MỤC LỤC

 

 

 
 

 

   Lời Giới thiệu của NXB

   Lời Mở đầu

 * * *

Chương 01

Chương 02

Chương 03

Chương 04

+ H́nh ảnh 1

Chương 05

Chương 06

Chương 07

Chương 08

Chương 09

Chương 10

Chương 11

Chương 12

Chương 13

Chương 14

Chương 15

Chương 16

Chương 17

Chương 18

Chương 19

Chương 20

 

THƯ MỤC

PHỤ LỤC

Phụ lục A

Phụ lục B

Phụ lục C

Phụ lục D

Phụ lục E

Phụ lục F

 

+ H́nh ảnh 2

 

* * *

 

CHƯƠNG XV

 

BIẾN CỐ

PHẬT GIÁO NĂM 1963

 

 Biến cố Phật giáo là một biến cố lớn không những cho chế độ Ngô Đ́nh Diệm vào năm 1963 mà c̣n cho cả chính đạo Phật tại Việt Nam. Biến cố này cũng đă đóng góp vào sự vươn ḿnh của dân tộc cũng như cho những chuyển động trí thức nhân bản hơn của nhân loại trong thập niên 60. Rất nhiều máu đỏ đă chảy trong biến cố này, cũng nhiều như mực đen đă chảy sau biến cố đó để ghi chép và lưu trữ lại những chứng tích và những suy nghiệm về các tội ác của chế độ Ngô Đ́nh Diệm trong lần trở ḿnh hùng tráng của Dân Tộc và Phật giáo tại Việt Nam.

Với những biện pháp hành chánh quỷ quyệt, những thủ đoạn chính trị tàn ác và các chủ trương văn hóa gian hiểm, trong 9 năm trời, chế độ Diệm đă t́m mọi phương cách để tiêu diệt dần dần các lực lượng và ảnh hưởng Phật giáo Việt Nam theo kế hoạch tằm ăn dâu. Đến những năm 1962, 1963, chế độ Diệm lại có thêm chương tŕnh ấp Chiến Lược mà họ thêm tin tưởng vừa có thể chiến thắng được Cộng Sản, lại vừa có thể Công giáo hóa toàn dân nông thôn. Chiếm được nông thôn là chiếm được địa bàn căn bản và lâu đời nhất của Phật giáo Việt Nam, họ sẽ bao vây Phật giáo, cô lập Phật giáo trong các chùa chiền ở đô thị và Phật giáo sẽ như cá trong ao khô hồ cạn, không c̣n nước nữa để sống c̣n và bơi lội vẫy vùng.

Nếu anh em ông Ngô Đ́nh Diệm kiên nhẫn dùng kế hoạch trên th́ có lẽ biến cố Phật giáo năm 1963 đă chưa xảy ra v́ một lư do rất dễ hiểu là mặc dù nỗi thống khổ của Phật tử đă đến cùng cực, thế mà Phật tử vẫn chỉ cắn răng chịu đựng. Nhưng mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên, nhà Ngô đi ngược ḷng dân và ngược ư trời nên mới lấy quyết định cấm treo cờ Phật giáo nhân ngày lễ Phật Đản, một quyết định ban đầu nhà Ngô tưởng là không mang lại hệ quả đáng kể nhưng thật sự lại đưa chế độ Diệm vào đường cùng. Với những người tin vào thuyết lư số và thuyết âm đức th́ năm 1963 đúng là năm chót trong cái đại vận “Phát dă như lôi” thụ hưởng phú quư tột đỉnh của anh em nhà Ngô để bước vào chu kỳ “Tán gia bại quốc” mang lại nhục nhă cho ḍng họ.

Thật thế, nếu Tổng Giám mục Ngô Đ́nh Thục c̣n ở Vĩnh Long th́ có lẽ vụ cấm treo cờ Phật giáo đă chưa xảy ra. Không ngờ Ṭa thánh La Mă dưới triều đại Giáo Hoàng Paul 6 lại thuyên chuyển ông Ngô Đ́nh Thục ra giáo phận Huế, nơi mà đại đa số dân chúng đều theo đạo Phật, nên nhà Ngô mới bị sa lầy sớm. Đổi ông Thục ra Huế, Ṭa Thánh La Mă chỉ muốn ông Thục, vốn đă làm cho Giáo Hội chịu nhiều tai tiếng xấu trong cộng đồng thế giới, phải xa lánh Thủ đô, xa tai mắt ngoại giao đoàn, xa kư giả quốc tế và xa khối trí thức Việt Nam đông đảo tại Sài G̣n. Không ngờ hảo ư của Ṭa Thánh La Mă lại biến thành đại họa cho nhà Ngô.

Tất cả bắt đầu vào ngày 6 tháng 5 năm 1963, khi Tổng Giám mục Ngô Đ́nh Thục đi thăm nhà thờ La Vang. Dọc đường, đâu đâu ông Thục cũng thấy cờ Phật giáo tung bay khắp thị thành thôn xóm để chào mừng Phật đản trong hai ngày nữa. Cờ Phật mà c̣n nhiều th́ cái mộng Hồng Y của ông Thục khó sớm thành sự thực v́ đă nhiều lần ông lỡ phúc tŕnh với Ṭa Thánh là dân Việt Nam ngày càng cải đạo, càng hướng về Giáo hội La Mă. Nhưng thực tế hôm đó hiển hiện trước mắt là cờ Phật giáo tràn ngập khắp nơi đă làm cho ông Thục giận lắm, nên khi trở về Huế, ông cho gọi Đại biểu chính phủ Trung phần là Hồ Đắc Khương đến Ṭa Giám mục để khiển trách rồi gọi điện thoại viễn liên vào Sài G̣n báo cho em là Tổng thống Diệm biết t́nh h́nh. Ngay sau đó ông Diệm ra luật lệ treo cờ cho các Tôn giáo.

Theo luật lệ treo cờ của Chính phủ Diệm, cờ Tôn giáo không được treo ngoài khuôn viên chùa chiền, nhà thờ hoặc các cơ sở tôn giáo... V́ bị Tổng Giám mục Ngô Đ́nh Thục áp lực, ông Diệm đă đặt vấn đề treo cờ Phật giáo mà ông quên đi năm ngoái (1962), Phật giáo cũng treo cờ như năm nay mà không thấy chính phủ khuyến cáo ǵ cả. Tôi c̣n nhớ năm 1959, từ ngày 16 đến 18 tháng 2, tại Thủ đô Sài G̣n và khắp cả nước, giáo hội Công giáo Việt Nam tổ chức đại hội Thánh Mẫu và lễ nâng nhà thờ Đức Bà Sài G̣n lên hàng Vương Cung Thánh Đường vô cùng trọng thể dưới quyền chủ tọa của Hồng Y Agagianan (Đại diện Ṭa Thánh La Mă). Cờ Ṭa Thánh và ảnh tượng Đức Mẹ trưng bày khắp Thủ đô, tràn ngập cả công viên trước dinh Độc Lập từ đường Công Lư đến tận Sở Thú. Ngày 17 tháng 8 năm 1961 tại La Vang, nhân dịp kỷ niệm lễ Đức Mẹ hiện ra cách đây 160 năm và khánh thành Vương Cung Thánh Đường La Vang, những khải hoàn môn trưng bày ảnh tượng Đức Mẹ và cờ Công giáo Vatican (vàng - trắng) kéo dài từ thành phố Huế đến thành phố Quảng Trị dọc theo Quốc lộ Một. Rồi đến lễ khánh thành ngôi nhà thờ Huế do ông Ngô Đ́nh Thục xây cất, và tiếp theo đó là lễ Ngân Khánh của ông Ngô Đ́nh Thục xẩy ra vài tuần lễ trước ngày Phật Đản, cờ Công giáo Vatican lại tràn ngập cả thành phố Huế, nhất là về phía hữu ngạn sông Hương. Dân cả nước ai lại không thấy rằng hễ mỗi lần Công giáo có lễ lạc là cờ Công giáo Vatican treo ra ngoài khuôn viên nhà thờ, trên đường phố công cộng và nhiều khi trên cả các cơ sở quốc gia. Dưới chế độ Diệm, hầu như trong mỗi doanh trại quân đội đều có nhà thờ mà hễ đến ngày lễ Noel là cờ Công giáo Vatican treo khắp doanh trại, trước cổng trại lại có cả khải hoàn môn. Dân chúng làm sao quên được h́nh ảnh những vùng như Hố Nai, Gia Kiệm, Ngă Ba Ông Tạ, Ngă Ba Chú Ía, chung quanh Lăng Cha Cả, và những vườn hoa những đại lộ trước Ṭa Đô Chính Sài G̣n tràn ngập ảnh tượng và cờ Công giáo Vatican trong những ngày lễ Giáng Sinh. Chính v́ Công giáo đă đầu tiên và liên tục đạp lên trên luật lệ treo cờ của Chính phủ đến nỗi sau vụ cờ Phật giáo tại Huế, ngày 15 tháng 5 năm 1963, Giám mục Nguyễn Văn B́nh đă phải ra thông báo nhắc nhở giáo dân: “Cờ của Ṭa Thánh Vatican chỉ được treo trong nhà thờ hoặc những cơ sở của Hội Thánh”.

Người Công giáo trắng trợn vi phạm luật treo cờ th́ anh em ông Diệm chẳng những không bao giờ đả động đến mà c̣n lấy làm sung sướng v́ sự ưu thế có tính cách h́nh thức đó, thế mà năm 1963, Phật tử treo cờ nhân ngày Phật Đản th́ Ngô Đ́nh Thục tức giận đặt vấn đề thể lệ treo cờ.

Sau khi nghe ông anh Tổng Giám mục phiền trách việc Phật kỳ tung bay khắp nơi, ông Diệm nổi nóng gọi ngay Đổng lư Văn pḥng là ông Quách Ṭng Đức (hiện ở Pháp), bảo đánh điện cho Ṭa Đại biểu Chính phủ tại Huế và khắp các tỉnh ra lệnh phải hạ cờ Phật giáo. Một lần nữa, quyết định này cho ta thấy anh em nhà Ngô rơ ràng thiếu ư thức chính trị v́ đă không đánh giá được bản chất và hệ quả của một quyết định liên hệ đến một vấn đề nhân văn rất tế nhị, nhất là tại một địa phương như Thừa Thiên. Họ lại chẳng nắm vững được giá trị của quyết định này trên cả hai mặt hành chánh pháp lư và thực trạng xă hội.

Hai mươi bốn tiếng đồng hồ sau đó, ngày 7 tháng 5, trong lúc dân chúng Huế và Thừa Thiên sửa soạn làm lễ Phật Đản th́ cảnh sát đến tận nhà buộc dân chúng phải hạ cờ Phật giáo. Trước biện pháp bất công và bất minh đó của chính quyền, vài ngàn Phật tử bèn tự động tổ chức kéo tới Ṭa Tỉnh trưởng Thừa Thiên và yêu cầu Tỉnh trưởng Nguyễn Văn Đẳng can thiệp để Phật kỳ khỏi bị hạ. Tỉnh trưởng giải thích “đă có sự hiểu lầm lệnh của cấp trên”, rồi ra lệnh cho treo Phật kỳ trở lại nên dân chúng tự động giải tán ra về. Sở dĩ có biện pháp đó là nhờ Tỉnh trưởng Nguyễn Văn Đẳng đă gặp ông Ngô Đ́nh Cẩn và được ông Cẩn cho lệnh “Phật tử đă lỡ treo cờ rồi th́ cứ để cho họ treo”.

Vấn đề đặt ra là tại sao một người đă làm đến Tổng Giám mục như ông Ngô Đ́nh Thục, tại sao một người đă làm đến Thượng Thư Bộ Lại rồi làm đến Tổng thống như ông Ngô Đ́nh Diệm mà lại sai lầm một cách ấu trĩ nhưng lại trầm trọng như thế? Câu trả lời dĩ nhiên nằm trong cái liên hệ sống chết và cốt tủy quá chặt chẽ giữa ḍng họ Ngô Đ́nh với Hội Truyền Giáo Hải Ngoại Pháp, v́ anh em nhà Ngô được đào tạo và nuôi dưỡng bởi một giáo hội có quá nhiều cấp lănh đạo chỉ thấy cái Ta là đúng, ngoài Ta ra tất cả đều sai lầm. Sử liệu đă cho thấy vô số sự kiện nói về bệnh chấp ngă của Ṭa Thánh La Mă. Ở đây, ta hăy nghe một lời dẫn chứng của học giả Merle Sever trong bài The World of Luther:

Ṭa Thánh La Mă đ̣i hỏi một sự phục tùng bất khả tư nghị. “Tôi sẽ phải tin rằng vật màu trắng mà tôi thấy là màu đen, nếu giáo hội quyết định đó là màu đen”. Ông Ignatius Loyola, sáng lập ḍng Jesuite đă nói như thế. Giáo Hoàng Paul IV cũng xác định rằng: “Ngay nếu cả cha ruột tôi là người phản đạo, tôi cũng sẽ đi lượm củi để đốt ông ta [1].

Và đặc biệt trong tương quan thế quyền và giáo quyền, để chính xác áp dụng cho trường hợp của anh em ông Diệm, ta hăy nghe giáo sư Malachi Martin, một vị tu xuất ḍng Jésuite, viết về niềm tin giáo điều sắt đá của Giáo Hoàng Léo III:

Xác định một cách công khai rằng tất cả các quyền lực chính trị trên thế gian này đều do Chúa ban cho; và chỉ được ban cho cá nhân nào hay chính phủ nào qua trung gian của vị đại diện Đức Chúa Trời, vốn là vị Hồng Y La Mă, mà cũng là kẻ kế vị Thánh Phêrô” [2].

Cho nên mù quáng trước điều mà họ cho là chân lư bất di bất dịch đó, rồi lại riêng cá nhân ông Thục mang tham vọng trở thành Hồng Y, anh em ông Diệm chỉ thấy việc Phật giáo treo cờ không đúng với thể lệ của nhà nước là một hành động thách thức chân lư đó, mà không cần biết đến chính tôn giáo của ḿnh và chính Tổng Giám mục Ngô Đ́nh Thục đă vi phạm trắng trợn luật treo cờ từ chín năm nay rồi.

Ngày 8 tháng 5, các chùa tại Huế cử hành lễ Phật Đản và rước Phật trọng thể từ chùa Từ Đàm qua chùa Diệu Đế. Sau lễ Phật, trong bài thuyết pháp, Thượng tọa Trí Quang đề cập đến chủ trương kỳ thị của chính quyền nhằm đàn áp Phật giáo từ 9 năm qua, nay lại ra lệnh cấm treo cờ tôn giáo, rơ ràng nhắm riêng vào Phật giáo. Thượng tọa Trí Quang cũng có nhắc đến cờ Công giáo Vatican treo khắp đường phố vào các dịp lễ sao không cấm, mà lại cấm đúng vào ngày Phật Đản. Nhiều đoàn thể Phật tử yêu cầu chính quyền cho phát thanh lại bài thuyết pháp của Thượng tọa Trí Quang, nhưng Giám đốc Đài phát thanh Huế là ông Ngô Ganh, một Công giáo Cần Lao, không chịu nên vài ngàn Phật tử kéo đến đài để trực tiếp yêu cầu. Phó tỉnh trưởng Nội An là Thiếu tá Đặng Sĩ, một Cần Lao Công giáo khác, cũng huy động lính Bảo An và cả thiết giáp tới để thị uy. Không ngờ trong lúc Tỉnh trưởng Nguyễn Văn Đẳng, ông Ngô Ganh và Thượng tọa Trí Quang đang thảo luận để t́m một giải pháp dung ḥa th́ nhiều tiếng súng và một quả lựu đạn phát nổ làm cho 7 thường dân chết, 5 binh sĩ và một thường dân bị thương. Máu đă đổ, cuộc tranh đấu của Phật giáo Việt Nam bắt đầu, biến cố Phật giáo mùa Hè năm 1963 phát động từ đó.

Tôi cần phải nói rơ và nói lớn ở đây rằng cuộc đấu tranh của Phật giáo tuy phát động từ sự kiện cấm treo cờ nhưng nguyên ủy thật sự, động cơ sâu sắc của nó thật ra đă xuất hiện từ lâu, từ khi anh em ông Diệm tiến hành chính sách tiêu diệt các tôn giáo khác cho Công được ngôi vị độc tôn trong đời sống tâm linh và tín ngưỡng của người Việt. Động cơ đấu tranh đó là một động cơ có tính sống c̣n của Phật giáo, cho nên ở bước đường cùng, Phật tử đă không thể có một chọn lựa nào khác nếu không muốn bị tiêu diệt: Từ nhiều năm nay, Phật giáo đồ đă bị đàn áp, khủng bố khắp nơi, chúng tôi vẫn nhịn nhục đương nhiên không phải v́ hèn yếu mà v́ ư thức được những nỗi khổ đau, tang tóc của dân tộc ta hiện tại. Nhưng đau đớn thay, một số người đă lợi dụng quyền hành gây ra không biết bao nhiêu tang tóc đối với Tăng và Tín đồ Phật giáo khắp trong nước, đối xử một cách bất công với một tôn giáo có hàng ngh́n năm lịch sử của dân tộc [3]. Đó mới là nguyên ủy thật sự của cuộc đấu tranh, chứ lá cờ chỉ là giọt nước cuối cùng mà thôi. Chánh pháp như chiếc bè qua sông, qua rồi c̣n bỏ bè huống ǵ chỉ một lá cờ.

Sau vụ đàn áp Phật tử tại đài Phát thanh Huế, Tăng Ni, Phật tử họp tại Chùa Từ Đàm đưa ra năm nguyện vọng để xin Chính phủ giải quyết: 1/ Xin chính thức rút lại lệnh cấm treo cờ; 2/ Xin được tự do hành đạo như Công giáo; 3/ Xin băi bỏ dụ số 10 xem Phật giáo như một Hiệp hội; 4/ Xin chấm dứt các vụ khủng bố, đàn áp Phật giáo; 5/ Xin bồi thường cho các nạn nhân tại đài Phát thanh Huế và trừng trị kẻ đă gây ra đổ máu.

Nguyện vọng gởi đi đă 8 ngày mà Chính phủ vẫn không hồi âm, đă thế c̣n ra thông báo bảo rằng thủ phạm ném lựu đạn là một tên Việt Cộng dù không đưa ra được bằng chứng cụ thể nào. Năm nguyện vọng đơ rơ ràng chỉ nhắm vào một mục tiêu rất chính đáng và hợp pháp là công bằng xă hội (điều 2,4 và 5) bằng cách chấm dứt chủ trương đàn áp tôn giáo của thực dân Pháp để lại (điều 1 và 3). V́ chính đáng và hợp pháp nên Phật giáo đă công khai tuyên bố và cảnh cáo luôn những xuyên tạc hay chụp mũ có thể xảy ra: “Mục tiêu tranh đấu của Phật giáo đó chỉ nhắm vào lư tưởng tôn giáo b́nh đẳng trong khuôn khổ lư tưởng công bằng xă hội. V́ lẽ đó, chúng tôi từ chối mọi sự lợi dụng không phù hợp với tôn chỉ của chúng tôi, nhất là những người Cộng Sản và những kẻ mưu toan chức vị chánh quyền” [4].

Rất nhiều kư giả ngoại quốc đă điều tra về biến cố Phật giáo, ở đây ta hăy nghe lời tường tŕnh của kư giả David Halberstam:

Đầu tiên, lời tuyên bố của Chính phủ là một tên Việt Cộng đă ném vào đám đông một quả lựu đạn. Nhưng dần dần, luận điệu của Chính phủ bị mất giá trị v́ càng ngày càng có thêm nhiều chi tiết cho thấy sự thật. Một nhóm giáo sư người Đức dạy tại Đại học Huế đă chụp được h́nh ảnh chứng minh luận điệu của Chính phủ là sai. Đă thế, Chính phủ lại vội vă cho chôn xác các nạn nhân mà không để cho bác sĩ giảo nghiệm để, một lần nữa, đổ lỗi cho Việt Cộng.

Nhiều kư giả quốc tế khác như Bob Trumbell , Charle Mohr,... đều công nhận là lỗi tại Chính phủ. Charle Mohr của tờ Times viết rằng: “Cũng như mọi chuyện khác, ông Diệm có bao giờ chịu nhận ông ta sai lầm đâu, Chính phủ của ông ta cũng nghĩ rằng không bao giờ ông Diệm sai lầm, và tất cả đều nói láo làm cho đa số dân chúng càng thêm nổi giận”.

Sau vụ lựu đạn nổ ở Huế, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Bùi Văn Lương được ông Diệm phái đi quan sát t́nh h́nh. V́ sự thật đă được sáng tỏ cho nên một người Mỹ đi theo ông Lương cho rằng cách giải quyết thật là giản dị: chỉ cần bỏ ra năm trăm ngàn đồng bạc bồi thường cho các nạn nhân, và chỉ cần một lời tuyên bố của Chính phủ nhận lỗi do lực lượng an ninh gây ra. Ông Lương trả lời: “Tiền th́ dễ nhưng chúng tôi không thể đưa ra lời tuyên bố như vậy được. Chúng tôi không thể công nhận lỗi của Chính phủ [5].

Nh́n lại biến cố Phật giáo 1963, nếu lúc bấy giờ Chính phủ Diệm tuyên bố nhận lỗi, phạt Đặng Sĩ 40 ngày trọng cấm và sa thải khỏi quân đội, rồi an ủi và bồi thường các nạn nhân, băi bỏ ngay những quy chế bất công về điều lệ tôn giáo trong đạo dụ số 10 th́ chắc chắn biến cố Phật giáo đă ngưng ở đó.

Biến cố Phật giáo tại miền Nam làm tôi liên tưởng đến vụ Cải cách ruộng đất ở miền Bắc năm 1956. Vụ cải cách ruộng đất làm cho dân chúng căm phẫn chống đối chính quyền Hà Nội. Ông Hồ Chí Minh vội vă một mặt tuyên bố nhận lỗi với đồng bào và xin sửa sai, mặt khác tạm ngưng xúc tiến việc cải cách và hạ tầng công tác ngay lập tức ông Trường Chinh, người chịu trách nhiệm chương tŕnh, mặc dù ông Trường Chinh là ủy viên cao cấp của Chính trị Bộ Trung ương Đảng Cộng Sản.

Tuy những quyết định đó chỉ là thủ đoạn chính trị, nhưng thực tế chính trị sau đó cho thấy rằng, người dân miền Bắc thấy “Cụ Hồ” hạ ḿnh xin lỗi đồng bào và dám cất chức đồng chí “Bí thư Đảng” th́ ở một khía cạnh nào đó, họ không c̣n lư do và đối tượng để đấu tranh nữa. Riêng đối với quốc tế, công luận đă thấy ông Hồ Chí Minh biết phục thiện thương dân, biết tiến, biết thoái, có tài lănh đạo. Thật trái ngược hẳn với họ Ngô ở miền Nam trên mặt quyền biến v́ rơ ràng từ chín năm qua, họ Ngô đă tiến hành chính sách kỳ thị hà khắc, nay lại gây thêm tội ác mới, thế mà c̣n vụng về phi tang để đổ lỗi cho Việt Cộng.

Hai biến cố đó tuy bản chất khác nhau nhưng về cường độ th́ cũng trầm trọng như nhau. Cả hai đều đụng chạm đến quyền lợi thiết thân nhất của quần chúng: quyền tín ngưỡng của Phật tử ở miền  Nam và quyền sinh sống của nông dân miền Bắc. Nhưng nh́n cung cách và phương thức để đối phó th́ quả thật trên mặt khả năng quyền biến, ông Ngô Đ́nh Diệm chỉ đáng là học tṛ của ông Hồ Chí Minh dù cả hai đều độc tài, đều sắt máu, và đều muốn đàn áp những cuộc đấu tranh chính đáng của nhân dân.

