được khối Thiên Chúa giáo quốc tế công nhận ư? Ông Đoàn Thêm đă trả lời rồi nhưng ở đây tôi cũng xin liệt kê thêm một số nhân vật mà lập trường và tư thế có nhiều triển vọng để xem họ có đóng được vai tṛ lịch sử đó không?

Đó là các lănh tụ cách mạng, các lănh tụ đảng phái đă lần lượt bị sa lưới Việt Minh hay đă bị tê liệt chính trị, không c̣n một phương thế nào tạo nổi một chủ lực, một hậu thuẫn để đương đầu với ông Hồ Chí Minh hoặc với Pháp, hoặc với cả hai. Cụ Nguyễn Hải Thần, lănh tụ Việt Cách, các ông Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam, lănh tụ Việt Quốc, đều đă bỏ sang Tàu khi không chống nổi Việt Minh dù có quân Lư Hán yểm trợ. Lănh tụ Đại Việt Trương Tử Anh đă bị Việt Minh sát hại ngay tại Hà Nội năm 1946, lănh tụ Duy Dân Lư Đông A cầm quân kháng Cộng một thời gian ngắn rồi mất tích luôn ở vùng Ḥa B́nh Bắc Việt. Lănh tụ Đệ Tứ Quốc Tế, ông Tạ Thu Thâu, bị Việt Minh âm mưu sắp đặt cho dân quân Quảng Ngăi giết trên đường vào Nam. Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ của lực lượng Ḥa Hảo từng tỏ thiện chí hợp tác với Việt Minh cũng bị lừa và bị giết trong chiến khu Nam Bộ năm 1947. Lănh tụ Cao Đài, ông Nguyễn Văn Sâm, th́ bị Việt Minh giết ngay khi họ vừa cướp chính quyền năm 1945. C̣n Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc, giáo chủ Cao Đài, th́ bị Pháp đày ra đảo Comores từ 1940, mới được thả về năm 1946 và vẫn bị Pháp canh chừng. Những trí thức nhân sĩ có thể làm lănh tụ hàng nh́ th́ hoặc là đă chạy theo Việt Minh hoặc là giữ thái độ trùm chăn, cầu an, chờ thời. Ngay như ông Ngô Đ́nh Nhu có thù máu với Cộng Sản mà cũng chỉ t́m đường trốn về Thanh Hóa rồi qua Lào để cuối cùng về sống an nhàn ở Đà Lạt, và làm một chính khách xa lông đợi thời. Ông Ngô Đ́nh Diệm, lănh tụ của phe Công giáo, là người có tên tuổi thế mà sau khi được ông Hồ Chí Minh trả tự do, dù có mối thù không đội trời chung với ông Hồ Chí Minh và Việt Minh, cũng chỉ biết về sống tại Sài G̣n, Đà Lạt, trong vùng Pháp chiếm đóng cho đến cuối năm 1947 mới qua lại Hồng Kông để yết kiến Cựu Hoàng mong chống Cộng bằng giải pháp Bảo Đại. Theo giáo sư Buttinger, th́ chính ông Ngô Đ́nh Diệm lần đầu tiên đă đứng chung trên một mặt trận do ông Lê Văn Hoạch thành lập vào năm 1947, gồm nhiều nhân vật Cao Đài, Ḥa Hảo, Việt Quốc, Đại Việt, Công giáo và một số người Phật giáo để ủng hộ vua Bảo Đại. Buttinger lại c̣n cho biết rằng trước khi Cựu Hoàng Bảo Đại thành công trong việc xây dựng những cơ sở pháp lư và các điều kiện chính trị thuận lợi cho một nước Việt Nam qua thỏa ước Vịnh Hạ Long vào tháng 5 năm 1948, ông đă phái ông Ngô Đ́nh Diệm về Sài G̣n ngày 30 tháng 3 năm 1948 để thương thuyết trước với Pháp mà ông Diệm không hoàn thành nổi công tác này.

Ngoài các lănh tụ trên đây c̣n phải kể đến bác sĩ Phan Quang Đán và Đức Giám mục Lê Hữu Từ.

Trong những năm đói (trước và sau năm Ất Dậu), bác sĩ Đán cầm đầu phong trào khất thực để cứu giúp đồng bào. Sau khi Việt Minh cướp chính quyền, ông dám ngang nhiên thành lập Phong Trào Ngũ Xă gần hồ Trúc Bạch Hà Nội để chống lại lực lượng vơ trang Việt Minh. Phong Trào Ngũ Xă không theo Pháp, không dựa vào quân đội Trung Hoa, chỉ là một phong trào nhân dân chống Cộng. Tờ báo Thiết Thực của Phong Trào đă gây phấn khởi cho nhiều người quốc gia, đă phổ biến vào tận miền Trung. Khi cuộc chiến giữa Việt Minh và Pháp xảy ra vào tháng Chạp năm 1946 th́ Phong Trào mới tan ră.

C̣n Giám mục Lê Hữu Tư, lúc đầu làm Cố vấn Tôn giáo cho ông Hồ Chí Minh nhưng sau đó đă viết thư luân lưu lên án Việt Minh là Cộng Sản, rồi giữ vùng Phát Diệm trong thế tự trị cho đến ngày Quốc trưởng Bảo Đại về nước cầm quyền năm 1949, ông mới xin sát nhập vùng Phát Diệm vào cộng đồng quốc gia và triệt để ủng hộ Quốc trưởng.

Nêu tên tuổi và trường hợp tất cả các lănh tụ ra, nhất là trường hợp ông Ngô Đ́nh Diệm, người sau này truất phế vua Bảo Đại, là để chứng minh rằng ông Bảo Đại quả thật là một con cờ, nhưng là một con cờ cần thiết độc nhất cho giai đoạn 1948-1954 không ai thay thế được. Chỉ tiếc rằng con cờ đó đă không được lực lượng quốc gia sử dụng một cách khôn khéo. Nếu không muốn nói rằng ông Bảo Đại là vị cứu tinh cho phe quốc gia trong giai đoạn và bối cảnh đất nước lúc bấy giờ th́ ít nhất ông cũng đă có công làm kẻ lót đường cho người quốc gia có đất đứng để tiếp tục cuộc hành tŕnh chống Cộng sau 1954. Vua Bảo Đại đă đóng đúng vai tṛ cần thiết và bi hùng của ông trong một giai đoạn lịch sử khó khăn đến vậy.

Mặc dù mang tiếng là người thân Pháp, nhưng trong thời gian làm Quốc trưởng, ông vẫn tỏ rơ phong cách và thái độ một lănh tụ quốc gia. Ông trọng dụng những phần tử cách mạng, các nhân sĩ có thành tích yêu nước, các nhân tài trí thức, ông không phân biệt chia rẽ đảng phái, không kỳ thị tôn giáo. Gia đ́nh của ông không mang tiếng tham nhũng khủng khiếp như các chế độ sau ông. Ông đă tỏ rơ tư thế một vị Quốc trưởng của một quốc gia độc lập, làm cho chính tướng De Lattre De Tassigny vừa là Cao ủy vừa là Tổng Tư lệnh quân đội Pháp, tuy hết sức bất măn nhưng vẫn kính trọng.

Sau năm năm lănh đạo quốc gia, ông Bảo Đại đă xây dựng được những ǵ? Theo ông Đoàn Thêm th́ chế độ Bảo Đại đă để lại nhiều thành quả, nhiều định chế mà giá trị vẫn c̣n được các chế độ sau mặc nhiên thừa nhận, nghĩa là thừa hưởng, và duy tŕ như:

- Từ 1949, sau khi được một số khá đông cường quốc công nhận, Việt Nam mới bước chân ra chính trường ngoại giao và tuy chưa thể vào Liên Hiệp Quốc v́ sự ngăn trở của Nga Sô, nhưng cũng đă được gia nhập vào 35 cơ quan quốc tế.

- Hoa Kỳ đặt phái bộ viện trợ quân sự từ ngày 6-3-50 và kư hiệp ước tương trợ với Việt Nam ngày 7-9-1951, đồng thời viện trợ kinh tế và cứu trợ cho Việt Nam.

- Quân đội quốc gia được thành lập và phát triển mau lẹ: Từ 5 tiểu đoàn (1950) lên 26 tiểu đoàn (1951) và vào năm 1953 gồm 167.000 binh sĩ với 3.500 phụ lực quân. Các cấp chỉ huy được đào tạo tại các trường Vơ Bị Liên Quân Đà Lạt, khai giảng ngày 5-11-1950, trường Cao Đẳng Vơ Bị thành lập ngày 25-6-1950, trường Quân Y ngày 7-8-1950, trường Không Quân ngày 24-6-1951, và Hải Quân ngày 1-1-1952. Các tổ chức khác cũng được thành lập như Ṭa Án Quân Sự, Bộ Tổng Tham mưu, nhiều luật lệ quân sự cũng được ban hành như: Quy chế quân đội, chế độ quân dịch, thể thức sát nhập các lực lượng giáo phái vào quân đội quốc gia (10-4-1954).

- Tổ chức Tư Pháp và các ṭa án.

- Hành chánh địa phương.

- Giáo dục, Văn hóa: Trường đại học Văn Khoa, Sở Bảo Tồn Cổ Tích, trường Cao Đẳng Sư Phạm, Văn Hóa Nguyệt San.

- Kinh tế, xă hội: Bộ Luật Lao Động, Bộ Luật Cải Cách Điền Địa.

- Các tổ chức chuyên môn: Viện Thống Kê, Việt Nam Thông Tấn Xă, Quốc gia Kiến Ốc Cục và Vé số Kiến Thiết Quốc Gia, Sở Du Lịch Quốc Gia, Công ty Hàng Không Việt Nam, trùng tu Điện Lực Cuộc, trường Quốc Gia Hành Chánh.

- Quy chế Nghiệp Đoàn, Chế độ Bảo vệ quyền phát minh và sáng chế công nghệ, chế độ Phim ảnh và Quay phim.

- Các thiết bị và Quy chế quan trọng: Bảo Quốc Huân Chương, Anh Dũng Bội Tinh, ngày Phụ Nữ Việt Nam, Quy Chế Công Chức Quốc Gia, Quy Chế các Hiệp Hội, Quy Chế Thể Thao, Thanh Niên, Quy Chế Hàng Hải, Chế độ Thuê nhà và quyền lưu cư. Bộ Luật thuế Trực thu và Gián thu.

Ông Đoàn Thêm cho rằng người ta đă vô t́nh hay hữu ư thổi phồng những khuyết điểm, những thất bại của ông Bảo Đại một cách quá đáng, đă mô tả cuộc đời và sự nghiệp của ông Bảo Đại một cách lố lăng mà không nghĩ đến hoàn cảnh khó khăn của đất nước dưới thời ông Bảo Đại, so với hoàn cảnh dễ dàng hơn của thời ông Ngô Đ́nh Diệm. Thậm chí người ta đă dễ dàng gắn cho Bảo Đại là trụy lạc dâm ô, trong lúc Bảo Đại lấy vợ hầu chỉ là để đền ơn trả nghĩa cho một người đàn bà đă từng giúp đỡ ông trong khi ông đang bôn ba ở Hồng Kông.

Theo ông Đoàn Thêm, người ta chỉ trích vua Bảo Đại mà quên đi công lao to lớn của ông ta. Trước hết, nếu không có vua Bảo Đại th́ người Quốc gia chưa chắc đă c̣n hiện diện trong cuộc tranh chấp Pháp – Cộng, lại nữa, trong lúc đầu, tuy ông chỉ giành được một nền độc lập trong Liên Hiệp Pháp, nhưng trước khi Việt Nam bị chia đôi bởi hiệp ước Genève, ông đă cương quyết đ̣i cho Việt Nam được hoàn toàn độc lập và b́nh đẳng với nước Pháp qua hai Hiệp ước Độc lập (Traité d’Indépendence) và Hiệp ước Liên kết (Traité d’Association). Nhờ hai hiệp ước đó mà ông Ngô Đ́nh Diệm thừa hưởng chủ quyền trọn vẹn trên một nửa đất nước sau này.

Nói tóm lại, sau 8 năm đấu tranh và 5 năm lănh đạo, vua Bảo Đại đă tạo dựng cho phe quốc gia, phe chống Cộng ba thành quả cơ bản to lớn: (1) Một quốc gia với thế đứng hợp pháp, (2) Một nền độc lập và thống nhất toàn vẹn, (3) Nhiều cơ sở về ngoại giao, hành chánh, kỹ thuật, văn hóa làm nền tảng cần thiết cho sinh hoạt quốc gia.

So sánh hai ông Bảo Đại và Ngô Đ́nh Diệm, ông Đoàn Thêm sau khi nói về công tội của vua Bảo Đại, đă chê trách ông Diệm nhiều điều mà điều quan trọng nhất là thiếu đạo đức và tài trí để làm một nhà lănh đạo.

Phê phán những nhà lănh đạo là một việc làm hết sức tế nhị mà nếu nhầm lẫn th́ hậu quả sẽ không những nguy hiểm cho ḿnh mà c̣n cho hậu thế nữa. Muốn tỏ tấm ḷng vô tư và tinh thần khách quan của ḿnh, sau khi nêu lên những sự kiện lịch sử, những dẫn chứng rơ ràng, ông Đoàn Thêm đă đưa ra những phân trần để tránh ngộ nhận: “… Song đối với kẻ đem tâm thành mà t́m hiểu việc nước, thiết nghĩ “b́nh tĩnh nhận xét” là điều kiện ưu tiên để tới gần sự thật. Nên tôi đă lặng lẽ kiểm điểm một ḿnh công cuộc của ông (Bảo Đại) và của một lớp người, để tự soi sáng cho tôi. V́ đối với bất cứ nhân vật nào, chánh thể nào, tôi không muốn nghĩ ác v́ tưởng lầm, hoặc nói ác v́ không biết rơ” [22].

 Ông Đoàn Thêm là một nhà hành chánh kinh nghiệm và có thực tài, một công chức cao cấp đă từng làm việc với nhiều chế độ từ thời Pháp thuộc, qua chế độ Quốc trưởng Bảo Đại, đến chế độ Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm. Ông không thuộc một đảng phái nào mà chỉ là một công chức tận tâm và kỷ luật, liêm chính và cương trực, đứng trên những mâu thuẫn phe phái để ghi nhận các biến cố lịch sử. Nhưng quan trọng hơn cả, ông cũng là một nghệ sĩ đa tài, cả văn lẫn thơ lẫn hội họa, vốn là những chất liệu hun đúc nên một tâm hồn luôn luôn đối nghịch với cái ǵ xấu xa, bất thiện. Tôi không quen biết nhiều ông Đoàn Thêm nhưng vốn có ít nhiều hiểu biết về ông Bảo Đại, về ông Ngô Đ́nh Diệm và đă từng sống và làm việc dưới cả hai chế độ, nên tôi nhận thấy tác phẩm “Những Ngày Chưa Quên” sẽ giúp ích rất nhiều cho những ai muốn biết về giai đoạn lịch sử 30 năm Việt Nam chiến tranh Quốc Cộng, viết bởi một người quốc gia mang nhiều tâm tư cố t́m hiểu lịch sử. Ông không cố t́nh bóp méo lịch sử như ông Cao Thế Dung hay bà Margueritte Higgins, ông không lợi dụng viết hồi kư để xuyên tạc và bôi lọ người khác như Linh mục Cao Văn Luận, ông Nhị Lang, ông Nguyễn Văn Chức, ông  Nguyễn Trân…

Để tóm tắt lại trường hợp của ông Bảo Đại, vị vua cuối cùng của triều Nguyễn, của chế độ quân chủ tại Việt Nam, th́ kể từ lúc tức vị (1932) cho đến năm bị truất phế (1955) là 24 năm chịu trách nhiệm trước quốc dân và trước lịch sử, ông Bảo Đại quả thật đă mang đầy đủ vóc dáng của một vị nguyên thủ quốc gia vào lúc mạt vận, nghĩa là có đầy đủ khuyết điểm của một vị lănh đạo không có thực quyền và không có thực tài để hoán chuyển định mệnh. Nhưng ông cũng có đầy đủ những công lao của một nhân vật lịch sử trong giai đoạn giao thời, là xây dựng cơ sở cho giai đoạn kế tiếp chứ không đạp đổ những nền móng cơ bản để gây xáo trộn cho kẻ thừa kế.

