MỤC LỤC

 

 

 
 

 

   Lời Giới thiệu của NXB

   Lời Mở đầu

 * * *

Chương 01

Chương 02

Chương 03

Chương 04

+ H́nh ảnh 1

Chương 05

Chương 06

Chương 07

Chương 08

Chương 09

Chương 10

Chương 11

Chương 12

Chương 13

Chương 14

Chương 15

Chương 16

Chương 17

Chương 18

Chương 19

Chương 20

 

THƯ MỤC

PHỤ LỤC

Phụ lục A

Phụ lục B

Phụ lục C

Phụ lục D

Phụ lục E

Phụ lục F

 

+ H́nh ảnh 2

 

* * *

 

CHƯƠNG XIV

 

KỲ THỊ TÔN GIÁO

 

 

Một trong những thể hiện độc đáo nhất của văn hoá nước ta là đời sống tín ngưỡng rất nồng nàn và rất lâu đời của dân tộc. Cứ nh́n số đền chùa đ́nh miếu trong mỗi làng mỗi tỉnh, và sau này, số nhà thờ trong mỗi đơn vị hành chính địa phương th́ đă có thể đo lường được sinh hoạt tín ngưỡng của dân ta mạnh mẽ biết chừng nào. Cứ đem số lượng những ngày cúng kỵ riêng tư của từng gia đ́nh và những lần tế lễ chung của toàn dân tộc th́ biết cái bản chất hướng nội của người nước ta sâu sắc biết là bao nhiêu.

Kỵ bên nội, kỵ bên ngoại, lễ Chạp mả, tiết Thanh minh, cúng Đức Trần, lễ Chùa Hương, Phật Đản, Giáng Sinh, Đức Thầy, Tết Nguyên Đán, cúng Cô Hồn, lên cây nêu, thờ Thần Táo, chay đàn, cầu siêu, bà Mụ, Hà Bá, Thành Hoàng, Thánh Gióng,... thật không có một dân tộc nào liên hệ chặt chẽ với quá khứ và hướng về đời sống tâm linh huyền bí sâu đậm như vậy.

Do đó mà hầu như người Việt Nam nào cũng có đạo, cũng là tín đồ của một tôn giáo. Nếu đạo đó không có một vị giáo chủ, những giáo lư thành văn, hoặc một giáo hội th́ ít nhất người Việt Nam đó cũng chung chung theo đạo thờ tổ tiên ông bà trong cái tổng hợp đẹp đẽ không mâu thuẫn của nền Tam giáo Đồng Nguyên.

Sau khi cuộc di cư năm 1954 hoàn tất, dân số toàn quốc là 38 triệu mà trong đó 15 triệu người sinh sống tại miền Nam tự do. Trên phương diện tôn giáo, 15 triệu người đó được phân chia như sau: Tin Lành ra đời tại Việt Nam từ năm 1921 có độ 200.000 tín đồ, Hoà Hảo (từ năm 1939) có độ 1.500.000 tín đồ, Cao Đài (từ năm 1925) có độ 1.500.000 tín đồ, và ngoài hai tôn giáo c̣n lại là đạo Phật và Công giáo th́ hầu như mọi người đều theo đạo gia tiên.

Đạo Phật được du nhập vào Việt Nam từ thế kỷ thứ hai sau Tây lịch với hai đặc tính HOÀHOÁ của nó nên không những đă hoà được vào dân tộc một cách dễ dàng mà c̣n hoá thành một thứ đạo Phật đặc thù Việt Nam, phân biệt hẳn với Phật giáo Ấn Độ hoặc Trung Hoa, để đóng góp vào việc dựng nước và giữ nước trên mọi mặt văn hoá, quốc pḥng, học thuật, kỹ thuật,... Sau năm 1954, số Phật tử tại miền Nam Việt Nam được ước lượng vào khoảng 4.500.000.

Năm 1553 giữa thế kỷ 16, Thiên Chúa giáo được du nhập vào Việt Nam dưới thời vua Lê Trang Tôn. Sau 400 năm truyền giáo, từ vĩ tuyến 17 trở vào, số giáo dân tập trung đông đảo ở các tỉnh Quảng Trị, Quy Nhơn, KonTum,... c̣n tại các địa phương khác th́ sống thưa thớt thành từng họ đạo chẳng bao nhiêu. Cuộc di cư năm 1954 đă nâng tổng số đó tại miền Nam lên hơn 1 triệu tư, gần bằng số tín đồ của Cao Đài, nhưng ảnh hưởng chính trị cũng như kinh tế, xă hội cũng như giáo dục th́ lại vượt hẳn các tôn giáo bạn và lan tràn không những trong quần chúng mà c̣n trong bộ máy công quyền cũng như trên chính sách quốc gia. Trong số 860.026 người Bắc di cư vào Nam, có 676.384 (tức 78,64%) người Công giáo (tức là hơn một nửa số Giáo dân miền Bắc) với 5 giám mục, hơn 700 linh mục (2/3 tổng số linh mục ở miền Bắc).[1]

Theo nghiên cứu của Jean Lacouture trong "Les Deux Vietnam" mà tôi sẽ đề cập đến một cách chi tiết hơn sau này, th́ trong tổng số hơn một triệu tư đó, vào năm 1963, những người Công giáo Nam kỳ đă tỏ ra lạnh nhạt và thụ động bất măn với chế độ Diệm v́ yếu tố kỳ thị địa phương Công giáo Bắc, Công giáo Nam của gia đ́nh họ Ngô.

Phải nói rơ ra như thế để thấy rằng chỉ có hơn một triệu người Công giáo gồm Công giáo di cư từ miền Bắc vào, và đa số giáo dân miền Trung là ủng hộ ông Diệm, tạo thành một chủ lực hậu thuẫn sắt thép cho ông suốt 9, 10 năm ông trị v́ tại miền Nam Việt Nam.

Với một triệu người Công giáo vừa nhiệt thành v́ tôn giáo, vừa nhiệt t́nh ủng hộ ông Diệm, với chủ nghĩa Nhân Vị Duy Linh, với quyền hành tuyệt đối trong tay, với phương tiện dồi dào của Hoa kỳ, anh em ông Diệm đă có đủ điều kiện để thực hiện tham vọng của họ là "làm sáng danh Chúa", cũng vốn là nhiệm vụ cao trọng và tối thiết mà nhà Ngô nghĩ rằng họ đă được Thượng Đế giao phó. Nói rơ hơn, đối với anh em ông Diệm th́ việc làm sáng danh Chúa là "cứu cánh", c̣n tổ quốc, dân tộc, kiến thiết quốc gia, chống Cộng chỉ là "phương tiện" Chúa an bài để họ đạt được cứu cánh đó mà thôi.

Cứ nh́n lại tiến tŕnh du nhập của Thiên Chúa giáo vào Việt nam, nh́n lại lịch sử ḍng họ Ngô Đ́nh v́ bị người Lương khủng bố phải bỏ làng Xuân Dực đến ngụ cư ở làng Đại Phong, nh́n lại việc ông Ngô Đ́nh Khả được cố đạo ngoại quốc nuôi cho ăn học rồi về nước làm quan theo Pháp dẹp quân Kháng chiến Cần Vương, cứ nh́n việc ông Nguyễn Hữu Bài rồi ông Ngô Đ́nh Diệm đều làm Thượng Thư đầu triều và đều có ư đồ riêng trong việc ủng hộ Kỳ Ngoại Hầu Cường Để, ta sẽ thấy rơ anh em ông Diệm đă được hun đúc như thế nào để chỉ một mặt th́ mang nặng hận thù với người bên Lương và mặt khác th́ hết ḷng làm nhiệm vụ mở mang nước Chúa theo tham vọng của Hội Thánh La Mă.

Mà ư Chúa, ư Hội Thánh là ǵ? Ta hăy nghe Tổng giám mục Drapier, Khâm mạng Toà Thánh tại Huế nói rơ:

"Hội Thánh là một cơ quan hằng đi tới. Hội Thánh thiết lập ở đâu là sống ở đó, mà sống tức là cứ bành trướng măi do một sức mạnh kích phát từ bên trong. Mầm sống của đạo Công giáo chính là một thứ men nồng không thể chịu nằm yên, không di dịch. Bản tính nó là làm cho sôi nổi, cho nứt vỡ giới hạn bên ngoài. Mọi sự ngăn trở, ngược đăi đă không thể khiến nó nhụt đi lại làm cho nó thêm phấn khởi" [2].

