MỤC LỤC

 

 

 
 

 

   Lời Giới thiệu của NXB

   Lời Mở đầu

 * * *

Chương 01

Chương 02

Chương 03

Chương 04

+ H́nh ảnh 1

Chương 05

Chương 06

Chương 07

Chương 08

Chương 09

Chương 10

Chương 11

Chương 12

Chương 13

Chương 14

Chương 15

Chương 16

Chương 17

Chương 18

Chương 19

Chương 20

 

THƯ MỤC

PHỤ LỤC

Phụ lục A

Phụ lục B

Phụ lục C

Phụ lục D

Phụ lục E

Phụ lục F

 

+ H́nh ảnh 2

 

* * *

 

CHƯƠNG XII

 

1961-1962

HAI NĂM KHỐN CÙNG

 

Sau sáu năm cai trị (1954-1960), gia đ́nh ông Diệm và chế độ Cần Lao Công Giáo đă đưa miền Nam đến khúc quanh nghiệt ngă mà chỉ cần vài nét chấm phá, kư giả Bernard C. Nalty cũng đă phác họa được bức tranh đen tối đó:

... Ngô Đ́nh Diệm không thiếu ǵ kẻ thù. Chủ trương chống Cộng của ông ta là tiêu diệt các đảng phái và bắt bớ giam cầm tất cả những ai là đối lập với ông ta, kể cả những người chống Cộng. Ông ta cai trị với cung cách cứng nhắc của một người mà lại không có cái phong độ của Hồ Chí Minh. “Bác Hồ” biết ḥa ḿnh với dân chúng và luôn luôn làm như muốn thỏa măn nguyện vọng của nhân dân. Trong lúc ông Diệm lại xa rời quần chúng, bao vây bởi những người anh em trong gia đ́nh vốn tham lam và ích kỷ, và ông ta chuyên cai trị bằng sắc luật. Ngay cả y phục của ông ta cũng đă tố cáo ông ta rồi: trong lúc Hồ Chí Minh mặc áo quần theo kiểu dân quê th́ Ngô Đ́nh Diệm lại mặc âu phục trắng theo kiểu các quan cai trị thực dân cũ.

Diệm không thể tin tưởng vào quân đội của ông ta. Tháng 11 năm 1960, lực lượng Nhảy Dù đă bao vây dinh Độc Lập buộc ông ta hứa phải cải tổ chính phủ, thứ chính phủ gồm hầu hết là Cần Lao và bà con của ông ta. Trong lúc đưa ra lời hứa th́ Diệm lại bí mật kêu gọi đám quân trung thành về Sài G̣n bao vây lại đám quân đảo chánh. Diệm đă không giữ lời hứa cải thiện chế độ.

Sau sáu năm trời làm một thứ Quốc trưởng không ai lay chuyển nổi, Diệm vẫn bất an. Sự ủng hộ của nhân dân phai lạt, quân đội không thể chiến đấu theo lối chiến tranh cách mạng của Việt Cộng, c̣n kinh tế quốc gia hầu hết hoàn toàn phụ thuộc vào viện trợ Mỹ [1].

Về điểm ông Diệm xa rời quần chúng mà Bernard C. Nalty đề cập trên đây th́ không thiếu những sự kiện để chứng minh. Ở đây tôi muốn đưa ra hai h́nh ảnh điển h́nh có tính cách hài hước lố lăng làm chướng tai gai mắt dân chúng để làm dẫn chứng.

Việc thứ nhất được chương tŕnh Vietnam: ATelevision History của kư giả Karnow tŕnh chiếu trên đài truyền h́nh PBS Hoa Kỳ năm 1984 cho thấy ông Hồ Chí Minh di chuyển th́ lội bộ giữa bùn lầy, hay đi bộ trong rừng rậm, c̣n ông Diệm th́ chễm chệ ngồi trên ghế bành một ḿnh trên chiếc thuyền có sĩ quan cấp tá của quân đội lội nước h́ hục đẩy, trong lúc một toán lính ngâm ḿnh dưới nước bồng súng dàn chào theo kiểu vua chúa phong kiến thời xưa.

Việc thứ hai là lúc ông Diệm đi kinh lư Đà Lạt, khi trở về Sài G̣n phải đến phi trường Liên Khương để lên phi cơ, chẳng may phi cơ đến trễ nên quốc lộ 20 bị chặn lại, xe cộ kẹt cứng đến cả cây số làm cho dân chúng phải đậu xe hai bên lề đường chờ đợi lâu cả mấy tiếng đồng hồ. Không ngờ trong đám dân chúng đó lại có văn hào Nhất Linh Nguyễn Tường Tam, gia đ́nh ông và một số thân hữu. Ông Nguyễn Tường Tam bèn nói đùa với con cháu ông ta: “Nếu trong số đây mai sau có ai lên làm Tổng thống, th́ hăy nhớ đến cái ngày hôm nay, phải chờ đợi bực ḿnh như thế này nhé” [2].