Nhận thấy Tổng thống Diệm không có một chút thiện chí nào, Tăng tín đồ Phật giáo ngày 10 tháng 5 năm 1963 công bố bản Tuyên ngôn để minh định lập trường và xác định lại những nguyện vọng của ḿnh. Ngày 16 tháng 5, Phật giáo mở một cuộc họp báo tại chùa Xá Lợi có Bộ trưởng Công dân Vụ Ngô Trọng Hiếu tham dự, để tŕnh bày năm nguyện vọng và nói rơ thái độ của Tổng thống Diệm trong cuộc hội kiến hôm qua tại dinh Gia Long. Trong cuộc họp báo này, ông Ngô Trọng Hiểu chỉ lập đi lập lại một lối giải thích: Tổng thống Diệm chỉ muốn cho “Quốc kỳ được tôn trọng” mà không hề đề cập đến những nguyện vọng của Phật giáo.

Ngày 23 tháng 5, trước những xuyên tạc độc hại của bộ máy thông tin của chính quyền với luận điểu cho rằng cuộc đấu tranh của Phật giáo đồ là do Cộng Sản điều động và chỉ làm lợi cho Việt Cộng, Phật giáo cho phổ biến bản Tuyên ngôn thứ nh́ với một bản phụ đính xác định rất rơ ràng vị thế nạn nhân của Phật giáo trong những thủ đoạn tuyên truyền của Chính phủ:

Ngày trước, những người Cộng Sản lợi dụng danh nghĩa chống ngoại xâm để tiêu diệt các đảng phái quốc gia th́ ngày nay cũng có cái vẻ người Công giáo lợi dụng công việc chống Cộng Sản để đàn áp các tôn giáo khác, nhất là Phật giáo chúng tôi. Đó là nguy cơ cho quốc gia và làm chia rẽ tôn giáo... T́nh trạng lợi dụng danh nghĩa chống Cộng sản để phát triển Công giáo và lấn áp Phật giáo tạo ra t́nh trạng chia rẽ ngày càng trầm trọng th́ ngay bây giờ và mai hậu, chỉ người Cộng Sản có lợi mà thôi [6].

Ba tuần lễ trôi qua, Chính phủ vẫn quyết liệt giữ lập trường cũ và ra thông tư xác nhận quan điểm về vấn đề tôn giáo là “không kỳ thị, tôn trọng tự do tín ngưỡng, chỉ quy định việc treo cờ v́ tôn trọng quốc kỳ”, thông tư cũng không hề đá động đến năm nguyện vọng chính đáng và khiêm tốn của Phật giáo. Trong lúc đó th́ ngày 29 tháng 5, lực lượng an ninh vẫn siết chặt ṿng đai ở chùa Từ Đàm, nơi mà sinh viên và Phật tử thường tụ họp đông đảo để ủng hộ cho những đ̣i hỏi của Phật giáo, đồng thời chính quyền cho cắt điện và nước ở ngôi chùa này.

Trước thái độ ngoan cố của Chính phủ, ngày 30 tháng 5, Phật giáo tổ chức lễ cầu siêu cho các nạn nhân tại chùa Xá Lợi và chùa Ấn Quang, các Tăng Ni và Phật tử tuyệt thực 48 giờ, đồng thời 300 tăng ni biểu t́nh trước Quốc hội với những khẩu hiệu yêu cầu Chính phủ thỏa măn năm nguyện vọng của Phật giáo.

Thấy t́nh h́nh bắt đầu căng thẳng, ngày 1 tháng 6, Chính phủ Diệm thay Đại biểu Trung phần Hồ Đắc Khương, Tỉnh trưởng Thừa Thiên Nguyễn Văn Đẳng, là những người mà Chính phủ cho là nhu nhược, bằng các ông Nguyễn Xuân Khương (nguyên Tổng giám đốc Điền Địa) và Thiếu tá Nguyễn Mâu (Cần Lao Công giáo) để hai nhân vật này hành động quyết liệt hơn trong việc đàn áp Phật giáo. Chính phủ cũng triệu hồi Thiếu tá Đặng Sĩ về Bộ Nội vụ “để chờ lệnh”.

Trước t́nh h́nh nghiêm trọng đó, Bác sĩ Trần Kim Tuyến, dù lúc này đă bị thất sủng không c̣n quyền hành ảnh hưởng ǵ nữa, nhưng phần v́ ông quen biết nhiều trong giới Phật giáo như Thượng tọa Tâm Châu, các cư sĩ Phật giáo người Bắc di cư, cụ Mai Thọ Truyền (vốn là chuyên viên Phủ Tổng thống), phần v́ muốn ḥa giải thật sự giữa Chính phủ và Phật giáo, nên ông đưa ra sáng kiến thành lập một ủy ban cao cấp của hai bên để thảo luận hầu giải quyết mọi vấn đề. Do đó, bên Chính phủ thành lập ủy ban Liên Bộ, và bên Phật giáo h́nh thành ủy ban Liên Phái, có tư cách đại diện chính thức và thẩm quyền thương nghị. Ủy ban Liên Bộ có Phó Tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ và các ông Bộ trưởng Bộ Nội vụ Bùi Văn Lương, Bộ trưởng Quốc pḥng Nguyễn Đ́nh Thuần. C̣n ủy ban Liên Phái do Thượng tọa Tâm Châu cầm đầu với các Thượng tọa Thiện Hoa, Thiện Minh, Huyền Quang và Đại Đức Thích Đức Nghiệp. (Sáng kiến của Bác sĩ Tuyến được Bộ trưởng Nguyễn Đ́nh Thuần tŕnh cho hai ông Diệm-Nhu).

Trong khi hai ủy ban đang tiến hành những buổi họp th́ lực lượng an ninh vẫn bao vây chùa chiền và gia tăng các biện pháp cắt điện, cắt nước tại các chùa lớn ở Huế và Đà Nẵng. Riêng tại chùa Tỉnh Hội Nhà Trang, cảnh sát và công an c̣n chăng kẽm gai chận đường các Phật tử vào chùa và cản trở việc đi lại của các Tăng Ni từ Sài G̣n về các tỉnh và ngược lại. Cho đến ngày 7 tháng 6, Ủy ban Liên Bộ mới công nhận sự kiện thiếu nghiêm chỉnh đó và gởi văn thư trả lời cho Ủy ban Liên Phái là đă cho cấp lại điện nước và quân đội không chận đường vào chùa nữa. Tất cả những văn thư của hai ủy ban đều có đăng tải trên báo Việt ngữ tại Sài G̣n. Nhưng dù có văn thư chính thức của Ủy ban Liên Bộ, những hành động chống phá Phật giáo vẫn tiếp tục xảy ra tại các địa phương và ngay giữa thủ đô Sài G̣n. Độc hại hơn nữa, chính quyền đă cho một số công an và cảnh sát cạo đầu, giả vờ mặc áo nâu hay áo lam của tăng sĩ để ra chợ chọc gái, ăn thịt, uống rượu, mua hàng không chịu trả tiền,... nhằm mục đích bôi lọ các nhà sư và xuyên tạc cuộc đấu tranh của Phật giáo.

Để đối phó với thái độ phá hoại đó của chính quyền, Phật giáo đành phải lấy những hành động hy sinh quyết liệt hơn mong cảnh tỉnh và khai thông đầu óc giáo điều của cấp lănh đạo Chính phủ. Trong một ngôi chùa vắng lặng giữa Sài G̣n sôi động, một vị sư già đă lấy một quyết định làm chuyển đổi cả một chế độ với lời nguyện tâm huyết sau đây:

Tôi, pháp danh Thích Quảng Đức, Trụ tŕ chùa Quan Âm Phú Nhuận, Gia Định.

Nhận thấy Phật giáo nước nhà đang lúc nghiêng ngửa, tôi là một tu sĩ mệnh danh là trưởng tử của Như Lai không lẽ cứ ngồi điềm nhiên tọa thị để cho Phật giáo tiêu vong, nên tôi vui ḷng phát nguyên thiêu thân giả tạm này cúng dường chư Phật để hồi hướng công đức bảo tồn Phật giáo.

Mong ơn mười phương chư Phật, chư Đại Đức Tăng Ni chứng minh cho tôi đạt thành ư nguyện sau đây:

1. Mong ơn Phật tổ gia hộ cho Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm sáng suốt chấp nhận năm nguyện vọng tối thiểu của Phật giáo Việt Nam ghi trong bản tuyên ngôn.

2. Nhờ ơn Phật từ bi gia hộ cho Phật giáo Việt Nam được trường tồn bất diệt.

3. Mong nhờ hồng ân đức Phật gia hộ cho chư Đại Đức, Tăng Ni Phật tử Việt Nam tránh khỏi nạn khủng bố bắt bớ giam cầm của kẻ ác gian.

4. Cầu nguyện cho đất nước thanh b́nh quốc dân an lạc.

Trước khi nhắm mắt về cảnh Phật, tôi trân trọng kính gởi lời cho Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm nên lấy ḷng bác ái từ bi đối với quốc dân và thi hành chính sách b́nh đẳng tôn giáo để giữ vững nước nhà muôn thủa.

Tôi tha thiết kêu gọi chư Đại Đức Tăng Ni Phật tử nên đoàn kết nhất trí để bảo toàn Phật pháp.

Thích Quảng Đức

(Trích từ Tạp chí Chấn Hưng, số tháng 11 năm 1987 - Los Angeles)

Thế rồi ngày 11 tháng 6 năm 1963, trước vài trăm tăng ni tụ họp tại ngă tư Lê Văn Duyệt và Phan Đ́nh Phùng, Sài G̣n, Ḥa thượng Thích Quảng Đức đă tự thiêu, hy sinh nhục thể để hiến ḿnh cho chánh pháp. Người ta thấy Ḥa thượng từ trong một chiếc xe bước ra và từ từ tiến tới đám đất trống quỳ xuống, hai tay chắp trước ngực, miệng khoan thai tụng niệm. Một nhà sư trẻ khác xách một thùng xăng tưới vào thân thể Ngài. Ḥa thượng châm lửa đốt. Lửa đỏ bốc lên cao nhưng Ḥa thượng vẫn ngồi trong tư thế kiết già cho đến khi ngọn lửa bao trùm lấy thân thể, Ngài mới té nghiêng mà hai tay vẫn chắp vào nhau trong sự biểu hiện của Từ Bi, Trí Tuệ và Đại Hùng. Sự hy sinh cao cả của Ḥa thượng Thích Quảng Đức, sự hy sinh mà suốt chiều dài lịch sử hai ngàn năm của Phật giáo lần đầu tiên mới xảy ra đă làm chấn động tâm thức của dân tộc.

Lửa! Lửa cháy ngất ṭa sen!

Tám chín phương nhục thể trần tâm hiện thành thơ quỳ cả xuống

Hai vầng sáng rưng rưng

Đông Tây nḥa lệ ngọc

Chắp tay đón một Mặt Trời Mới Mọc

Ánh đạo vàng phơi phới đang bừng lên, dâng lên.

...

Thương chúng sinh trầm luân bể khổ

Người về phăng đêm tối đất dày

Bước ra ngồi nhập định hướng về Tây

Gọi hết lửa vào xương da bỏ ngỏ

Phật pháp chẳng rời tay...

(Trích từ Lửa Từ Bi của Thi hào Vũ Hoàng Chương,

sáng tác để tưởng niệm Ḥa thượng Thích Quảng Đức)

Cuộc tự thiêu lịch sử của Ḥa thượng Thích Quảng Đức đă được nhiều kư giả tên tuổi Hoa Kỳ chứng kiến tại chỗ và đă tường thuật trung thực như David Halberstam, Neil Sheehan, nhiếp ảnh gia Malcolm Brown... Kư giả Neil Sheehan, tác giả “The Pentagon Papers”, đă phát hành cuốn “A Bright Shining Lie” vào năm 1988, viết như sau: (tr. 334):

“... Tôi trở lại Việt Nam đúng lúc để được thấy chế độ đang khiêu khích sự chống đối trong các thành phố và tỉnh lỵ, bằng cách cũng ngược đăi và ngạo mạn như đă gây phẫn nộ ở thôn quê. Ngày 8 tháng 5 năm 1963, ḍng họ Ngô Đ́nh đă phát động phong trào khủng bố Phật giáo. Một toán Bảo An do một sĩ quan Công giáo điều động đă giết chết 9 người trong số đó có vài trẻ em, gây thương tích cho 14 người khác trong một đám đông ở Cố đô Huế. Đám đông đó đang phản đối sắc lệnh cấm treo cờ ngày lễ Phật Đản năm thứ 2587. Ông Diệm ban hành sắc lệnh theo sự xúi dục của người anh cả là ông Thục, Tổng Giám mục ở Huế và là người lănh đạo hàng giáo phẩm Công giáo ở Nam Việt Nam năm 1963. Khi ông Thục ăn mừng 25 năm được lên làm Giám mục trước đó vài tuần, dân Công giáo treo cờ Vatican khắp thành phố Huế, nơi ḍng họ Ngô Đ́nh cư ngụ. Sau vụ giết người, ông Diệm và gia đ́nh đă lộ rơ chân tướng. Họ không muốn làm nguôi ḷng các nhà lănh đạo Phật giáo. Những vị sư này đă bị đố kỵ trong 9 năm v́ kỳ thị tôn giáo. Thay v́ thay đổi, họ lại ra tay tiêu diệt những nhà lănh đạo Phật giáo như họ đă từng tiêu diệt giáo phái Cao Đài, Ḥa Hảo và quân phiến loạn B́nh Xuyên năm 1955.

Những vị sư đă chống lại bằng phương thức của người Việt Nam. Buổi sáng ngày 11 tháng 6 năm 1963, một nhà sư già 73 tuổi tên là Thích Quảng Đức đă ngồi gần một ngă tư đường Sài G̣n, cách tư dinh của Đại sứ Mỹ Nolting có vài dăy phố. Nhà sư Quảng Đức ngồi theo thế kiết già, trong khi đó một vị sư khác, với cái b́nh 5 gallon bằng mủ, đổ xăng xuống chiếc đầu cạo trọc, xăng ướt đăm cả áo cà sa mầu vàng. Vị sư già cử động nhanh, tay đưa ra khỏi vạt áo để quẹt diêm, đốt sáng cơ thể thành một biểu tượng của phẫn nộ và hy sinh và đă nhóm mồi lửa uất hận trong các trung tâm đô thị của miền Nam Việt Nam”.

Những biến cố lịch sử trên đây đă được hàng triệu người dân Việt Nam chứng kiến cũng như rất đông người ngoại quốc và kư giả quốc tế có mặt tại chỗ lúc bấy giờ đă ghi nhận và tường thuật trên báo chí hay sách vở. Thế mà vẫn có những trí thức Công giáo đă không cảm thông, chia sẻ sự nhục nhằn và đau khổ của Phật giáo, lại đang tâm bóp méo sự thật lịch sử để chạy tội cho chế độ Ngô Đ́nh Diệm. Ông Cao Thế Dung (trong cuốn “Làm thế nào để giết một Tổng thống”), ông Nguyễn Trân (trong cuốn “Công và Tội”) đă ngụy tạo vụ ném lựu đạn làm chết người tại Huế là do hành động của một Đại úy nhân viên CIA. C̣n ông Nguyễn văn Chức trong cuốn “Việt Nam Chính Sử hay là những sai lầm và gian trá trong Việt Nam Máu lửa Quê Hương Tôi của Đỗ Mậu” đặt nghi vấn: không cho rằng Ḥa thượng Quảng Đức đă tự thiêu mà Ngài đă bị một người khác đốt, mặc dù Ḥa thượng Quảng Đức đă có lời di chúc trước khi tự thiêu, và mặc dù Ḥa thượng Tâm Châu đă có lời minh xác về hành động tự thiêu của Ḥa thượng Quảng Đức trên tạp chí Chấn Hưng số tháng 11 năm 1987.

Trong lịch sử cận đại của con người, chưa thấy cái chết nào oai linh và có ảnh hưởng sâu rộng như cái chết Quảng Đức. Ḥa thượng Quảng Đức chết đi để cho Bồ Tát Quảng Đức xuất hiện hầu khai sinh một sức mạnh đại hùng, đại lực mà lại đại từ, đại bi. Ư nghĩa Bồ Tát đích thực của sự hy hiến cao quư là Cho Vui và Cứu Khổ mà trước hết là cứu lấy chính những kẻ cầm quyền đang bị nghiệp chướng nghiệt ngă kềm tỏa trong những vọng động u mê. Mục đích Bồ Tát đích thực của cái chết lẫm liệt này là Giải thoát và Khai ngộ, mà trước hết là giải thoát chính chế độ Ngô Đ́nh Diệm khỏi những mê lầm mộng ảo về quyền lực và tính độc tôn.

Nhưng anh em Ngô Đ́nh Diệm và những kẻ chỉ biết dùng bạo lực để đối phó với t́nh thương đă không biết đến hoặc không thèm để ư đến ư nghĩa cao đẹp và mục tiêu vị tha đó, nên sự hy sinh cao quư của Ḥa thượng Thích Quảng Đức đă bị chính quyền Ngô Đ́nh Diệm đánh giá như một sự khiêu khích mà thôi.

Trên mặt quần chúng, ngọn lửa tự thiêu của Ḥa thượng Quảng Đức đă thúc đẩy thêm ngọn lửa chống đối chế độ Cần Lao Công giáo. Tổng thống Diệm vội vă gởi thông điệp kêu gọi dân chúng b́nh tĩnh, trong đó có câu: “Mọi sự khó khăn sẽ được giải quyết trên căn bản lương tri và ái quốc, trong t́nh đoàn kết huynh đệ... Không nên tin có âm mưu tŕ hoăn giải quyết các vấn đề, sau lưng Phật giáo trong nước hăy c̣n Hiến pháp, nghĩa là có tôi”.

Sau khi thông điệp của Tổng thống được công bố vào ngày 14 tháng 6 năm 1963, hai Ủy ban Liên Bộ và Liên Phái lại tái họp tại Hội trường Diên Hồng. Cùng ngày ấy, Hội đồng Tướng lănh ra thông cáo kêu gọi “đoàn kết, b́nh tĩnh, tránh sự hiểu lầm, đặt quyền lợi quốc gia trên hết, và mong các vấn đề được giải quyết trong t́nh huynh đệ”.

Ngày 16 tháng 6 năm 1963, để t́m hậu thuẫn của công luận khách quan trên thế giới và để bảo đảm thêm sự an toàn của cuộc đấu tranh, gần 200 tăng ni đă tập họp biểu t́nh trước Ṭa Đại sứ Hoa Kỳ để yêu cầu ủng hộ Phật giáo đạt được năm nguyện vọng. Đồng thời, độ ba ngàn đồng bào đến chùa Giác Minh để dự tang lễ Ḥa thượng Quảng Đức, nhưng đám tang đă phải dời lại v́ bị cảnh sát dă chiến dùng lựu đạn cay giải tán. Cuộc xô xát này gây cho cảnh sát bị thương 12 người và dân chúng bị bắt 251 người. Cũng cùng ngày, hai Ủy ban Liên Bộ và Liên Phái, sau ba ngày đêm thảo luận, đă h́nh thành được một bản Thông Cáo Chung xác định những điểm đă thỏa thuận về cách thức treo Quốc kỳ và Phật kỳ, xét lại dụ số 10 về quy chế tôn giáo, điều tra các vụ bắt bớ và khoan hồng với những người tranh đấu cho Phật giáo, dành mọi dễ dàng cho các hoạt động tôn giáo, trừng trị nhân viên có lỗi, bồi thường cho các nạn nhân. Bản thông cáo này có mang chữ kư và triện của Tổng thống Diệm.

Sau bản thông cáo chung đó, để chứng tỏ thiện chí ḥa hợp với Chính phủ, Ủy ban Liên Phái bèn quyết định hạn chế số người tham dự đám tang Ḥa thượng Quảng Đức lại chỉ c̣n 300 tăng ni và các nhà báo mà thôi để tránh sự tụ họp quá đông đảo của dân chúng, là cơ hội cho những phần tử phá hoại đặc công Việt Cộng lợi dụng xách động. Do đó, tang lễ của Ḥa Thượng Quảng Đức đă được cử hành một cách trang trọng trong trật tự, không có một đụng độ nào giữa nhân viên công lực và dân chúng. Sau khi nhục thể của Ḥa Thượng được hỏa thiêu tại ḷ An Dưỡng Địa Phú Lâm, xá lợi của Ngài được đựng trong b́nh mang về thờ ở Chùa Xá Lợi.

Rơ ràng là với sự h́nh thành của bản Thông Cáo Chung và h́nh thức trang nghiêm giản dị của tang lễ Ḥa thượng Quảng Đức, Phật giáo đồ đă xác định một thái độ chính trị, nếu gọi đó là chính trị, rất minh bạch và hợp lư là:

... dù đấu tranh với một chế độ độc tài, một chánh sách tiêu diệt Phật giáo như thế, Phật giáo, ngay từ đầu cho đến khi chấm dứt cuộc vận động, từ bản Tuyên Ngôn về năm nguyện vọng của Tăng tín đồ cho đến tất cả mọi tuyên bố và văn thư gởi cho chính quyền về sau, dù công khai hay bí mật, đều hoàn toàn không đặt vấn đề thay đổi chế độ, lật đổ chính quyền mà chỉ đặt vấn đề cải thiện chính sách. Không nhằm mục đích tranh thủ quyền hành mà chỉ nhắm đến mục tiêu tự do tín ngưỡng và công bằng xă hội, không muốn t́m kiếm những đặc quyền đặc lợi mà chỉ muốn được đối xử một cách b́nh đẳng theo một quy chế chung cho mọi tôn giáo chứ không riêng cho một tôn giáo nào. Nói cách khác, Phật giáo không chống lại những lư tưởng về Tự Do, Dân Chủ của một nền Cộng Ḥa chân chính mà ngược lại, chính v́ cái lư tưởng Tự Do, Dân Chủ đó mà chống lại cái thực tế bất công độc tài của một nền Cộng Ḥa giả mạo để cho lư tưởng Tự Do, Dân Chủ trở thành sự thật, và từ đó để cho công cuộc chống Cộng có ư nghĩa và có được cái sức mạnh cần thiết [7].

Với thiện chí của Uỷ Ban Liên Phái, nếu Chính phủ quả thật muốn giải quyết vấn đề Phật giáo theo tinh thần “huynh đệ” th́ chỉ cần Chính phủ thi hành ngay những điều khoản trong Thông Cáo Chung, những điều khoản đơn giản, hợp pháp, chính đáng, mà với tư cách một Tổng thống đă được Quốc hội ủy cho toàn quyền hành động, có thể giải quyết ngay vụ Phật giáo trong một ngày là xong. Khốn nỗi Thông Cáo Chung ra đời ngày 16 tháng 6 năm 1963 mà măi đến ngày 28 tháng 6 năm 1963, nghĩa là 12 ngày sau, Phó Tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ mới thông báo cho Ủy ban Liên Phái biết rằng: “Bộ Nội vụ sẽ ra Nghị định về việc treo cờ, Dụ số 10 sẽ được áp dụng “linh động”, một số sinh viên và Phật tử đă bị bắt sẽ được thả nhưng có một số sinh viên phải ra Ṭa, chỉ Bộ Nội vụ mới được quyền kiểm tra các chùa chiền, hồ sơ tạo măi sẽ được xét mau lẹ, việc bồi thường các nạn nhân phải đợi điều tra”.

Nội dung bức thư đă nói lên một cách dứt khoát thái độ Chính phủ không muốn thi hành bản thông cáo chung: tại sao dụ số 10 lại được áp dụng một cách “linh động”?, tại sao chưa chịu bồi thường cho các nạn nhân mà c̣n phải đợi điều tra?, tại sao không nói đến trường hợp của Thiếu tá Đặng Sĩ, người đă gây ra vụ đổ máu ở đài phát thanh Huế?, tại sao chính phủ chỉ lo thể lệ treo cờ, lo kiểm tra chùa chiền c̣n những nguyện vọng căn bản về hành đạo của Phật giáo lại không được thỏa măn? Trong lúc đó bà Ngô Đ́nh Nhu lập đi lập lại nhiều lần lời tuyên bố “vỗ tay hoan nghênh các vụ tự thiêu” mà bà ta gọi là những vụ “nướng thịt” (barbecue) và “nếu ai c̣n muốn tự thiêu mà thiếu dầu xăng th́ tôi sẽ cho”.

