MỤC LỤC

 

 

 
 

 

   Lời Giới thiệu của NXB

   Lời Mở đầu

 * * *

Chương 01

Chương 02

Chương 03

Chương 04

+ H́nh ảnh 1

Chương 05

Chương 06

Chương 07

Chương 08

Chương 09

Chương 10

Chương 11

Chương 12

Chương 13

Chương 14

Chương 15

Chương 16

Chương 17

Chương 18

Chương 19

Chương 20

 

THƯ MỤC

PHỤ LỤC

Phụ lục A

Phụ lục B

Phụ lục C

Phụ lục D

Phụ lục E

Phụ lục F

 

+ H́nh ảnh 2

 

* * *

 

CHƯƠNG XIV

 

KỲ THỊ TÔN GIÁO

 

 

Một trong những thể hiện độc đáo nhất của văn hoá nước ta là đời sống tín ngưỡng rất nồng nàn và rất lâu đời của dân tộc. Cứ nh́n số đền chùa đ́nh miếu trong mỗi làng mỗi tỉnh, và sau này, số nhà thờ trong mỗi đơn vị hành chính địa phương th́ đă có thể đo lường được sinh hoạt tín ngưỡng của dân ta mạnh mẽ biết chừng nào. Cứ đem số lượng những ngày cúng kỵ riêng tư của từng gia đ́nh và những lần tế lễ chung của toàn dân tộc th́ biết cái bản chất hướng nội của người nước ta sâu sắc biết là bao nhiêu.

Kỵ bên nội, kỵ bên ngoại, lễ Chạp mả, tiết Thanh minh, cúng Đức Trần, lễ Chùa Hương, Phật Đản, Giáng Sinh, Đức Thầy, Tết Nguyên Đán, cúng Cô Hồn, lên cây nêu, thờ Thần Táo, chay đàn, cầu siêu, bà Mụ, Hà Bá, Thành Hoàng, Thánh Gióng,... thật không có một dân tộc nào liên hệ chặt chẽ với quá khứ và hướng về đời sống tâm linh huyền bí sâu đậm như vậy.

Do đó mà hầu như người Việt Nam nào cũng có đạo, cũng là tín đồ của một tôn giáo. Nếu đạo đó không có một vị giáo chủ, những giáo lư thành văn, hoặc một giáo hội th́ ít nhất người Việt Nam đó cũng chung chung theo đạo thờ tổ tiên ông bà trong cái tổng hợp đẹp đẽ không mâu thuẫn của nền Tam giáo Đồng Nguyên.

Sau khi cuộc di cư năm 1954 hoàn tất, dân số toàn quốc là 38 triệu mà trong đó 15 triệu người sinh sống tại miền Nam tự do. Trên phương diện tôn giáo, 15 triệu người đó được phân chia như sau: Tin Lành ra đời tại Việt Nam từ năm 1921 có độ 200.000 tín đồ, Hoà Hảo (từ năm 1939) có độ 1.500.000 tín đồ, Cao Đài (từ năm 1925) có độ 1.500.000 tín đồ, và ngoài hai tôn giáo c̣n lại là đạo Phật và Công giáo th́ hầu như mọi người đều theo đạo gia tiên.

Đạo Phật được du nhập vào Việt Nam từ thế kỷ thứ hai sau Tây lịch với hai đặc tính HOÀHOÁ của nó nên không những đă hoà được vào dân tộc một cách dễ dàng mà c̣n hoá thành một thứ đạo Phật đặc thù Việt Nam, phân biệt hẳn với Phật giáo Ấn Độ hoặc Trung Hoa, để đóng góp vào việc dựng nước và giữ nước trên mọi mặt văn hoá, quốc pḥng, học thuật, kỹ thuật,... Sau năm 1954, số Phật tử tại miền Nam Việt Nam được ước lượng vào khoảng 4.500.000.

Năm 1553 giữa thế kỷ 16, Thiên Chúa giáo được du nhập vào Việt Nam dưới thời vua Lê Trang Tôn. Sau 400 năm truyền giáo, từ vĩ tuyến 17 trở vào, số giáo dân tập trung đông đảo ở các tỉnh Quảng Trị, Quy Nhơn, KonTum,... c̣n tại các địa phương khác th́ sống thưa thớt thành từng họ đạo chẳng bao nhiêu. Cuộc di cư năm 1954 đă nâng tổng số đó tại miền Nam lên hơn 1 triệu tư, gần bằng số tín đồ của Cao Đài, nhưng ảnh hưởng chính trị cũng như kinh tế, xă hội cũng như giáo dục th́ lại vượt hẳn các tôn giáo bạn và lan tràn không những trong quần chúng mà c̣n trong bộ máy công quyền cũng như trên chính sách quốc gia. Trong số 860.026 người Bắc di cư vào Nam, có 676.384 (tức 78,64%) người Công giáo (tức là hơn một nửa số Giáo dân miền Bắc) với 5 giám mục, hơn 700 linh mục (2/3 tổng số linh mục ở miền Bắc).[1]

Theo nghiên cứu của Jean Lacouture trong "Les Deux Vietnam" mà tôi sẽ đề cập đến một cách chi tiết hơn sau này, th́ trong tổng số hơn một triệu tư đó, vào năm 1963, những người Công giáo Nam kỳ đă tỏ ra lạnh nhạt và thụ động bất măn với chế độ Diệm v́ yếu tố kỳ thị địa phương Công giáo Bắc, Công giáo Nam của gia đ́nh họ Ngô.

Phải nói rơ ra như thế để thấy rằng chỉ có hơn một triệu người Công giáo gồm Công giáo di cư từ miền Bắc vào, và đa số giáo dân miền Trung là ủng hộ ông Diệm, tạo thành một chủ lực hậu thuẫn sắt thép cho ông suốt 9, 10 năm ông trị v́ tại miền Nam Việt Nam.

Với một triệu người Công giáo vừa nhiệt thành v́ tôn giáo, vừa nhiệt t́nh ủng hộ ông Diệm, với chủ nghĩa Nhân Vị Duy Linh, với quyền hành tuyệt đối trong tay, với phương tiện dồi dào của Hoa kỳ, anh em ông Diệm đă có đủ điều kiện để thực hiện tham vọng của họ là "làm sáng danh Chúa", cũng vốn là nhiệm vụ cao trọng và tối thiết mà nhà Ngô nghĩ rằng họ đă được Thượng Đế giao phó. Nói rơ hơn, đối với anh em ông Diệm th́ việc làm sáng danh Chúa là "cứu cánh", c̣n tổ quốc, dân tộc, kiến thiết quốc gia, chống Cộng chỉ là "phương tiện" Chúa an bài để họ đạt được cứu cánh đó mà thôi.

Cứ nh́n lại tiến tŕnh du nhập của Thiên Chúa giáo vào Việt nam, nh́n lại lịch sử ḍng họ Ngô Đ́nh v́ bị người Lương khủng bố phải bỏ làng Xuân Dực đến ngụ cư ở làng Đại Phong, nh́n lại việc ông Ngô Đ́nh Khả được cố đạo ngoại quốc nuôi cho ăn học rồi về nước làm quan theo Pháp dẹp quân Kháng chiến Cần Vương, cứ nh́n việc ông Nguyễn Hữu Bài rồi ông Ngô Đ́nh Diệm đều làm Thượng Thư đầu triều và đều có ư đồ riêng trong việc ủng hộ Kỳ Ngoại Hầu Cường Để, ta sẽ thấy rơ anh em ông Diệm đă được hun đúc như thế nào để chỉ một mặt th́ mang nặng hận thù với người bên Lương và mặt khác th́ hết ḷng làm nhiệm vụ mở mang nước Chúa theo tham vọng của Hội Thánh La Mă.

Mà ư Chúa, ư Hội Thánh là ǵ? Ta hăy nghe Tổng giám mục Drapier, Khâm mạng Toà Thánh tại Huế nói rơ:

"Hội Thánh là một cơ quan hằng đi tới. Hội Thánh thiết lập ở đâu là sống ở đó, mà sống tức là cứ bành trướng măi do một sức mạnh kích phát từ bên trong. Mầm sống của đạo Công giáo chính là một thứ men nồng không thể chịu nằm yên, không di dịch. Bản tính nó là làm cho sôi nổi, cho nứt vỡ giới hạn bên ngoài. Mọi sự ngăn trở, ngược đăi đă không thể khiến nó nhụt đi lại làm cho nó thêm phấn khởi" [2].

Một lối nói tuy văn vẻ mà hàm ư hiếu chiến và kiêu căng.

Cái tham vọng làm vị Thánh Tông đồ thứ 13 của gia đ́nh nhà họ Ngô không đợi đến sau này mới phát hiện mà đă được vun xới từ hồi anh em ông Diệm c̣n niên thiếu. Họ đă lập chí ngay từ thời vừa lớn khôn để cho gia đ́nh phải có một Ngô Đ́nh Thục đi vào Giáo hội để đứng đầu hàng giáo phẩm, phải có một Ngô Đ́nh Diệm đi vào hoạn lộ để làm quan đến Thượng Thư Bộ Lại và sau này làm nguyên thủ quốc gia mà ở địa vị nào cũng đ̣i hỏi cho được quyền hành tuyệt đối, và có một Ngô Đ́nh Nhu đi vào đường học vấn để làm cha đẻ một chủ nghĩa Nhân Vị Duy Linh Thiên Chúa giáo. Gia đ́nh họ Ngô làm đủ mọi cách để có một nhà lămh đạo tôn giáo, một vị nguyên thủ quốc gia, và một lư thuyết gia chính trị với tham vọng biến nước Việt Nam thành "người con gái đầu ḷng" của Hội Thánh La Mă tại Đông Nam Á (La Fille Ainée de L' Eglise Romaine de l' Extrême-Orient).

Nh́n lại lịch sử nước nhà, từ ngày Thiên Chúa giáo du nhập vào Việt Nam, những cố đạo ngoại quốc, đặc biệt là các giáo sĩ người Pháp trong "Hội Truyền Giáo Hải Ngoại" như Alexandre de Rhodes, Pigneau de Béhaine, Puginier, Pellerin,... đă v́ tôn giáo ḿnh mà t́m mọi cách tiêu diệt nền văn hoá và truyền thống dân tộc Việt, hầu thực hiện việc Công giáo hoá toàn dân Việt Nam. Nhưng họ đă không làm nổi v́ đại đa số người Việt Nam ḷng tràn t́nh tự dân tộc đâu để cho họ làm.

Cuộc đảo chánh 9-3-45 của Nhật Bản lật đổ và chấm dứt nền đô hộ Pháp rồi sau đó nền độc lập của nước nhà được ông Hồ Chí Minh tuyên bố ngày 2-9-45 tưởng đă chấm dứt được trang sử đen tối gần một trăm năm qua để quê hương được thật sự thuộc vể dân tộc. Nhưng thảm trạng lại xảy ra v́ lá cờ đỏ sao vàng của Việt Minh chỉ là biểu tượng cho một nền độc lập giả mạo được tô vẽ bởi Đệ Tam Quốc Tế và được sự công nhận giai đoạn của thực dân Pháp trong ư đồ muốn trở  lại Đông dương để tái lập nền thuộc địa cũ. Do đó mà cuộc chiến tranh Pháp-Việt từ 1945 đến 1954 đă phải xảy ra với kết quả là đất nước bị chia đôi, lấy gịng sông Bến Hải làm ranh giới cho hai miền Nam Bắc. Cái thảm trạng cho dân tộc không phải chỉ là v́ cuộc chiến tranh đă xảy ra giữa Cộng Sản Việt và Thực Dân Pháp mà là đau thương hơn nữa, nó c̣n v́ Pháp muốn tái diễn lại việc dùng người Công giáo làm hậu thuẫn như thời trước để chống lại người Lương mà việc dùng viên Cao ủy đầu tiên, Đô đốc Thierry d’Argenlieu, vốn là một Cố đạo, đă rơ ràng nói lên cái âm mưu thâm hiểm của người Pháp.

Đô đốc d 'Argenlieu, Cao uỷ Pháp đầu tiên tại Đông Dương (1946) đă từng là Bề trên xứ đạo Louis de la Trinité thuộc ḍng Carmen, bị động viên trong thời Đệ Nhị thế chiến và theo De Gaulle kháng chiến chống Đức. Được cử giữ chức Cao uỷ Pháp tại Đông Dương, đô đốc d 'Argenlieu vẫn ở trong t́nh trạng của một tu sĩ Thiên Chúa giáo. Mỗi buổi sáng, trong một căn pḥng riêng tại dinh Norodom tại Sài g̣n, ông ta tự ḿnh làm lễ. Ông ta chống lại chính sách hoà dịu đối với Việt Nam của tướng Leclerc và đă chủ trương thành lập nước Nam Kỳ tự trị [3]. D'Argenlieu muốn tái diễn tṛ "Nam Kỳ thuộc địa" trăm năm trước để từ đó dần dần đánh chiếm Bắc và Trung phần. Tuy nhiên, lịch sử chiến tranh 1945-1954 cho thấy chỉ có đa số người Công giáo nhiệt t́nh ủng hộ người Pháp c̣n đại đa số lực lượng dân tộc Việt, bằng phương thức này hay phương thức khác, chống lại âm mưu của thực dân như đă nói trong những chương trước của tập hồi kư này.

Theo ông Văn Thanh trong "L'Autodéfense des Villages" th́ vào năm 1952 tại BắcViệt, người ta đă công khai than phiền việc dân vệ Công giáo được Pháp vơ trang đầy đủ và dùng vũ khí đáng lẽ để chống Cộng Sản th́ lại làm công việc "cướp bóc chùa chiền, tàn phá miếu mạo và ép buộc người Lương theo đạo” [4].

Cho nên khi đă có đủ quyền lực trong tay, chính sách cai trị miền Nam của họ Ngô đă chia thành hai vế rơ rệt: vế thứ nhất là chống Cộng, và vế thứ hai là Công giáo hoá toàn bộ miền Nam. Nói là chia hai vế nhưng thật ra chúng liên hệ hỗ tương khăng khít với nhau v́ tiêu diệt Cộng Sản vô thần và "Tà thần ngoại đạo" (ám chỉ các tôn giáo khác tại miền Nam), theo anh em ông Diệm, là làm trọn được nhiệm vụ Công giáo hoá, mà cụ thể nhất là ư đồ nâng Công giáo lên hàng quốc giáo độc tôn của Tổng Giám Mục Ngô Đ́nh Thục. Cũng vậy, khi đẩy mạnh chính sách ưu đăi và chỉ tin cẩn sử dụng nguồn nhân sự Công giáo trong chính quyền và quân đội, trong lănh vực kinh tế và xă hội, th́ anh em ông Diệm cũng đă cho rằng như thế là đủ sức mạnh để đánh Cộng Sản. Hai vế đó như thiên la địa vơng chụp xuống đầu nhân dân miền Nam, đánh tráo thứ này thành thứ nọ, muốn kết tội ai th́ cứ gọi người đó là Cộng Sản, ai muốn được đặc quyền đặc lợi th́ cứ theo Công giáo... đă làm thành một thế trận hôn mê quật ngă được cả những sức mạnh có truyền thống lâu đời như các đảng phái, các tôn giáo và các t́nh tự văn hoá sâu sắc đă từng miên man quấn quít dân tộc cả ngàn năm nay.

Tuy nhiên, có hai thế lực lớn đă không ngă quỵ: Cộng Sản đă lợi dụng chính sách thất nhân tâm đó để khôn khéo vươn lên, và Phật tử đă đứng vững trên tâm thức "Bồ Tát" mà dẻo dai chịu đựng.

Thật vậy, sau khi đă vượt qua được những khó khăn của hai năm đầu 1954-1955, và sau khi đă tê liệt hoá các đảng phái quốc gia, vô hiệu hoá hai giáo phái Ḥa Hảo và Cao Đài, chính quyền Ngô Đ́nh Diệm, dù đang phải đối phó với nhiều vấn đề cấp bách, vẫn bắt đầu phát động kế hoạch công phá lực lượng Phật giáo nói riêng, và người Lương theo đạo ông bà nói chung.

Riêng Phật giáo Việt Nam, mà cuộc chiến Pháp-Việt 45-54 đă tiêu huỷ và làm kiệt quệ khá nhiều lực lượng tăng sĩ, tín đồ cũng như các cơ sở chùa chiền, kinh sách v́ đă không chịu tham dự vào quyền thế của hai phe lâm chiến, xưa vốn đă nghèo khổ nay lại càng nghèo khổ thêm. Hoà b́nh trở lại, Phật giáo Việt Nam không mong muốn ǵ hơn là an hoà và thái b́nh đó được duy tŕ măi măi để họ được tổ chức lại từ đáy tầng đổ nát, những cơ sở vật thể khiêm nhường, được trùng tu lại hệ thống tu học tăng ni đơn giản, phát huy được tinh thần "cho vui cứu khổ" trong quần chúng hầu đóng góp cho đại cuộc xây dựng miền Nam.

Nhưng thái độ khôn ngoan và ước mơ chính đáng đó vẫn không làm cho Phật giáo tránh được những thủ đoạn kích phá trong chính sách kỳ thị tôn giáo của gia đ́nh và chế độ Ngô Đ́nh Diệm.

Hành động kỳ thị đầu tiên ghi nhận được vào năm 1956 khi một vị linh mục có tên là Vàng, giảng sư của trung tâm Nhân Vị Vĩnh Long, đi thuyết tŕnh tại các tỉnh và khi đến Đà Nẵng, ông đă cho cắm Thập Tự Giá lên núi Ngũ Hành Sơn, nơi có chùa Non Nước lịch sử mà dân chúng đă từ lâu tôn vinh là đệ nhất thắng cảnh quốc gia, đẹp hơn cả chùa Hương tại miền Bắc. Buồn cười là mỗi ngày khi cha Vàng cho cắm Thập Tự Giá lên th́ sáng hôm sau lại thấy cây Thập tự bị chặt vất bỏ trên sườn đồi. Sau ba ngày như thế, linh mục Vàng nổi giận và quy tội cho Phật tử đă cố t́nh phá hoại nên khi ra Huế, ông đến gặp Hoà thượng Trí Thủ, Tổng trị sự Phật giáo miền Trung, đ̣i Hoà Thượng phải bảo toàn cây Thánh giá ở Ngũ Hành Sơn ! Ḥa thượng Trí Thủ trả lời: "Chính quyền trong tay các ngài, các ngài muốn làm ǵ th́ làm, chúng tôi có giám cản trở các ngài đâu". Sau này, nhờ cuộc điều tra của chính quyền mới biết được sự thật là chính dân chài Sơn Trà, v́ mê tín sợ cây Thánh giá cắm trên đầu nóc chùa có thể làm mất tính thiêng liêng của ngôi chùa, hại cho nghề đi biển, nên họ đă chặt vất và ném xuống sườn núi.

Năm 1956-1957 tại Huế, cứ đến gần ngày lễ Phật Đản th́ dân chúng lại thấy cầu Trường Tiền băng ngang sông Hương được trang hoàng bằng những Khải Hoàn Môn có treo cờ ... Ṭa Thánh và ảnh tượng Đức Mẹ. Tất nhiên đám rước Phật từ chùa Từ Đàm qua chùa Diệu Đế không thể đi bộ dưới những ảnh tượng đó để qua cầu Trường Tiền mà phải qua sông Hương bằng đ̣. Trong vụ này, âm mưu thâm độc của Công Giáo Cần Lao là để gây khó khăn, và nhất là để làm nhục Phật giáo: nếu đám rước cứ đi bộ qua cầu th́ tượng ảnh của Đức Phật, cờ Phật phải chui dưới ảnh tượng của Đức Mẹ, mà nếu qua sông th́ phải tốn tải, phiền hà, mất th́ giờ v́ phải huy động hàng ngàn chiếc đ̣. Và điểm uất ức chất ngất nhất là trong khi đồng bào Phật tử khó khăn duy tŕ cuộc rước Phật trong những điều kiện hỗn loạn như thế th́ nhóm Công Giáo Cần Lao lại đắc ư chụp h́nh, viết  phúc tŕnh về hành động kỳ thị của chúng gởi về cho Đức Cha, ông Cậu. Hành động kỳ thị lẽ dĩ nhiên nếu đă xảy ra tại Huế th́ nhiều nơi ở thôn quê, ở các tỉnh khác lại càng trầm trọng và thường xuyên hơn. Tướng Tôn Thất Xứng (hiện ở Canada) lúc c̣n làm Tư lệnh Sư đoàn I, đă cho tôi biết tại Quảng Trị chính Đặng Sĩ, một Trung đoàn trưởng của ông ta, cũng đă dùng những thủ đoạn trên buộc đám rước Phật phải băng qua những đồng ruộng để tránh con đường tới chùa đă bị cờ và ảnh tượng của Đức Mẹ dựng lên chận ngang.

Lăng nhục tôn giáo đă là một điều đáng phỉ nhổ rồi, nhưng hạ nhục một tôn giáo, đạp nó xuống bùn mà mục đích là để cho tôn giáo ḿnh được độc tôn th́ quả thật hoặc đó chỉ là một ngụy giáo, hoặc các tín đồ chỉ là một thứ phản giáo mà thôi !

Những thủ đoạn này c̣n kéo dài măi đến năm 1959, sau khi ông Ngô Đ́nh Cẩn nhận được nhiều báo cáo cho biết những bà, những mẹ, những chị buôn thúng bán mẹt ở chợ Đông Ba, chợ Cống, chợ An Cựu,... những dân lao động, những bác xích lô, những em học sinh ở các trường tiểu học đă công khai và rộng răi chưởi bới nhà Ngô và nhóm Cần Lao Công Giáo thậm tệ, ông Cẩn mới ra lệnh chấm dứt.