Một lối nói tuy văn vẻ mà hàm ư hiếu chiến và kiêu căng.

Cái tham vọng làm vị Thánh Tông đồ thứ 13 của gia đ́nh nhà họ Ngô không đợi đến sau này mới phát hiện mà đă được vun xới từ hồi anh em ông Diệm c̣n niên thiếu. Họ đă lập chí ngay từ thời vừa lớn khôn để cho gia đ́nh phải có một Ngô Đ́nh Thục đi vào Giáo hội để đứng đầu hàng giáo phẩm, phải có một Ngô Đ́nh Diệm đi vào hoạn lộ để làm quan đến Thượng Thư Bộ Lại và sau này làm nguyên thủ quốc gia mà ở địa vị nào cũng đ̣i hỏi cho được quyền hành tuyệt đối, và có một Ngô Đ́nh Nhu đi vào đường học vấn để làm cha đẻ một chủ nghĩa Nhân Vị Duy Linh Thiên Chúa giáo. Gia đ́nh họ Ngô làm đủ mọi cách để có một nhà lămh đạo tôn giáo, một vị nguyên thủ quốc gia, và một lư thuyết gia chính trị với tham vọng biến nước Việt Nam thành "người con gái đầu ḷng" của Hội Thánh La Mă tại Đông Nam Á (La Fille Ainée de L' Eglise Romaine de l' Extrême-Orient).

Nh́n lại lịch sử nước nhà, từ ngày Thiên Chúa giáo du nhập vào Việt Nam, những cố đạo ngoại quốc, đặc biệt là các giáo sĩ người Pháp trong "Hội Truyền Giáo Hải Ngoại" như Alexandre de Rhodes, Pigneau de Béhaine, Puginier, Pellerin,... đă v́ tôn giáo ḿnh mà t́m mọi cách tiêu diệt nền văn hoá và truyền thống dân tộc Việt, hầu thực hiện việc Công giáo hoá toàn dân Việt Nam. Nhưng họ đă không làm nổi v́ đại đa số người Việt Nam ḷng tràn t́nh tự dân tộc đâu để cho họ làm.

Cuộc đảo chánh 9-3-45 của Nhật Bản lật đổ và chấm dứt nền đô hộ Pháp rồi sau đó nền độc lập của nước nhà được ông Hồ Chí Minh tuyên bố ngày 2-9-45 tưởng đă chấm dứt được trang sử đen tối gần một trăm năm qua để quê hương được thật sự thuộc vể dân tộc. Nhưng thảm trạng lại xảy ra v́ lá cờ đỏ sao vàng của Việt Minh chỉ là biểu tượng cho một nền độc lập giả mạo được tô vẽ bởi Đệ Tam Quốc Tế và được sự công nhận giai đoạn của thực dân Pháp trong ư đồ muốn trở  lại Đông dương để tái lập nền thuộc địa cũ. Do đó mà cuộc chiến tranh Pháp-Việt từ 1945 đến 1954 đă phải xảy ra với kết quả là đất nước bị chia đôi, lấy gịng sông Bến Hải làm ranh giới cho hai miền Nam Bắc. Cái thảm trạng cho dân tộc không phải chỉ là v́ cuộc chiến tranh đă xảy ra giữa Cộng Sản Việt và Thực Dân Pháp mà là đau thương hơn nữa, nó c̣n v́ Pháp muốn tái diễn lại việc dùng người Công giáo làm hậu thuẫn như thời trước để chống lại người Lương mà việc dùng viên Cao ủy đầu tiên, Đô đốc Thierry d’Argenlieu, vốn là một Cố đạo, đă rơ ràng nói lên cái âm mưu thâm hiểm của người Pháp.

Đô đốc d 'Argenlieu, Cao uỷ Pháp đầu tiên tại Đông Dương (1946) đă từng là Bề trên xứ đạo Louis de la Trinité thuộc ḍng Carmen, bị động viên trong thời Đệ Nhị thế chiến và theo De Gaulle kháng chiến chống Đức. Được cử giữ chức Cao uỷ Pháp tại Đông Dương, đô đốc d 'Argenlieu vẫn ở trong t́nh trạng của một tu sĩ Thiên Chúa giáo. Mỗi buổi sáng, trong một căn pḥng riêng tại dinh Norodom tại Sài g̣n, ông ta tự ḿnh làm lễ. Ông ta chống lại chính sách hoà dịu đối với Việt Nam của tướng Leclerc và đă chủ trương thành lập nước Nam Kỳ tự trị [3]. D'Argenlieu muốn tái diễn tṛ "Nam Kỳ thuộc địa" trăm năm trước để từ đó dần dần đánh chiếm Bắc và Trung phần. Tuy nhiên, lịch sử chiến tranh 1945-1954 cho thấy chỉ có đa số người Công giáo nhiệt t́nh ủng hộ người Pháp c̣n đại đa số lực lượng dân tộc Việt, bằng phương thức này hay phương thức khác, chống lại âm mưu của thực dân như đă nói trong những chương trước của tập hồi kư này.

Theo ông Văn Thanh trong "L'Autodéfense des Villages" th́ vào năm 1952 tại BắcViệt, người ta đă công khai than phiền việc dân vệ Công giáo được Pháp vơ trang đầy đủ và dùng vũ khí đáng lẽ để chống Cộng Sản th́ lại làm công việc "cướp bóc chùa chiền, tàn phá miếu mạo và ép buộc người Lương theo đạo” [4].

Cho nên khi đă có đủ quyền lực trong tay, chính sách cai trị miền Nam của họ Ngô đă chia thành hai vế rơ rệt: vế thứ nhất là chống Cộng, và vế thứ hai là Công giáo hoá toàn bộ miền Nam. Nói là chia hai vế nhưng thật ra chúng liên hệ hỗ tương khăng khít với nhau v́ tiêu diệt Cộng Sản vô thần và "Tà thần ngoại đạo" (ám chỉ các tôn giáo khác tại miền Nam), theo anh em ông Diệm, là làm trọn được nhiệm vụ Công giáo hoá, mà cụ thể nhất là ư đồ nâng Công giáo lên hàng quốc giáo độc tôn của Tổng Giám Mục Ngô Đ́nh Thục. Cũng vậy, khi đẩy mạnh chính sách ưu đăi và chỉ tin cẩn sử dụng nguồn nhân sự Công giáo trong chính quyền và quân đội, trong lănh vực kinh tế và xă hội, th́ anh em ông Diệm cũng đă cho rằng như thế là đủ sức mạnh để đánh Cộng Sản. Hai vế đó như thiên la địa vơng chụp xuống đầu nhân dân miền Nam, đánh tráo thứ này thành thứ nọ, muốn kết tội ai th́ cứ gọi người đó là Cộng Sản, ai muốn được đặc quyền đặc lợi th́ cứ theo Công giáo... đă làm thành một thế trận hôn mê quật ngă được cả những sức mạnh có truyền thống lâu đời như các đảng phái, các tôn giáo và các t́nh tự văn hoá sâu sắc đă từng miên man quấn quít dân tộc cả ngàn năm nay.

Tuy nhiên, có hai thế lực lớn đă không ngă quỵ: Cộng Sản đă lợi dụng chính sách thất nhân tâm đó để khôn khéo vươn lên, và Phật tử đă đứng vững trên tâm thức "Bồ Tát" mà dẻo dai chịu đựng.

Thật vậy, sau khi đă vượt qua được những khó khăn của hai năm đầu 1954-1955, và sau khi đă tê liệt hoá các đảng phái quốc gia, vô hiệu hoá hai giáo phái Ḥa Hảo và Cao Đài, chính quyền Ngô Đ́nh Diệm, dù đang phải đối phó với nhiều vấn đề cấp bách, vẫn bắt đầu phát động kế hoạch công phá lực lượng Phật giáo nói riêng, và người Lương theo đạo ông bà nói chung.

Riêng Phật giáo Việt Nam, mà cuộc chiến Pháp-Việt 45-54 đă tiêu huỷ và làm kiệt quệ khá nhiều lực lượng tăng sĩ, tín đồ cũng như các cơ sở chùa chiền, kinh sách v́ đă không chịu tham dự vào quyền thế của hai phe lâm chiến, xưa vốn đă nghèo khổ nay lại càng nghèo khổ thêm. Hoà b́nh trở lại, Phật giáo Việt Nam không mong muốn ǵ hơn là an hoà và thái b́nh đó được duy tŕ măi măi để họ được tổ chức lại từ đáy tầng đổ nát, những cơ sở vật thể khiêm nhường, được trùng tu lại hệ thống tu học tăng ni đơn giản, phát huy được tinh thần "cho vui cứu khổ" trong quần chúng hầu đóng góp cho đại cuộc xây dựng miền Nam.

