
|
MỤC LỤC |
|
||
|
* * *
* * *
|
CHƯƠNG XVITỪ ĐỒNG MINH VỚI MỸĐẾN THỎA HIỆP VỚI CỘNGTrong lúc biến cố Phật giáo đang sôi nổi th́ trong giới chính trị và t́nh báo tại Thủ đô Sài G̣n có hai vấn đề cũng được thảo luận và theo dơi gần như công khai. Đó là nguồn tin về những vận động của chính quyền Nhu–Diệm nhằm thỏa hiệp với Cộng Sản Hà Nội và những tin tức về các cuộc đảo chánh có thể xảy ra. Sài G̣n như lên cơn sốt mùa hè với những tin đồn phóng đại, những giả thuyết đầy mâu thuẫn và những vận động ngầm sôi nổi. Đề tài về âm mưu thỏa hiệp với Hà Nội là đề tài nóng bỏng nhất v́ không những nó liên hệ đến chế độ Diệm mà c̣n trực tiếp tạo nhiều hệ quả lớn lao cho vận mệnh của miền Nam Tự Do. Sau cách mạng 1–11–1963, các bí mật từ từ lộ ra qua các tài liệu Việt Nam và quốc tế, những nhân chứng trong cuộc cũng từ từ tiết lộ những sự kiện cụ thể để ta có thể nghiêm túc tŕnh bày lại diễn tiến của âm mưu này, cũng như để ta có thể chín chắn suy nghiệm về biến cố mà hai anh em Nhu–Diệm đang từ theo Mỹ đến chống Mỹ và đang từ chống Cộng đến thỏa hiệp với Cộng. Âm mưu thỏa hiệp với chính quyền Cộng Sản Hà Nội của chế độ Diệm là một trong những động cơ quan trọng, nếu không muốn nói là động cơ thách đố nhất, thúc đẩy quân đội cùng với toàn dân đứng lên làm cuộc cách mạng 1–11–63. để ngăn chận và trừng phạt ḍng họ Ngô Đ́nh. Chính âm mưu này đă là nguyên động lực làm cho nhiều tổ chức chống chế độ có thể đoàn kết hợp tác với nhau mà không ngại ngùng, và đến khi tiếng súng cách mạng phát khởi th́ các đoàn thể quần chúng và nhân dân cả nước cũng đều một ḷng yểm trợ cho cuộc cách mạng lật đổ Ngô triều thành công. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến quyết định thay đổi lập trường và chính sách chống Cộng của hai anh em ông Ngô Đ́nh Diệm nhưng tựu trung có thể gồm lại trong bốn điểm chính: thứ nhất là sự chống đối càng lúc càng quyết liệt của nhân dân và các lực lượng chính trị đối lập tại miền Nam; thứ hai là áp lực càng lúc càng nặng nề của lực lượng chính trị vơ trang của kẻ thù Cộng Sản; thứ ba là sự căng thẳng trong mối bang giao Việt–Mỹ mà những đổ vỡ có thể mang đến các di hại trầm trọng; và thứ tư, quan trọng nhất, là bản chất thủ đoạn cũng như tính chủ quan của ông Ngô Đ́nh Nhu. Nếu chỉ có một, hay hai, hay cả ba nguyên nhân mà thôi th́ chưa chắc hai ông Diệm–Nhu đă thỏa hiệp với Cộng Sản, nhưng v́ bốn nguyên nhân vừa khách quan vừa chủ quan này đă, chậm chạp nhưng chắc chắn, cùng phối hợp với nhau nên đă đánh bật lập trường chống Cộng của anh em Ngô Đ́nh, dù từ lâu mối thù giết anh ruột đă bắt gốc rễ vào tâm trí họ, và dù sự nghiệp chính trị của họ được xây dựng trên quyết tâm chống Cộng của quân dân miền Nam. -o0o- Thật vậy, như tôi đă tŕnh bày trong hai chương 11 và 12, cao trào chống đối của quân dân miền Nam trước chính sách độc tài và đàn áp các lực lượng quốc gia của chính quyền Ngô Đ́nh Diệm càng lúc càng gia tăng với bản cáo trạng lên án chế độ của nhóm Caravelle, với hoạt động đối kháng của Mặt Trận Đoàn Kết do ông Nguyễn Tường Tam chủ xướng, của đảng Tự Do Dân Chủ do ông Phan Quang Đán thúc đẩy, của Liên Minh Dân Chủ do nhóm các ông Phan Bá Cầm, Xuân Tùng, Hoàng Cơ Thụy lănh đạo,… và hai cuộc binh biến táo bạo cũng như quyết liệt của binh chủng Nhảy Dù và vụ ném bom dinh Độc Lập. Đó là chưa nói đến những cá nhân hoặc đoàn thể trước kia đă từng cộng tác, ủng hộ và nhiều khi hy sinh cả đời người cho hoạt động chính trị của hai ông Nhu–Diệm th́ kể từ năm 1960 trở đi, cũng đă công khai lên án chế độ và bày tỏ thái độ chống đối gia đ́nh họ Ngô. Và đó cũng chưa kể đến sự công phẫn của quần chúng mà điển h́nh là cuộc vận động cách mạng của Phật giáo bắt đầu lan rộng và biến thành những h́nh thức đề kháng chế độ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp. Những hoạt động chống đối đó đáng lẽ phải được nghiên cứu sâu sắc và truy tầm nguyên nhân để rút ra những bài học tích cực hầu xây dựng dân chủ và sửa sai chế độ th́ hai ông Nhu–Diệm lại xem đó như những khiêu khích phản loạn cần phải diệt trừ cho tuyệt hậu họa. Họ đă xem hành động đối lập của các lực lượng quốc gia như hành động của kẻ thù tối nguy hiểm v́ chính đối lập mới thực sự đe dọa đến quyền hành và danh vọng của họ, quyền lợi và mạng sống của họ. Họ lo lắng suy nghĩ và dành nhiều phương tiện cũng như nhân sự của quốc gia để lo đối phó với những thành phần đối lập quốc gia c̣n hơn cả đối phó với kẻ thù Cộng Sản. Nhưng như tôi đă tŕnh bày và lịch sử giai đoạn đó đă chứng minh, chế độ càng đàn áp th́ sự chống đối càng gia tăng. Gia tăng trên cả hai mặt mức độ cũng như số lượng đến nỗi đă dùng đến cả vơ lực (vụ ném bom) vốn là h́nh thức cao nhất và dứt khoát nhất của mọi cuộc đấu tranh. T́nh trạng lớn mạnh của đối lập đó, trong những năm từ 1960 trở đi, tuy chưa trực tiếp và tức th́ đe dọa chế độ, nhưng hai ông Nhu–Diệm cũng đă phải nhận rằng nếu t́nh trạng đó kéo dài th́ chính các lực lượng chính trị đối lập đó, chứ không ai khác, trong tương lai sẽ đập tan chế độ và uy quyền của họ. Nhận định đó, khi biến cố Phật giáo xảy ra vào năm 1963 và nhất là khi những áp lực của người Mỹ trở thành nặng nề hơn, mới trở thành một yếu tố tác động lên quyết định thỏa hiệp với Cộng Sản Hà Nội để hoặc là dùng Cộng Sản như một phụ lực tiêu diệt đối lập, hoặc dùng Cộng Sản như một mối đe dọa để làm chantage lực lượng đối lập. Kế hoạch hai mặt đó, hai ông Nhu–Diệm nghĩ rằng nếu không làm tê liệt được quyết tâm th́ ít nhất cũng tiêu diệt được khả năng chống đối của người quốc gia. Cho nên chính sự thất bại và bế tắc trong chính sách đàn áp đối lập cuối cùng đă là nguyên nhân sâu sắc nhất nhưng lại ẩn tàng nhất đẩy hai ông Diệm–Nhu vào ṿng tay Cộng Sản để mong bảo đảm danh vọng và quyền lợi cho họ. Đó là nguyên nhân thứ nhất. Nguyên