Sau văn thư của Phó Tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ lộ rơ âm mưu tŕ hoăn việc thi hành Thông Cáo Chung lại đến những thủ đoạn của chính quyền muốn tiêu diệt lực lượng Phật giáo Việt Nam mà lúc bấy giờ Uỷ Ban Liên Phái đang là đại diện. Một trong những thủ đoạn đó là xuyên tạc tính chất đại diện chính thức và chính đáng của Uỷ Ban Liên Phái. Ngày 20 tháng 6 năm 1963, nghĩa là mười ngày sau khi thông cáo chung ra đời, Chính phủ tập họp các tăng sĩ thuộc phái Cổ Sơn Môn tại Phú Thọ Ḥa, dưới quyền chủ tọa của Bộ trưởng Bộ Nội vụ Bùi Văn Lương, để lập kiến nghị ủng hộ Chính phủ và đặc biệt đánh điện qua Tích Lan yêu cầu Giáo Hội Phật Giáo Thế giới “can thiệp và ngăn cản” cuộc đấu tranh của Phật giáo Việt Nam. Đồng thời cũng được phối hợp trong ngày hôm đó, Ngô Đ́nh Nhu và Cao Xuân Vỹ huy động Thanh niên Cộng Ḥa tổ chức một cuộc biểu t́nh có cảnh sát hộ tống, yêu cầu Tổng thống Diệm duyệt lại bản Thông Cáo Chung. Ngày 26-6, Thượng tọa Thiện Minh gởi văn thư lên Chính phủ phản đối sự kiện “Bản Thông Cáo Chung không được thi hành và chính quyền đă có những hành động, những âm mưu không muốn thỏa hiệp. Tại miền Trung, các chính quyền địa phương vẫn tổ chức mít tinh lên án Phật giáo, vẫn cản trở việc đi lại của các Tăng Ni, vẫn phong tỏa chùa chiền”...

Trong lúc cuộc tranh chấp đang đi vào giai đoạn căng thẳng v́ thái độ ngoan cố của chánh quyền và nhất là v́ các thành phần khác của dân tộc ư thức được tính cách liên đới ruột thịt với Phật giáo đồ đang chống bạo quyền nên đă công khai và đông đảo ủng hộ, th́ ngày 5 tháng 7, Chính phủ Diệm lại phạm thêm một lỗi lầm chính trị khác bằng quyết định đem 19 quân nhân và 34 nhân sĩ của vụ “phản loạn Nhảy Dù 11-11-1960” ra xét xử tại Ṭa án Quân sự Đặc biệt Sài G̣n. Quyết định của anh em ông Diệm nhằm vào thời điểm đặc biệt đó phát xuất từ tính chủ quan mù quáng, tưởng có thể dùng vụ án như một h́nh thức cảnh cáo để hăm dọa trí thức, sinh viên và đảng phái đang mỗi ngày một đông đảo ủng hộ cuộc đấu tranh của Phật giáo. Từ đó, vấn đề đang được giới hạn trong một tôn giáo và những quy chế đặc thù có tính xă hội, bỗng trở thành một cuộc khủng hoảng có tính chính trị và liên hệ đến mọi thành phần khác của đại khối dân tộc.

Ngày 7 tháng 7, trong lúc dinh Gia Long đang hân hoan yến tiệc kỷ niệm lễ “Song Thất” th́ trong một căn pḥng cô đơn của Thủ đô Sài G̣n, văn hào Nhất Linh, nhà cách mạng Nguyễn Tường Tam, con người suốt đời hiến thân cho quê hương đất nước đó, uống độc dược để kết liễu đời ḿnh với lời di chúc sang sảng hào hùng như bản án kết tội phản quốc của chế độ Ngô Đ́nh Diệm:

Đời tôi để lịch sử xử. Tôi không chịu để ai xử cả. Sự việc đem các đảng phái quốc gia đối lập ra xét xử là một trọng tội đối với quốc gia, chỉ đưa đất nước rơi vào tay Cộng Sản. V́ thế tôi tự hủy ḿnh cũng như Ḥa Thượng Thích Quảng Đức đă tự thiêu là để cảnh cáo những ai chà đạp mọi thứ tự do.

Kư tên: Nhất Linh Nguyễn Tường Tam, ngày 7 tháng 7 năm 1963.

Cái chết bất khuất của văn hào Nhất Linh Nguyễn Tường Tam quả thật đă như một ngọn lửa oai hùng nung nấu tâm can nhân dân cả nước, đặc biệt là giới sinh viên trí thức trẻ, từ lâu đă xem ông như một khuôn mẫu của kẻ sĩ thời đại. Cái chết đó không khác ǵ hiệu lệnh cuối cùng trước lệnh xuất quân của quốc dân Việt, thế mà những con người mất hết lương tri của ḍng họ Ngô Đ́nh vẫn tiếp tục chính sách tiêu diệt Phật giáo không một phút hồi tâm. Những bước sa lầy, tội lỗi của chế độ lại tiếp tục.

Ngày 12 tháng 7, Đại tá Đỗ Cao Trí, em ruột của Dân biểu gia nô Đỗ Cao Minh, được thăng Thiếu tướng và được đặc cử giữ chức Tư lệnh quân đoàn I thay thế cho tướng Lê Văn Nghiêm bị nghi ngờ thân Phật giáo, để Trí thẳng tay đàn áp cuộc tranh đấu ở Huế và miền Trung.

Ngày 23 tháng 7, Trung tá Trần Thanh Chiêu, một Cần Lao Công giáo giám đốc Nha Dân Vệ, điều động 100 dân vệ và thương phế binh đến biểu t́nh trước chùa Xá Lợi chăng biểu ngữ đ̣i hỏi “đoàn kết để tránh mọi sự lợi dụng của Việt Cộng”.

Ngày 3 tháng 8, trong lời hiệu triệu Phụ nữ Bán Quân Sự, bà Ngô Đ́nh Nhu lên án những vụ tranh đấu tôn giáo và qua ngày 8-8, để gián tiếp trả lời câu khiển trách “thiếu lễ độ đối với Phật giáo” của thân phụ là Đại sứ Trần Văn Chương trên đài VOA ngày 6-8, bà Nhu nhận là có thiếu lễ độ nhưng cho đó là một thái độ cần thiết. Bà cũng cám ơn ông Đại sứ đă cho bà một dịp để bà bày tỏ ư kiến (!). Ngày hôm sau, 9-8, bà Nhu lại trả lời cuộc phỏng vấn của tờ New York Times bằng lập trường: “Quyết liệt đối phó với cuộc tranh đấu hiện nay của Phật giáo”.

Theo David Halberstam, sau khi thông cáo chung ra đời, trong một buổi ăn sáng tại dinh Gia Long, bà Nhu đă nặng lời trách móc ông Diệm: “Anh đă đánh tan B́nh Xuyên, đánh bại Ḥa Hảo, dẹp yên Nhảy Dù mà bây giờ anh lại chịu thua mấy tên nhà sư khốn nạn không có một tấc sắt trong tay. Anh là đồ hèn, anh là sứa”. Bị bà Nhu nặng lời chỉ trích, ông Diệm chỉ c̣n biết phân trần với em dâu: “Thím không hiểu rơ vấn đề, vụ Phật giáo c̣n liên hệ rắc rối với quốc tế, chúng ta sẽ giải quyết” [8].

Không riêng ở Sài G̣n ông Nhu đ̣i “duyệt lại bản thông cáo chung”, bà Nhu đ̣i “đối phó quyết liệt với vụ tranh đấu của Phật giáo” mà tại Huế, ông Ngô Đ́nh Thục cũng khinh thường cuộc đấu tranh của Phật giáo, coi quyết tâm vùng lên sau bao năm bị áp bức đó chỉ như “một ngọn lửa rơm, bừng lên rồi tắt, có chi mà sợ” (Theo Bên Ḍng Lịch Sử của Linh mục Cao Văn Luận).

Trước dă tâm của anh em nhà Ngô, và mặc dù lực lượng an ninh được tăng cường khắp nơi (riêng tại Sài G̣n, Chính phủ đưa về hai tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến và hai tiểu đoàn Nhảy Dù), phong trào đấu tranh càng trở nên kiên cường, toàn diện và mănh liệt hơn. Tại nhiều tỉnh, các Đại đức, Ni cô tiếp tục tự thiêu, các Phật tử tiếp tục biểu t́nh, tuyệt thực, các sinh viên y khoa, luật khoa, văn khoa, học sinh các trường Chu Văn An, Trương Vĩnh Kư, Gia Long, Trưng Vương,... băi khóa, xuống đường, hội thảo. Sư Bà Diệu Huệ, thân mẫu của Đại sứ Bửu Hội, cũng đ̣i tự thiêu và nữ sinh Mai Tuyết An, 18 tuổi ở Thị Nghè, sau khi đi Chùa về đă cầm dao chặt tay để phản đối lời tuyên bố của bà Nhu. Nhiều đảng viên của các đảng Đại Việt, Việt Quốc, Duy Dân ở Sài G̣n và các tỉnh đă tích cực hoạt động yểm trợ cho Phật giáo. Đặc biệt giới trí thức và nhân sĩ, dù âm thầm hay công khai, đều chống lại nhà Ngô mà điển h́nh là giáo sư Phạm Biểu Tâm, Khoa trưởng Đại học Y khoa, một nhân vật có uy tín lớn lao được giới tri thức và sinh viên rất trọng vọng (đă hai lần được ông Diệm mời làm Bộ trưởng mà vẫn từ chối) và một số giáo sư bị bắt. Linh mục Cao Văn Luận, Viện trưởng Viện Đại học Huế, v́ ủng hộ phong trào sinh viên tranh đấu nên cũng bị cất chức ngày 16 tháng 8 năm 1963.

Đến đây th́ cuộc tranh đấu đă thật sự có tầm vóc quốc gia. Những phẫn uất câm nín, những đày đoạ nhọc nhằn, những áp bức tàn bạo bị dồn nén từ chín năm nay trên mọi miền đất nước, trong mọi tấm ḷng của nhân dân, đă nổ bừng lên, kết hợp với pḥng trào đấu tranh của Phật tử để trực diện đối phó với một chính quyền lạnh lùng và hiểm độc. Những danh từ mỹ miều của ông Diệm như “lương tri”, “ái quốc”, như “giải quyết trong t́nh huynh đệ” đă bị chính ông và tập đoàn Cần Lao Công giáo do anh em ông lănh đạo chà đạp xuống đất. Dân chúng vốn đă không tin vào sự “thành tín” của ông, vốn đă kinh qua trăm đắng ngàn cay do chế độ ông tác hại, th́ giờ đây sự công phẫn tích tụ từ lâu chỉ có thể biểu hiện bằng một thái độ mà thôi: Những kẻ bị đàn áp cùng đứng chung một chiến tuyến để chống lại tập đoàn thống trị.

Ngay cả nhà tôi, dù suốt đời vẫn quen sống trong gia đ́nh, thủ phận nuôi chồng nuôi con, một năm chỉ lên chùa vào ngày Tết và Lễ Phật Đản, Lễ Vu Lan, và dù biết chồng là một cán bộ rường cột của Tổng thống Diệm, nhưng trước hành động hung hăn của nhóm Công giáo Cần Lao khi đối với các nhà tu hành cô thế, cũng đă bí mật gia nhập vào các hoạt động quần chúng để giúp các chùa trong cơn Pháp nạn tại Nha Trang, nơi nhà tôi và các con nhỏ đang cư ngụ lúc bấy giờ. Tại thành phố nhỏ này, từ ba tháng nay nhiều chùa đă bị canh pḥng theo dơi, riêng chùa Tỉnh Hội, ngôi chùa lớn nhất Khánh Ḥa bị cô lập, cúp điện, cúp nước và bị cắt đứt mọi nguồn tiếp tế của Phật tử. Nhiều Tăng Ni bị đánh đập, trói lại và giam tại quân lao, c̣n Thầy Trụ tŕ và Thầy hội trưởng Thích Đức Minh th́ bị tra khảo mang thương tích nặng nề. Do đó, một mặt nhà tôi bí mật liên lạc với các nhân sĩ có uy tín tại Nha Trang như gia đ́nh cụ Thượng  thư Trí sĩ Tôn Thất Toại, cụ Phủ Tâm, Huyện Tủng (thân sinh của lănh tụ sinh viên trường Luật Nguyễn Hữu Doăn), cụ Bùi Liên (thân phụ giáo sư Bùi Ái hiện ở Pháp), gia đ́nh cụ Vơ Đ́nh Dung, Vơ Đ́nh Thụy, gia đ́nh bác sĩ Trần Kiêm Phán (hiện ở Los Angeles) gia đ́nh ông Phó Tỉnh trưởng Lê Bá Chẩn (hiện ở Pháp), gia đ́nh giáo sư Ưng Trung... bí mật lập ủy ban cứu đói cho gần 300 Tăng Ni và Phật tử đang bị bao vây trong ngôi chùa Tỉnh Hội. Nhà tôi c̣n tác động tinh thần Đại úy Lê An có nhà ở cạnh chùa để dùng làm trạm liên lạc với chùa và để chứa thực phẩm hầu chuyển vào chùa trong đêm khuya. Mặt khác, cùng với một số đông đảo quân nhân Phật tử, nhà tôi tổ chức một cuộc “vượt ngục” cho các nhà sư đang bị giam ở quân lao, đưa Thầy Hội trưởng về nhà riêng ẩn trốn để Thầy tiếp tục lănh đạo cuộc đấu tranh cho đến ngày cách mạng 1 tháng 11 năm 1963 bùng nổ.

Tôi không trách nhà tôi đă bày tỏ lập trường ủng hộ cuộc đấu tranh của Phật giáo, v́ người đàn bà Việt Nam, nhất là con nhà gia giáo bảo thủ ai lại không động ḷng trắc ẩn từ tâm, huống chi động cơ của việc làm đó lại là v́ đạo nghĩa. Cái ǵ đă làm cho một người đàn bà từ 30 năm nay chỉ biết lo cho chồng con hạnh phúc, nhà cửa êm ấm, chưa hề tham dự một sinh hoạt tập thể công khai nào, bỗng vùng lên vào chốn nguy hiểm đấu tranh mà trong thâm tâm dù biết có thể gây lo buồn cho chồng con, có thể làm đổ vỡ sự nghiệp vững vàng của chồng trong chế độ Diệm (thay v́ khuyên chồng theo đạo Công giáo để được thăng quan tiến chức như một số bà vợ sĩ quan khác) ? Cái ǵ đă làm cho một người đàn bà sợ mưu kế, ghét thủ đoạn, dám dấn thân vào công tác bí mật tổ chức cho tội nhân của Chính phủ vượt ngục? Cái ǵ đó chắc chắn phát sinh từ sự mộc mạc và chân thành của một người đàn bà lấy đạo đức và chân chính làm khuôn thước đo lường nhân thế: Một người dân trong mười mấy triệu người dân của miền Nam sống dưới chế độ bạo quản của anh em ông Ngô Đ́nh Diệm lúc bấy giờ.

Trong lúc đó th́ bề ngoài tôi vẫn hành xử như một Giám đốc Nha An Ninh Quân đội của chế độ, nhưng bề trong th́ con người cán bộ tiền phong xa xưa của tổ chức Ngô Đ́nh Diệm bắt đầu chỗi dậy để t́m phương thế cứu lấy thầy ḿnh trong cơn hoạn nạn. Nếu con người của chế độ đă chán chường bất măn th́ con người cán bộ lại thao thức băn khoăn, v́ phương thế duy nhất mà tôi suy nghĩ phải đủ cứng rắn để tỉnh thức ông Diệm dù trong cái liên hệ thắm thiết giữa ông và tôi từ 20 năm qua có một điểm không tương đồng lớn nhất, đó là niềm tin tôn giáo.

Thật vậy, từ lâu, theo lời Trung tá Nguyễn Văn Châu ở cạnh nhà cho tôi biết th́ ông Diệm thường ḍ hỏi nếp sống trong gia đ́nh tôi, đặc biệt là việc thờ tự. Châu cho ông biết trong nhà tôi có bàn thờ Phật, bàn thờ ông bà rất tôn nghiêm, nhất là vào các dịp Tết nhất cúng kỵ rất trang trọng. Trong thư pḥng của tôi lại có tượng Đức Khổng Tử tỏ ra tôi là con người nặng ḷng với nền Tam Giáo. Ông Diệm đă biết thế mà nhiều đêm thầy tṛ đàm đạo, có lẽ v́ muốn thuyết phục tôi nên ông không ngại ngùng mỉa mai chỉ trích đạo Phật là thứ đạo mê tín dị đoan, c̣n các nhà sư th́ quê mùa dốt nát, chẳng qua v́ nghèo đói, không có nghề nghiệp sinh nhai nên mới phải nương thân nơi của chùa lo việc gánh nước quét lá để kiếm nắm xôi miếng oản, rồi lâu ngày thành ra sư nọ sư kia. Ông lại ca ngợi đạo Công Giáo là thứ đạo văn minh khoa học, thứ đạo quốc tế với bảy trăm triệu tín đồ trên khắp thế giới năm châu. Rồi ông khuyến dụ tôi nên theo đạo Công giáo. Nghe ông phê phán như vậy tôi chỉ cười thầm trong bụng, tôi biết ông cũng có đọc Nho, Lăo, Phật nhưng ông không thể hiểu cái tinh túy của Đạo Phật, cái triết lư cao thâm của Phật Giáo. Trái lại, trong cái hiểu biết của tôi th́ Kinh Thánh và tôn giáo của ông có nhiều điều vô lư, phản khoa học, phản con người, và lịch sử Giáo hội cũng như chính bản thân một số Giáo Hoàng đă gây nhiều tội ác đối với nhân loại. Đặc biệt nhất là tôi chưa cảm nhận được t́nh tự dân tộc, bản chất Việt Nam trong Thiên Chúa giáo như trong đạo Phật, tuy nhiên, v́ nặng nghĩa thầy tṛ nên tôi không muốn tranh căi với ông. V́ vậy, mỗi lần ông đưa lời khuyến dụ tôi cải đạo, tôi chỉ dùng lời khôn khéo để chối từ: “Thưa Cụ, tôi c̣n có người anh quyền huynh thế phụ đă trên 60 tuổi, anh tôi hết sức bảo thủ, lại đang là khuôn trưởng khuôn A-Dục Phật giáo tại Nha Trang và là hội viên ban quản trị Hội Khổng học Khánh Ḥa, vậy xin Cụ đợi khi nào anh tôi qua đời tôi sẽ xét lại vấn đề niềm tin rất quan trọng này”. Tôi chỉ nói đăi đưa cho qua câu chuyện, cho ông Diệm khỏi buồn ḷng, chứ con người của tôi vốn từ bùn lầy nước đọng của quê hương nghèo nàn khốn khổ mà xuất thân sau khi đă nổi trôi bao cuộc bể dâu th́ dù sao cũng có thể gọi là đă trải mùi nhân thế, làm sao tôi lại có thể dễ dàng bỏ đạo của dân tộc, của cha ông như một số Bộ trưởng, tướng tá khác. Huống chi thứ nhất là tôi không t́m thấy ở một đạo nào khác nhân bản và dân tộc bằng đạo Phật, thứ hai là tôi không v́ lợi danh mà dẹp bỏ “hồn nước với lễ gia tiên” dù tôi là kẻ ít học nhưng cha chú tôi đều là những người theo đ̣i nghiên bút, học đạo Thánh hiền, nhạc gia tôi đă từng cởi áo từ quan, tiền nhân nhà tôi đă có nhiều người tham gia phong trào Cần Vương, phong trào “B́nh Tây Sát Tả”. Huống ǵ tôi v́ đi lính Khố Xanh cho Pháp mà cảm nhận được cái nhục chung của dân tộc nên đă công phẫn chống Pháp, làm tiểu đoàn trưởng cho Việt Minh rồi lại phản tỉnh chống Việt Minh, làm sĩ quan dưới quyền tướng Hinh mà dám công khai chống lại tướng Hinh, làm cán bộ dưới chế độ mà dám coi thường Cố vấn Ngô Đ́nh Nhu, Ngô Đ́nh Cẩn, nghĩa là luôn luôn ở vào cái thế bị đấu tranh để giữ lấy hương sen trong bùn hôi, nay há lại bôi đen ḷng ḿnh, bỏ nền phong hóa đạo lư của cha ông để theo một tôn giáo mà ḿnh không thể chấp nhận được cả về khía cạnh tín ngưỡng lẫn khía cạnh lịch sử đối với dân tộc.

V́ ông Diệm đă biết rơ cuộc đời của tôi, chí hướng tôi, gia cảnh tôi, nhất là lập trường tôn giáo của tôi nên tôi càng phân vân khó xử trước hoàn cảnh đất nước lúc bất giờ, lúc mà anh em ông ta đang vận dụng toàn bộ sức mạnh của chế độ để đàn áp Phật giáo. Tôi đoán ông đang thắc mắc về tôi, đang ngờ vực ḷng dạ của tôi, v́ từ ngày xảy ra biến cố Phật giáo, ông ít gọi tôi vào Dinh như chỉ cách đó mấy tháng. Những lúc có công việc khẩn cấp cần phải gặp, tôi thấy ông không c̣n có thái độ mặn mà t́nh nghĩa như trước. Trong lúc đó th́ những người bạn chí thân của tôi mà cũng là cán bộ của ông Diệm như ông Nguyễn Đôn Duyến (làm ở Bộ Ngoại Giao), như ông Vơ Như Nguyện (Giáo sư Hán Học ở Huế), đều đă bày tỏ quyết liệt lập trường thân Phật giáo chống lại chế độ. Ông Vơ Như Nguyện sau khi mất chức Tỉnh trưởng tỉnh B́nh Định, thấy ông Ngô Đ́nh Cẩn và nhóm Công giáo Cần Lao mỗi ngày mỗi lộng hành tàn bạo, bèn đem cả nhà lên chùa qui y (xem thư ông Nguyện gởi cho ông Hoàng Đồng Tiếu trong phần Phụ lục). Trong cuộc đấu tranh của Phật giáo, ông Nguyện cùng với các giáo sư đại học Huế kư tuyên ngôn kết tội nhà Ngô nên đă bị bắt giam.

Trước hoàn cảnh khó xử đó, và trong khi t́m phương cách giải quyết được cuộc khủng hoảng, tôi giữ thái độ trung lập, không theo chế độ để phản lại niềm tin nhân bản của ḿnh, mà cũng không theo Phật giáo để phản lại vị thầy cũ. Hơn nưa, dù ông Diệm có nghi ngờ tôi nhưng ông vẫn chưa đối xử với tôi một cách cạn tàu ráo máng như đă đối với tướng Lê Văn Nghiêm, một người bạn thân của tôi. Trái với thái độ đó của ông Diệm, ông Nhu cứ muốn đẩy tôi vào chân tường, dùng độc kế ly gián để cho Phật giáo và đồng bào hiểu lầm tôi.

Lần thứ nhất, ông Nhu điện thoại ra lệnh cho tôi bảo dùng máy viễn liên gọi thẳng tướng Lê Văn Nghiêm, Tư lệnh Quân Đoàn I, về Sài G̣n tŕnh diện ngay Tổng thống. Về Sài G̣n, Tổng thống ra lệnh cho ông Nghiêm phải tức khắc giao chức Tư lệnh Quân đoàn cho tướng Đỗ Cao Trí. Tướng Nghiêm bất măn bèn đến gặp tôi và tức giận hỏi tôi đă báo cáo những ǵ làm cho ông ta bị mất chức một cách vô lư, nhục nhă như vậy. Lúc đó tôi mới hiểu v́ sao ông Nhu không gọi thẳng tướng Nghiêm mà lại ra lệnh cho tôi gọi. Tôi đă hết sức phân trần nhưng có lẽ đă không giải tỏa được thắc mắc của Tướng Nghiêm, cái thắc mắc v́ sao Phủ Tổng thống không gọi thẳng cho ông ta, một Thiếu tướng hai sao, vào tŕnh diện mà lại phải qua Giám đốc An Ninh Quân Đội, một Đại tá.

Lần thứ nh́, cũng bằng điện thoại, ông Nhu ra lệnh thẳng cho tôi phải bắt giam giáo sư Trần Quang Thuận (hiện ở Los Angeles), một trí thức Phật giáo nổi tiếng chống đối chế độ. Làm như vậy, ngoài việc ông Nhu muốn ly gián tôi với hàng ngũ Phật tử và thành phần trí thức, ông c̣n muốn ném đá dấu tay v́ Trần Quang Thuận thuộc con nhà ḍng dơi cụ Thân Thần, vốn là bạn thân của cụ Ngô Đ́nh Khả, Thuận lại là cháu rể của ông Tôn Thất Thiết đang giữ chức Giám đốc Sở Nội Dịch Phủ Tổng thống. Lần này, biết được thủ đoạn của Ngô Đ́nh Nhu và v́ muốn giữ thái độ trung lập, tôi cho mời Trần Quang Thuận đến văn pḥng và cho biết tôi được lệnh của ông Cố vấn bắt giam ông ta. Tuy nhiên, tôi chỉ khuyên ông nên hoạt động kín đáo hơn, nhất là bớt những luận điệu chống đối nhà Ngô đi, rồi để cho ông về ngay mà không giam giữ một giờ phút nào.

Lần thứ ba, qua tướng Trần Thiện Khiêm, Tham mưu trưởng Bộ Tổng tham mưu, ông Nhu trao cho tôi một danh sách gồm độ vài mươi nhân vật trí thức tại Sài G̣n, ra lệnh phải bắt giữ và điều tra v́ họ có tội hoạt động chống Chính phủ. Một lần nữa, tôi biết ông Ngô Đ́nh Nhu muốn tôi nhúng tay vào tội ác qua việc bắt giữ những nhân vật dân sự không thuộc thẩm quyền của tôi. Dù vậy, v́ hệ thống chính quyền của ông Nhu c̣n chặt chẽ nên tôi vẫn phải thi hành lệnh của ông Cố Vấn Tổng thống quyền uy tột đỉnh đang điều khiển mặt trận tiêu diệt Phật giáo.

V́ số người định bắt giữ quá đông, tôi chia ra làm nhiều đợt và bắt giữ nhiều nơi. Đối với số nam nữ giáo sư của trường Chu Văn An, Petrus Kư, Trưng Vương, Gia Long, Vơ Trường Toản... và một số luật sư, bác sĩ, đích thân tôi mời họ lần lượt đến văn pḥng và cho họ biết do lệnh của ông Cố Vấn tôi phải bắt giữ họ. Nhưng tôi tha họ về ngay sau khi nói cho họ biết nếu hoạt động không kín đáo th́ công an của Dương Văn Hiếu hay Lực lượng Đặc biệt của Lê Quang Tung sẽ bắt lại và trong trường hợp đó, hậu quả sẽ tàn khốc vô cùng.

Nhưng với luật sư Đinh Thạch Bích (hiện nay là chủ biên báo Việt Nam Hải Ngoại ở San Diego) th́ tôi tỏ ra khắt khe hơn v́ nhân viên của tôi đă t́m được tại nhà anh một số vũ khí bất hợp pháp. Tôi dọa Đinh Thạch Bích sẽ đưa anh ra Ṭa v́ số vũ khí đó là tang chứng cho một âm mưu nổi loạn có vơ trang. Nhưng người trí thức trẻ tuổi đă dành cho tôi một sự kinh ngạc mà suốt mấy năm làm trong cơ quan an ninh của chế độ Ngô Đ́nh Diệm lần đầu tiên mới gặp. Bích đă không tỏ vẻ sợ sệt, lại c̣n nặng lời đả kích chế độ Diệm. Bằng một chuỗi dài những từ ngữ đanh thép như “gia đ́nh trị, độc tài, phong kiến, bất lực, kỳ thị, tham nhũng,...”, Bích buộc tội nhà Ngô để biện minh cho hành động cất giữ số vũ khí bất hợp pháp. Nh́n bộ mặt cứng rắn cương quyết, có vẻ quân nhân hơn là văn nhân, tôi khen thầm Bích gan dạ, chẳng trách từ nhỏ đă theo anh hùng Tŕnh Minh Thế làm cách mạng chống cả thực dân Pháp lẫn Cộng Sản Việt. Tôi đang miên man suy nghĩ th́ Bích lại t́m cách tuyên truyền tôi để kết luận: “Số vơ khí đó là để dùng vào việc lật đổ nhà Ngô, tôi xin mời Đại tá tham dự vào cuộc đảo chánh của anh em chúng tôi”. Đến đây th́ từ kinh ngạc tôi trở thành có cảm t́nh với người thanh niên trí thức dám “vuốt râu hùm”. Cảm t́nh đó đă làm tôi khó xử: tha anh về lỡ ông Nhu biết được th́ nguy, mà giam giữ rồi nếu anh bị hăm hại hay bị truy tố ra Ṭa th́ tôi sẽ làm hại một người chiến sĩ dân tộc. Nghĩ vậy nên tôi t́m kế hoăn binh để t́m một giải đáp thỏa đáng cho trường hợp của Đinh Thạch Bích. Tôi cho giải Bích trở về pḥng giam và ra lệnh cho nhân viên thuộc quyền đối đăi thật tử tế và cung cấp thực phẩm thật đàng hoàng. Trong khi đó, tôi cho niêm phong số vũ khí lại, không cho công an t́m biết rồi tùy biến chuyển của thời cuộc mà quyết định trường hợp của anh sau. Nhưng t́nh thế biến chuyển quá dồn dập và tôi không c̣n nhớ Bích được trả tự do vào lúc nào, rồi bị công an bắt lại vào khi nào.

Ngoài ra, c̣n một nhóm các nhân vật đă bị bắt giữ tại cơ quan trung ương của Nha mà tôi chỉ c̣n nhớ tên các ông Trần Thanh Bổng (em ruột luật sư Trần Thanh Hiệp), luật sư Nguyễn Duy Quang, giáo sư Âu Trường Thanh, luật sư Bùi Tường Chiểu (hiện ở Pháp),... Những vị giáo sư đại học, những nhân vật tên tuổi thường bị ông Nhu để ư nhiều hơn nên tôi phải giữ họ lâu hơn. Tôi nghĩ rằng những nhà trí thức này có tội ǵ với quốc gia đâu ngoài thái độ bất măn chế độ Diệm. Hôm nay, họ biểu hiện thái độ chống đối đó một cách tích cực hơn v́ chế độ đă độc tài quá trắng trợn và hiểm độc, và nhất là v́ lương tri của họ không c̣n cho phép họ im lặng trước cuộc đấu tranh gian khổ của những con người b́nh dị như các thầy tu, anh em xích lô, học sinh, sinh viên, hoặc những kẻ nghèo khó nhất trong xă hội. Họ không thể giữ thái độ bàng quan trước những hiện trạng đàn áp, khủng bố do một thiểu số gây ra cho cái đại đa số dân tộc, v́ thế tôi càng phải đối đăi tử tế những kẻ có ḷng. Mỗi buổi sáng, khoảng bảy giờ, tôi cho xe của Nha đến tận nhà mời những nhà trí thức kia đến Nha An Ninh Quân Đội nghỉ ngơi, đọc báo, uống trà, đánh cờ tướng. Chiều bảy giờ, tôi cho xe chở họ về với gia đ́nh. Cứ như thế độ hai tuần lễ tôi mới gởi tờ tŕnh cho ông Nhu bảo rằng họ không có tội ǵ hết, rồi tôi trả tự do cho họ ra về luôn. Trước khi ra về, các ông Nguyễn Duy Quang, Bùi Tường Chiểu, Âu Trường Thanh lần lượt đến văn pḥng tôi ngỏ lời cảm tạ. Tôi không nhớ một vị nào đó đă nói: “Quả thật chúng tôi không thể tưởng tượng một cơ quan an ninh mà lại có cách xử sự bao dung lịch sự đối với kẻ có tội như cơ quan của Đại tá”.

Nh́n lại từ đầu biến cố cho đến những ngày đầu tháng 8 năm 1963, lập trường của Phật giáo đồ và chính sách của Chính phủ vẫn không có ǵ thay đổi nếu không muốn nói càng lúc càng quyết liệt hơn. Nghĩa là một bên tranh đấu cho công bằng xă hội mà cụ thể là quyền tự do tín ngưỡng, và một bên là duy tŕnh nguyên trạng đàn áp mà cụ thể là kỳ thị tôn giáo. Yếu tố mới trong cuộc khủng hoảng là sự xuất hiện của các lực lượng khác của dân tộc, các thành phần khác của xă hội. Từ học đường đến đảng phái, từ văn nghệ sĩ đến công nhân, từ thương gia đến chuyên viên. Hai lực lượng khác rất đáng kể v́ vai tṛ và sức mạnh của nó là giáo hội Công giáo Việt Nam và quân lực Việt Nam Cộng Ḥa, cho đến giờ phút đó và ít nhất trên mặt chính thức như một tổng thể, vẫn chưa có những xáo động sâu sắc hoặc lập trường công khai nào cả, nghĩa là vẫn đứng về phía chính quyền, mặc đầu trong quân đội không thiếu những sĩ quan hoặc binh sĩ đă âm thầm ủng hộ cuộc đấu tranh của Phật giáo, hay một vài Linh mục cũng đă bí mật liên lạc với các Thượng tọa tại Sài G̣n.

Chiến thuật vừa đánh vừa đàm của chính quyền đó là để kéo dài thời gian cho lực lượng siêu chính quyền của Cần Lao Công giáo chuẩn bị một trận xung kích cuối cùng, một trận phải có máu đổ xương rơi để chấm dứt vĩnh viễn sự hiện diện của Phật giáo không phải chỉ trong biến cố này mà c̣n cho cả mai sau nữa.

Đêm 20 tháng 8, anh em ông Diệm điều động cảnh sát dă chiến và lực lượng đặc biệt tấn công các chùa ở Sài G̣n như Xá Lợi, Ấn Quang, Theravada, Giác Minh, Từ Quang... các chùa ở Huế như Bảo Quốc, Từ Đàm, Linh Quang... và nhiều chùa lớn ở các tỉnh khác. Tại chùa Xá Lợi, đội quân xung phong của chính quyền đập phá bàn thờ, tượng Phật và lấy mất thùng công quả... gây thương tích cho hàng trăm Tăng Ni. Riêng Ḥa thượng Hội chủ Thích Tịnh Khiết th́ bị xô té và bị thương nặng ở mắt. Tại Sài G̣n, chúng bắt tất cả hơn 1.400 Tăng Ni, Phật tử, kể cả Thượng tọa Tâm Châu, cụ Mai Thọ Truyền, Sư bà Diệu Huệ, Thượng Tọa Trí Quang... Cuộc tấn công kinh hoàng đó của chế độ Diệm được một người bạn Mỹ của ông Diệm là nhà viết sử Buttinger ví von như một cuộc tấn công của đội xung kích Nazi:

The so-called special forces and the manner in which Nhu employed them in 1963 were reminiscent of the Nazi storm troopers [9].

Gần 5 giờ sáng ngày 21 tháng 8, Tổng thống Diệm triệu tập khẩn cấp Hội đồng Chính phủ rồi ra tuyên cáo: “Phải hành động quyết liệt và lănh trách nhiệm trước lịch sử v́ có tin Việt Cộng sắp tràn ngập Thủ Đô (sic), ban hành lệnh giới nghiêm trên toàn lănh thổ, ra lệnh cho quân đội bảo vệ an ninh trật tự” (Sắc lệnh số 84/TTP). Tướng Tôn Thất Đính, Tư lệnh Quân Đoàn III được cử kiêm Tổng trấn Sài G̣n-Gia Định, có nhiệm vụ thi hành lệnh thiết quân luật. Lệnh giới nghiêm cấm dân chúng đi lại từ 9 giờ đêm đến 5 giờ sáng. Cuộc tấn công chùa chiền bằng vơ lực và lời tuyên bố xuyên tạc của Tổng thống Diệm nói rằng Việt Cộng sắp tràn ngập thủ đô để biện minh và hợp pháp hóa hành động bất hợp pháp, bất hợp hiến của ḿnh, đă nói lên sự thất bại về chính trị và nhân tâm của chế độ. Ngoài ra, phương cách đối phó liều lĩnh của anh em ông Diệm càng tạo thêm những phản ứng vô cùng bất lợi của nhân dân và quốc tế mà phản ứng đầu tiên lại là hành động xuống tóc và từ chức của Bộ trưởng Ngoại giao Vũ Văn Mẫu.

Ông Vũ Văn Mẫu là một thạc sĩ luật khoa có “chair” tại đại học danh tiếng Sorbonne ở Paris, lúc bất giờ ông được giới trí thức Việt Nam coi như một luật gia uyên thâm, được sinh viên coi như một vị thầy uyên bác, được Tổng thống Diệm trọng vọng nhất trong hàng các Bộ trưởng. Dưới chế độ Diệm có hai vị Bộ trưởng thâm niên kỳ cựu nhất, một vị đại khoa bảng và một vị chỉ có bằng tiểu học, và cả hai đều duy tŕ chức vụ không hề bị gián đoạn từ ngày 10-5-1955, nghĩa là từ khi chế độ Cộng Ḥa chưa ra đời cho đến khi chế độ Diệm bị sụp đổ: đó là ông Vũ Văn Mẫu và ông Huỳnh Hữu Nghĩa. Suốt 8 năm trời ông Mẫu giữ chức Bộ trưởng Ngoại Giao, trong lúc ông Nghĩa cầm đầu Bộ Lao động. Ông Mẫu th́ nhờ học rộng bằng cấp cao mà được mời làm Bộ trưởng, c̣n ông Nghĩa th́ nhờ ḷng trung thành tuyệt đối mà được làm Bộ trưởng. Sau bao nhiêu nước chảy qua cầu, bao nhiêu người lên voi xuống chó, cuối cùng một ông v́ phản đối chế độ mà ra đi, c̣n một ông v́ bênh vực chế độ mà bị bắt vào nhà lao Chí Ḥa (sau cách mạng 1-11-1963).

Trong mặt trận ngoại giao dưới chế độ Diệm, việc khó khăn nhất không phải là đối phó với kẻ thù cũ là Pháp, lại càng không phải là siết chặt quan hệ với đồng minh Hoa Kỳ v́ mọi liên hệ đă phân định rơ bạn thù, mà là đối phó với nước láng giềng Cao Miên, một quốc gia mà Việt Nam đă từng đánh phá và đô hộ. Hai khó khăn chính là v́ tranh chấp biên giới và mâu thuẫn chính trị do chính sách chủ quan của anh em ông Diệm, luôn luôn t́m cách lật đổ Sihanouk. Một lư do khác nữa khiến chế độ Diệm muốn lật đổ Sihanouk là v́ Quốc trưởng Cam Bốt lập đảng “Sang-Kum”, tức là đảng “Xă Hội Phật Giáo” nghĩa là gián tiếp chống với chủ trương của đảng “Nhân Vị Công giáo” của ông Ngô Đ́nh Nhu như Chu Bằng Lĩnh đă tŕnh bày trong tác phẩm “Cần Lao Cách mạng đảng”. Suốt thời gian 9 năm của chế độ Diệm, ngoại trưởng Vũ Văn Mẫu luôn luôn giữ được thắng lợi trong cuộc tranh chấp biên giới với Cao Miên. Sau này, vào năm 1964, Sihanouk lại đưa vấn đề biên giới ra tranh chấp tại Hội đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc. Nhận thấy chỉ có ông Vũ Văn Mẫu (lúc bấy giờ đang là Đại sứ Việt Nam tại Luân Đôn) mới đủ sức đương đầu với phe Cao Miên có Nga Xô yểm trợ, tôi bèn đề nghị với Thủ tướng Khánh nhờ ông Mẫu đi phó hội. Quả thật nhà ngoại giao tài ba của chúng ta đă đem thắng lợi và vinh dự về cho Việt Nam tại Hội đồng Liên Hiệp Quốc. Khi đại diện Chính phủ Cao Miên gọi Chính phủ Việt Nam là “chính quyền Sài G̣n”, ông phản công ngay và gọi Cao Miên là “chính quyền Phnom Penh”. Lúc đại diện Nga Xô gọi Việt Nam Cộng Ḥa là “tay sai đế quốc Mỹ”, ông Mẫu liền xin chủ tịch hội nghị để trả lời đại diện Nga Xô, chỉ trích Đại sứ Nga Xô đă dùng ngôn từ của một dân tộc kém văn minh. Nhờ tài tranh luận và lập trường cứng rắn của ông, Hội đồng Liên Hiệp Quốc đành phải xếp vụ kiện của Sihanouk lại, nhờ thế mà vấn đề tranh chấp biên giới không c̣n nữa và miền Nam duy tŕ được vùng lănh thổ ven biển miền Tây chiến lược của ḿnh [10].

Nhắc lại trong buổi sáng họp Hội đồng Nội các ngày 21 tháng 8 tại dinh Gia Long, sau khi được Tổng thống Diệm báo tin lệnh tấn công các chùa th́ Phó Tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ nhẹ nhàng phản đối ông Diệm: “Tại sao Cụ lấy một quyết định quan trọng như thế mà không cho chúng tôi biết trước”. C̣n ông Vũ Văn Mẫu về nhà cạo đầu và vào văn pḥng Bộ Ngoại giao tập họp toàn thể nhân viên của Bộ rồi tuyên bố từ chức để phản đối chính sách của Chính phủ Ngô Đ́nh Diệm. Thái độ minh bạch và can đảm cũng như những lời tâm huyết của ông đă làm cho hầu hết nhân viên Bộ Ngoại giao, kể cả những người đă từng là cán bộ trung kiên của ông Diệm, phải xúc động. Một người bạn thân của tôi là ông Nguyễn Đôn Duyến, Giám đốc Đông Nam Á sự vụ, vốn là một cộng sự viên tiền phong của ông Diệm từ năm 1947-1948 cũng đă vô cùng cảm xúc.

Cảm phục khí phách và phong độ kẻ sĩ Vũ Văn Mẫu, ông Hoàng Đại Sâm (tức thi sĩ Hoàng Hoa Trang), một nhân viên cao cấp của Bộ, bèn nhờ bạn là ông Vơ Khắc Văn viết cho mấy chữ Hán để khắc vào bức hoành phi tặng cho vị chỉ huy khả kính của ḿnh. Ông Văn bèn viết bốn chữ: “Ngoại Vật Hoàn Giao”, vừa có chữ của nhà Phật, vừa có chữ “ngoại giao”, vừa nói lên được ư nghĩa thâm thúy của một hành động đầy triết lư sâu sắc.

Sau khi viết cho bạn bốn chữ để tặng vị Bộ trưởng v́ chính nghĩa mà “cạo đầu từ quan”, Vơ Khắc Văn cảm xúc trước một biến cố vừa đau thương vừa chua chát bèn làm một bài thơ, ghi lại một sự kiện lịch sử có tính cách “Giai thoại Làng Nho” hầu lên án Ngô triều để làm gương cho hậu thế. Bài thơ này may mắn được một bạn thân của ông Vơ Khắc Văn hiện ở Hải ngoại c̣n nhớ, viết lại rồi gởi cho tôi để hiện diện trọng tập hồi kư này:

TRANH THỜI SỰ 1963

Chín năm bốn bận tráo quân bài,

Lừa lọc toàn tay dễ khiến sai,

Hót Cụ: Thuần Lương mồm bép xép,

Ôm Bà: Hiếu Nghĩa miệng lai rai,

Vỹ đem hiến Cố màu xanh trẻ,

Khương ước dâng Cha áo đỏ dài,

Riêng Mẫu cạo đầu, Tâm bị bắt,

Hỏi hàng khanh tướng đến phiên ai?

Bài thơ nhằm mô tả và đánh giá bản chất của chế độ qua những nhân sự tay sai mà trong chín năm cầm quyền, nào là cụ Diệm, nào là bà Nhu, nào là Cố vấn Nhu, nào là cha Thục, dù có muốn tráo trở quân bài th́ cũng chỉ dùng toàn những tay “dễ khiến sai” như Bộ trưởng Nguyễn Đ́nh Thuần, Bùi Văn Lương, Ngô Trọng Hiếu, Huỳnh Hữu Nghĩa. Cũng bị liệt vào “hạng lừa lọc” là Cao Xuân Vỹ, Tổng Giám đốc Thanh niên Cộng ḥa xanh, và Nguyễn Xuân Khương, Đại biểu Chính phủ Trung Việt đă quyết liệt đàn áp Phật giáo để Cha Thục được mặc Hồng Y. Trong hàng khanh tướng sạch dơ lẫn lộn đó chỉ c̣n ông Mẫu là khí tiết từ chức và Bác sĩ Phạm Biểu Tâm, Khoa trưởng Đại học Y khoa Sài G̣n, công phẫn chống đối nên bị Mật vụ nhà Ngô bắt.

Sở dĩ phải nói đến hai ông Hoàng Đại Sâm và Vơ Khắc Văn là v́ thái độ chống đối chế độ Diệm của hai ông có ảnh hưởng rất lớn trong giới người Quảng B́nh, nhất là những người không theo đạo Công giáo, những người đồng hương với ông Diệm di cư vào Nam, từng là hậu thuẫn cho ông trong 9 năm trời và từng được ông coi là đại diện cho thân thuộc nơi chôn nhau cắt rốn.

Hoàng Đại Sâm và Vơ Khắc Văn là hai nhà thơ tên tuổi (bạn văn thơ với các ông Thái Văn Kiểm, Đái Đức Tuấn, Lưu Kỳ Linh,...) thuộc ḍng dơi khoa giáp nổi tiếng đất Quảng B́nh. Thân phụ của hai ông từng làm quan to đồng liêu với cụ Ngô Đ́nh Khả, thân sinh của ông Diệm, và khi về hưu mang hàm thượng thư Trí sự. Ông Vơ Khắc Văn lại từng làm tri huyện thuộc cấp của ông Tuần vũ Ngô Đ́nh Diệm, được ông Diệm rất quư mến cho nên khi mới làm Tổng thống, ông Diệm liền cử ông Văn làm Tỉnh trưởng Darlak. Nhưng sau vài năm ở chức vụ đó, Vơ Khắc Văn chán nản chế độ Công giáo Cần Lao, ông ta xin từ chức để về làm một cấp thừa hành tại các Bộ, Viện ở trung ương như một h́nh thức ẩn thân để chờ ngày hưu trí.

Lúc mới cầm quyền, ông Diệm cho lập ngay Hội Quảng B́nh Tương Tế để xây dựng một hậu thuẫn chính trị trung kiên qua t́nh đồng hương đầy địa phương tính, và đồng thời cũng để dương danh “áo gấm về làng” với những gia tộc khác trong tỉnh. Trong hội tương tế này, ông Sâm và ông Văn được dân Quảng B́nh kính mến và trọng vọng như những bậc trưởng thượng gương mẫu. Thái độ từ âm thầm bất măn đến công khai chống đối của hai ông không những đă gây một sức chấn động phản tỉnh nơi những người dân Quảng B́nh mà c̣n là một sự khẳng định chắc nịch về ư muốn loại trừ gia đ́nh ông Diệm ra khỏi tư cách đồng hương mà ông Diệm vốn rất tự hào. Từ đó, những buổi họp, ăn uống thân mật của Hội Quảng B́nh Tương Tế nơi ngôi nhà tổ phụ của anh em ông Diệm không c̣n nữa, và câu chuyện “áo gấm về làng” của họ Ngô bị chôn vùi vào dĩ văng. Riêng hai việc tiêu diệt Phật giáo và xuyên tạc Thượng tọa Trí Quang là Cộng Sản, đă bị dân Quảng B́nh coi như hành động phản bội người đồng hương, khước từ nơi chôn nhau cắt rốn.