Nhưng thái độ khôn ngoan và ước mơ chính đáng đó vẫn không làm cho Phật giáo tránh được những thủ đoạn kích phá trong chính sách kỳ thị tôn giáo của gia đ́nh và chế độ Ngô Đ́nh Diệm.

Hành động kỳ thị đầu tiên ghi nhận được vào năm 1956 khi một vị linh mục có tên là Vàng, giảng sư của trung tâm Nhân Vị Vĩnh Long, đi thuyết tŕnh tại các tỉnh và khi đến Đà Nẵng, ông đă cho cắm Thập Tự Giá lên núi Ngũ Hành Sơn, nơi có chùa Non Nước lịch sử mà dân chúng đă từ lâu tôn vinh là đệ nhất thắng cảnh quốc gia, đẹp hơn cả chùa Hương tại miền Bắc. Buồn cười là mỗi ngày khi cha Vàng cho cắm Thập Tự Giá lên th́ sáng hôm sau lại thấy cây Thập tự bị chặt vất bỏ trên sườn đồi. Sau ba ngày như thế, linh mục Vàng nổi giận và quy tội cho Phật tử đă cố t́nh phá hoại nên khi ra Huế, ông đến gặp Hoà thượng Trí Thủ, Tổng trị sự Phật giáo miền Trung, đ̣i Hoà Thượng phải bảo toàn cây Thánh giá ở Ngũ Hành Sơn ! Ḥa thượng Trí Thủ trả lời: "Chính quyền trong tay các ngài, các ngài muốn làm ǵ th́ làm, chúng tôi có giám cản trở các ngài đâu". Sau này, nhờ cuộc điều tra của chính quyền mới biết được sự thật là chính dân chài Sơn Trà, v́ mê tín sợ cây Thánh giá cắm trên đầu nóc chùa có thể làm mất tính thiêng liêng của ngôi chùa, hại cho nghề đi biển, nên họ đă chặt vất và ném xuống sườn núi.

Năm 1956-1957 tại Huế, cứ đến gần ngày lễ Phật Đản th́ dân chúng lại thấy cầu Trường Tiền băng ngang sông Hương được trang hoàng bằng những Khải Hoàn Môn có treo cờ ... Ṭa Thánh và ảnh tượng Đức Mẹ. Tất nhiên đám rước Phật từ chùa Từ Đàm qua chùa Diệu Đế không thể đi bộ dưới những ảnh tượng đó để qua cầu Trường Tiền mà phải qua sông Hương bằng đ̣. Trong vụ này, âm mưu thâm độc của Công Giáo Cần Lao là để gây khó khăn, và nhất là để làm nhục Phật giáo: nếu đám rước cứ đi bộ qua cầu th́ tượng ảnh của Đức Phật, cờ Phật phải chui dưới ảnh tượng của Đức Mẹ, mà nếu qua sông th́ phải tốn tải, phiền hà, mất th́ giờ v́ phải huy động hàng ngàn chiếc đ̣. Và điểm uất ức chất ngất nhất là trong khi đồng bào Phật tử khó khăn duy tŕ cuộc rước Phật trong những điều kiện hỗn loạn như thế th́ nhóm Công Giáo Cần Lao lại đắc ư chụp h́nh, viết  phúc tŕnh về hành động kỳ thị của chúng gởi về cho Đức Cha, ông Cậu. Hành động kỳ thị lẽ dĩ nhiên nếu đă xảy ra tại Huế th́ nhiều nơi ở thôn quê, ở các tỉnh khác lại càng trầm trọng và thường xuyên hơn. Tướng Tôn Thất Xứng (hiện ở Canada) lúc c̣n làm Tư lệnh Sư đoàn I, đă cho tôi biết tại Quảng Trị chính Đặng Sĩ, một Trung đoàn trưởng của ông ta, cũng đă dùng những thủ đoạn trên buộc đám rước Phật phải băng qua những đồng ruộng để tránh con đường tới chùa đă bị cờ và ảnh tượng của Đức Mẹ dựng lên chận ngang.

Lăng nhục tôn giáo đă là một điều đáng phỉ nhổ rồi, nhưng hạ nhục một tôn giáo, đạp nó xuống bùn mà mục đích là để cho tôn giáo ḿnh được độc tôn th́ quả thật hoặc đó chỉ là một ngụy giáo, hoặc các tín đồ chỉ là một thứ phản giáo mà thôi !

Những thủ đoạn này c̣n kéo dài măi đến năm 1959, sau khi ông Ngô Đ́nh Cẩn nhận được nhiều báo cáo cho biết những bà, những mẹ, những chị buôn thúng bán mẹt ở chợ Đông Ba, chợ Cống, chợ An Cựu,... những dân lao động, những bác xích lô, những em học sinh ở các trường tiểu học đă công khai và rộng răi chưởi bới nhà Ngô và nhóm Cần Lao Công Giáo thậm tệ, ông Cẩn mới ra lệnh chấm dứt.

Dù sao th́ những th́ những thủ đoạn vừa kể trên chỉ là những hành động cục bộ v́ thật ra chính thái độ và các biện pháp của các Tỉnh trưởng, Quận trưởng, Công an Cần Lao Công Giáo mới nguy hiểm hơn. Họ lạm dụng thủ tục thăng thưởng, chế tài, đề bạt, thuyên chuyển để áp lực thuộc cấp phải cải đạo, ai không bằng ḷng cải đạo th́ không được đề nghị thăng thưởng, bị sa thải hay bị đổi đến những địa điểm hẻo lánh xa xôi.

Hơn thế nữa, lên tới cấp chính sách, Cần Lao Công Giáo c̣n tàn ác hơn khi chúng lợi dụng phong trào "Tố Cộng" để khủng bố dân lành buộc họ phải bỏ đạo thờ ông bà để vào Công Giáo. Dân chúng vốn đă sống mười năm dưới chế độ Việt Minh làm sao khỏi cộng tác và liên hệ ít nhiều với bộ máy hành chính cũ, biết vậy nên nhóm Cần Lao Công Giáo dựa vào những thành tích cũ đó để áp bức dân lành theo đạo, nếu không th́ sẽ bị bắt bớ, tù đày. Những sự kiện áp bức này đă được nhiều tác giả đề cập đến [5]. Oan ức và tội nghiệp nhất là những đảng viên trong những đảng phái quốc gia như Đại Việt, Việt Quốc, vốn là kẻ thù của Việt Minh, bị Việt Cộng nằm vùng dưới chế độ Diệm lợi dụng chính sách Tố Cộng để tố ngược lại, làm những người quốc gia biến thành Cộng Sản, rồi trở thành nạn nhân đau khổ nhất của Cần Lao. Trái lại, cũng nhờ chính sách cải đạo mà Việt Cộng len lỏi dễ dàng được vào chính quyền, v́ thế mà mới năm 1959, Việt Cộng đă đặt được hạ tầng cơ sở tại nông thôn miền Nam.

Dinh điền là một trong những chương tŕnh ông Diệm tự hào nhất trong những năm chấp chánh. Nhưng nếu chỉ trên mặt kinh tế và chỉ giới hạn trong một vài địa phương nó có đem lại thành công, th́ trên mặt chính trị và nhân văn - mà điều đó mới là điều quan trọng trong một cuộc chiến tranh nhân dân - nó đă thật sự thất bại mà kết quả rơ ràng và bi đát nhất là lời oán trách mỉa mai truyền tụng rộng răi trong quần chúng: "theo đạo có gạo mà ăn". Chương tŕnh dinh điền là chính sách đưa dân miền Trung, nơi người đông đất hẹp, lên vùng Cao Nguyên để lập nghiệp. Đó là một chủ trương xă hội, kinh tế hợp lư trong công cuộc kiến thiết quốc gia nhưng, như Robert Shaplen đă nói, bất cứ chánh sách nào mà hễ có ảnh hưởng của Cần Lao Công Giáo xen vào th́ đều thất bại hết.