Khi công dân Vĩnh Thụy đứng dậy, ông đă chứng tỏ được ḷng yêu nước và ư thức trách nhiệm đối với cộng đồng dân tộc và tiền đồ tổ quốc. Khi trở thành kẻ thất bại (dù là thất bại trước đối thủ thực dân Pháp hay cựu thần Ngô Đ́nh Diệm) ông vẫn giữ được cái phong thái lănh đạo trong cách hành xử chững chạc cũng như trong thái độ quân tử an nhàn. Giai đoạn nào th́ có nhân vật đó, chỉ khen vua Bảo Đại mà không biết đến tội của ông hay chỉ chê mà không biết đến công của ông th́ quả thực bất công. Tôi không có khả năng và cũng không có ư định phê phán ông, nhưng chẳng qua v́ muốn bắt chước người xưa, nói thẳng những điều ḿnh biết để đóng góp vào sự thật cho những người làm công việc viết sử sau này mà thôi.

V́ thật ra, có lẽ chính ông Bảo Đại cũng không màng những lời phê phán đó khi mà hoàn cảnh của ông cũng như của đất nước đă là những thảm trạng tột cùng của sự đau khổ.

 

-o0o-

 

Song song với nhân vật Bảo Đại trong thời gian đó là nhân vật Ngô Đ́nh Diệm, người từ tư cách là một thần tử của nhà Mạt Nguyễn, với thời thế và nỗ lực, đă đi đến hành động quyết liệt nhất của mối liên hệ vua tôi bằng cách truất phế vị Hoàng đế của ḿnh.

Ḍng họ Ngô Đ́nh vốn quê làng Xuân Dục, phủ Quảng Ninh, tỉnh Quảng B́nh và theo đạo Công giáo La Mă từ thế kỷ thứ 17. Trong giai đoạn quân Pháp đánh chiếm Trung Kỳ và Bắc Kỳ (khoảng 1870), khi phong trào Văn Thân nổi lên chống Pháp cứu nước và phát động chiến dịch chống Đạo th́ ḍng họ Ngô Đ́nh phải bỏ làng Xuân Dục phủ Quảng Ninh mà di cư về làng Đại Phong thuộc huyện Lệ Thủy của cùng tỉnh Quảng B́nh, nơi có nhiều làng Công giáo hơn tại Quảng Ninh.

Theo những bô lăo ở Quảng B́nh th́ nội tổ của ông Diệm thuộc vào hàng bần dân khốn khổ. Kư giả Robert Shaplen xác định rơ ràng hơn rằng nội tổ của ông Diệm sinh sống bằng nghề chài lưới [23], cho đến đời thân phụ của ông Diệm là ông Ngô Đ́nh Khả, nhờ quân Pháp đánh chiếm và b́nh định được tỉnh Quảng B́nh, nên liên hệ được với các vị Cố đạo để được các giáo sĩ cho đi học chữ Hán và chữ Pháp tại một trường ḍng ở Penang (Mă Lai). Trong đám du học sinh này c̣n có ông Nguyễn Hữu Bài, người Công giáo quê Quảng Trị, một nhân vật thủ đoạn và có cùng một cảnh ngộ thơ ấu bần hàn như cụ Ngô Đ́nh Khả.

Hai ông Khả và Bài sau khi học xong, được người Pháp đưa về nước và cho làm thông dịch viên ở ṭa Khâm sứ Huế. Thời bấy giờ số người Việt nói và viết được tiếng Pháp c̣n rất hiếm hoi, nhất là ở Trung Kỳ, hai ông lại được Hội Truyền Giáo Hải Ngoại Pháp đặc biệt nâng đỡ nên đă được các viên chức cai trị Pháp trọng dụng và được triều đ́nh An Nam phong chức tước và phẩm hàm rất mau.

Năm 1885, khi phong trào Cần Vương ở Quảng B́nh nổi lên pḥ vua Hàm Nghi chống Pháp, ông Ngô Đ́nh Khả được quân Pháp và triều đ́nh An Nam cử giữ chức An Phủ Sứ về tỉnh nhà lo việc b́nh định và chiêu an dưới quyền điều khiển của Đại tá Pháp Duvilllier, ủy viên chính phủ vùng Bắc xứ Trung Kỳ (Commissaire du Gouvernement pour le Nord Annam) [24].

Ông Thái Văn Kiểm chuyên nghiên cứu về phong thổ miền Trung thuộc nhà Nguyễn, năm 1945, lúc đang ở Quảng B́nh, thâu thập được một tờ báo cáo viết tay của ông Ngô Đ́nh Khả gởi cho công sứ Pháp Quảng B́nh tŕnh bày kết quả của cuộc b́nh định tỉnh này. Năm 1956, nhân làm việc tại Nha Văn hóa Bộ Giáo dục, ông vào dinh Độc Lập tặng tờ báo cáo đó cho Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm. Nh́n thấy bút tích của thân phụ, ông Diệm mừng lắm, ngỏ lời khen ngợi và cám ơn, ông Diệm c̣n nói thêm: “Trong việc b́nh định tỉnh Quảng B́nh, thầy tôi không dùng đến quân sự mà chỉ đem theo gạo lên núi chiêu dụ những kẻ chống đối về với chính phủ”. Dù b́nh định bằng vơ lực hay bằng chiêu dụ th́ hành động của ông Ngô Đ́nh Khả cũng là làm tay sai cho Pháp trong việc đàn áp Phong Trào Kháng Chiến chống thực dân xâm lăng của dân tộc.

Thật thế, ông Ngô Đ́nh Khả không phải làm tay sai hạng thường mà là thứ tay sai cao cấp của Thực dân. Ông Ngô Đ́nh Khả đă từng làm bộ tướng cho đại Việt gian Nguyễn Thân cầm quân đánh phá chiến khu Phan Đ́nh Phùng. Năm 1944, Giám mục Ngô Đ́nh Thục cũng viết thư cho Toàn quyền Decoux kể lể công lao của cha và cũng gọi nhà anh hùng Phan Đ́nh Phùng là giặc. (Xem thư Ngô Đ́nh Thục gửi cho Toàn quyền Decoux ở phần Phụ Lục). Quả thật tội ác của ông Ngô Đ́nh Khả đối với Dân Tộc không bút nào tả hết.

Năm 1888, vua Đồng Khánh băng hà sau ba năm trị v́ ngắn ngủi, người Pháp thành lập Liên Bang Đông Dương (gồm bốn đơn vị hành chánh: Cochinchine, Annam, Tonkin, và Cambodge. Vương quốc Lào được sát nhập sau đó vào năm 1893) để thống nhất các cơ cấu hành chánh, đồng thời áp lực với triều đ́nh An Nam để lập con của ông Dục Đức là Bửu Lân lên làm vua, hiệu là Thành Thái.

Vua Thành Thái lên ngôi khi mới 10 tuổi nên triều đ́nh cử hai vị đại thần là Nguyễn Trọng Hợp và Trương Quang Đáng làm Phụ Chánh. Riêng cụ Ngô Đ́nh Khả, nhờ có công dẹp được các cuộc nổi loạn chống Pháp ở tỉnh Quảng B́nh và Hà Tĩnh, nhờ có liên hệ chặt chẽ với các giới chức Pháp cả bên chính quyền lẫn bên Hội Truyền Giáo, nên được cử vào chức Tổng Quản Cấm Thành (Superintendent du Palais) có lẽ là Lưu Kinh Đại Thần và có ảnh hưởng với vua Thành Thái, đồng thời người Pháp cũng vận động đề cử Nguyễn Hữu Bài làm Thượng thư Bộ Công. Hai nhân vật này dù không xuất thân từ nơi khoa giáp và không thăng chức theo hệ thống quan trường mà vẫn một bước nhảy vọt nắm giữ những chức vụ tối quan trọng với những phẩm hàm cao cấp nhất là v́ người Pháp, với sức mạnh toàn quyền trong tay, muốn có những người thân tín là cụ Khả để kiểm soát nhà vua và cụ Bài để kiểm soát triều đ́nh.

Tuy nhiên, trong lúc con đường quan trường của ông Nguyễn Hữu Bài kéo dài cho đến thời già cả (trên 70 tuổi), mà chức vụ cuối cùng là Thượng thư đầu triều hàm Vơ Hiển Đại học sĩ, th́ công danh của ông Ngô Đ́nh Khả lại nửa đường đứt gánh. Theo Tổng thống Diệm kể lại cho kư giả Shaplen trong một cuộc phỏng vấn dài sáu tiếng đồng hồ tại dinh Gia Long năm 1962, th́ thân phụ của ông mất chức v́ người Pháp nghi ngờ cụ Khả có liên hệ đến một âm mưu chống Pháp, v́ cụ Khả đă chống lại việc người Pháp đă truất phế và đày vua Thành Thái [25]. Nhưng theo bạn của tôi và những vị cựu quan lại, những nhân vật thuộc Nguyễn Phước tộc kể lại, th́ việc ông Khả bị mất chức thật ra là v́ lúc c̣n làm Cận thần, ông đă tự động dựng một ngôi giáo đường trong Hoàng thành trái với bầu không khí và màu sắc hoàn toàn Tam giáo nơi cung cấm của nhà Nguyễn, và bất cần những lời phản đối của các vị quan khác và Hoàng gia. V́ thế mà nhân cơ hội vua Thành Thái bị truất phế, triều đ́nh hạch tội ông Ngô Đ́nh Khả đă khinh mạn Hoàng gia, giáng ông xuống ba cấp và cho về hưu non. Thật ra th́ vụ xây ngôi giáo đường chỉ là một cái cớ, cái cớ cuối cùng và cụ thể nhất của một chuỗi dài những mâu thuẫn và xung khắc của nhiều thế lực. Nguyên Khâm sứ Trung kỳ lúc bấy giờ là Lévêque, thuộc hội Tam Điểm (Franc–Macon), có khuynh hướng chống sự bành trướng quyền lực của Hội Thánh Công giáo La Mă và cũng thường có thái độ khinh mạn nhà vua và triều đ́nh An Nam. Với tư cách là Khâm sứ Trung kỳ, y có toàn quyền trực tiếp hay gián tiếp quyết định bổ nhiệm, thay đổi hay cách chức các quan lại An Nam [26]. Ông Ngô Đ́nh Khả hội đủ hai yếu tố cho Lévêque khinh ghét: “quan lại” và “Công giáo”, lại không được các bạn đồng liêu bênh vực, nên khi vua Thành Thái bị truất phế ông không c̣n tư cách ǵ để làm Cận thần, và Hội Truyền Giáo cũng không đủ sức mạnh để cứu ông khỏi bị Lévêque vận động với một triều đ́nh sẵn sàng đuổi ông về.

Do đó, ngôi giáo đường trong Đại Nội chỉ là cái cớ có thật cuối cùng. Và cũng do đó, tiếng đồn rằng v́ “Đày vua không Khả” nên ông Ngô Đ́nh Khả bị mất chức cũng chỉ là tiếng đồn được phóng đại thêm v́ rơ ràng chính cụ Nguyễn Hữu Bài, vừa không chịu kư giấy đào mồ vua (Đào mả không Bài), lại vừa công khai bênh vực Kỳ Ngoại Hầu Cường Để, một hoàng thân quốc thích có khuynh hướng và hành động chống Pháp rơ rệt, mà vẫn thăng quan tiến chức mau lẹ và nắm giữ giềng mối triều đ́nh mấy chục năm trời.

(Tuy nhiên, phải nói thêm rằng quyết định ủng hộ Kỳ Ngoại Hầu Cường Để của ông Bài lúc đó, và cả ông Diệm của những năm 40 sau này, chỉ phản ánh chiến lược chính trị của Hội Truyền Giáo Hải Ngoại muốn phục hồi chi hệ của Hoàng Tử Cảnh, vị hoàng tử đă được Giám mục Pigneau de Béhaine đỡ đầu theo Công giáo La Mă và bị vua Minh Mạng biếm vị từ cả gần thế kỷ rưỡi trước).

Những “tiếng đồn” loại “đày Vua không Khả, đào mả không Bài” nầy cần phải được kiểm chứng bằng những tài liệu khả tín chứ không thể mù quáng tin theo một cách nhẹ dạ được. Cũng như trường hợp Linh mục Trần Lục dưới thời Pháp thuộc được vinh danh là “Nam Tước, Quốc Công”, là “Phúc tinh, anh hùng vang danh bốn bể”, lại được đặt tên cho một trường Trung học dưới thời đệ I Cộng Ḥa. Chỉ đến sau này, nhờ tài liệu như cuốn “Những trận đánh Pháp” của học giả Lăng Nhân Phùng Tất Đắc, “Thập Giá và Lưỡi Gươm” của Linh mục Trần Tam Tĩnh, ta mới biết rơ Trần Lục là một tên Việt gian đă từng bị cụ Phan Đ́nh Phùng lúc c̣n làm Tri phủ Yên Khánh, nọc ra đánh tại Phát Diệm. Trần Lục đă cùng với 5.000 giáo dân Phát Diệm, Kẻ Sở, Điền Hộ, Bố Xương giúp quân Pháp đánh phá chiến khu Ba Đ́nh của anh hùng Cần Vương Đinh Công Tráng (xin xem thêm “Hội hè của đồng bào Thiên Chúa giáo” của giáo sư Toan Ánh trong phần Phụ Lục).

Theo cụ Trương Văn Huế, một nhân sĩ lăo thành Công giáo tại Phú Cam, nơi gia đ́nh ông Ngô Đ́nh Khả trú ngụ, th́ khi bị giáng chức rồi về hưu sớm, cụ Khả thường mặc đồ nâu, quần ống cao ống thấp, chân đi guốc gỗ và thường đến ngồi trước sân nhà thờ Phú Cam, miệng lẩm bẩm chửi bới đích danh các vị quan tại triều. Thái độ hằn học một cách sống sượng với các vị đại thần này phản ánh một t́nh cảm căm thù v́ quyền lợi mất mát, đường tiến thủ bị bế tắc hơn là, và đáng lẽ là, một t́nh cảm kiêu hănh v́ giữ tấm ḷng trung trinh không chịu ... đày ải vị vua của ḿnh.

Khi về hưu, cụ Ngô Đ́nh Khả tạo được một ngôi nhà lầu tại Phú Cam, một cảnh vườn khá rộng và mấy mẫu ruộng ở cánh đồng An Cựu gần thành phố Huế. Cụ Khả có chín người con: 6 trai và 3 gái. Con trai là các ông: Ngô Đ́nh Khôi, Ngô Đ́nh Thục, Ngô Đ́nh Diệm, Ngô Đ́nh Nhu, Ngô Đ́nh Cẩn và Ngô Đ́nh Luyện. Ba người con gái là các bà Ngô Thị Giao, Ngô Thị Hiệp, thân mẫu của đức cha Nguyễn Văn Thuận, và bà Ngô Thị Hoàng, nhạc mẫu của Bộ trưởng Bộ Quốc pḥng Trần Trung Dung.

 

-o0o-

 

Ông Ngô Đ́nh Diệm sinh tại Huế ngày 3 tháng Giêng năm 1901 (Canh Tư), ra đời khi thân phụ c̣n làm quan tại triều, nhưng lại trưởng thành khi gia đ́nh không c̣n được sung túc v́ cụ Khả đông con mà lại về hưu sớm. Lớn lên, ông Diệm vào học trường tư thục Công giáo Pellerin tại Huế, đỗ bằng Thành Chung tức là bằng Trung Học Đệ Nhất cấp sau này, rồi thi vào trường Hậu Bổ dưới triều vua Khải Định, một vị vua nổi tiếng Việt gian.

Trường Hậu Bổ là hậu thân của trường Quốc Tử Giám, nơi đào tạo ra ngạch thuộc quan để phục vụ cho Nam triều. Từ thời vua Duy Tân trở về trước, trường Quốc Tử Giám ở Huế c̣n giữ được ít nhiều truyền thống và thực chất giai đoạn mà định chế này mới được thiết lập lần đầu tiên vào đời vua Lư Nhân Tông (1072–1127) tại kinh thành Thăng Long. Nghĩa là trường được điều khiển bởi một vị đại khoa giáp mang chức Tế Tửu, và sĩ tử cũng là hạng người đă đỗ đạt, khi ra trường sẽ là “dân chi phụ mẫu”. Trái lại, dưới thời vua Khải Định (1916–1925) kể từ năm 1918, trường Hậu Bổ do một viên Công Sứ Pháp được ṭa Khâm sứ ủy nhiệm làm hiệu trưởng, dưới quyền viên Công sứ th́ có vị Thượng thư Bộ Học (Nam triều), Thủ hiến học chánh Trung Kỳ (người Pháp) và Học chính hội lư (người Pháp) là các hội viên lo việc quản trị và giáo huấn của nhà trường. Nói cách khác, trường Hậu Bổ dưới triều Khải Định đă bị Tây hóa trong tinh thần Bảo Hộ, và không c̣n cái nho phong của các thời tiền triều mặc dù vẫn c̣n một số các ông Tú, ông Cử Hán học theo đ̣i hoạn lộ qua con đường trường Hậu Bổ.