Chính sách cai trị thất đức và bất tài của anh em ông Diệm đă mạnh mẽ và trực tiếp gây thanh thế và thực lực cho Cộng Sản để họ có thể mau chóng thành lập được “Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam” vào ngày 20 tháng 12 năm 1960, nghĩa là chỉ sáu năm sau khi ông Diệm nắm chính quyền. Từ nay, trước đồng bào miền Nam và trước quốc tế, quốc gia gọi là Việt Nam Cộng Ḥa đă bị coi ngang vị thế với “Mặt trận Dân Tộc Giải phóng Miền Nam” mặc dù Mặt trận chỉ là sản phẩm chính trị của Hà Nội mà thôi. Sự ra đời của Mặt trận là một đ̣n chính trị vô cùng xuất sắc của Bộ Chính trị Bắc Việt. Sự ra đời đó mang một ư nghĩa tuyên truyền cách mạng rằng chính lực lượng nhân dân miền Nam v́ căm thù chế độ tay sai của Mỹ nên đă nổi dậy để chống lại đám tay sai và ông chủ của chúng là đế quốc thực dân mới. Sự ra đời của Mặt trận không những mê hoặc và lôi cuốn được một số trí thức, sinh viên, thanh niên miền Nam mà, quan trọng hơn cả, là đă động viên được tầng lớp nông dân và lao động của miền Nam, vốn bất măn với chế độ Diệm mà họ cho là chế độ của người Bắc xâm lược miền Nam bằng chính sách nâng đỡ đặc biệt cho người Công giáo miền Bắc di cư và bằng chính sách kỳ thị tôn giáo qua chế độ “Công giáo trị”. Với sự ra đời của “Mặt trận Dân Tộc Giải phóng miền Nam”, Hà Nội c̣n được ưu thế đứng ngoài ṿng tranh chấp của những người sống ở phía Nam vĩ tuyến 17, không xen vào nội bộ miền Nam, do đó tạo được chính nghĩa kháng chiến cho Mặt trận mà Hà Nội khỏi mang tiếng là “kẻ xâm lăng”. Trên mặt quốc tế, Hà Nội tạo được uy tín và cảm t́nh với mọi quốc gia, đặc biệc là với những quốc gia trong khối đệ tam vốn chưa ư thức được chiến lược và chủ trương của Cộng Sản. Khẩu hiệu “Mỹ Diệm” mà Hà Nội tung ra để mê hoặc người Miền Nam và quốc tế quả thực là một thủ đoạn tuyên truyền vô cùng lợi hại. Cho nên nh́n lại toàn bộ cuộc chiến th́ kể từ khi “Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam” ra đời vào cuối năm 1960, sự thất bại chính trị của Việt Nam Cộng ḥa coi như đă bắt đầu.

Trước thủ đoạn chính trị chia rẽ người miền Nam với chế độ Diệm căn cứ trên những thực tế chính trị và xă hội rất rơ ràng, và trước cơn lâm nguy của đất nước, đáng lẽ sau sáu năm thất bại, anh em ông Diệm phải thay đổi chính sách, phải thực hiện một cuộc cách mạng xă hội, thực hiện đại đoàn kết dân tộc để mỗi thành phần quốc gia, mỗi tôn giáo, đảng phái cùng có cơ hội chung lo việc chống Cộng cứu nước, th́ bất hạnh thay, anh em ông Diệm lại càng ngoan cố hơn, độc tài hơn trong việc củng cố địa vị, trong độc quyền chống Cộng. Họ đă lợi dụng vụ “Tuyên ngôn Caravelle”, vụ đảo chánh của Nhẩy Dù để tiến hành một chính sách đàn áp khủng bố mới bằng những cuộc lùng bắt bố ráp những người quốc gia đối lập. Chủ trương bắt bớ giam cầm của anh em ông Diệm đă làm cho hàng ngũ quốc gia, nhất là những phần tử có uy tín với quốc dân phải tan ră: kẻ th́ bị vào tù, kẻ th́ phải t́m phương ẩn tránh, kẻ th́ trốn ra ngoại quốc, kẻ th́ giữ thái độ trùm chăn t́m sự b́nh yên. Hậu quả của sự tan ră này là chính nghĩa và sức mạnh chống Cộng bị kiệt quệ, Cộng sản bèn lợi dụng tuyên truyền khối quần chúng bất măn đă thiếu mất lớp người quốc gia đối lập đáng lẽ có thể hướng dẫn cho họ vừa chống Diệm vừa chống cả Cộng sản.

Không cần phải dài ḍng mà chỉ cần đọc lại đoạn hồi kư và bài thơ trong tù của ông Trần Văn Hương (thuộc nhóm Caravelle) cũng đă đủ thấy chiến dịch bắt bớ, giam cầm của nhà Ngô sau biến cố 11-11-60 như thế nào rồi [3]:

Ngày thứ bảy 12-11-60, lối 11 giờ (nghĩa là ngay cả trước khi các lănh tụ đảo chánh chưa ra đi, t́nh h́nh Sài G̣n chưa trở lại yên ổn) tôi bị Nha Cảnh sát và Công An Quốc Gia đ̣i đến rồi câu lưu luôn để cứu xét v́ tôi bị t́nh nghi có liên quan trong vụ biến cố 11-11-60. Qua ngày sau và những ngày kế tiếp, một số anh em trong nhóm 18 người của khối Tự Do Tiến Bộ mà người ta thường gọi là nhóm Caravelle lần lượt bị đ̣i và bị câu lưu. Nh́n anh em, tôi chợt nhớ bài thơ Ngồi Trăng của ông Học Lạc nên mượn vân thơ (chú, lũ, tụ, phủ, vụ) làm bài sau đây:

NGỒI TÙ MỘT LŨ

Này anh, này cụ, này là chú,

Lóc cóc vào đây ngồi một lũ,

Những tưởng buồn như chó mất nhà,

Nào ngờ vui quá bàn xôm tụ,

Thân này dẫu vướng chốn lao lung,

Nỗi ấy vẫn ghi trong phế phủ,

Xuống chó lên voi lắm chuyện đời,

Xưa nay diễn biết bao nhiệm vụ.