nhân thứ hai là sự trưởng thành của lực lượng chính trị quân sự Cộng Sản, một kẻ thù khác, đang rơ ràng công khai thách thức tư cách chủ nhân miền Nam của chính quyền Ngô Đ́nh Diệm và đánh phá sức mạnh đă bắt đầu lung lay của chế độ. Sự ra đời của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam là cao điểm chính trị của Việt Cộng sau khi đă làm ung thối t́nh h́nh thôn quê miền Nam mà những ấp chiến lược, những khu trù mật, những khu dinh điền, những chính sách quân phân ruộng đất, những chiến dịch tố Cộng,… đă tạo ra những phản tác dụng cho Việt Cộng khai thác và bành trướng. Mặt khác, sự ra đời của Mặt Trận cũng chính thức hóa sự lệ thuộc của nó vào hậu phương lớn Bắc Việt trên cả hai mặt chính trị lẫn quân sự, cho thấy Mặt Trận chính là một bộ phận của Hà Nội và đánh Mặt Trận là trực tiếp đánh Hà Nội. Trên mặt thuần túy quân sự, sự ra đời của Mặt Trận đă cho phép họ thâu nhận nhiều yểm trợ khí cụ hơn cũng như kết nạp được nhiều nhân lực hơn, ngay tại miền Nam, để thành lập những đơn vị chiến đấu lớn. Thất bại nặng nề của Sư đoàn 13 tại Tây Ninh cuối năm 1960 đă là dấu hiệu đầu tiên của sự lớn mạnh đó của Mặt Trận. Hai ông Diệm–Nhu lẽ tất nhiên đă không xem Việt Cộng như những lực lượng phiến loạn địa phương kiểu các giáo phái B́nh Xuyên, Cao Đài, Ḥa Hảo mà họ đă từng dẹp yên được, lại càng không xem đó như những lực lượng vơ trang quốc gia đối lập kiểu chiến khu Ba Ḷng của Đại Việt hay chiến khu Nam Ngăi của VNQDĐ mà họ đă từng tàn bạo tiêu diệt một cách dễ dàng. Hai ông Diệm–Nhu đă từng thấy được tính cách trường kỳ dai dẳng của Việt Minh thời chiến tranh Pháp–Việt, cũng như bắt đầu thoáng thấy được sự vô hiệu của những chiến lược chống Cộng của họ từ nhiều năm qua, th́ hẳn họ cũng hiểu hơn ai hết là thời gian không đứng về phía họ, nghĩa là trong cuộc chiến này, càng về dài th́ địch càng mạnh họ càng yếu. Cũng như càng về dài th́ ngôi vị, danh vọng, quyền lực, và ngay cả mạng sống của họ càng bị đe dọa mà thôi. Cho nên thay v́ nhường quyền lănh đạo quốc gia cho lực lượng chống Cộng khác, hoặc cải tổ chính quyền và thay đổi chính sách để đáp ứng hữu hiệu hơn với sự đe doạ đó th́ hai ông Nhu–Diệm, sau này, khi cùng một lúc bị những áp lực khác đè nặng, đă như con đà điểu chui đầu xuống cát, t́m cách đầu hàng bằng sự thỏa hiệp với kẻ thù. Trước khi tŕnh bày nguyên nhân thứ ba, nguyên nhân mà tôi gọi là sự căng thẳng trong mối bang giao Việt–Mỹ vào những năm đầu của thập niên 1960 khiến anh em Diệm–Nhu đă đi đến quyết định thỏa hiệp với Cộng Sản, tôi xin được rất thực tế nêu lên một số biến cố lịch sử để, qua đó, cụ thể phân tách một khía cạnh rất đặc thù về chính sách ngoại giao của Mỹ đối với các đồng minh trong sách lược chống Cộng toàn cầu của họ. Lịch sử bang giao quốc tế từ thời xa xưa lúc các quốc gia bắt đầu thành h́nh cho đến hiện đại, khi mà thế lưỡng cực Tư Bản – Cộng Sản càng lúc càng gay gắt, đă cho thấy không thiếu những trường hợp một quốc gia này yêu cầu một quốc gia khác đem quân đến giúp. Lời “yêu cầu” đó có thể thật hay là giả, chính đáng hay không, hợp với công pháp quốc tế hay không, là tùy bản chất của sự liên hệ giữa hai quốc gia. Cũng vậy, “giúp” đó là thật hay giả, ngụy trang xâm lăng hay thật sự yểm trợ, là tùy t́nh trạng của biến cố đó. Hoa Kỳ không những là một cường quốc, mà c̣n là một cường quốc lănh đạo một khối để trực đối với một khối khác, nên lại càng bị lôi cuốn vào những tranh chấp tuy cục bộ nhưng lại ảnh hưởng đến tương quan lực lượng Tư Bản – Cộng Sản. Do đó mà tuy mới 200 năm lập quốc, Hoa Kỳ đă nhiều lần phải dính dự vào các biến cố nội bộ của các quốc gia thân hữu mà Hoa Kỳ xem là đồng minh. Những dính dự đó hầu hết là để yểm trợ. Và dù những yểm trợ đó có lúc bắt nguồn từ quyền lợi của nước Mỹ, cũng đă có lúc vụng về gây tai hại nhiều hơn là đem đến ích lợi, nhưng nói chung th́ những yểm trợ đó phản ánh đức tính hào hiệp và vị tha của một dân tộc mà tôn giáo đă là một trong những nguyên ủy lập quốc, mà những lư tưởng về Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền đă là những sức mạnh duy tŕ sự cao cả của dân tộc họ. Đức tính hào hiệp và những lư tưởng lập quốc đó đă chảy xuyên ḍng lịch sử ngoại giao của Hoa Kỳ như một thứ cốt tủy, dù phần thể hiện của nó là các chính sách ngoại giao, có thay đổi theo thời đại hay theo từng nhiệm kỳ của mỗi vị Tổng thống. Chúng đă thuộc về căn cước văn hóa của dân tộc Hoa Kỳ. Hay nói như Coral Bell, một nhà nghiên cứu Úc, th́: “Đạo đức và tinh thần thượng tôn pháp luật là hai tuyến lơi trung ương của nền ngoại giao Hoa Kỳ kể từ khi quốc gia này ư thức được vai tṛ cường quốc của ḿnh” [1]. Thật vậy, Hoa Kỳ đă hai lần đưa quân đội vào nước Pháp giúp giải thoát nước này khỏi gót giày xâm lăng của quân phiệt Đức. Sau thế chiến thứ hai, Hoa Kỳ lại thực hiện kế hoạch viện trợ Marshall để giúp Pháp tái thiết xứ sở và nhất là giúp các lực lượng dân chủ Pháp đánh bại mưu toan cướp chính quyền của đảng Cộng Sản Pháp, lực lượng mạnh nhất lúc bấy giờ, mạnh đến nỗi đă đánh bật vị anh hùng cứu quốc De Gaulle ra khỏi chính quyền năm 1946. Cũng vậy, tháng 6 năm 1950, Hoa Kỳ gởi quân qua Thái B́nh Dương giúp Nam Hàn chống lại cuộc xâm lăng của Bắc Hàn và Trung Cộng. Trong những ngày đầu của trận chiến, tướng MacArthur đă khuyên Tổng thống Lư Thừa Văn bỏ thủ đô Hán Thành rút về miền cực Nam để bảo toàn lực lượng mà vị Tổng thống này v́ tự ái dân tộc đă không chịu nghe theo. Đến khi Bắc quân đánh xuống như thế chẻ tre, ông mới rút về Phú San, để từ đó cùng với quân lực Mỹ của tướng MacArthur phản công đuổi quân thù ra khỏi vĩ tuyến thứ 38. Sau khi ḥa b́nh văn hồi, nhận rơ áp lực nặng nề vẫn đe dọa đất nước, Tổng thống Lư Thừa Văn đă yêu cầu quân Mỹ ở lại để bảo vệ biên giới phương Bắc, đồng thời thực thi một nền tự