Dù sao th́ những th́ những thủ đoạn vừa kể trên chỉ là những hành động cục bộ v́ thật ra chính thái độ và các biện pháp của các Tỉnh trưởng, Quận trưởng, Công an Cần Lao Công Giáo mới nguy hiểm hơn. Họ lạm dụng thủ tục thăng thưởng, chế tài, đề bạt, thuyên chuyển để áp lực thuộc cấp phải cải đạo, ai không bằng ḷng cải đạo th́ không được đề nghị thăng thưởng, bị sa thải hay bị đổi đến những địa điểm hẻo lánh xa xôi.

Hơn thế nữa, lên tới cấp chính sách, Cần Lao Công Giáo c̣n tàn ác hơn khi chúng lợi dụng phong trào "Tố Cộng" để khủng bố dân lành buộc họ phải bỏ đạo thờ ông bà để vào Công Giáo. Dân chúng vốn đă sống mười năm dưới chế độ Việt Minh làm sao khỏi cộng tác và liên hệ ít nhiều với bộ máy hành chính cũ, biết vậy nên nhóm Cần Lao Công Giáo dựa vào những thành tích cũ đó để áp bức dân lành theo đạo, nếu không th́ sẽ bị bắt bớ, tù đày. Những sự kiện áp bức này đă được nhiều tác giả đề cập đến [5]. Oan ức và tội nghiệp nhất là những đảng viên trong những đảng phái quốc gia như Đại Việt, Việt Quốc, vốn là kẻ thù của Việt Minh, bị Việt Cộng nằm vùng dưới chế độ Diệm lợi dụng chính sách Tố Cộng để tố ngược lại, làm những người quốc gia biến thành Cộng Sản, rồi trở thành nạn nhân đau khổ nhất của Cần Lao. Trái lại, cũng nhờ chính sách cải đạo mà Việt Cộng len lỏi dễ dàng được vào chính quyền, v́ thế mà mới năm 1959, Việt Cộng đă đặt được hạ tầng cơ sở tại nông thôn miền Nam.

Dinh điền là một trong những chương tŕnh ông Diệm tự hào nhất trong những năm chấp chánh. Nhưng nếu chỉ trên mặt kinh tế và chỉ giới hạn trong một vài địa phương nó có đem lại thành công, th́ trên mặt chính trị và nhân văn - mà điều đó mới là điều quan trọng trong một cuộc chiến tranh nhân dân - nó đă thật sự thất bại mà kết quả rơ ràng và bi đát nhất là lời oán trách mỉa mai truyền tụng rộng răi trong quần chúng: "theo đạo có gạo mà ăn". Chương tŕnh dinh điền là chính sách đưa dân miền Trung, nơi người đông đất hẹp, lên vùng Cao Nguyên để lập nghiệp. Đó là một chủ trương xă hội, kinh tế hợp lư trong công cuộc kiến thiết quốc gia nhưng, như Robert Shaplen đă nói, bất cứ chánh sách nào mà hễ có ảnh hưởng của Cần Lao Công Giáo xen vào th́ đều thất bại hết.

Để lựa chọn dân đi dinh điền, những Tỉnh trưởng, Quận trưởng Cần Lao vâng lệnh ông Nhu tổ chức các buổi B́nh Nghị (một bắt trước thô bạo kỹ thuật của Cộng Sản trong chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất). Chúng tập họp dân chúng lại, rồi bọn cán bộ xă ấp tay trong tŕnh bày trường hợp của mỗi người dân (mà chúng bắt theo đạo) để đề nghị gần như cưỡng ép ghi tên họ vào danh sách "được" đi dinh điền. Nếu những người dân đó thuận theo đạo th́ được ở nhà, ngược lại th́ phải đi Cao Nguyên. Biện pháp này đă dùng chính sách của quốc gia như một biện pháp chế tài và đem tôn giáo can dự mạnh mẽ vào sinh hoạt kinh tế của quốc gia. Nhưng lên Cao Nguyên mà nào có được yên thân, di dân c̣n bị tai họa không theo đạo không có gạo mà ăn khốn khổ hơn. Trung tâm trưởng dinh điền là các vị linh mục "Bắc kỳ di cư", là những ông vua con có quyền sinh sát. Nếu di dân theo đạo th́ được các ông phát gạo, muối, cá khô, dụng cụ và cây giống cho làm ăn sinh sống, nếu không th́ chẳng những không được phát đồ ăn, dụng cụ, mà bàn thờ, lư hương, tượng Phật c̣n bị ném vất ra đường... ai kháng cự th́ các linh mục cho lính, dân vệ, bảo an tới đàn áp. Một số dân dinh điền trốn được về làng báo cáo những hành động kỳ thị áp bức cho các tăng sĩ Phật giáo nên Ḥa thượng Trí Thủ bèn gởi đơn và hồ sơ lên chính phủ và Quốc hội để xin can thiệp. Đơn gởi đến 5, 7 lần và nhờ những nhân vật Phật giáo thân với ông Nhu, ông Diệm như Thị trưởng Đà Lạt Trần văn Phước (hiện ở Canada), cụ Án Vơ Vọng tŕnh bày, vận động, ông Diệm mới bằng ḷng thành lập một uỷ ban điều tra để cứu xét vụ kỳ thị tôn giáo ở các dinh điền.

Uỷ ban điều tra gồm có Chủ tịch quốc hội Trần văn Lắm (hiện ở Úc) làm chủ tịch với các uỷ viên là tướng Tôn Thất Đính, Tư lệnh quân đoàn II, cụ Mai Thọ Truyền, chuyên viên Phủ Tổng Thống, Hoà thượng Trí Thủ, đại diện Tổng Hội Phật giáo, và Thượng tọa Măn Giác, chánh đại diện Phật giáo Cao Nguyên. Uỷ ban đă đến từng trung tâm dinh điền ở bốn tỉnh Cao Nguyên thị sát điều tra và xác nhận những sự kiện kỳ thị khủng bố, lập biên bản có tất cả các chữ kư của các uỷ viên. Tờ tŕnh của Uỷ ban được gởi lên cho Tổng thống Diệm và được sao ra cho Quốc hội, Quân đoàn, đại biểu chính phủ Trung phần và Cao nguyên, và các uỷ viên. Nhưng thời gian cứ trôi qua mà chính phủ vẫn không có một xét xử nào, không có một biện pháp nào để chấm dứt sự lộng hành của các linh mục. Đă thế, cũng v́ cuộc điều tra đó mà di dân bị trả thù nặng nề hơn nên trốn gần hết về quê cũ. Do đó mà kế hoạch dinh điền chỉ thành công ở những trung tâm do giáo dân khai thác, c̣n những vùng do hai mươi ngàn di dân từ miền Trung lên th́ đều thất bại và trở thành hoang phế hết.

Không thiếu ǵ sách sử đă tŕnh bày chính sách kỳ thị tôn giáo của chế độ Diệm trong chương tŕnh Khu Trù Mật, trong quốc sách Ấp Chiến Lược, trong kế hoạch Dinh điền với nhiều t́nh tiết đau thương đầy máu lệ. Ở đây tôi chỉ trích lại đoạn văn của nữ văn sĩ Frances Fitzgerald nói về chủ trương "theo đạo có gạo mà ăn" của chế độ Diệm:

Trong suốt những năm cầm quyền, Ngô Đ́nh Diệm chỉ có một đồng minh trong nước là khối người Công giáo, nhất là Công giáo miền Bắc di cư. Ngay từ khởi đầu, ông Diệm đă tự trói ḿnh một cách chặt chẽ vào khối Công giáo đó và chỉ đă nâng đỡ các làng Công giáo hơn mọi thành phần dân chúng c̣n lại. Những chức quyền của chế độ Diệm hợp tác chặt chẽ với các linh mục trong các làng Công giáo đă được lănh viện trợ Mỹ. Những chức quyền đó cho người Công giáo làm gỗ tại rừng cấm của quốc gia và độc quyền thu lợi tức mùa màng do Mỹ viện trợ kỹ thuật.

"Theo đạo để có gạo mà ăn" là khẩu hiệu xưa cũ từ thời đô hộ Pháp. Dưới chế độ Diệm, lương dân miền Nam cũng chịu sự cưỡng chế đó, đặc biệt là dân miền Trung. Hàng ngàn dân chúng, nhiều khi cả làng, phải theo đạo Công giáo để tránh khỏi các tạp dịch nặng nề, hay tránh khỏi việc rời làng vào nơi rừng thiêng nước độc. Tất nhiên đó là cái lợi cho giới Công giáo. Nuôi sống người Công giáo bằng sự hy sinh của lương dân, chính phủ Diệm đă có một đường lối chính trị thiển cận mà ông Diệm không có một sự lựa chọn nào khác hơn, người Mỹ cũng không hiến cho ông ta một kế hoạch nào [6].

Đúng như những nhận xét của Frances Fitzgerald, nhiều nơi dân cả làng bị bắt buộc phải cải đạo để tránh nạn rời làng, v́ thế Bản tin Công Giáo Quốc tế, phát hành tại Paris ngày 15 tháng 3 năm 1963, mới hân hoan thông bào thành quả của phong trào cải đạo tại miền Nam dưới chế độ Diệm. Ví dụ làng Phú Hoà tại B́nh Định vào năm 1958 chỉ có 692 giáo dân, thế mà năm 1959, con số theo đạo Công giáo đă lên đến 2000 người. Nghĩa là trong một năm tăng gần 300%. Giám mục Ngô Đ́nh Thục cũng cho biết là tại địa phận Vĩnh Long có rất nhiều làng "xin" được cải đạo tập thể đến nỗi thiếu cả kẻ chăn chiên. Theo Ngô Đ́nh Thục th́ tại Viễn Đông, ngoài Phi Luật Tân ra, Việt Nam là quốc gia sẽ đi đến việc cả nước theo đạo [7].

Trên đây là một số ít các trường hợp điển h́nh. Thật ra với 9, 10 năm dưới chế độ Diệm, người dân thấp cổ bé miệng ở nông thôn, nhất là nông thôn miền Trung, đă phải chịu đựng một chính sách kỳ thị khủng khiếp mà thành phần trí thức và những người ăn sung mặc sướng ở thị thành mấy ai biết được nỗi khổ của lương dân. Đă thế, những nhà lănh đạo Phật giáo lại cũng chỉ âm thầm chịu đựng tai hoạ do thế lực Công giáo Cần Lao gây ra mà không có một phản ứng nào. Cho đến năm 1963, bị dày xéo quá độ phải vùng lên đấu tranh, giáo hội mới gởi lên cho tổ chức Nhân Quyền của Liên Hiệp Quốc tại New York những tập hồ sơ dày cộm nói về tội ác của chế độ Diệm [8].

Và sau khi chế độ Diệm bị lật đổ, vào năm 1964, tu sĩ Tuệ Sĩ mới dám cho xuất bản cuốn Việt Nam Phật Giáo Tranh Đấu Sử do nhà xuất bản Hoa Nghiêm đường Trần B́nh Trọng phát hành để nêu tên tuổi nạn nhân của chính sách kỳ thị tôn giáo dưới chế độ Diệm (cuốn sách của Tuệ Sĩ hiện có trong các thư viện lớn tại Hoa Kỳ).

Nếu những hành động kỳ thị tôn giáo có tính cách cục bộ địa phương là do các linh mục và chính quyền địa phương thực hiện, th́ chính sách kỳ thị quy mô có tính cách quốc gia toàn diện và thâm độc hơn lại do chính anh em ông Diệm tự điều khiển lấy.

Năm 1957, chính phủ Diệm băi bỏ lễ Phật Đản trong lịch tŕnh ngày nghỉ lễ hàng năm của quốc gia. Thủ đoạn này là để làm cho công chức quân nhân, học sinh, sinh viên, thợ thuyền theo đạo Phật không được nghỉ lễ để đi chùa mừng Phật Đản. Trước thủ đoạn thâm độc đó, Phật tử phản ứng lại bằng cách tổ chức Phật Đản to lớn hơn, long trọng hơn những năm trước nên lôi kéo được dư luận nổi lên công phẫn chống đối. V́ thế chính phủ mới chịu "sửa sai" cho ghi lại ngày nghỉ lễ hàng năm của quốc gia [9].

Vừa nắm được chính quyền, anh em ông Diệm đă vội nghĩ ngay đến việc  trùng tu nhà thờ La Vang rồi nâng lên hàng Vương Cung Thánh Đường. Vào ngày 9-3-1960, ngôi nhà thờ này được Toà Thánh Vatican tặng một cây sáp. Ngày 17-8-1961, Ngô Đ́nh Thục tổ chức một đại lễ "dâng hiến Đức Mẹ hiện ra cách đây 160 năm", có đại điện các đoàn thể và hàng vạn giáo dân tham dự. Điểm cay đắng là ban đầu dân chúng chỉ tưởng anh em ông Diệm tôn vinh một ngôi giáo đường của tôn giáo ḿnh mà thôi, ai ngờ họ c̣n muốn biến nhà thờ La Vang thành một trung tâm phát huy tinh thần của quốc gia cho toàn dân toàn quốc. Chẳng những trong việc trùng tu nhà thờ La Vang tiền bạc đóng góp là của người dân Lương mà đứng đầu danh sách lễ dâng hiến này là Phó Tổng thống Việt Nam Cộng Hoà, một Phật tử. Ngô Đ́nh Thục c̣n cho dựng một tấm bảng lớn bắng xi măng cốt sắt với hàng chữ "Pháo Đài Tinh Thần của Quốc Gia” (The Spiritual Bastion of The Country) để 15 triệu dân miền Nam, dù đại đa số là tín đồ của các tôn giáo khác, phải mặc nhiên công nhận một ngôi nhà thờ của Thiên Chúa giáo như là biểu tượng chính trị và văn hoá của quốc gia, như là thành tŕ tinh thần của dân tộc.

Hành động kiêu căng và thách đố đó của vị giáo phẩm cao cấp của Hội Thánh Công Giáo Việt Nam đă nói lên rất rơ ràng ư đồ xâm lăng tôn giáo, cũng như nhận thức chính trị chỉ đạo cho rằng chỉ có Công giáo mới chống Cộng của Giáo Hội này. Việc biến nhà thờ La Vang ở Quảng Trị thành một thứ đền thờ Quốc Tổ (phải gọi là Quốc Mẫu th́ đúng hơn!) đă dám làm th́ ngay tại Sài G̣n, việc biến Toà Đô Sảnh của thủ đô thành một địa điểm tôn giáo để mừng Chúa ra đời không phải là chuyện chế độ Diệm ngại ngùng nữa. Tại Sài G̣n đă có rất nhiều nhà thờ lớn trên các khu đất khang trang, có quá nhiều nữa là khác. Ngay tại trung tâm thủ đô, ở quận nhất sang trọng của giao điểm hai đường Tự Do và Thống Nhất đă có Vương Cung Thánh Đường đồ sộ, thế mà hàng năm cứ vào dịp lễ Giáng Sinh, cơ sở quốc gia là Toà Đô Sảnh ở đại lộ Nguyễn Huệ vẫn cứ bị trưng dụng để treo đèn kết hoa mừng Chúa xuống trần.

Tệ hại hơn nữa là biết lấy nhà thờ Đức Mẹ La Vang làm "pháo đài tinh thần của quốc gia", biết lấy Toà Đô Sảnh để vinh danh Thiên Chúa, nhưng anh em ông Diệm lại không chịu xây đền thờ Quốc Tổ, lại càng không kỷ niệm giỗ tổ Hùng Vương để duy tŕ truyền thống dân tộc và thoả măn nguyện vọng của nhân dân. Cái danh hiệu Hùng Vương chỉ được đặt tên cho một con đường xa xôi trong vùng Chợ Lớn của người Tàu, trong khi Đại lộ thênh thang nối liền trung tâm thành phố với phi cảng quốc tế Tân Sơn Nhất th́ lại trang trọng đặt tên cho người anh là ô ng Ngô Đ́nh Khôi. Thủ đô Việt Nam Cộng Hoà không có được một Văn Miếu, không có được một bức tượng Tổ, trong khi những bức tượng đồng của các nhân vật Thiên Chúa giáo th́ vẫn được duy tŕ chăm sóc như dưới thời Pháp thuộc!

Dinh Độc Lập xây cất để cho ḿnh và gia đ́nh ḿnh ở th́ to, mà đền thờ Quốc Tổ th́ không có, c̣n đền thờ vị anh hùng khai quốc là Đức Tả Quân trải qua hai triều Tổng thống vẫn không cao hơn thềm dinh Độc Lập [10].

Tôi c̣n nhớ nhà văn Chu Tử có kể lại trong tuần báo Đời ở Sài G̣n câu chuyện của một giáo sư Đại học nặng ḷng với Quốc Tổ Hùng Vương, đă đề nghị ông Diệm xây đền thờ Quốc Tổ th́ bị ông Diệm trỏ mặt nạt lớn: "Tổ anh chứ Tổ tôi à!" C̣n nhà văn Vơ Phiến trong tác phẩm "Đất Nước Quê Hương” có cho biết măi sau khi chế độ Diệm không c̣n nữa, nhân dân các tỉnh đă hăng say tự động xây đền thờ Quốc Tổ. Tại Sài G̣n, nhiều đoàn thể thanh niên, sinh viên phát động phong trào "về nguồn", thành lập Hội Việt Vơ Đạo sau khi chế độ Diệm bị lật đổ, đă hàng năm tổ chức lễ kỷ niệm Tổ Hùng Vương để cùng với các thành phần khác của dân chúng vận động xây đền thờ Quốc Tổ. Ḷng dân hướng về Quốc Tổ như thế mà anh em ông Diệm lại không coi Vua Hùng là gịng họ Việt tộc đă khai mở đất nước mà chỉ lo tôn vinh các giáo đường.

Trái lại, Cộng Sản Việt Nam nắm vững được tâm lư nhân dân để vận dụng cho những mục tiêu của họ, đă biết đánh động vào đúng t́nh cảm thiêng liêng nhớ nước thương ṇi và cái bản sắc văn hoá chim có tổ người có tông của đồng bào toàn quốc bằng cách chủ trương công khai và đại quy mô một chương tŕnh trùng tu đền thờ Quốc Tổ [11]. Ngay từ năm 1976, sau khi chiếm được miền Nam, Cộng Sản đă biết tổ chức một cuộc triển lăm kỷ niệm vua Hùng rất trọng đại tại Bộ Tài Chánh cũ ở Sài G̣n với chủ đề rút từ câu nói của ông Hồ Chí Minh "Hùng Vương dựng nước, chúng ta giữ nước" và đă thu hút được rất đông đồng bào đến xem [12]. Cộng Sản c̣n biết bày tṛ như thế để lấy ḷng dân, c̣n chế độ Diệm th́ chỉ biết độc tôn cái tôn giáo của ḿnh để khiêu khích dân, trách ǵ nước chẳng mất!

V́ không xây đền thờ Quốc Tổ nên ông Diệm dự định xây "Đài Kỷ Niệm Quốc Gia" đồ sộ tại Biên Hoà trên núi Châu Thới. Họa đồ do Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ vẽ, và ước tính chi tiêu độ một trăm triệu đồng bạc Việt Nam (dự án này đă được đăng trên báo Sáng Dội Miền Nam do kiến trúc sư Vũ Đức Diên làm chủ nhiệm). Nói đến việc xây dựng một đài kỷ niệm quốc gia để kỷ niệm công nghiệp tiền nhân và tạo dựng cho quê hương một thắng cảnh th́ ai lại không hoan nghênh sáng kiến đó. Nhưng, như tất cả chính sách quốc gia của ông Diệm mà cứu cánh chỉ phục vụ cho gia đ́nh và tôn giáo của ông ta, dự án này cũng không thoát khỏi ư đồ đó. V́ để xây dựng đài kỷ niệm quốc gia, đất đai thiếu ǵ mà phải chọn ngay địa điểm gần một ngôi chùa tiếng tăm của Phật giáo trên núi Châu Thới để triệt hạ ngôi chùa đó đi. Trên ngọn núi cao 65 thước này có chùa Hội Sơn được trùng tu vào đầu thế kỷ thứ 19 do công đức của nhà sư Khải Long, vốn chẳng những là nơi thờ Phật mà c̣n là một thắng cảnh của dân chúng Đồng Nai từ lâu đời. Thời thái b́nh, thập phương từ các vùng Biên Hoà, Cát Lái, Thủ Đức... kéo về chùa Hội Sơn quanh năm cúng kiến đông như ngày hội, do đó mới gọi là "Hội Sơn". Câu ca dao "Bao giờ cạn lạch Đồng Nai. Nghiêng chùa Châu Thới mới phai lời nguyền" được truyền tụng đời này qua đời khác đă đủ nói lên cái tâm nguyện thiêng liêng và cái t́nh cảm thắm thiết của dân Đồng Nai quyết tôn sùng và bảo vệ chùa Hội Sơn như thế nào. Biết được giá trị lịch sử và ảnh hưởng văn hoá của chùa Hội Sơn, ông Diệm bèn cho xây một căn cứ quân sự trên núi Châu Thới gần chùa Hội Sơn để cho binh sĩ phá phách làm mất vẻ tôn nghiêm của chùa và cho phép công binh cũng như các nhà thầu khai thác và làm đá chung quanh chùa để cho chân núi Châu Thới mỗi ngày một lở ra. Vị trí núi Châu Thới bị thâu hẹp, chùa mất vẻ tôn nghiêm, cảnh trí bị tiêu huỷ, Phật tử tới chùa khó khăn nên các vị sư trụ tŕ cũng phải rời đi nơi khác. Nhưng rồi ông Diệm cũng không xây được đài kỷ niệm quốc gia v́ chiến cuộc gia tăng và v́ nhiều biến cố chính trị xảy ra liên tiếp làm cho ông không c̣n muốn xúc tiến dự án đó nữa. Nhưng dù sao th́ chùa Hội Sơn cũng trở thành hoang phế, và chính điều này đủ thỏa măn cho ông rồi.