Ông Trần Văn Hương là một nhà giáo mô phạm, là thầy học của rất đông thành phần trí thức của miền Nam đương thời. Ông là một nhân sĩ tiêu biểu cho lớp sĩ phu tiền bối như Đồ Chiểu, Thủ Khoa Nghĩa, Thủ Khoa Huân, Phan Văn Trị của miền Nam luôn luôn được nhân dân miền Nam hết sức trọng vọng. Ông từng là Đô trưởng Sài G̣n - Chợ Lớn thời ông Diệm mới chấp chánh, nổi tiếng nhờ tính t́nh cương trực liên chánh. Ông thường đi làm bằng xe đạp và không xử dụng công xa. Khi thấy rơ anh em ông Diệm độc tài, kỳ thị địa phương và kỳ thị tôn giáo, ông xin từ chức ngay rồi về nhà sống cuộc đời nghèo nàn thanh bạch. Nhưng tâm hồn kẻ sĩ nơi ông không cho phép ông im hơi lặng tiếng trước một chế độ càng ngày càng gây thêm nhiều tội lỗi, ông bèn tham gia nhóm “Tự Do Tiến Bộ” họp báo tại Caravelle ra tuyên ngôn phản đối chế độ Diệm.

Việc nhà Ngô bắt giam ông không những là một tội ác đối với dân tộc mà c̣n là một hành động chà đạp tự hào và tự ái của dân miền Nam, v́ toàn dân miền Nam, bất kỳ những ai có chút học hành có chút hiểu biết thời thế, đều coi ông Hương như một tấm gương sáng trong cách xử thế, một bậc thầy trong trường đời. Giam cầm ông Trần Văn Hương (cũng như ông Phan Khắc Sửu và Kỹ sư Trần Văn Bạch) nhà Ngô, một lần nữa, đẩy trí thức nhân sĩ miền Nam vào ṿng chống đổi, đẩy lao động nông dân miền Nam chạy theo Việt Cộng.

 

-o0o-

 

Trong lúc Công an, Cảnh sát và Mật vụ của Lê Quang Tung và Dương Văn Hiếu mở chiến dịch lùng bắt và điều tra thành phần dân sự đối lập th́ Nha An Ninh Quân Đội phụ trách việc điều tra thành phần quân nhân.

Ngày 14 tháng 11 năm 1960, tôi được Tổng thống Diệm gọi vào dinh Độc Lập để ông cho những chỉ thị cần thiết. Mới thấy tôi, ông hỏi ngay: “Anh có biết mấy lâu nay những thằng CIA Mỹ nào thường gặp gỡ thằng Thi?”. Khi tôi trả lời không biết th́ ông nói tiếp đại ư cho rằng chính người Mỹ đă xúi dục Nguyễn Chánh Thi tổ chức đảo chánh để lật đổ chính phủ của ông. Sau đó ông ra lệnh phải t́m cho ra tên tuổi những nhân viên Ṭa đại sứ Mỹ thường tiếp xúc liên lạc với Đại tá Thi, những người Mỹ nào hay lui tới với các sĩ quan Nhẩy Dù.

Thấy ông Diệm lầm Đại tá Thi là người chủ xướng cuộc đảo chánh do sự xúi dục của Mỹ, tôi bèn nói: “Thưa cụ, Nguyễn Chánh Thi là một sĩ quan đă có thành tích ủng hộ cụ ngay từ đầu, khi cụ c̣n gặp những khó khăn vào những năm 1954, 1955, do đó được cụ tín nhiệm giao cho chỉ huy Lữ đoàn Nhảy Dù thay Đỗ Cao Trí. Thi là một người cương trực, được binh sĩ Nhảy Dù kính mến và tuy bấy lâu nay Thi có tỏ thái độ bất măn với ông bà Cố vấn, với ông Cậu, nhưng đối với cụ, Thi không hề đả động đến”. Để củng cố thêm lập luận đó, tôi tŕnh bày thêm: “Thưa cụ, vào khoảng 4 giờ sáng ngày 11-11-1960, sau khi tiếng súng “phản loạn” nổ và được anh Bằng cho biết là quân Nhảy Dù đang tấn công Dinh Độc Lập, tôi gọi điện thoại ngay về nhà Thi th́ được một trung sĩ Nhảy Dù trả lời rằng vào khoảng nửa đêm, đại tá Thi đang ngủ ở nhà th́ bị trung tá Vương Văn Đông và 4, 5 sĩ quan Nhảy Dù đến mời đi, mời với thái độ nài ép, bắt buộc. Theo tôi th́ nhóm Vương Văn Đông mới là kẻ xướng xuất cuộc đảo chánh, nhưng họ thấy đại tá Thi thường tỏ thái độ bất măn với chính phủ nên họ lợi dụng uy tín và địa vị Tư lệnh của đại tá Thi để toàn thể binh sĩ Nhảy Dù tuân phục nhóm đảo chánh và hăng hái tham dự”. Ông Diệm vẫn không tin, nói lại: “Nhưng mà ông Cố vấn đă có những tin tức cho biết chính CIA Mỹ chủ động cuộc đảo chánh này”. Khi ông Diệm đă đưa danh nghĩa ông Nhu ra th́ tôi biết không c̣n ǵ để tranh luận nữa, nhưng cũng cố gắng nói thêm: “Thưa cụ, không biết ông Cố vấn dựa vào đâu mà nói vậy, nhưng theo tôi, trong vụ đảo chánh vừa rồi, nếu có bàn tay của người ngoại quốc th́ chỉ có thể là bàn tay của Pháp chứ không thể là của Mỹ, và trái lại chính Mỹ đă cứu cụ”. Ông Diệm mở to mắt nh́n tôi, tôi nói tiếp: “Thưa cụ tôi luận như thế v́ có mấy yếu tố cần được phân tách, thứ nhất là từ khi cụ cầm quyền, người Pháp có thái độ chống đối cả cụ lẫn người Mỹ; thứ hai Vương Văn Đông, Nguyễn Triệu Hồng và Bộ trưởng Trần Lê Quang đều là rể của cựu Trung tá Huấn (quản lư khách sạn Caravelle của Ngô Đ́nh Thục) là một người thân Pháp, thân với tướng Nguyễn Văn Hinh; yếu tố thứ ba là đa số sĩ quan thuộc thế hệ trước, thế hệ “quân đội quốc gia”, trong đó có nhóm Vương Văn Đông đều có tinh thần bài Mỹ, điển h́nh như Lê Văn Kim, Đỗ Cao Trí, Lam Sơn... vốn có tư tưởng và hành động chống Mỹ mà Cụ đă biết rơ và vẫn thường la rầy (trường hợp Đỗ Cao Trí và Lam Sơn). C̣n yếu tố thứ tư là chính ông Miller thuộc Ṭa đại sứ Mỹ, đă đến trước dinh Độc Lập để khuyên Vương Văn Đông tạm đ́nh cuộc tấn công trước sự hiện diện của cướng Khánh”. Tuy tôi đă đưa ra những phân tách như thế nhưng ông Diệm, vốn bị ảnh hưởng nặng nề của ông Nhu, nên vẫn cố nói thêm: “Nhưng trong vụ đảo chánh này có thằng Phan Quang Đán và thằng Hoàng Cơ Thụy là tay sai của CIA”. (Sau này, tôi được biết sau khi thất bại, ông Hoàng Cơ Thụy nhờ CIA Mỹ lái xe cho ông lên phi trường để xuất ngoại nhưng ông Thụy không phải là người của CIA).