do dân chủ có trách nhiệm để tạo những nền móng chính trị cho nền độc lập và cho những phát triển kinh tế lẫy lừng sau này. Cũng tại Á Châu và gần gũi với Việt Nam hơn, Phi Luật Tân đă bị Hoa Kỳ chiếm đóng trong và sau đại chiến thứ hai. Nhưng trong khi các nước Á Phi khác phải đổ rất nhiều xương máu và tốn rất nhiều thời gian để giành lại độc lập th́ ngược lại, Phi Luật Tân đă được Hoa Kỳ hào hiệp trao trả chủ quyền đất nước ngày 4 tháng 7 năm 1946, khác hẳn với chính sách duy tŕ chế độ thuộc địa của các đế quốc thực dân khác như Bỉ (ở Congo), Pháp (ở Việt Nam, Algérie), Ḥa Lan (ở Nam Dương). Để bảo vệ nền độc lập trong trường hợp bị Trung Cộng xâm lăng và để tỏ thiện chí cho mối giao hảo hầu mở đầu những bang giao kinh tế tốt đẹp sau này, Phi Luật Tân đă nhượng cho Hoa Kỳ thuê (Cession and Bail) hai căn cứ quân sự lớn là Clark Air Base và Subic Bay mà số ngoại tệ thu nhận được từ hai căn cứ này đă đóng góp rất nhiều vào việc phục hưng nền kinh tế hậu chiến của Phi Luật Tân. Trong suốt các thập niên 1950 và 60, Hoa Kỳ đă giúp Phi Luật Tân tối đa trên cả hai mặt kinh tế lẫn chính trị để trở thành một trung tâm vận động của vùng Đông Nam Á mà điển h́nh là các định chế kinh tế, quân sự liên vùng như ADB Asia Development Bank (Ngân Hàng Phát Triển Á Châu), SEATO Southeast Asia Treaty Organization (Tổ chức Minh Ước Liên Pḥng Đông Nam Á) đều đặt trụ sở hoặc bộ chỉ huy trung ương tại Manila. Một trường hợp đặc biệt khác mà tôi muốn đề cập ở đây như một bài học lịch sử là trường hợp của Nhật Bản. Trong đệ nhị thế chiến, Hoa Kỳ đă từng tiến đánh và nhiều khi chiếm đóng các đảo của Nhật tại Thái B́nh Dương để trừng phạt quốc gia này đă tấn công Trân Châu Cảng và hợp tác với Đức Quốc Xă của Hitler. Sau sự tàn phá khủng khiếp của hai quả bom nguyên tử tại Hiroshima và Nagasaki, ngày 2 tháng 9 năm 1945, trên soái hạm Missouri, đại diện Nhật hoàng kư văn kiện đầu hàng vô điều kiện trước mặt vị Tổng Tư Lệnh Tối Cao của Quân Đội Đồng Minh tại mặt trận Thái B́nh Dương là tướng MacArthur. Những Đô đốc, Tướng lănh, Sĩ quan thường rất kiêu hănh của quân đội Thiên Hoàng đă để những giọt nước mắt từ từ rơi xuống ngay cả trước mặt quân thù. Đó là những giọt lệ chân thành và chua xót nhất của kẻ chiến bại mà đă một thời từng đánh tan hạm đội Nga Hoàng, từng tốc chiến tốc thắng tại Lư Câu Kiều (Trung Hoa), từng tung hoành oanh liệt khắp vùng Đông Nam Á làm bàng hoàng cả thế giới. Trước đó, ngày 15 tháng 8 năm 1945, Nhật Hoàng Hiro Hito đă ra lệnh chấm dứt cuộc chiến. Tại các mặt trận, quân đội Thiên Hoàng phải hạ súng, rất nhiều sĩ quan Nhật đă dùng gươm tự sát theo truyền thống của một vơ sĩ đạo để đền nợ nước, trả ơn vua và bảo vệ danh dự cùng khí phách của một quân nhân. Lá cờ “mặt trời mọc” từ nay vắng bóng trên bốn bể năm châu, chỉ c̣n trên mấy ḥn đảo xứ Phù Tang nghèo nàn đổ nát. Trước nỗi đau khổ nhục nhă vô cùng tận của quân dân, Nhật Hoàng đă thống thiết kêu gọi dân chúng Nhật… Hăy chịu đựng cái không chịu đựng nổi và hăy đau khổ cái không đau khổ nổi, và hăy hướng về tương lai. Sau đó Nhật Hoàng cắt một phần đất của Hoàng thành, nơi mà Hoàng gia trải bao đời yêu quí ǵn giữ, để tặng lại cho dân chúng như một hành động tạ tội tượng trưng với đồng bào. Đối với quân đội chiếm đóng Mỹ, toàn thể dân chúng Nhật đều cố nén uất hận và che dấu căm hờn mà tự nhiên đối xử một cách lễ độ. Hễ gặp một Mỹ kiều, dù là thuộc thành phần quân nhân hay dân sự, họ đều nghiêng ḿnh cúi đầu xuống, chắp tay vái chào theo tục lệ của dân Nhật. Họ không để lộ thái độ thù hận, chống đối quá khích. Khi bị áp lực của Mỹ phải kư Ḥa Ước An Ninh Hỗ Tương San Francisco (1951) mà trong đó có điều khoản bắt Nhật không được tái vơ trang quá giới hạn pḥng vệ, chính giới Nhật Bản vẫn cam chịu để đổ dồn hết ngân sách vào sức mạnh kinh tế. Thái độ ẩn nhẫn có vẻ khiếp nhược đó, một phần do lời kêu gọi “tôn trọng kỷ luật đối với kẻ chiến thắng” của nhà vua, một phần là do tính t́nh khôn ngoan, cẩn trọng, thức thời, và ư thức chính trị sáng suốt của con cháu Thái Dương Thần Nữ. Họ d́u dắt nhau, chỉ dẫn nhau trong ư thức “thất bại là mẹ thành công” để xây dựng lại quê hương. Chính nhờ triệt để thể hiện cái ư thức khôn ngoan đó mà người Nhật sớm thu lượm được những kết quả đầu tiên vô cùng to lớn mà ngay cả họ cũng không ngờ tới. Bài học lịch sử đó của dân tộc Nhật Bản là ǵ nếu không phải là bài học về sự vận dụng sức mạnh của địch cho sự cường thịnh của chính ḿnh. Và đàng sau bài học đó là một bài học rất lớn khác cho chúng ta về ḷng yêu nước bằng một quan điểm sáng suốt và bằng một tinh thần thực tiễn, chứ không phải chỉ bằng những xúc động mù quáng của một thứ tự ái dân tộc nhiều lúc rất phản quốc. Trường hợp của Nhật Bản cũng như trường hợp của Cộng Ḥa Liên Bang Đức, một kẻ cựu thù trong Đệ Nhị Thế Chiến, Hoa Kỳ đă biết mau chóng biến thù thành bạn để cùng xây dựng một khối NATO hùng mạnh hầu ngăn chận sự bành trướng nguy hiểm của Nga Sô. Các nhà lănh đạo Đức, dù bảo thủ như Adenauer hay chủ xướng Ostpolitik như Willy Brandt, đều biết vận dụng sự yểm trợ của đồng minh lớn Hoa Kỳ để hùng cường hóa đất nước. Và dù quân đội của Mỹ có đóng trên đất Đức, dù hỏa tiễn Pershing II có đặt căn cứ trên lănh thổ Đức, không ai có thể nói rằng Đức không có chủ quyền, không có độc lập. Thật trái hẳn với trường hợp của nước ta đă không vận dụng được sức mạnh đó để cứu nước chứ đừng nói đến dựng nước, mà lại c̣n mất chủ quyền, mất độc lập nữa! Từ thời Đệ Nhất Cộng Ḥa, ông Diệm đă không làm nổi một Nhật Hoàng Hiro Hito, một De Gaulle, một Lư Thừa Văn th́ làm sao trách được sau này Nguyễn Văn Thiệu không biến miền Nam thành một chư hầu trong quỹ đạo Hoa Kỳ. Nêu lên một số sự kiện lịch sử trên đây từ Âu qua Á, từ bạn đến thù, tôi chỉ muốn nói rằng sau Thế Chiến thứ Hai, trước mưu đồ bành trướng của Cộng Sản quốc tế, chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ dù là đối đầu (Confrontation), ngăn chận (Containment), hay lật ngược (Rollover, chữ của tạp chí Foreign Affairs), th́ cũng đều nhằm đem sức mạnh quân sự, sức mạnh tài lực, sức mạnh kỹ thuật của ḿnh ra mà cứu bạn và xây dựng cho bạn th́ mới cứu được ḿnh và mới xây dựng được ḿnh. Chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ đối với Việt Nam từ sau Đệ Nhị Thế Chiến cũng không nằm ngoài quy luật đó. Ngay sau Thế chiến thứ nh́, Tổng thống Franklin Roosevelt đă chủ trương yểm trợ cho các phong trào “giải phóng dân tộc” của các quốc gia thuộc địa trong khuôn khổ của phong trào giải thực toàn cầu mà Việt Nam là một thí điểm kiểu mẫu. Ngay trong thời kỳ Nhật chiếm đóng Đông Dương, ngày 22 tháng 8 năm 1945, một phái đoàn Mỹ gồm năm sĩ quan do Thiếu tá Archimede L. Patti cầm đầu đă nhảy dù xuống vùng thượng du Bắc Việt giúp ông Hồ Chí Minh kháng Nhật, và chính phái đoàn Mỹ này đă về Hà Nội dự lễ Độc lập đầu tiên của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa. Nhưng khi ông Hồ Chí Minh và Việt Minh để lộ màu sắc Cộng Sản th́ phái đoàn Patti được lệnh chấm dứt mọi liên hệ để hồi hương. Cuộc chiến tranh giữa Cộng sản Việt Nam vận dụng dân tộc và thực dân Pháp đội lốt “quốc gia chống Cộng” bắt đầu ngay sau đó. Ngày 29 tháng 12 năm 1947, cựu Đại sứ Hoa Kỳ William Bullit viết trên tờ Life Magazine một bài báo gọi trận chiến tranh Đông Dương là “trận chiến tranh buồn thảm nhất” (the saddest war), ông kêu gọi Pháp phải trả độc lập hoàn toàn cho Việt Nam dù là một Việt Nam do Đảng Cộng Sản Đông Dương lănh đạo. Lời kêu gọi của William Bullit tuy ngây thơ nhưng phát xuất từ tâm thức “giải phóng dân tộc”, bắt nguồn từ chính cuộc cách mạng lập quốc 1776 giải phóng khỏi ách đô hộ của đế quốc Anh, đă đánh động được dư luận Hoa Kỳ, v́ vậy khi Điện Biên Phủ lâm nguy (tháng 5 năm 1954) và khi chính phủ Pháp yêu cầu Hoa Kỳ yểm trợ bằng lực lượng không quân th́ Tổng thống Eisenhower và Ngoại trưởng Foster Dulles từ chối. Quan điểm của Ngoại trưởng Dulles lúc bấy giờ là nếu Pháp muốn Hoa Kỳ cứu viện th́ phải chịu hai điều kiện: một là phải trả độc lập hoàn toàn cho thành phần quốc gia Việt Nam không Cộng Sản, và hai là Mỹ phải giành lấy trách nhiệm lănh đạo cuộc chiến tranh Đông Dương. Tuy nhiên, phần v́ chính phủ Anh không chấp thuận việc đồng minh tham chiến tại Đông Dương, phần khác v́ cả Pháp lẫn khối Cộng Sản đều muốn giải quyết mau chóng vấn đề Việt Nam nên chủ trương của Ngoại trưởng Dulles đă không được thực hiện. Quy ước của Hội nghị Genève 1954 đă tạm thời chia đôi đất nước tại vĩ tuyến 17. Phản ánh đúng đắn đường lối ngoại giao của ḿnh, Hoa Kỳ can thiệp mạnh mẽ vào vấn đề Đông Dương mà cụ thể là giúp ông Diệm về nước để xây dựng một tiền đồn chống Cộng tại Đông Nam Á. V́ tiền đồn đó, nếu muốn đóng vai tṛ chống Cộng hữu hiệu th́ phải thật sự tự do, dân chủ trên mặt chính trị, và phải thật sự hùng mạnh trên mặt kinh tế và quân sự, nên Hoa Kỳ đă không ngại ngùng dùng mọi kế sách và phương tiện để ủng hộ cho miền Nam, kể cả việc không tôn trọng hai điều khoản quan trọng của hội nghị Genève về vấn đề Tổng Tuyển Cử (năm 1956) và về vấn đề quân đội ngoại nhập. Quân viện và kinh viện Hoa Kỳ đổ vào miền Nam như thác đổ, chuyên viên và phương tiện Hoa Kỳ như một kho tàng bất tận cho nhà cầm quyền miền Nam sử dụng; tiếc thay, anh em ông Diệm đă không biết vận dụng sức mạnh đó để bổ túc cho sức mạnh cốt lơi của dân tộc hầu chống Cộng cứu nước và phát triển quốc gia. Đă thế, khi không chống nổi Cộng Sản và trước những áp lực chính đáng của Hoa Kỳ đ̣i cải tiến chế độ, họ lại phản bội cả dân tộc lẫn đồng minh để thỏa hiệp với chính kẻ thù Cộng Sản. Năm 1963 ông Ngô Đ́nh Nhu đă tuyên bố rất rơ ràng: “Tôi chống Cộng trên quan điểm ư thức hệ, tôi không phải là người chống Cộng trên quan điểm chính trị hay nhân bản. Tôi xem những người Cộng Sản như anh em, như những con chiên lạc đàn. Tôi không theo đuổi một cuộc thánh chiến chống lại Cộng Sản v́ nước tôi chỉ là một nước nhỏ bé. Chúng tôi chỉ muốn sống trong ḥa b́nh” [2]. Ở đây tôi không bàn đến sự nông cạn trí thức của ông Nhu về ư thức hệ Cộng Sản khi tách phạm trù chính trị và nhân bản ra khỏi ư thức hệ này; tôi cũng không cần bàn đến sự ngây thơ chính trị rất chủ quan của ông Nhu khi cho rằng v́ là một nước nhỏ bé nên không chống Cộng, tôi cũng chưa nhắc lại tại sao năm 1955 anh em ông Diệm không chịu thực hiện một quy chế Trung lập Ḥa b́nh cho miền Nam mà nay lại muốn thỏa hiệp với Cộng Sản để được ḥa b́nh, mà tôi chỉ muốn nhấn mạnh đến lập trường của ông Nhu, người lănh tụ chính trị thực sự của miền Nam tự do, qua chính lược không chống Cộng Sản nữa v́ họ là người “anh em”. Trước khi đi sâu vào sự thay đổi đột ngột về lập trường của ông Nhu và sau khi đă nh́n một cách tổng lược và khái quát về chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ đối với các quốc gia thân hữu hoặc đồng minh, đặc biệt là Việt Nam, tôi xin trở lại với nguyên nhân thứ ba là sự căng thẳng trong mối bang giao ruột thịt giữa chính quyền Mỹ và chế độ Ngô Đ́nh Diệm. Để hiểu thêm về bản chất và cường độ thực sự của t́nh trạng căng thẳng này, tôi xin được tŕnh bày một số sự kiện liên hệ đến chính sách của các chính quyền Mỹ đối với chế độ Ngô Đ́nh Diệm, một chính sách đặt nặng tính khuyến cáo xây dựng để chính phủ Diệm sửa sai hầu phát huy chính nghĩa chống Cộng hơn là áp lực độc đoán để tước đoạt chủ quyền của miền Nam: - Thứ nhất là sự kiện thay đổi một vị Đại sứ trực tính và nhằm phục vụ cho miền Nam bằng một vị Đại sứ mềm dẻo hơn và chỉ muốn làm hài ḷng ông Diệm. Ngay từ năm 1957, vị Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam là ông Ellridge Durbow đă thấy