Muốn được vào trường Hậu Bổ thí sinh chỉ cần có học lực ngang cấp tiểu học nhưng phải có tŕnh độ căn bản về Hán học. Thời gian học là ba năm có nghỉ hè, nghỉ lễ theo niên khóa của các trường phổ thông. Khi ra trường, thí sinh phải có tŕnh độ ngang với cấp bằng trung học đệ nhất cấp, ngoại trừ có thêm môn Kinh Nghĩa, thi phú và môn luật bằng Hán văn. (Xem thêm “Văn Hóa nguyệt san” do các học giả Nguyễn Khắc Kham, Thái Văn Kiểm, Bùi Đ́nh San, Nguyễn Văn Ninh biên tập, hiện lưu trữ tại thư viện Sorbonne, Paris).

Đọc trong Tản Đà bát cú bài thơ Thi Hậu Bổ Trượt Kỳ Vấn Đáp của Nguyễn Khắc Hiếu nói về trường Hậu Bổ Nam Định ở Bắc, một trường đào tạo ngạch quan lại đồng thời với trường Hậu Bổ ở Huế, ta sẽ có một khái niệm rơ ràng hơn về giá trị của một ông quan thời vua Khải Định như thế nào:

Hồi Pháp thuộc lập trường Hậu Bổ, trường Nam Định học chữ quốc ngữ, chữ Pháp, qua lớp dự bị thi vào lớp chánh ngạch, học ba năm ra làm quan. Những người muốn đỗ phải đút lót mới được. Tản Đà tiên sinh v́ không có tiền lo lót nên làm ra bài thơ sau đây:

 

            THI HẬU BỔ TRƯỢT KỲ VẤN ĐÁP

Mỗi năm Hậu Bổ một kỳ thi,

Năm ngoái năm xưa tớ cũng đi,

Cử, Tú, Ấm sinh vài chục kẻ,

Tây, Ta, Quốc ngữ bốn năm kỳ.

Đĩa, nghiên, lọ mực, b́a bao sách,

Thước kẻ, đinh găm, ngọn viết ch́.

Lại đến o-ran là bước khó,

Ḿnh ơi! Ta bảo có th́ đi.

Rơ ràng vua Khải Định, một ông vua nổi tiếng Việt gian, đă cùng với thực dân Pháp trong buổi giao thời Hán–Việt Tây–Ta lẫn lộn, cải đổi trường Quốc Tử Giám, nơi đào tạo quan trường theo tinh thần “Cần, Kiệm, Liêm, Chính”của đạo lư Khổng Mạnh thành ra trường Hậu Bổ, nơi khai sinh một lớp người thừa hành của Nam triều để phục vụ cho bộ máy cai trị của chế độ bảo hộ Pháp. Từ thời đó cho đến ngày tàn của thực dân vào năm 1945, việc thăng quan tiến chức của một ông quan An Nam tùy thuộc vào ba yếu tố: Thứ nhất là phải có ḷng trung thành tuyệt đối với mẫu quốc Pháp, lập được nhiều công trạng cho chế độ Bảo Hộ. Thứ hai là phải có liên hệ thân thiết với nhà vua và các vị đại thần. Thứ ba là phải có tiền lo lót cho cấp trên. Lịch sử c̣n cho thấy dưới triều vua Khải Định có nhiều ông quan dâng vợ dâng con gái cho quan Tây để mau lên chức, mau làm quan to.

Lẽ dĩ nhiên cũng có những trường hợp đặc biệt mà một vị quan, dù ở bậc Thượng thư hay chỉ có hàm Cửu phẩm, thu đạt được địa vị của ḿnh không nhờ ba yếu tố kể trên mà nhờ chính thực tài và sự ngay thẳng của ḿnh. Tuy nhiên, biệt lệ này quả thật hiếm hoi.

Ông Ngô Đ́nh Diệm xuất thân từ trường Hậu Bổ đó và được bổ làm quan dưới triều Khải Định. Cụ Tôn Thất Toại, vị Thượng thư trí sĩ bạn vong niên của kẻ viết, từng hoạt động hăng hái cho Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia ở Nha Trang và là cựu Dân biểu khóa I thời Đệ Nhất Cộng Ḥa, cho biết rằng Cụ và hai ông Ngô Đ́nh Khôi và Ngô Đ́nh Diệm vốn là bạn chí thân cùng học ở trường Pellerin và trường Hậu Bổ. Nhưng khi học xong th́ tất cả các sĩ tử chỉ được bổ vào các ngạch tập sự, riêng một ḿnh ông Diệm là được bổ ngay vào chức Tri huyện Hương Trà tỉnh Thừa Thiên. Trong ngạch quan lại thời đó, mỗi chức vụ phải qua ba bốn cấp, mỗi cấp phải có ít nhất ba năm thâm niên, thế mà ông Diệm lại thăng quan tiến chức mau như diều gặp gió, một đặc cách vượt bực không ai có trừ những nhân vật làm quan tắt như ông Phạm Quỳnh chẳng hạn. Năm 23 tuổi, ông Diệm làm tri huyện Quảng Điền (Thừa Thiên), lên tri phủ Hải Lăng (Quảng Trị), lên Quản Đạo Ninh Thuận (tỉnh trưởng hạng nhỏ), lên Tuần Vũ B́nh Thuận (tỉnh trưởng hạng trung). Năm 1933, lúc ông mới 32 tuổi, được thăng lên Thượng thư Bộ Lại, nghĩa là chức vụ đầu triều đứng trên hết hàng quan lại An Nam. Chỉ trong ṿng mười năm mà ông Diệm vượt hết mọi nấc thang hoạn lộ, việc mà những quan lại khác phải mất ít nhất là 30 năm trời. Ông Diệm chưa bao giờ ra Hà Nội học trường Luật hay trường Quốc Gia Hành Chánh như văn pḥng báo chí phủ Tổng Thống đă đưa ra để huyễn hoặc một số kư giả Việt Nam và ngoại quốc lầm lẫn ghi vào sách báo của họ. Tuy nhiên, ông Diệm là một ông quan nổi tiếng cần mẫn thanh liêm.

Thời làm quan huyện quan tỉnh, ông bận áo gấm đội nón chóp đeo bài ngà, mỗi lần đi hành hạt thường cỡi ngựa để về các làng quê. Ông vừa là quan cai trị vừa là quan Tư pháp, vừa làm nhiệm vụ cảnh sát giữ ǵn trật tự an ninh cho địa phương do ông cầm đầu dưới sự giám sát của quan công sứ Pháp và theo chánh sách của chế độ bảo hộ Pháp. Nhiệm vụ đặc biệt của ông quan huyện tỉnh lúc bấy giờ là đốc thúc dân chúng trong việc nạp thuế má và ngồi ở công đường xét xử các vụ kiện cáo của dân trong quản hạt. Thời làm quan, ông Diệm đặc biệt có tài khám phá nhiều tổ Cộng Sản hoạt động bí mật nên được chính phủ Bảo Hộ rất tín nhiệm, do đó mà mới 29 tuổi ông đă được thăng lên chức Tuần Vũ B́nh Thuận và sau đó ông thăng chức Thượng Thư Bộ Lại như đă nói trên kia.

Nhưng trong lúc ông Diệm là một vị quan lại thanh liêm th́ người anh ruột là ông Ngô Đ́nh Khôi làm Tổng Đốc tỉnh Quảng Nam, một tỉnh lớn thứ hai của triều đ́nh An Nam, của xứ Trung Kỳ, lại là một vị quan mang tiếng tham quan ô lại và có tác phong bê bối. Dư luận c̣n nói rằng ông Khôi tằng tịu với vợ con thuộc cấp. Dư luận c̣n nói rằng sở dĩ ông Khôi thích ăn hối lộ, kể cả những món tiền rất nhỏ, v́ ông rất cần tiền để gởi cho hai người em ăn học ở Pháp. Những dư luận trên đây vẫn c̣n được các bậc cao niên quê tỉnh Quảng Nam hiện nay ở hải ngoại kể lại mỗi khi nhắc đến chuyện xưa cũ nơi quê nhà… Ông Ngô Đ́nh Cẩn, thời ông Diệm chưa cầm chính quyền cai trị miền Nam, có kể lại cho chúng tôi nghe rằng sau khi từ chức Thượng Thư Bộ Lại, ông Diệm thường vào Quảng Nam ở chơi với ông Ngô Đ́nh Khôi, có lần thấy tư cách bất chính của anh ḿnh ông giận lắm, bèn đi bộ từ Hội An ra Đà Nẵng (40 cây số) lấy tàu hỏa để về Huế rồi gửi thư trách móc anh ḿnh thiếu tác phong của một bậc “dân chi phụ mẫu”.

Việc thăng quan tiến chức vượt bực của anh em nhà họ Ngô Đ́nh làm cho giới quan trường vừa ganh tức vừa khinh bỉ. Họ làm thơ để chế giễu “vây cánh” nhà Ngô sở dĩ tiến mau trên đường lợi danh là chỉ nhờ thế thần vây cánh:

                         LÀM QUAN NAM TRIỀU

                        Lênh đênh chiếc bách buổi ba đào,

                        Chèo lái xem chừng khó biết bao.

                        Tôi tớ mấy người dâng lễ hậu,

                        Quan thầy mấy kẻ nặng hầu bao.

                        Chật trong bể hoạn thêm ḿnh nữa,

                        Theo hết rừng “Hàn” biết kiếp nao.

                        Vây cánh Ngô Đ́nh ghê gớm thật,

                        Mềm lưng dẻo gối chóng lên cao.

(ghi chú: “rừng Hàn” là hệ thống phẩm trật “Hàn Lâm” trong ngạch văn giai của quan lại Nam triều).[27]

Những ai đă từng chịu khó theo dơi không khí và khung cảnh quan trường thời Mạt Nguyễn đều biết rằng tất cả các hàng quan lại, nhất là hàng quan cao cấp từ Tuần Vũ trở lên, không mấy ai thân yêu kính phục anh em nhà họ Ngô Đ́nh. Thời bấy giờ, những ḍng họ có người làm quan to như họ Phạm, họ Vơ, họ Thân Trọng, Hồ Đắc, Trương Như, Nguyễn Khoa, Tôn Thất… đều coi anh em nhà họ Ngô Đ́nh như người xa lạ, nếu không muốn nói là như kẻ thù. Sở dĩ có t́nh trạng đó là v́ ḍng họ Ngô Đ́nh vừa theo đạo Thiên Chúa vừa không xuất thân từ hàng khoa giáp, không có tŕnh độ học vấn cao mà chỉ dựa vào thế lực của các cố đạo và các quan cai trị Pháp để được thăng thưởng mau lẹ. Đă thế, v́ anh em họ Ngô lại khép kín, cao ngạo, nên rất tự nhiên mà giới quan lại ngấm ngầm chia rẽ ra hai phe, phe Phật giáo và phe Công giáo.

Nếu tổng hợp sự kiện cụ Khả bị triều đ́nh cách chức cho về hưu sớm, sự kiện có những bài thơ phổ biến trong nhân gian để chế giễu “phe” Ngô Đ́nh, với lời phê phán của giáo sư Nguyễn Văn Xuân về tính thâm hiểm của cụ Bài, và nhận định của Thủ hiến Bắc Việt Nguyễn Hữu Trí về con người “thâm” của ông Ngô Đ́nh Diệm [28] ta có thể h́nh dung ra được nếp sống cách biệt với lề lối hành xử thiếu giao cảm của nhà Ngô Đ́nh, cũng như t́nh cảm nghi kỵ và ganh ghét của các bạn đồng liêu lúc bấy giờ.

Sở dĩ bước đường công danh của anh em ông Diệm ông Khôi thênh thang dễ dàng và thăng tiến mau lẹ là nhờ vào cột trụ Nguyễn Hữu Bài, vị tể tướng đứng đầu triều đ́nh An Nam, người đă được thực dân Pháp hun đúc từ ngày mới đi học ở trường đạo Penang về, từ thời c̣n là thông ngôn ở ṭa Khâm sứ Huế. Vơ Hiển Nguyễn Hữu Bài lại c̣n là nhạc phụ của ông Ngô Đ́nh Khôi và là người đỡ đầu cho ông Ngô Đ́nh Diệm. Chỉ có vị quan đầu triều thế lực tột đỉnh như Nguyễn Hữu Bài, người nắm toàn quyền giềng mối triều đ́nh An Nam trong lúc vua Bảo Đại c̣n bận du học ở Pháp, mới có đủ quyền lực hóa phép cho ông Diệm mang đôi hia bảy dặm trên con đường hoạn lộ, để chỉ trong 10 năm mà từ Tri Huyện lên đến chức Thượng Thư. Cũng chỉ có Nguyễn Hữu Bài mới có đủ uy thế để tiến cử ông Diệm với Bảo Đại làm Thượng Thư Bộ Lại thay thế ḿnh về hưu, dù ông Diệm tuổi c̣n rất trẻ, dù ông Diệm mới chỉ là Tuần Vũ một tỉnh nhỏ. Cái ǵ đă tạo cho ông Nguyễn Hữu Bài uy quyền và sức mạnh để khuynh loát triều đ́nh An Nam lúc bấy giờ? Cái ǵ đă cho phép ông Nguyễn Hữu Bài một bước nhảy vọt lên làm Thượng Thư đầu triều, quán xuyến mọi sinh hoạt triều chính để có thể đạp mọi thủ tục mà nâng người này lên hay đè người khác xuống, trong khi khả năng thực sự và quá tŕnh đóng góp cho triều đ́nh của ông không đáng kể? Câu trả lời mà nhiều người biết gồm hai phần: Phần thứ nhất là cái trạng huống chung của đất nước thời Bảo Hộ mà định chế được gọi là “triều đ́nh” chỉ là một cơ quan bất lực và vô quyền, ai có sức mạnh th́ thao túng được. Và phần thứ hai là chính Hội Truyền Giáo Hải Ngoại Pháp đă trao cho Nguyễn Hữu Bài cái sức mạnh vô địch của giáo quyền phối hợp với thế quyền của kẻ chiến thắng để, xuyên qua lá bài này, tiến hành chính sách Công giáo hóa Việt Nam (gli affari publici).

Lịch sử Hội Truyền Giáo Hải Ngoại gắn liền với lịch sử bành trướng của Pháp ở Đông Dương. Một sáng lập viên của Hội, Giáo sĩ Pallu, đă làm gạch nối giữa hai triều đ́nh Pháp-Việt. Giáo sĩ Pigneau de Béhaine sau đó thắt chặt thêm sợi dây liên hệ: sự can thiệp của những thành viên của Hội đưa đến cuộc can thiệp quân sự của Pháp tại Việt Nam.[29]

Nếu từ thế kỷ thứ tư, lịch sử Giáo Hội La Mă đă có những vị Giáo hoàng như Silvester cấu kết với Hoàng đế Constantine để xây dựng Giáo hội (năm 314) [30], đă có những Giáo hoàng như Léo khi chết để lại một chúc thư (năm 461) rằng “Hội Thánh Công giáo th́ bất phân ly với đế quốc La Mă và khi tốt cũng như khi xấu, chính là đế quốc La Mă [31]… th́ Hội Truyền Giáo Hải Ngoại Pháp, trong giai đoạn của một chính quyền Pháp c̣n sống với những ảo tưởng vàng son của một đế quốc oai hùng xa xưa, cũng đă hành xử với đầy đủ uy lực trên mảnh đất Việt Nam nghèo nàn xa xăm để phối hợp chặt chẽ chính sách thực dân (chính trị) với chính sách truyền giáo (tôn giáo).

Hăy đọc bản báo cáo của toàn quyền Beau gởi tŕnh cho chính phủ Pháp nhân dịp t́m người kế vị vua Thành Thái th́ đủ thấy thế lực của ông Nguyễn Hữu Bài, dù chỉ là một con cờ ủy nhiệm bản xứ, nhưng cũng đă mạnh như thế nào:

… Ngày 3 tháng 9 năm 1907, tôi đến Huế để chứng kiến lễ thoái vị của vua Thành Thái. Viên chánh văn pḥng của tôi liền đi thăm các quan đại thần của triều đ́nh Huế để ḍ la cho biết tư tưởng của họ đối với thời cuộc. Các vị này đều công kích kịch liệt tất cả các nhân vật đưa ra, nhưng họ thận trọng không đề nghị một ai cả, chỉ cùng thốt câu sáo ngữ: “Chúng tôi sẽ đồng ư và hoan nghênh bất kỳ một ông vua nào mà chính phủ Bảo hộ tuyển chọn”.