Trước định kiến chắc nịch như thế của ông Diệm tôi c̣n biết nói ǵ thêm, chỉ thắc mắc tự hỏi v́ sao ông Nhu lại cứ đổ cho ông Phan Quang Đán trong khi biết chắc hai ông Thi và Đán không phải là người tổ chức cuộc đảo chánh. Ông Thi chỉ được nhóm đảo chánh Vương Văn Đông mời tham dự, c̣n ông Đán th́ lại do ông Thi mời hợp tác với quân đảo chánh vào buổi trưa ngày 11-11-1960. Là một thuộc cấp, tôi chỉ biết tuân lệnh nhưng ḷng riêng vẫn thắc mắc tại sao ông Nhu, “đại trùm mật vụ” của chế độ, lại có những nhận định phản khoa học, phản t́nh báo như thế. Ba năm sau tôi mới biết rơ thủ đoạn của ông ta.

Tôi bắt đầu mở cuộc điều tra vụ đảo chánh th́ bỗng nhận được văn thư của Phụ tá Bộ trưởng Quốc pḥng Nguyễn Đ́nh Thuần (hiện ở hải ngoại) chỉ thị rằng theo lệnh ông Cố vấn th́ Thiếu tá Nguyễn Hữu Kính (Công giáo di cư), Phụ tá của Lê Quang Tung, và ba đại úy thuộc lực lượng Đặc biệt được biệt phái đến Nha An Ninh Quân đội, đặt dưới quyền tôi để đặc trách cuộc điều tra vụ đảo chánh của Thi và Đông.

Theo tinh thần của bức văn thư th́ tôi vẫn chịu trách nhiệm cuộc điều tra và phải kư giấy tờ liên hệ đến cuộc điều tra, nhưng người trực tiếp điều hành công tác lại là nhóm sĩ quan Lực lượng Đặc biệt. Bằng phương thức này, ông Nhu chẳng những đă công khai tỏ ra không tin tưởng tôi mà c̣n cố t́nh làm mất uy tín của tôi đối với nhân viên thuộc quyền. Tôi cứ thắc mắc tự hỏi tại sao ông Nhu không giao hẳn việc điều tra vụ “phản loạn” cho cơ quan của Lê Quang Tung thụ lư để tôi tránh được một công tác tế nhị. Tế nhị v́ sự dằng xé của lương tâm, v́ một mặt tôi phải làm bổn phận trung thành với chế độ mà chính tôi cũng bất măn, và mặt khác tôi phải trừng trị nhóm người “phản loạn” mà trong thâm tâm tôi rất cảm phục. Đă thế, thiếu tá Kính và nhóm sĩ quan của Lê Quang Tung lại thường qua mặt tôi trong việc bắt bớ giam cầm những sĩ quan và binh sĩ ở các đơn vị khác chỉ v́ các đơn vị trưởng muốn lập công và do nhóm Cần Lao làm điểm chỉ. Có ngày họ bắt về hàng trăm binh sĩ, hàng trăm đàn bà con nít thuộc gia đ́nh những quân nhân “phản loạn”, tạo nên t́nh trạng hỗn loạn cho Nha tôi, và nhất là tạo sự hiểu lầm nơi một số quân nhân đối với riêng cá nhân tôi. Nhóm sĩ quan biệt phái cũng lợi dụng danh nghĩa của An Ninh Quân đội để khủng bố làm tiền giới Hoa Kiều Chợ Lớn, làm cho tôi mang tiếng, cũng như trước kia nhóm Cần Lao Mật Vụ của ông Cẩn ở Huế lấy danh nghĩa của An Ninh Quân Đội khủng bố ông Hà Thúc Kư và nhiều Đảng viên đảng Đại Việt để làm tiền sau vụ Ba Ḷng. Tôi muốn nhắc lại những chuyện này để tŕnh bày một lần cho xong với các bạn quân nhân hiện ở hải ngoại vốn từng làm việc dưới quyền tôi thời Ngô Đ́nh Diệm, để anh em thấy rơ nỗi ḷng cay đắng của tôi lúc bấy giờ đă không thể công khai nói lên được.