Ngày c̣n ở quê nhà, tôi có một số tài liệu cũ nói về lịch sử nhà thờ La Vang tại Quảng Trị và nhà thờ Đức Bà tại Sài G̣n. Theo tài liệu này th́ ngày xưa, thời Pháp chưa đô hộ Việt Nam, các vị trí đó là địa điểm của những ngôi chùa, nhưng khi quân Pháp xâm lăng Việt Nam vào thế kỷ thứ 18, các giáo sĩ ngoại quốc đă cưỡng chiếm và phá huỷ các ngôi chùa đó đi để xây nhà thờ, Anh em ông Diệm một lần nữa lại dẫm lên con đường của thực dân và Hội Truyền Giáo Hải Ngoại Pháp để tiêu diệt chùa chiền, đền miễu Việt Nam như nhà văn Sơn Nam có kể lại trong tác phẩm "Văn Minh Miệt Vườn". Cũng trong việc phá chùa dưới chế độ Diệm, kư giả Bernard Fall, đă kể một câu chuyện về Hoà Thượng Sơn Vang người Việt gốc Miên như sau:

Tháng 7 năm 1961, quân đội VNCH hành quân tỉnh Vĩnh B́nh và khi rút đi đă để lại hàng ngàn dân quê khốn khổ, nhà sư chánh đại diện tỉnh đă kêu ca để chống lại việc quân đội bắn phá chùa chiền và giam cầm một số sư săi nhưng vẫn không được xét xử. Mấy tháng sau, tên của Ḥa Thượng Sơn Vang xuất hiện trong danh sách lănh đạo Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam [13].

Việc nhà sư Miên tại Vĩnh B́nh có tên trong danh sách này đă được chế độ Diệm và những kẻ đồng loă với chính sách kỳ thị tôn giáo như Marguerite Higgins thổi lớn lên và xuyên tạc rằng Phật giáo là Cộng Sản với chứng cớ rơ ràng [14].

V́ sao nhà sư Sơn Vang lại theo Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam ? Nếu chế độ Diệm không chủ trương kỳ thị tôn giáo, phá huỷ chùa chiền, đàn áp sư săi th́ liệu nhà sư có bỏ chùa vào bưng để cho Việt Cộng khôn khéo đẩy lên làm cấp lănh đạo tượng trưng không? Huống ǵ Vĩnh B́nh phải xét trong bối cảnh mâu thuẫn Việt-Miên để thấy rằng nhà sư gốc Miên đó từ lâu đă muốn yên thân làm một nạn nhân câm nín mong tu học cho viên măn mà thôi. Nhưng cây muốn lặng mà gió chẳng muốn ngừng, sức oằn của thân cây đến một lúc nào bị đè nén quá phải bật dậy phản ứng. Ngoài ra, cái luận điệu vịn vào chỉ một nhà sư gốc Miên có tên trong thành phần lănh đạo Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam diễn dịch bừa băi rằng cả Phật giáo theo Cộng Sản là một thứ luận điệu nếu không ngu xuẩn th́ quả là độc ác.

Không khác ǵ v́ một linh mục Chân Tín thân Cộng, v́ một linh mục Nguyễn Đ́nh Thi hoạt động cho Cộng Sản tại Pháp, hay v́ một Tổng giám mục Nguyễn Văn B́nh thi hành chỉ thị Cộng Sản sau 1975 để cho rằng toàn bộ Công giáo Việt Nam đều theo Cộng Sản. Cái luận điệu vu cáo chụp mũ Phật giáo đó đă hơn một lần giúp tôi, khi nh́n lại lịch sử cận đại và hiện đại của dân tộc, phân biệt rơ ràng hơn khi phê phán những tội lỗi đối với dân tộc của giáo hội Công giáo Việt Nam,vốn là một bộ phận nằm trong cơ cấu của Công giáo La Mă.

Dưới chế độ Diệm, nhà thờ mọc lên khắp nơi, hầu như mọi đơn vị quân đội (ngay cả giữa Sài G̣n) đều có một nhà thờ, và ngay những nhà thờ cũ bị hư hại thời chiến tranh cũng đều được trùng tu lại hết. Những cơ sở văn hoá, xă hội, kinh tế, các trường tiểu học, trung học, đại học tư, bệnh viện, Giáo Hoàng học viện Pie X... của Công giáo mọc lên rất nhiều.

Trong lúc đó th́ Cao Đài, Hoà Hảo không có một cơ sở nào đáng kể ngoài các Toà Thánh, c̣n Phật giáo cũng chỉ vỏn vẹn mấy trường Bồ Đề cũ từ thời trước để lại. Thế mà Cần Lao Công Giáo vẫn chưa vừa ḷng, vẫn t́m mọi cách để bành trướng thêm hầu chèn ép các tôn giáo khác.

Hội Thánh Tin Lành, một tôn giáo nhỏ, không ảnh hưởng ǵ nhiều đến đời sống quốc gia và không tranh chấp với ai, những tín đồ lại có tinh thần chống Cộng rất cao, chỉ xin xây cất một bệnh xá và một trường thần học nhỏ bé tại Ḥn Chồng (Nha Trang) mà cũng bị kỳ thị. Cụ Lê Văn Thái, Hội trưởng Hội Tin Lành Việt Nam (mất tại Los Angeles năm 1985) gởi đơn khiếu nại tới chính quyền hơn hai năm liền mà vẫn bị từ khước v́ chính quyền cho rằng đất Cụ xin là bất động sản của trường La San, nghĩa là đất của Công Giáo (mà thật ra là đất của quốc gia). Trong lúc đó th́ Tiểu chủng viện La San đă chễm chệ chiếm chọn ngọn đồi đẹp nhất thành phố Nha Trang, không liên hệ ǵ tới miếng đất ở chân đồi nơi mà cụ Thái xin xây cất cơ sở cho Hội Thánh Tin Lành. Vốn là chỗ thân t́nh, cụ Thái bèn can thiệp với tôi về việc bị Công giáo kỳ thị để nhờ tôi đem vụ này tŕnh thẳng với ông Diệm. Tôi nhắc cho ông Diệm biết cụ Thái đă từng gặp ông Hồ Chí Minh hai lần để phản đối ông Hồ Chí Minh đă áp đặt chế độ Cộng Sản lên đầu dân Việt Nam, và tôi cũng nhắc lại những ngày ông Diệm ra Nha Trang, ông vẫn thường mời cụ Thái và giám mục Piquet đàm đạo, rồi tôi lưu ư ông Diệm rằng đất cụ Thái xin là đất của quốc gia, không phải của Công giáo, đồng thời nêu lên cho ông Diệm biết việc kỳ thị tôn giáo quá trắng trợn tại địa phương. Đến lúc đó ông Diệm mới chịu ra lệnh cho phép Cụ Thái xây cất cơ sở xă hội của Hội Thành Tin lành. Việc này quư vị mục sư Lê Hoàng Phu, Nguyễn Văn Chánh, Nguyễn Bá Quang, v.v... hiện ở Los Angeles và Seattle đều biết rơ.

 

-o0o-

 

Dưới thời Đệ Nhất Cộng Hoà, các tổ chức Công giáo tha hồ xuất bản báo chí, kinh sách, tiếng nói Công giáo ra rả ngày đêm trên các đài truyền thanh. Thế mà kinh điển Phật giáo lại bị kiểm duyệt gắt gao đến nỗi Phật giáo không dám ra một tờ báo có tính quần chúng suốt mười năm trời, ngay cả việc sử dụng đài phát thanh cũng không được chấp thuận.

Ngày 23-7-58, ông Ngô Đ́nh Nhu mở một hội nghị toàn quốc tại Sài G̣n về vấn đề giáo dục học đường. Sau hội nghị này, một nghị định chính phủ được ban hành, trong đó có biện pháp "kiểm soát chặt chẽ các trường tư thục". Giới Công giáo nổi lên phản kháng biện pháp kiểm soát của Ngô Đ́nh Nhu, nhiều tạp chí Công giáo tại Sài G̣n đă mở một chiến dịch đả kích biện pháp này. Phong trào đang ồn ào như thế th́ bỗng nhiên dịu xuống một cách đột ngột và lạ lùng. Sau đó người ta mới biết hàng giáo phẩm Công giáo đă được hai ông Nhu và Thục giải thích cho biết biện pháp này phải được công khai ban hành để biện minh cho kế hoạch làm tê liệt các cơ sở giáo dục của Phật giáo. Điển h́nh đau đớn là từ sau hội nghị giáo dục toàn quốc đó, trong nội dung giảng dạy về văn chương Việt Nam ta thấy trong muôn ngàn phong dao, đồng dao nói về tôn giáo tại Việt Nam, những câu thơ châm biếm sư săi kiểu "Ba cô đội gạo lên chùa, Một cô yếm thắm bỏ bùa cho Sư..." đă được cho vào chương tŕnh giáo dục để giảng dạy con em [15], c̣n những phân tích lịch sử nghiên cứu rất cần thiết cho thế hệ thanh niên yêu nước về sự cấu kết giữa thực dân Pháp và Giáo Hội Công giáo La Mă  Vatican trong việc xâm lăng nước ta th́ bị cấm giảng dạy v́ bảo đó là tuyên truyền của Cộng Sản [16].

Suốt 9, 10 năm trời nhà Ngô cho xuất ngoại không biết bao nhiêu là linh mục, giám mục, bà sơ, sư huynh, đi hành hương tại Fatima, tại Lourdes ở Pháp, tại Y Pha Nho, đi viếng thăm Đức Giáo Hoàng tại La Mă, đi du học tại các chủng viện quốc tế, đi du lịch, đi chữa bệnh,... nếu tính ra được th́ số ngoại tệ bị mất không phải là nhỏ. Chế độ Diệm cũng cho rất nhiều sinh viên Công giáo xuất ngoại du học trong chính sách "trồng người" để đào tạo cán bộ, công chức cao cấp cho guồng máy chính quyền và tổ chức dân sự để chuẩn bị cho kế sách Công giáo hoá miền Nam. Thế mà bên Phật giáo chỉ được chính thức một lần đi dự hội nghị Phật Giáo Quốc Tế nhóm họp tại Colombo, và một lần ba Thượng Toạ Trí Thủ, Đôn Hậu, Trí Quang tháp tùng một phái đoàn chính phủ do Tổng trưởng Thông tin Trần Chánh Thành cầm đầu để tham dự hội chợ That Luong tại Lào mà thôi. Và chỉ có hai nhà sư được xuất ngoại. Đó là các Thượng toạ Nhất Hạnh và Măn Giác. Tôi không được rơ Thượng toạ Nhất Hạnh đi bằng cách nào nhưng chắc chắn không do chính phủ Diệm cho đi một cách chính thức. C̣n trường hợp Thượng toạ Măn Giác th́ ông Vơ Văn Hải cho tôi biết Thượng Toạ được một học bổng của Asia Foudation cấp cho đi du học tại Nhật Bản nhưng Tổng thống Diệm nhất định không cho đi. Hải cũng đă hết lời xin cho Thượng Toạ mà không được nên phải cầu cứu đến thân sinh là cụ Vơ Vọng, vốn  là một bạn chí thân với ông Diệm từ thời c̣n làm quan. Cụ Vơ, vốn là một cư sĩ Phật giáo, bèn về Sài G̣n trách móc ông Diệm sao nỡ có thái độ kỳ thị lộ liễu đến thế, bấy giờ ông Diệm mới chịu cho Thượng toạ Măn Giác ra đi.

Ngoài ra, chính sách kỳ thị tôn giáo trong quân đội lại c̣n trắng trợn, lộ liễu hơn. Quân đội là xương sống của quốc gia, là thành tŕ bảo vệ đất nước và chế độ, đáng lẽ phải được đối xử hết sức công minh về mặt tâm linh và tinh thần th́ ông Diệm lại không cho thành lập ngành Tuyên Úy Phật Giáo. Ông chỉ cho Công giáo và Tin Lành thành lập ngành này mà thôi. Đó là một hành động kỳ thị tôn giáo rơ rệt thế mà nữ kư giả Margueritte Higgins, người bạn thân của bà Nhu, trong cuốn "Our Vietnam Nightmare", dám viết rằng sở dĩ ông Diệm không cho Phật giáo thành lập ngành Tuyên Uư Phật Giáo v́ Phật giáo chống chiến tranh. Viết như thế, người nữ kư giả  thiếu lương thiện này đă không biết rằng từ sau khi ông Diệm bị lật đổ, các chính phủ sau đó đă cho Phật giáo được thành lập ngành Tuyên Úy và tổ chức này đă sinh hoạt cho đến ngày miền Nam rơi vào tay Cộng Sản vào tháng 4 năm 1975.

Những sự kiện kỳ thị, đàn áp, khống chế, hạ nhục, tiêu diệt, đánh phá mà tôi kể ở trên chỉ là những sự kiện tiêu biểu và khá phổ biến mà cả nước ai cũng biết. C̣n những thảm kịch khác xảy ra hàng ngày trong các địa phương xa xôi, xảy ra âm thầm trong những đêm tối bí mật th́ măi cho đến sau ngày cách mạng 1-11-63 mới dần hồi được sưu tập và ghi nhận lại.

Sở dĩ chế độ Diệm dám trắng trợn thi hành những biện pháp đó là v́ chính sách kỳ thị tôn giáo của chính phủ đă - ở một mặt nào đó - được gia đ́nh ông Diệm tráo trở hợp pháp qua đạo dụ số 10 năm 1952 của thực dân để lại.

Thật vậy, trong khi t́nh trạng pháp lư của Công giáo dưới thời ông Diệm là một t́nh trạng thả lỏng, nghĩa là không bị ràng buộc bởi một văn kiện nào th́ Phật giáo và các tôn giáo khác lại có cái căn bản Pháp lư của đạo dụ số 10 chi phối. Đạo dụ số 10 là một sản phẩm hành chánh độc ác và thâm hiểm nhất của thực dân Pháp trong chính sách tiêu diệt các tôn giáo tại Việt Nam, v́ một mặt chúng nhằm làm tê liệt các sinh hoạt tín ngưỡng của quần chúng Việt Nam, mặt khác chúng dành độc quyền cho Công giáo cái ưu thế toàn quyền hành đạo. Điều 1 của đạo dụ liệt mọi tôn giáo (trừ Công giáo) vào loại hiệp hội thường như đua ngựa, đá banh,... Điều 7 cho phép chính quyền từ chối không cấp giấy phép hoạt động, hoặc cấp rồi mà vẫn có thể rút lại không cần phải nói lư do. Điều 10 và 12 cho phép bất cứ nhân viên hành pháp hay tư pháp nào cũng có quyền kiểm soát các hiệp hội tôn giáo. Điều 14 và 28 giới hạn tài sản của một tôn giáo ở mức nào đó mà thôi, và dĩ nhiên điều số 44 dành một chế độ đặc biệt sẽ quy định sau (nhưng rồi chẳng bao giờ quy định) cho các Hội Truyền Giáo Thiên Chúa Giáo [17]

Rơ ràng phải có một thâm ư độc ác, anh em ông Diệm mới duy tŕ cái đạo dụ đầy kỳ thị như thế của thực dân cho các tôn giáo khác tại miền Nam, trong khi đă xoá bỏ hầu hết mọi cơ cấu, đă gần như xé bỏ mọi văn kiện pháp lư và hành chánh của chế độ thực dân cũ. Sự duy tŕ đạo dụ này cho thấy thâm ư ǵ nếu  không phải là quyết tâm tiếp tục chính sách Công giáo hoá của thực dân Pháp, tiếp tục biến Việt Nam thành cánh tay nối dài của một loại đế quốc Vatican Trung cổ tại lục địa Á Châu?

Thế mà sau này, ngoài những dư đảng Cần Lao Công Giáo lo làm công tác viết sử hoài Ngô để mong dựng lại một "tinh thần Ngô Đ́nh Diệm", vẫn c̣n có những trí thức Công giáo như Cao Thế Dung, như Nguyễn Kim Long, cho rằng không có kỳ thị tôn giáo dưới chế độ Diệm, nếu có những đàn áp th́ đó chẳng qua chỉ là những "tệ đoan xă hội mà thôi" [18].

Bảo rằng anh em ông Diệm không kỳ thị tôn giáo th́ tại sao họ giữ lại một đạo luật bất b́nh đẳng ? Bảo rằng Việt Nam Cộng Ḥa là một quốc gia độc lập tại sao họ cho thi hành một đạo luật bất công và lỗi thời của thực dân ? Bảo rằng chế độ Diệm là một chế độ nhân vị, một chế độ "cộng đồng đồng tiến" tại sao lại chỉ có người Công giáo là có nhân vị, là được đồng tiến, c̣n tín đồ của các tôn giáo khác lại mất nhân vị, không được đồng tiến ? Tại sao Công giáo chỉ có một triệu rưởi tín đồ mà lại được hưởng một thứ siêu quy chế của một tôn giáo có đủ đặc quyền đặc lợi, trong lúc những tôn giáo kia có đến 14 triệu dân số lại phải chịu quy chế của một hiệp hội mà sự sinh hoạt sống chết nằm trong tay chính quyền? Tại sao Phật Giáo Việt Nam ra đời từ 2.000 năm trước, có công giữ nước, dựng nước, chống Bắc mở Nam lại bị coi là một hiệp hội trong lúc Thiên Chúa giáo mới du nhập vào Việt Nam từ thế kỷ 16, nhất là từng giúp cho quân xâm lược Pháp thôn tính quê hương, lại được nhận là một tôn giáo chính thức không bị pháp luật kiểm soát, và có quyền sở hữu đất đai của quốc gia. Dưới chế độ Ngô Đ́nh Diệm, biết bao xương máu của dân và lính, cũng vốn là tín đồ của các tôn giáo khác đổ ra để bảo vệ "ngai vàng" cho một gia đ́nh, cho một nhóm Cần Lao Công Giáo, thế mà phần thiêng liêng của họ c̣n bị tước đoạt. C̣n ǵ chua xót tủi nhục bằng? Là một người đă làm việc cho ông Diệm hơn 20 năm trời, đă có những giờ phút tâm t́nh với ông ta, đă từng nghe ông mỉa mai đạo Phật, ca ngợi đạo Chúa, đă giao tiếp với anh em ông ta và nhóm Cần Lao Công Giáo lâu năm và kinh qua không biết bao nhiêu âm mưu thủ đoạn của họ, tôi có thể nói mà không sợ sai lầm rằng nếu chế độ tồn tại thêm 5, 7 năm nữa th́ sách sử của dân tộc sẽ không c̣n có phương danh những nhân vật như sư Vạn Hạnh, như Lư Công Uẩn, Lư Thường Kiệt, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trăi, Lư Đông A, Phạm Công Tắc, Huỳnh Phú Sổ,... những thiền sư đă chiến đấu cho quê hương, dân tộc. Chẳng những thế mà tác phẩm của Nguyễn Du, Nguyễn Trăi, Nguyễn Công Trứ, Trần Trọng Kim, Phạm Quỳnh, Phan Văn Hùm, Đào Trinh Nhất, Đào Duy Anh, Hoàng Xuân Hăn, v.v... hễ có ca ngợi đạo Phật, triết lư đạo Phật, đạo Lăo, đạo Nho đều sẽ bị "thất hoá" để chỉ c̣n  lại h́nh ảnh của "Doang", của "Báp Tít", của "Phao Lồ", của "Phê Rô",... trong nền văn học sử Việt Nam mà thôi.

Tờ Infomation Catholique Internationle tại Paris, đă chẳng huênh hoang: "rồi đây dân Việt Nam sẽ theo đạo (Công giáo) hết" đó sao?

Đạo dụ số 10 ra đời năm 1952, trong thời gian mà gót giày sắt của quân đội Pháp c̣n ngự trị trên đất nước quê hương nên đă đem lại bao nhiêu bất công, tủi nhục, đau khổ cho một tôn giáo có nhiều tín đồ nhất Việt Nam. Cho nên khi ông Diệm lên cầm quyền, tưởng nước nhà từ nay độc lập tự do, Hoà thượng Trí Thủ đă mấy lần gởi đơn lên cho chính phủ, sao gởi cho mấy ông đại biểu chính phủ Nguyễn Đôn Duyến rồi Hồ Đắc Khương để xin Tổng thống Diệm huỷ bỏ, thế mà suốt 9, 10 năm trời, tiếng kêu thương của Phật giáo đồ không làm rung động tâm tư hay thay đổi được sự ngoan cố của một gia đ́nh chỉ biết "xin Thượng Đế ban phép lành". Sự ngoan cố càng được biểu lộ rơ rệt hơn trong thời kỳ đấu tranh năm 1963, khi Phật giáo yêu cầu băi bỏ đạo dụ số 10 mà Tổng thống Diệm chỉ t́m cách tŕ hoăn, rồi đâu vẫn vào đấy. Thế mà trong chương tŕnh "Việt Nam, a Television History" năm 1983 của kư giả Stanley Kanow trên đài PBS Hoa Kỳ, cựu Đại sứ Ngô Đ́nh Luyện đă bảo rằng: "anh tôi đă giúp cho Phật giáo rất nhiều". Tổng thống Diệm đă giúp ǵ cho Phật giáo? Tại sao việc đáng giúp nhất, dễ giúp nhất để quốc gia đoàn kết, tôn giáo hoà đồng là việc băi bỏ đạo dụ số 10, Tổng thống Diệm lại không chịu giúp? Băi bỏ đạo dụ số 10 là một bổn phận hành chánh, một đường lối chính trị đáng làm và phải làm mà anh em ông Diệm c̣n không làm, nói ǵ đến giúp.