Riêng có Nguyễn Hữu Bài, Công bộ Thượng Thư, có nói đến cái tên Cường Để và tỏ thái độ thẳng thắn ủng hộ. Ông ta làm tôi lưu ư v́ ông có đạo Thiên Chúa, ư kiến của ông có thể được đoàn thể thế lực ấy tán đồng [32].

Nếu “ư kiến của ông có thể được Hội Truyền giáo tán đồng” th́ điều chắc chắn là ư kiến của Hội Truyền giáo cũng sẽ được phản ánh qua lập trường và hành động của ông Nguyễn Hữu Bài, mà chính quyền bảo hộ Pháp cần lưu tâm đến.

Thế lực Hội Truyền giáo mạnh mẽ như thế để cho ta thấy rơ v́ sao khi mà ông Nguyễn Hữu Bài đă muốn là có thể xây dựng được uy thế cho một Ngô Đ́nh Diệm từ thời ông Diệm c̣n là một sinh viên trường Hậu Bổ, v́ sao vua Bảo Đại phải chấp nhận cho ông Ngô Đ́nh Diệm làm Thượng Thư Bộ Lại, và v́ sao Hội Truyền Giáo Hải Ngoại Pháp khi đă muốn là có thể sắp đặt được để có một bà Hoàng Hậu theo Công giáo.

Về triều giữ chức Thượng Thư Bộ Lại, ông Diệm đ̣i hỏi người Pháp phải thực hiện những cải cách xă hội như họ đă hứa với vua Bảo Đại. Những cải cách xă hội đại để gồm có những mục như:

- Triều đ́nh An Nam có toàn quyền bổ báo, thưởng phạt trong vấn đề nhân sự của Nam triều.

- Triều đ́nh An Nam có ngân sách riêng, có tài chánh riêng, tư pháp riêng.

- Mở rộng nền giáo dục.

- Thiết lập Viện Dân Biểu.

- Người Pháp phải thực thi đứng đắn Ḥa Ước 1884, nghĩa là Ḥa Ước vẫn c̣n để cho Triều đ́nh An Nam (Trung kỳ) một ít quyền hành nội bộ, dù Ḥa Ước vẫn công nhận nền Bảo Hộ Pháp là điều kiện chính yếu.

Điều cần phải nói rơ là những dự định cải cách trên đây là do vua Bảo Đại đ̣i hỏi khi ông mới về nước và đă được người Pháp hứa hẹn. Những dự định cải cách này cũng đă được ông Phạm Quỳnh, nguyên chủ bút báo Nam Phong, đề nghị từ năm 1931 khi vua Bảo Đại chưa hồi loan. Ông Phạm Quỳnh c̣n đi xa hơn là đ̣i hỏi việc sát nhập Bắc kỳ và Trung kỳ, vốn là hai xứ Bảo hộ riêng biệt, thành một vương quốc có hiến pháp hẳn ḥi, nghĩa là chủ trương một nước Việt Nam theo chế độ quân chủ lập hiến tự trị trong một Liên Bang Đông Dương thuộc Pháp [33].

C̣n ông Diệm th́ vẫn trung thành với chính sách của người Pháp từ ngày ông làm Tri Huyện cho lên đến chức Tuần Vũ tỉnh B́nh Thuận. Cho đến khi được vua Bảo Đại cử làm Thượng Thư Bộ Lại và được chỉ định cầm đầu “Ủy Ban Cải Cách”, ông mới đ̣i hỏi việc thi hành những cải cách mà người Pháp đă hứa với nhà vua.

Nhưng ông Diệm gặp phải phản ứng quyết liệt của ông Phạm Quỳnh, người của Sở Chính Trị Pháp (Service Civil). Ông thất bại trong việc tranh chấp với ông Quỳnh nên chỉ làm Thượng thư Bộ Lại được 4 tháng th́ phải xin từ chức.

Để giải thích sự tranh chấp có vẻ khó hiểu của hai vị Thượng thư cùng được đỡ đầu và bảo vệ từ một nguồn thế lực là Pháp, ta cần phải thấy rơ bản chất thật sự của sự cấu kết giữa Hội Truyền Giáo Hải Ngoại và chính quyền thực dân Pháp. Sự cấu kết đó dựa trên căn bản hỗ tương quyền lợi và quân phân trách nhiệm: Thực dân Pháp phải núp đàng sau những chiếc áo chùng thâm mới có được cái chính nghĩa “nhiệm vụ khai hóa” (mission civilisatrice); các tu sĩ Thiên Chúa giáo phải được che chở bằng súng đạn của bộ máy xâm lược mới b́nh định được các cuộc chống ngoại xâm bản xứ để rao truyền đức tin của Chúa Kitô. Đó là quyền lợi hỗ tương giữa Giáo truyền và Thế quyền mà lịch sử Giáo hội La Mă và đế quốc La Mă đă tiến hành từ thế kỷ thứ 4 và hiện vẫn c̣n là mối đe dọa lớn cho sự sinh tồn của Giáo hội, và chính Đức Giáo Hoàng John Paul II vào năm 1978 đă phải lên tiếng cảnh cáo rằng “khói lửa của quỷ Satan đă tràn vào Giáo hội[34]. Tuy nhiên, trong tiến tŕnh cấu kết này, vấn đề quân phân trách nhiệm không phải lúc nào cũng minh bạch và được tôn trọng, Giáo hội đă có lúc vượt hạn chế để hành xử thế quyền cũng như các đế quốc cũng đă có lúc uy hiếp Giáo hội để khuynh loát giáo quyền.

Những va chạm dễ hiểu đó đă chạy dài suốt quá tŕnh phát triển của Giáo hội La Mă và các đế quốc Địa Trung Hải, và ở một kích thước nhỏ hơn nhưng rơ rệt hơn, đă thể hiện rơ ràng trong cuộc xâm thực văn hóa–chính trị trên đất nước ta trong những triều đại nhà Nguyễn. Ví dụ hiển nhiên nhất là chính sách ngu dân của Pháp t́m đủ mọi cách để duy tŕ và khuyến khích các truyền thống và h́nh thái cổ tục của dân ta, trong khi các vị truyền đạo lại t́m đủ mọi cách để đả phá và bài trừ những tục lệ cổ truyền đó của văn hóa dân tộc để dễ dàng len lỏi giáo lư Thiên Chúa giáo vào tín ngưỡng dân ta.

Chính Giám mục Puginier đă chủ trương trong 30 năm phải thực hiện cho xong công cuộc Công giáo hóa toàn bộ Bắc kỳ để biến miền này thành một tỉnh quận của Pháp gồm toàn người Việt theo đạo Công giáo, trong khi đó th́ Toàn quyền Đông Dương Lanessan lại t́m cách gây cảm t́nh với người Việt, đối đăi với người Việt theo lễ phép và phong tục địa phương, nhiều khi c̣n long trọng đến dự lễ khánh thành các chùa đền, lăng miếu. Chính sách của Lanessan đă làm cho các giáo đoàn e sợ, v́ thế giáo đoàn phải vận động để Lanessan bị mất chức và bị triệu hồi về Pháp.

V́ các viên chức cai trị Pháp ở Đông Dương không thể chịu đựng măi sự thao túng của các vị cố đạo, nên nhân dịp triều đ́nh An Nam chỉnh đốn nội bộ lúc vua trẻ Bảo Đại mới về nước, họ bèn đặt ông Phạm Quỳnh là người thân tín của họ vào để cản trở những kế hoạch của Hội Truyền giáo mà ông Ngô Đ́nh Diệm là đại diện. Trong cuộc tranh chấp này, Sở Chính Trị không những chỉ phải lo đối phó với ông Ngô Đ́nh Diệm mà c̣n muốn nắm vững bà Nam Phương Hoàng Hậu vốn cũng là con bài của Hội Truyền Giáo, họ bèn đặt cạnh bà một người thân tín khác của họ làm bí thư, đó là ông Nguyễn Tiến Lăng, một người của toàn quyền Robin. Thật ra, không phải chỉ v́ không đ̣i hỏi được những cải cách mà ông Diệm xin từ chức ngay, chứng cớ là hơn mười năm làm quan Huyện quan Tỉnh, ông vẫn thi hành chính sách của người Pháp một cách yên lặng. Đă vậy, trong các cuộc tranh luận công khai, ông Diệm lại bị đàn áp về lư luận cũng như về ngôn ngữ trước tài hùng biện và kiến thức uyên bác của một Phạm Quỳnh vừa là nhà báo vừa là học giả lại kém phẩm hàm hơn ông. Theo dơi cuộc đời chính trị của ông Diệm, ta thấy số mạng đă an bài cho ông luôn luôn nắm giữ những chức vụ chỉ huy, an định ở những vị trí lănh đạo. Làm quan triều Nguyễn hai đời vua, ông không hề giữ những chức vụ thừa hành ở các Viện hay các Bộ mà chỉ làm Tri Huyện, Tri Phủ, Quản Đạo, Tuần Vũ rồi cuối cùng là làm một vị Thượng Thư giang sơn một cơi. Sau này, th́ làm Thủ tướng toàn quyền cho một vị vua biệt xứ để rồi cuối cùng trở thành một vị Tổng thống mà không bị Tư pháp và Lập pháp phân quyền hoặc kiểm quyền. Quan niệm lănh đạo của ông Diệm là luôn luôn đ̣i cho được toàn quyền dù khả năng không đủ để cáng đáng, dù t́nh h́nh phức tạp khó khăn đ̣i hỏi một sự tản quyền và phân quyền hợp lư.

Thời làm Thủ tướng (1954–55), ông Diệm đ̣i Bảo Đại trao cho ông toàn quyền và thề sẽ bảo vệ lănh thổ toàn vẹn dù sau đó trở nên lúng túng và tê liệt, đành phải bỏ rơi Bắc Việt. Trước đó, thời làm Thượng Thư Bộ Lại (1933), ông cũng đă đ̣i toàn quyền để cải cách xă hội mà không biết rằng những cải cách đó, nếu thực hiện được, chỉ làm đẹp thêm vai tṛ thực dân và làm mạnh thêm vị trí bảo hộ của người Pháp tại Việt Nam. Huống ǵ là người của Hội Truyền Giáo Hải Ngoại Pháp, ông làm sao đi ngược lại được chính sách thực dân của Hội, làm sao lên án và tiêu trừ được những hành vi áp bức quá khích của các vị cố đạo đối với lương dân.

Trong Việt Nam Pháp Thuộc Sử của giáo sư Phan Khoang, trong Lịch Sử Nội Chiến Việt Nam của giáo sư Tạ Chí Đại Trường, trong rất nhiều lời kêu gọi của cụ Phan Bội Châu, ta đă biết rơ ràng và đầy đủ việc các vị Cố đạo dựa vào bạo lực của quân đội viễn chinh Pháp để bênh vực con chiên mà áp bức người lương [35]. Ở đây, tôi xin dẫn chứng thêm nhận định của học giả Đào Trinh Nhất khi phê phán những tệ hại do các Cố đạo gây ra:

… Thật thế, các ông ấy giảng đạo, song nếu “con chiên” có chuyện ǵ kiện cáo với lương dân, tức thời các ông mang bộ “áo dài thâm” vào rồi thân hành lên quan Phủ, quan Huyện kêu nài, và dọa nạt quan Phủ, quan Huyện phải xử cho con chiên được kiện. Nếu quan không bênh vực theo ư muốn của các ông th́ các ông hăm dọa lên nói với quan Công sứ t́m cách ám hại. Các ông cố đạo gọi dân đến dụ dỗ, hễ đứa nào chịu theo Đạo th́ lănh sáu đồng bạc. Những đứa đă ngửa tay lấy tiền để đi Đạo th́ c̣n có ra hồn ǵ đâu. Lấy tiền xong chúng về làng dọa nạt anh em đồng bào ḿnh: “Bây liệu hồn, chúng tao đây đă có Tây đỡ đầu, nếu bây dám chửi tao, gây gổ với tao là tao nướng xác của bây và lấy hết của cải của bây”. Đêm tối, chúng nó chụm lửa tự đốt tiêu nhà tranh vách nát của chúng để rồi la làng giá họa vu oan cho bọn Văn Thân, bọn dân lương. Thế là chúng vừa lấy được tiền của nhà nước mà bọn lương dân kia th́ phải tù tội [36].

Với một t́nh trạng xă hội “quan tha ma bắt” như thế, với một triều đ́nh bạc nhược thối nát như thế, thử hỏi ông Diệm dù có đ̣i hỏi thật sự th́ làm sao ông có thể thực hiện những cải cách được. Dưới thời Cộng Ḥa, là một Tổng thống toàn quyền mà ông c̣n để cho các Linh mục và nhóm Cần Lao khủng bố áp bức lương dân th́ dưới thời Pháp thuộc, ông làm sao có thể chống lại chính sách của Hội Truyền giáo và chống lại cái bổn phận tông đồ của ông, khi chính ông là một vị quan tay sai của Pháp, tay chân của Giáo Hội. Cho nên năm 1933, dù người Pháp có để cho ông Diệm thực hiện những cuộc cải cách th́ ông Diệm cũng chỉ làm được công việc tô vẽ cho chiếc lồng đẹp đẽ hơn, nặn đúc cho cái chậu rộng lớn hơn, nhưng dân Việt Nam vẫn là thứ dân cá chậu chim lồng, thứ dân bị ru ngủ để thực dân Pháp củng cố và kéo dài nền đô hộ. Dưới thời quân Nhật chiếm đóng (1941-45), Toàn quyền Decoux v́ sợ dân ngă theo Nhật Bản đă đưa ra nhiều cải cách rộng lớn như mở viện “Nhân Dân đại biểu”, như b́nh đẳng hóa nhiều ngạch công chức Pháp–Việt, ngạch sĩ quan Pháp–Việt, như mở thêm trường đại học… Thế mà chính phủ Bảo Hộ vẫn vững vàng, dân Việt Nam vẫn là dân thuộc địa cho đến khi có cuộc cách mạng của chính dân Việt nổi lên th́ mới thực sự được giải thoát khỏi gông cùm.

Như vậy, việc ông Diệm từ chức Thượng thư rơ ràng phần lớn là do áp lực của người Pháp và Phạm Quỳnh. Riêng Bảo Đại, khi cho thu hồi bằng sắc, huy chương của ông Diệm chẳng qua cũng chỉ như ông Diệm, nghĩa là v́ áp lực của thực dân mà chính vua Bảo Đại, trong công việc này, cũng tỏ ra bất măn với người Pháp, tỏ ra luyến tiếc sự ra đi của một trung thần mà ḍng họ đă ba đời khuông pḥ nhà Nguyễn, mà thế hệ anh em ông Diệm đă là thần tử tận tụy với tiên vương. Thế mà sau khi từ chức, ông Diệm lại pḥ Cường Để với ư đồ nhờ quân đội Nhật Bản lật đổ ngai vàng của Bảo Đại. Trước sự phản bội của ông Diệm, vua Bảo Đại vẫn không thù oán, vẫn nhớ đến kẻ cựu thần, hai lần đánh điện vào Sài G̣n mời ông Diệm về lập chính phủ. Không ngờ người Nhật đă bỏ rơi lá bài Cường Để và Ngô Đ́nh Diệm, và do đó không chịu trao điện tín lại làm cho cuộc tái hợp vua tôi không thành tựu, và cũng do đó mà vua Bảo Đại phải mời học giả Trần Trọng Kim làm Thủ Tướng. Nhưng rồi Việt Minh cướp chính quyền, vua Bảo Đại từ bỏ ngai vàng trở thành một công dân, rồi làm Tối cao Cố vấn cho ông Hồ Chí Minh trong lúc ông Ngô Đ́nh Diệm bị Việt Minh đày ải nơi miền sơn cước, gần biên giới Hoa–Việt.

Chính trị đúng là tấn tuồng muôn mặt v́ có ai ngờ việc quân Pháp trở lại Việt Nam lại gián tiếp giải thoát được cả cho hai ông Bảo Đại lẫn Ngô Đ́nh Diệm khỏi ṿng kềm kẹp của ông Hồ Chí Minh để Bảo Đại đi Hồng Kông và hai năm sau trở thành đối thủ của ông Hồ, c̣n ông Ngô Đ́nh Diệm trở về Sài G̣n để một lần nữa quay về với vị Vua mà ḿnh đă hai lần bội phản.