Về phần ông Vũ Văn Mẫu, sau khi từ chức ông định trốn ngay ra ngoại quốc để tố cáo với dư luận quốc tế nhưng bị bắt lại tại phi trường Tân Sơn Nhất lúc sắp sửa lên phi cơ. Anh em ông Diệm đă định tống giam ông Mẫu không xét xử nhưng sợ phản ứng ngoại giao không thuận lợi nên đă dàn xếp với ông Mẫu theo điều kiện: ông Mẫu không công khai tuyên bố xin từ chức, trái lại Chính phủ phải để ông ra đi với lư do hành hương ba tháng tại Ấn Độ. Cuộc dàn xếp kéo dài măi đến ngày 28 tháng 8 năm 1963, ông Mẫu mới lên đường ra đi.

Theo ông Nguyễn Đôn Duyến, Giám đốc Đông Nam Á Sự Vụ, một bạn thân của tôi cho biết sau khi ông Mẫu đi rồi, nhà trí thức Công giáo Trương Công Cừu, nguyên Chủ tịch Ủy ban chống Đảo chánh và chống Phiến Loạn, nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội, nguyên Bộ trưởng Đặc nhiệm Văn hóa, được cử giữ chức Bộ trưởng Ngoại giao. Vừa đến nhậm chức ông Cừu cũng tập họp nhân viên để ban huấn từ với mục đích tác động tinh thần những cộng sự viên vốn đă bị giao động bởi thời cuộc. Trong buổi tiếp xúc đầu tiên đó, ông Cừu đă lên án nặng nề cuộc tranh đấu của Phật giáo, ông cũng ám chỉ Phật giáo là Cộng Sản và mạt sát thậm tệ ông Vũ Văn Mẫu mà ông cho là đă phản bội Tổng thống Diệm. Ông kêu gọi nhân viên phải hết ḷng trung thành với chế độ và với Tổng thống. Theo lời kể lại của ông Duyến, th́ ông Cừu đă lấy ông ra làm gương mẫu cho ḷng trung thành tuyệt đối đó: “Anh em hăy noi gương tôi, nếu bây giờ Tổng thống hay ông Cố vấn bảo tôi lấy cái mặt này (ông vừa nói vừa chỉ vào mặt ông) mà chà vào cầu tiêu là tôi tuân lệnh ngay”.

Sau cuộc tấn công tàn ác vào các chùa chiền, bắt bớ Tăng Ni Phật tử và giam giữ một số sinh viên, đồng thời đóng cửa các trường học và phi trường Tân Sơn Nhất, anh em ông Diệm bèn lợi dụng sự giao động của quần chúng để phóng tay phát động những thủ đoạn tàn nhẫn hơn của họ.

Sáng ngày 22 tháng 8, ông Nhu kêu gọi Thanh Niên Cộng Ḥa phải làm “rạng tỏ chính sách”. Đồng thời Chính phủ ra thông cáo cho biết đă khám xét và tịch thu được một số khí giới và dụng cụ bất hợp pháp tại các chùa Xá Lợi, Ấn Quang, Theravada.

Ngày 24 tháng 8, anh em ông Diệm lại tạo ra một bức thư giả mạo của Ḥa thượng Thích Tịnh Khiết nói rằng Ḥa thượng giới thiệu một số Thượng tọa trong Giáo Hội Tăng Già Toàn Quốc để trông nom Phật sự, trong lúc thật sự Ḥa thượng Tịnh Khiết c̣n đang bị thương và đang bị giam lỏng tại quân y viện Cộng Ḥa. Họ đă tái diễn một cách trơ trẽn tṛ viết thư giả mạo như họ đă làm đối với bác sĩ Phan Quang Đán sau vụ Nhảy Dù đảo chánh năm 1960.

Ngày 26, họ ép buộc Thượng tọa Thích Thiện Hành thành lập một ủy ban Liên Hiệp Bảo Vệ Phật giáo Thuần Túy gồm toàn các thầy chùa Cổ Sơn Môn để hành xử như các hội “Phật giáo yêu nước” hoặc “Công giáo yên nước” của Cọng sản sau 1975.

Ngày 27, các đoàn thể tay sai của họ và các Tỉnh trưởng gởi kiến nghị bày tỏ ḷng trung thành và ủng hộ lên Phủ Tổng thống.

Ngày 31 tháng 8, Tổng thống Diệm viếng thăm ngôi chùa Sư Nữ ở Gia Định, nhưng cũng đúng giờ đó, họ tổ chức Thanh Niên Cộng Ḥa biểu t́nh ở công trường Lê Lợi để ủng hộ Chính phủ.

Ngày 1 tháng 9, có tin đồn ảnh của Tổng thống Diệm bị tháo gỡ ở vài công sở và được thay thế bằng ảnh của Cố vấn Tổng thủ lănh Thanh niên Cộng Ḥa. Có tin đồn Cố vấn Nhu sẽ đảo chánh để thi hành một chính sách đanh thép, độc tài hơn.

Ngày 10 tháng 9, bà Ngô Đ́nh Nhu dẫn một phái đoàn Dân biểu đi dự Hội Nghị Quốc tế Nghị sĩ tại Nam Tư để giải độc dư luận quốc tế về vấn đề Phật giáo. Theo Đại sứ Cabot Lodge và nhiều kư giả quốc tế th́ bà Nhu đă nghi ngờ sự khôn ngoan của Đức Giáo Hoàng Paul VI sau khi Ngài bày tỏ sự bàng hoàng trước chính sách khủng bố tôn giáo của anh em ông Diệm. Bà Nhu tuyên bố:

Đức Giáo Hoàng thật cũng lo âu một cách quá dễ dàng. Là một người Công giáo, tôi chỉ buộc phải tin vào tín điều của tôn giáo tôi và tin vào Đức Giáo Hoàng mà thôi. Đức Giáo Hoàng sẽ không sai lầm khi Ngài tuyên bố về những điều đặc thù về tôn giáo. Tôi không tin rằng Ngài sẽ đứng ở tư thế của ḿnh mà chối bỏ tôi, v́ làm như thế quả là Ngài đă làm hại lớn cho đạo Công giáo (Pope Paul VI is too easily worried. As a Catholic, I am only required to believe in the dogma of my religion and the Pope. The Pope is only infaillible when he decrees something ex-cathedra. I do not believe that he will put himself in a chair to disavow me, because that will be a bad blow for Catholicism) [11].

Lời tuyên bố ngạo mạn này phản ảnh hai sự kiện rất đặc thù về bà Nhu mà người anh chồng đang là một vị giáo phẩm số một của Hội Thánh Công giáo Việt Nam. Thứ nhất là quan điểm về tính xa cách giữa đạo và đời, xác định sự bất lực của giáo lư Thiên Chúa giáo khi đi vào hiện thực xă hội, nhất là một xă hội tràn đầy khổ đau và áp bức. Thứ hai là dùng một thứ “politique de chantage” với vị Giáo chủ của Hội Thánh khi bắt Giáo Hoàng phải chọn lựa giữa sự chấp nhận hành động của ḿnh nếu không th́ sẽ “làm hại lớn cho Công giáo”.

Điểm đau đớn cho Giáo hội Công giáo Việt Nam là sau lời tuyên bố đó của bà Nhu cho toàn thế giới biết, Giáo hội đă không có một lời giải thích nào. Đừng nói đến một lời phản đối!

Với tất cả những hành động tàn ác, những thủ đoạn gian dối, những tuyên bố hăm dọa, anh em ông Diệm tưởng đă đập tan được cuộc đấu tranh của Phật giáo và đồng bào cả nước. Anh em họ Ngô huênh hoang tưởng đă đắc thắng nhưng họ quên đi một điều căn bản là đă hai ngàn năm rồi, trải bao thăng trầm của đất nước, trải bao cơn mạt pháp có khi kéo dài cả trăm năm mà Đạo Phật Việt Nam vẫn chưa bao giờ biết cúi đầu khuất phục bạo lực...

...Dân tộc ta không thể nào thua

Đạo Phật ta đời đời sáng lạn

Dầu trải mấy qua phân ly tán

Nhưng vẫn c̣n núi c̣n sông

C̣n chót vót măi ngôi chùa.

(Thơ, Vũ Hoàng Chương)

Lời thơ của họ Vũ chỉ nói lên một sự thật b́nh thường nhưng hùng tráng v́ ngay cả sau 1975, khi chính sách chiếm trọn miền Nam và t́m mọi thủ đoạn để tiêu diệt Phật giáo th́ những người con Phật vẫn kiên cường vùng lên chống lại chế độ bạo quản bạo trị đó. Thích Thiện Minh với lực lượng Cứu Nguy Dân Tộc bị tàn sát th́ Huyền Quang, Quảng Độ... lại nổi lên. Triệt hạ được nhóm này th́ nhóm Tuệ Sĩ, Mạnh Thát,.. lại đứng dậy. Hàng hàng lớp lớp, cứ lớp này chết hay vào tù th́ lớp kia vùng lên bất khuất. Trong lúc đó th́ tại hải ngoại, người Phật tử Việt Nam ra đi lưu vong khắp bốn phương trời, nơi những vùng căn cứ địa của Công giáo mà vẫn canh cánh bên ḷng niềm tin vào sức mạnh của dân tộc và sức mạnh của đạo pháp. Từ vài ngôi chùa nghèo nàn ở Pháp trước khi mất nước (1975) những ngôi chùa Việt Nam ấm cúng t́nh tự quê hương lại mọc lên khắp nơi từ Á sang Âu, từ Phi sang Mỹ. Bởi v́:

... Suốt trường kỳ lịch sử hai ngàn năm hiện diện trên quê hương Việt Nam, đạo Phật Việt đă không một phút một giây tách ĺa khỏi dân tộc Việt. Trong suốt đoạn dài của lịch sử Việt Nam và Phật giáo, dân tộc và đạo pháp đă hợp nhất thành một tổng thể bất khả phân ly và thành một sức mạnh không thể nào đánh bại. Đối với dân Việt, trong những cơn nguy biến, đạo Phật đă đứng lên cứu nguy, trong những thời nô lệ, đạo Phật đă đứng lên giải phóng, trong đau khổ, đạo Phật đem lại an vui, trong chiến tranh và thù hận, đạo Phật đem lại t́nh thương và ḥa b́nh, trong tuyệt vọng và chết chóc, đạo Phật đă mạng lại niềm tin và lẽ sống. Luôn luôn đứng về phía dân tộc đau khổ để đem hết máu xương và cả thân mạng ḿnh bảo vệ và phụng sự dân tộc, đó là nguyên tắc không thể nào lay chuyển và là một chân lư đă được chứng nghiệm suốt hai ngàn năm chưa một lần nào đạo Phật đứng về một thế lực phi nhân bản, phản dân chủ để thống trị và đàn áp con người Việt Nam. Đạo Phật đă ḥa tan vào dân tộc để trở thành xương thịt, máu huyết của dân tộc, đă cúng dường hy hiến cho dân tộc tất cả thần trí, hùng tâm, đại lực và tinh hoa của ḿnh để trở thành hùng tâm, đại lực, thần trí và tinh hoa của dân tộc...[12].

Nếu sáng 21 tháng 8, Ngoại trưởng Vũ Văn Mẫu từ chức để phản đối chính sách đàn áp Phật giáo của chính quyền Ngô Đ́nh Diệm đă là một lời tố cáo đanh thép về bản chất hung hăng của chế độ th́ cũng ngày hôm đó, cách trọn nửa trái cầu, tại Thủ đô Hoa Thịnh Đốn của quốc gia khai sinh và nuôi dưỡng chế độ, Đại sứ Trần Văn Chương lên tiếng phản đối chính quyền lại là một bản án nặng nề đẩy chế độ vào vị thế tội đồ trước công luận trong nước và trên toàn thế giới. Bản án đó lại càng có giá trị đích thực hơn v́ ông Trần Văn Chương là thân phụ của bà Nhu, một trong những nhân vật chủ yếu và quyết tâm nhất trong chính sách đàn áp Phật giáo. Chính v́ tính cách trầm trọng của bản án đó nên ngay ngày hôm sau, ông Trần Văn Chương bị chính quyền “chấm dứt nhiệm vụ”.

Ngày 25 tháng 8, hàng vạn sinh viên học sinh của thủ đô Sài G̣n ào ạt xuống đường biểu t́nh trước chợ Bến Thành. Cảnh sát dă chiến can thiệp và gây ra xô sát làm cho một số bị thương, riêng nữ sinh Quách Thị Trang cầm biểu ngữ đi đầu bị cảnh sát bắn chết và 1.300 sinh viên bị bắt đưa đến giam tại trại Quang Trung. Đồng thời sinh viên học sinh tại Huế, Đà Nẵng, Nha Trang cũng biểu t́nh, mít tinh lên án chế độ Diệm.

Ngày 7 tháng 9, để xoa dịu học sinh, nhà Ngô cho mở cửa lại các trường trung học, nhưng học sinh, nhất là của các trường Chu Văn An, Trưng Vương, Vơ Trường Toản,... quyết định phản đối không chịu vào lớp.

Nhiều tăng ni trẻ tuổi tiếp tục tự thiêu như Đại Đức Thích Quảng Hương tự thiêu trước chợ Bến Thành ngày 5 tháng 10, Đại Đức Thích Thiện Mỹ, vị sư thứ bảy tự thiêu trước nhà thờ Đức Bà. Và ngày 31 tháng 10, cảnh sát kịp thời ngăn chặn ba vụ tự thiêu trước Quốc Hội.

Trong khi đó, phái đoàn giải độc dư luận quốc tế cũng gặp những phản ứng bất lợi. Bà Ngô Đ́nh Nhu và Dân biểu Hà Như Chi đến La Mă ngày 25 tháng 9 bị một số người Việt đón đường phản đối; đến Paris bị đông đảo Việt kiều và sinh viên Việt Nam biểu t́nh đả đảo, ném trứng thối và cà chua; đến Hoa Thịnh Đốn không được thân phụ là đại sứ Trần Văn Chương cho gặp và không được Tổng thống Kennedy tiếp kiến. Bà đă họp báo phản đối người Mỹ và phân trần chế độ gia đ́nh trị của bà không hề đàn áp Phật giáo mà không nhớ rằng đă nhiều lần, bà tuyên bố với phóng viên đài VOA và New York Times là “phải quyết liệt đập tan phong trào Phật giáo”, khiến buổi họp báo trở thành một buổi đối chất căng thẳng.

Giám mục Ngô Đ́nh Thục bị Ṭa Thánh bắt rời khỏi Việt Nam, có tin đồn khi tới La Mă ông không được phép bệ kiến Giáo Hoàng và theo William Miller th́ ông bị Ṭa Thánh cấm không được tuyên bố những lời khiêu khích và mâu thuẫn chống đối Phật giáo [13].

Ngày 17 tháng 10, một số kư giả ngoại quốc bị công an hành hung v́ chụp ảnh các vụ cảnh sát đàn áp sinh viên và các vụ xô sát với Tăng Ni trên đường phố Sài G̣n. Cùng ngày này, cựu Đại sứ Trần Văn Chương lên tiếng tại Hoa Thịnh Đốn công kích kịch liệt chính sách của Tổng thống Diệm.

Tôi vừa tổng kết theo thứ tự thời gian những sự kiện lịch sử từ ngày xảy ra vụ Phật giáo cho đến cuối tháng 10 năm 1963 để thấy những biến chuyển trầm trọng của thời cuộc Việt Nam do chính sách kỳ thị Phật giáo của chế độ Diệm gây ra.

 

-o0o-

 

Chính sách kỳ thị và đàn áp Phật giáo không những đă đưa chế độ Diệm vào thế cô lập trước đại khối dân tộc mà c̣n làm cho dư luận thế giới hết sức bất b́nh.

Ngoài một số báo lớn Hoa Kỳ chỉ trích anh em ông Diệm v́ vấn đề kỳ thị Phật giáo làm cho công cuộc chống Cộng bị sa sút, hoặc là so sánh phong trào đấu tranh của Phật giáo tại Việt Nam cũng như phong trào sinh viên chống đối Tổng thống Lư Thừa Văn tại Nam Hàn, dư luận của nhiều quốc gia khác kể cả nước đồng minh của Việt Nam Cộng Ḥa cũng lên án chính sách kỳ thị tôn giáo của chế độ Diệm [14].

Tờ La Croix, một nhật báo nhiều ảnh hưởng trong giới Công giáo Pháp, đăng một bài quan điểm dài phản đối chủ trương độc tôn của anh em ông Diệm và kêu gọi tín đồ Công giáo hăy cầu nguyện cho những Phật tử Việt Nam.

Tờ Malaysian Times của Mă Lai, một quốc gia Hồi giáo đang là đồng minh chống Cộng của Việt Nam Cộng Ḥa, đưa lời khuyến cáo chính phủ Diệm nên ḥa dịu với Phật giáo mới có thể chận đứng được cuộc xâm lăng của Cọng sản, trong lúc đó th́ Cao Miên tố cáo chính sách đàn áp, khủng bố Phật giáo của chế độ Sài G̣n và tuyên bố đoạn giao với Việt Nam Cộng ḥa.

Phật giáo Trung Hoa Dân Quốc, với tư cách là một bộ phận lớn của quốc gia đồng minh được ông Diệm kính nể, lên tiếng kêu gọi Phật giáo đồ khắp thế giới hăy giúp đỡ Phật giáo Việt Nam với lời lẽ vô cùng thống thiết: “Hỡi Giáo hữu Tăng tín đồ thế giới! Chúng tôi rất đau ḷng tŕnh bày cùng quư vị về t́nh trạng Phật giáo Việt Nam gần đây gặp phải đại nạn “Kỳ thị tôn giáo”. Đồng thời chúng tôi cũng trông mong quư vị thiết tha lưu ư tinh thần “Đông chu Cộng Tế”. Đây cũng là chính nghĩa đáng nên trợ giúp”.

Tờ La Gazette de Lausanne tại Thụy Sĩ, một quốc gia trung lập vốn không có truyền thống can thiệp vào nội t́nh của nước khác, cũng không thể dửng dưng trước chính sách “kỳ thị tôn giáo” của Chính phủ Ngô Đ́nh Diệm. Ngay từ khi Ḥa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu, tờ báo đă có những lời lẽ vô cùng cảm động: “Sự hi sinh rất khích động của vị tăng sĩ thiêu sống ngay tại Sài G̣n buộc người ta phải kính trọng. Sự hy sinh v́ Chính pháp của ông khiến chúng ta liên tưởng tới những người Gia Tô đầu tiên và sự liên tưởng này càng làm cho chúng ta thấy oái oăm”.

Nhân vụ đàn áp Phật giáo tại Việt Nam, tờ báo có ảnh hưởng quốc tế lớn nhất của Thụy Sĩ là tờ Journal de Genève và nhiều tờ báo địa phương đă đăng lại toàn bản phúc tŕnh của ông Pierre và bà Renée Gomet nghiêm khắc lên án chế độ Diệm:

“Cái thói biệt đăi đă đi đến mức quá lố đến độ người ta thấy cả những “mode” mới như quyền chỉ huy các trung đoàn dành cho các sĩ quan nào được Ṭa Giám mục phê duyệt điểm tốt, lại có những đám dân quân tự vệ của vị Tổng giám mục ở Huế cũng được cung cấp những dụng cụ của Hoa Kỳ mà dám chắc Ngũ Giác Đài đă không dành những thứ đó cho bọn Lễ Sinh. Người ta có thể tuyên truyền rằng đó chỉ là cuộc nổi loạn của phe đa số khắc khổ kiếm chuyện v́ Chính phủ chỉ là một thiểu số bó kết chặt chẽ với nhau mà bộ tịch lại vênh váo và cứng rắn. Nhưng việc phải hy sinh v́ Chính Pháp của Ḥa thượng Thích Quảng Đức lại cho thấy rằng Phật giáo Việt Nam đang phải bảo vệ nếp sống và tư tưởng của họ”.

Nhật báo Le Monde của giới trí thức cấp tiến Pháp cũng đă nh́n thấy rơ ràng bản chất thật sự của cuộc đấu tranh của Phật giáo vốn bắt đầu là một cuộc đấu tranh cho tự do tín ngưỡng trong khuôn khổ của miền Nam Việt Nam:

“V́ Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm chỉ muốn biệt đăi Công giáo và để Giáo hội này tham dự vào chính quyền nên ngay từ đầu, vụ tranh chấp tôn giáo đă nhuốm màu sắc chính trị. Biến cố ở Huế xảy ra do sự đàn áp tàn bạo của nhà cầm quyền đă là một cơ hội cho nỗi bất măn của nhân dân bộc phát. Sự tranh chấp này đă lột trần sự cô lập và thất nhân tâm của thiểu số Công giáo được ưu đăi, trong lúc đó th́ những thiệt hại của quân đội viễn chinh Hoa Kỳ lại gây một luồng dư luận không tốt ở Mỹ. Biến cố Phật giáo là điều bất lợi cho Việt Nam Cọng Ḥa" [15]

Biến cố Phật giáo tại miền Nam Việt Nam năm 1963 đă làm sôi nổi dư luận quốc tế mà những bài báo vừa kể trên đây tiêu biểu cho dư luận của các quốc gia tự do, c̣n phe Cộng Sản tất nhiên là hết sức vui mừng, khiến cho Tổ chức Liên Hiệp Quốc không thể im lặng khoanh tay trước chính sách kỳ thị tôn giáo của chế độ Diệm trái ngược với Bản Tuyên Ngôn Quốc tế Nhân Quyền.

Sau nhiều phiên họp, hội viên các quốc gia trong Tổ chức Liên Hiệp Quốc quyết định gửi một phái đoàn đến Việt Nam để điều tra. Ngày 24 tháng 9 năm 1963, tuy Đại sứ Bửu Hội đại diện chính quyền Ngô Đ́nh Diệm phản đối quyết định đó nhưng cuối cùng đành phải chấp nhận cuộc điều tra của phái đoàn Liên Hiệp Quốc. Chấp nhận không chỉ v́ áp lực quốc tế mà c̣n v́ ông Ngô Đ́nh Nhu đă nuôi sẵn thủ đoạn đánh lừa và mua chuộc nhân viên phái đoàn Liên Hiệp Quốc. Trong những mưu mô của ông Ngô Đ́nh Nhu th́ thủ đoạn dơ bẩn nhất là tổ chức cho nhân viên phái đoàn chăn gối với gái điếm rồi chụp h́nh để làm “chantage”. Nghĩa là nhân viên nào không chịu bênh vực lập trường của nhà Ngô th́ ông Ngô Đ́nh Nhu sẽ đưa những tấm h́nh kia ra trước công luận để bôi lọ nhân viên ấy, đồng thời làm mất uy tín quốc gia của nhân viên đó. Những tấm h́nh này đă bị Thủy quân Lục chiến tịch thu được tại pḥng giấy của ông Ngô Đ́nh Nhu trong Dinh Gia Long ngày 2-11-1963. (Măm 1976, Trung tá Cảnh sát tên Hoàng, người phụ lễ cho Linh mục Nguyễn Văn Vi tại Sacramento, California, cùng với Thiếu tướng Nguyễn Văn Chức nhân đến thăm tôi đă thú nhận chính ông Nhu chủ trương dùng thủ đoạn “chantage” các nhân viên phái đoàn Liên Hiệp Quốc như vừa nói trên, v́ biết rằng đa số nhân viên phái đoàn đă thu lượm được nhiều tài liệu rơ ràng chứng minh Phật giáo bị chế độ Diệm kỳ thị, đàn áp, khủng bố. Trung tá Hoàng là một Công giáo Cần Lao, từng chỉ huy trại giam bí mật P.42 ở Sở thú). Cũng v́ thủ đoạn trên đây mà ông Đoàn Thêm mới ghi vào tác phẩm của ông rằng:

“Phái đoàn Liên Hiệp Quốc đă được Chính phủ Diệm tiếp đăi chu đáo và ch́u chuộng đặc biệt bằng đủ mọi cách” [16].