Một điểm quan trọng cần phải nhấn mạnh ở đây là trong suốt 9 năm của chế độ Ngô Đ́nh Diệm, không phải hàng giáo phẩm nào, lại càng không phải người Công giáo nào cũng đồng ư với chính sách kỳ thị tôn giáo của chính quyền Diệm và của Giáo Hội Công giáo Việt Nam.

Đa số người Công giáo miền Nam (Nam kỳ cũ) và ngay cả người Công giáo miền Bắc, miền Trung, trong nhiều trường hợp, ngay từ đầu đă không chấp nhận chủ trương phản dân tộc của anh em ông Diệm.

Không thiếu ǵ những cây bút, những phong trào đoàn thể Công giáo đặt lại vấn đề "lương tâm Công giáo", đ̣i hỏi người Công giáo phải "t́m về dân tộc". Những nhân sĩ, những trí trức, những tổ chức Công giáo tiến bộ đó chân thành, khắc khoải, xót xa với vận mệnh đất nước, muốn đặt lại và tự hỏi về ư nghĩa cũng như xác tín trước kia để đi đến việc phân biệt rơ đâu là chính, đâu là tà, đâu là dân tộc, đâu là ngoại lai. Nhưng những vận động, những hoài băo tha thiết của họ dưới chế độ Diệm đều trở thành ảo tưởng. Những tiếng kêu trầm thống của người Thiên chúa giáo không muốn "làm kẻ lạ mặt trên chính quê hương ḿnh"chỉ là tiếng vọng vào sa mạc trước một chế độ ngu xuẩn, ngoan cố, và tham tàn. Ngay cả cộng đồng Vatican II (1962) dưới thời đại Giáo Hoàng Joan 23 (28/10/58-4/6/63) bị sức ép của thời đại mới, phản ảnh cả vào nội bộ giáo hội, đă phải tuyên bố "thích nghi", mở đường và thúc đẩy cho tinh thần cởi mở và tiến bộ để người Công giáo có thể đối thoại với người "ngoại đạo" mà vẫn không làm lay chuyển nổi những con người cố chấp, bảo thủ, lỗi thời như anh em ông Diệm và nhóm Cần Lao Công Giáo.

Thế rồi sau 9 năm trời Phật giáo cắn răng chịu đựng những áp bức, những khủng bố, bất công... cuối cùng, khi máu lệ đă cạn gịng, khi thống khổ đă cùng cực th́ không có phép lạ nào có thể ngăn cản để ḍng thác uất ức khỏi bùng ra. Kư giả lăo thành Robert Shaplen, người kư giả đă từng theo dơi t́nh h́nh Việt Nam từ 1945, đă phỏng vấn Tổng thống Diệm suốt 6 tiếng đồng hồ tại dinh Gia Long, một kư giả có rất nhiều bạn bè Việt Nam trong mọi giới và rất yêu thương nước Việt Nam, đă sâu sắc tổng kết lại những diễn biến định mệnh của t́nh trạng lịch sử này:

Không c̣n nghi ngờ ǵ nữa, cuộc nổi dậy của Phật giáo vào năm 1963 có nguyên do cả về chính trị lẫn tôn giáo. Rơ ràng cuộc nổi dậy là để chống đối cái t́nh trạng khủng hoảng từ lâu của xă hội Việt Nam, nghĩa là từ năm 1954, khi chế độ Diệm được thành lập và gần một triệu giáo dân miền Bắc như ḍng suối chảy qua vĩ tuyến 17 tràn vào Nam để trở thành chủ lực hăng say ủng hộ chính phủ ông Diệm. Từ khi trở thành kẻ tay trắng, người Công giáo di cư đă chọn lựa sống chung với nhau dưới sự lănh đạo của những linh mục và xây dựng những xă ấp mới thường mang tên những làng xóm cũ mà họ đă bỏ lại ngoài Bắc. V́ ông Diệm chỉ dựa vào những thành phần đó và v́ các linh  mục dễ dàng ra vào dinh Độc Lập, những người Công giáo di cư trở thành những phần tử thống trị trên đa số nhân dân, nhất là tại miền Trung. Đa số những Tỉnh trưởng, Quận trưởng, và cấp trưởng thôn, trưởng ấp đều là người Công giáo, ngay cả những cấp chỉ huy quan trọng của quân đội cũng vậy. T́nh trạng giáo dân của các làng như một giai cấp mới nở hoa, hưởng thụ hầu hết chương tŕnh viện trợ Mỹ. Họ được cấp phát số lớn đất đai để xây trường học và nhà thương với sự giúp đỡ của quân đội, được ưu tiên mượn tiền của chính phủ tho chương tŕnh của ngân hàng nông nghiệp, được phép đốn gỗ chặt rừng, ngay cả rừng cấm, và độc quyền về xuất nhập cảng, kể cả được quyền thu hoa lợi qua việc trồng trọt cây Kapot, và cây Knaf.

Trong lúc anh em họ Ngô, bằng cách này hay cách khác, thụ hưởng tiền bạc do kết quả sử dụng khối Công giáo tay sai, th́ không thể nói rằng măi đến ngày cuối cùng, gia đ́nh họ Ngô mới bắt đầu có ư định đàn áp, khủng bố Phật giáo. Trong số 15 triệu người dân miền Nam, Phật giáo có độ 11 triệu người, gồm có 4 triệu Phật tử được lănh đạo và số c̣n lại là người theo đạo ông bà. Tuy nhiên dinh Tổng thống không những chỉ thiên vị người Công giáo mà c̣n khuyến khích họ kỳ thị và đàn áp Phật tử tại thôn quê, nơi chỉ có độ 1 triệu giáo dân, qua sự điều động của các ông linh mục và chính quyền địa phương, những lănh tụ của quốc gia. Kể từ năm 1960, với t́nh trạng an ninh mỗi ngày một nguy ngập th́ sự kỳ thị càng lúc càng nặng nề thêm đối với Phật giáo. Ví dụ trong lúc xây dựng ấp chiến lược, các ông linh mục can thiệp cho người Công giáo được miễn trừ tạp dịch rồi bắt binh sĩ thay thế làm việc. Trong chương tŕnh nông nghiệp, người Công giáo luôn luôn được lănh phần đất tốt và gần vùng an ninh, trong lúc Phật tử bị đày đến những nơi xa xôi, nơi mà chẳng những đất đă xấu mà mạng sống lại c̣n nguy hiểm v́ súng đạn của Việt Cộng. Họ phải đi để được yên thân hay để có cơ hội trốn tránh, do đó mới thấy lư do làm sao hàng trăm người, có khi cả làng, phải cải đạo, phương thức mà các linh mục mà các linh mục xúi dục v́ ai không cải đạo là mua lấy sự bất an. Chính quyền địa phương thường phát tiền quỹ quốc gia cho các ông linh mục hăng hái để các ông này hướng dẫn công tác tuyên truyền chống lại sự công kích chính phủ, nhiều làng Công giáo c̣n được phát súng tự vệ và để chống lại Phật giáo. Vào khoảng năm 1962, khi mà chế độ Sài G̣n đang đến lúc suy sụp, chiến dịch đàn áp Phật giáo đă đi đến độ khủng bố cả chính trị, xă hội, tín ngưỡng. Và khi nỗi bất măn của dân chúng dâng lên vào mùa Xuân năm1963 th́ sự căm thù chế độ độc tài lan ra cả nước [19].

Thật là rơ ràng và đầy đủ.

 

-o0o-

 

Mồng một tết Quư Măo (vào đầu tháng 2 năm 1963), như thông lệ hàng năm, công chức và sĩ quan cao cấp tụ tập tại sảnh đường phủ Tổng thống để chúc mừng năm mới vị nguyên thủ quốc gia và để nghe ông Diệm ban huấn từ. Trong lúc chờ đợi vào pḥng khánh tiết, các sĩ quan gồm độ 40 người gồm tất cả tướng lănh và sĩ quan cấp tá (chỉ huy quân binh chủng và giám đốc nha, sở có mặt tại Sài G̣n) chia thành từng nhóm nhỏ đứng ngoài hàng hiên để tṛ chuyện. T́nh cờ tôi đứng trong nhóm có tướng Dương Văn Minh để được nghe ông nói một câu mà mười tháng sau nghĩ lại th́ như là lời báo động cho một biến cố trọng đại của quốc gia. Với vẻ mặt nghiêm nghị tướng Minh nói: "Ngoài kia quân đội đánh giặc th́ thua mà ở đây ḿnh cứ phải diễn măi cái tuồng tích chán ngấy này".

Trong quân đội thời bấy giờ hai vị tướng được sĩ quan kính trọng nhất là Đại tướng Lê Văn Tỵ và Trung tướng Dương Văn Minh. Họ kính trọng hai ông không phải chỉ v́ hai ông mang quân hàm cao nhất, giữ địa vị cao nhất mà chính v́ phong cách đặc biệt của hai người. Ông Tỵ được quư mến vị ông là một vị Tổng Tham mưu trưởng "Bon Papa", c̣n ông Minh được kính trọng v́ ông đă tỏ ra có khí phách, dám chống Pháp, chống tướng Hinh từ thời c̣n quân đội Pháp. Hơn nữa, tính t́nh ông Minh lại nghiêm nghị, tư cách chững chạc, phát biểu chín chắn, nhất là khi bàn luận về việc nước hay việc quốc pḥng. Đối với một quốc gia chậm tiến, với một quân đội tuy xuất sinh từ quân đội thực dân nhưng lại trưởng thành trực tiếp trong khói lửa, một quân đội vừa phải tổ chức để hiện đại hoá lại vừa phải đương đầu hàng ngày với giặc mà có một vị tướng như Dương Văn Minh kể ra cũng đă là một tự hào cho quân nhân Việt Nam Cọng Ḥa rồi, nhất là về đời tư của ông th́ không ai có thể chỉ trích ǵ được.

Từ ngày tôi về giữ chức chỉ huy ngành An Ninh Quân Đội, tôi biết các tướng lănh rất dè dặt với tôi. Họ dè dặt trước hết v́ nhiệm vụ của tôi là phải theo dơi tinh thần, tác phong và hoạt động của họ, và c̣n v́ tôi là người mà họ cho là cán bộ tín cẩn của ông Diệm. Tôi lại làm việc trực tiếp với Bộ trưởng Quốc pḥng và nhất là thường phải đi thẳng, tŕnh báo trực tiếp với Tổng thống nên họ lại càng dè dặt hơn.

Biết vị trí và hoàn cảnh của ḿnh như thế cho nên đối với hàng tướng lănh, nhất là đối với hai ông Tỵ và Minh tôi phải càng tỏ ra kính trọng hơn. Ngay đối với các tướng lănh khác mà đă một thời họ là thuộc cấp hoặc bạn bè, tôi vẫn giữ đúng quân phong quân kỷ, gặp họ tôi vẫn hành xử đúng quân cách dù có một số tướng mà trong ḷng tôi không khâm phục.

 Để cho các tướng thấy tôi không ỷ thế Tổng thống Diệm mà qua mặt họ, mỗi tháng vài lần tôi vẫn thường đến văn pḥng tướng Tỵ, tướng Minh để tŕnh bày t́nh h́nh quân đội cho hai ông nghe và đồng thời nhận những chỉ thị cần thiết. Tất nhiên nhờ những buổi nói chuyện trực tiếp này, tôi đă có dịp để t́m hiểu thêm về con người của họ.

Trong lúc chuyện tṛ, tướng Tỵ tỏ ra cởi mở vui vẻ. Sau khi tôi tŕnh bày công việc rồi th́ ông và tôi đem truyện xưa tích cũ, chuyện "thiên hạ sự" ra bàn bạc, nói cười hể hả. Tướng Tỵ biết thân phận ông ngồi đó là nhờ ông hiền hoà vô hại. Tổng thống Diệm tuy mến ông, nể ông, nhưng không coi ông là "lương đống triều đ́nh" mà chỉ để ông ngồi đó làm v́, ngồi chơi xơi nước. Dưới chế độ Diệm, Đại tướng Lê văn Tỵ, Tổng Tham mưu trưởng của quân đội, mang nhiệm vụ "lễ lạc" hơn là chỉ huy và điều động quân đội, v́ tất cả mọi sách lược và hành quân th́ tướng Tham mưu trưởng, nghĩa là người trực tiếp dưới quyền tướng Tỵ báo cáo thẳng với Tổng thống Diệm. Đối với các ông Thục, Nhu, Cẩn, biết họ quá cao ngạo và lộng hành, ông Tỵ chỉ giữ thái độ "kính nhi viễn chi" mà thôi. Đối với tôi, có lẽ cảm thông đồng cảnh ngộ v́ đều xuất thân là con nhà nghèo, đều là hạng lính già của quân đội mà lên nên ông dành cho tôi một cảm t́nh đặc biệt. Chẳng hạn như khi thiết tiệc các tướng lănh ngoại quốc Mỹ, Pháp, Úc, Trung Hoa,... ông chỉ mời vài vị tướng Việt Nam và tôi tham dự, dù tôi chỉ mang cấp bậc Đại Tá. Thỉnh thoảng, tướng Tỵ mời riêng tôi tới tư dinh của ông ăn bánh, uống trà, nói chuyện đời. Ông thương và tin tôi đến độ nhiều khi ông mang chuyện gia đ́nh riêng tư ra bàn bạc với tôi, và nhờ tôi góp ư khi ông gặp chuyện khó khăn cần giải quyết. Có lần ông nhờ tôi dùng quyền uy để bắt buộc ái nữ của ông phải xa lánh người t́nh là một viên Đại uư. Dĩ nhiên là tôi đă không can thiệp vào mối t́nh keo sơn của hai người trẻ tuổi đó để cuối cùng viên Đại uư kia trở thành nghĩa tế và cho ông một đàn cháu ngoại kháu khỉnh (h́nh như cặp vợ chồng này hiện nay ở Pháp). Trái lại, đối với tướng Dương Văn Minh, mỗi lần gặp ông tôi thấy ông nghe nhiều hơn nói, đặc biệt là mỗi lần tôi đề cập chuyện vợ chồng Ngô Đ́nh Nhu, chuyện ông Thục, ông Cẩn, th́ tướng Minh cố tránh và nói lảng sang chuyện khác. Tôi biết ông không ưa những người anh em ông Diệm, nhất là vợ chồng ông Nhu, ông cũng không bao giờ ghé thăm ông Ngô Đ́nh Cẩn mặc dù nhiều lần ông đến Huế.

Với tư cách Tư Lệnh Hành Quân, ông thường đi thăm các đơn vị tác chiến, thăm các tiền đồn xa xôi và theo dơi sát t́nh h́nh chiến sự. Điều vô lư là từ khi ông b́nh định xong miền Tây, dẹp xong các nhóm vơ trang Hoà Hảo đưa thắng lợi về cho ông Diệm th́ ông Diệm càng ngày càng tỏ ra lănh đạm với ông. Dù là Tư Lệnh Hành Quân, không bao giờ ông được ông Diệm tham khảo hay thảo luận về t́nh h́nh an ninh và chiến sự mặc dù ông đă gửi cho ông Diệm nhiều báo cáo bi quan. Không mấy khi thấy tướng Minh vào dinh Tổng thống, ông Diệm và ông Minh chỉ gặp nhau trong các buổi lễ. Tuy nhiên thái độ của ông Diệm đối với tướng Minh cũng không làm ta khó hiểu nếu ta nhớ lại câu nói của ông Ngô Đ́nh Nhu, khi ông Minh được báo chí gọi là "anh hùng Rừng Sát" trong vụ đánh tan B́nh Xuyên. Dù vậy trong vụ "phiến loạn" của nhóm Thi-Đông vào cuối năm 1960, tướng Minh vẫn đứng về phía ông Diệm nếu không muốn nói rằng ông ta chưa muốn chống ông Diệm. Nhưng từ sau vụ ném bom dinh Độc Lập của hai phi công Quốc và Cử (27-2-1962), và nhất là từ lúc chiến sự mỗi ngày một gia tăng, tướng Minh bày tỏ một cách rơ ràng mối lo âu của ông ta. Vào những tháng giữa năm 1963, mỗi khi đến thăm rồi chào ông ta ra về, tôi thường nghe ông lập lại câu nói "t́nh h́nh này rồi Tổng thống và chúng ta sẽ chạy đi đâu anh Mậu hè..." Sau câu nói đó ông thường nhếch mép nở một nụ cười kín dáo, nhưng tôi đoán ông muốn nhắn gửi với Tổng thống Diệm nỗi ưu tư sâu đậm của ông.

Ngày 8-12-62, ông Diệm thành lập Bộ Tư Lệnh Lục Quân, đem tướng Đôn từ quân đoàn I về giữ chức Tư lệnh và giải tán Bộ Tư Lệnh Hành Quân, rồi giao cho tướng Minh chức Cố Vấn Quân Sự phủ Tổng thống, một chức vụ ngồi chơi xơi nước, đến nỗi tướng Minh không có một bàn giấy, một văn pḥng. Bây giờ th́ đă quá rơ ràng, "người anh hùng Rừng Sát" xưa kia nay đă bị thất sủng và đă công khai bị hạ nhục. Anh em ông Diệm đă thẳng tay phụ bạc kẻ khai quốc công thần mà không biết ḿnh đang chơi ván cờ gần tàn cuộc. Đem Trần văn Đôn về Sài G̣n là mở đường cho Đôn tung hoành, c̣n đặt Dương văn Minh ở một địa vị không trách nhiệm, không quyền hành là tạo bất măn cho Dương văn Minh. Rơ ràng anh em ông Diệm đă dại dột tạo cơ hội cho đối phương đem tốt vào cung, đẩy ḿnh vào thế bí. Thật vậy, chỉ mười tháng sau, Minh và Đôn toàn thắng cuộc cờ.

Là người nghiêm trang, dè dặt thế mà không ngờ ngày mồng Một Tết Quư Măo 1963, tướng Minh lại thốt ra câu nói "Ngoài kia quân đội đánh giặc th́ thua mà ở đây ḿnh cứ diễn măi cái tuồng tích chán ngấy..." Câu nói này phản ánh sự bất măn gần đây nhất của ông đối với trận Ấp Bắc mới xảy ra khoảng một tháng. Chẳng những ông bất măn trận Ấp Bắc là một thảm bại nhục nhă cho quân đội, mà c̣n v́ cấp chỉ huy chịu trách nhiệm là Huỳnh văn Cao và Bùi Đ́nh Đạm lại không bị trừng trị, trái lại c̣n được ông Diệm và bà Nhu lớn tiếng bênh vực. Câu nói của ông c̣n phản ánh sự tức bực tích luỹ từ t́nh trạng tại chiến trường và nông thôn khi số thương vong của binh sĩ ngày một cao mà tại Sài G̣n, chế độ Diệm lại bày ra nhiều lễ lạc, không đem lợi ích ǵ cho quốc gia. Đă thế họ lại buộc "văn vơ bá quan" chầu hầu để tỏ vẻ danh giá cho một gia đ́nh phong kiến với nào là Bổn Mạng các ông Diệm, Thục, Nhu, Cẩn, nào là lễ Khánh Thọ ông Diệm, lễ Khánh Thọ thân mẫu ông Diệm, lễ cúng kỵ Cụ Ngô Đ́nh Khả, lễ Song Thất, lễ Quốc Khánh, Tết Tây, Tết Ta, lễ Hai Bà Trưng (một cơ hội mượn danh nghĩa hai vị liệt nữ để bà Nhu tô điểm cho ngôi vị lănh tụ và uy quyền tột đỉnh của bà ta). Lễ lạc nhiều mà bốn lễ, Quốc Khánh, Tết Tây, Tết Ta, và lễ Hai Bà Trưng lại quá gần nhau nên những kẻ tham dự cảm thấy nhàm chán. Lần nào cũng vậy, cũng ngần đó "văn vơ bá quan" mang áo măo cân đai vào dinh Tổng thống để phải nh́n măi sân khấu đó, diễn viên đó, tuồng tích đó, và nghe ca đi ca lại những lời sáo ngữ đó. Đă chín năm rồi mà lần nào cũng như lần nào: Phó Tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ đại diện cho Hành pháp, Đại tướng Lê văn Tỵ đại diện cho Quân Đội, chủ tịch Quốc Hội đại diện cho Lập pháp đọc những chúc từ đă quá quen thuộc. Rồi đến Tổng thống lên bổng xuống trầm với điệu "Nam ai Nam bằng" mà ông đă ca măi từ năm ngoái năm xưa. Năm nào cũng quanh đi quẩn lại một điệp khúc ngần đó danh từ "cộng đồng đồng tiến", "cách mạng nhân vị", "thành tín", rồi cuối cùng là "xin Thượng Đế ban phép lành" ... không có ǵ mới lạ hết. Sự nghèo nàn cả về nội dung lẫn ngôn từ của các bài diễn văn chỉ nói lên tính chất giáo điều khô cằn mà anh em ông Diệm thích thưởng ngoạn với rất nhiều đắc ư, và tính chính trị hài hước của một sân khấu mà các diễn viên đă mất hết hào hứng sáng tạo của một triều đ́nh phong kiến.