Để lựa chọn dân đi dinh điền, những Tỉnh trưởng, Quận trưởng Cần Lao vâng lệnh ông Nhu tổ chức các buổi B́nh Nghị (một bắt trước thô bạo kỹ thuật của Cộng Sản trong chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất). Chúng tập họp dân chúng lại, rồi bọn cán bộ xă ấp tay trong tŕnh bày trường hợp của mỗi người dân (mà chúng bắt theo đạo) để đề nghị gần như cưỡng ép ghi tên họ vào danh sách "được" đi dinh điền. Nếu những người dân đó thuận theo đạo th́ được ở nhà, ngược lại th́ phải đi Cao Nguyên. Biện pháp này đă dùng chính sách của quốc gia như một biện pháp chế tài và đem tôn giáo can dự mạnh mẽ vào sinh hoạt kinh tế của quốc gia. Nhưng lên Cao Nguyên mà nào có được yên thân, di dân c̣n bị tai họa không theo đạo không có gạo mà ăn khốn khổ hơn. Trung tâm trưởng dinh điền là các vị linh mục "Bắc kỳ di cư", là những ông vua con có quyền sinh sát. Nếu di dân theo đạo th́ được các ông phát gạo, muối, cá khô, dụng cụ và cây giống cho làm ăn sinh sống, nếu không th́ chẳng những không được phát đồ ăn, dụng cụ, mà bàn thờ, lư hương, tượng Phật c̣n bị ném vất ra đường... ai kháng cự th́ các linh mục cho lính, dân vệ, bảo an tới đàn áp. Một số dân dinh điền trốn được về làng báo cáo những hành động kỳ thị áp bức cho các tăng sĩ Phật giáo nên Ḥa thượng Trí Thủ bèn gởi đơn và hồ sơ lên chính phủ và Quốc hội để xin can thiệp. Đơn gởi đến 5, 7 lần và nhờ những nhân vật Phật giáo thân với ông Nhu, ông Diệm như Thị trưởng Đà Lạt Trần văn Phước (hiện ở Canada), cụ Án Vơ Vọng tŕnh bày, vận động, ông Diệm mới bằng ḷng thành lập một uỷ ban điều tra để cứu xét vụ kỳ thị tôn giáo ở các dinh điền.

Uỷ ban điều tra gồm có Chủ tịch quốc hội Trần văn Lắm (hiện ở Úc) làm chủ tịch với các uỷ viên là tướng Tôn Thất Đính, Tư lệnh quân đoàn II, cụ Mai Thọ Truyền, chuyên viên Phủ Tổng Thống, Hoà thượng Trí Thủ, đại diện Tổng Hội Phật giáo, và Thượng tọa Măn Giác, chánh đại diện Phật giáo Cao Nguyên. Uỷ ban đă đến từng trung tâm dinh điền ở bốn tỉnh Cao Nguyên thị sát điều tra và xác nhận những sự kiện kỳ thị khủng bố, lập biên bản có tất cả các chữ kư của các uỷ viên. Tờ tŕnh của Uỷ ban được gởi lên cho Tổng thống Diệm và được sao ra cho Quốc hội, Quân đoàn, đại biểu chính phủ Trung phần và Cao nguyên, và các uỷ viên. Nhưng thời gian cứ trôi qua mà chính phủ vẫn không có một xét xử nào, không có một biện pháp nào để chấm dứt sự lộng hành của các linh mục. Đă thế, cũng v́ cuộc điều tra đó mà di dân bị trả thù nặng nề hơn nên trốn gần hết về quê cũ. Do đó mà kế hoạch dinh điền chỉ thành công ở những trung tâm do giáo dân khai thác, c̣n những vùng do hai mươi ngàn di dân từ miền Trung lên th́ đều thất bại và trở thành hoang phế hết.

Không thiếu ǵ sách sử đă tŕnh bày chính sách kỳ thị tôn giáo của chế độ Diệm trong chương tŕnh Khu Trù Mật, trong quốc sách Ấp Chiến Lược, trong kế hoạch Dinh điền với nhiều t́nh tiết đau thương đầy máu lệ. Ở đây tôi chỉ trích lại đoạn văn của nữ văn sĩ Frances Fitzgerald nói về chủ trương "theo đạo có gạo mà ăn" của chế độ Diệm:

Trong suốt những năm cầm quyền, Ngô Đ́nh Diệm chỉ có một đồng minh trong nước là khối người Công giáo, nhất là Công giáo miền Bắc di cư. Ngay từ khởi đầu, ông Diệm đă tự trói ḿnh một cách chặt chẽ vào khối Công giáo đó và chỉ đă nâng đỡ các làng Công giáo hơn mọi thành phần dân chúng c̣n lại. Những chức quyền của chế độ Diệm hợp tác chặt chẽ với các linh mục trong các làng Công giáo đă được lănh viện trợ Mỹ. Những chức quyền đó cho người Công giáo làm gỗ tại rừng cấm của quốc gia và độc quyền thu lợi tức mùa màng do Mỹ viện trợ kỹ thuật.

"Theo đạo để có gạo mà ăn" là khẩu hiệu xưa cũ từ thời đô hộ Pháp. Dưới chế độ Diệm, lương dân miền Nam cũng chịu sự cưỡng chế đó, đặc biệt là dân miền Trung. Hàng ngàn dân chúng, nhiều khi cả làng, phải theo đạo Công giáo để tránh khỏi các tạp dịch nặng nề, hay tránh khỏi việc rời làng vào nơi rừng thiêng nước độc. Tất nhiên đó là cái lợi cho giới Công giáo. Nuôi sống người Công giáo bằng sự hy sinh của lương dân, chính phủ Diệm đă có một đường lối chính trị thiển cận mà ông Diệm không có một sự lựa chọn nào khác hơn, người Mỹ cũng không hiến cho ông ta một kế hoạch nào [6].

Đúng như những nhận xét của Frances Fitzgerald, nhiều nơi dân cả làng bị bắt buộc phải cải đạo để tránh nạn rời làng, v́ thế Bản tin Công Giáo Quốc tế, phát hành tại Paris ngày 15 tháng 3 năm 1963, mới hân hoan thông bào thành quả của phong trào cải đạo tại miền Nam dưới chế độ Diệm. Ví dụ làng Phú Hoà tại B́nh Định vào năm 1958 chỉ có 692 giáo dân, thế mà năm 1959, con số theo đạo Công giáo đă lên đến 2000 người. Nghĩa là trong một năm tăng gần 300%. Giám mục Ngô Đ́nh Thục cũng cho biết là tại địa phận Vĩnh Long có rất nhiều làng "xin" được cải đạo tập thể đến nỗi thiếu cả kẻ chăn chiên. Theo Ngô Đ́nh Thục th́ tại Viễn Đông, ngoài Phi Luật Tân ra, Việt Nam là quốc gia sẽ đi đến việc cả nước theo đạo [7].

Trên đây là một số ít các trường hợp điển h́nh. Thật ra với 9, 10 năm dưới chế độ Diệm, người dân thấp cổ bé miệng ở nông thôn, nhất là nông thôn miền Trung, đă phải chịu đựng một chính sách kỳ thị khủng khiếp mà thành phần trí thức và những người ăn sung mặc sướng ở thị thành mấy ai biết được nỗi khổ của lương dân. Đă thế, những nhà lănh đạo Phật giáo lại cũng chỉ âm thầm chịu đựng tai hoạ do thế lực Công giáo Cần Lao gây ra mà không có một phản ứng nào. Cho đến năm 1963, bị dày xéo quá độ phải vùng lên đấu tranh, giáo hội mới gởi lên cho tổ chức Nhân Quyền của Liên Hiệp Quốc tại New York những tập hồ sơ dày cộm nói về tội ác của chế độ Diệm [8].

Và sau khi chế độ Diệm bị lật đổ, vào năm 1964, tu sĩ Tuệ Sĩ mới dám cho xuất bản cuốn Việt Nam Phật Giáo Tranh Đấu Sử do nhà xuất bản Hoa Nghiêm đường Trần B́nh Trọng phát hành để nêu tên tuổi nạn nhân của chính sách kỳ thị tôn giáo dưới chế độ Diệm (cuốn sách của Tuệ Sĩ hiện có trong các thư viện lớn tại Hoa Kỳ).

Nếu những hành động kỳ thị tôn giáo có tính cách cục bộ địa phương là do các linh mục và chính quyền địa phương thực hiện, th́ chính sách kỳ thị quy mô có tính cách quốc gia toàn diện và thâm độc hơn lại do chính anh em ông Diệm tự điều khiển lấy.