Ngày phái đoàn điều tra của Liên Hiệp Quốc ra Huế, chính quyền địa phương đă t́m mọi thủ đoạn để ngăn cản phái đoàn không tiếp xúc được với đồng bào Phật tử để t́m hiểu sự thật. Trong dịp này, nữ sinh Ái Khanh của trường nữ trung học Đồng Khánh và cũng là một đoàn viên trong phong trào đấu tranh sinh viên học sinh (mà anh Vơ Văn Khiết hiện nay đang ở Mỹ là một thành viên), đă âm thầm lên lầu ba của trường Đồng Khánh để nhảy xuống đất hy sinh thân mạng hầu tạo tiếng vang cho phái đoàn lưu ư. Ái Khanh chỉ bị găy xương chân và chấn động nội tạng, nhưng hành động can trường của người nữ sinh yếu đuối này đă vạch trần được bộ mặt tàn độc của chế độ trước phái đoàn Liên Hiệp Quốc, một bộ mặt đă được kư giả Vũ Bằng tóm tắt trong một đoạn ngắn mà xúc tích:

Trong suốt một thời gian kéo dài từ tháng 5 năm 1963 cho đến tháng 11 cùng năm đó, tràn đầy máu lửa và nước mắt, tàn sát Phật tử không khác ǵ phát xít Đức tàn sát người Do Thái trong thế chiến thứ nh́, không có một tờ báo chánh thức nào dám ho he một lời can ngăn - chớ đừng nói cảnh cáo hay đả kích Ngô Đ́nh Diệm và gia đ́nh ông ta. (Trích “Bốn mươi năm nói láo”. tr. 240).

Cho đến những ngày đầu tháng 10 năm 1963 và c̣n kéo dài sau đó, Phật tử Việt Nam đă thế hiện ḷng trung trinh với đất nước và ư nguyện giải thoát đau khổ của chúng sinh để lẫm liệt đứng dậy đấu tranh chống bạo quyền. Vị trí và tư thế đấu tranh của Phật tử phát xuất từ một nhận định lịch sử rất hiện thực rằng:

Chế độ Ngô Đ́nh Diệm trong suốt chín năm cai trị miền Nam đă đi vào con đường độc tài, độc tôn, độc đảng, đă chủ trương tiêu diệt các thành phần quốc gia đối lập tạo nên bao nỗi bất công đau khổ cho đại đa số quân chúng không theo Công giáo, mà một trong những nạn nhân và là nạn nhân khổ nhục nhất là Phật giáo. Và Phật giáo trong cái thế sống c̣n của ḿnh - liên hệ đến sự sống c̣n và phát triển của dân tộc - đă thực hiện cuộc vận động cách mạng cho lư tưởng tự do tín ngưỡng trong khuôn khổ của lư tưởng công bằng xă hội. Nó hoàn toàn không đặt vấn đề lật đổ người này để thay vào người khác mà nó chỉ đặt vấn đề thay đổi những chủ trương và chính sách cho công bằng và tốt đẹp. Nó hoàn toàn đứng trên lập trường và ư thức dân tộc để chống đối chế độ Ngô Đ́nh Diệm cũng như đứng vững trên lập trường và ư thức này để chống đối Cộng sản. Đối mặt với tất cả thế lực và chính sách tàn phá dân tộc, trước sau nó chỉ nói một tiếng: không chấp nhận. Nó chống Cộng sản nhưng không phải là chống để biến đất nước Việt Nam thành một lănh địa của những thế lực ngoại bang. Nó chống chế độ Ngô Đ́nh Diệm nhưng không phải là chống để cho Cộng sản cướp lấy đất nước. Nó không nằm trong ḷng Cộng sản, nó cũng không nằm trong ḷng tư bản. Nó chỉ nằm trong ḷng dân tộc [17].

Cuộc tấn công chùa chiền đêm 20 tháng 8 của chính quyền đă làm tê liệt các cơ cấu lănh đạo và khả năng tổ chức của Phật giáo, nhưng lại nhờ thế mà Phật giáo đốt được ngọn lửa tỉnh thức trong ḷng đại khối quần chúng. Những chiến dịch khủng bố và đàn áp dă man nhằm vào giới tăng sĩ lănh đạo đă làm cho các tăng sĩ Phật giáo trở thành biểu tượng tiền phong hơn là thành viên lănh đạo của phong trào đấu tranh.

Trong số những tăng sĩ lănh đạo cuộc đấu tranh chống chế độ Diệm, Thượng tọa Thích Trí Quang là nhân vật bị anh em nhà Ngô đánh giá nguy hiểm hơn cả. Năm 1963, Ngô Đ́nh Nhu đă nói với kư giả Jerrold Schecter rằng:

“Năm 1961, Trí Quang thuyết phục em tôi là Ngô Đ́nh Cẩn để Cẩn chi tiền cho Trí Quang xây dựng một cơ cấu chống Cộng trong giáo hội Phật giáo v́ Cộng sản đă xâm nhập vào Giáo hội. Cẩn bằng ḷng giúp Trí Quang và sự giúp đỡ đó đă trở thành yếu tố làm cho em tôi suy sụp. Trí Quang là người thủ đoạn nhất và đă có âm mưu lật đổ Chính phủ từ lâu rồi. Có lẽ trong tương lai chưa biết khi nào, tên tuổi Trí Quang sẽ đồng nghĩa với âm mưu” [18].

Không biết việc Thượng tọa Trí Quang yêu cầu ông Ngô Đ́nh Cẩn giúp đỡ tiền bạc có thật hay không, hay là ông Ngô Đ́nh Nhu bày đặt ra để xuyên tạc một nhà sư đang là kẻ đối thủ của ông ta. Nhưng nếu quả có sự kiện đó th́ chẳng qua Thượng tọa Trí Quang chỉ muốn giải tỏa những nghi ngờ chính trị của chính quyền. C̣n bảo rằng Thượng tọa Trí Quang là người thủ đoạn th́ chẳng qua ông Ngô Đ́nh Nhu “suy bụng ta ra bụng người” v́ đáng lư lời phê phán đó phải được áp dụng cho chính cuộc đời ông Ngô Đ́nh Nhu đầy dẫy những thủ đoạn bá đạo như bao nhiêu sách sử và nhân chứng đă nói. C̣n bảo rằng Thượng tọa Trí Quang âm mưu lật đổ Chính phủ từ lâu th́ đó chỉ là một lời xuyên tạc v́ như tôi đă tŕnh bày ngay từ năm 1956, chế độ Diệm đă bắt đầu chính sách kỳ thị Phật giáo mà Phật giáo đồ chỉ có một “âm mưu” là cắn răng chịu đựng cho măi đến năm 1963, v́ tính cách kỳ thị trắng trợn quá độ bằng lệnh cấm treo cờ Phật giáo nhân ngày Phật Đản, Phật giáo và Thượng tọa Trí Quang mới vùng lên để đ̣i quyền sống cho tôn giáo họ. Ngoài ra, nếu Thượng tọa Trí Quang có âm thầm bất măn và có ư định lật đổ Chính phủ từ lâu như ông Ngô Đ́nh Nhu đă nói th́ thử hỏi các ư định đó đă xuất phát từ những yếu tố nào, từ động cơ nào? Hỏi tức là đă trả lời rồi vậy. V́ vậy, với những chế độ như chế độ Ngô Đ́nh Diệm, một loại chế độ của vợ chống Marcos (Phi Luật Tân), chế độ của thiểu số thực dân da trắng Nam Phi ngày nay th́ có riêng ǵ Thượng tọa Trí Quang có ư định lật đổ mà quân đội, đảng phái, giáo phái, chính khách, hết lớp này đến lớp khác cũng đă có những âm mưu, những hành động lật đổ chế độ đó rồi.

Đêm 20 tháng 8, khi chùa Xá Lợi bị tấn công, Thượng tọa Trí Quang cũng ở trong số Tăng Ni bị bắt giải đi, nhưng nhờ ông khéo cải trang lẫn lộn vào đám Tăng Ni Phật tử nên mặc dù công an mật vụ dày công t́m kiếm, phân cách, chọn lựa mà ông vẫn không bị bắt giải về trại giam Vơ Tánh như trường hợp Thượng tọa Tâm Châu, Thiện Minh... hay cư sĩ Mai Thọ Truyền. T́nh cảnh của Phật giáo đồ Việt Nam lúc bấy giờ là t́nh cảnh chim lồng cá chậu, riêng đối với Thượng tọa Trí Quang, quê hương mênh mông mà ông không có đất dung thân. Hai ngày sau, ông trốn được vào Ṭa đại sứ Mỹ, chủ trương của ông là ẩn nấp vào nhà người Cha khi ông bị người Con đánh đuổi để dùng cái uy của người Cha mà kềm chế đứa con hung hăng. Cùng trốn với ông có Đại Đức Thích Nhật Thiện, một nhà sư trẻ biết nói tiếng Anh thành thạo. Theo Đại sứ Cabot Lodge th́ trong thời gian Thượng tọa Trí Quang ở trong Ṭa đại sứ ông rất ít nói, nhiều khi đă làm cho Đại sứ bực ḿnh. Một nhân viên Ṭa đại sứ giải thích rằng những nhà sư Việt Nam thường có thái độ “nói không hết lời”. Họ nhận họ là người Việt Nam trước đă rồi mới là nhà sư. Họ có những đức tính và cả những khuyết điểm, những khuyết điểm do dân tộc tính gây nên, không phải do đạo Phật, v́ thế cho nên họ tự cho họ trước khi là nhà sư họ là người Việt, thứ người Việt yêu thương gia đ́nh và yêu thương phần đất quê hương ḿnh trước hết.

Thượng tọa Trí Quang sinh tại làng Diêm Điền, phủ Quảng Ninh, tỉnh Quảng B́nh. Thượng tọa tên thật là Phạm Văn Bông, sinh năm 1922 thuộc một gia đ́nh trung nông. Làng của Thượng tọa ở gần Lũy Thầy của Đào Duy Từ, cách tỉnh lỵ Đồng Hới 3 cây số. Dân làng Diêm Điền vừa làm củi, vừa làm muối, vừa làm nghề nông nên đa số có cuộc sống tương đối đầy đủ. Thượng tọa Trí Quang có 3 người anh em: một người đi tu là Thích Diệu Minh, một người là Phạm Chánh chết năm 1947, một người nữa là Phạm Đại theo Việt Minh kháng chiến làm y tá, sau trở về vùng quốc gia rồi gia nhập Việt Binh đoàn dưới chế độ Bảo Đại, sau này trở thành Hạ sĩ quan trong quân đội Việt Nam Cộng Ḥa. Nhiều người Quảng B́nh quen biết gia đ́nh Thượng tọa thường gọi gia đ́nh ông là gia đ́nh Quang Minh Chánh Đại, do sự ghép tên của bốn người con trai này. Thân phụ Thượng tọa chết năm 1945.

Sau khi đỗ bằng tiểu học năm 13 tuổi, Thượng tọa Trí Quang xin quy y và tu học tại một ngôi chùa ở Đồng Hới rồi được cử vào học tại chùa Bảo Quốc Huế. Là một tăng sinh hết sức thông minh nhưng cũng hết sức cứng đầu, nhiều lần tưởng đă bị đuổi khỏi trường, nhưng nhờ thầy là Thượng tọa Trí Độ khoan dung bảo bọc nên mới được tiếp tục tu học. Xuất thân từ Cao Đẳng Học Viện Huế năm 1944, ông chính thức trở thành tăng sĩ.

Khoảng tháng 6 năm 1946, lúc mới 24 tuổi, ông theo Thượng tọa Trí Độ ra Bắc và được cử làm giáo sư dạy tại Phật học viện Hà Nội... Cũng như bao nhiêu thanh niên yêu nước lên đường chống giặc, ông gia nhập Hội Phật Giáo cứu quốc của Việt Minh do Thượng tọa Thích Mật Thể, một dân biểu Quốc hội cầm đầu, v́ đối với ông việc chống ngoại xâm giành độc lập cho Tổ quốc là lư tưởng cao cả mà lúc bấy giờ ông Hồ Chí Minh đang hô hào toàn dân chống thực dân Pháp, kẻ thù của dân tộc đang tái xâm lăng Việt Nam để thiết lập lại nền đô hộ.

Chiến sự tại Bắc Việt bùng nổ vào tháng Chạp năm 1946, Thượng tọa Trí Quang từ giă Hà Nội trở về miền Trung và đến Huế vào khoảng tháng 7 năm 1947, vào lúc quân đội Pháp đă đánh chiếm xong Huế và 4 tỉnh miền Trung. Về Huế, ông lại gia nhập Hội Phật Giáo Cứu Quốc để tiếp tục hoạt động cho Việt Minh nên bị Pháp nghi là cán bộ Cộng sản, v́ vậy ông bị bắt nhưng chỉ bị giữ độ 10 ngày. Được trả tự do, ông làm giảng sư cho Phật Học Viện Huế, được phép đi Đà Lạt để thuyết pháp và làm chủ nhiệm báo Viên Âm. Tuy vẫn bị Pháp kiểm soát nhưng đến 1952, ông được phép đi Nhật Bản dự Đại hội Phật giáo Thế giới 28 ngày. Năm 1953, biết ông là người tuy có tinh thần chống Pháp và thân kháng chiến nhưng không phải là đảng viên Cộng sản, sở Liêm Phóng Trung Việt băi bỏ lệnh kiểm soát nên từ đó Thượng tọa Trí Quang được tự do đi lại khắp nơi.

Thượng tọa Trí Quang là một tăng sĩ khắc khổ, đọc nhiều sách, thích chơi cờ tướng, và thích nhạc cổ điển Tây Phương. Qua những cuộc đàm thoại với ông hay qua những bài tham luận của ông về văn hóa, tôn giáo, lịch sử, triết lư đăng trên những tạp chí Phật giáo như Hải Triều Âm, Viên Âm v.v... giới trí thức miền Trung kính phục ông là người vừa uyên thâm lại vừa uyên bác. Nếu tôi nhớ không lầm th́ ông Nghiêm Xuân Hồng đă viết đâu đó những lời thán phục Thượng tọa Trí Quang đă dịch được tác phẩm “Lương Hoàng Sám”, một cuốn kinh rất phức tạp, khó dịch cả về nội dung lẫn văn từ, vốn được viết theo Đại tạng kinh nói về cuộc giải thoát tâm linh cho bà Hy Thị Hoàng Hậu vợ của vua Lương Vũ Đế (Tây lịch 502-549) do lớp cao tăng Trung Quốc lúc bấy giờ làm lễ sám hối cho Hy Thị được siêu thăng.

Năm 1954, khi đất nước chia đôi, gia đ́nh Thượng tọa Trí Quang cũng bị phân cách đôi miền. Thượng tọa và người em làm Hạ sĩ quan th́ ở miền Nam trong lúc thân mẫu và người em đi tu th́ ở lại miền Bắc. Thuộc thành phần tiểu tư sản có mấy mẫu tư điền, thân mẫu Thượng tọa bị Cộng sản đấu tố, giam cầm trong lúc người em tăng sĩ Thích Diệu Minh ở trong mặt trận Tổ Quốc của Việt Minh. Tháng 11 năm 1954 Thượng tọa Trí Quang bị chính quyền Ngô Đ́nh Diệm bắt giam mấy ngày v́ tội “có chân trong Phong trào Ḥa B́nh”.

Theo kư giả Jerrold Schecter th́ ngay từ khi ông Diệm vừa lên cầm quyền, Thượng tọa Trí Quang đă bày tỏ mối lo âu về tương lai của Phật giáo Việt Nam: “Cuộc sống dưới chế độ ông Diệm sẽ c̣n nguy hiểm và khó khăn hơn dưới thời Pháp thuộc, và chúng ta sẽ phải chịu đưng một thời kỳ đen tối nữa” [19]. Dù đă tiên đoán đúng tương lai đen tối của Phật giáo nhưng suốt 9 năm trời dưới chế độ Diệm, Thượng tọa cũng như Giáo hội Phật giáo miền Trung vẫn không dính dự vào một âm mưu hay sinh hoạt chính trị nào. Ngay cả những năm đầu của chế độ Diệm, lúc mà tất cả những tôn giáo (trừ Công giáo), đảng phái tại miền Nam đều chống lại ông Diệm làm cho địa vị ông Diệm lung lay, Phật giáo vẫn đứng ngoài mọi tranh chấp, chỉ lo hàn gắn những vết thương nội bộ do cuộc chiến Pháp - Việt 10 năm gây ra mà thôi. Năm 1957, nhân có lời mời tham dự hội chợ Thác Luông và Đại lễ Phật giáo của Hoàng Gia Lào, Chính phủ Ngô Đ́nh Diệm cử một phái đoàn thân hữu đi Luang Prabang. Phái đoàn do Bộ trưởng Thông tin Trần Chánh Thành cầm đầu với các ông dân biểu Nguyễn Phương Thiệp, đại diện Bộ văn hóa giáo dục ông Thái Văn Kiểm, đại diện Bộ Ngoại giao ông Hoàng Đại Sầm, c̣n về phía Phật giáo có các Thượng tọa Trí Thủ, Đôn Hậu, và Trí Quang. Suốt 9 năm sống dưới chế độ  Diệm tại Huế, Thượng tọa Trí Quang thỉnh thoảng có đến thăm ông Ngô Đ́nh Cẩn với tư cách đồng hương để gián tiếp tŕnh bày thái độ ôn ḥa nhẫn nhục của Phật giáo trước những áp bức của chính quyền như đă kể trong chương trước. Ông Ngô Đ́nh Cẩn thỉnh thoảng cũng đến chùa viếng thăm Thượng tọa. Những h́nh thức xă giao này phần nào giúp Thượng tọa tránh được những vu khống và xuyên tạc của nhóm Công giáo Cần Lao.

 

-o0o-

 

Tuy nhiên Cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng. Mặc dù Phật giáo đồ và Thượng tọa Trí Quang đă hết sức chịu đựng nhưng đến năm 1963, chính sách kỳ thị và áp bức của chế độ Diệm lên đến cao điểm, tham vọng trở thành Hồng Y của Giám mục Ngô Đ́nh Thục lên đến cực độ, chủ trương Công giáo hóa nhân dân miền Nam của anh em ông Diệm và nhóm Công giáo Cần Lao lên đến mức độ quyết liệt, ông Diệm ra lệnh cấm treo cờ Phật giáo mở đầu cho một biến cố làm rung chuyển miền Nam. Bị dồn vào chân tường, Phật giáo đồ và Thượng tọa Trí Quang buộc phải đấu tranh để giành quyền sống cho Giáo hội. Chính nghĩa đấu tranh của Phật giáo được dân cả nước ủng hộ mà ngay cả nhiều người Thiên Chúa giáo, cả Khâm mạng Ṭa Thánh La Mă tại Sài G̣n, cả Đức Giáo Hoàng cũng có cảm t́nh, lương tri nhân loại rúng động, thế mà ông Diệm lại gán cho phong trào đấu tranh của Phật giáo là phong trào Cộng sản lại c̣n tuyên bố “Cộng sản sắp tràn ngập Thủ đô” khi ông ra lệnh tấn công chùa chiền đêm 20 tháng 8. Ông Nhu th́ gán cho Thượng tọa Trí Quang âm mưu lật đổ chính quyền. Sau 1975, tại hải ngoại sách báo của giới Công giáo Cần Lao bày đặt ra đủ thứ chuyện để xuyên tạc Thượng tọa là cán bộ Cộng sản. Họ mượn cái dĩ văng của Thượng tọa hoạt động cho Việt Minh thời chiến tranh Pháp - Việt (1945-1954) để dẫn chứng ông là một đảng viên Cộng sản nằm vùng.

Năm 1945, Việt Minh cướp chính quyền, năm 1946 quân xâm lược Pháp trở lại đánh chiếm Việt Nam, ông Hồ Chí Minh kêu gọi toàn dân kháng chiến chống xâm lăng, lời kêu gọi trên dù với chiêu bài của một cuộc cách mạng dân tộc để che dấu cho cuộc cách mạng vô sản sau này, th́ ở vào thời điểm truân chuyên nghiêng ngửa đó của đất nước, vẫn đánh động được những tấm ḷng yêu nước thương ṇi của hàng hàng lớp lớp nhân dân, nhất là thành phần thanh niên, chủ lực thế hệ của dân tộc. Nông dân, thợ thuyền, tu sĩ, công chức, sinh viên, tiểu thương, quân nhân, trí thức,... già trẻ lớn bé đều đă đứng lên đáp lời sông núi, chống xâm lăng bảo vệ độc lập, th́ một thanh niên 24 tuổi như Thích Trí Quang, được nuôi dưỡng trong t́nh yêu của dân tộc và đạo pháp, trong niềm kiêu hănh của môn đồ Vạn Hạnh, Lư Thường Kiệt, Trần Quốc Toản, Trần Nhân Tôn, được hun đúc theo tinh thần Hội nghị Diên Hồng, cũng dấn thân theo kháng chiến là điều tất nhiên. Cũng như những thanh niên Phạm Duy, thanh niên Nguyễn Mạnh Côn, thanh niên Doăn Quốc Sỹ, và hàng triệu thanh niên khác đă lên đường theo kháng chiến. Vua Bảo Đại c̣n từ bỏ ngai vàng bệ ngọc nhường quyền cho Việt Minh, giám mục Lê Hữu Từ c̣n làm cố vấn tôn giáo cho Hồ Chí Minh, giáo chủ Huỳnh Phú Sổ c̣n vào bưng theo Việt Minh kháng chiến, văn hào Nguyễn Tường Tam c̣n làm Bộ trưởng Ngoại giao cho Việt Minh, lănh tụ Việt Nam Quốc Dân Đảng Vũ Hồng Khanh c̣n kư vào Hiệp ước Sơ bộ ngày 6 tháng 3 năm 1946 để cùng Việt Minh đánh Pháp... th́ tại sao Thượng tọa Trí Quang lại không theo Việt Minh? Tại miền Trung, nhà cách mạng Huỳnh Thúc Kháng làm Bộ trưởng Nội vụ cho Việt Minh, các nhân sĩ, trí thức tiếng tăm như Đào Duy Anh, Phan Khôi, Bùi Bằng Đoàn, Lê Đ́nh Thám, v.v... đều theo Việt Minh th́ tại sao người thanh niên Trí Quang lại không theo phong trào Việt Minh để kháng chiến? Điều quan trọng đáng nói là năm 1954, khi ranh giới Quốc Cộng đă được phân định rơ ràng th́ Thượng tọa Trí Quang cũng chấm dứt mọi hoạt động cho Việt Minh, và điều quan trọng đó nhóm Công giáo Cần Lao lại không nói đến.

Anh em ông Diệm và nhóm Công giáo Cần Lao không nói đến nhưng kư giả ngoại quốc đă nói đến, đă biết rơ lập trường của Phật giáo Việt Nam của Thượng tọa Trí Quang là lập trường chống Cộng:

“... Chính phủ Diệm lập đi lập lại rằng Phong trào đấu tranh của Phật giáo năm 1963 là phong trào của Cộng sản. Nhưng theo nghiên cứu của nhân viên cao cấp của chính quyền Hoa Kỳ th́ Trí Quang đă có liên hệ với Việt Minh, đă chống Pháp, và khi chống lại các Chính phủ miền Nam Việt Nam đă chống luôn cả Cộng sản. Chủ trương của Phật giáo là muốn tạo dựng một nước Việt Nam trung lập, họ đă chống lại sự chia cắt đất nước năm 1954 và tại miền Bắc, họ đă gặp nhiều khó khăn, họ không có cảm t́nh với Cộng sản” [20].