Nếu cho rằng câu nói của tướng Minh tại dinh Gia Long như một tiếng chuông báo trước cuộc cờ sẽ đổi thay th́ những mâu thuẫn trầm trọng giữa anh em ông Diệm xảy ra tại Phú Cam cũng vào ngày mồng Một Tết Quư Măo đó như là một hiện tượng báo hiệu sự tan tác của gia đ́nh ông Diệm mười tháng sau này.

Nguyên khi mới cầm chính quyền, phần v́ anh em ông Diệm c̣n bỡ ngỡ trước một thể chế chính trị mới lạ so với sinh hoạt quan trường phong kiến quen thuộc cũ, phần v́ bị tứ bề thọ địch nên họ thương yêu đùm bọc nhau. Nhưng dần dần v́ chính kiến bất đồng, và nhất là v́ tranh giành quyền lợi nên họ đă chống đối và xâu xé nhau như kẻ thù.

Ngay từ cuối năm 1955, ông Ngô Đ́nh Nhu đă tranh chấp quyền lực v́ ông Luyện bị ông Nhu lấn áp và giành mất ảnh hưởng đối với ông Diệm, mặc dù ông Luyện có công lớn trong việc vận động với Pháp, với vua Bảo Đại để ông Diệm được làm Thủ tướng. Ông Luyện thua v́ là vai em và v́ không thủ doạn bằng ông Nhu. Không thể làm Cố vấn cạnh ông anh Tổng thống để thi thố tài năng và phát triển quyền lực của ḿnh, ông Luyện phải nhận lấy chức Đại sứ Việt Nam tại Anh Quốc xa xôi với nỗi bất măn trong tâm can, để rồi suốt 8, 9 năm trời phải thỏa hiệp với ông Ngô Đ́nh Cẩn mong chống lại vợ chồng Ngô Đ́nh Nhu. Mỗi năm ông Luyện về nước ba, bốn lần để quan sát t́nh h́nh, trao đổi đường lối ngoại giao với ông Diệm đối với các nước Âu Châu, nhưng mặt khác, và đây mới là quan trọng, là để theo dơi những hoạt động của vợ chồng Ngô Đ́nh Nhu và giúp đỡ ông Ngô Đ́nh Cẩn những thủ đoạn chính trị và những kế hoạch hành động chống lại vợ chồng Nhu.

C̣n ông Tổng Giám mục Ngô Đ́nh Thục, nhờ tư cách quyền huynh thế phụ nên được toàn thể các em kính trọng. Tuy nhiên, v́ ḷng tham vô đáy và v́ hành động lạm quyền của ông Thục quá lộ liễu nên nhiều khi ông cũng làm cho ông Nhu bực tức, nhưng v́ tính thâm hiểm nên ông Nhu không dám công khai bày tỏ ra ngoài. Cho đến khi Tổng Giám mục Thục biến ngày lễ Ngân Khánh của ḿnh thành ra một quốc lễ và làm tiền một cách trắng trợn quá độ, ông Nhu mới có những lời thở than với kẻ tay chân là Linh mục Cao văn Luận, Viện trưởng Viện đại học Huế: "Tôi và anh tôi (TT Diệm) buồn Đức Cha v́ Ngài đă lầm lẫn phạm vi tôn giáo với phạm vi quốc gia. Hồi c̣n ở Vĩnh Long, từng đoàn, từng lũ Dân biểu, Tỉnh trưởng, Bộ trưởng nườm nượp kéo đến chầu hầu Đức Cha. Ra Huế xa xôi tưởng đă bớt được cái nạn đó, không ngờ Đức Cha lại viện lễ Ngân Khánh để làm ồn ào hơn. Nhưng v́ anh cả là Ngô Đ́nh Khôi mất sớm, Đức Cha trở thành anh lớn trong gia đ́nh, v́ thế đối với Ngài chúng tôi coi như Cha, không giám can gián, chỉ có Tổng thống có thể khuyên can được phần nào nhưng tôi sợ cũng không được" [20]. Thật ra không phải chỉ v́ ông Ngô Đ́nh Thục ở vào địa vị "quyền huynh thế phụ" nên ông Nhu không dám khuyên can mà chính v́ vợ Nhu cũng biến lễ Hai Bà Trưng thành một thứ Quốc khánh thứ hai để ngồi trên ghế bành bọc gấm vàng như ghế Tổng thống Diệm tại khán đài danh dự với tất cả nghi lễ quân cách của ngày lễ 26-10. Ngoài ra, chính ông Thục và vợ chồng Nhu cũng đă từng cấu kết với nhau trong nhiều vụ tham nhũng, trong việc xây nhà xây cửa và chuyển ngân bất hợp pháp ra nước ngoài. V́ thế, mặc dù ông Nhu là một thứ chúa Trịnh lộng hành bên cạnh một thứ vua Lê mù quáng là ông Ngô Đ́nh Diệm, mặc dù vợ ông Nhu dám nạt nộ ông anh chồng Tổng thống nhưng ông Nhu không dám động chạm đến người anh tu hành quá tham sân si. Vợ chồng Nhu và ông Thục mặc nhiên phải cấu kết với nhau, cùng phe, cùng đảng mà sống.

Riêng đối với ông Ngô Đ́nh Cẩn th́ trước khi ông Thục nhận chức ở Huế, hai anh em vẫn thuận hoà dù ông Thục vẫn thường nghe lời vợ chồng Nhu dèm pha, kể tội ông Cẩn. Ông Ngô Đ́nh Thục thương yêu ông Cẩn v́ ông Cẩn là đứa em út dốt nát nhất trong nhà nhưng lại có công kề cận phụng dưỡng mẹ già, lo việc kỵ chạp và săn sóc mồ mả của cha anh. Nhưng từ khi ông Thục về Huế th́ những mâu thuẫn quyền lợi đă làm cho hai anh em trở thành đối nghịch.

C̣n giữa ông Cẩn và vợ chồng Nhu th́ họ đă coi nhau như kẻ thù từ khi hai anh em trở thành hai lănh chúa của hai vùng, giống như thời hai anh em Trịnh Kiểm và Nguyễn Hoàng. Mâu thuẫn Cẩn và Nhu sâu sắc đến độ hai anh em đă xé đôi cái đảng Cần lao rường cột của chế độ để tranh nhau làm đảng trưởng như Chu Bằng Lĩnh đă nói trong tác phẩm "Đảng Cần Lao". Cần Lao miền Trung Ngô Đ́nh Cẩn khác với Cần Lao miền Nam Ngô Đ́nh Nhu. Thù hận nhau đến độ trong Nam, ông Nhu thành lập Thanh Niên Cộng Hoà th́ ngoài Trung, ông Cẩn thành lập Thanh Niên Cách Mạng. Thù hằn nhau đến độ vợ Nhu lập Phong Trào Liên Đới Phụ Nữ và Kư Nhi Viện, th́ tại các tỉnh Miền Trung, vợ Nhu phải nhờ Tổng thống Diệm nhiều lần năn nỉ với ông Cẩn, ông Cẩn mới chấp thuận cho hoạt động. Ông Cẩn c̣n gởi rất nhiều cán bộ vào Nam có hậu ư riêng nhưng tuyên bố là để giúp ông Nhu, đặc biệt là những tay chân ruột thịt của ông Cẩn như Lê Quang Tung, Nguyễn văn Châu, Dương văn Hiếu, Nguyễn Cao Thăng, Nguyễn Đ́nh Cẩn,... thế mà ông Nhu vẫn không đuổi ông Trần Kim Tuyến để thay người của ông Cẩn như ông Cẩn thường đ̣i hỏi.

Tuy vợ chồng Nhu khinh bỉ ông Cẩn quê mùa dốt nát và căm tức người em ruột bướng bỉnh không chịu phục tùng mệnh lệnh của ḿnh, nhưng ông Nhu vẫn không làm sao suy giảm ảnh hưởng và sức mạnh của ông Cẩn v́ ông Cẩn đă có một tổ chức Cần Lao Công Giáo khá mạnh ở miền Trung với sự hậu thuẫn đắc lực của hai Giám mục Phạm Ngọc Chi, Cao Văn Luận, và tất cả các linh mục ở các tỉnh, các họ đạo. Đă thế, những cán bộ có công với chế độ khi ông Diệm chưa nắm được chính quyền, hầu hết đều là người miền Trung vốn quen biết và hoạt động với ông Cẩn, trong khi cán bộ của ông Nhu đa số lại là người miền Bắc và chỉ mới thực sự trung thành với chế độ sau khi di cư vào Nam năm 1954.

Thực vậy, khi ông Diệm chưa về nước, tại Sài G̣n ông Ngô Đ́nh Nhu có một số bạn thân như các ông Trần Quốc Bửu, Bùi Kiện Tín, Trần Ngọc Liên,... nhưng họ lại không phải là cán bộ. Lúc đó, thật sự ông Nhu chỉ có hai người cộng sự viên thân tín là ông Đỗ La Lam và ông Cao Xuân Vỹ, mà ông Cẩn đă từng đánh giá Lam là tay "đồ nho" chỉ biết viết lách chút đỉnh, c̣n Vỹ là tay chơi bời không có uy tín ǵ.

Có nh́n được những mâu thuẫn xung khắc đó giữa những anh em ông Diệm ta  mới thấy và hiểu được tại sao các chính sách của quốc gia bị tê liệt và bị kích phá từ lúc mới khai sinh, tại sao bộ máy công quyền bị suy nhược và bị lũng đoạn ngay cả vào những năm vững vàng của chế độ, và nhất là tại sao đất nước bị chia năm xẻ bảy thành những vùng ảnh hưởng khác nhau. Phân hoá vừa theo chiều ngang, nghĩa là theo vùng địa dư hoặc theo lănh vực sinh hoạt, vừa theo chiều dọc, nghĩa là theo hệ thống lănh đạo và bộ phận thi hành.

V́ bản chất của những mâu thuẫn này là quyền lợi, quyền lực và nhất là cá tính của từng cá nhân anh em ông Diệm; v́ phần biểu hiện của những mâu thuẫn này là những thực tế cụ thể như tiền bạc, chức tước, danh vọng, tài sản nên từ lâu, tuy cố gắng che dấu để duy tŕ cái bề ngoài nho phong nề nếp của một gia đ́nh vọng tộc, nhưng anh em ông Diệm vẫn không thể nào kềm chế hoặc làm suy giảm được những t́nh cảm hằn học và những thủ đoạn đánh phá nhau mà càng ngày chính các nhân sự thừa hành cuồng tín và vị kỷ đă càng lôi kéo họ vào t́nh trạng không thể dung thứ nhau được nữa.

Cho nên chuyện đă đến phải đến đúng vào đầu năm Quư Măo (1963) để lại một lần nữa, báo hiệu sự rạn nứt không tránh được của gia đ́nh họ Ngô, mà cũng là của chế độ Diệm.

Thật vậy, trong số những mâu thuẫn đục khoét mối liên hệ của anh em ông Diệm th́ mâu thuẫn giữa ông Nhu và ông Cẩn là trầm trọng nhất. Cho đến đầu năm 1963, vừa không đè nén nổi sự công phẫn đối với vợ chồng Ngô Đ́nh Nhu được nữa, vừa v́ bị ông Thục cướp mất nhiều quyền lợi cụ thể quan trọng, ông Cẩn bèn dùng độc kế để biểu lộ sự bất măn của ḿnh. Ông Cẩn quyết định bỏ ngày cúng kỵ cha đúng vào ngày mồng Ba Tết Quư Măo. Hành động có tính cách phản kháng liều lĩnh đó là một hành động vô tiền khoáng hậu đối với gia đ́nh họ Ngô lúc bấy giờ. Từ khi nắm được chính quyền, ngày kỵ của cụ Ngô Đ́nh Khả đă trở thành một ngày hết sức trọng đại, ngày để gia đ́nh họ Ngô biểu dương cái không khí "thế gia vọng tộc", ngày để khoe khoang cái tinh thần nho phong "nhân sinh bách tuế hiếu vi tiên" cho đúng với lễ nghĩa của thánh hiền. Ngày cúng kỵ cụ Ngô Đ́nh Khả lại đúng vào ngày mồng Ba Tết, là dịp để cháu con sum họp đầy đủ, để anh em tạm quên những xâu xé giành giật, tạm quên sóng gió trong gia đ́nh hầu biểu dương cái t́nh máu mủ cho cả nước biết.

Cứ trưa ngày mồng Một Tết, sau khi nhận lễ chúc tụng đầu năm của nhân viên chính phủ và ngoại giao đoàn tại phủ Tổng thống là ông Diệm bay về Huế để mừng tuổi mẹ, thăm mộ cha anh, rồi ở lại 3 ngày để tham dự buổi cúng kỵ Phụ thân cùng với gia đ́nh, quây quần bên cạnh mẹ trong mấy ngày xuân. Ngày kỵ cụ Ngô Đ́nh Khả cũng là dịp để mỗi năm một lần, gia đ́nh Tổng thống Diệm có dịp thết đăi nhân viên thân tín từ Sài G̣n ra hay từ các tỉnh về, đồng thời để đăi đằng những người đồng hương quê quán tỉnh Quảng B́nh trong hội "Quảng B́nh tương tế" mà mục đích là tô điểm cho bức hoành phi mang bốn chữ Y Cẩm Hồi Hương thêm vàng son hoa gấm.

Với ông Ngô Đ́nh Cẩn th́ việc nuôi dưỡng mẹ cũng như việc kỵ giỗ cha, ở một khía cạnh nào đó, được dùng như một lợi khí để lập công với anh em cho nên không lấy ǵ làm lạ khi tết Quư Măo năm 1963, ông đă liều lĩnh bỏ kỵ Cha để cho mẹ phải buồn ḷng, để anh em mang tội bất hiếu, để gia đ́nh mất mặt với quốc dân. Ông Cẩn tưởng dùng độc kế để bắt chẹt anh em cho thoả nỗi căm phẫn uất ức của ḿnh đồng thời yểm trợ cho những đ̣i hỏi mới. Không ngờ ông gặp phải phản ứng của kẻ đối thủ số một của ông là bà Nhu, người đàn bà mang hỗn danh là "Rồng Cái", không nể sợ một ai kể cả cha ruột, kể cả chồng, kể cả ông anh chồng là một Tổng thống, kể cả Đức Giáo Hoàng Phao Lồ Đệ Lục.

Mồng Một Tết về đến Huế và biết được việc bỏ kỵ cha là một quỷ kế của lănh chúa miền Trung, Đệ Nhất Phu nhân bèn huy động bồi bếp, binh sĩ và trưng dụng hai phi cơ DC3 của Không quân để mang chén bát đồ ăn từ Sài G̣n ra Huế, rồi đích thân nắm lấy việc tổ chức cúng kỵ và điều khiển việc đăi đằng khách khứa. Thấy thủ đoạn của ḿnh bị hoá giải một cách dễ dàng nên trong ba ngày Tết, ông Cẩn liên tiếp gây gổ khiêu khích, căi vă to tiếng ồn ào với chị dâu... Không biết làm cách nào hơn cho gia đ́nh yên ấm, ông Diệm đành mở cuộc họp bí mật trong gia đ́nh ngay tại Phú Cam để dàn xếp nội bộ. Không ai biết nội dung và kết quả cuộc họp có lẽ đầy sóng gió này, nhưng sau đó nhờ ông Cẩn huênh hoang, người ta mới biết thêm nhiều chi tiết khác và biết ông Cẩn đă thu được một thắng lợi to lớn là ông Nhu bằng ḷng đuổi Trần Kim Tuyến khỏi địa vị Giám đốc Sở Nghiên Cứu Chính Trị để thay thế bằng người của ông Cẩn. Tin đồn về những ứng viên thay thế ông Tuyến là cựu Tỉnh trưởng Nguyễn Văn Đông, là luật sư Lê Trọng Quát, là Hoàng Bá Vinh mà nghe đâu Hoàng Bá Vinh là ứng viên được điểm cao nhất dù Vinh là người Bắc di cư. Vậy Hoàng Bá Vinh là ai mà lọt được vào mắt xanh của ông Ngô Đ́nh Cẩn?

Tôi cần phải nêu thành tích và sự nghiệp của ông Hoàng Bá Vinh v́ trong lúc ông này được nhà Ngô tín nhiệm và trọng dụng th́ ông Lê Quang Luật, một trí thức Công giáo được đa số trí thức và chính khách miền Nam quư mến, nhưng lại bị dân di cư Công giáo và gia đ́nh họ Ngô phản bội, trở thành người bất đắc chí cho đến khi trút hơi thở cuối cùng.

Trước khi Việt Minh cướp chính quyền năm 1945, người Công giáo Việt Nam không mấy ai hoạt động chính trị cũng như không mấy ai hoạt động đảng phái chống thực dân và triều đ́nh phong kiến, ngoại trừ ông Diệm lănh đạo phong trào chống Pháp chống Bảo Đại tại miền Trung để ủng hộ cho Kỳ Ngoại Hầu Cường Để thời quân đội Nhật chiếm đóng Đông Dương. Nhưng đại đa số đoàn viên trong phong trào này lại không phải là Công giáo.

Sở dĩ dưới chế độ Bảo hộ Pháp, người Công giáo không mấy ai hoạt động chính trị hay cách mạng v́ họ đă được an phận, v́ họ là người của Hội Truyền Giáo Pháp nghĩa là người của thực dân Pháp, không lẽ họ hoạt động để chống lại một nền cai trị đang bảo vệ uy thế và quyền lợi cho họ. Không lẽ con cái hoạt động để chống lại cha mẹ. Ngay cả với ông Diệm, nếu người Pháp cho ông được nhiều quyền hành như ông đă đ̣i hỏi th́ chắc chắn ông đă không từ chức Thượng Thư Bộ Lại để từ đó chống lại Bảo hộ và Nam triều. Ông Nguyễn Hữu Bài cũng có cảm t́nh với Kỳ Ngoại Hầu Cường Để mà vẫn làm quan trung thành với Pháp cho đến già là một chứng minh.

Đó là sự thật vô cùng chua xót cần được nói ra. Hăy đọc bài "Hội hè của đồng bào Thiên Chúa giáo" trong cuốn "Hội Hè Đ́nh Đám" của Toan Ánh th́ rơ. (Sài G̣n 1969, tái xuất bản tại Orange Country, Hoa Kỳ năm 1987, tr. 285-294). Bài tường thuật đó mô tả một cuộc đại lễ của Giáo Hội Công giáo Việt Nam được diễn ra tại Phát Diệm ngày 3 tháng chạp năm 1940, khi quân đội Nhật đă chiếm đóng Đông Dương, khi Pháp đă thua trận tại Âu Châu và Đông Dương đă bị cô lập.

Buổi đại lễ được đặt dưới quyền chủ toạ của vợ chồng trùm thực dân tại Đông Dương là Toàn quyền Decoux, một số quan chức cao cấp Pháp và những quan lại tay sai của Pháp. Trong buổi lễ đó, Decoux và Giáo hội Công giáo Việt Nam đă tôn vinh cố linh mục Trần Lục (người đă cùng 5000 giáo dân giúp Pháp đánh phá và triệt hạ chiến khu Ba Đ́nh của anh hùng Cần Vương Đinh Công Tráng) là "Nam tước", là "Quốc công", là "anh hùng". Cũng trong buổi lễ đó, Giám mục Nguyễn Bá Ṭng, người đứng đầu Giáo hội Việt Nam lúc bấy giờ đă ca tụng Decoux bảo vệ được Đông Dương cho thực dân Pháp, tôn vinh nước Pháp là Mẫu quốc. Decoux gắn Bắc Đẩu bội tinh cho Nguyễn Bá Ṭng. Nhạc Pháp, quốc kỳ Pháp và binh sĩ Pháp đă dàn chào buổi đại lễ đó.

Thật là rơ ràng: trong lúc tất cả đảng phái quốc gia, các tôn giáo, các nhà yêu nước đang âm thầm hay công khai xả thân hoạt động cách mạng để lật đổ nền thực dân đô hộ dành độc lập cho nước nhà, th́ riêng Giáo hôi Công giáo Việt Nam vẫn ôm chân người Pháp giúp Pháp kéo dài nền Bảo hộ.

Từ sau khi Việt Mnih cướp chính quyền và biết ông Hồ Chí Minh là một lănh tụ Cộng Sản, Đức Cha Lê Hữu Từ viết thư luân lưu lên án Việt Minh, người Công giáo Việt Nam miền Bắc bèn tổ chức "Liên Đoàn Công Giáo" và cho ra đời tờ báo "Hồn Công Giáo" làm cơ quan ngôn luận để hoạt động chính trị. Những người sáng lập Liên Đoàn Công Giáo đầu tiên là các ông Nguyễn Mạnh Hà, một Bộ trưởng của Việt Minh, và ông Mai Ngọc Liệu, một học giả và một huynh trưởng Hướng Đạo, sau có thêm các ông Lê Văn Đệ và Phạm Mạnh Khiêm... Sự thật th́ nhóm ông Mai Ngọc Liệu muốn dùng Liên Đoàn Công Giáo như một lực lượng hữu thần để chống lại Cộng Sản vô thần. C̣n ông Nguyễn Mạnh Hà th́ muốn lái khối Công Giáo Việt Nam để ủng hộ cho Mặt Trận Việt Minh và ông Hồ Chí Minh.