Năm 1957, chính phủ Diệm băi bỏ lễ Phật Đản trong lịch tŕnh ngày nghỉ lễ hàng năm của quốc gia. Thủ đoạn này là để làm cho công chức quân nhân, học sinh, sinh viên, thợ thuyền theo đạo Phật không được nghỉ lễ để đi chùa mừng Phật Đản. Trước thủ đoạn thâm độc đó, Phật tử phản ứng lại bằng cách tổ chức Phật Đản to lớn hơn, long trọng hơn những năm trước nên lôi kéo được dư luận nổi lên công phẫn chống đối. V́ thế chính phủ mới chịu "sửa sai" cho ghi lại ngày nghỉ lễ hàng năm của quốc gia [9].

Vừa nắm được chính quyền, anh em ông Diệm đă vội nghĩ ngay đến việc  trùng tu nhà thờ La Vang rồi nâng lên hàng Vương Cung Thánh Đường. Vào ngày 9-3-1960, ngôi nhà thờ này được Toà Thánh Vatican tặng một cây sáp. Ngày 17-8-1961, Ngô Đ́nh Thục tổ chức một đại lễ "dâng hiến Đức Mẹ hiện ra cách đây 160 năm", có đại điện các đoàn thể và hàng vạn giáo dân tham dự. Điểm cay đắng là ban đầu dân chúng chỉ tưởng anh em ông Diệm tôn vinh một ngôi giáo đường của tôn giáo ḿnh mà thôi, ai ngờ họ c̣n muốn biến nhà thờ La Vang thành một trung tâm phát huy tinh thần của quốc gia cho toàn dân toàn quốc. Chẳng những trong việc trùng tu nhà thờ La Vang tiền bạc đóng góp là của người dân Lương mà đứng đầu danh sách lễ dâng hiến này là Phó Tổng thống Việt Nam Cộng Hoà, một Phật tử. Ngô Đ́nh Thục c̣n cho dựng một tấm bảng lớn bắng xi măng cốt sắt với hàng chữ "Pháo Đài Tinh Thần của Quốc Gia” (The Spiritual Bastion of The Country) để 15 triệu dân miền Nam, dù đại đa số là tín đồ của các tôn giáo khác, phải mặc nhiên công nhận một ngôi nhà thờ của Thiên Chúa giáo như là biểu tượng chính trị và văn hoá của quốc gia, như là thành tŕ tinh thần của dân tộc.

Hành động kiêu căng và thách đố đó của vị giáo phẩm cao cấp của Hội Thánh Công Giáo Việt Nam đă nói lên rất rơ ràng ư đồ xâm lăng tôn giáo, cũng như nhận thức chính trị chỉ đạo cho rằng chỉ có Công giáo mới chống Cộng của Giáo Hội này. Việc biến nhà thờ La Vang ở Quảng Trị thành một thứ đền thờ Quốc Tổ (phải gọi là Quốc Mẫu th́ đúng hơn!) đă dám làm th́ ngay tại Sài G̣n, việc biến Toà Đô Sảnh của thủ đô thành một địa điểm tôn giáo để mừng Chúa ra đời không phải là chuyện chế độ Diệm ngại ngùng nữa. Tại Sài G̣n đă có rất nhiều nhà thờ lớn trên các khu đất khang trang, có quá nhiều nữa là khác. Ngay tại trung tâm thủ đô, ở quận nhất sang trọng của giao điểm hai đường Tự Do và Thống Nhất đă có Vương Cung Thánh Đường đồ sộ, thế mà hàng năm cứ vào dịp lễ Giáng Sinh, cơ sở quốc gia là Toà Đô Sảnh ở đại lộ Nguyễn Huệ vẫn cứ bị trưng dụng để treo đèn kết hoa mừng Chúa xuống trần.

Tệ hại hơn nữa là biết lấy nhà thờ Đức Mẹ La Vang làm "pháo đài tinh thần của quốc gia", biết lấy Toà Đô Sảnh để vinh danh Thiên Chúa, nhưng anh em ông Diệm lại không chịu xây đền thờ Quốc Tổ, lại càng không kỷ niệm giỗ tổ Hùng Vương để duy tŕ truyền thống dân tộc và thoả măn nguyện vọng của nhân dân. Cái danh hiệu Hùng Vương chỉ được đặt tên cho một con đường xa xôi trong vùng Chợ Lớn của người Tàu, trong khi Đại lộ thênh thang nối liền trung tâm thành phố với phi cảng quốc tế Tân Sơn Nhất th́ lại trang trọng đặt tên cho người anh là ô ng Ngô Đ́nh Khôi. Thủ đô Việt Nam Cộng Hoà không có được một Văn Miếu, không có được một bức tượng Tổ, trong khi những bức tượng đồng của các nhân vật Thiên Chúa giáo th́ vẫn được duy tŕ chăm sóc như dưới thời Pháp thuộc!

Dinh Độc Lập xây cất để cho ḿnh và gia đ́nh ḿnh ở th́ to, mà đền thờ Quốc Tổ th́ không có, c̣n đền thờ vị anh hùng khai quốc là Đức Tả Quân trải qua hai triều Tổng thống vẫn không cao hơn thềm dinh Độc Lập [10].

Tôi c̣n nhớ nhà văn Chu Tử có kể lại trong tuần báo Đời ở Sài G̣n câu chuyện của một giáo sư Đại học nặng ḷng với Quốc Tổ Hùng Vương, đă đề nghị ông Diệm xây đền thờ Quốc Tổ th́ bị ông Diệm trỏ mặt nạt lớn: "Tổ anh chứ Tổ tôi à!" C̣n nhà văn Vơ Phiến trong tác phẩm "Đất Nước Quê Hương” có cho biết măi sau khi chế độ Diệm không c̣n nữa, nhân dân các tỉnh đă hăng say tự động xây đền thờ Quốc Tổ. Tại Sài G̣n, nhiều đoàn thể thanh niên, sinh viên phát động phong trào "về nguồn", thành lập Hội Việt Vơ Đạo sau khi chế độ Diệm bị lật đổ, đă hàng năm tổ chức lễ kỷ niệm Tổ Hùng Vương để cùng với các thành phần khác của dân chúng vận động xây đền thờ Quốc Tổ. Ḷng dân hướng về Quốc Tổ như thế mà anh em ông Diệm lại không coi Vua Hùng là gịng họ Việt tộc đă khai mở đất nước mà chỉ lo tôn vinh các giáo đường.

Trái lại, Cộng Sản Việt Nam nắm vững được tâm lư nhân dân để vận dụng cho những mục tiêu của họ, đă biết đánh động vào đúng t́nh cảm thiêng liêng nhớ nước thương ṇi và cái bản sắc văn hoá chim có tổ người có tông của đồng bào toàn quốc bằng cách chủ trương công khai và đại quy mô một chương tŕnh trùng tu đền thờ Quốc Tổ [11]. Ngay từ năm 1976, sau khi chiếm được miền Nam, Cộng Sản đă biết tổ chức một cuộc triển lăm kỷ niệm vua Hùng rất trọng đại tại Bộ Tài Chánh cũ ở Sài G̣n với chủ đề rút từ câu nói của ông Hồ Chí Minh "Hùng Vương dựng nước, chúng ta giữ nước" và đă thu hút được rất đông đồng bào đến xem [12]. Cộng Sản c̣n biết bày tṛ như thế để lấy ḷng dân, c̣n chế độ Diệm th́ chỉ biết độc tôn cái tôn giáo của ḿnh để khiêu khích dân, trách ǵ nước chẳng mất!