Sáu, bảy năm trời anh em đă cộng tác với tôi, đă thấy rơ tinh thần công minh liêm chính của tôi, đă thấy chủ trương “đoàn kết dân tộc” của tôi, đă thấy đường lối “huynh đệ chi binh” mà tôi chủ xướng từ ngày c̣n ở Phân Khu Duyên Hải, đă thấy chính sách “nặng giáo hóa, nhẹ trừng trị” của tôi... nhưng v́ vận nước truân chuyên và, nói như kư giả Robert Shaplen, “ở đâu có ảnh hưởng Cần Lao xen vào là ở đó sinh ra rối loạn”, cho nên dù đă cố gắng hết sức, Nha của chúng ta đă có những lúc bị hiểu lầm, hoặc bị cố t́nh bôi bẩn mang tai tiếng. Bây giờ, giai đoạn lịch sử đó đă qua rồi và trong trạng huống của một người sống tha hương, hồi tưởng lại những năm điều khiển Nha, tôi vẫn thấy hănh diện và tự hào về cả phẩm lẫn chất của Nha, nên tôi thấy cần phải nói lên để cho Sự thật không bị che mờ. Có lẽ anh em c̣n nhớ vụ Dương Văn Hiếu (hiện ở Mỹ) đă bắt chuẩn úy Lê Hữu Thúy dấu biệt tích không thông báo cho tôi, rồi đưa ra miền Trung cho ông Ngô Đ́nh Cẩn xử dụng mặc dù Thúy là người Công giáo nhưng lại là một đảng viên cao cấp của Cộng Sản nằm vùng. Có lẽ anh em vẫn c̣n nhớ vụ em ruột bà Nhu là Trần Văn Khiêm, lúc sắp nhận chức Giám đốc Nha Nghiên cứu Chính trị, đă bắt giữ và đ̣i làm tiền hai nhân viên Ty An Ninh Quân Đội An Giang. Vụ này chẳng những ông Nhu đă không la rầy người em vợ lại c̣n nặng lời chỉ trích khi tôi đến tŕnh bày nội vụ với ông ta. Có lẽ anh em c̣n nhớ vụ Trung tá Nguyễn Huỳnh được ông Nhu và nhóm Cần Lao đặt làm phụ tá cho tôi mà không thèm hỏi ư kiến tôi. Mới về Nha chưa được bao nhiêu ngày, Huỳnh đă làm tiền Hoa Kiều một triệu bạc trong vụ đấu thầu đồ phế thải quân đội mặc dù hơn năm năm trời, Nha An Ninh Quân Đội tuy mang tiếng là Mật vụ, là tay sai của chế độ Cần Lao mà vẫn được tiếng liêm khiết. Nguyễn Huỳnh, người Công giáo bà con với Tỉnh trưởng Nguyễn Trân quê ở Quảng Nam, lúc làm Tỉnh trưởng Long Khánh, Huỳnh đă tham nhũng cả mấy chục triệu bạc để che dấu mấy trăm triệu thuế của Tây đồn điền thời ông Bùi Văn Lương làm Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Huỳnh chia chác cho ai, Tây đồn điền biết hết thế mà ông Nhu lại đem y về đảm nhiệm chức vụ số hai của cơ quan có nhiệm vụ “bảo vệ tinh thần quân đội”! v.v...

Tôi muốn kể lại những vụ nhỏ nhặt nhưng tiêu biểu trên v́ lúc bấy giờ đă có nhiều sĩ quan của tôi đến than phiền và bày tỏ sự công phẫn trước tư cách hống hách, lộng hành của nhóm Cần Lao mà tôi chỉ khuyên họ nên ẩn nhẫn.

Tuy nhiên, sau vài tháng, không chịu nổi sự lạm quyền của Thiếu tá Kính nữa, tôi gọi Kính lên văn pḥng và cho biết rằng từ nay anh ta phải hoàn toàn chịu mệnh lệnh của tôi, tôi sẽ trực tiếp nắm lấy cuộc điều tra.

Bắt tay vào việc, tôi liền trả tự do cho nhóm phụ nữ và trẻ em và nhóm quân nhân không liên hệ trực tiếp đến vụ đảo chánh nhưng chỉ bị tố cáo là có cảm t́nh với nhóm phản loạn, chẳng hạn như đă “nói xấu Tổng thống, đă mạt sát ông Cẩn, bà Nhu, đă có những lời lẽ chỉ trích chế độ, nói xấu người Công giáo, đă tỏ ra vui mừng khi nghe tiếng súng đảo chánh nổ, đă ca ngợi Phan Quang Đán và Nguyễn Chánh Thi...”

Tôi nghĩ rằng những sĩ quan tham dự đảo chánh, những sĩ quan bất măn với chế độ cũng cùng mang một tâm sự như ḿnh. Nếu tôi không ấp ủ t́nh cảm chung thủy với ông Diệm, cái t́nh cảm keo sơn thắm thiết đă gần 20 năm trời, biết đâu giờ này tôi cũng đă đứng vào hàng ngũ “phản loạn”. Tôi lại nghĩ rằng tạo cuộc binh biến là dễ dàng mua lấy cái chết mà họ dám hy sinh chỉ v́ ḷng yêu nước của họ, chỉ v́ họ sợ quốc gia rơi vào tay Cộng Sản, như vậy th́ họ đâu có phản Tổ quốc Đồng bào mà trái lại họ chỉ muốn đạp đổ một chế độ bất lực thối tha đang làm cho đất nước suy vong. Huống chi đời tôi cũng ít nhiều vào tù ra tội v́ chống Thực, Phong, Cộng, há v́ cái chế độ “Cần Lao Công giáo” này mà làm tan ră quân đội, mà đi ngược lại ḷng dân sao? Cho nên mặc dù có hàng ngàn sĩ quan và binh sĩ trực tiếp hay gián tiếp liên hệ đến cuộc đảo chánh, tôi chỉ đề nghị đem ra ṭa có 19 người và phạt quân kỷ độ 30 người. Tôi c̣n cẩn thận đem danh sách những can phạm ra trước một Hội đồng cấp Tướng họp tại Bộ Tổng Tham mưu để Hội đồng định đoạt lấy số phận những người mà tôi đề nghị phạt quân kỷ, ngơ hầu mai hậu tôi khỏi mang tiếng dựa thế Tổng thống Diệm gây oan khiên đau khổ cho nhiều người, nhiều gia đ́nh. Ngay cả những tướng tá như Lê Văn Kim, Phạm Xuân Chiểu, Nguyễn Cao Kỳ, Hoàng Cao Tiêu... đă có chứng cớ rơ ràng liên hệ đến nhóm đảo chánh, tôi cũng cố che dấu cho họ để hàn gắn vết thương quân đội trước một kẻ thù Cộng Sản ngày càng hiếu chiến, và cho một tập thể binh sĩ đă chịu quá nhiều thương vong. Tôi vẫn khắc ghi trong ḷng lời dặn ḍ của người anh cả quân đội, Đại tướng Lê Văn Tỵ, khi trả lời Trung tá Vương Văn Đông: “Tôi già rồi, các anh muốn làm ǵ th́ làm nếu thấy là phải, miễn đừng để quân đội phải tan ră”. Tôi tự nghĩ tướng Tỵ, một lính già xuất thân từ một gia đ́nh cai đội, xuất thân từ một Thiếu sinh quân thời Pháp thuộc, trải bao chế độ chính trị, chứng kiến bao nỗi thăng trầm của quê hương đất nước, nên ông đă có cái nh́n sâu sắc và nhân bản hơn về vai tṛ của những chế độ, về quân đội, về tương lai xứ sở. V́ thế ông nhắc lại với tôi lời ông đă nói với ông Vương Văn Đông như thầm nhắn nhủ tôi đừng làm cho quân đội tan nát. Có phải thế không thi sĩ Cao Tiêu ? (Lúc bấy giờ ông Hoàng Cao Tiêu là Đại úy Chánh Văn pḥng cho Đại tướng Lê Văn Tỵ).