Nhưng chỉ một thời gian ngắn, v́ chiến tranh Pháp-Việt xảy ra, t́nh h́nh miền Bắc rối rắm, Liên Đoàn Công Giáo âm thầm tan ră. Cho đến khi quân đội Pháp chiếm được Hà Nội và một số tỉnh miền Bắc, trong giới Công giáo có lời đồn đại rằng Pháp sẽ mời cựu Hoàng Bảo Đại chấp chánh  và ông Ngô Đ́nh Diệm sẽ giữ chức Thủ tướng, người Công giáo miền Bắc mới dự định lập đảng chính trị để làm hậu thuẫn cho ông Diệm. Họ thành lập đảng Công Giáo Xă Hội mà những sáng lập viên là các ông Hoàng Bá Vinh, Mai Ngọc Liệu, Nguyễn Văn Noăn, Nguyễn Đ́nh Chiểu, Vũ Văn Cương, v.v...

Đảng viên Công Giáo Xă Hội chỉ toàn người Công giáo, đặc biệt tại Nam Định, Thái B́nh, Ninh B́nh. Một thời gian sau, khi đảng được ông Lê Quang Luật lănh đạo th́ đổi tên thành Phong Trào Dân Chúng Liên Hiệp. Lư do đổi tên đảng là v́ ông Luật là một đảng viên Duy Dân kéo theo về cho đảng được vài đảng viên Duy Dân, và v́ có những người không Công giáo gia nhập vào khu vực tự trị Phát Diệm của Đức Cha Lê Hữu Từ, điển h́nh như ông Phạm Xuân Chiểu chẳng hạn. Nhân vật hoạt động tích cực cho đảng và cho ông Ngô Đ́nh Diệm là ông Hoàng Bá Vinh.

Trước 1945, ông Hoàng Bá Vinh đi tu nhưng sau khi Việt Minh cướp được chính quyền, ông Vinh bèn bỏ chủng viện, bỏ Thánh kinh, bỏ áo chùng đen, nghĩa là bỏ lối lên thiên đàng gần nhất để theo đ̣i chính trị, chạy theo tiền bạc và ái t́nh, dấn thân vào con đường trần ai tục luỵ. Từ đó người ta gọi ông Vinh là "Già Vinh" v́ tín đồ Công giáo dùng tiếng "Già" để chỉ những người tu xuất dù Vinh vẫn c̣n trẻ. Nhờ hoạt động chính trị, ông Vinh tổ chức một đoàn  thuyền buôn lậu ngược xuôi giữa hai cửa bể Thanh Hoá và Hải Pḥng, lấy Phát Diệm là vùng gạch nối giữa vùng Tề và vùng Việt Minh. Nhiều thương gia trong đó có ông Mai Văn Hàm (sau này được ông Diệm đền ơn cho giữ chức Đại sứ tại Thái Lan) chung vốn cho Già Vinh đi buôn lậu. Tại Hà Nội, nhờ một số linh mục bảo đảm, ông Vinh mướn được căn nhà của ông Trần Văn Chương (thân phụ của bà Nhu) tại đường Hàng Cỏ làm nơi hội họp liên lạc. Cũng tại đây, ông Vinh gặp được các ông Lê Quang Luật, Đào Văn (em rể của Luật), Nguyễn Văn Tỉnh (tức Trung tá Nguyễn Văn Châu), Nguyễn Đức Chiểu, Mai Văn Toan, Đào Hữu Thịnh, Nguyễn Ngọc Tuệ,... Họ cũng hoạt động cho Phong Trào Liên Hiệp Dân Chúng mà Lê Quang Luật là lănh tụ để hoạt động ủng hộ cho ông Diệm và ông Nhu.

Lúc đầu, nhóm Dân Chúng Liên Hiệp c̣n đoàn kết giúp đỡ nhau trong t́nh đồng chí, đồng đạo nhưng từ năm 1949 trở đi, khi "đường cách mạng" đă rẽ qua ngơ lợi danh th́ họ bắt đầu chia rẽ nội bộ đánh phá nhau, mà nguyên nhân là thủ đoạn phân hoá nội bộ của Già Vinh trong kế hoạch chia để trị, và Già Vinh muốn bảo quản tiền bạc làm của riêng. Già Vinh không c̣n giúp đỡ cho anh em như trước nữa mặc dù Già Vinh có rất nhiều tiền nhờ bán thuốc Tây cho Việt Minh ở Liên Khu Tư. Nội bộ phân hoá nặng nề đến độ ông Đào Văn, Trưởng Ty Công An Phát Diệm đă được cung cấp tin tức đầy đủ để dễ dàng bắt Già Vinh về tội tiếp tế cho Việt Minh. Từ đó, nhóm Lê Quang Luật và nhóm Hoàng Bá Vinh trở thành kẻ thù không đội trời chung. Đă thế, một yếu tố khác đáng lẽ làm cho họ đoàn kết th́ lại xé nát thêm cái liên hiệp mong manh là trong lúc hai nhóm Luật và Vinh ủng hộ cho ông Diệm th́ Đức Cha Lê Hữu Từ và Linh mục Hoàng Quỳnh lại có cảm t́nh và ủng hộ Quốc trưởng Bảo Đại; cho nên đến năm 1949, khi Quốc trưởng Bảo Đại về nước chấp chánh th́ Đức Cha bèn đem khu tự trị Phát-Diệm sát nhập vào cộng đồng quốc gia như hồi kư Le Dragon d'Annam của ông Bảo Đại đă kể. Ngoài ra, đại đa số linh mục và giáo dân phần v́ không c̣n hy vọng ông Diệm làm Thủ tướng nữa, phần v́ chỉ tin tưởng và dựa vào thế lực quân đội viễn chinh Pháp nên Phong Trào Liên Hiệp Dân Chúng bị chia rẽ và suy yếu dần.

Cần phải nói rơ thêm rằng nhiều sách báo của người Mỹ cũng như cuốn Những bí ẩn về cái chết của Việt Nam Cộng Hoà của ông Phạm Kim Vinh, có lẽ đă dựa vào những dữ kiện trên đây do một số thuộc hạ ông Diệm kể lại để cho rằng ông Diệm từng là lănh tụ của Mặt Trận Quốc Gia Liên Hiệp tại Huế. Sự thật th́ ông Diệm không bao giờ là lănh tụ của Phong Trào Dân Chúng Liên Hiệp tại Bắc Việt cũng như không bao giờ là lănh tụ của Mặt Trận Quốc Gia Liên Hiệp tại Huế vốn do ông Trần Thanh Đạt lănh đạo, mà Mặt Trận này c̣n là một tổ chức đối lập với ông Ngô Đ́nh Diệm và ông Trần Văn Lư. Phong Trào Dân Chúng Liên Hiệp do ông Lê Quang Luật lănh đạo có mục đích chống Cộng rồi dần dần ủng hộ ông Diệm chứ ông Diệm chưa bao giờ đứng ra trực tiếp tổ chức và lănh đạo một Phong Trào, một Mặt Trận nào cả.

Suốt cả cuộc đời chính trị của ông Diệm, ông chỉ có một lần lănh đạo Phong Trào ủng hộ Kỳ Ngoại Hầu Cường Để thời quân đội Nhật chiếm Đông Dương, nhưng Phong trào đó không được tổ chức có hệ thống, có nội quy, có cương lĩnh, sinh hoạt, huấn luyện như một đảng cách mạng. Và từ sau khi được ông Hồ Chí Minh trả tự do trở về Sài G̣n, ông Diệm có tham gia vào một tổ chức chính trị được gọi là Mặt Trận Quốc Gia do bác sĩ Lê Văn Hoạch lănh đạo sau khi ông Hoạch từ chức Thủ tướng Nam Kỳ Quốc, nhưng mặt trận này cũng không sống được bao lâu. Mô tả vị trí của ông Diệm trong Mặt Trận này, Pierre Dabezies trong Forces Politiques au Vietnam nói rằng: "Lần đầu tiên và lần độc nhất ông Diệm ra nhập một đảng chính trị mà ông ta không phải là người sáng lập" [21].

Năm 1954, khi ông Diệm đă được vua Bảo Đại cử làm Thủ tướng, ông Lê Quang Luật được ông Ngô Đ́nh Nhu cử đi Pháp với ông Trần Chánh Thành để có người phụ tá cho ông Diệm, nhờ Luật trí thức và giỏi tiếng Pháp nên cần qua Paris viết diễn văn bằng tiếng Pháp cho ông Diệm. Khi ông Diệm về nước th́ các ông Ngô Đ́nh Luyện, Trần Chánh Thành và Lê Quang Luật cũng về theo.

 Về nước, ông Lê Quang Luật được ông Diệm cử làm Bộ trưởng Bộ Thông Tin rồi sau lại cử Luật ra Hà Nội làm Đại biểu chính phủ. Lúc mới về, ông Diệm tưởng có thể chống lại việc chia đôi đất nước, nghĩa là chống lại hiệp ước Genève do Việt Minh và Pháp kư kết nên ông Diệm mới cho thành lập Uỷ Ban Bảo vệ Bắc Việt và giao cho ông Hoàng Cơ B́nh làm chủ tịch, ông Trần Trung Dung làm phụ tá. Nhưng Pháp không chịu và bắt ông Diệm thực thi đúng đắn hoà ước Genève nên ông Diệm đành phải thay danh từ Uỷ Ban Bảo Vệ Bắc Việt thành ra Đại Biểu Chính Phủ tại Bắc Việt, và đem hai ông Hoàng Cơ B́nh và Trần Trung Dung vào Nam. V́ thế, ông Lê Quang Luật, vốn có nhiều cán bộ Công giáo, được ông Diệm cử làm Đại biểu Chánh Phủ thay cho ông Hoàng Cơ B́nh.

Trong lúc ông Luật được nắm những chức vụ cao cấp quan trọng trong chính phủ th́ Già Vinh lại là "Uỷ Viên Trung Ương Đảng Cần Lao", cạnh Tổng bí thư Ngô Đ́nh Nhu, đặc trách Xứ uỷ Bắc Việt. Mang sẵn mối thù cũ, lại ganh tị chức Đại biểu Chính phủ của ông Luật, Già Vinh và nhóm Hà Đức Minh (cũng là Uỷ viên Trung Uơng Đảng Cần Lao) xuyên tạc, vu khống ông Lê Quang Luật với ông Diệm, ông Nhu và dùng tờ nhật báo Ngôn Luận của ông Nguyễn Thanh Hoàng để đánh phá ông Luật qua một số khuyết điểm của cộng sự viên của Luật tại Bắc Việt. Tờ báo này đă bôi nhọ và hạ ông Luật xuống tận đất bùn.

Theo quy định của hiệp ước Genève, ngày 18-5-1955, sau hạn kỳ 300 ngày của chính quyền quốc gia tại Bắc Việt, ông Luật xuống tàu "Ville de Hải Pḥng" của Pháp mang theo một hộp đất phủ lá quốc kỳ vào thủ đô miền Nam để dân miền Nam lưu niệm nhớ thương đất tổ Hùng Vương. Chiếc hộp đựng đất đă đươc dân chúng Sài G̣n đón tiếp long trọng rồi làm lễ để tại Thảo Cầm Viên.

Cuộc di cư 1954 của trên 800.000 đồng bào được thực hiện là nhờ phương tiện của Pháp và Mỹ. Sau khi hoàn tất, ông Diệm được cả thế giới tự do ca ngợi nhưng không ai thèm nhắc nhở đến cái tên Lê Quang Luật đă là người có rất nhiều sáng kiến chính trị xuất sắc, lại là người Công giáo, nên đă khôn khéo tổ chức cho cuộc di cư dù đông đảo nhưng vẫn trật tự, đem được 650.000 người Công giáo miền Bắc vào Nam làm chủ lực cho ông Diệm sau này. Nhưng hỡi ôi! Khi vào Nam rồi th́ bao nhiêu công lao của ông Luật cho cuộc di cư và tấm nhiệt t́nh của ông Luật đối với quê hương dân tộc đều bị nhóm Cần Lao Công Giáo và anh em ông Diệm phủ nhận hết. Ông Luật bị ông Diệm khinh bạc và phụ phàng để đến nỗi từ một chiến sĩ quốc gia, một trí thức chân chính mà đáng lẽ chế độ phải trọng dụng, ông Luật trở thành một người thất chí đối lập chế độ. Từ đó ông Luật trở về sống cuộc đời bần bạch, cho đến chết vẫn không lập gia đ́nh, ở vậy để làm ăn nuôi cha già. Năm 1960, ông Luật tích cực tham gia nhóm Caravelle, ra tuyên ngôn lên án chế độ Ngô Đ́nh Diệm như tôi đă tŕnh bày trong một chương trước.

Tôi vốn chỉ biết mà không quen ông Lê Quang Luật, nhưng sau khi lật đổ chế độ Diệm, một nhóm bốn người, hai Công giáo và hai Phật giáo, tuy ở những vị thế khác nhau nhưng lại cùng chung chí hướng, đă gặp gỡ tôi và trở nên bạn chí thiết của tôi cho đến ngày nay. Đó là luật sư Lê Quang Luật, học giả Mai Ngọc Liệu (hiện ở California), nhà báo tên tuổi Vũ Ngọc Các (đảng viên cao cấp của Việt Nam Quốc Dân Đảng), và luật sư trẻ Trần Thanh Hiệp (hiện ở Paris), một nhà văn tên tuổi đầy nhiệt t́nh, nhiệt huyết trong các hoạt động văn hoá và chính trị. Lúc bấy giờ tôi là Uỷ viên Chính trị của Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng, lại được bốn nhân vật kia cho rằng dưới chế độ Diệm, chẳng những tôi "gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn" lại c̣n hay giúp đỡ các nhân vật đảng phái bị hoạn nạn nên họ muốn giúp tôi hoạt động chính trị trong tân chế độ. Họ cho xuất bản nhật báo Dân Chủ để vinh danh cuộc cách mạng ngày 1-11-1963 và tranh đấu đ̣i hỏi Hội Đồng Cách Mạng thiết lập một chế độ dân chủ để thực hiện đại đoàn kết quốc gia hầu cứu văn t́nh h́nh để chiến thắng Cộng Sản.

Nhưng rồi v́ những xáo trộn chính trị liên tiếp xảy ra sau đó nên tôi về hưu sớm vào đầu năm 1965, dù vậy bốn nhân vật kia vẫn giữ mối t́nh tri kỷ, vẫn thường lui tới với tôi, đặc biệt là Lê Quang Luật. Anh bận công việc luật sư ở Biên Hoà nhưng mỗi tháng anh vẫn đến nhà tôi ít nhất vài lần. Mỗi lần như thế hai chúng tôi lại ngồi với nhau luận bàn chuyện Đông Tây Kim Cổ đến bốn, năm tiếng đồng hồ. Điều quư nhất là không có Tết nào mà ngày mồng Hai anh lại không đến chúc Tết tôi. Có lần anh đă khen tôi là người thích đọc chuyện cũ nên thấm nhuần tư tưởng của người xưa, biết bỏ t́nh riêng để theo nghĩa lớn, biết hiện đại hoá quan niệm để hiểu chữ trung với dân với nước hơn là trung với chế độ, với lănh tụ. Tôi mừng thầm nghĩ rằng "Tiếng đàn Bá Nha đă thấu được tai Tử Kỳ".

Thời Nguyễn Văn Thiệu, Luật ra ứng cử Dân biểu tại Biên Hoà, đặt hy vọng vào số phiếu của cử tri Công giáo di cư ở Hố Nai, nhưng Luật thất cử. Gặp tôi, khi rượu đă mềm môi và tâm sự đă dạt dào, Luật không giữ được vẻ b́nh tĩnh đằm thắm cố hữu, anh nặng lời nguyền rủa các ông linh mục Hố Nai mà anh cho rằng bọn người vong ân bội nghĩa.

Những năm cuối cùng của miền Nam, tôi tưởng ḷng anh đă nguội lạnh, không ngờ một hôm anh đến thăm tôi và bảo tôi so sánh con người Ngô Đ́nh Diệm và con người Dương Văn Minh. Không hiểu anh dự định ǵ nên tôi nói thẳng: "Dương Văn Minh yêu nước, chống Pháp và chống Cộng nhưng không có cái huyền thoại từ quan của Ngô Đ́nh Diệm, dù năm 1953 thời c̣n làm Trung tá, tuy được tướng Hinh cử ra Nha Trang làm Tư lệnh phân khu Duyên Hải, Dương Văn Minh cũng từ khước, thà bị giải ngũ chứ không chịu đặt ḿnh dưới quyền chỉ huy của một viên Đại tá người Pháp. Dương Văn Minh không trí thức như ông Nhu nhưng về phong độ và ḷng chân thành th́ Minh hơn hẳn anh em ông Diệm. Về hậu thuẫn th́ anh em ông Diệm có khối Công giáo di cư và khối Công giáo miền Trung, c̣n Dương Văn Minh th́ có Phật giáo và đa số người "Nam Kỳ" kể cả số lớn người Công giáo và trí thức. Hầu hết người Cao Đài ủng hộ Dương Văn Minh, c̣n Ḥa Hảo th́ có nhóm của Phan Bá Cầm va nhóm của Nguyễn Giác Ngộ cũ". Tôi phân tách xong, Luật trầm ngâm một lát rồi từ tốn nói: "Tôi sẽ ủng hộ Dương Văn Minh chống Nguyễn Văn Thiệu và tập đoàn Cần Lao chung quanh Thiệu. Hiện t́nh đất nước c̣n cần dân Kaki hơn dân chính khách, vả lại không có gấm vóc th́ ḿnh tạm dùng áo vải vậy". Anh rủ tôi hoạt động cho ông Dương Văn Minh nhưng tôi từ chối v́ đă chán ngấy chính trị, và v́ tôi buồn ông Minh đă ra lệnh hạ sát ông Diệm mặc dù tôi hết ḷng phản đối.

Tôi cũng cho anh biết t́nh h́nh đất nước hiện nay dù có Thánh cũng không tài nào cứu văn nổi, trước sau rồi miền Nam cũng rơi vào tay Cộng Sản Hà Nội. Tôi nhắc lại quan điểm để anh nhớ rằng vào năm 1969, sau biến cố Tết Mậu Thân, Tướng diều hâu Westmoreland bị mất chức, phong trào phản chiến tại Mỹ lên đến cao độ, dân Mỹ phân hoá nặng nề, Tổng thống Johnson gửi thư cho ông Hồ Chí Minh xin nghị hoà, tôi đă viết trên báo Sống một bài phân tích lượng giá t́nh h́nh để báo động với đồng bào: "Đối phương đang tiến quân trên khắp các nẻo chiến trường, bạn đồng minh đang t́m kế cầu hoà với địch, miền Nam sẽ rơi vào tay Cộng Sản" (bài tôi viết năm 1969 trên tờ báo Sống của Chu Tử được nhiều anh em trong Lực Lượng Dân Tộc Việt biết rơ. Hà Thế Ruyệt, Lư Đại Nguyên rất buồn không tin vào lời tiên đoán của tôi mặc dù Ruyệt đă có lần gọi tôi là "Tiểu Khổng Minh" trên tờ báo Quật Khởi do Nguyễn Trọng Nho làm chủ nhiệm).

Thế rồi sáu năm sau miền Nam mất thật, tôi đau buồn ra đi c̣n Lê Quang Luật và Vũ Ngọc Các ở lại quê hương. Năm 1983, Mai Ngọc Liệu đến thăm tôi và cho biết Luật và Các đều đă chết uất hận tại quê nhà dưới chế độ độc tài của Cộng Sản. Viết lại những kỷ niệm với Lê Quang Luật và Vũ Ngọc Các, tôi ước ao những ḍng chữ mộc mạc này sẽ đến được dưới mắt những người ruột thịt của hai anh rồi  khi nào quư vị đến chùa hay nhà thờ cầu nguyện cho hai anh, xin cho tôi được dâng nén hương ḷng khóc những người bạn tri kỷ đă khuất, những người bạn tri kỷ từng cảm thông niềm tâm sự của một "hiệp khách đă dám vác kiếm sang Tần".

Sau khi đánh bật được ông Lê Quang Luật rồi, ông Hoàng Bá Vinh được ông Ngô Đ́nh Nhu bảo trợ làm Dân biểu gia nô. Khai thác tối đa chức vụ Uỷ viên Trung Ương Đảng Cần Lao, dựa vào cái thế Dân biểu tay chân đắc lực của chế độ, Già Vinh bèn phát triển hoạt động trong nhiều lĩnh vực kinh doanh khắp miền Nam, kể cả cổ phần trong công ty Nông Sơn để chuyển tiền ra ngoại quốc. Sau ngày lật đổ chế độ Diệm, nhờ sự khoan hồng của tướng Trần văn Minh, Chủ tịch Uỷ Ban Điều Tra Tài Sản nhà Ngô và Cần Lao, Già Vinh thoát nạn bèn trốn qua Pháp sống vương giả cho đến ngày nay bên cạnh gia đ́nh vợ đă có Pháp tịch từ trước.