ông Diệm tiến hành một chính sách độc tài trong việc quản trị miền Nam cũng như đă hành xử một cách quan liêu phong kiến, khiến cho nhân dân bất măn và làm đ́nh trệ các chương tŕnh phát triển kinh tế, xă hội. Ông Durbow cũng đă thấy được thái độ lộng quyền thất nhân tâm và phản tuyên truyền của bà Nhu, nên đă khuyến cáo ông Diệm nhiều lần. Đặc biệt ông đề nghị giảm bớt các h́nh thức làm dân bất măn và tạo cơ hội cho địch tuyên truyền như giảm thiểu đoàn xe hộ tống đông đảo ồn ào, như đừng bắt dân bỏ công ăn việc làm cả ngày để chờ chực đón chào Tổng thống, như không nên ngồi chễm chệ trên ghế bành đặt trên thuyền để sĩ quan lội nước đẩy thuyền. Ông cũng khuyên nên để bà Nhu ra nước ngoài một thời gian hầu xoa dịu ḷng căm phẫn của dân chúng. Nhưng những lời khuyến cáo của Đại sứ Durbow đă không có hiệu quả nào v́ lúc bấy giờ Hoa Thịnh Đốn vẫn c̣n tin tưởng vào “uy tín và tài năng” của ông Diệm nên không muốn tạo ra những mâu thuẫn cá nhân giữa hai người, làm phương hại đến mối giao hảo đang tốt đẹp giữa hai quốc gia. Đă thế, ông Diệm lại bày tỏ sự bất măn đối với Hoa Thịnh Đốn về thái độ của Đại sứ Durbow mà ông cho là “hay sinh sự” để Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ làm áp lực ngược lại ông Durbow. Quan hệ giữa ông Diệm và Đại sứ Durbow càng lúc càng trở nên căng thẳng và lên đến cao điểm sau biến cố ngày 11–11–1960, biến cố mà v́ những hằn học cá nhân ông Nhu cứ nhất định cho là do Mỹ chủ xướng và Đại sứ Durbow là người đóng vai tṛ quan trọng. Dù lúc bấy giờ Hoa Thịnh Đốn đă thấy sự suy sụp của chế độ mà Đại sứ Durbow từng báo trước từ lâu, nhưng v́ muốn duy tŕ mối liên hệ ruột thịt giữa chế độ Diệm và Hoa Kỳ cũng như v́ muốn làm hài ḷng ông Nhu, Tổng thống Kennedy đă kéo Đại sứ Durbow về nước và cử Đại sứ Nolting qua Sài G̣n thay thế, dù ông này không có nhiều hiểu biết hoặc kinh nghiệm về Việt Nam cũng như về Đông Nam Á. Đại sứ Nolting là một nhà trí thức ḥa nhă, một nhà ngoại giao tế nhị mà Bộ Ngoại Giao đă chỉ thị nên dùng những thái độ mềm mỏng trong khi khuyến cáo chính phủ Diệm để khỏi chạm tự ái của những nhà lănh đạo miền Nam. Ông Nolting đă thi hành quá chỉ thị của thượng cấp đến độ tại Hoa Thịnh Đốn người ta có cảm tưởng ông ta bị lôi cuốn bởi bà Nhu để trở thành một vị Đại sứ của ông Diệm bên cạnh người Mỹ hơn là một vị Đại sứ của Mỹ tại Sài G̣n [3]. Cảm tưởng đó hẳn không sai lầm v́ ông Nhu đă thành công trong việc điều động viên Đại sứ dễ vận dụng này và đă có lần khen ông Nolting là vị Đại sứ thông minh nhất của Hoa Kỳ tại miền Nam từ trước đến nay. Măi cho đến tháng 3 năm 1963, khi cờ gần tàn cuộc, ông Nolting mới bắt đầu “thức tỉnh”, làm cho một đồng nghiệp của ông, Đại sứ Pháp Roger Lalouette, phải chế diễu: “Đại sứ Mỹ Nolting quả thật đang kẹt lắm. Nào là những hiểu lầm giữa ông ta và Bộ Ngoại giao Mỹ, giữa ông ta và các phụ tá, giữa ông ta và các tướng lănh Mỹ. Ông Nolting lại đang kẹt với báo chí Mỹ, với gia đ́nh và chính phủ Diệm, với tất cả mọi nhà ngoại giao khác tại Sài G̣n. Tất cả những điều kẹt đó chứng tỏ ông Nolting bắt đầu chớm hiểu” [4]. Sự kiện thay thế ông Durbow bằng ông Nolting này biểu hiện một cách rất rơ ràng rằng Hoa Kỳ sẵn sàng nhượng bộ và làm thỏa măn anh em ông Diệm dù sự nhượng bộ đó, về dài, có làm suy yếu chính sách ngoại giao của họ tại miền Nam nói riêng và sách lược chống Cộng tại Đông Nam Á nói chung. Ta có thể phê phán người Mỹ thiếu cứng rắn, kém tâm lư, hoặc ta có thể phê phán họ ngây thơ, nhưng có một điều chắc chắn mà ta phải công nhận là họ đă nhượng bộ để làm hài ḷng hai ông Diệm–Nhu khi quyết định việc thay đổi nhân sự này. - Thứ hai là sự kiện người Mỹ đă t́m mọi cách để nâng uy tín ông Diệm lên cao, một uy tín đang bị sụp đổ và đang cần phải xây dựng lại gấp hầu duy tŕ khả năng chống Cộng của chính quyền miền Nam. Thật vậy, vừa làm lễ nhậm chức cuối tháng Giêng năm 1961 th́ ngày 15 tháng 5, Tổng thống Kennedy đă gởi vị Phó Tổng Thống của ḿnh qua miền Nam để thẩm định lại t́nh h́nh tại chỗ, một t́nh h́nh không mấy lạc quan v́ sự gia tăng hoạt động của Việt Cộng và những báo cáo bi quan về các thất bại chính trị của chính quyền miền Nam. Đồng thời Tổng thống Kennedy cũng nhờ ông Johnson trao lại một lá thư riêng cho ông Diệm tái xác định quyết tâm của Hoa Kỳ tiếp tục ủng hộ ông Diệm và yểm trợ nhân dân miền Nam chống Cộng… Lá thư nói rơ rằng Hoa Kỳ chỉ giúp phương tiện và ngân phí mà thôi, c̣n việc chiến đấu bảo vệ quê hương là do chính nhân dân miền Nam nhận lấy trách nhiệm. Trong chuyến viếng thăm này, để làm hài ḷng bản chất tự tôn và tính kiêu hănh của vị lănh đạo miền Nam, ông Johnson khi đến Sài G̣n đă không ngại ngùng công khai ca ngợi “Tổng thống Diệm là Churchill của thập niên này”. Nếu ta so sánh cuộc đời cũng như sự nghiệp chính trị của Thủ tướng Churchill và ông Diệm th́ ta sẽ thấy lời đề cao quá lố này chỉ là một lời tuyên bố thuần túy thuộc ngôn ngữ ngoại giao, rất cần thiết nhằm gây lại uy tín cho ông Diệm vốn đă suy sụp quá nhiều, và đồng thời vừa để chứng tỏ cho Cộng Sản cũng như nhân dân miền Nam biết rằng Hoa Kỳ vẫn cương quyết ủng hộ chế độ Ngô Đ́nh Diệm dù những sai lầm và thất bại của chế độ đó. Lời tuyên bố đó cần thiết đến độ Johnson đă phải dùng một sự so sánh không những sai lầm trên mặt lịch sử mà c̣n hoàn toàn ngược hẳn với sự đánh giá thầm kín của chính ông ta. Thật vậy, cũng trong chuyến viếng thăm này, khi ngồi trên phi cơ bay thị sát các quân khu và bị kư giả Mỹ chất vấn về lời tuyên bố đó, Phó Tổng thống Johnson đă trả lời: “X́ ! Diệm là đứa duy nhất mà ta có ở đây” (Shit ! Diem’s the only boy we’ve got out there”) [5]. Loại ngôn ngữ ngoại giao đầy thủ đoạn chính trị đó, sau này, cũng đă được ông Nixon dùng để khen ông Thiệu là “một trong bốn lănh tụ tài ba nhất thế giới” tại vườn