V́ không xây đền thờ Quốc Tổ nên ông Diệm dự định xây "Đài Kỷ Niệm Quốc Gia" đồ sộ tại Biên Hoà trên núi Châu Thới. Họa đồ do Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ vẽ, và ước tính chi tiêu độ một trăm triệu đồng bạc Việt Nam (dự án này đă được đăng trên báo Sáng Dội Miền Nam do kiến trúc sư Vũ Đức Diên làm chủ nhiệm). Nói đến việc xây dựng một đài kỷ niệm quốc gia để kỷ niệm công nghiệp tiền nhân và tạo dựng cho quê hương một thắng cảnh th́ ai lại không hoan nghênh sáng kiến đó. Nhưng, như tất cả chính sách quốc gia của ông Diệm mà cứu cánh chỉ phục vụ cho gia đ́nh và tôn giáo của ông ta, dự án này cũng không thoát khỏi ư đồ đó. V́ để xây dựng đài kỷ niệm quốc gia, đất đai thiếu ǵ mà phải chọn ngay địa điểm gần một ngôi chùa tiếng tăm của Phật giáo trên núi Châu Thới để triệt hạ ngôi chùa đó đi. Trên ngọn núi cao 65 thước này có chùa Hội Sơn được trùng tu vào đầu thế kỷ thứ 19 do công đức của nhà sư Khải Long, vốn chẳng những là nơi thờ Phật mà c̣n là một thắng cảnh của dân chúng Đồng Nai từ lâu đời. Thời thái b́nh, thập phương từ các vùng Biên Hoà, Cát Lái, Thủ Đức... kéo về chùa Hội Sơn quanh năm cúng kiến đông như ngày hội, do đó mới gọi là "Hội Sơn". Câu ca dao "Bao giờ cạn lạch Đồng Nai. Nghiêng chùa Châu Thới mới phai lời nguyền" được truyền tụng đời này qua đời khác đă đủ nói lên cái tâm nguyện thiêng liêng và cái t́nh cảm thắm thiết của dân Đồng Nai quyết tôn sùng và bảo vệ chùa Hội Sơn như thế nào. Biết được giá trị lịch sử và ảnh hưởng văn hoá của chùa Hội Sơn, ông Diệm bèn cho xây một căn cứ quân sự trên núi Châu Thới gần chùa Hội Sơn để cho binh sĩ phá phách làm mất vẻ tôn nghiêm của chùa và cho phép công binh cũng như các nhà thầu khai thác và làm đá chung quanh chùa để cho chân núi Châu Thới mỗi ngày một lở ra. Vị trí núi Châu Thới bị thâu hẹp, chùa mất vẻ tôn nghiêm, cảnh trí bị tiêu huỷ, Phật tử tới chùa khó khăn nên các vị sư trụ tŕ cũng phải rời đi nơi khác. Nhưng rồi ông Diệm cũng không xây được đài kỷ niệm quốc gia v́ chiến cuộc gia tăng và v́ nhiều biến cố chính trị xảy ra liên tiếp làm cho ông không c̣n muốn xúc tiến dự án đó nữa. Nhưng dù sao th́ chùa Hội Sơn cũng trở thành hoang phế, và chính điều này đủ thỏa măn cho ông rồi.

Ngày c̣n ở quê nhà, tôi có một số tài liệu cũ nói về lịch sử nhà thờ La Vang tại Quảng Trị và nhà thờ Đức Bà tại Sài G̣n. Theo tài liệu này th́ ngày xưa, thời Pháp chưa đô hộ Việt Nam, các vị trí đó là địa điểm của những ngôi chùa, nhưng khi quân Pháp xâm lăng Việt Nam vào thế kỷ thứ 18, các giáo sĩ ngoại quốc đă cưỡng chiếm và phá huỷ các ngôi chùa đó đi để xây nhà thờ, Anh em ông Diệm một lần nữa lại dẫm lên con đường của thực dân và Hội Truyền Giáo Hải Ngoại Pháp để tiêu diệt chùa chiền, đền miễu Việt Nam như nhà văn Sơn Nam có kể lại trong tác phẩm "Văn Minh Miệt Vườn". Cũng trong việc phá chùa dưới chế độ Diệm, kư giả Bernard Fall, đă kể một câu chuyện về Hoà Thượng Sơn Vang người Việt gốc Miên như sau:

Tháng 7 năm 1961, quân đội VNCH hành quân tỉnh Vĩnh B́nh và khi rút đi đă để lại hàng ngàn dân quê khốn khổ, nhà sư chánh đại diện tỉnh đă kêu ca để chống lại việc quân đội bắn phá chùa chiền và giam cầm một số sư săi nhưng vẫn không được xét xử. Mấy tháng sau, tên của Ḥa Thượng Sơn Vang xuất hiện trong danh sách lănh đạo Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam [13].

Việc nhà sư Miên tại Vĩnh B́nh có tên trong danh sách này đă được chế độ Diệm và những kẻ đồng loă với chính sách kỳ thị tôn giáo như Marguerite Higgins thổi lớn lên và xuyên tạc rằng Phật giáo là Cộng Sản với chứng cớ rơ ràng [14].

V́ sao nhà sư Sơn Vang lại theo Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam ? Nếu chế độ Diệm không chủ trương kỳ thị tôn giáo, phá huỷ chùa chiền, đàn áp sư săi th́ liệu nhà sư có bỏ chùa vào bưng để cho Việt Cộng khôn khéo đẩy lên làm cấp lănh đạo tượng trưng không? Huống ǵ Vĩnh B́nh phải xét trong bối cảnh mâu thuẫn Việt-Miên để thấy rằng nhà sư gốc Miên đó từ lâu đă muốn yên thân làm một nạn nhân câm nín mong tu học cho viên măn mà thôi. Nhưng cây muốn lặng mà gió chẳng muốn ngừng, sức oằn của thân cây đến một lúc nào bị đè nén quá phải bật dậy phản ứng. Ngoài ra, cái luận điệu vịn vào chỉ một nhà sư gốc Miên có tên trong thành phần lănh đạo Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam diễn dịch bừa băi rằng cả Phật giáo theo Cộng Sản là một thứ luận điệu nếu không ngu xuẩn th́ quả là độc ác.

Không khác ǵ v́ một linh mục Chân Tín thân Cộng, v́ một linh mục Nguyễn Đ́nh Thi hoạt động cho Cộng Sản tại Pháp, hay v́ một Tổng giám mục Nguyễn Văn B́nh thi hành chỉ thị Cộng Sản sau 1975 để cho rằng toàn bộ Công giáo Việt Nam đều theo Cộng Sản. Cái luận điệu vu cáo chụp mũ Phật giáo đó đă hơn một lần giúp tôi, khi nh́n lại lịch sử cận đại và hiện đại của dân tộc, phân biệt rơ ràng hơn khi phê phán những tội lỗi đối với dân tộc của giáo hội Công giáo Việt Nam,vốn là một bộ phận nằm trong cơ cấu của Công giáo La Mă.

Dưới chế độ Diệm, nhà thờ mọc lên khắp nơi, hầu như mọi đơn vị quân đội (ngay cả giữa Sài G̣n) đều có một nhà thờ, và ngay những nhà thờ cũ bị hư hại thời chiến tranh cũng đều được trùng tu lại hết. Những cơ sở văn hoá, xă hội, kinh tế, các trường tiểu học, trung học, đại học tư, bệnh viện, Giáo Hoàng học viện Pie X... của Công giáo mọc lên rất nhiều.

Trong lúc đó th́ Cao Đài, Hoà Hảo không có một cơ sở nào đáng kể ngoài các Toà Thánh, c̣n Phật giáo cũng chỉ vỏn vẹn mấy trường Bồ Đề cũ từ thời trước để lại. Thế mà Cần Lao Công Giáo vẫn chưa vừa ḷng, vẫn t́m mọi cách để bành trướng thêm hầu chèn ép các tôn giáo khác.

Hội Thánh Tin Lành, một tôn giáo nhỏ, không ảnh hưởng ǵ nhiều đến đời sống quốc gia và không tranh chấp với ai, những tín đồ lại có tinh thần chống Cộng rất cao, chỉ xin xây cất một bệnh xá và một trường thần học nhỏ bé tại Ḥn Chồng (Nha Trang) mà cũng bị kỳ thị. Cụ Lê Văn Thái, Hội trưởng Hội Tin Lành Việt Nam (mất tại Los Angeles năm 1985) gởi đơn khiếu nại tới chính quyền hơn hai năm liền mà vẫn bị từ khước v́ chính quyền cho rằng đất Cụ xin là bất động sản của trường La San, nghĩa là đất của Công Giáo (mà thật ra là đất của quốc gia). Trong lúc đó th́ Tiểu chủng viện La San đă chễm chệ chiếm chọn ngọn đồi đẹp nhất thành phố Nha Trang, không liên hệ ǵ tới miếng đất ở chân đồi nơi mà cụ Thái xin xây cất cơ sở cho Hội Thánh Tin Lành. Vốn là chỗ thân t́nh, cụ Thái bèn can thiệp với tôi về việc bị Công giáo kỳ thị để nhờ tôi đem vụ này tŕnh thẳng với ông Diệm. Tôi nhắc cho ông Diệm biết cụ Thái đă từng gặp ông Hồ Chí Minh hai lần để phản đối ông Hồ Chí Minh đă áp đặt chế độ Cộng Sản lên đầu dân Việt Nam, và tôi cũng nhắc lại những ngày ông Diệm ra Nha Trang, ông vẫn thường mời cụ Thái và giám mục Piquet đàm đạo, rồi tôi lưu ư ông Diệm rằng đất cụ Thái xin là đất của quốc gia, không phải của Công giáo, đồng thời nêu lên cho ông Diệm biết việc kỳ thị tôn giáo quá trắng trợn tại địa phương. Đến lúc đó ông Diệm mới chịu ra lệnh cho phép Cụ Thái xây cất cơ sở xă hội của Hội Thành Tin lành. Việc này quư vị mục sư Lê Hoàng Phu, Nguyễn Văn Chánh, Nguyễn Bá Quang, v.v... hiện ở Los Angeles và Seattle đều biết rơ.