Người Việt miền Nam dưới hai chế độ Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Ḥa hễ ai nói tới “trung lập” và “ḥa b́nh” th́ bị chụp mũ Cộng sản. Những nhà lănh đạo miền Nam không ư thức được rằng chính Cộng sản Việt Nam mới là kẻ lo sợ một miền Nam “trung lập và ḥa b́nh”, nhất là một miền Nam gia nhập vào khối “phi liên kết”.

Huống chi, có riêng ǵ Phật giáo chủ trương “trung lập và ḥa b́nh” mà ngay cả Giáo chủ Cao Đài Phạm Công Tắc, sau khi đất nước chia đôi cũng chủ trương miền Nam “trung lập và ḥa b́nh”. Tôi tin rằng nhiều bậc cao niên của Cao Đài cũng như nhiều chính khách của miền Nam thời bấy giờ, c̣n sống sót tại hải ngoại cho đến ngày nay, cũng c̣n nhớ rằng Giáo chủ Phạm Công Tắc đă đ̣i hỏi Thủ tướng Ngô Đ́nh Diệm nên thực hiện chủ trương “trung lập và ḥa b́nh” để chống lại âm mưu thôn tính miền Nam của Cộng sản Bắc Việt.

Ngay cả ông Diệm sau khi bất đồng ư kiến với Cựu hoàng Bảo Đại tại Hồng Kông năm 1948 cũng đă chủ trương phải bắt tay với kháng chiến. Năm 1950, trên đường đi Mỹ, khi ghé qua Hồng Kông ông đă tuyên bố: “Chính phủ tương lai phải là Chính phủ gồm những người đang cầm súng kháng chiến”, như tôi đă nói trong một chương trước, vậy ông Diệm cũng thân Cộng hay sao?

Nhắc lại chủ trương “trung lập và ḥa b́nh”, tôi không khỏi nhớ đến Hội nghị Bandung:

Ngày 1 tháng 2 năm 1955, Thủ tướng Nam Dương nhân danh khối Colombo, đại diện Miến Điện, Tích Lan (Phật giáo), Ấn Độ (Ấn Độ giáo), Hồi Quốc (Hồi Quốc và Nam Dương đều theo Hồi giáo) mời một số quốc gia trong đó có cả miền Nam Việt Nam (mà không có Cộng sản Hà Nội) tham dự, mở màn cho việc thành lập “Khối Các Quốc gia Phi Liên Kết”, trung lập trong cuộc tranh chấp giữa Cộng sản và Tư bản. Đây là một nỗ lực nhằm tạo đoàn kết cho các quốc gia đệ tam (“chậm tiến”) thành một sức mạnh quốc tế để phá vỡ cái trật tự của gọng kềm “lưỡng cực Cộng sản, Tư bản” do Nga Xô và Hoa Kỳ áp đặt. Sự thành h́nh của nó là kết quả những vận động khó khăn kiên nhẫn của những chiến sỹ dày công tranh đấu cho ḥa b́nh như Nehru, Thủ tướng ấn Độ, như Tito, Quốc trưởng Nam Tư. Ngay cả Trung Cộng, một nước Cộng sản khổng lồ, nh́n được cái lợi thế chính trị của Khối Phi Liên Kết cũng phải t́m cách vào đứng chung với các tiểu quốc. Nước Miến Điện nhỏ bé và cô lập giữa vùng rừng núi cao nguyên đă nhờ ở trong Khối Phi Liên Kết và nhờ thế trung lập mà bên trong đă diệt trừ được Cộng sản Miến, bên ngoài lại được Trung Cộng (ngay cả dưới thời Mao Trạch Đông) phải tôn trọng nền độc lập, trung lập trọn vẹn. Ông U-Thant, một chính trị gia Miến Điện, giữ chức Tổng thư kư Tổ chức Liên Hiệp Quốc đến hai nhiệm kỳ.

Chủ trương Việt Nam trung lập phi liên kết là một sáng tạo chính trị tích cực và là một đóng góp quí giá của Phật giáo Việt Nam cho dân tộc trong cái viễn ảnh đó, tiếc thay cả hai ông Hồ và Ngô đều giáo điều và thiển cận nên không nh́n thấy được, do đó đă làm cho đất nước tang thương và dân tộc điêu linh măi cho đến ngày nay.

Năm 1955, Giáo sư Nguyễn Văn Thoại, Bộ trưởng Kinh tế, và tướng Tŕnh Minh Thế được cử đi tham dự Hội Nghị Bandung, nhưng đă không làm ǵ được ǵ v́ ngay từ gốc và từ đầu, ông Ngô Đ́nh Diệm đă tự nguyện đặt miền Nam nằm trong quỹ đạo của Hoa Kỳ rồi. Không đứng trong khối trung lập phi liên kết (trung lập mà vẫn có thể chống Nga Xô và nhận viện trợ Hoa Kỳ như Nam Tư của Tito, hay vẫn được Mỹ ủng hộ và hoà hoăn với Trung Cộng như Miến Điện) cho nên suốt hai mươi năm chống Cộng, miền Nam Việt Nam đă không được khối đông đảo “phi liên kết” hậu thuẫn, mà lại c̣n bị các nước Bắc Âu tẩy chay.

Đau đớn nh́n lại lịch sử, nếu miền Nam Việt Nam sau Hiệp định Genève 1954 biết chọn con đường trung lập như khát vọng của Phật giáo, th́ biết đâu tháng tư 1975 đă không xảy ra để rồi khi mất nước vào tay Cộng sản, lưu vong nơi xứ người, nhiều chính khách, lănh tụ, tướng tá, trí thức, cả già lẫn trẻ mong cầu Việt Nam sau khi được giải thoát khỏi chế độ Cộng sản sẽ là một quốc gia trung lập.

 

Trở lại với cuộc đấu tranh Phật giáo năm 1963, một cuộc đấu tranh có tính cách nhân dân mà Việt Cộng đang t́m cách tranh giành ảnh hưởng, cấp lănh đạo Phật giáo đă phải làm sáng tỏ lập trường của ḿnh, một mặt để tránh t́nh trạng lợi dụng của Việt Cộng, mặt khác để tránh sự xuyên tạc của chính quyền.

Trước hết là lập trường của Thượng tọa Thích Hộ Giác, một chức sắc cao cấp của Giáo hội. Kư giả Jerrold Schecter trong tác phẩm New Face of Buddha kể lại rằng:

Thượng Tọa Hộ Giác nguyên là con trai của một thương gia giàu có tại miền Nam, ông ta lên Phnom Penh sống với thân phụ. Mới sáu tuổi ông đă vào chùa tu học, đến năm 1958, ông trở thành một tăng sĩ. Trở về Việt Nam và chu du khắp vùng Phật giáo nguyên thủy (Therevada) gần biên giới Việt-Miên để hô hào lôi kéo Phật tử ủng hộ Chính phủ Ngô Đ́nh Diệm. Nhưng đến năm 1963, khi biến cố Phật giáo xảy ra, ông ta theo phong trào tranh đấu để chống lại chế độ Ngô Đ́nh Diệm. Ông ta đă hết sức bất măn v́ những lời xuyên tạc Phật giáo là Cộng sản hay cho rằng Phật giáo đă giúp đỡ Cộng sản. Ông ta đă nói: “Tây phương và Hoa Kỳ không hiểu ǵ về Phật giáo cả v́ thế mới nẩy ra tâm lư chủ bại tại Việt Nam. Người Hoa Kỳ đă nghĩ rằng Phật giáo thân Cộng sản, giúp đỡ cho Cộng sản. Trái lại Phật giáo đă đổ ra không biết bao xương máu mà vẫn bị Chính phủ phản bội. Nên nhớ rằng 80% binh sĩ trong quân đội đều theo đạo Phật và nếu người Mỹ muốn có mặt tại miền Nam, họ phải chấp nhận Phật giáo là chủ lực căn bản tại xứ này. Họ phải thành thực giúp đỡ cho Phật giáo”. Thượng Tọa Hộ Giác c̣n nói rằng: “Phật tử với nhân dân Việt Nam là một. Nguyện vọng của nhân dân cũng là nguyện vọng của người Phật tử”.

(Ghi chú của kư giả Jerrold Schecter: “Trong số 16 triệu dân Việt Nam có 12 triệu Phật tử thật sự hay chỉ thờ Phật. Khoảng chừng 2 triệu trong số 12 triệu đó thuộc về phái Therevada, số c̣n lại thờ Phật giáo Bắc tông và những người theo “Tam giáo Đồng Nguyên”). Nêu trường hợp Thượng tọa Hộ Giác ra là chỉ muốn nêu trường hợp một tăng sĩ cao cấp đă hết ḷng ủng hộ chế độ Diệm mà cuối cùng đành phải đấu tranh chống lại chính sách kỳ thị tôn giáo của chế độ đó. Thật ra, như hàng triệu Phật tử Việt Nam đều biết rằng toàn thể tăng sĩ Phật giáo có ai theo Cộng sản đâu (trừ vài vị sư không tên tuổi bị Cộng sản lợi dụng).

Ngoài kư giả Jerrold Schecter (kư giả chuyên nghiên cứu về đạo Phật) kư giả Stanley Karnow cũng chứng minh Phật giáo Việt Nam không có một liên hệ nào với Cộng sản cả. Karnow viết rằng:

Trong biến cố Phật giáo, chế độ Diệm cho rằng toàn thể nội vụ đều do bàn tay của Cộng sản, dù một bác sĩ tiếng tăm khi khám nghiệm thân thể các nạn nhân của vụ lựu đạn nổ tại Đài Phát thanh Huế, công nhận lời tố cáo của Phật giáo là đúng, nhưng Chính phủ Diệm đă gạt bỏ tờ tŕnh đó. Phật giáo cũng yêu cầu Chính phủ trừng trị kẻ đă gây ra vụ đổ máu, nhưng Chính phủ Diệm cũng không đếm xỉa ǵ đến lời yêu cầu đó.

Bây giờ th́ Phật giáo phải tranh đấu, với thời gian ngắn ngủi mà họ đă thu lượm được kết quả tuyệt diệu. Phật giáo không có liên hệ ǵ với Cộng sản hết nhưng họ đă dùng kỹ thuật như kỹ thuật của Cộng sản. Họ tổ chức những tổ tam chế, thiết lập các bộ chỉ huy tại các chùa, rải truyền đơn, treo biểu ngữ, và nhiều h́nh thức tuyên truyền khác. Họ vận động gia đ́nh binh sĩ và công chức để lôi kéo những thành phần này đứng vào hàng ngũ đấu tranh của Phật giáo, v.v...[21].

Rất nhiều kư giả quốc tế khác cũng cùng một nhận định như Karnow.

Trong lúc đó th́ chính quyền Kennedy dựa vào bản phúc tŕnh của t́nh báo Mỹ, biết Phật giáo không phải là Cộng sản nên đă cố gắng khuyến cáo Tổng thống Diệm nên thỏa hiệp với Phật giáo để công cuộc chống Cộng khỏi bị ngừng trệ, nếu không th́ miền Nam sẽ vô cùng bất ổn. Tờ tŕnh của t́nh báo Mỹ ngày 10 tháng 7 năm 1963 đă nghiên cứu và phân tách rơ ràng qua 3 nhận định chiến lược sau đây [22]:

A. Biến cố Phật giáo tại Việt Nam đă làm nổi bật và gia tăng nỗi bất măn lâu dài và sâu rộng của dân chúng đối với ông Diệm và cung cách cai trị của ông ta. Nếu ông Diệm không chịu thành thực và mau chóng giải quyết vụ Phật giáo th́ t́nh h́nh trở nên vô cùng bất ổn, một cuộc ám sát hoặc một cuộc đảo chánh sẽ có thể xảy ra dễ dàng hơn bao giờ hết.

B. V́ biến cố Phật giáo mà Chính phủ Diệm đă làm cho sự hiện diện và sự tham chiến của Mỹ tại miền Nam Việt Nam mất chính nghĩa. T́nh trạng này buộc Hoa Kỳ phải giảm bớt mức độ hiện diện tại miền Nam trong tương lai.

C. Rơ ràng cho đến bây giờ, Phật giáo chưa bị Cộng sản lợi dụng và khai thác, và biến cố Phật giáo chưa có một hậu quả nào có lợi cho hoạt động phiến loạn của “Mặt trận Giải phóng miền Nam”. Chúng tôi không tin rằng ông Diệm sẽ bị lật đổ bởi Cộng sản. Và chúng tôi cũng không tin rằng Cộng sản cần lợi dụng biến cố Phật giáo nếu ông Diệm bị lật đổ bởi những phần tử đối lập không Cộng sản... Một chế độ không Cộng sản nối tiếp chế độ Diệm lúc đầu sẽ thiếu hiệu năng chống Cộng, nhưng nếu được Hoa Kỳ tiếp tục ủng hộ và xây dựng một sự lănh đạo có khả năng th́ có thể có một chính phủ tốt [23].

Nêu lên một số nhận định và phúc tŕnh đó là để thấy Phật giáo Việt Nam không phải là một tổ chức thân Cộng. Chính nghĩa đấu tranh chống bạo quyền của Phật giáo được dân cả nước (trừ Cần Lao Công giáo và Cộng sản) yểm trợ, được cả thế giới tự do biểu đồng t́nh, thế mà anh em ông Diệm cứ một mực gán cho Phật giáo là Cộng sản. Thậm chí sau năm 1975, ra nước ngoài, báo chí Cần Lao Công giáo c̣n xuyên tạc phỉ báng hành động tự thiêu của Ḥa thượng Thích Quảng Đức. Họ bảo rằng Ḥa Thượng đă bị tiêm thuốc cho chết cứng rồi bị đẩy ra làm mồi cho ngọn lửa. May mà hành động tự thiêu hào hùng của Ngài được hàng chục kư giả ngoại quốc (vốn đă được Phật giáo bí mật thông báo cho biết trước) để đến quay phim, chụp h́nh, viết tường tŕnh tả rơ cảnh tự thiêu để cả thế giới nhận biết sự thật. Cuộc tự thiêu vĩ đại này làm rúng động con tim nhân loại cũng đă được một nhân chứng là ông Huỳnh Văn Hải (hiện sống ở San Jose, California) người tưới xăng vào thân thể Ḥa thượng kể lại từng chi tiết trên nguyệt san Chấn Hưng (xuất bản tại Los Angeles số 4 ngày 8-8-1978).

Một sự kiện lịch sử công khai, minh bạch như thế mà những tay chân nhà Ngô c̣n dám đổi trắng thay đen th́ c̣n biết bao nhiêu chuyện khác họ đă xuyên tạc sự thật hầu che lấp tội ác của Ngô triều và của họ.

Bài thơ “Lửa Từ bi” của Thi hào Vũ Hoàng Chương mà tôi trích lại một phần sau đây ca ngợi vụ tự thiêu lịch sử đó đă nói lên cái tinh thần Ḥa và Hóa của đạo Phật:

... Người siêu thăng giông băo lắng từ đây.

Bóng Người vượt chín từng mây,

Nhân gian mát rượi bóng cây Bồ Đề.

Ngọc hay đá tượng chẳng cần ai tạc,

Lụa hay tre nào khiến bút ai ghi,

Chỗ Người ngồi một thiên thu tuyệt tác,

Trong vô h́nh sáng chói nét Từ Bi.

...

Ôi ngọn lửa huyền vi!

Thế giới ba ngh́n phút giây ngơ ngác,

Từ cơi vô minh hướng về cực lạc;

Vần điệu của thi nhân chỉ c̣n là rơm rác,

Và chỉ nguyện được là rơm rác,

Thơ cháy lên theo với lời Kinh,

Tụng cho Nhân loại ḥa b́nh,

Trước sau bền vững t́nh Huynh Đệ này.

 

Vũ Hoàng Chương

(Sài G̣n tháng 5, Phật Lịch 2507)

Ôi! Ngọn lửa huyền vi của Bồ tát Thích Quảng Đức và lời thơ hùng tráng của thi hào Vũ Hoàng Chương làm xúc động nhân gian thế mà không cảm hóa nổi ḷng dạ của những con người vốn là hậu duệ của Vua Constantin, của Pigneau de Béhaine, Alexandre de Rhodes, Puginier,...

Nhớ đến bài thơ của Vũ Hoàng Chương, tôi không quên nhắc lại cuốn sách “Những Bí ẩn Về cái chết của Việt Nam” của ông Phạm Kim Vinh, cuốn sách đă được các ông Đào Sĩ Phu và Vơ Phiến nghiêm khắc phê phán [24].

Qua tác phẩm “Những Bí ẩn Về cái chết của Việt Nam”, tôi nhận thấy ông Phạm Kim Vinh đă không biết rơ về Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm cũng như về Thượng tọa Trí Quang, thế mà ông lại hết lời ca tụng ông Diệm cũng như nặng lời mạt sát Thượng tọa Trí Quang. Để bênh vực ông Diệm, tác giả Phạm Kim Vinh bảo rằng: “Phật giáo làm hại ông Diệm v́ chống đối ông quá” (trang 82). Nhưng sau đó Phạm Kim Vinh sớm tỉnh ngộ để sửa chữa lại những sai lầm do ông đă nêu lên trong tác phẩm sử đầu tay của ông viết tại Hoa Kỳ.

Trước hết ông đă mượn đề tài Tưởng niệm Vũ Hoàng Chương để lên án chế độ Ngô Đ́nh Diệm:

Sau Vân Muội, giới yêu thơ c̣n có dịp thưởng thức những thi phẩm xuất sắc khác của Vũ Hoàng Chương như Mây, Say, Rừng PhongTâm Sự Kẻ Sang Tần. Với thời gian, thi phẩm của họ Vũ đă đưa ông tới chỗ đứng rất cao trong giới làm thơ và xứng đáng được thế hệ thi sĩ trẻ xưng tụng là đàn anh.

Với vóc dáng thư sinh, ngôn ngữ rất ôn ḥa, với nhiều thi phẩm lăng mạn ít ai hiểu được rằng bên trong nhà thơ ấy đă nung nấu một ngọn lửa quyết liệt chống lại mọi h́nh thức bạo lực và bạo quyền. Năm 1963 bài thơ “Lửa Từ Bi” bắt đầu mang đến cho Vũ Hoàng Chương những sự trả thù hằn học của Ngô triều v́ bài thơ ấy đă lên tiếng khẳng khái chống đối sự đàn áp tôn giáo. Nhưng sự trả thù ấy chỉ làm cho uy tín của họ Vũ tăng lên và tâm hồn của ông do đó càng thêm cao cả [25].

Chẳng những lên án chế độ Ngô triều là chế độ bạo lực, bạo quyền, ông Phạm Kim Vinh c̣n “đạp” ông Ngô Đ́nh Diệm xuống tận bùn dơ qua tác phẩm Lịch sử Chiến đấu của Quân lực Việt Nam Cộng Ḥa.. Với tác phẩm này, Phạm Kim Vinh đă không tiếc lời miệt thị ông Diệm, nào là “bất tài bất trí”, nào là “ngu xuẩn, thiển cận, bè phái, kỳ thị”, nào là “thưởng phạt bất minh”, nào là “dùng quân đội cốt để bảo vệ cái ghế Tổng thống trước đă”, nào là “coi binh lính như thời phong kiến” để rồi cuối cùng kết tội ông Diệm đă làm sa sút tinh thần quân đội để cho Việt Cộng tạo được chiến thắng. Ông Phạm Kim Vinh cũng không quên lên án ông Diệm đă nh́n vấn đề chống Cộng tại Việt Nam như là vấn đề của riêng gia đ́nh họ Ngô. Ông Phạm Kim Vinh c̣n kết án ông Diệm rất nặng nề qua trận thảm bại “Ấp Bắc” đầu năm 1963:

Dù nào đi nữa th́ đường lối cai trị của ông ta đă tạo điều kiện cho thế giới bên ngoài coi rẻ sự hy sinh của quân lực Việt Nam Cộng Ḥa. Trận Ấp Bắc chỉ là một trong nhiều trận đánh đó, Quân lực Việt Nam Cộng Ḥa tiếp tục xả thân chiến đấu trong khi những kẻ lănh đạo ngồi tại Sài G̣n v́ ngu xuẩn và v́ chỉ nghĩ đến quyền lợi vị kỷ thấp hèn, đă triệt tiêu mất các kết quả của bao nhiều xương máu và hy sinh của quân lực ấy mới tạo nên được sau những tháng năm chiến đấu gian khổ [26].

Thế là ông Phạm Kim Vinh đă công nhận cuộc đấu tranh của Phật giáo năm 1963 là một cuộc đấu tranh chống bạo lực và bạo quyền, và kết tội ông Diệm là phong kiến, gia đ́nh trị, đảng trị, tham nhũng, thối nát,... Cung cách cai trị của ông Diệm đă làm cho thế giới khinh bỉ và đem thắng lợi cho Cộng sản.

-o0o-

Phật giáo có tính dân tộc và cách mạng v́ Phật giáo là một tôn giáo sinh động, thực tiễn và khoa học. Phật giáo là một tôn giáo để sống chứ không phải để tin. Đạo Phật đề nghị một con đường tâm linh nhằm đối trị những đau khổ, nhục nhằn, xót xa của con người. Biểu đồ cuộc hành tŕnh đầu tiên của Phật giáo là một đường thẳng mà gốc khởi hành là một ngai vàng lộng lẫy, quyền uy, sang trọng, mà điểm đến là đám cùng dân với đôi chân trần thuộc giai cấp hạ tiện nhất của xă hội Ấn Độ, chứ không phải ngược lại.

Biết bao nhiêu bậc khoa giáp, sĩ phu, nhà cách mạng Việt Nam đă ca ngợi đạo Phật. Vào thời cận đại, những trí thức, học giả mà tên tuổi, tiếng tăm vang dội khắp quê hương như các ông Trần Văn Giáp, Trần Trọng Kim, Nguyễn Trọng Thuật, Nguyễn Đổng Chi, Lê Đ́nh Thám, Đào Trinh Nhất, Phạm Quỳnh, Phan Văn Hùm, Huỳnh Phú Sổ, Lư Đông A, Đào Duy Anh, Thu Giang Nguyễn Duy Cần, Hoàng Xuân Hăn,... đă tôn vinh đạo Phật. Gần đây, nhà viết sử Lê Văn Siêu, một nhà văn mà giới trí thức, văn nghệ sĩ Việt Nam vào những thập niên từ 1940 đến 1970 không mấy ai không biết tiếng, đă tŕnh bày cái đại hạnh do Phật giáo đem đến cho dân tộc Việt trong tác phẩm của ông:

Người Giao Châu đă đến với đạo Phật không bằng tuệ giác mà bằng t́nh cảm. Hay nói ngược lại cũng vậy, đạo Phật đă bắt rễ trong ḷng người Giao Châu hơn là vào trong óc.

Do đó, ta có thể nói mà không sợ bị cải chính là khi đạo Phật vào Giao Châu, không những nền đạo lư ấy đă thành đạo giáo của xứ sở Giao Châu mà cả Đức Phật nữa, cũng lại là Đức Phật của dân Giao Châu nốt. Gia dĩ tinh thần bao dung của đạo Phật lại rộng lắm, không hề có ǵ ràng buộc người tín đồ là hễ đă theo Ta th́ không được theo ǵ khác Ta nữa, hoặc những thể cách này mới đúng theo ư muốn của Ta, c̣n thể khác là không đúng, mà đúng th́ mới được vào niết bàn, c̣n không đúng th́ phải vào địa ngục.

Một thái độ sống đặc biệt của người Giao Châu vừa do hoàn cảnh xă hội quy định sẵn, lại vừa do chính sự tu Phật nêu gương thật đă đáng để lưu ư, ấy là thái độ trọng điều lễ nghĩa, liêm sỉ hơn quyền lợi, vật chất, trọng cái t́nh của con người đối xử với nhau hơn cái lư quay quắt đè hầu bóp cổ nhau.