hoa Ṭa Bạch Ốc vào năm 1973. Nhưng điểm khác biệt đáng chú ư là ông Nixon khen ông Thiệu để khuyến khích thi hành hiệp định Paris cho Mỹ có thể giải kết khỏi miền Nam trong “danh dự”, và ông Thiệu biết lời khen đó là giả dối, c̣n ông Johnson khen ông Diệm là để mong tạo uy tín thêm cho ông Diệm hầu cuộc chiến chống Cộng có thể thành công, trong lúc trong thâm tâm th́ lại nghĩ khác, nhưng ông Diệm lại không biết điều đó. V́ không biết, nghĩa là không phát hiện ra sự giả dối và không thấy uy tín ḿnh đang bị mất nên ông Diệm mới dại dột tuyên bố trong một bài diễn văn đáp từ Johnson rằng: Biên giới của Thế giới Tự Do chạy dài từ Alaska đến sông Bến Hải, tạo cơ hội cho đài phát thanh Hà Nội lợi dụng tuyên truyền về bản chất tay sai của chính quyền miền Nam trong quan hệ Mỹ– Diệm, và đă đập tan cái luận cứ độc lập và dân tộc chống Cộng của chính nghĩa miền Nam trong nhân dân. Nhưng dù lời tuyên bố của ông Johnson có giả dối th́ rơ ràng nó cũng phát xuất từ chính sách của Mỹ muốn cho ông Diệm mạnh thêm và muốn cho miền Nam vững thêm. Một lần nữa, ta có thể phê phán ông Johnson theo chiều hướng nào cũng được, nhưng chắc chắn là lời tuyên bố đó phản ánh chính sách thân thiện và ủng hộ của người Mỹ lúc bấy giờ. - Sự kiện thứ ba là mặc dầu uy tín và sức mạnh chính trị bắt đầu bị tổn thương sau vụ thất bại tại “Vịnh Con Heo” ở Cuba vào tháng 4 nhưng Tổng thống Kennedy cũng đă theo lời yêu cầu của ông Diệm, tiến hành chiến dịch tăng cường quân nhân tham chiến (ngụy trang dưới h́nh thức cố vấn quân sự và chuyên viên cứu trợ nạn lụt) tại miền Nam Việt Nam sau chuyến điều nghiên của Tướng Maxwell Taylor và Cố vấn Walt Rostow vào tháng 10 năm 1961. Chiến dịch này đă được ông Diệm và chính quyền Mỹ đồng thuận thi hành một cách tích cực mà sự ra đời của Bộ Chỉ Huy Yểm Trợ Quân Sự Mỹ (American Military Assistance Command) vào ngày 6 tháng 2 năm 1962 đă cho phép ông Diệm nhận thêm từ 700 “cố vấn” lên đến 12.000 “cố vấn” vào giữa năm 1962. Nghĩa là gia tăng 1.700 phần trăm trong ṿng 8 tháng ! Sự gia tăng đó mạnh mẽ cả về mặt ư chí lẫn sức mạnh đến nỗi Trưởng phái đoàn Ba Lan trong Ủy Hội Quốc Tế Kiểm Soát Đ́nh Chiến khi đến Bắc Kinh cũng đă nhận thấy “cấp lănh đạo Trung Cộng rất lo lắng về sự can thiệp càng lúc càng gia tăng của người Mỹ tại Việt Nam” [6]. Tất cả chiến dịch đó đă được chính quyền Mỹ khôn khéo trốn tránh chính Quốc Hội và báo chí Hoa Kỳ (vốn đang bắt đầu có khuynh hướng chống việc gửi quân nhân Mỹ tham chiến tại ngoại quốc sau vụ thất bại tại Cuba) để mạo hiểm một mặt thỏa măn lời yêu cầu của chính phủ Diệm, và mặt khác để bảo đảm sự thành công của cuộc chiến chống Cộng tại miền Nam. Thật vậy, mặc dù trong cuộc thảo luận với Phó Tổng thống Johnson trước đó năm tháng ông Diệm đă không muốn đem quân chiến đấu Mỹ vào miền Nam, nhưng khốn nỗi vào tháng 10, khi tướng Taylor đang trên đường đến Sài G̣n th́ Việt Cộng phát động các đợt tấn công dữ dội vào tỉnh lỵ Phước Thành, đốt phá các cơ sở, giết hại cả Tỉnh trưởng lẫn Phó Tỉnh trưởng và rất nhiều binh sĩ, cán bộ, công chức; đồng thời Việt Cộng lại tấn công nhiều quận lỵ của tỉnh Darlac và tung ra nhiều đơn vị lớn đánh phá khắp miền Nam, công hăm các đồn bót chiến lược dọc quốc lộ số 4 và gây thiệt hại nặng nề cho lực lượng Việt Nam Cọng Ḥa. T́nh h́nh an ninh suy sụp đó khiến cho ông Diệm sợ hăi một cuộc tổng nổi dậy của Việt Cộng nên ông bèn đưa ra lời tuyên bố chính thức rằng chiến tranh thật sự đă xảy ra tại miền Nam. V́ không c̣n giữ ư định chống lại việc quân đội Mỹ tham chiến tại miền Nam nữa nên ông Diệm đă yêu cầu Mỹ đem một số “quân chiến đấu tượng trưng” vào miền Nam và lớn tiếng kêu gọi Hoa Kỳ cùng với Việt Nam Cộng Ḥa kư một hiệp ước pḥng thủ song phương [7]. Trước lời kêu gọi đó của ông Diệm, và trước t́nh h́nh an ninh suy thoái một cách trầm trọng của miền Nam, Bộ Tổng Tham mưu Hoa Kỳ cũng khuyến cáo Tổng thống Mỹ nên gởi quân qua Việt Nam tham chiến. Ư kiến này được Thứ trưởng Quốc pḥng William P. Bundy ủng hộ mạnh mẽ v́ theo ông Bundy, sách lược “tốc chiến tốc thắng” có thể giúp ông Diệm nhiều may mắn hơn và có thể lật ngược thế cờ. Nhưng v́ việc quân đội Mỹ công khai tham chiến tại Việt Nam có thể gây nhiều phức tạp trong nội bộ chính trị Hoa Kỳ cũng như có thể gây các phản ứng quốc tế nguy hiểm, nên Ṭa Bạch Ốc bề ngoài đă phải giảm thiểu những thúc giục ồn ào tại cả Sài G̣n lẫn Hoa Thịnh Đốn, bằng cách giả vờ lộ một số tin tức cho nhật báo New York Times, tiết lộ rằng “các cấp lănh đạo ở Ngũ Giác Đài cũng như Đại tướng Taylor đều tỏ ra miễn cưỡng về việc gởi các đơn vị chiến đấu Mỹ sang Đông Nam Á”. Bài báo này đă chận đứng được những tuyên bố quá lộ liễu của ông Diệm. Những sự kiện trên đây cho thấy mới giữa năm 1961 mà t́nh h́nh chiến sự tại miền Nam đă đến độ nguy ngập như tôi đă tŕnh bày trong một chương trước. Sự kiện trên đây cũng cho thấy ông Diệm đă hoảng sợ, phải yêu cầu Mỹ tăng viện, kể cả việc đem quân chiến đấu ngoại quốc vào miền Nam (sự thật lịch sử này đă bị nhóm Công Giáo Cần Lao bóp méo với luận điệu cho rằng ông Diệm bị Mỹ giết v́ không chịu cho quân đội ngoại quốc đóng trên đất nước ḿnh). Sự thật rơ ràng là chẳng những ông Diệm đ̣i quân Mỹ vào miền Nam, mà c̣n nhờ Mỹ vận động với Trung Hoa Dân Quốc gởi một sư đoàn qua Việt Nam tham chiến. Tài liệu mật của Ngũ Giác Đài dưới đây tiết lộ một bản mật điện của Ṭa Đại sứ Mỹ tại Sài G̣n gởi về Hoa Thịnh Đốn, tŕnh bày về cuộc thương thảo giữa Đại sứ Nolting và ông Nguyễn Đ́nh Thuần, Bộ trưởng Quốc Pḥng kiêm Bộ trưởng Phủ Tổng Thống, cho thấy những bí ẩn đó: # 25 Những Đ̣i Hỏi Vào Năm 1961 Của Nam Việt Nam Về Những Đơn Vị Tác Chiến Hoa Kỳ. Điện văn từ Ṭa đại sứ Mỹ tại Sài G̣n gởi Bộ Ngoại Giao / 13-10-1961 / Về những đ̣i hỏi của Nguyễn Đ́nh Thuần, Bộ trưởng Bộ Quốc Pḥng của Nam Việt Nam / Bản sao gởi Bộ Tư Lệnh Lực Lượng Thái B́nh Dương và Ṭa đại sứ Mỹ tại Bangkok Thailand và Taipei Taiwan / . Trong buổi họp 13-10 Thuần đă đưa ra những đ̣i hỏi sau đây: 1. Thêm phi đoàn AD-6 thay v́ phi đoàn T-28 như đă dự định và gởi qua càng sớm càng tốt. 2. Yêu cầu cung cấp phi công dân sự Mỹ để lái máy bay trực thăng, và phi cơ C-47 để bay những phi vụ tác chiến. 