 

-o0o-

 

Dưới thời Đệ Nhất Cộng Hoà, các tổ chức Công giáo tha hồ xuất bản báo chí, kinh sách, tiếng nói Công giáo ra rả ngày đêm trên các đài truyền thanh. Thế mà kinh điển Phật giáo lại bị kiểm duyệt gắt gao đến nỗi Phật giáo không dám ra một tờ báo có tính quần chúng suốt mười năm trời, ngay cả việc sử dụng đài phát thanh cũng không được chấp thuận.

Ngày 23-7-58, ông Ngô Đ́nh Nhu mở một hội nghị toàn quốc tại Sài G̣n về vấn đề giáo dục học đường. Sau hội nghị này, một nghị định chính phủ được ban hành, trong đó có biện pháp "kiểm soát chặt chẽ các trường tư thục". Giới Công giáo nổi lên phản kháng biện pháp kiểm soát của Ngô Đ́nh Nhu, nhiều tạp chí Công giáo tại Sài G̣n đă mở một chiến dịch đả kích biện pháp này. Phong trào đang ồn ào như thế th́ bỗng nhiên dịu xuống một cách đột ngột và lạ lùng. Sau đó người ta mới biết hàng giáo phẩm Công giáo đă được hai ông Nhu và Thục giải thích cho biết biện pháp này phải được công khai ban hành để biện minh cho kế hoạch làm tê liệt các cơ sở giáo dục của Phật giáo. Điển h́nh đau đớn là từ sau hội nghị giáo dục toàn quốc đó, trong nội dung giảng dạy về văn chương Việt Nam ta thấy trong muôn ngàn phong dao, đồng dao nói về tôn giáo tại Việt Nam, những câu thơ châm biếm sư săi kiểu "Ba cô đội gạo lên chùa, Một cô yếm thắm bỏ bùa cho Sư..." đă được cho vào chương tŕnh giáo dục để giảng dạy con em [15], c̣n những phân tích lịch sử nghiên cứu rất cần thiết cho thế hệ thanh niên yêu nước về sự cấu kết giữa thực dân Pháp và Giáo Hội Công giáo La Mă  Vatican trong việc xâm lăng nước ta th́ bị cấm giảng dạy v́ bảo đó là tuyên truyền của Cộng Sản [16].

Suốt 9, 10 năm trời nhà Ngô cho xuất ngoại không biết bao nhiêu là linh mục, giám mục, bà sơ, sư huynh, đi hành hương tại Fatima, tại Lourdes ở Pháp, tại Y Pha Nho, đi viếng thăm Đức Giáo Hoàng tại La Mă, đi du học tại các chủng viện quốc tế, đi du lịch, đi chữa bệnh,... nếu tính ra được th́ số ngoại tệ bị mất không phải là nhỏ. Chế độ Diệm cũng cho rất nhiều sinh viên Công giáo xuất ngoại du học trong chính sách "trồng người" để đào tạo cán bộ, công chức cao cấp cho guồng máy chính quyền và tổ chức dân sự để chuẩn bị cho kế sách Công giáo hoá miền Nam. Thế mà bên Phật giáo chỉ được chính thức một lần đi dự hội nghị Phật Giáo Quốc Tế nhóm họp tại Colombo, và một lần ba Thượng Toạ Trí Thủ, Đôn Hậu, Trí Quang tháp tùng một phái đoàn chính phủ do Tổng trưởng Thông tin Trần Chánh Thành cầm đầu để tham dự hội chợ That Luong tại Lào mà thôi. Và chỉ có hai nhà sư được xuất ngoại. Đó là các Thượng toạ Nhất Hạnh và Măn Giác. Tôi không được rơ Thượng toạ Nhất Hạnh đi bằng cách nào nhưng chắc chắn không do chính phủ Diệm cho đi một cách chính thức. C̣n trường hợp Thượng toạ Măn Giác th́ ông Vơ Văn Hải cho tôi biết Thượng Toạ được một học bổng của Asia Foudation cấp cho đi du học tại Nhật Bản nhưng Tổng thống Diệm nhất định không cho đi. Hải cũng đă hết lời xin cho Thượng Toạ mà không được nên phải cầu cứu đến thân sinh là cụ Vơ Vọng, vốn  là một bạn chí thân với ông Diệm từ thời c̣n làm quan. Cụ Vơ, vốn là một cư sĩ Phật giáo, bèn về Sài G̣n trách móc ông Diệm sao nỡ có thái độ kỳ thị lộ liễu đến thế, bấy giờ ông Diệm mới chịu cho Thượng toạ Măn Giác ra đi.

Ngoài ra, chính sách kỳ thị tôn giáo trong quân đội lại c̣n trắng trợn, lộ liễu hơn. Quân đội là xương sống của quốc gia, là thành tŕ bảo vệ đất nước và chế độ, đáng lẽ phải được đối xử hết sức công minh về mặt tâm linh và tinh thần th́ ông Diệm lại không cho thành lập ngành Tuyên Úy Phật Giáo. Ông chỉ cho Công giáo và Tin Lành thành lập ngành này mà thôi. Đó là một hành động kỳ thị tôn giáo rơ rệt thế mà nữ kư giả Margueritte Higgins, người bạn thân của bà Nhu, trong cuốn "Our Vietnam Nightmare", dám viết rằng sở dĩ ông Diệm không cho Phật giáo thành lập ngành Tuyên Uư Phật Giáo v́ Phật giáo chống chiến tranh. Viết như thế, người nữ kư giả  thiếu lương thiện này đă không biết rằng từ sau khi ông Diệm bị lật đổ, các chính phủ sau đó đă cho Phật giáo được thành lập ngành Tuyên Úy và tổ chức này đă sinh hoạt cho đến ngày miền Nam rơi vào tay Cộng Sản vào tháng 4 năm 1975.

Những sự kiện kỳ thị, đàn áp, khống chế, hạ nhục, tiêu diệt, đánh phá mà tôi kể ở trên chỉ là những sự kiện tiêu biểu và khá phổ biến mà cả nước ai cũng biết. C̣n những thảm kịch khác xảy ra hàng ngày trong các địa phương xa xôi, xảy ra âm thầm trong những đêm tối bí mật th́ măi cho đến sau ngày cách mạng 1-11-63 mới dần hồi được sưu tập và ghi nhận lại.

Sở dĩ chế độ Diệm dám trắng trợn thi hành những biện pháp đó là v́ chính sách kỳ thị tôn giáo của chính phủ đă - ở một mặt nào đó - được gia đ́nh ông Diệm tráo trở hợp pháp qua đạo dụ số 10 năm 1952 của thực dân để lại.