Là người miền Bắc, lại là thuộc hạ của ông Ngô Đ́nh Nhu, tại sao Vinh lại lọt được vào mắt xanh của ông Ngô Đ́nh Cẩn để được chọn làm ứng viên thay ông Trần Kim Tuyến ? Đó là nhờ sở trường biết đánh cá hai cửa: trong lúc Vinh phục vụ cho ông Ngô Đ́nh Nhu, y lại có nhiều cơ sở kinh doanh tại Nha Trang, Cà Ná, Cam Ranh, Quảng Nam, vốn nằm trong lănh địa trách nhiệm của ban Đặc Vụ Công Tác Miền Trung của ông Cẩn, cho nên Già Vinh đă đút lót, nịnh bợ ông Cẩn để được tín nhiệm.

Tuy nhiên, trong lúc ông Ngô Đ́nh Nhu vẫn c̣n phân vân tŕ hoăn chưa thay ông Trần Kim Tuyến th́ biến cố Phật giáo xảy ra, t́nh h́nh trở nên cấp bách nên tất cả anh em nhà Ngô đều phải tạm đoàn kết để yểm trợ vợ chồng Ngô Đ́nh Nhu hầu đối phó với kẻ thù chung là Phật giáo mà tạm quên những mâu thuẫn nội bộ của gia đ́nh. V́ vậy, khi đuổi ông Tuyến đi làm Tổng lănh sự ở Ai Cập, người thay ông Tuyến  không ai hơn là ông Trần văn Khiêm, em ruột của bà Nhu, một nhân vật mà nhiều đồng nghiệp của ông ta đă đặt cho hỗn danh là "Luật sư khùng" v́ tính t́nh bất thường, mà kư giả Karnow trong Vietnam, a Television History gọi là Playboy v́ y là người đàng điếm chơi bời lại chuyên dựa thế của chị ruột để làm tiền các thương gia giàu có.

 

-o0o-

 

Nói tóm lại ba ngày Tết Quư Măo năm đó đáng lẽ phải là những ngày êm đềm hoà thuận của gia đ́nh để đón Xuân sang th́ trong ngôi nhà Phú Cam Huế, th́ lại là những ngày giông băo đằng đằng sát khí của tranh chấp và thoả hiệp.

Trước t́nh trạng xâu xé của gia đ́nh, chỉ có ông Diệm là người phiền lụy khổ tâm nhất. Khuyên can ông Ngô Đ́nh Thục th́ "Đức Cha giận dỗi bỏ về Vĩnh Long" như hồi kư của tuỳ viên Đỗ Thọ đă viết, trách móc ông Ngô Đ́nh Nhu th́ "Cố vấn giận lẫy bỏ lên Đà Lạt nằm cả tuần lễ" như tác phẩm "Những Ngày Chưa Quên" của Đoàn Thêm đă nói, can ngan em dâu lại sợ Đệ Nhất Phu Nhân hằn học tuyên bố bừa băi làm mất thể thống quốc gia và danh dự gia đ́nh như kư giả Karnow đă tŕnh bày, tỏ thái độ buồn bực với chú Cẩn th́ lănh chúa miền Trung phân b́ "các anh sướng quá rồi, cho tôi sướng tí xíu với chứ..." như Đỗ Thọ đă kể.

Trước cảnh anh em ruột thịt xung đột xâu xé nhau như thế, ông Diệm buồn lắm. Buồn mà đành chịu gậm nhấm nỗi ẩn ức trong ḷng cho nên đă có lần đến Huế, ông cho mời người cán bộ trung kiên là ông Vơ Như Nguyện đến tại dinh Phú Cam để ông tâm sự mong Nguyện chia sẻ nỗi đắng cay với ông một phần nào.

Khốn nỗi sự nhu nhược, chịu lụy của ông Diệm đối với anh em ông lại là nguyên nhân đưa đến sự suy sụp quốc gia mà hai biến cố đầu năm Quư Măo là thảm bại quân sự Ấp Bắc và thảm trạng xâu xé trong gia đ́nh, đă làm cho nhân dân hoàn toàn mất hết tin tưởng nơi anh em ông Diệm, nơi chế độ ông Diệm. Hai biến cố đó, một (vụ Ấp Bắc) đă làm cho dư luận Hoa Kỳ công phẫn, một (vụ gia đ́nh xung đột) đă làm cho nhân dân Việt Nam khinh bỉ, đă đóng góp phần nào vào sự sụp đổ của chế độ Diệm vào cuối năm 1963, khi cuộc tranh đấu chính đáng của Phật giáo bùng nổ làm rung chuyển quê hương.

Về phần tôi, Tết Quư Măo tôi ở Sài G̣n cho nên măi cả tháng sau tôi mới thâu lượm được đầy đủ tin tức về vụ ông Ngô Đ́nh Cẩn bỏ kỵ cụ Ngô Đ́nh Khả và sự tranh chấp trầm trọng trong gia đ́nh ông Diệm tại Huế. Như những ai đă từng giao du với tôi đều biết tôi là kẻ thất học quê mùa, lại có tâm hồn bảo thủ tồn cổ, tin vào thuyết âm đức nhân quả, nên khi được tin gia đ́nh họ Ngô xung đột nặng nề giữa ngày kỵ cha, giữa ngày Nguyên Đán, tôi cảm thấy cái phúc vận của nhà họ Ngô đă đến lúc suy tàn như trái cây đă chín mục chỉ chờ ngày rơi rụng. Tôi càng thương ông Diệm hơn dù ông có quá nhiều nhược điểm, và dù mưa gió phũ phàng mà anh em ông ta và cán bộ Cần Lao liên tục đổ xuống đầu tôi.

Từ ngày ông Diệm cầm quyền đến nay suốt chín năm trời, mỗi lần gia đ́nh họ Ngô có lễ lạc tại Huế là "triều thần văn vơ" hầu như không thiếu một ai. Chỉ một ḿnh Tổng Giám Mục Ngô Đ́nh Thục khi c̣n ở Vĩnh Long mà Dân biểu, Tỉnh trưởng, Bộ trưởng nườm nượp kéo nhau đến chầu hầu Đức Cha như ông Ngô Đ́nh Nhu đă nói, th́ huống ǵ tại Huế, có sự hiện diện của toàn thể anh em ông Diệm. Cứ hỏi những sĩ quan trong Bộ Tham mưu của Sư Đoàn 7 (lúc Huỳnh văn Cao chỉ huy) đang đóng ở Biên Hoà th́ biết: Bà Cả Lễ, em Tổng thống Diệm chết mà ông Cao lái xe Jeep suốt cả đêm ra Huế để dâng ṿng hoa th́ đủ biết văn vơ triều thần Cần Lao Công Giáo muốn được anh em ông Diệm thấy mặt trong ngày tết, ngày kỵ tại Phú Cam như thế nào.

Trong số những sĩ quan cao cấp tại Sài G̣n, chỉ có một số tướng lănh có liêm sỉ như Dương văn Minh, Phạm Xuân Chiểu, Nguyễn Ngọc Lễ, v.v... là không bao giờ có mặt. C̣n tôi th́ chỉ tham dự một lần vào năm 1955 nhân dịp đám tang của ông Ngô Đ́nh Khôi và năm 1958, khi ở Pháp về, có ra Huế thăm ông Cẩn một lần. Từ đó tôi không bao giờ về Huế nữa cho măi đến năm 1964, sau khi lật đổ chế độ Diệm, tôi mới trở lại thăm viếng Cố Đô.

Trước kia, năm 1948 đến năm 1952, chỉ có một nhóm nhỏ anh em chúng tôi cứ vào mồng Ba tết lại rủ nhau lên Phú Cam mừng tuổi cụ Cố thân mẫu của ông Diệm, qua nhà thờ làm lễ cầu hồn cho cụ Ngô Đ́nh Khả, đến nghĩa trang thăm mộ, rồi về nhà Ngô Đ́nh Cẩn tụ họp ăn cơm. Lúc bấy giờ, nhóm chúng tôi có mấy ai đâu, quanh đi quẩn lại chỉ có linh mục Nguyễn văn Thính, các ông Vơ Như Nguyện, Nguyễn Đôn Duyến, Trần văn Hướng, Huỳnh Hữu Tiến, và những sĩ quan như Phùng Ngọc Trưng, Nguyễn Vinh, và tôi. Ngọai trừ linh mục Nguyễn văn Thính, mấy anh em tôi đều là người theo đạo Phật. Lúc bấy giờ, có ai dám đến nhà ông Ngô Đ́nh Cẩn, em ruột của ông Ngô Đ́nh Diệm, để hội họp đâu v́ họ đều sợ Thủ hiến Phan văn Giáo để ư, sợ mật thám Tây theo dơ. Từ năm 1952 trở đi, ngày kỵ cụ Khả mới có thêm mấy ông Công giáo như Trương văn Huế, Phạm văn Nhu, Nguyễn văn Đông, Tôn Thất Trạch, v́ lúc bấy giờ ông Ngô Đ́nh Nhu đă ra mặt công khai hoạt động chính trị tại Sài G̣n, và tên tuổi ông Diệm đă được nhắc nhở tại Hoa Kỳ. Tuy vậy, suốt 7, 8 năm trời khi ông Diệm c̣n làm kẻ lưu vong đợi thời, nào ai thấy bóng dáng của những Nguyễn Cao Thăng, Nguyễn Trân, Huỳnh văn Cao, Nguyễn Đ́nh Cẩn, Lê Trọng Quát, Hà Thúc Luyện, Hà Như Chi... dù họ ở ngay tại Huế và không bận rộn trong ba ngày Tết. Nhưng một khi ông Diệm đă có quyền, đă có thế, đă có lợi, đă có danh rồi th́ tuần chay nào tại nhà ông Ngô Đ́nh Cẩn họ cũng đều có mặt. Thớt có tanh tao, ruồi đến đậu âu cũng là chuyện thường t́nh của thời buổi loạn ly.

Tôi c̣n nhớ thời kỳ anh em ông Diệm bần bạch thất thế (1948 đến 1952), ngôi nhà Phú Cam sao mà ấm cúng lạ thường. Anh em chúng tôi chỉ có 7, 8 người thân mật, quây quần với nhau, bữa cơm cúng kỵ cũng đạm bạc, chưa có thịt quay đầy mâm, nem chả tràn dĩa và hoa chưa thắm, rượu chưa nồng mà như đại yến với mỹ vị cao lương. Có phải thế không ông nhà nho Vơ Như Nguyện của tôi ơi!

Trong những năm đó, chúng tôi cũng không thấy mặt ông Thục, Diệm, vợ chồng Ngô Đ́nh Nhu dù lúc bấy giờ họ ở Sài G̣n, Vĩnh Long hay Đà Lạt có thể dễ dàng về Huế quy tụ dưới mái ấm gia đ́nh để chúc tết mẹ già, để kỵ cha và đón mừng Xuân mới nơi ngôi nhà của phụ thân để lại, như những người dân Việt ngàn đời đi làm ăn xa xôi, Tết nhất vẫn lo về với gia đ́nh để thắp nén nhang nơi bàn thờ tiên tổ. Những sử gia hoài Ngô như Cao văn Luận, Cao Thế Dung... viết sách suy tôn anh em nhà họ Ngô là đạo đức nho phong, là thế gia vọng tộc thế mà cố t́nh dấu đi thái độ sống phản truyền thống dân tộc, phản phong hoá muôn đời của cha ông. Rơ ràng anh em ông Diệm đă quan niệm phải nên Vương Bá, phải phú quư vẹn toàn, th́ Tết nhất, cúng kỵ họ mới chịu cùng nhau sum họp để biến ngôi nhà vắng lặng ngày xưa thành nơi đ́nh đám rộn rịp tưng bừng. Cứ nh́n những tấm h́nh ngày Tết được đăng tải trên các báo Âu-Mỹ có đủ mặt anh em, bác cháu, dâu rể bận quốc phục chỉnh tề áo khăn lộng lẫy, quây quần chung quanh "Thái Tử", kẻ đứng ṿng tay người quỳ trên thảm đỏ cũng đủ thấy câu nói "phú quư sinh lễ nghĩa" của thánh hiền muôn đời không sai. Mà lễ nghĩa ǵ nếu không phải là thứ lễ nghĩa mà giá trị chỉ nằm trên phần h́nh thức của những tấm áo nạm vàng và tấm thảm trải đỏ kênh kiệu.

Chín năm rồi, từ sau khi Cựu Hoàng Bảo Đại bị ông Ngô Đ́nh Diệm truất phế, thành quách đền đài, núi Ngự sông Hương đă lạt màu vương giả, nhưng cảnh vàng son hoa gấm trong gia đ́nh ông Diệm tại Phú Cam th́ đang gây lại cái không khí triều đ́nh vua chúa nơi Cố Đô. Tiếc thay, Xuân với Tết năm nay, băo tố cốt nhục đă thổi bay mất lớp bụi vương giả giả tạo đó để chỉ c̣n lại những tầm thường trơ trẽn của một gia đ́nh, một chế độ đang đến hồi suy vi.

 

-o0o-

 

Sau Tết năm đó, ông Diệm trở lại Sài G̣n với rất nhiều tâm sự ngổn ngang. Cũng tháng Ba năm đó, tôi nhận được lời mời của Bộ Quốc Pḥng Hoa Kỳ thực hiện một chuyến viếng thăm các cơ sở an ninh và quốc pḥng của họ.

Tôi c̣n nhớ năm 1960, phái bộ quân sự Hoa Kỳ tại Việt Nam đă từng mời tôi đi thăm trường t́nh báo lớn nhất của lực lượng Hoa Kỳ tại Đông Á và Thái B́nh Dương trên đảo Okinawa của Nhật Bản (nơi có sĩ quan của Pḥng Nh́ và An Ninh Quân Đội Việt Nam thụ huấn), nhưng ông Diệm không cho tôi đi. Trái lại, năm 1961, trong khi tôi đang bận điều tra vụ "phản loạn Nhảy Dù" th́ ông Diệm lại cho tôi đi Đài Loan v́ đối với ông Diệm, cứ nghe nói Đài Loan mời là ông vừa ư lắm. Năm đó, phái đoàn công du Đài Loan do tướng Nguyễn Khánh cầm đầu và chúng tôi đă có dịp viếng thăm xứ Đài Loan, kể cả hai đảo Kim Môn và Mă Tổ, để biết được nhiều tổ chức bí mật quân sự của quốc gia đồng minh thân thiết nhất. Ngoài ông Tưởng Kinh Quốc, chính phủ và tướng lănh Trung Hoa tiếp đăi hết sức nồng hậu, chúng tôi c̣n được Tưởng Thống Chế thết đăi riêng tại tư dinh hết sức thân mật và trao đổi nhiều kinh nghiệm qua cuộc đời đấu tranh cam go gian khổ của Cụ.

Tôi c̣n nhớ vào Năm 1962, tôi lại được phái bộ quân sự Hoa Kỳ tại Sài G̣n mời đi thăm Hoa Kỳ. Ông William Colby, giám đốc CIA Đông Nam Á và Việt Nam, người bạn Mỹ thân thiết vẫn thường giúp đỡ kỹ thuật và dụng cụ điều tra cho cơ quan của tôi, thường cùng tôi thảo luận về t́nh h́nh Việt Nam, cũng khuyên tôi nên viếng thăm Hoa Kỳ một chuyến nhưng ông Diệm cũng không cho đi, có lẽ v́ vụ ném bom dinh Độc Lập đă gây cho ông nhiều xúc động. Măi cho đến tháng Ba năm nay, Bộ Quốc pḥng Mỹ lại mời nữa và tôi phải hết lời thuyết phục ông Diệm mới bằng ḷng cho tôi đi.

Tôi cầm đầu một phái đoàn gồm có Trung tá Tôn Thất Hùng, Phụ tá Trưởng pḥng Nh́ Bộ Tổng tham mưu, Trung tá Nguyễn văn Kính, Chánh sở Phản gián An Ninh Quân Đội, hai Thiếu tá Dương văn Khuyến và Trần Như Ngọc, và Đại uư Nguyễn Đ́nh Nghị làm thông dịch viên (ba sĩ quan sau này hiện sống tại Hoa Kỳ). Chúng tôi lên đường vào đầu tháng Tư và dự định viếng thăm Hoa Kỳ trong ṿng một tháng. Ra đi, tôi mang theo một số tranh sơn mài rất đẹp để tặng cho các đơn vị, các cơ sở quân đội Hoa Kỳ, những nơi mà tôi sẽ đến thăm. Đó là những bức tranh mang h́nh ảnh quê hương: Cảnh chùa Thiên Mụ bên gịng sông Hương thơ mộng, cảnh chùa Non Nước đàng sau sừng sững núi Hải Vân, cảnh bờ biển Nha Trang thấp thoáng Tháp Bà cổ kính, cảnh Đà Lạt, Hà Tiên, Vũng Tàu, cảnh Sài G̣n một đêm giao thừa tại đền thờ Lê văn Duyệt, cảnh ruộng đồng bát ngát với những trẻ chăn trâu thổi sáo thả diều... Lúc bấy giờ số quân nhân Mỹ sửa soạn qua miền Nam mỗi ngày một đông, tôi muốn mượn một số h́nh ảnh dịu hiền của quê hương để cho người Mỹ biết dân tộc tôi vốn hiền hoà thế mà bị Cộng Sản Hà Nội gây hấn tạo nên ly loạn, chết chóc. Tôi cũng muốn nhân dịp này cho người Mỹ biết dân tộc tôi vừa có văn hoá vừa có học thuật, tuy bốn ngàn năm lịch sử là bốn ngàn năm quân sử nhưng đất nước chỉ đẹp thêm và nhân dân chỉ yêu chuộng hoà b́nh thêm.

Tôi chỉ là một Đại tá, chỉ huy một cơ quan không lấy ǵ làm quan trọng, lại c̣n bị ông Cẩn, ông Nhu xem thường, bị nhóm Cần Lao thù ghét, thế mà quân đội Hoa Kỳ lại dành cho tôi một cuộc đón tiếp trang trọng và nhiều vinh dự. Có lẽ họ nghĩ rằng cơ quan An Ninh Quân Đội Việt Nam cũng có cùng một nhiệm vụ và quyền hạn quan trọng như DIA (Defense Intelligence Agency) của Bộ Quốc pḥng Hoa Kỳ. Đến phi trường San Francisco, một vị tướng ra đón tôi và biệt phái cho tôi một Thiếu tá bác sĩ quân y biết nói tiếng Pháp thành thạo để làm sĩ quan tuỳ viên cho tôi suốt cả thời kỳ tôi ở Mỹ. Ngày hôm sau, tôi đến viếng Bộ Tư lệnh miền Tây nước Mỹ và được vị tướng ba sao và Bộ tham mưu của ông thuyết tŕnh về việc pḥng thủ nước Mỹ phía Thái B́nh Dương. Sau đó, tôi đi thăm trường Sinh ngữ Quân Đội ở Monterey, nơi rất đông sĩ quan Hoa Kỳ đang thụ huấn khoá Việt ngữ cấp tốc để đợi đến ngày lên đường qua Việt Nam. Nhiều sĩ quan Mỹ vui mừng khi họ diễn tả c̣n vụng về bằng tiếng Việt mà chúng tôi cũng hiểu được. Tất cả đều hân hoan sung sướng khi được chỉ định qua Việt nam chiến đấu chống Cộng Sản. Một vài nam nữ giáo sư Việt Nam mà tôi không nhớ tên đang dạy ở trường này cũng tỏ vẻ cảm động v́ không mấy khi họ gặp được một phái đoàn đồng hương đến thăm trường.

Hai ngày sau, tôi đến Hoa Thịnh Đốn mà việc đầu tiên là thăm viếng Cụ Trần văn Chương, Đại sứ VNCH tại Hoa Kỳ. Là thân phụ của bà Nhu, lại liên hệ chặt chẽ với chính quyền Hoa Kỳ nên có lẽ Cụ đă hiểu rơ t́nh h́nh Việt Nam, v́ vậy Cụ chỉ tiếp cho tôi theo phép xă giao thường t́nh mà không trao đổi tin tức cũng như nhận định về t́nh h́nh đất nước.

Hôm sau, phái đoàn đến Ngũ Giác Đài và được vị Đại tướng Chỉ huy trưởng ngành t́nh báo quân đội Hoa Kỳ đại diện chính thức Bộ Quốc pḥng Mỹ đón tiếp. Nhân ghé Bộ Quốc pḥng, với tư cách riêng, tôi và Trung tá Nguyễn văn Châu, tuỳ viên quân sự Việt Nam tại Mỹ, đến thăm tướng Lansdale. Lần đầu tiên tôi mới gặp nhân vật kỳ bí này, nhưng tôi biết chắc rằng ông đă nắm vững tiểu sử của tôi rồi. Tuy chưa gặp ông lần nào nhưng năm 1954, tôi đă gặp hai nhân viên của ông tại dinh Độc Lập do bác sĩ Bùi Kiện Tín sắp đặt để tôi có dịp nói cho cơ quan CIA Mỹ tại Sài G̣n biết rằng lực lượng quân đội ở phân khu Duyên Hải quyết liệt chống đối người Pháp và tướng Hinh với bất cứ giá nào để ủng hộ Thủ tướng Ngô Đ́nh Diệm.