Trong nhóm lănh tụ đảo chánh th́ đại tá Nguyễn Chánh Thi là người bạn tri kỷ của tôi, vị sĩ quan gan dạ, ngay thẳng, đă cùng học lớp Trung đoàn trưởng với tôi tại Hà Nội và đă được tôi tuyên truyền ủng hộ cho ông Diệm khi ông Diệm mới về nước. Tôi làm sao có thể thù hận người chiến sĩ mũ đỏ đă bao phen xông pha trận mạc, tôi làm sao quên được t́nh bạn thắm thiết khi cùng đi hành quân với một Liên đoàn Lưu động bên bờ sông Bạch Đằng để hai anh em có dịp vào dâng hương trước bàn thờ Đức Trần Hưng Đạo. Tôi làm sao quên được cử chỉ thiết tha của Thi khi suốt mấy ngày tôi bị đau sốt rét, Thi mang hộ ba lô hay nhảy xuống ao bắt cá nấu cháo cho tôi ăn trong cuộc hành quân giữa cánh đồng lầy lội giữa miền quê tỉnh Hải Dương Bắc Việt. Tôi làm sao quên được thái độ hào hiệp của Thi khi đưa tay cản mũi súng của Trần Đ́nh Lan, một thứ Tây con, đang nhắm vào đầu tôi trong nhà Trần Văn Đôn, khi tôi phản đối lời bộ hạ của ông Hinh hô hào đảo chánh ông Diệm.

Thi là một người chân thành yêu nước, dày công chiến đấu chống Cộng, từng hết ḷng ủng hộ ông Diệm, nay v́ đại nghĩa mà phải lưu vong nơi quê người cho nên trước khi trả tự do cho nhóm phụ nữ và trẻ con, tôi cho mời vợ Thi lên văn pḥng để có mấy lời an ủi. Tôi khuyên vợ Thi về nhà lo làm ăn, nuôi con chờ chồng, đợi ngày Thi “áo gấm về làng”, đợi ngày gia đ́nh đoàn tụ. Tôi đưa vợ Thi 2.000 đồng bạc và hẹn cứ mỗi tháng đến gặp tôi, tôi xuất mật phí đưa cho 1.000 đồng. Nhưng vợ Thi không bao giờ trở lại cho đến cuối năm 1963, sau khi chúng tôi lật đổ chế độ Diệm, Thi từ Nam Vang trở về (như tất cả sĩ quan, chính khách tự ư lưu vong, hay bị tù đày ngoài Côn Đảo) như những chiến sĩ hùng anh đă có công chống đối chế độ Diệm. Nhưng khi Thi trở về quê cũ th́ hỡi ơi, cảnh nhà Thi đă trâm gẫy b́nh rơi, lạnh phím tơ đồng!

Thời thế đảo điên, quê hương nghiêng ngửa, chế độ Cần Lao tàn bạo và số phận nghiệt ngă đă làm Thi tan nát cả cơi ḷng. Nhưng rồi Thi đặt nặng “việc diệt thù cứu nước”, gác mối sầu riêng, nhận lệnh lên đường chỉ huy Sư đoàn I Bộ binh nơi tuyến đầu Quảng Trị.