Năm 1947–1948, khi Pháp bỏ giải pháp Hồ Chí Minh để quay về thương thuyết với Cựu Hoàng Bảo Đại trong âm mưu sử dụng ông vua bù nh́n cũ hầu tái lập nền thuộc địa, th́ ông Diệm, hơn ai hết, đă nhận biết được Bảo Đại chính là người của thời cuộc, chính là tụ điểm cần thiết cho lực lượng quốc gia trong bối cảnh đất nước lúc bấy giờ. V́ vậy, cùng với một số chính khách thuộc nhiều khuynh hướng và tổ chức khác nhau, ông Diệm đă qua Hồng Kông hội kiến và thảo luận với vua Bảo Đại để t́m một giải pháp chống Cộng cứu nước.

Kết quả của những thảo luận này là sự mâu thuẫn về mục tiêu đấu tranh giữa ông Diệm và các chính khách khác, dù sách lược đấu tranh của cả hai phía hoàn toàn giống nhau. Nghĩa là trong cái thế tam phân lực lượng lúc bấy giờ (Việt Minh kháng chiến, Pháp bảo hộ và Bảo Đại quốc gia), mà lực lượng chính trị chống Cộng của người Việt Nam th́ không có được một hậu thuẫn nhân dân và một sức mạnh vơ lực đáng kể, th́ phương thức đấu tranh c̣n lại duy nhất là những vận động ngoại giao. Tuy nhiên, trong khi các chính khách khác chủ trương vận động cho một nước Việt Nam Độc Lập dần dần th́ ông Diệm chủ trương vận động cho một Việt Nam độc lập theo quy chế Dominion (tương tự như Khối Thịnh Vượng Chung của Anh). Được sự đồng ư của vua Bảo Đại và được ủy thác thi hành công tác này, ông trở về Sài G̣n và bắt đầu vận động theo chiều hướng đó. Nhưng ông đă hoàn toàn thất bại trong nỗ lực này và do đó, quyết định ở lại Sài G̣n để tiếp tục hoạt động chính trị qua các phương tiện truyền thông và báo chí để chống lại vua Bảo Đại và Pháp.

Năm 1949, ông bảo trợ cho nhật báo Hoa Lư do một người đồng hương là ông Đinh Xuân Tiếu, tự là Thiết Mộc, làm chủ nhiệm kiêm chủ bút mà hai cộng sự viên thân tín nhất là Huỳnh Hoài Lạc và Phan Xứng ở trong ban biên tập và ông Hồ Sĩ Khuê là giám đốc chính trị. Ông Diệm chủ trương thân thiện với Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân và đối lập với các chính khách khác. Đến thời ông Trần Văn Hữu giữ chức Thủ Hiến Nam Phần (1948-49), ông Đinh Xuân Tiếu bị ám sát, nhật báo Hoa Lư tự ư đ́nh bản vĩnh viễn. Song song với nhật báo Hoa Lư, ông Diệm c̣n được sự yểm trợ của tuần báo Tinh Thần của nhóm các bác sĩ Trần Văn Đỗ, Nguyễn Tăng Nguyên, Huỳnh Kim Hữu.

Tôi xin mở một dấu ngoặc để nói thêm rằng trụ sở của nhật báo Hoa Lư ở tầng giữa của ngôi biệt thự lầu số 152 đường Général De Gaulle, tức là đường Công Lư sau này. Tầng trên do một người Pháp làm việc cho Pḥng Nh́ Pháp chiếm cứ, c̣n tầng dưới th́ thuộc về văn pḥng và gia đ́nh của luật sư Nguyễn Hữu Thọ. Lúc bấy giờ v́ cả ông Diệm lẫn luật sư Nguyễn Hữu Thọ đều là những nhân vật chính trị chống Pháp và chống những chính phủ đương thời cho nên hai người liên hệ với nhau rất tương đắc. Nhưng đến năm 1954, 1955, khi ông Nguyễn Hữu Thọ ở trong Phong trào Ḥa B́nh, anh em ông Diệm bắt ông Thọ quản thúc ở Tuy Ḥa, từ đó ông Thọ trở nên con người cho Hà Nội khai thác. Thật ra Luật sư Nguyễn Hữu Thọ cũng như Dược sĩ Trần Kim Quan và tiến sĩ Âu Trường Thanh (hiện ở Pháp)… không phải là Cộng Sản, nếu anh em ông Diệm khôn khéo hơn, không chủ trương độc tài mà thực hiện một chính sách cởi mở hơn với mọi thành phần quốc gia th́ ắt hẳn ông Nguyễn Hữu Thọ đă không theo Hà Nội làm Chủ tịch Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam sau này.

Lại cũng phải nói thêm rằng, sau này, khi ông Diệm làm Tổng thống được một thời gian, hai cộng sự viên của ông trong ban biên tập nhật báo Hoa Lư là các ông Phan Xứng và Huỳnh Hoài Lạc cũng trở thành những phần tử bất măn với chính ông và chế độ của ông. C̣n ông Đinh Xuân Tiếu, người đă hy sinh tính mạng ḿnh cho ông Diệm, có người chú là luật gia Đinh Xuân Quảng th́ cũng trở thành đối lập với ông Diệm nên bị bắt giam một thời gian, sau đó ông lại có chân trong Mặt Trận Dân Chủ Tự Do của bác sĩ Phan Quang Đán nên bị chế độ ông Diệm bắt giam vào tù thêm một lần thứ hai nữa.

Giữa năm 1949, Quốc trưởng Bảo Đại về nước lănh đạo quốc gia, đặt văn pḥng tại Đà Lạt để tránh cái nghênh ngang của Cao ủy Pháp đang ngự trị tại dinh Norodom Sài G̣n. Không lẽ Quốc trưởng mà lại ở dinh Gia Long, sao c̣n thể thống?

Người ngoài không ai biết được giữa ông Bảo Đại và ông Ngô Đ́nh Diệm có liên lạc công khai hay bí mật nào không, nhưng có một điều chắc chắn là ông bà Ngô Đ́nh Nhu (vốn ở đường Hoa Hồng tại Đà Lạt) vẫn giao du với Quốc trưởng, đặc biệt là bà Nhu, mỗi tuần ba bốn lần, có khi cả ban đêm, thường đến Biệt điện số Một, nơi Quốc trưởng trú ngụ, để dạy Quốc trưởng đàn dương cầm. Việc này th́ nhân viên văn pḥng đức Quốc trưởng và ngự lâm quân không mấy ai không biết.

Môi trường và các thế lực chính trị lúc bấy giờ tại Việt Nam quả thật không thuận lợi cho những nỗ lực hoạt động của ông Diệm. Ngoài kẻ thù Cộng Sản đang điều động kháng chiến, các lực lượng chống Cộng khác như chính quyền Pháp th́ không tin tưởng ở ông, chính phủ Việt Nam mà thể hiện rơ ràng là thành phần lănh đạo th́ chống ông, các đảng phái và giáo phái th́ nghi ngờ ông, đại đa số giáo dân và giám mục Lê Hữu Từ cũng không đặt kỳ vọng hay dành thiện cảm cho ông. Triển vọng của ông Diệm để xây dựng một thế đứng chính trị thoát dậy từ một trạng huống như vậy để tiến lên áp lực vua Bảo Đại hầu được ủy nhiệm làm Thủ tướng nắm chính quyền, tỏ ra rất mong manh, nếu không muốn nói là vô vọng.

Lượng giá đúng như vậy cho nên lối thoát c̣n lại cho ông Diệm để khai thông bế tắc sự nghiệp chính trị của đời ḿnh là nương dựa vào ngoại lực để áp đảo và san định t́nh h́nh trong nước. Đối với ông Diệm, phương thức này không phải là mới mẻ. Thời đô hộ, ông dựa vào Hội Truyền giáo và thực dân Pháp để làm quan; thời Nhật chiếm đóng, ông dựa vào người Nhật để hoạt động, cho nên bây giờ, trong bối cảnh của cuộc chiến tranh Pháp–Việt, với một chính thể quốc trưởng Bảo Đại không thuận lợi cho ông, ông bèn, dĩ nhiên, t́m một thế lực quốc tế khác để nhờ cậy. Cuối năm 1950, ông xuất ngoại măi cho đến năm 1954, nhờ thế lực của Ṭa Thánh La Mă, của Hồng Y Spellman, của phong trào Cộng Ḥa B́nh Dân Thiên Chúa giáo Pháp (MRP), và đặc biệt là nhờ Hoa Kỳ làm áp lực với chính quyền Pháp cùng Bảo Đại, và cũng nhờ vận động ngầm của Nam Phương Hoàng Hậu, cuối cùng ông Diệm đă được Quốc trưởng chỉ định làm Thủ tướng.

Bác sĩ Phan Huy Quát, nguyên Bộ trưởng trong nội các của ông Bửu Lộc, đă cho tôi biết rằng sau ngày Nội các Bửu Lộc họp lần chót ở lâu đài Thorence dưới quyền chủ tọa của Quốc trưởng Bảo Đại, nhiều vị Bộ trưởng đă tỏ ra bất măn về việc đề cử ông Diệm làm Thủ tướng, nhưng vua Bảo Đại đă gạt đi:

“Tôi là Việt gian của Pháp, Ngô Đ́nh Diệm là Việt gian của Mỹ. Nay thời của Pháp đă hết mà Mỹ th́ đang lăm le nhảy vào Việt Nam, tại sao ta lại không giao chánh quyền cho Ngô Đ́nh Diệm để nhờ Mỹ bảo vệ Việt Nam”.

Đó là lời nói chí t́nh tha thiết muốn bảo vệ quê hưong trước một t́nh thế khó khăn của một Bảo Đại không hẹp ḥi và cố chấp, mà ngược lại, lại có tinh thần trách nhiệm của một cấp lănh đạo quốc gia. Vua Bảo Đại trao trọn quyền hành chánh và quân sự cho ông Ngô Đ́nh Diệm mà chỉ đổi lấy một lời thề, lời thề trước Chúa, phải bảo vệ quê hương. Lời thề này cũng hàm ư phải trung thành với Quốc trưởng, v́ trước ông Diệm cũng đă có 5 vị thủ tướng nhưng không có một vị nào bị vua Bảo Đại bắt thề trước khi nhận chức vụ và quyền hành cả (ngoại trừ lễ tŕnh diện chính phủ).

Sau lời thề “tận trung báo quốc” năm 1954 đó, Thủ tướng Ngô Đ́nh Diệm lên đường về nước để lèo lái con thuyền quốc gia trước cơn sóng gió, trong lúc Quốc trưởng Bảo Đại c̣n ở lại Pháp để theo dơi cuộc Hội đàm Genève định đoạt số phận đất nước và tranh đấu quyết liệt với Pháp để giành lại trọn vẹn chủ quyền quốc gia [37].

Như vậy, sau 6 năm trời xa lánh Quốc trưởng mà trong đó có hơn 4 năm “lê gót nơi quê người”, 6 năm xa lánh trong tư thế đối lập với cá nhân vị Quốc trưởng chứ không phải với chế độ của Quốc trưởng, cuối cùng ông Diệm lại quay về để nhận chức Thủ Tướng do chính Quốc trưởng bổ nhiệm. Dù sự bổ nhiệm đó có dưới áp lực của Mỹ th́ nó cũng mang cùng bản chất với những bổ nhiệm dưới áp lực của Pháp của ba vị thủ tướng tiền nhiệm là các ông Nguyễn Văn Xuân, Trần Văn Hữu, Nguyễn Văn Tâm. Với tư cách Thủ tướng, ông Diệm đă kư tất cả các văn kiện chính thức dưới ḍng chữ “Thừa lệnh Đức Quốc Trưởng”, ông đă đứng dưới ngọn cờ vàng ba sọc đỏ do vua Bảo Đại khai sinh để chống Cộng Sản, ông cũng đă trông cậy hoàn toàn vào quân đội quốc gia của vua Bảo Đại, lực lượng mà ông từng chê bai là “lính đánh thuê cho Pháp”, để dẹp B́nh Xuyên và các giáo phái hầu xây dựng và củng cố quyền lực lẫn địa vị cho ông.

Tuy nhiên, cuộc tái hợp giữa Cựu Hoàng và vị cựu thần nhà Nguyễn chỉ là một hệ quả tạm thời của cuộc tranh chấp chính trị Mỹ–Pháp, nên chỉ sau mấy tháng phải tan vỡ. Hồi cuối cùng của tấn tuồng trăm năm đô hộ là những diễn viên tận t́nh múa may cho vừa ḷng các đạo diễn nhiều phù phép: Diễn viên Hồ Chí Minh khoác áo dân tộc, lănh đạo cuộc kháng chiến; diễn viên Bảo Đại đóng vai quốc gia bám vào lực lượng người Pháp để kháng Cộng; và diễn viên Ngô Đ́nh Diệm dựa vào thế lực Mỹ để t́m cách thay thế Bảo Đại trong cuộc tương tranh Quốc–Cộng. Trên mặt lịch sử và hiển hiện trong thực tế, đó là cuộc đấu tranh quyền lực của những tay sai bản xứ, mà dân tộc, đau đớn thay, lại là nạn nhân bất lực bị cuốn hút vào. Trong chiều dài của cuộc đấu tranh sống mái Quốc–Cộng, nếu phía Cộng Sản chỉ có một hậu phương lớn là khối Cộng Sản quốc tế, một cấp lănh đạo duy nhất là đảng Cộng Sản Việt Nam, th́ ngược lại, phía những lực lượng gọi là quốc gia, v́ không đủ tư cách và khả năng vận dụng được sinh lực của dân tộc nên liên tục thay thầy đổi tớ. Trong những năm từ 1953 đến 1956, mà cao điểm là cuộc Trưng Cầu Dân Ư vào ngày 23 tháng 10 năm 1955, Ngô Đ́nh Diệm phải thay Bảo Đại cho phù hợp với ông thầy Pháp đă nhường quyền cho ông chủ Mỹ trên quê hương ta.

Cuộc Trưng Cầu Dân Ư do chính quyền đương nhiệm của ông Diệm đứng ra tổ chức và cũng do chính quyền đương nhiệm (dưới h́nh thức Quốc Hội Lập Hiến) kiểm soát. Ngày 23 tháng 10 năm 1955, dân chúng miền Nam Việt Nam đến pḥng phiếu để chọn lựa giữa hai ông Bảo Đại và Ngô Đ́nh Diệm theo khẩu hiệu đă được chính quyền và Phong trào Cách mạng Quốc gia giáo dục trước: “Xanh bỏ giỏ, Đỏ bỏ b́”, hoặc:

            Phiếu đỏ ta bỏ vô b́

            Phiếu xanh Bảo Đại ta th́ vất đi.

Kết quả chính thức cuộc Trưng Cầu Dân Ư được đăng vào công báo là 5.721.735 phiếu đỏ có h́nh ông Diệm (98.2%) và 63.107 phiếu xanh có h́nh vua Bảo Đại (1.1%). Tại Sài G̣n, tổng số cử tri là 450.000 người mà số phiếu bỏ cho ông Diệm lên đến 650.000, nghĩa là số phiếu gian lận là 200.000. Giữa thủ đô Sài G̣n có tai mắt quốc tế mà c̣n gian lận trắng trợn đến thế, thử hỏi tại các tỉnh, tại thôn quê th́ sự gian lận đến mức độ nào?

Buồn cười là sự gian lận này đă bị đại tá CIA Lansdale, cố vấn Mỹ của ông Diệm, đoán trước thế nào cũng sẽ xảy ra nên đă cảnh cáo ông Diệm. Sau khi giúp ông Diệm đánh dẹp được B́nh Xuyên rồi, Lansdale khuyên ông Diệm phải tổ chức “Trưng cầu Dân Ư” để truất phế Bảo Đại cho có chánh nghĩa. Trước ngày lên đường về Mỹ để lánh mặt cuộc “Tổng Tuyển Cử”, Lansdale c̣n dặn ông Diệm: “Trong lúc đi vắng, tôi không muốn bỗng nhiên nhận được tin ông thắng 99.99 phần trăm, v́ biết đó là âm mưu sắp đặt trước”[38]. Và ông Diệm đă vâng lời để chỉ thắng… 98.2 phần trăm!

Lansdale bảo ông Diệm nên tỏ ra công bằng và chỉ cần thu lượm được một đa số phiếu tương đối là tốt đẹp rồi, không nên tham lam quá. Nhưng với bản chất muốn cho ḿnh cái ǵ cũng “Nhất”, anh em ông Diệm bèn tổ chức bầu cử gian lận. Khốn nỗi, việc gian lận quá lộ liễu xảy ra ngay tại thủ đô Sài G̣n để cho ngoại giao đoàn và báo chí quốc tế biết được.