Thật vậy, trong khi t́nh trạng pháp lư của Công giáo dưới thời ông Diệm là một t́nh trạng thả lỏng, nghĩa là không bị ràng buộc bởi một văn kiện nào th́ Phật giáo và các tôn giáo khác lại có cái căn bản Pháp lư của đạo dụ số 10 chi phối. Đạo dụ số 10 là một sản phẩm hành chánh độc ác và thâm hiểm nhất của thực dân Pháp trong chính sách tiêu diệt các tôn giáo tại Việt Nam, v́ một mặt chúng nhằm làm tê liệt các sinh hoạt tín ngưỡng của quần chúng Việt Nam, mặt khác chúng dành độc quyền cho Công giáo cái ưu thế toàn quyền hành đạo. Điều 1 của đạo dụ liệt mọi tôn giáo (trừ Công giáo) vào loại hiệp hội thường như đua ngựa, đá banh,... Điều 7 cho phép chính quyền từ chối không cấp giấy phép hoạt động, hoặc cấp rồi mà vẫn có thể rút lại không cần phải nói lư do. Điều 10 và 12 cho phép bất cứ nhân viên hành pháp hay tư pháp nào cũng có quyền kiểm soát các hiệp hội tôn giáo. Điều 14 và 28 giới hạn tài sản của một tôn giáo ở mức nào đó mà thôi, và dĩ nhiên điều số 44 dành một chế độ đặc biệt sẽ quy định sau (nhưng rồi chẳng bao giờ quy định) cho các Hội Truyền Giáo Thiên Chúa Giáo [17]

Rơ ràng phải có một thâm ư độc ác, anh em ông Diệm mới duy tŕ cái đạo dụ đầy kỳ thị như thế của thực dân cho các tôn giáo khác tại miền Nam, trong khi đă xoá bỏ hầu hết mọi cơ cấu, đă gần như xé bỏ mọi văn kiện pháp lư và hành chánh của chế độ thực dân cũ. Sự duy tŕ đạo dụ này cho thấy thâm ư ǵ nếu  không phải là quyết tâm tiếp tục chính sách Công giáo hoá của thực dân Pháp, tiếp tục biến Việt Nam thành cánh tay nối dài của một loại đế quốc Vatican Trung cổ tại lục địa Á Châu?

Thế mà sau này, ngoài những dư đảng Cần Lao Công Giáo lo làm công tác viết sử hoài Ngô để mong dựng lại một "tinh thần Ngô Đ́nh Diệm", vẫn c̣n có những trí thức Công giáo như Cao Thế Dung, như Nguyễn Kim Long, cho rằng không có kỳ thị tôn giáo dưới chế độ Diệm, nếu có những đàn áp th́ đó chẳng qua chỉ là những "tệ đoan xă hội mà thôi" [18].

Bảo rằng anh em ông Diệm không kỳ thị tôn giáo th́ tại sao họ giữ lại một đạo luật bất b́nh đẳng ? Bảo rằng Việt Nam Cộng Ḥa là một quốc gia độc lập tại sao họ cho thi hành một đạo luật bất công và lỗi thời của thực dân ? Bảo rằng chế độ Diệm là một chế độ nhân vị, một chế độ "cộng đồng đồng tiến" tại sao lại chỉ có người Công giáo là có nhân vị, là được đồng tiến, c̣n tín đồ của các tôn giáo khác lại mất nhân vị, không được đồng tiến ? Tại sao Công giáo chỉ có một triệu rưởi tín đồ mà lại được hưởng một thứ siêu quy chế của một tôn giáo có đủ đặc quyền đặc lợi, trong lúc những tôn giáo kia có đến 14 triệu dân số lại phải chịu quy chế của một hiệp hội mà sự sinh hoạt sống chết nằm trong tay chính quyền? Tại sao Phật Giáo Việt Nam ra đời từ 2.000 năm trước, có công giữ nước, dựng nước, chống Bắc mở Nam lại bị coi là một hiệp hội trong lúc Thiên Chúa giáo mới du nhập vào Việt Nam từ thế kỷ 16, nhất là từng giúp cho quân xâm lược Pháp thôn tính quê hương, lại được nhận là một tôn giáo chính thức không bị pháp luật kiểm soát, và có quyền sở hữu đất đai của quốc gia. Dưới chế độ Ngô Đ́nh Diệm, biết bao xương máu của dân và lính, cũng vốn là tín đồ của các tôn giáo khác đổ ra để bảo vệ "ngai vàng" cho một gia đ́nh, cho một nhóm Cần Lao Công Giáo, thế mà phần thiêng liêng của họ c̣n bị tước đoạt. C̣n ǵ chua xót tủi nhục bằng? Là một người đă làm việc cho ông Diệm hơn 20 năm trời, đă có những giờ phút tâm t́nh với ông ta, đă từng nghe ông mỉa mai đạo Phật, ca ngợi đạo Chúa, đă giao tiếp với anh em ông ta và nhóm Cần Lao Công Giáo lâu năm và kinh qua không biết bao nhiêu âm mưu thủ đoạn của họ, tôi có thể nói mà không sợ sai lầm rằng nếu chế độ tồn tại thêm 5, 7 năm nữa th́ sách sử của dân tộc sẽ không c̣n có phương danh những nhân vật như sư Vạn Hạnh, như Lư Công Uẩn, Lư Thường Kiệt, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trăi, Lư Đông A, Phạm Công Tắc, Huỳnh Phú Sổ,... những thiền sư đă chiến đấu cho quê hương, dân tộc. Chẳng những thế mà tác phẩm của Nguyễn Du, Nguyễn Trăi, Nguyễn Công Trứ, Trần Trọng Kim, Phạm Quỳnh, Phan Văn Hùm, Đào Trinh Nhất, Đào Duy Anh, Hoàng Xuân Hăn, v.v... hễ có ca ngợi đạo Phật, triết lư đạo Phật, đạo Lăo, đạo Nho đều sẽ bị "thất hoá" để chỉ c̣n  lại h́nh ảnh của "Doang", của "Báp Tít", của "Phao Lồ", của "Phê Rô",... trong nền văn học sử Việt Nam mà thôi.

Tờ Infomation Catholique Internationle tại Paris, đă chẳng huênh hoang: "rồi đây dân Việt Nam sẽ theo đạo (Công giáo) hết" đó sao?

Đạo dụ số 10 ra đời năm 1952, trong thời gian mà gót giày sắt của quân đội Pháp c̣n ngự trị trên đất nước quê hương nên đă đem lại bao nhiêu bất công, tủi nhục, đau khổ cho một tôn giáo có nhiều tín đồ nhất Việt Nam. Cho nên khi ông Diệm lên cầm quyền, tưởng nước nhà từ nay độc lập tự do, Hoà thượng Trí Thủ đă mấy lần gởi đơn lên cho chính phủ, sao gởi cho mấy ông đại biểu chính phủ Nguyễn Đôn Duyến rồi Hồ Đắc Khương để xin Tổng thống Diệm huỷ bỏ, thế mà suốt 9, 10 năm trời, tiếng kêu thương của Phật giáo đồ không làm rung động tâm tư hay thay đổi được sự ngoan cố của một gia đ́nh chỉ biết "xin Thượng Đế ban phép lành". Sự ngoan cố càng được biểu lộ rơ rệt hơn trong thời kỳ đấu tranh năm 1963, khi Phật giáo yêu cầu băi bỏ đạo dụ số 10 mà Tổng thống Diệm chỉ t́m cách tŕ hoăn, rồi đâu vẫn vào đấy. Thế mà trong chương tŕnh "Việt Nam, a Television History" năm 1983 của kư giả Stanley Kanow trên đài PBS Hoa Kỳ, cựu Đại sứ Ngô Đ́nh Luyện đă bảo rằng: "anh tôi đă giúp cho Phật giáo rất nhiều". Tổng thống Diệm đă giúp ǵ cho Phật giáo? Tại sao việc đáng giúp nhất, dễ giúp nhất để quốc gia đoàn kết, tôn giáo hoà đồng là việc băi bỏ đạo dụ số 10, Tổng thống Diệm lại không chịu giúp? Băi bỏ đạo dụ số 10 là một bổn phận hành chánh, một đường lối chính trị đáng làm và phải làm mà anh em ông Diệm c̣n không làm, nói ǵ đến giúp.

Một điểm quan trọng cần phải nhấn mạnh ở đây là trong suốt 9 năm của chế độ Ngô Đ́nh Diệm, không phải hàng giáo phẩm nào, lại càng không phải người Công giáo nào cũng đồng ư với chính sách kỳ thị tôn giáo của chính quyền Diệm và của Giáo Hội Công giáo Việt Nam.

Đa số người Công giáo miền Nam (Nam kỳ cũ) và ngay cả người Công giáo miền Bắc, miền Trung, trong nhiều trường hợp, ngay từ đầu đă không chấp nhận chủ trương phản dân tộc của anh em ông Diệm.

Không thiếu ǵ những cây bút, những phong trào đoàn thể Công giáo đặt lại vấn đề "lương tâm Công giáo", đ̣i hỏi người Công giáo phải "t́m về dân tộc". Những nhân sĩ, những trí trức, những tổ chức Công giáo tiến bộ đó chân thành, khắc khoải, xót xa với vận mệnh đất nước, muốn đặt lại và tự hỏi về