Ngoài Thi ra, trong nhóm lănh tụ đảo chánh, từ lâu tôi vẫn chú ư và cảm mến những sĩ quan trẻ tuổi như Phạm Văn Liễu, Phan Trọng Chinh và Phan Lạc Tuyên, mặc dù tôi chưa hề tiếp xúc với họ. Liễu là đảng viên Đại Việt đă từng học trường Vơ Bị Yên Bái do Nhật Bản tổ chức năm 1945, đă từng hoạt động cách mạng và trốn sang Tàu. Chinh là con một nhà cách mạng thuộc Việt Nam Quốc Dân Đảng, từng chiến đấu chống cả Pháp lẫn Việt Minh. C̣n Phan Lạc Tuyên, viên sĩ quan trẻ tuổi này đă làm cho tôi khâm phục v́ những bài tham luận hoặc quan điểm của anh trên các tờ báo của Nha Chiến Tranh Tâm lư, những bài báo với nội dung sâu sắc và văn từ đầy hào khí của một quân nhân nặng t́nh tự với quê hương dân tộc, lồng trong ư chí sắt đá chống Cộng cứu nước. Cả ba là những sĩ quan cương trực, liêm chính, nhưng Phan Lạc Tuyên th́ đă trốn lên vùng Cao Đài theo Việt Cộng. Quyết định theo Việt Cộng của Tuyên tuy nông nổi nhưng tôi không ngạc nhiên, v́ với một chế độ phản dân tộc và phản cách mạng như chế độ Ngô Đ́nh Diệm lúc bấy giờ th́ con người đầy ắp tinh thần dân tộc và tâm chất cách mạng như Tuyên làm sao không theo “giải phóng” được! Tôi cũng đă đích thân mang ít quà bánh đến trại giam Lê Văn Duyệt để tặng những sĩ quan đang bị chính tôi giam giữ tại đó, tôi đă gặp mặt và có mấy lời thăm hỏi Phan Trọng Chinh nhưng tôi không dám chuyện tṛ lâu dài với Chinh v́ chính tôi cũng sợ tai mắt Cần Lao, tuy là Giám đốc Nha An Ninh Quân đội (Thiếu tướng Phan Trọng Chinh hiện ở Mỹ).

Trong cuộc binh biến ngày 11-11-1960, nhóm “phản loạn” và tôi tuy ở hai phe đối nghịch nhưng khi nghe tin Thiếu tá Nguyễn Triệu Hồng chết, tôi không khỏi xúc động ngậm ngùi bởi v́ Hồng đă để lại cho tôi một kỷ niệm khó quên khi tôi gặp cảnh lao lung trên bước đường binh nghiệp. Năm 1953, khi tôi bị tướng Cogny và Trung tá Dương Quư Phan phạt 60 ngày trọng cấm và bị thuyên chuyển về Liên Đoàn Lưu động số 3 của Thiếu tá Phạm Văn Đổng đang hành quân tại Ninh B́nh, ngày tôi từ giă Hưng Yên ra đi với vợ và bốn con nhỏ dưới sáu tuổi, Trung tá Phan chỉ cho tôi một chiếc xe Doge-4 với một Hạ sĩ lái xe cho tôi lên Hà Nội. Con đường tỉnh lộ từ Hưng Yên đến Bần Yên Nhân, cạnh quốc lộ số 5, dài 38 cây số là một con đường tử thần luôn bị phá hoại v́ phục kích mà mỗi tuần chỉ được Khu chiến thông lộ một lần để tiếp tế liên lạc. Chính tôi đă có lần chỉ huy những cuộc mở đường đó mà mỗi lần là phải sử dụng cả Tiểu đoàn 4 của Đại úy Đặng Văn Sơn với một đại đội Thiết giáp, một đại đội Bảo an của tỉnh và phải có pháo binh sẵn sàng yểm trợ. Thế mà Dương Quư Phan bắt tôi phải rời Hưng Yên ngay không được đợi đến ngày mở đường. Tuy đoán rằng Dương Quư Phan muốn mượn tay Việt Minh để giết ḿnh nhưng tôi vẫn ra đi, v́ không lẽ tôi đă công khai bày tỏ lập trường chống Pháp, đă khinh bỉ Phan ra mặt mà bây giờ phải xin xỏ một chút ân huệ, dù là hợp lư, của y. Tôi ra đi trước sự ngậm ngùi của Trung úy Nguyễn Văn Thiệu và Cao Văn Viên, hai người bạn đă cùng tôi chia vui sẻ buồn mấy tháng tại cái Khu chiến hoàn toàn bị bao vây bởi Việt Minh gần cả hai năm trời này.

Chiếc xe chở gia đ́nh tôi đi độ mười cây số th́ gặp một đồn lính (mà nếu tôi nhớ không lầm th́ danh hiệu của đồn là Lệ Thanh) với quân số độ hơn một trăm binh sĩ do Trung úy Nguyễn Triệu Hồng chỉ huy. Tôi vào đồn để vợ con nghỉ ngơi chốc lát và hỏi thăm t́nh h́nh an nguy của đoạn đường dài c̣n lại. Thấy tôi “đơn thương độc mă” trên lộ tŕnh đầy nguy hiểm, Hồng lộ hẳn vẻ băn khoăn:

- Đường sá hết sức bất an, hai bên dân làng đều là Việt Minh mà Đại úy dám liều như thế sao?

- Tôi đâu dám liều, nhưng bộ chỉ huy ra lệnh phải đi ngay nên tôi phải đi anh Hồng ạ.

- Thôi Đại úy và gia đ́nh hăy ở lại đây với em, đợi hai ngày nữa có mở đường rồi hăy đi.

- Cám ơn anh nhưng đàn bà con nít bất tiện lắm, vả lại đợi ngày mở đường th́ ông Cogny, Ông Phan lại hành hạ tôi thêm.

- Hay là em cho Đại úy một trung đội theo hộ tống cho đến Bộ chỉ huy tiểu đoàn hai gần quốc lộ số 5.

Tôi nghĩ bụng, một trung đội th́ ăn nhằm ǵ khi gặp Việt Minh. Vả lại nếu chẳng may có đụng độ thế nào trung đội cũng bị thiệt hại và Hồng sẽ bị phạt nặng, nên tôi cảm tạ ḷng hào hiệp của Hồng rồi từ chối sự giúp đỡ của anh ta. Hồng cố nài nỉ nhưng tôi vẫn lên đường trước vẻ mặt ái ngại của người bạn trẻ, phó mặc thân thế gia đ́nh ḿnh cho số phận rủi may. Lạ thật! Có lẽ nhờ phúc đức vẫn c̣n dày vẫn lớn, nên cả gia đ́nh tôi được “thuận buồm xuôi gió” trên con đường đă hai năm qua nổi tiếng là kinh hoàng.