Nói cho cùng th́ nếu không tổ chức bầu cử gian lận chưa chắc ông Diệm đă đắc thắng vẻ vang. Thật thế, nh́n vào bối cảnh đất nước vào mùa Thu 1955, lực lượng nhân dân hướng về ông Bảo Đại vẫn c̣n đông đảo: Cao Đài, Ḥa Hảo, Đại Việt, Việt Quốc, Duy Dân, Nguyễn Phước tộc, khối người miền Nam không ưa người miền Bắc, khối người miền Nam c̣n nhớ ơn nhà Nguyễn, khối dân tộc thiểu số của Hoàng Triều Cương Thổ, số người thân Pháp v.v… có thể làm lệch cán cân “Trưng cầu Dân Ư”. Nhưng quyền lực trong tay, thủ đoạn gian lận và tiền bạc của Mỹ đă giúp ông Diệm đánh ngă vị cựu Quốc trưởng của ông một cách dễ dàng.

Tuy nhiên, dù gian lận th́ kết quả cuộc đầu phiếu, riêng đối với ông Diệm, cũng đă giúp ông đạt được hai mục tiêu mà ông đă nhắm đến là tŕnh diện được một bề mặt dân chủ với chính quyền lẫn Quốc hội Hoa Kỳ, và nâng cao uy thế cá nhân của ông lên đến mức độ tôn sùng như một vị cứu tinh anh minh của dân tộc [39]. Riếng đối với dân tộc Việt Nam, ngày 23 tháng 10 năm 1955 có một ư nghĩa lịch sử quan trọng hơn hẳn những mục tiêu chính trị giai đoạn của ông Diệm. Đó là ngày chấm dứt triều đại nhà Nguyễn và chế độ quân chủ tại Việt Nam và trao lại quyền quản trị đất nước để chống Cộng, và quan trọng hơn cả, để xây dựng nền móng cho kỷ nguyên dân chủ sau này. Chính sách và chế độ ông Diệm 9 năm sau đó có làm cho nền móng đó thui chột và có làm cho Cộng Sản mạnh thêm là tội của ông và gia đ́nh ông đă phản bội lại những lá phiếu tín nhiệm của nhân dân Việt Nam thể hiện trong ngày 23 tháng 10 lịch sử này.

Bên lề của biến cố này có hai nhận định tôi cần ghi lại ở đây như tiếng thở dài chán chường của nhân thế vẫn thường vang vọng trong những nổi trôi của lịch sử. Nhận định thứ nhất về ông Ngô Đ́nh Diệm của Thủ hiến Bắc Việt Nguyễn Hữu Trí chỉ một năm trước ngày trưng cầu dân ư: “Ông Diệm là người đạo gốc, lại mấy đời thờ nhà Nguyễn, chắc chắn là tôn quân bảo hoàng và hết ḷng với Quốc trưởng Bảo Đại, tài cán ông Diệm th́ chưa ai rơ nhưng trung thành với Ngài th́ tôi có thể tin” [40].

Và nhận định thứ hai về ông Bảo Đại của kư giả Stanley Karnow gần một phần tư thế kỷ sau: “… Khi cử ông Diệm làm Thủ tướng, Bảo Đại có ngờ đâu chính quyết định của ḿnh lại là một hành động tự ư đào huyệt chôn vùi sự nghiệp chính trị của ḿnh” [41]. Thế là ông Ngô Đ́nh Diệm từ chủ trương cho Việt Nam quy chế “quân chủ lập hiến” với một Bảo Đại là nhà vua, một Ngô Đ́nh Diệm là Thủ tướng, đă đưa miền Nam Việt Nam đến một thể chế “Cộng Ḥa” mà ông là vị Tổng thống đầu tiên, c̣n vị vua đă từng bổ nhiệm ông làm Thủ tướng, từ nay trở thành kẻ lưu vong biệt xứ, ngậm đắng nuốt cay nơi đất khách quê người.

 

-o0o-

 

Năm 1955, với vị thế là cán bộ chính trị trung kiên của Thủ tướng Ngô Đ́nh Diệm, với tư cách là chủ tịch phong trào Cách Mạng Quốc gia của bốn tỉnh duyên hải miền Nam Trung phần, tôi đă hăng say hoạt động cho chiến dịch truất phế vua Bảo Đại mà tôi cho là không c̣n đủ khả năng lănh đạo cuộc đấu tranh chống Cộng, và không c̣n đủ vóc dáng để khai mở một kỷ nguyên dân chủ cho đất nước nữa.

Thật ra th́ dân ư đang đ̣i hỏi và hướng về một cuộc thay đổi gốc rễ để đáp ứng với biến đổi mới của thời đại. Nhưng những tài liệu do Bộ Thông Tin Sài G̣n gởi ra cũng như những chỉ thị mật của Phong Trào Cách Mạng Quốc gia từ Huế gởi vào cho tôi đều chủ yếu tập trung vào việc lên án những tội lỗi của vua Bảo Đại vô đức vô tài… Lên án không chưa đủ, chỉ thị c̣n bắt phải khơi dậy ḷng căm thù ông Bảo Đại trong quần chúng nữa!

Cả một chiến dịch bao trùm từ Cà Mâu đến Bến Hải do chính quyền yểm trợ trên cả hai mặt nội dung lẫn phương tiện, hung hăng và rầm rộ t́m cách đạp Bảo Đại xuống bùn dơ của lịch sử. Cả nước được vận động để phỉ nhổ Bảo Đại như là một hiện thân xấu xa nhất hơn cả Lê Chiêu Thống và Lê Long Đĩnh. Hai đài phát thanh Sài G̣n và Huế, phối hợp với báo chí trong gần một tháng trời, liên tục mạt sát ông Bảo Đại và thúc dục dân chúng quất roi và đốt lửa những h́nh nộm Bảo Đại. Chiến dịch to lớn của một nhân vật quốc gia chống Cộng (theo Mỹ) để truất phế một nhân vật quốc gia khác cũng chống Cộng (nhưng theo Tây) c̣n tàn độc và khủng khiếp hơn chiến dịch hạ bệ Bảo Đại của kẻ thù là Cộng Sản Việt Minh thời 1948, 1949, khi giải pháp Bảo Đại mới ra đời để đối phó với ông Hồ Chí Minh.

Sau biến cố đó, nghĩa là khi kết quả chính thức đă được công bố và thể hiện tượng trưng là việc thu hồi chiếc du thuyền của vua Bảo Đại và ngôi biệt thự một tầng ở đường Công Lư của bà Từ Cung, vị Cựu Hoàng âm thầm lui vào bóng tối để kéo dài cuộc sống tha hương, c̣n bà Từ Cung th́ được phép trở về An Định Cung An Cựu ở ngoại Hoàng thành Huế để sống nốt chuỗi ngày già lăo. Trong thảm cảnh đau thương đó, có lẽ đêm đêm bà đă ngậm ngùi ngâm câu thơ cũ, khóc thương cho một triều đại suy tàn để nhớ tiếc triều đại nhà Nguyễn của Bà:

                        Cung miếu triều xưa đâu vắng ngắt,

                        Trăng mờ khắc khoải quốc kêu thâu.

                                                            (Chu Mạnh Trinh)     

 

Trong gần mười năm kể từ biến cố đó, cho đến khi ông Diệm bị lật đổ và giết chết năm 1963, rồi ông Hồ Chí Minh từ giă cuộc đời vào năm 1969, quê hương đă trải qua bao độ thăng trầm và dân tộc đă nhận chịu biết bao thống khổ. Gần mười năm đọa đày trong tang tóc và binh lửa mà ba nhân vật lịch sử đă từng hằn in dấu tích của ḿnh trong ḍng sông lịch sử, th́ nay mỗi người một ngả, mỗi người một số phận: Hai ông Hồ Chí Minh và Ngô Đ́nh Diệm đă ra người thiên cổ để lại rất nhiều nợ nần oan trái cho dân tộc, c̣n cựu hoàng Bảo Đại th́ kéo dài cuộc sống tha hương vô vị mà ngày trở về quê cũ chỉ c̣n có thể có trong giấc mộng mà thôi.

Tôi không dám bắt chước tiền nhân làm công việc “cái quan định luận” về giai đoạn truân chuyên này của lịch sử nước ta, tôi cũng không muốn phê phán ông Hồ Chí Minh v́ cả nước đều đă biết công tội của ông ta, mà tôi chỉ muốn để ḷng ḿnh lắng xuống trong những ngày tháng c̣n lại của cuộc đời biệt xứ, để tự tâm nh́n về hai nhân vật Bảo Đại và Ngô Đ́nh Diệm bằng cái nh́n của người không những đă kinh qua cả hai chế độ trong tư thế của một cán bộ đấu tranh, mà c̣n bằng cái nh́n nghiêm khắc của một người dân khốn khổ nhưng vẫn luôn luôn là chủ nhân của đất nước.

Rất nhiều tài liệu, quá nhiều tài liệu, bằng giấy trắng mực đen hay bằng những chứng tích đau nhục trên các thân thể tàn phế v́ bị tra tấn đă phê phán lên án ông Diệm cũng như chế độ của ông: Lịch sử của sinh viên Việt Nam, lịch sử của các đảng phái Việt Nam, lịch sử của quân đội Việt Nam, lịch sử của các tôn giáo lớn và nhỏ tại Việt Nam, lịch sử của văn học Việt Nam… nói tóm lại lịch sử Việt Nam trước, sau, và trong chín năm ông Diệm cầm quyền đă làm xong cái công việc phán quyết tối hậu và chung kết rồi, nhưng điều đó không ngăn cản nổi những cố gắng tội nghiệp của một thiểu số cuồng tín và ngoan cố vẫn muốn t́m cách đánh tráo lịch sử để phục hồi lại vị trí “cứu tinh dân tộc” và “lănh tụ anh minh” của một ông Diệm đă nằm trong ṿng xích sắt của lịch sử.

Đến đây không thể không nêu ra hai sự kiện mà nhờ ánh sáng thời gian đă được lột trần ra trước lịch sử để nhân dân đi từ mất niềm tin đến chống đối ông Diệm. Đó là yếu tố Tham Nhũng và yếu tố Dâm Ô được phe nhóm ông Diệm sử dụng để hạ nhục Bảo Đại trong chiến dịch truất phế Cựu Hoàng. Nhưng khi ông Diệm nắm vững được chính quyền rồi th́ nền tham nhũng của anh em ông ta c̣n tệ hại gấp trăm lần thời Bảo Đại. C̣n cái huyền thoại “Cụ Ngô không vợ không con để hiến thân cho đại cuộc” đă trở thành câu chuyện cười ra nước mắt.

Bêu xấu Bảo Đại nào là dâm ô nào là vợ nọ con kia mà chính ông Ngô Đ́nh Diệm lại dấn thân vào những cuộc t́nh bất chính.

Ông Phạm Văn Nhu, bạn thân ông Diệm và là cựu chủ tịch Quốc Hội, đă viết trên nhật báo Ḥa B́nh (Sài G̣n) rằng thời gian làm nhà đối lập với chế độ Bảo Đại, chính ông Ngô Đ́nh Diệm đă dan díu với một gái me Tây (xem “Làm thế nào để giết một Tổng thống” của Cao Thế Dung). Nhưng trước đó, vào năm 1945, thời Nhật chiếm đóng, cũng chính ông Ngô Đ́nh Diệm đă lừa gạt một người con gái nhẹ dạ đến mang thai. Năm 1958, hai mẹ con đến Sài G̣n xin gặp nhưng bị ông Diệm từ chối nhất định không thừa nhận đứa con trai huyết thống của ḿnh, và cũng không phụ cấp cho người đàn bà khốn nạn một đồng xu cắc bạc nào.

Tài liệu này (thư và ảnh) do tướng Trần Văn Đôn sưu tầm được trong Hồ sơ mật dinh Gia Long sau biến cố 1-11-1963, và năm 1989 được ông giao cho một số báo chí đăng tải. Chúng tôi cũng trích đăng vào phần Phụ Lục cuốn sách nầy.

Về phần Bảo Đại th́ cũng đă có rất nhiều, nếu không muốn nói là quá nhiều tài liệu viết về ông do các bộ phận tuyên truyền của chế độ Ngô Đ́nh Diệm xuất bản. Sau đó th́ cá nhân của ông cũng như vai tṛ chính trị của ông hoàn toàn bị quên lăng. Phê phán về ông, một cách đại chúng và một cách thuận lợi, th́ có những cuốn Một Cơn Gió Bụi của học giả Trần Trọng Kim, Phong Trào Ngũ Xă của Kư giả Phạm Văn Bính, Việt Nam Máu Lửa của nhà cách mạng lăo thành Nghiêm Kế Tổ. Cũng một cách thuận lợi với rất nhiều cảm phục là ư kiến riêng tư mà tôi nghe được của Giám mục Lê Hữu Từ, linh mục Hoàng Quỳnh, của các ông Nguyễn Xuân Chữ, Trần Văn Tuyên, Nguyễn Hữu Phiếm, Trần Quang Vinh, sử gia Phan Khoang v.v… những nhân vật tiêu biểu cho các đảng phái, tôn giáo.

Về phía quốc tế, dư luận thường gán cho Bảo Đại là ông vua bù nh́n, chơi bời trụy lạc. Những lời phê phán đó không phải là sai lầm nếu chỉ nh́n vào cuộc sống bên ngoài của ông Bảo Đại mà không chịu t́m hiểu sâu sắc tâm tư thầm kín của ông, không chịu phân tách những hoàn cảnh khó khăn mà ông đă phải chịu đựng. Chẳng hạn như dư luận Pháp thường chê trách vua Bảo Đại mà không nhớ rằng chính người Pháp đă không để cho ông tự do hành động, không để cho ông cầm quyền theo ư riêng. Họ không có cái nh́n về con người Bảo Đại như học giả Trần Trọng Kim, như kư giả Phạm Văn Bính đă từng tiếp xúc và sống gần gũi với ông trong những giờ phút phức tạp khó khăn. Tuy nhiên vẫn có những người Mỹ dày công nghiên cứu t́nh h́nh Việt Nam như nhà viết sử Joseph Buttinger hay Thiếu tá Archimedes L. Patti, từng tham dự vào những biến động tại Việt Nam vào những năm 1945, 1946 nên đă có những cái nh́n lịch sử vô tư hơn.

Thiếu tá Patti từng chỉ huy một nhóm OSS nhảy dù xuống miền Việt Bắc và giúp đỡ cho ông Hồ Chí Minh thời c̣n quân đội Nhật Bản tại Đông Dương. Ông đă ghi chép chi tiết những biến cố về thời đó, khi về Mỹ ông vẫn tiếp tục theo dơi sát t́nh h́nh Việt Nam và bắt đầu viết sách, nhưng cho đến năm 1980, khi mà nhiều bí ẩn lịch sử đă được tiết lộ, ông mới cho xuất bản tác phẩm nhan đề là “Why Vietnam?” để nói lên những sự thật mà ông biết được. Ông hết sức khâm phục ông Hồ Chí Minh và Mặt Trận Việt Minh, nhưng ông vẫn ca ngợi Bảo Đại là nhà chính trị lăo luyện, là một người thành tâm yêu nước.

Patti tiết lộ rằng:

Năm 1947, Mặt Trận Quốc Gia Liên Hiệp của phe chống Cộng (do bác sĩ Lê Văn Hoạch cầm đầu có sự tham dự của ông Ngô Đ́nh Diệm như giáo sư Buttinger đă kể) đề xướng ra giải pháp Bảo Đại. Người Pháp bèn bỏ chủ trương thương thuyết với Việt Minh và muốn sử dụng lá bài Bảo Đại mà họ cho là một ông vua “Playboy” dễ sai khiến. Họ dự định chỉ để cho Bảo Đại giành lấy một nền độc lập giả hiệu cho Việt Nam v́ họ biết rằng Bảo Đại không thể b́nh định được xứ sở mà quân lực Pháp tại Đông Dương mỗi ngày phải một gia tăng.

Người Pháp bèn thúc giục Mặt Trận Quốc Gia Liên Hiệp đ̣i hỏi Bảo Đại phải đứng ra thành lập một chính phủ quốc gia, nhưng Bảo Đại từ chối v́ lẽ ông không muốn cầm đầu một chính phủ do người Pháp bảo trợ. Huống chi ông lại quan niệm rằng Mặt Trận Liên Hiệp Quốc Gia không tiêu biểu đại diện cho ai cả, trong lúc Mặt Trận Việt Minh mới là lực lượng chính yếu. Bảo Đại chỉ bằng ḷng đứng ra thương thuyết với Pháp nếu có sự thỏa hiệp nào đó của Việt Minh.