Đạo Phật vào Giao Châu đă là một điều đại hạnh cho dân tộc Việt Nam vậy [27].

Ngoài ra, ánh sáng nhân bản và trí tuệ của đạo Phật c̣n càng ngày càng được các nhà bác học, triết gia, học giả thế giới, và cả những nhà tu hành Thiên Chúa giáo tôn vinh giáo lư và chủ trương Từ Bi, Ḥa B́nh của đạo Phật.

Học giả Michael H. Hart trong tác phẩm sắp hạng 100 nhân vật ảnh hưởng nhất thế giới viết rằng:

Đạo Phật hơn xa đạo Thiên Chúa và đạo Hồi về yếu tính hiếu ḥa. Khuynh hướng thiên về chủ trương bất bạo động đă giữ một vai tṛ đầy ư nghĩa trong lịch sử chính trị của các quốc gia theo đạo Phật.

Trong khi đạo Phật cũng có nhiều hệ phái với nhiều dị biệt lớn lao, nhưng lịch sử đạo Phật không có một biến cố nào có thể so sánh được với những cuộc thánh chiến đẫm máu như đă xảy ra ở Âu Châu của đạo Thiên Chúa. Ít nhất là trên phương diện này, những lời dạy của Đức Phật tỏ ra có ảnh hưởng trên Phật tử sâu xa hơn ảnh hưởng của những lời dạy của Đức Chúa trên các con chiên [28].

Triết gia Thiên Chúa giáo Young trong phần kết luận của bài đề tựa cho cuốn Dẫn nhập vào Phật giáo Thiền của học giả Nhật Bản Suzuki đă viết:

Tôi cảm thấy có trách nhiệm phụ chỉ người Tây phương lối vào con đường (ĐẠO) thâm sâu hơn hết tất cả mọi con đường để dẫn đến sự giác ngộ [29].

Ngay cả Linh mục H.M. Lasalle thuộc Ḍng Tên (trong Chemin de L’Illumination, DDB, 1965, trang 8) cũng đă không ngừng kêu gọi sự cảnh tỉnh của thế giới Tây Phương:

Tây phương sau khi đă thông truyền cho Đông phương những chinh phục được trong lănh vực khoa học và kỹ thuật, giờ đây lại phải quay về với Đông phương để cầu cứu. Phải nói rằng, trong thế giới Đông phương đă có biết bao nhiêu phương tiện giúp đạt tới sự b́nh an cho tâm hồn mà Tây phương vẫn mù tịt [30].

Càng ngày những nhà khoa học, triết gia, học giả, nhà tôn giáo càng biết ưu tư v́ một thế giới mà trong tương lai có thể bị hủy diệt bởi những khí giới giết người kinh khủng. Do đó, họ càng hướng về đạo Phật mà chân lư có thể khai ngộ cho nhân loại và giải thoát được viễn ảnh đen tối đó.

Nhưng anh em ông Diệm lại không thấy cái ánh sáng chân lư đó mà chỉ biết noi gương Hoàng đế Constantin, vị Hoàng đế đă dùng bạo lực để mở mang nước Chúa, để mở rộng đế quốc Công giáo La Mă. Ta hăy nghe lời ta thán của ông Lư Chánh Trung, một trí thức Công giáo về chủ trương của Hoàng đế Constantin mà anh em ông Diệm đă là những hậu duệ trung thành nhất:

... Lẽ dĩ nhiên, cứu cánh tối hậu này là mở mang nước Chúa, nhưng sự “mở mang nước Chúa” đôi khi đi ngược lại quyền lợi một số dân tộc. Chẳng hạn từ thời Phục hưng cho tới những năm gần đây, chính sách của Vatican trên căn bản vẫn là cấu kết với những cường quốc Tây phương theo gót những đoàn quân viễn chinh để giảng đạo, và trong các nước thuộc địa, biến các giáo hội bản xứ thành những rường cột của chế độ thực dân.

Thứ đến, Phật giáo đă được truyền bá như một tôn giáo thuần túy, không pha lẫn với một trào lưu chính trị nào, cũng không có một tổ chức quốc tế rơ rệt nên đă không gây nên những hiểu lầm đáng tiếc như Công giáo.

Trong giáo hội Công giáo th́ trái lại, khuynh hướng đóng kín và tự măn hiện diện ngay trên b́nh diện tập thể và giáo hội tự ư thức ḿnh như một dân tộc được Thiên Chúa chọn lựa giao phó cho sứ mạng cứu rỗi nhân loại. Giáo hội là con đường độc nhất đưa tới Thiên Chúa: “Ngoài Giáo hội không thể có sự cứu rỗi” (Hors de l’Eglise, Point de Salut). Từ khi giáo hội thành Quốc giáo dưới triều đại Constantin và nắm được những thế lực lớn lao th́ “cây gươm tinh thần” của thánh Phao Lồ đă luôn luôn bị cám dỗ, đă biến thành cây gươm thép thật sự. Giáo hội đă không ngần ngại dùng đến thế lực để tiêu diệt các tôn giáo khác, đập phá các đền thờ “tà thần”, đốt sách vở ngoại đạo và đốt luôn những người bị xem là “lạc đạo” nếu không chịu sửa sai. Trong xă hội loài người, giáo hội không bao giờ chịu công nhận cho các tôn giáo khác hoặc cho những người không Công giáo cái quyền ăn nói ngang hàng với ḿnh bởi cái lư do giản dị là chỉ giáo hội mới có sự thật, mới có quyền ăn nói. Đức Giáo Hoàng Gregoire XVI đă gọi “tự do báo chí” là “tự do tai hại nhất, đáng ghét nhất, kinh tởm nhất” mà một số người dám đ̣i hỏi một cách ồn ào cuồng nhiệt và quảng bá khắp mọi nơi.

Tôi nghĩ rằng chính sự bất khoan dung đó (và nhiều lư do khác) đă khiến cho Giáo hội va chạm một cách nặng nề với các dân tộc Á Đông và đă không mỹ măn trong việc rao giảng tin mừng trong vùng này. Sau bốn thế kỷ giảng đạo với những phương tiện hùng hậu, những hy sinh lớn lao, phải nhận rằng số người Á Đông theo đạo Công giáo thật là ít ỏi ngoại trừ tại xứ Phi Luật Tân. (Đó là chỉ mới nh́n đến số lượng. Nếu nh́n đến phẩm lượng “qualité” th́ có lẽ kết quả c̣n khiêm tốn hơn nữa: chưa có một Giáo hội Á Đông nào sản xuất được một vị thánh, và tŕnh độ đạo đức trung b́nh của người Thiên Chúa giáo Á Đông không có ǵ gọi là “cao” hơn những người không Thiên Chúa giáo). Lư do căn bản của kết quả khiêm tốn ấy phải chăng là v́ người Á Đông khi theo Đạo đă phải ly cách cộng đồng Dân Tộc. Chính v́ Giáo Hội đă xem các nền văn hóa Á Đông là vô giá trị, sai lầm, tội lỗi do đó gần như bắt buộc người Á Đông phải lựa chọn giữa dân tộc và giáo hội [31].

Trước Lư Chánh Trung, học giả Đào Duy Anh cũng nói đến thái độ của người Việt dân tộc khó có thể chấp nhận ” Thiên Chúa giáo” dù người Việt vốn là một dân tộc ḥa hài, vốn đă mở rộng ṿng tay đón chào những tôn giáo, tín ngưỡng xa lạ từ thế kỷ 16, 17. Ông Đào Duy Anh viết rằng:

Lấy số một triệu rưỡi tín đồ Cơ Đốc giáo mà so với dân số hơn 20 triệu th́ ta thấy ảnh hưởng của Cơ Đốc giáo ở nước ta cũng không mạnh lắm. Thực ra th́ dân ta phần nhiều cho rằng Cơ Đốc giáo không thừa  nhận sự sùng bái tổ tiên là trái với luân lư và văn hóa cố hữu của ta, cho nên đem ḷng kỳ thị. Trong số người theo Cơ Đốc giáo, một phần rất lớn là v́ lợi mà theo chứ không phải v́ tín ngưỡng sâu xa, cho nên ta có thể nói rằng ảnh hưởng tinh thần của Cơ Đốc giáo đối với dân ta lại c̣n ít hơn những thành tích thực hiện được [32].

Xin lưu ư rằng những con số ông Đào Duy Anh đưa ra là vào thời kỳ 1938. Nhưng cho đến năm 1965, nghĩa là gần 30 năm sau, mặc dù chế độ Diệm ép buộc dân chúng miền Nam theo Công giáo, thế mà cả hai miền Nam Bắc vẫn chỉ có trên hai triệu ba trăm ngàn giáo dân trong tổng số gần năm mươi triệu dân Việt Nam mà thôi [33].

Cũng v́ người Việt gắn bó với truyền thống dân tộc, thắm thiết với t́nh tự quê hương cho nên dù các giáo sĩ ngoại quốc đă dùng đủ thứ phương tiên, biện pháp như súng đạn, thế lực, tiền bạc để hăm dọa, mua chuộc, dụ dỗ mong cầu biến Việt Nam thành một tỉnh, quận của nước Pháp “fille ainée de l’Eglise Catholique” mà vẫn không thành công.

Tiếc thay, anh em ông Diệm đă không chịu nh́n cái gương tầy liếp ấy lại vẫn đi theo con đường của Constantin, của Gregoire XVI để mua lấy cái chết thảm nhục.

Chủ trương triệt hạ Phật giáo, anh em ông Diệm hướng về ba mục tiêu rơ rệt:

- Trả thù các phong trào Cần Vương, phong trào “B́nh Tây - Sát Tả” và chính sách cấm đạo của các vua nhà Nguyễn thế kỷ 19.

- Cùng với việc dồn dân vào ấp Chiến lược, nâng mức độ Công giáo hóa nhân dân miền Nam vào giai đoạn quyết định, nếu đè bẹp được cuộc đấu tranh của Phật giáo.

- Vô hiệu hóa một lực lượng chống Cộng có đa số nhân dân để dễ dàng thỏa hiệp với Cộng sản, việc mà tôi sẽ nói tới trong chương sau.

Chủ trương của nhà Ngô chẳng những là một tội ác đối với dân tộc mà c̣n là hành động đi ngược ḍng lịch sử, kéo nhân dân Việt Nam trở về thời Trung Cổ lạc hậu. Anh em nhà Ngô lại c̣n không nhận ra rằng nước Chúa đang mỗi ngày mỗi thu hẹp và tín đồ khắp thế giới mỗi ngày mỗi quay lưng ngoảnh mặt với Giáo hội Vatican để hướng về cuộc sống nhân bản, khai phóng, tiến bộ hơn.

Sách lược đàn áp, khủng bố Phật giáo tại Việt Nam vào năm 1963 của chế độ Công giáo trị Ngô Đ́nh Diệm nhắc nhở tôi nhớ lại biến cố tàn sát, triệt hạ đạo Tin Lành của Công giáo Pháp vào cuối thế kỷ thứ 17. Ngày 17 tháng 10 năm 1685, vua Louis XIV đă kư một đạo luật đặt đạo Tin Lành ra ngoài ṿng pháp luật. Kể từ đó, lính của nhà vua và những người Công giáo Pháp triệt phá các nhà thờ Tin Lành, lùng bắt các mục sư và tín đồ Tin Lành để giam cầm và sát hại. Từ 250 ngàn người đến 400 ngàn người Tin Lành phải bỏ nước ra đi để lánh nạn, số c̣n lại bị tù đày, bị giết chết, hay bị bắt làm nô lệ. Cũng từ đó, nhân loại lên án tội ác của vua Louis XIV, c̣n các sử gia Pháp gọi hành động bạo ngược của nhà vua là làm nhục quốc thể. Và cũng từ đó, đạo Tin Lành khắp thế giới mỗi ngày một bành trướng phát triển mạnh lớn thêm, tín đồ đạo Cơ Đốc giáo bỏ đạo cũ để theo đạo Tin Lành đông hơn.

 

-o0o-

 

Biến cố Phật giáo vào những tháng mùa Thu năm 1963 đă để lại những ấn tượng sâu xa trong tâm hồn tôi. Báo cáo của các Ty, Sở An Ninh Quân Đội của khắp bốn Quân khu gửi về đều nhấn mạnh đến t́nh trạng suy sụp tinh thần của quân nhân các cấp. Riêng Quân khu I th́ đa số sĩ quan đều trực tiếp hay gián tiếp yểm trợ cho phong trào đấu tranh của Phật giáo, chống đối Chính phủ. Tuy nhiên, nhờ quân đội vốn có truyền thống tôn trọng kỷ luật cho nên đến tháng Tám chưa có mâu thuẫn nào công khai nổ thành bạo lực. Dù vậy, t́nh trạng quân đội như những đợt sóng ngầm chỉ chờ cơ hội thuận tiện để biến thành những ngọn sóng thần làm tan vỡ chế độ.

Những đêm khuya khó ngủ, tôi bắc ghế bố ra sân nằm nh́n những v́ sao băng rơi rụng mà suy nghĩ về tương lai của chế độ, tương lai của đất nước nếu t́nh trạng mâu thuẫn giữa chính quyền và nhân dân cứ theo đà này gia tăng. Tôi cũng hồi tưởng ông Diệm và tôi từ 1942 cho đến bây giờ; hồi tưởng trong sáng suốt của một người phân vân trước một quyết định sinh tử, hồi tưởng trong tự do của một người hiểu rơ bổn phận và trách nhiệm của ḿnh đối với Tổ quốc và dân tộc, hồi tưởng trong tư thế của một người mang lư tưởng chống Cộng để bảo vệ tự do và nhân phẩm.

Những biến động dồn dập ban ngày của biến cố Phật giáo vẫn c̣n dư âm làm sôi động sự yên tĩnh của đêm giới nghiêm chập chờn. Tôi hồi tưởng lại quá khứ từ năm 1942, ngày mà tôi theo ông Diệm hoạt động cách mạng, ngày mà tôi chưa có kinh nghiệm đấu tranh với mớ ư thức chính trị c̣n non kém, ngày mà tôi chưa am hiểu sâu sắc những bí ẩn lịch sử cận đại, chưa nhận biết rơ ràng về bản chất người Công giáo, về xuất xứ ông Diệm và ḍng họ ông. Lúc bấy giờ, hành trang của tôi vỏn vẹn chỉ có chút t́nh tự với quê hương dân tộc, chỉ có ḷng hăng say của người thanh niên đầy bầu máu nóng, tôi nh́n thấy nơi ông Diệm là một bậc quân tử, là một nhà ái quốc đạo đức và liêm chính. Phải sống vào thời kỳ 1930-1940, thời vàng son của quan lại Nam triều mới nhận thấy việc ông từ bỏ địa vị Thượng thư đầu Triều là thái độ của kẻ sĩ gương mẫu. Từ đó tôi một ḷng kính trọng ông, ngưỡng mộ ông như một lănh tụ, như một vị thầy, đến độ đă có nhiều lúc tôi phải dùng cái nghĩa thầy tṛ để biện minh và bênh vực những tội lỗi của ông, nhất là từ năm 1960 trở về sau.

Nhưng giờ đây th́ những h́nh ảnh dă man tàn bạo của một cuốn phim thời trung cổ hiện rơ trước mắt tôi. Tôi nh́n thấy anh em ông Diệm, trong suốt chín năm qua, chẳng những là hạng người không có tài năng mà cũng chẳng có đạo đức. Đă thế họ lại chối bỏ Quốc tổ Hùng Vương, khinh mạn anh hùng liệt nữ, họ c̣n có chủ trương tiêu diệt truyền thống tốt đẹp của cha ông, tiêu diệt nền văn hóa đặc thù của dân tộc. Tôi nh́n thấy họ chỉ lo triệt hạ các tôn giáo, đảng phái và những người yêu nước đối lập với họ để phục vụ cho quyền lợi gia đ́nh, phe nhóm và giáo hội La Mă mà thôi. Tôi nh́n thấy anh em ông Diệm chỉ là hiện thân rơ rệt của Vua Constantin, Vua Louis 14, của Alexandre de Rhodes, Pigneau de Béhaine; họ và nhóm Công giáo Cần Lao phe đảng của họ như những kẻ ngoại quốc sống trên quê hương ḿnh, như kẻ ngoại nhân đến đô hộ dân ḿnh, nước ḿnh, đô hộ với một chính sách hà khắc không một chút ḷng trắc ẩn đối với dân bản xứ.

Ḷng tôi xao xuyến và dao động, tôi cố suy nghĩ kỹ càng hơn về lời dạy của Đức Thế tôn:

“Hăy nghe đây thôn dân Kalama, đừng bao giờ để sa đắm theo các liên hệ, theo các tập tục hay các điều nghe nói, đừng bao giờ sa đắm theo văn bản tôn giáo, những lư luận đơn thuần hay suy lư, đừng theo ảo ảnh, đừng v́ thú vui đàm tiếu những dư luận không đâu, cũng đừng tin những điều tưởng là có thể có, nhất là đừng tin vào ai, v́ nghĩ rằng kẻ đó là thầy ḿnh...”.

“Như Đẳng Tỳ Kheo Tri Ngă Thuyết Pháp Như Phiệt Dụ Giă, Pháp Thượng Ưng Xă Hà Huống Phi Pháp” (Đến Chánh Pháp mà c̣n phải bỏ hà huống Phi Pháp), lời dạy trong kinh Kim Cang bỗng như hai vầng Nhật-Nguyệt đuổi tan đêm tối trong đầu óc tôi.


 


[1] National Geographic (số 4 Vol. 164, tháng 10-1983), tr.460.

[2] Malachi Martin, The Decline and Fall of The Roman Church, tr. 26.

[3] Tuyên ngôn của Đức Tăng Thống giáo Hội Phật giáo Việt Nam công bố ngày 10 tháng 5 năm 1963 tại Huế, trong “Lịch sử Tranh đấu của Phật giáo Việt Nam” của Kiêm Đạt.

[4] Tuyên ngôn của Đức Tăng Thống giáo Hội Phật giáo Việt Nam công bố ngày 10 tháng 5 năm 1963 tại Huế, trong “Lịch sử Tranh đấu của Phật giáo Việt Nam” của Kiêm Đạt.

[5] David, Halberstam, The Making of a Quagmire, tr. 199, và ghi chú thêm của tác giả: Vị giáo sư người Đức dạy tại Đại học Huế mà Halberstam đề cập, đă từng chứng kiến cuộc đàn áp Phật giáo của chế độ Diệm, chụp được h́nh ảnh xe tăng của Chính phủ đè lên những xác chết của Phật tử Huế nên ông đă bỏ dạy và rời Việt Nam ngay sau đó. Trên đường về nước, khi dừng lại tại Phnom Penh, ông họp báo tŕnh bày h́nh ảnh chụp được với kư giả quốc tế để làm bằng chứng cho những lời cáo buộc chế độ Diệm đàn áp tôn giáo.

[6] Tuyên ngôn của Đức Tăng thống Giáo Hội Phật giáo Việt Nam công bố ngày 10 tháng 5 năm 1963 tại Huế, trong “Lịch sử Tranh Đấu của Phật giáo Việt Nam” của Kiêm Đạt.

[7] Lê Quân, Những Xuyên Tạc và Ngộ Nhận về Phật giáo Việt Nam, báo Khai Phóng (số 6), tr. 38.

[8] David Halberstam, The Making of a Quagmire, tr. 212.

[9] Joseph Buttinger, Vietnam: A Political History, tr. 446.

[10] Năm 1973, trong loạt bài “Trăm năm Công Luận” phân tích t́nh h́nh đất nước đăng trên nhật báo Thách Đố tại Sài G̣n, tác giả đề cập đến vấn đề này với nhiều chi tiết.

[11] Wiliam Miller, Henry Cabot Logde, tr. 344.

 [12] Lư Khôi Việt, Hai Ngàn Năm Việt Nam và Phật giáo, tr. 43.

 [13] Wiliam Miller, Henry Cabot Logde, tr. 344.

 [14] Kiêm Đạt, Lịch Sử Đấu Tranh của Phật giáo Việt Nam, tr. 90,100 .

 [15] Kiêm Đạt, Lịch Sử Đấu Tranh của Phật giáo Việt Nam, tr. 115-126.

[16] Đoàn Thêm, Hai Mươi Năm Qua, tr. 365.

 [17] Lê Quân, Những Xuyên Tạc và Ngộ Nhận về Phật giáo Việt Nam, báo Khai Phóng (số 6), tr. 39.

[18] Jerrold Schecter, The Fusion Of Religion and Politics in Contempory Buddhism, tr. 156.

 [19] Jerrold Schecter, The Fusion Of Religion and Politics in Contempory Buddhism, tr. 156.

 [20] Marvin E. Gettleman, Vietnam Histories, Documents and Opinions, tr. 305.

[21] Stanley Karnow, Vietnam: A History, tr. 279.

[22] Neil Sheehan, The Pentagon Papers, tr. 193.

[23] Lưu ư rằng khi bản tường tŕnh được viết ra, Tổng thống Kennedy vẫn c̣n ủng hộ mạnh mẽ Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm và quân đội Việt Nam Cộng Ḥa chưa có những vận động để lật đổ chế độ.

 [24] Trong nguyệt san Nhân bản (số 16 ngày 1 tháng 7 năm 1978) tác giả Đào Sĩ Phu đă viết: “Phạm Kim Vinh suy luận một chiều có tác dụng đầu độc quần chúng vô cùng tai hại, dễ làm quần chúng mù quáng, quá khích. Chế độ Ngô Đ́nh Diệm là chế độ quan lại, phong kiến, gia đ́nh trị, đảng trị, kỳ thị, nhất là từ năm 1958 trở về sau không dính dấp ǵ với chủ nghĩa Nhân Vị hay ho trên giấy tờ cả. Đạo đức Ngô Đ́nh Diệm không ích lợi ǵ cho xă hội Việt Nam với phương thức chế độ như vậy. Trái lại hậu quả sai lầm của chế độ Diệm là một xâu tướng tá lên nắm quyền chính trị, tôn giáo chơi nhau”.

 C̣n ông Vơ Phiến trong tạp chí “Văn học Nghệ Thuật” (số 1 tháng 4 năm 1978), trang 87-88) đă viết: “Những biến cố tại Việt Nam hăy c̣n quá mới mẻ để đi vào lịch sử, phải chăng v́ vậy mà tác giả tập biên khảo này không có giọng lạnh lùng của người viết sử, đă sử dụng một bút pháp sôi nổi của một người trong cuộc... Trong nhiệt t́nh sôi nổi tác giả không ngần ngại thẳng tay mạt sát những nhân vật bị kết tội, gọi họ là tên nọ, tên kia, là hắn là chúng... cho dù họ là Ngoại trưởng, là tướng lănh...”.

 [25] Nguyệt san Phật giáo (số 15 tháng 9 năm 1979), tr. 11.

[26] Phạm Kim Vinh, Lịch Sử Chiến Đấu của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, tr.37,39.

 [27] Lê Văn Siêu, Việt Nam Văn Minh Sử Lược Khảo, tr. 315,317.

[28] Michael Hart, The 100: A Ranking of the Most Influential Person in History, tr. 55,56.

[29] D.T. Suzuki, Introduction to Buddhism Zen, tr. 33.

[30] Nguyễn Xuyên Việt, Trở về với Đạo Phật, nguyệt san Quê Mẹ (số 48 tháng 11-1981), tr. 26,27.

 [31] Lư Chánh Trung, Tôn Giáo và Dân Tộc, tr. 65-78.

[32] Đào Duy Anh, Việt Nam Văn Hóa Sử Cương, tr. 224.

[33] Tạp chí Réalités Vietnamiennes (1969) ghi rằng miền Nam có 1,559,077 người Công giáo, nghĩa là 10.53% của tổng số dân miền Nam, trong lúc miền Bắc chỉ có chừng 800,000 người Công giáo.

 

 
 

<<  First   

 <  Previous

Next  >

  Last >>
 

Design by GDOL - 2008