3. Nhiều đơn vị tác chiến Hoa Kỳ, hoặc những đơn vị gọi là “huấn luyện tác chiến” vào Nam Việt Nam. Một phần để đóng ở phía Bắc gần vĩ tuyến 17 để thay các lực lượng Quân Đội VNCH ở đó phải bận đi chống du kích ở vùng cao nguyên. Và cũng để đóng ở nhiều tỉnh của vùng Cao nguyên Trung Việt. 4. Phản ứng của Hoa Kỳ về dự định của Việt Nam yêu cầu Trung Hoa Quốc Gia gởi một sư đoàn tác chiến cho mặt trận Tây Nam. Thuần nhắc đến những tập nhật kư lấy được từ những sĩ quan Việt Minh bị giết ở miền Trung, trong đó có tin tức về những dự án và kỹ thuật của Việt Minh. Những tài liệu này đang được phân tích, dịch ra và sẽ được chuyển về (Hoa Kỳ). Thuần nói: ông Diệm, v́ thấy hiện t́nh của Lào, sự xâm nhập (của Việt Minh) vào Nam Việt Nam và việc Tổng thống JFK gởi Taylor (qua Việt Nam), đă yêu cầu Hoa Kỳ xét gấp những đ̣i hỏi của Nam Việt Nam. Về việc đ̣i hỏi gởi những đơn vị huấn luyện tác chiến Mỹ, Nolting hỏi xem ông Diệm có xét kỹ vấn đề chưa v́ đă có nhiều chống đối liên tiếp đ̣i hỏi này. Thuần xác nhận rằng có, và rằng ông Diệm đă đổi ư kiến (muốn Hoa Kỳ gởi quân qua Việt Nam) v́ t́nh h́nh càng ngày càng tệ hại hơn. Thuần muốn Hoa Kỳ biểu dương lực lượng gần vĩ tuyến 17 để ngăn ngừa Cộng Sản tấn công, và để thay thế lực lượng VNCH ở đó. Cũng cần những đơn vị Hoa Kỳ đóng ở những tỉnh cao nguyên, cho cùng một mục đích: thay thế cho quân lực VNCH ở đó. Nolting nói (tại sao lại có) những đ̣i hỏi này ngay sau khi ông Diệm yêu cầu có một thỏa ước của cả hai phe, như vậy có phải ông Diệm muốn thay thế thỏa ước bằng những đ̣i hỏi trên hay không? Thuần trả lời những đ̣i hỏi trên (giải quyết vấn đề) nhanh hơn thỏa ước. Rằng việc gởi quân sang sẽ thỏa măn Nam Việt Nam và thích ứng hơn một thỏa ước. (Về việc thỏa ước này, rơ ràng Thuần chưa suy nghĩ kỹ, cũng như đă chưa bàn với ông Diệm). Bàn về Ủy Hội Quốc Tế Kiểm Soát Đ́nh Chiến, Nolting nói rằng Nam Việt Nam trước đây đă coi trọng sự hiện diện của UHQTKSĐC. Thuần đồng ư nhưng nghĩ rằng những đ̣i hỏi trên không vi phạm v́ những đơn vị Hoa Kỳ gởi sang để canh pḥng chứ không phải để tác chiến, ngoại trừ khi bị tấn công. Cho nên có thể dùng những đơn vị này mà vẫn giữ được UHQTKSĐC ở Việt Nam. Nolting nói rằng ông nghi ngờ điều này nhưng có thể thử xem (McGarr và tôi lưu ư hai điểm: về những đơn vị dự định cho mục đích huấn luyện chỉ là một sự giả mạo - một cái cớ - chứ không phải mục đích thật. Nếu có gởi những đơn vị Hoa Kỳ th́ các đơn vị đó phải đủ mạnh v́ chắc chắn Việt Cộng sẽ tấn công). Về lực lượng Trung Hoa, Thuần nói rằng Tưởng Giới Thạch đă có dấu hiệu muốn giúp đỡ (tôi thấy điều này không chắc). Thuần nói chính phủ Việt Nam không muốn quyết định về việc này nếu không có phản ứng từ Hoa Kỳ. Ư định là dùng khoảng 10 ngàn quân (Trung Hoa) ở phía Tây Nam càng xa vĩ tuyến 17 càng tốt. Thuần nghĩ rằng có lẽ nên đưa quân Trung Hoa vào một cách bí mật, nhưng thấy không được sau khi phân tách lại vấn đề. Nolting nói: ông nghĩ rằng Trung Hoa chắc sẽ muốn một quyền lợi nào đó trong việc này, có thể là phương diện chính trị (giảm bớt áp lực chính trị) nếu gởi quân vào Á Châu lục địa (Nolting nghĩ là chỉ để thử mà thôi). Vấn đề chắc chắn sẽ được đặt lại với Taylor. Rơ ràng chính phủ Nam Việt Nam không thể để mất cơ hội đ̣i hỏi viện trợ nhiều hơn v́ sự chú ư và lo lắng của chúng ta đă gia tăng. Nhưng t́nh h́nh quân sự và tâm lư đă đi đến hồi mà vấn đề phải được xem xét một cách nghiêm chỉnh và nhanh chóng [8]. Sau hai tuần lễ quan sát tại chỗ và thảo luận với các nhà chức trách Việt Nam Cộng Ḥa, tướng Taylor đưa ra đề nghị: tăng quân số các cố vấn quân sự Mỹ, tăng cường chuyên viên về máy móc, gia tăng các dụng cụ tối tân cho mọi ngành thuộc quân binh chủng VNCH, đặc biệt là việc tối tân hóa ngành truyền tin, gởi gấp qua miền Nam trực thăng chiến đấu, thiết vận xa M–113 để tạo lưu động tính cho các đơn vị chiến đấu miền Nam, thay thế phi cơ T–28 bằng phi cơ AD–6, và nhiều vũ khí, dụng cụ tối tân khác… Đồng thời với đề nghị trên đây, tướng Taylor cũng “lưu ư riêng” Tổng thống Kennedy là nên gửi qua miền Nam 8 ngàn quân chiến đấu Mỹ, ngụy trang thành những đội chuyên viên giúp miền Nam đối phó với trận lụt đang đe dọa vùng châu thổ sông Cửu Long. Những sắp đặt trên đây, theo quan niệm của tướng Taylor, là một sự tham dự giới hạn của Mỹ vào chiến tranh Việt Nam theo tinh thần “limited partnership”, nghĩa là “những cố vấn quân sự Mỹ tiến đến gần hơn (nhưng chưa hẳn là) một bộ chỉ huy hành quân trên một chiến trường” [9]. Tài liệu mật của Ngũ Giác Đài trên đây và sự gia tăng nhảy vọt của số lượng “cố vấn” Mỹ tại chiến trường Việt Nam sau đó, không những đă cải chính sự huyênh hoang tội nghiệp của những phần tử Cần Lao Công Giáo đang cố bám víu vào cái huyền thoại “Ngô Tổng thống không chịu cho quân Mỹ vào Việt Nam nên bị Mỹ lật”, mà c̣n làm nổi bật lên một sắc thái đặc thù của liên hệ Mỹ–Việt vào năm 1962 của chính phủ Ngô Đ́nh Diệm: đó là dù ông Diệm có bất lực trong việc chống Cộng, chính phủ Mỹ vẫn yểm trợ, bảo bọc ông Diệm. Và ông Diệm đă công nhận, đă chấp thuận sự bảo bọc đó một cách quá trớn, nhất là trong trường hợp can thiệp lộ liễu của “cố vấn” Mỹ trong những quyết định quân sự, đến nỗi sau này, lúc hồi tưởng lại năm 1961, khi c̣n làm phóng viên tiền tuyến theo dơi các cuộc hành quân, kư giả Ngô Đ́nh Vận đă viết: “Tôi thấy rơ quân đội trong thời đệ I Cộng Ḥa đă không thực sự có