Cho đến mùa hè năm 1947, khi Bảo Đại biết chắc chính phủ Pháp do đảng Cộng Ḥa B́nh Dân cầm đầu cương quyết bỏ hẳn việc đàm thoại với Việt Minh, Bảo Đại mới công khai tuyên bố chống lại Việt Minh. Dư luận đồn rằng việc Bảo Đại đưa ra lập trường chống Cộng rơ rệt là có ư khuyến khích Hoa Kỳ giúp đỡ Bảo Đại chống lại tham vọng của Pháp, như Hoa Kỳ đă ảnh hưởng Ḥa Lan giúp Nam Dương độc lập. Việc hy vọng vào Hoa Kỳ không phải là một ảo tưởng v́ sau đó mấy tuần lễ, đại sứ Mỹ tại Pháp, ông William Bullit tuyên bố chiến tranh Đông Dương của người Pháp là thứ “chiến tranh bẩn thỉu nhất”. Lời tuyên bố của Đại sứ Bullit được mọi người quan niệm như là một lời hứa hẹn của Hoa Kỳ sẽ viện trợ cho Bảo Đại (sau này khi Bảo Đại chính thức cầm quyền, Hoa Kỳ liền công nhận quốc gia Việt Nam và viện trợ cho chính phủ Bảo Đại).

Với hy vọng được Hoa Kỳ giúp đỡ, Bảo Đại mới chịu gặp Bollaert, Cao ủy Pháp tại Đông Dương. Nhưng khi gặp Bollaert rồi, Bảo Đại nhận thấy rằng đại diện nước Pháp chỉ đưa ra những lời hứa hẹn mù mờ, do đó ông không chịu chấp nhận thương thuyết với Pháp. Ông trở về Hồng Kông rồi đích thân đi Pháp để thăm ḍ t́nh h́nh. Tại Pháp ông cũng nhận thấy rằng người Pháp vẫn ngoan cố, chỉ muốn tái lập nền đô hộ nên ông không muốn tự cột ḿnh vào âm mưu của thực dân. 

Thái độ cứng rắn của ông đă buộc Bollaert phải nhiều lần đến diện kiến với Bảo Đại tại Cannes và Genève, nơi Bảo Đại trú ngụ. Bollaert đă phải hứa thỏa măn những điều kiện của ông trong những cuộc thương thuyết sắp tới, do đó hai nhân vật này mới gặp nhau lần thứ hai vào ngày 5 tháng 6 năm 1948 tại vịnh Hạ Long. Lần này th́ Pháp long trọng tuyên bố để cho Việt Nam độc lập nhưng ngoại giao và quốc pḥng vẫn do Pháp kiểm soát. Thỏa ước Hạ Long đă làm cho cả thực dân Pháp lẫn Việt Minh căm tức. Thực dân th́ cho rằng Pháp đă đầu hàng Bảo Đại, trong lúc Việt Minh chửi rủa Pháp (cried foul) v́ tại Hội Nghị Fontainebleau, Hồ Chí Minh đă thất bại không giành được những điều kiện như Pháp đă thỏa thuận với Bảo Đại.

Nhưng dù thỏa ước Hạ Long ra đời, Bảo Đại vẫn muốn thỏa ước ấy phải được chính thức hóa, do đó Bảo Đại phải đi Pháp và kư kết với Tổng Thống Auriol hiệp ước ngày 8 tháng 3 năm 1949, thường được gọi là hiệp ước Elysées. Tuy vậy, Bảo Đại vẫn không chịu về nước v́ ông muốn phải thực hiện cho xong nền thống nhất ba kỳ. Thái độ cứng rắn của ông làm cho thực dân tức giận la ó lên rằng: “Nó đă bắt đầu coi chúng ta không ra ǵ” (ll commence vraiment à se foutre de nous). Nhưng tại sao Bảo Đại lại chịu kư vào một hiệp ước mà ông ta chưa thỏa măn. Có ba lư do: Một là v́ sợ nếu không kư, người Pháp sẽ tái lập nền đô hộ; hai là sợ ảnh hưởng của Việt Minh sẽ lan rộng làm cho phe chống Cộng mất cơ hội thiết lập một chính quyền quốc gia; và ba là ông hy vọng sẽ được Hoa Kỳ viện trợ kinh tế đồng thời giúp ông chống Pháp.[42]

Qua những biến cố trên đây, ta thấy rơ như Patti đă nhận định rằng ông Bảo Đại quả là một nhà ái quốc, một chính trị gia khôn ngoan, sáng suốt, thâm trầm, độ lượng, và cả cuộc đời chính trị của ông cho thấy ông không phải là thứ người tham quyền cố vị. Khác với vua cha là Khải Định được thực dân đẩy ra sân khấu làm bù nh́n th́ múa may quay cuồng, thỏa măn với địa vị bù nh́n của ḿnh. Trái lại ông Bảo Đại dù được đẩy ra sân khấu làm bù nh́n, nhưng trên sân khấu, ông chẳng chịu làm tṛ mà chỉ đứng ù ĺ cho qua buổi, bất cần lệnh lạc của thầy tuồng.

Vua Bảo Đại là bù nh́n nhưng gia đ́nh họ Ngô lại không có quyền gọi Bảo Đại là bù nh́n. Mười năm làm quan, ông Diệm chẳng đă là thần tử của vua Bảo Đại đó sao? Được làm Thủ Tướng chẳng là ơn mưa móc của vua Bảo Đại đó sao?

Thật thế, tuy ông Ngô Đ́nh Diệm nhờ thế lực Thiên Chúa giáo quốc tế và Mỹ đẩy trở lại chính trường, khốn nỗi muốn được làm Thủ tướng th́ ông ta bắt buộc phải qua cửa ải Bảo Đại, phải thần phục vua Bảo Đại.

Mùa hè năm 1953, ông Diệm theo lời chỉ dẫn của em là Ngô Đ́nh Luyện, rời Hoa Kỳ về Paris và ăn ở tại nhà ông Tôn Thất Cẩn, một người bà con của vua Bảo Đại. Về đây, dù đă nhiều lần vận động xin yết kiến Quốc trưởng nhưng Quốc trưởng vẫn chưa chịu tiếp. Nhân dịp có linh mục Cao Văn Luận được ông Ngô Đ́nh Cẩn nhờ đưa thư mật và tiền bạc qua, anh em ông Diệm bèn nhờ ông Luận lấy t́nh quen biết cũ đến vận động với ông Nguyễn Đệ, Đổng lư văn pḥng của Bảo Đại. Ông Nguyễn Đệ hứa sẽ giúp nhưng lời hứa vẫn trôi xuôi. Sau năm 1963, những bí ẩn được tiết lộ dần dần cho biết sở dĩ vua Bảo Đại không chịu tiếp ông Diệm v́ hai lư do: một là vua Bảo Đại thấy năm 1953 chưa phải là thời của ông Ngô Đ́nh Diệm, và lư do thứ hai mà là lư do chính yếu: Ông Bảo Đại vốn là con người thâm trầm, cao ngạo, lại cũng đă biết ông Diệm là người cứng đầu đă nhiều phen quay quắt, nên Bảo Đại cần phải làm khó dễ để ông Diệm khỏi qua mặt, khỏi phản bội sau này (cũng như khi chính thức cử làm Thủ tướng, Bảo Đại đă bắt ông Diệm thề).

Cho đến mùa hè năm 1954, những vận động của gia đ́nh họ Ngô, của những người thuộc Nguyễn Phước tộc và nhất là của các thế lực quốc tế giúp ông Diệm làm Thủ tướng đă chín mùi nhưng vua Bảo Đại vẫn không lay chuyển. Ông chờ cho người Mỹ, kẻ đỡ đầu cho ông Diệm, đến năn nỉ vua Bảo Đại mới vừa ḷng. Thật thế, một tháng trước ngày kư kết hiệp ước Genève, t́nh thế đă quá sôi động làm cho Ngoại trưởng Foster Dulles phải xin yết kiến vua Bảo Đại và yêu cầu vua cử ông Diệm làm Thủ tướng, lúc bấy giờ, ông mới bằng ḷng. Đổi lại việc đề cử ông Diệm làm Thủ tướng để thỏa măn người Mỹ, ông đ̣i hỏi Ngoại trưởng Dulles phải cam kết giúp phe quốc gia tiếp tục chống Cộng (gián tiếp đuổi Pháp) và viện trợ dồi dào cho Việt Nam, nghĩa là viện trợ cho chính quyền Bảo Đại. Tiếc rằng những bí ẩn trên đây, ông Bảo Đại đă không viết vào hồi kư, phải chăng v́ thể thống ngoại giao buộc ông muốn nói mà không nói nên lời.

Ông Bảo Đại là bù nh́n vậy th́ ông Ngô Đ́nh Diệm là ǵ? Ta hăy nghe Thiếu tá Patti tiết lộ trong cuốn Why Vietnam?:

“Sau khi Ngô Đ́nh Diệm được Mỹ nâng đỡ giúp cho cầm quyền th́ miền Nam rối loạn, bị các giáo phái và đảng phái chống đối, tướng Collins Đặc sứ của Tổng thống Eisenhower phần v́ nghe lời xúi giục của Pháp, phần v́ sợ Bắc Việt tấn công trước khi có hiệp ước SEATO, nên đă mất thiện cảm đối với ông Diệm. Nhưng Ngoại trưởng Foster Dulles vẫn cương quyết ủng hộ ông Diệm, đă thế Hồng Y Spellman, Nghị sĩ Mansfield, Kennedy đều chống lại việc thay thế Diệm, nên Collins phải chịu theo lập trường của Ngoại trưởng Hoa Kỳ. T́nh h́nh khó khăn và sự căng thẳng giữa Hoa Kỳ và Pháp đă buộc Ngoại trưởng Mỹ phải đưa ra lời hăm dọa: “Hoa Kỳ sẽ cắt bỏ viện trợ nếu ông Diệm không c̣n cầm quyền”. Để giải quyết tranh chấp, tướng Collins đ̣i Mỹ phải viện trợ cho đội quân viễn chinh Pháp tại Việt Nam 100 triệu đô la, bấy giờ Cao ủy Ely mới chịu chấp thuận”.

Đó là chưa kể những tháng tiếp theo, người Mỹ, đặc biệt là Ngoại trưởng Dulles, làm áp lực nặng nề với Pháp để ông Diệm được tiếp tục cầm quyền như đă tŕnh bày ở đoạn trước.

Hai biến cố trên đây đă nói lên rơ rệt nếu Bảo Đại là bù nh́n của Pháp th́ Ngô Đ́nh Diệm là con nuôi của Mỹ không hơn không kém. Nếu có khác là vua Bảo Đại đă khôn ngoan, sáng suốt, kiên nhẫn đấu tranh cho phe chống Cộng có một quốc gia, trong lúc ông Ngô Đ́nh Diệm là người chỉ nhờ thế lực ngoại bang mà được lên cầm quyền, thụ hưởng những kết quả do Bảo Đại để lại.

Nói tóm lại, những sự kiện lịch sử trên đây đă cho thấy ông Diệm cầu xin vua Bảo Đại để được làm Thủ tướng, nhưng chỉ một năm sau nhờ áp lực của Hoa Kỳ mà ông đă tặng cho vị Quốc trưởng của ông hai chữ Bù Nh́n khi bắt đầu mở chiến dịch truất phế Bảo Đại.

Ông Bảo Đại là một vị vua bù nh́n do cái thế lịch sử tạo nên từ cả mấy chục năm trước, tư thế bù nh́n đó không cho phép ta đặt ông vào vùng hào quang vinh dự của những anh hùng đă xả thân dựng nước. Ông Bảo Đại là một vị vua bất lực do cái t́nh trạng bị trị của một đất nước bị đô hộ cả gần trăm năm trước, khả năng yếu kém đó lại cũng không cho phép ta đặt ông vào đài tưởng niệm huy hoàng của những hiền nhân quân tử đă đóng góp và xây dựng nên sự nghiệp Việt Nam. Ta có thể phê phán cái tư cách bù nh́n và cái khả năng yếu kém đó như một lỗi lầm lớn không thể tha thứ được ở một nhà lănh đạo quốc gia, nhưng ta cũng phải công nhận cái quyết tâm bảo tồn sinh lực dân tộc của ông trong mục đích nuôi dưỡng để tính kế lâu dài: Thời làm Quốc trưởng, ông biết và có những hành động bênh vực các thành phần quốc gia vừa chống Cộng vừa chống Pháp, nâng đỡ những nhân vật có thành tích yêu nước và tinh thần cách mạng dù có bất đồng chính kiến với ông [43]. Cũng trong ư định tính kế lâu dài đó, ông đă cống hiến cho quốc gia những định chế cơ bản để làm cơ sở nền móng cho bất kỳ một chế độ nào có hay không có ông sau này được dễ dàng phát triển. Đối với các viên chức đại diện cho chính quyền Pháp, ông kiêu hănh giữ thể thống và phong độ của một vị Quốc trưởng, không để cho họ xem thường như Lansdale đă đối xử với ông Diệm. Lucien Bodard, một kư giả ngưỡng mộ danh tướng Pháp là De Lattre de Tassigny, đă chê bai và đả kích vua Bảo Đại v́ ông đối xử với vị Toàn Quyền Cao ủy này như một viên chức cấp dưới trong cuốn La Guerre d’Indochine.

 Nói như vậy không có nghĩa là vua Bảo Đại tránh được những tội lỗi lịch sử lớn lao mà ông phải gánh chịu. Những tội lỗi đó, trước ṭa án lương tâm và đạo đức tối hậu của con người, lại không phải là những tội ác như của chế độ Ngô Đ́nh Diệm.

Thật vậy, so sánh với chế độ Ngô Đ́nh Diệm, chế độ Bảo Đại đâu có độc tài nắm giữ hết mọi quyền lực của quốc gia, đâu có gia đ́nh trị, đâu có tiêu diệt đảng phái sát hại người đối lập, đâu có dựng nhà tù P-42 ở sở thú Sài G̣n, trại Chín Hầm ở Huế để tra tấn giam cầm hoặc thủ tiêu người  quốc gia. Chế độ Bảo Đại đâu có kềm kẹp, đóng cửa, bỏ tù báo chí, đâu có phản bội bạn bè, ân nhân. Ông Bảo Đại tuy có lấy tiền của Bảy Viễn nhưng đâu có buôn thuốc phiện lậu kinh khủng như ông Ngô Đ́nh Nhu, đâu có bắt những nhà giàu tra tấn đến chết để làm tiền như ông Ngô Đ́nh Cẩn. Bà Từ Cung vẫn sống khiêm tốn thanh đạm ở Huế, không ỷ vào con làm Quốc trưởng mà hối mại quyền thế, mua tước bán quan. Bà Nam Phương Hoàng Hậu vẫn sống âm thầm cách biệt ở ngoại quốc, bà Mộng Điệp vẫn không ảnh hưởng chồng trong việc lănh đạo quốc gia như bà Ngô Đ́nh Nhu ở Sài G̣n và mụ Luyến ở Huế, và như toàn thể anh em ông Diệm mỗi người một chức vị, một giang sơn, một triều đ́nh, một cơ quan mật vụ, một tổ chức thanh niên, một lực lượng đặc biệt, một cơ quan kinh tài. Chê vua Bảo Đại là lười biếng không đi thăm dân mà quên đi mỗi lần Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm đi kinh lư, dân phải dậy từ 4, 5 giờ sáng, cơm đùm cơm bới, phơi nắng 7, 8 tiếng đồng hồ đợi Tổng thống đến để hoan hô, quên đi ông Ngô Đ́nh Diệm ngồi chễm chệ trên thuyền bắt sĩ quan đẩy và lính sắp hàng dưới nước mà dàn chào như vua chúa thời Trung Cổ. Cho nên thà không đi thăm dân như ông Bảo Đại c̣n hơn là mỗi lần ông Ngô Đ́nh Diệm đi kinh lư là làm khổ cho quân dân. Ông Bảo Đại cũng đâu có xây nhà cửa riêng tư như năm sáu anh em ông Diệm tạo dựng không biết bao nhiêu là đồn điền, ruộng đất, khách sạn, nhà lầu, hăng xưởng, biệt thự. Ông Ngô Đ́nh Cẩn c̣n bắt cả công binh, công chánh xây lăng cho ḿnh tốn kém trên hàng trăm triệu bạc công quỹ. Điều trớ trêu là trong khi nhà Ngô rêu rao tuyên truyền ông Bảo Đại dâm ô trụy lạc th́ chính ông Ngô Đ́nh Cẩn lại dâm loạn vô luân [44]. Ông Vơ Văn Hải, chánh văn pḥng đặc biệt thân tín nhất của ông Diệm cũng đă không ngần ngại công nhận với nhóm lănh đạo Nhảy Dù trong cuộc đảo chánh ngày 11-11-1960 là “trong dinh Độc Lập có một bọn đĩ điếm” [45].