Đến thăm tướng Lansdale, tôi rất dè dặt v́ ông ấy là ân nhân của ông Diệm và v́ ông ấy là người đă tạo ông Diệm thành Tổng thống như tôi đă viết trước kia. Nhưng tôi cũng được biết khi Lansdale từ giă Việt Nam, ông đă ra đi với tất cả nỗi buồn tiếc âu lo v́ dù đă khuyên ông Diệm nên thực hiện một chế độ dân chủ cho Việt Nam Cọng Ḥa mà ông Diệm không nghe, đă thế ông Diệm lại c̣n thiếu thuỷ chung với ông ta. (Nhà văn Pháp George Chaffard dựa vào tác phẩm "best seller" của David Wise và Thomas B. Ross nói về chế độ gia đ́nh trị của ông Diệm cũng cho biết rằng vị tướng kỳ bí Edward Lansdale không phải ủng hộ Diệm vô điều kiện. Lansdale đă nhấn mạnh với Bộ Ngoại giao Hoa kỳ là nếu chế độ Diệm không chịu cải tiến th́ sẽ không tránh được một cuộc đảo chánh) [22]. V́ thế, đến thăm tướng Lansdale tôi mang một tâm trạng bứt rứt v́ tôi là cộng sự viên thân tín của ông Diệm mà chế độ ông DIệm lại là chế độ độc tài, tham nhũng, phản dân hại nước, trái với ư nguyện và chủ trương của Lansdale. Là một nhân vật nắm rất vững t́nh h́nh Việt Nam lúc bấy giờ, nhất là sau vụ thảm bại Ấp Bắc, nên Lansdale rất bi quan và không muốn nói chuyện nhiều về t́nh h́nh chính trị và quân sự của Việt Nam với một người thân tín của Tổng thống Diệm, mà chỉ nói về phong cảnh và dân t́nh của Việt Nam mà ông thật t́nh yêu mến. Ông khoe với tôi những sản phẩm tiểu công nghệ Việt Nam mà ông treo khắp tường trong văn pḥng của ông. Trước khi từ giă, tướng Lansdale nắm chặt tay tôi và nói một câu rất khó hiểu: "Dù ở xa nhưng khi bạn cần, tôi vẫn sẵn sàng giúp đỡ bạn v́ nhân viên của tôi c̣n rất đông tại Sài G̣n."

Tối hôm đó, Trung tá Nguyễn văn Châu và tôi được ông bà Trần văn Dĩnh, Đệ Nhất Tham vụ Toà Đại sứ Việt Nam tại Hoa Thịnh Đốn mở tiệc thết đăi. Dĩnh là em ông Trần văn Hướng, một đồng chí của tôi. Chính Dĩnh là người đă vận động tôi ủng hộ quân đội Nhật từ năm 1942 để đánh Pháp dành độc lập nên biết rơ cuộc đời và ư hướng của tôi. Dĩnh cho tôi là một cán bộ tài ba, can trường và trung kiên nhất của Tổng thống Diệm nên anh rất quí mến tôi. Dĩnh là một người thông minh, hoạt bát, am hiểu sâu rộng nhiều vấn đề quốc tế, và đă từng giữ chức vụ Tổng Giám đốc Thông tin Báo Chí của Việt Nam Cọng Ḥa, nhưng sau đó v́ chức Tổng lănh sự tại Miến Điện cần thiết hơn nên Tổng thống Diệm đă cử anh đi Rangoon. Tối hôm thết tiệc tôi, những nhân vật Mỹ được anh mời hầu hết là những nhân vật t́nh báo cao cấp của Hoa Kỳ tại thủ đô Hoa Thịnh Đốn, trong đó có cả ông bà Lansdale. Tôi nghĩ rằng hôm đó ông bạn Dĩnh của tôi đă “trừng phạt” tôi hơn là mời tôi dự tiệc v́ một ḿnh tôi phải đối đáp với hơn hai mươi cặp vợ chồng người Mỹ về vấn đề Việt Nam mà tôi lại rất kém tiếng Anh.

Hôm sau, phái đoàn đi thăm một trường t́nh báo của Lục Quân Hoa Kỳ ở gần Baltimore, cách thủ đô Hoa Thịnh Đốn khoảng sáu mươi dặm. Ở đây có một số sĩ quan Mỹ từng phục vụ tại Nha An Ninh Quân Đội và Pḥng Nh́ của VNCH nên gặp tôi họ mừng rỡ như gặp lại bạn hiền. Trong buổi ăn trưa tuy long trọng nhưng đầy thân mật nhờ sự hiện diện của các bà vợ những sĩ quan huấn luyện của nhà trường, vị tướng già Hoa Kỳ cho biết những sĩ quan t́nh báo Hoa Kỳ qua Việt Nam phục vụ đă thu lượm được rất nhiều kinh nghiệm, nhưng ông tiếc rằng tại sao Mỹ viện trợ cho VNCH rất nhiều trong chín năm trời mà Việt Nam vẫn chưa thắng được Cộng Sản. Câu nói của ông làm cho tôi bẽ bàng v́ câu trả lời th́ tôi có mà lại không nói ra được.

Tối hôm đó, về lại Hoa Thịnh Đốn, tôi và Châu lại phải đi dự buổi dạ yến tại Câu lạc bộ Tướng lănh. Tôi và Châu là sĩ quan cấp Tá mà tối hôm đó lại bị lọt vào giữa một rừng sao và rừng huy chương của độ 40 tướng lănh Mỹ từ 2 đến 4 sao đủ mọi quân binh chủng mang binh phục đại lễ, ngực đầy huy chương, dù đó chỉ là một buổi tiếp tân. Tối hôm đó, tôi cũng đă phải vất vả trả lời nhiều câu hỏi hiểm hóc về t́nh h́nh chiến sự Việt Nam, về tinh thần binh sĩ VNCH và về t́nh trạng đối phương. Tôi tự nghĩ nếu quân đội VNCH chiến thắng được Cộng Sản th́ đây là cơ hội tốt cho tôi vinh dự mang chuông đi đánh xứ người. Nhưng hơn ai hết, tôi biết quân đội Việt Nam đang chiến bại, t́nh h́nh miền Nam đang suy sụp cho nên tôi phải nói quanh co, phải đem Cộng Sản Bắc Việt được Nga và Tàu giúp đỡ ra để bào chữa cho cái yếu kém của quốc gia ḿnh. Tôi phải nói “phe nào kéo dài trận chiến thêm 5 phút th́ phe đó sẽ là kẻ chiến thắng cuối cùng”, bắt chước câu nói của một danh nhân (h́nh như Thủ tướng Churchill) để kết thúc bữa tiệc trước khi ra về cho khỏi ngượng ngùng.

Thật là “họa vô đơn chí” v́ ngày hôm sau, tôi đang nghỉ ngơi th́ viên Thiếu tá Mỹ sĩ quan tùy viên thông báo cho biết cuộc thăm viếng trường vơ bị West Point phải băi bỏ v́ Bộ Quốc pḥng muốn tôi thuyết tŕnh tại Ngũ Giác Đài về Ấp Chiến Lược. Tôi lấy làm ngạc nhiên v́ đề tài này vốn không được ghi trong chương tŕnh sinh hoạt đă được liệt kê rất tỉ mỉ.

Chín giờ sáng hôm sau, phái đoàn được mời đến Ngũ Giác Đài trong một căn pḥng bí mật, trang bị những dụng cụ ghi âm và phát h́nh tối tân, cửa hai lớp và bên ngoài có lính canh pḥng cẩn mật. Một chiếc bàn dài dùng cho buổi họp mà một bên là phải đoàn Việt Nam và bên kia là sáu nhân vật Mỹ mặc thường phục với những tập hồ sơ thật dày. Pḥng rộng và đèn tắt hết chỉ chừa khoảng ánh sáng cho bàn họp của chúng tôi. Tôi tự nghĩ thầm “Việc ǵ mà họ tổ chức quá trang trọng, cẩn mật đến như thế này?” nên ra lệnh cho các sĩ quan trong phái đoàn không ai được phát biểu ǵ cả mà chỉ để một ḿnh tôi đối đáp với họ. Một trong sáu nhân vật Mỹ giới thiệu cho tôi biết họ thuộc các cơ quan t́nh báo khác nhau và họ chỉ muốn chất vấn tôi về một vấn đề độc nhất là “sự thành bại của Ấp Chiến Lược tại miền Nam Việt Nam”. Tôi thật ngạc nhiên v́ người Mỹ, nhất là Bộ Quốc pḥng, đă biết rơ tại Việt Nam tôi không có liên hệ ǵ đến việc thực hiện chương tŕnh Ấp Chiến Lược cả. Họ cũng biết rằng chính ông Ngô Đ́nh Nhu, người thực sự cầm quyền tại Việt Nam, mới là người đích thân chỉ huy và điều khiển toàn bộ công cuộc thực hiện Ấp Chiến Lược mà ông đă nâng lên hàng quốc sách. Họ cũng biết rằng chính phủ Mỹ, kể cả Tổng thống Kennedy, đă theo dơi thật sát kết quả của chương tŕnh Ấp Chiến Lược, vậy tại sao họ lại c̣n bày ra cuộc họp quan trọng và bí mật này để chất vấn tôi.

Dù sao tôi vẫn tỏ ra b́nh tĩnh v́ tuy không có trách nhiệm ǵ trong chương tŕnh Ấp Chiến Lược nhưng tôi  vẫn có theo dơi sự thực hiện của nó, từ những việc nặng h́nh thức như những bài tham luận đọc tại trại Nhân Trí Dũng ở suối Lồ Ô, nơi có trung tâm huấn luyện các cấp quân nhân chính, kể cả Bộ trưởng, Tướng lănh,…về triết lư và chủ trương của Ấp Chiến Lược, cho đến những phúc tŕnh an ninh của các cơ sở địa phương của Nha tôi…Ngoài ra, chính tôi cũng có đến thăm nhiều ấp chiến lược của nhiều nơi để trực tiếp đánh giá sự thành bại của nó. Tôi cũng biết rằng ông Nhu đă trao giải thưởng cho tỉnh Ninh Thuận làm tỉnh gương mẫu, cũng như tôi cũng biết rằng đă có nhiều ấp chiến lược bị Việt Cộng tấn công như ấp Ô Lâm ở An Xuyên, ấp Mê Láng ở Cầu Ngang, ấp Long Mỹ ở Chương Thiện…Tôi lại cũng biết rằng có một bà già ở gần Trung Lương (Mỹ Tho) đă tự tử để phản đối việc dời nhà cửa của bà cho chính quyền xây dựng ấp chiến lược ở vùng đó…Trong một chương trước, tôi đă nói rằng Ấp Chiến Lược là một thất bại nặng nề ngay trong ḷng dân chúng. Nhưng tại đây, không lẽ tôi lại phê phán nặng nề việc thực hiện và sự thất bại của một kế hoạch mà chính Tổng thống Diệm cũng tự hào là một quốc sách có thể chiến thắng Việt Cộng tại nông thôn, nhất là cũng nhờ vào việc xây dựng ấp chiến lược mà ông đă dễ dàng xin thêm được nhiều viện trợ Mỹ. Do đó trong suốt ba tiếng đồng hồ thao thao bất tuyệt, tôi chỉ tŕnh bày những sự kiện tích cực mà không đề cập ǵ đến những thất bại nặng nề của chương tŕnh đó. Tôi đă nói thật nhưng không nói hết.

Sau này khi về nước tôi mới biết rằng đă có những quan điểm mâu thuẫn về sự thành bại của chương tŕnh Ấp Chiến Lược của những người Mỹ, đến nỗi làm cho Tổng thống Kennedy vốn tin tưởng vào chương tŕnh Ấp Chiến Lược này để thắng Việt Cộng cũng phải nghi ngờ. Những nhân vật cao cấp Mỹ như Đại sứ Nolting, Đại tướng Harkins, hay ngay cả Bộ trưởng Quốc pḥng Mac Namara và Thứ trưởng Ngoại giao Hillsman đều ca ngợi sự thành công của chương tŕnh Ấp Chiến Lược. Vào đầu tháng 7 năm 1962, Bộ trưởng Quốc pḥng Robert S. Mac Namara tuyên bố với dân chúng Mỹ rằng ông tin tưởng viện trợ Mỹ bắt đầu tạo được sự cân bằng trong việc chống lại Cộng Sản tại miền Nam, và hai tháng trước đó, ông Roger Hillsman, Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ (người sau này quyết lật đổ ông Diệm), trong một cuộc phỏng vấn phổ biến khắp nước Mỹ cho biết viện trợ Mỹ đă đem lại “một niềm tin mới” cho Nam Việt Nam sau khi 2.000 Ấp Chiến Lược đă được thực hiện [23].

Trái lại, chính Rufus Phillip, viên chức cao cấp Mỹ cố vấn cho chương tŕnh Ấp Chiến Lược tại Việt Nam, lại báo động với Tổng thống Kennedy về sự thất bại hoàn toàn của chương tŕnh Ấp Chiến Lược. Thái độ của Phillip là một thái độ vô cùng can đảm v́ đă dám đi ngược lại với khuynh hướng lạc quan của tất cả mọi người [24]. Chính v́ sự bất đồng ư kiến giữa các giới chức Hoa Kỳ về kết quả của chương tŕnh Ấp chiến lược nên tôi đoán rằng các cơ quan t́nh báo Mỹ đă lợi dụng việc tôi có mặt tại thủ đô Hoa Thịnh Đốn như một nhân chứng sống nên mới có cuộc thuyết tŕnh bất ngờ tại Ngũ Giác Đài trước mặt sáu cơ quan t́nh báo CIA, DIA, và đại diện của Bộ Ngoại Giao…

Việc tôi ca ngợi chương tŕnh Ấp Chiến Lược tại Ngũ Giác Đại giữa năm 1963 phát xuất từ t́nh cảm muốn bênh vực Tổng thống Diệm và gây niềm tin nơi người Mỹ để giúp miền Nam chống Cộng, nhưng gần một năm sau, năm 1964, khi gặp các nhân vật Mỹ tại Sài G̣n như Ngoại trưởng Dean Rusk, Đại tướng Taylor, Cố vấn Bundy, Giám đốc CIA Colby, tôi vẫn lấy làm ngượng ngùng v́ e ngại họ khơi lại câu chuyện không đẩy đủ của ḿnh một năm trước đây.

Sau hơn một tuần lễ hội họp tiệc tùng mệt nhọc, trước khi từ giă thủ đô Hoa Thịnh Đốn, tôi bèn lợi dụng hai ngày trống cuối cùng để đi thăm những thắng cảnh, những đền đài bia lăng, trụ sở Quốc Hội, ṭa Bạch Ốc và trầm tư dạo thuyền trên ḍng sông Potomac để suy nghĩ về tướng Washington gần 200 năm trước đă vượt sông này và nhờ thực hiện chính sách đoàn kết nên đă mở đầu cho những chiến thắng lập quốc. Sau đó, tôi bay về miền Nam để thăm Sư đoàn Nhảy Dù 82 tại Fort Bragg, thăm Fort Benning, căn cứ Hải quân San Diego, thăm khu kỹ nghệ quốc pḥng, nơi chế tạo máy bay X-20 Dyna-Soar của chương tŕnh TAV (Trans Atmospheric Vehicle) rồi mới trở lại San Francisco để đợi ngày về nước. Tại San Francisco, tôi cho các sĩ quan trong phái đoàn về thẳng Sài G̣n, riêng tôi và Đại úy Nghị, viên sĩ quan thông dịch, đi Đài Loan. Trên lộ tŕnh, tôi dự định nghỉ ngơi ở Hồng Kông ít ngày rồi đi Đài Loan thăm một số tướng lănh Trung Hoa Quốc Dân Đảng từng đến thuyết tŕnh chính trị tại Sài G̣n.

Tôi ra đi vào đầu tháng Tư Dương lịch vào dịp lễ Phục Sinh và trở về Việt Nam vào đầu tháng Tư Âm lịch vào dịp lễ Phật Đản, toàn những ngày hội lớn của nhân loại. Không ngờ sáng mồng 8 tháng 5, cầm tờ HongKong Post lên đọc, một bản tin ngắn làm cho tôi kinh hoàng… “Tại Huế, nơi giáo phận của Tổng Giám mục Ngô Đ́nh Thục, Tổng thống Diệm ra lệnh cấm Phật tử treo cờ nhân ngày Phật Đản của họ, dân chúng biểu t́nh phản đối, quân đội đàn áp làm nhiều người chết và bị thương…” Đọc xong, tôi gọi Đại úy Nghị chỉ cho anh ta xem đoạn tin rồi nói với Nghị: “Thế này th́ chế độ của Tổng thống Diệm sẽ sụp đổ không c̣n cách nào cứu văn được nữa…”

Tôi bèn bỏ dự định đi Đài Loan và ngay ngày hôm sau lên đường về nước. Về đến Sài G̣n tôi vào tŕnh diện Tổng thống ngay, nhưng tôi không c̣n nhận được nụ cười, lời hỏi han ngọt ngào êm dịu nơi vị thầy của tôi như những lần trước tôi đi xa về nữa. Tôi chỉ thấy những nét băn khoan lo lắng hiện ra nơi khuôn mặt của ông như những chuyển động của cơn giông tố băo bùng đang đè nặng trên quê hương…

Từ lâu, tôi đă vừa linh cảm vừa chứng kiến những giọt nước bất công, những giọt nước độc tài, những giọt nước tham nhũng, những giọt nước áp bức, những giọt nước lạm quyền, những giọt nước kỳ thị, những giọt nước bất nghĩa, những giọt nước vong ân, những giọt nước quan lại, những giọt nước chia rẽ, những giọt nước phân hóa, những giọt nước bất lực, những giọt nước hối mại. Tôi cũng đă thấy những giọt nước linh mục, những giọt nước Cần Lao, những giọt nước mật vụ, những giọt nước Thanh Niên Cộng Ḥa, những giọt nước Ngô Đ́nh Nhu, những giọt nước Trần Lệ Xuân, những giọt nước Ngô Đ́nh Thục, những giọt nước Ngô Đ́nh Cẩn, những giọt nước Ngô Đ́nh Luyện, đang làm tràn đầy chiếc ly chế độ Ngô Đ́nh Diệm. Nhưng tôi không ngờ giọt nước cuối cùng, giọt nước oan nghiệt lại bắt đầu từ chính ông Ngô Đ́nh Diệm khi ra lệnh cấm treo cờ vào ngày Phật Đản để đẩy chánh sách kỳ thị tôn giáo suốt 8, 9 năm như tôi đă kể lên đến cao điểm nổ bùng.

Chín năm đạp đầu người ta xuống để cho tôn giáo của ḿnh được vinh danh, để cho người đồng đạo của ḿnh được vinh thân, để cho cơ sở tôn giáo của ḿnh được xây cất trên những đổ nát của các chùa chiền, đất đai tôn giáo khác. Chín năm làm mưa làm gió trên quê hương miền Nam kết tụ lại thành quyết định oan nghiệt đẩy chế độ vào những bước cuối cùng của tử lộ.


 


[1] Bulletin d’ Informations Catholiques Internationales, Eglise du Nord Vietnam (số 158 ngày 15-12-61), tr. 179.

[2] Lời đề tựa cuốn “Lịch sử Đạo Thiên Chúa tại Việt Nam” của Khâm mạng Fr. Anl. Drapier, tr.3.

[3] Historia – Notre Guerre d’ Indochine (số 24 năm 1972), tr. 54.

[4] Văn thanh, L’Auto-défense Des Villages, Base De la Pacification Du Nord, trong Orient Occident (số tháng 11-57) và Bernard Fall, Vietnam Witness, tr. 87.

[5] Chu Bằng Lĩnh, Cần Lao Cách Mạng Đảng.

[6] Frances Fitzgerald, Fire in the Lake, tr. 103-104

[7] Thích Nhất Hạnh, Lotus In A Sea Of Fire, tr. 26, 28

[8] Thích Nhất Hạnh, Lotus In A Sea Of Fire, tr. 26, 28

[9] Thích Nhất Hạnh, Lotus In A Sea Of Fire, tr. 26, 28

[10] Đào Mộng Nam, Quốc Đạo, trong Đặc San Non Sông (số Xuân Ất Sửu năm 1985), tr. 6

[11] Khu tưởng Nhớ Vua Hùng, trong báo Thái B́nh (số ngày 18-12-78).

[12] Theo lời kể lại của nhà thơ Tôn Thất Tuệ hiện sống ở California.

[13] Bernard Fall, Vietnam Witness, tr.240.

[14] Nữ kư giả Marguerite Higgins đă căn cứ vào chuyện nhà sư Sơn Vang ở Vĩnh B́nh theo Việt Cộng để lên án cuộc tranh đấu của Phật giáo năm 1963.

[15] Lê Quân, Những Xuyên Tạc và Ngộ Nhận về Phật giáo Việt Nam, Nguyệt san Khai Phóng (số 6 tháng 10-1981) tr. 39.

[16] Sau năm 1975, thanh niên sinh viên Việt Nam tị nạn tại hải ngoại có đầy đủ sử liệu khách quan, thế mà nhóm Công Giáo Cần Lao vẫn xuyên tạc sự thật bằng cách chụp mũ Phật giáo Việt Nam là Cộng Sản.

[17] Kiêm Đạt, Lịch Sử Tranh Đấu của Phật Giáo Việt Nam, tr.132.

[18] Nguyễn Kim Long, Chung Quanh Loạt Bài…, Nguyệt san Khai Phóng (số 6), tr. 37.

[19] Robert Shaplen, The Lost Revolution, tr. 191,192.

[20] Cao Văn Luận, Bên Gịng Lịch Sử 1940-1975, tr.228.

[21] Joseph Buttinger, Vietnam: A Political History, tr 299.

[22] George Chaffard, Les Deux Guerres du Vietnam, tr. 306.

[23] William Hammond, US Intervention And The Fall Of Diem (Vietnam War), tr. 66.

[24] David Halberstam, The Making of a Quagmire, tr. 253.

 

 
 

<<  First   

 <  Previous

Next  >

  Last >>
 

Design by GDOL - 2008