được độc lập, có được đầy đủ sự chủ động ngay cả trong lúc giao tranh với địch quân” [10]. Sự yểm trợ và bao che đó lại càng nổi bật hơn nữa trong trận Ấp Bắc mà kết quả thảm bại, dù rất rơ ràng hiển nhiên, đă được ông Diệm và bà Nhu đổi ngược thành chiến thắng và, trong liên hệ thắm thiết Mỹ–Việt lúc bấy giờ, đă được một số nhân vật chủ yếu của chính quyền Kennedy đồng lơa công nhận. Thật vậy, từ đầu năm 1962, khi các cố vấn quân sự Mỹ và số khí cụ tối tân mới được tăng viện cho miền Nam trong kế hoạch Taylor–Rostow th́ quân đội Việt Nam Cộng Ḥa đă thu lượm được một số chiến thắng tại châu thổ sông Cửu Long, và lần đầu tiên đă tiến được vào chiến khu D, rừng U Minh, vốn là những căn cứ bất khả xâm phạm của Việt Cộng. Những chiến thắng thuần túy quân sự đó đă gây phấn khởi cho cả Sài G̣n lẫn Hoa Thịnh Đốn. Để yểm trợ cho mặt trận tuyên truyền tại Hoa Kỳ, ông Diệm đă cho phép Đại Tá Huỳnh Văn Cao, Tư lệnh Sư đoàn 7, diễn hành tại thủ đô Sài G̣n với sự tham dự của một số Dân biểu Quốc hội. Trong lúc đó tại Mỹ, Bộ trưởng Quốc pḥng McNamara họp báo tuyên bố miền Nam Việt Nam của ông Diệm đang lật ngược thế cờ. Nhưng những chiến thắng đó chỉ như bọt sóng bắn lên tung tóe rồi sau đó tan vỡ mất v́ ngay cả chỉ trên mặt thuần túy quân sự mà thôi, ưu thế lưu động của hai chiến thuật trực thăng vận và thiết vận xa M–113 đă không được khai thác đúng mức, hơn nữa chúng lại không hiệu dụng trong một trận chiến mà kẻ thù đă khôn khéo phối hợp được các kỹ thuật du kích chiến với những vũ khí tối tân do Nga viện trợ. Nhưng đó vẫn chưa phải là lư do chính khiến cho Việt Cộng dành lại được ưu thế trên chiến trường mà lư do chính là vào những năm đầu thập niên 1960, tinh thần chiến đấu của binh sĩ đă không c̣n hăng say nữa. T́nh cảm bất măn chế độ, bất măn cấp lănh đạo là gia đ́nh ông Ngô Đ́nh Diệm phát xuất từ những sự kiện rất thực tế trước mắt, rất liên hệ trực tiếp đến bản thân của sĩ quan và binh sĩ, đă làm suy giảm rất nhiều tinh thần hăng say và quyết tâm chiến đấu của quân lực. Giữa năm 1962, hai phi công Quốc và Cử ném bom dinh Độc Lập định giết cả nhà, tức là cả chế độ, của ông Ngô Đ́nh Diệm lại càng nung nấu và càng làm lan rộng sự bất măn đó. Đầu năm 1963, ba cán bộ Cần Lao Công Giáo của ông Diệm là Tư lệnh Vùng 4 Huỳnh Văn Cao, Tư lệnh Sư Đoàn 7 Bùi Đ́nh Đạm và Thiếu tá Tỉnh trưởng Định Tường Lâm Quang Thơ, với quân số đông hơn, với vũ khí hiện đại hơn, lại hứng chịu thảm bại nhục nhă tại Ấp Bắc trước tiểu đoàn 514 của địch không đến 400 quân. (Xin xem thêm “The Bright Shining Lie” của Neil Sheehan. Bản dịch Việt ngữ “Sự Lừa Dối Hào Nhoáng” của Nhà Xuất Bản Hồng Lĩnh, 1991). Thảm bại rơ ràng này không những đă khiến cho tướng Lê Văn Tỵ phải đích thân xuống điều tra tại chỗ mà chính các cố vấn quân sự Mỹ, đặc biệt là Trung Tá John Paul Vann – người phối hợp các phương tiện hỏa lực gồm M–113, trực thăng UH–1A, trực thăng CH–21, các đơn vị quân đội Mỹ trong vùng cho trận Ấp Bắc này – đă phải nhục nhă gọi là “một thành tích khốn nạn” v́ tướng Cao đă “chọn lựa tăng cường sự thất bại thay v́ nỗ lực để chiến thắng” (“A miserable damn performance… They choose to reinforce defeat rather than to try for victory”) [11]. Báo chí Mỹ tức giận v́ sự bất lực của quân đội Việt Nam Cộng Ḥa và sự vô hiệu của các chiến cụ viện trợ, đă phanh phui sự thất bại đó và c̣n quá khích đ̣i hỏi chính quyền Mỹ phải giành lấy quyền lănh đạo chiến tranh tại Việt Nam để tiêu diệt Cộng Sản. Thảm bại đă rơ ràng như thế, nhưng để tránh cho cuộc khủng hoảng chính trị tại Sài G̣n khỏi lan rộng thêm v́ một thất bại quân sự nặng nề, ông Diệm – và ngay cả bà Nhu, người không có thẩm quyền về các vấn đề quân sự – đă tuyên bố rằng Ấp Bắc là một chiến thắng oai hùng của Sư đoàn 7. Các nhà lănh đạo Mỹ, đặc biệt là Bộ trưởng Quốc Pḥng McNamara, Đại sứ Nolting, Đại Tướng Tư lệnh Quân Đội Mỹ tại Việt Nam Paul Harkins, đành phải bênh vực ông Diệm bằng cách xác nhận đó là một chiến thắng [12]. Thái độ bưng bít sự thật để tiến hành chính sách – mà trong giai đoạn đó là chính sách ủng hộ “người hùng” Ngô Đ́nh Diệm – c̣n tiếp diễn dài dài sau này suốt cuộc chiến Việt Nam. Ở đây tôi không phân tích về những lợi và hại của thái độ đó, mà tôi chỉ muốn nhấn mạnh rằng qua thái độ đó th́ cho đến đầu năm 1963, mối liên hệ giữa các nhà lănh đạo Mỹ và ông Diệm vẫn rất thắm thiết. Thắm thiết đến độ phải nói láo để bênh vực cho cái thế và cái lực của một con tốt vô dụng vào lúc cờ tàn. - Sự kiện thứ năm là sự đồng lơa của một số viên chức cao cấp Hoa Kỳ nhằm che dấu những thất bại của quốc sách ấp chiến lược hầu bảo vệ ông Diệm. Chương tŕnh Ấp Chiến Lược là do sáng kiến của ông Thompson người Anh, Cố lấn Du Kích chiến của Ṭa Bạch Ốc. Chương tŕnh này đă được Tổng thống Kennedy hết ḷng yểm trợ và đặt hết hy vọng vào hiệu quả của nó mà sự thành công đă được chứng nghiệm tại Mă Lai dù điều kiện ứng dụng có khác. Khi Mỹ đề nghị thực hiện chương tŕnh này trong mục đích tiêu diệt hạ tầng cơ sở của Việt Cộng tại nông thôn th́ bị ông Ngô Đ́nh Nhu bác bỏ. Mỹ phải vận động măi và đặc biệt phải tăng tài phí lên rất cao ông Nhu mới chấp thuận. Khi tiền viện trợ bắt đầu được tháo khoán, ông Nhu đích thân nắm lấy việc điều khiển thực hiện chương tŕnh và cho áp dụng kế sách riêng của ông ta theo đường hướng của chủ nghĩa “nhân vị” và đặc biệt để tạo một bộ máy nhân sự trung thành với chế độ [13]. Mà bộ máy trung thành đó có mục đích quyết liệt nhất là ǵ nếu không phải là nhân danh công cuộc chống Cộng để phát động và thực hiện cho được âm mưu Công giáo hóa nhân dân trong các Ấp Chiến Lược như tôi đă tŕnh bày ở một chương trước. Nếu công cuộc thực hiện chương tŕnh Ấp Chiến Lược được tiến hành một cách thực tế hơn, nghĩa là dựa trên thực tế chính trị quân sự cũng như thực tế xă |