Ông Lê Nguyên Long, một chiến sĩ cách mạng, một nhân sĩ miền Trung, một chứng nhân thời đại, sống giữa ḷng dân tộc trên 30 năm trời quê hương khói lửa, chứng kiến bao cuộc thay ngôi đổi chủ, thấm thía với bao thế sự nhân t́nh, đă nghiêm khắc lên án rằng:

“Chưa có chế độ quốc gia nào tại Việt Nam tàn bạo như chế độ Ngô Đ́nh Diệm, trừ chế độ Cộng Sản. Nếu nói chống ông Bảo Đại th́ ai cũng có quyền chống trừ Ngô Đ́nh Diệm, v́ cha anh ông Diệm và cả ông Diệm nữa vốn là “tôi con” nhà Nguyễn. Ông Bảo Đại trên nguyên tắc đă tín nhiệm ông Diệm và ông Diệm đă phục mệnh. Trước và sau khi truất phế Bảo Đại, ông Diệm, qua Bộ thông tin, đă thuê bọn bồi bút (hầu hết báo chí thời Diệm) mở một chiến dịch dài hạn đả kích, bêu xấu, vu cáo, nhục mạ ông Bảo Đại hết sức tàn tệ. Thiết nghĩ người có lương tâm tối thiểu không ai nỡ hành xử như thế, Ngô Đ́nh Diệm là người đại phản phúc”[46].

Tuy nhiên, trong biến cố anh em ông Diệm truất phế vua Bảo Đại, người cay đắng bẽ bàng nhất có lẽ là ông Tôn Thất Cẩn, người bạn thân thiết của gia đ́nh họ Ngô, người đă nuôi ông Diệm ăn ở tại Paris, người đă đôn đáo ngược xuôi vận động với Quốc trưởng và bà Nam Phương, đă đem tinh thần nhà Nho của ông Diệm, đă đem ba đời thần tử của ḍng họ Ngô Đ́nh, đă đem chức giám mục của ông Ngô Đ́nh Thục, toàn là những thứ cao trọng thiêng liêng để bảo đảm tấm ḷng tôn quân trung thành của anh em nhà Ngô… Không ngờ Quốc trưởng Bảo Đại lại bị truất phế để cho ông Tôn Thất Cẩn mang tiếng làm hại cho cả nhà vua lẫn nhà Nguyễn. Không riêng ông Tôn Thất Cẩn mà cả anh ruột của ông, ông Tôn Thất Toại, một bạn thân của ông Diệm từ thời niên thiếu, cũng mang tâm sự đắng cay của một người Tôn Thất lỡ pḥ ông Diệm mà làm buồn ḷng cho Nguyễn Phước tộc, việc mà tôi sẽ nói đến trong một chương sau.

Nói tóm lại, cả hai ông Bảo Đại và Ngô Đ́nh Diệm đều có tội trước lịch sử và dân tộc. Nhưng cái tội của Bảo Đại là do cái lỗi gây ra, c̣n cái tội của Ngô Đ́nh Diệm th́ do cái ác gây ra.

Năm 1969, một năm sau tết Mậu Thân, khi t́nh h́nh miền Nam bắt đầu đi vào tuyệt lộ v́ Tổng thống Johnson mật đàm với Hà Nội để mở màn cho Ḥa đàm Ba Lê và để cứu văn nội t́nh một nước Mỹ đang bị rối nát, khi chế độ Nguyễn Văn Thiệu hoàn toàn bất lực trong việc điều động quân dân miền Nam đối kháng với Cộng Sản đang càng ngày càng lớn mạnh, th́ tuy đă về hưu trí từ năm 1965 và quyết định đứng ngoài mọi sinh hoạt chính trị, tôi vẫn theo dơi thời cuộc và nh́n thấy rơ cái thảm họa chênh vênh của đất nước bên bờ vực thẳm. Đă thế, cũng trong năm đó, ông Hồ Chí Minh mắc bệnh mà qua đời, lại chợt nhắc tôi nhớ đến ông Bảo Đại, người đă xây dựng một thế đứng hợp pháp và một lực lượng cơ bản cho người quốc gia chống Cộng lúc đó và sau này. V́ vậy, tôi bèn viết một bài tham luận dài đăng trên nhật báo Độc Lập của kư giả Anh Quân mà nội dung nhằm cảnh giác chính giới Việt Nam về viễn tưởng người Mỹ sẽ rút khỏi Việt Nam với hệ quả là miền Nam có thể rơi vào tay Cộng Sản Hà Nội. Đồng thời, tôi cũng đóng góp một số sử liệu và khai triển một số nhận định về công và tội của ông Bảo Đại để trả ông lại đúng vị trí trong lịch sử, cũng như lấy đó làm những suy nghiệm cho t́nh h́nh miền Nam lúc bấy giờ, vốn có nhiều điểm tương đồng cơ bản như lúc Pháp gần rút khỏi Việt Nam 15 năm về trước.

Tôi không ngờ bài báo đó của tôi trên tờ Độc Lập lại đến tay Cựu Hoàng tại Paris và bà Từ Cung tại Huế. Cựu Thủ tướng Bửu Lộc, đại diện cho Cựu Hoàng đă gởi một tấm thiệp ngỏ lời cảm ơn tôi đă dám nói lên một số sự thật vốn bị người ta chôn vùi từ nhiều năm nay, và nhờ tôi đem ḷng vô tư viết lại những trang sử thuộc về nhà Nguyễn, và về Cựu Hoàng Bảo Đại với chứng minh công tội rơ ràng. Đồng thời Đức Từ Cung cũng phái cụ Ưng An, đại diện cho Nguyễn Phước tộc và ông Trần Quang Vinh một lănh tụ Cao Đài (người cầm thiệp của ông Bửu Lộc từ Pháp về), đến nhà tôi chuyển lời cảm tạ của Bà. Rất nhiều nhân vật thuộc ḍng dơi Nguyễn Phước tại Sài G̣n và nhiều địa phương cũng ghé đến thăm tôi tỏ t́nh giao hảo (như ông Vĩnh Thọ hiện ở Hoa Kỳ chẳng hạn).

Từ đó, tôi được mời đến tham dự những buổi hội họp cúng kỵ Đức Thế Tổ và các vị tiền triều tại trụ sở của Hội Nguyễn Phước tộc ở đường Công Lư, tại ngôi biệt thự đă bị ông Diệm tịch thu và nay được ông Thiệu trả lại. Nhờ vậy, tôi có dịp lặng lẽ t́m hiểu thêm và kiểm điểm lại những biến cố chính trị liên hệ đến hai ông Ngô Đ́nh Diệm và Bảo Đại mà trong những thời gian đó, v́ c̣n trẻ và v́ đam mê chỉ biết một lănh tụ Ngô Đ́nh Diệm, tôi đă không đủ khôn ngoan và sáng suốt để thấy được sự thật.

Bây giờ, viết lại theo kư ức những kết quả đă được đúc kết từ 15 năm trước, trong sự thiếu thốn mọi sử liệu, tôi đành chỉ viết những ǵ ḿnh c̣n nhớ chắc chắn và chỉ giới hạn những nhận định trong tương quan giữa hai nhân vật Bảo Đại và Ngô Đ́nh Diệm mà thôi. Tuy nhiên, có một điểm tôi cần nói lên ở đây là đối tượng thúc đẩy tôi viết lại chương này không c̣n là các thành viên của ḍng họ Nguyễn Phước tộc nữa mà mở rộng cho thế hệ thanh niên hiện tại, trong cũng như ngoài nước, để mong đóng góp được thêm cho họ những sự thật và những quan điểm đă ít được đề cập từ trước.

Khi so sánh ông Hồ Chí Minh và những lănh tụ quốc gia trong giai đoạn đó, cụ Hoàng Văn Chí phê phán rằng:

“Cựu Hoàng Bảo Đại mà người Pháp tái phong làm Quốc trưởng năm 1949 (và viên cựu quan lại Ngô Đ́nh Diệm), những kẻ măi quốc cầu vinh, no lưng ấm cật, những kẻ bất chánh đó không tài nào địch nổi Hồ Chí Minh…”[47].

Lời phê phán đó, đứng trên quan điểm cách mạng và áp dụng như một nguyên tắc tiên quyết cho cuộc đấu tranh cứu nước kể từ sau thảm trạng mùa Xuân năm 1975, th́ hoàn toàn đúng. Tuyệt đối đúng.

Nhưng đặt nó vào bối cảnh của 20 năm từ 1945 đến 1965, giai đoạn mà ba nhân vật Hồ Chí Minh, Bảo Đại và Ngô Đ́nh Diệm nắm giữ những trục vận động chính của lịch sử nước ta, th́ tôi e rằng lời phê phán đó có phần quá khắt khe cho trường hợp của vua Bảo Đại.

Từ 1945 đến 1954, chúng ta có nhiều nhà cách mạng đấu tranh chống cả Pháp lẫn Cộng nhưng không một ai đủ lực, đủ thế và đủ thời để vận động được toàn dân khởi phát cuộc cách mạng đó cả. Và trước cơn băo dữ của cuộc chiến tranh Pháp–Cộng, trong đống bùn nhơ của một triều đ́nh lơ láo dưới chế độ bảo hộ, ông Bảo Đại ít ra cũng đă vun xới được một cánh sen màu vàng ba sọc đỏ để làm tụ điểm cho những thành phần chống Cộng, để làm căn bản cho miền Nam Việt Nam sau này có cơ sở tiếp tục chống lại miền Bắc Cộng Sản. Điều bất hạnh thê thảm nhất cho dân tộc là người thừa hưởng cánh sen đó, ông Ngô Đ́nh Diệm, lại phong kiến như vua và độc tài như Cộng Sản nên mới “không tài nào địch lại Hồ Chí Minh”.

Chữ Quốc Gia mà chúng ta sử dụng hôm nay, ngọn Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ mà chúng ta c̣n dùng hôm nay quả thật đă thuộc về lịch sử và dân tộc. Nhưng nếu nó cần được duy tŕ như một biểu tượng lịch sử cần thiết tạm thời cho cuộc đấu tranh giải phóng đất nước hiện tại, th́ hẳn ngoài cái giá trị thời đại không chối căi của nó, ta cũng nên suy nghiệm một cách lương thiện và đứng đắn hơn về cả giá trị của một vị vua đă âm thầm cay đắng mang tiếng bù nh́n để khai sinh và nuôi dưỡng nó trong những tháng ngày chập chững non nớt đầu tiên.


 


[1] Joseph Buttinger, Vietnam A Political History, tr. 408, 409.

 [2] Francis Y. Corley, Vietnam Since Geneva Talk, trong nguyệt san Foreign Affairs (số 131 năm 1958), tr. 546.

 [3] Edward Lansdale, In the Midst of War, tr. 307, 308.

[4] Bán nguyệt san Việt Nam Hải Ngoại (Số 164 ngày 1-3-85), tr. 87, 88.

[5]  Nguyệt san Thanh Niên Hành Động (số 1 ngày 1-10-85), tr. 19.

[6] Phạm Văn Sơn, Việt Sử Tân Biên, tr. 596.

[7] Charles Maybon, Histoire Moderne du Pays d’Annam, (do Thượng Tọa Thích Nhất Hạnh trích in lại trong “Vietnam: Lotus In A Sea Of Fire”, tr. 16) và về mặt sử liệu xin xem thêm “Sổ tay Văn hóa Việt Nam ” (NXB Văn Hóa, Hà Nội), tr. 135, 137.

[8] Lư Chánh Trung, Tôn Giáo và Dân Tộc, tr. 74, 75.

[9] Lư Chánh Trung, Tôn Giáo và Dân Tộc, tr. 78.

[10] Etienne Vũ Đức Hạnh, La Place Du Catholicisme Dans Les Relations Entre La France Et Le Vietnam de 1851 à 1870 (Tome I), tr. 260, 261.

[11] Thái Văn Kiểm, Đất Việt Trời Nam, tr. 540, 542 và sách Vua Duy Tân của Hoàng Trọng Thược.

[12] Hoàng Trọng Thược, Tinh Thần Trào Phúng trong Thi Ca Xứ Huế, tr. 316.

[13] Hoàng Trọng Thược, Tinh Thần Trào Phúng trong Thi Ca Xứ Huế, tr. 317.

[14] Nguyễn Văn Xuân, Phong Trào Duy Tân, tr. 23, 24.

[15] Lịch Sử Đạo Thiên Chúa ở Việt Nam, tr. 4.

[16] Lịch Sử Đạo Thiên Chúa ở Việt Nam, tr. 5.

[17] Trần Trọng Kim, Một Cơn Gió Bụi, tr. 49.

[18] Bảo Đại, Le Dragon d’Annam, tr. 114, 115.

[19] Trần Tương, Biến cố 11-11-1960, tr. 277.

[20] Đoàn Thêm, Những Ngày Chưa Quên, tr. 143.

[21] Joseph Buttinger, Vietnam, A Political History, tr. 304, 305.

[22] Đoàn Thêm, Những Ngày Chưa Quên, tr. 184.

[23] Robert Shaplen, The Cult Of Diem, trong tuần báo The New Yorker (số ngày 14-5-72).

[24] Tư liệu của ông Thái Văn Kiểm gửi cho tác giả ngày 4-4-1978 và theo lời kể của nhiều bô lăo ở huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng B́nh.

[25] Robert Shaplen, The Lost Revolution, tr. 106.

[26]  Phạm Văn Sơn, Việt Sử Toàn Thư, tr. 684.

[27] Hoàng Trọng Thược, Tinh Thần Trào Phúng trong Thi Ca Xứ Huế, tr. 273.

[28] Đoàn Thêm, Những Ngày Chưa Quên, tr. 234.

[29] Charles Maybon, Histoire Moderne du Pays d’Annam.

[30] Malachi Martin, The Decline and Fall of The Roman Church, tr. 26.

[31] Malachi Martin, The Decline and Fall of The Roman Church, tr. 57.

[32] Thái Văn Kiểm, Đất Việt Trời Nam, tr. 489.

[33] Nguyễn Thế Anh, Việt Nam Thời Pháp Đô Hộ, tr. 339-342 và sách Le Dragon d’Annam, Bảo Đại, tr. 58, 59.

[34] Malachi Martin, The Decline and Fall of The Roman Church.

[35] Phan Khoang, Việt Nam Pháp Thuộc Sử, tr. 404 (Viết theo Jean Chesneau trong “Contribution à l’Histoire du Vietnam” và Notes du 13-71887 của cựu Toàn quyền Lanessan “Indochine Francaise”, Paris 1889, Archives du Ministère de la France d’Outre-Mer trong luận án tiến sĩ của Cao Huy Thuần, Đại học Sorbonne, Paris).

[36] Đào Trinh Nhất, Phan Đ́nh Phùng, trong bán nguyệt san Việt Nam Hải Ngoại (số 141), tr. 109-111.

[37] Bảo Đại, Le Dragon d’Annam, và sách Những Ngày Chưa Quên của Đoàn Thêm, tr. 171, 172.

[38] Michael McClear, The Ten-Thousand-Day War, tr. 62.

[39] Joseph Buttinger, Vietnam A Political History, tr. 414.

[40] Đoàn Thêm, Những Ngày Chưa Quên, tr. 236.

[41] Stanley Karnow, Vietnam A History, tr. 218.

[42] Archimedes L. Patti, Why Vietnam? tr. 395, 396, 397.

[43] Danh sách những nhân vật chính trị, cách mạng tên tuổi hợp tác với Bảo Đại được kể trong Le Dragon d’Annam. (Danh sách nội các).

[44] Thư ông Hoàng Đồng Tiếu gửi cho tác giả.

[45] Trần Tương, Biến cố 11-11-1960, tr. 109.

[46] Lê Nguyên Long, Bất Đắc Dĩ Khơi Đống Tro Tàn, trong báo Khai Phóng (số 7), tr. 38.

[47] Hoàng Văn Chí, Từ Thực Dân Đến Cộng Sản, tr. 58, 59.

 

 
 

<<  First   

 < Previous

Next  >

  Last >>
 

Design by GDOL - 2008