Thời gian trôi qua với biết bao vật đổi sao dời, không ngờ bảy năm sau Nguyễn Triệu Hồng, một chàng trai tuấn kiệt của đất Việt trời Nam không chết về tay kẻ thù Cộng sản mà lại chết oan khiên v́ viên đạn của người quốc gia! Cái thảm trạng vô lư đó của cuộc đời, sự oái oăm chính trị đầy oan khiên đó đă bắt đầu và được nuôi dưỡng từ dưới chế độ Ngô Đ́nh Diệm, để rồi c̣n kéo dài cho đến khi thân thể của lực lượng quốc gia kiệt lực v́ những nhát chém sau lưng cho đến ngày miền Nam sụp đổ.

Đầu năm 1961, trong lúc tại Sài G̣n tôi đang tiến hành cuộc điều tra về vụ “phản loạn” th́ tại Nam Vang, nhóm lănh tụ ngày 11-11-1960 v́ chính kiến bất đồng nên mâu thuẫn với nhau rồi chia ra hai nhóm : nhóm Vương Văn Đông và nhóm Nguyễn Chánh Thi. Nhóm của Thi chỉ có Phạm Văn Liễu và sau này thêm phi công Nguyễn Văn Cử. Tôi được tin ông Nguyễn Chánh Thi vẫn giữ mối t́nh cố cựu đối với tôi trong lúc Vương Văn Đông th́ thù ghét tôi. Sở dĩ tôi biết được Đông ghét tôi v́ nhờ pḥng phản gián đă tŕnh cho tôi tờ báo “Realités Cambodgiennes” có bài của Vương Văn Đông đả kích nặng nề chế độ Ngô Đ́nh Diệm, nhận đ́nh rằng chế độ đó không thể chiến thắng nổi Cộng sản mà rồi sớm muộn cũng bị lật đổ. Riêng tôi, Đông đă đặt cho một hỗn danh là “Le Tigre Noir” (cọp đen) của chế độ.

Nhưng tôi không v́ thế mà buồn phiền thái độ thiếu hiểu biết của Đông, bởi v́ dù ǵ đi nữa th́ tôi đang ở trong tư thế của một thứ trùm mật vụ của chế độ Diệm nên làm sao tôi có thể công khai trang trải nỗi ḷng của ḿnh cho thiên hạ biết ḿnh ngay gian. Huống ǵ tâm lư quần chúng thường không ưa Công an Cảnh sát, và tâm lư binh sĩ thường không ưa An ninh Quân đội và Quân cảnh.

Qua các phúc tŕnh điều tra tổng hợp, tôi được biết trước khi tổ chức đảo chánh, trung tá Vương Văn Đông đă có dịp gặp ông Nhu tại dinh Độc Lập để tŕnh bày t́nh h́nh nguy ngập của đất nước và t́nh trạng sa sút của quân đội cả về tinh thần lẫn hiệu năng. Vương Văn Đông là một sĩ quan trẻ tuổi, thông minh, cương nghị, có ư thức chính trị cao, và cũng như Phạm Văn Liễu, tiềm tàng gịng máu cách mạng, tràn đầy nhiệt huyết, chống Cộng có ư thức và dám sống chết cho lư tưởng của ḿnh. Cả hai đều có chí lớn, có tham vọng làm lănh tụ nhưng h́nh như số mạng của họ đă được an bài, họ h́ hục “mua vé cho người ta xem hát”, h́ hục “chỉ đường cho nai đi”, c̣n riêng họ th́ chí hướng, ước nguyện có lẽ không bao giờ thành.

Quân đội VNCH cho đến năm 1962, trừ những vị tướng già thuộc thế hệ đàn anh, trừ những sĩ quan trẻ đă mang sao rồi, chẳng hạn như Nguyễn Khánh, Dương Văn Đức, th́ những Nguyễn Đức Thắng, Phan Trọng Chinh, Phạm Văn Liễu, Vương Văn Đông, Nguyễn Bá Liên, Trần Văn Nhật, Nguyễn Huy Lợi, v.v... (và c̣n nhiều người khác nữa mà tôi không nhớ tên) quả thật là những sĩ quan ưu tú nhất của quân đội, xứng đáng mọi mặt về văn hóa và chính trị cũng như khả năng quân sự và tác phong. Những sĩ quan này chưa trở thành danh tướng nhưng chắc chắn khả năng quân sự của họ không thua kém những sĩ quan của các quốc gia tiên tiến. Nhưng tất cả đă bị mai một v́ cơ duyên đoạn trường của vận nước một phần, và phần khác v́ quốc gia không có kẻ lănh đạo sáng suốt biết trọng dụng hiền tài. Họ đúng là những kẻ muốn làm chuyện đội đá vá trời nhưng lại sinh bất phùng thời.

Về phần tôi, trong khoảng thời gian đó tôi gặp nhiều nghịch cảnh vui buồn lẫn lộn. Một kỷ niệm êm đềm làm cho tôi nhớ măi là trong lúc tôi bị Vương Văn Đông kết tội là “Cọp đen” của chế độ Diệm th́ một việc bất ngờ nhưng rất phấn khởi xảy đến cho tôi. Độ hơn một tuần lễ sau khi trả tự do cho nhóm đàn bà con nít vợ con các sĩ quan “phản loạn” th́ một hôm, hai mẹ con bà Đại úy Phan Phụng Tiên (người đă nhận lệnh Nguyễn Cao Kỳ lái máy bay cho nhóm lănh tụ “phản loạn” qua Nam Vang) đến thăm tôi tại nhà riêng. Bà Cụ thân mẫu (hay nhạc mẫu) của bà Tiên nói: “Thưa Đại tá, ở ngoài thiên hạ đồn Đại tá là tay chân thân tín của Cụ Tổng thống, Đại tá có quyền sinh sát ghê gớm lắm thế mà vợ con các sĩ quan bị giam cầm về đều ca ngợi Đại tá đạo đức hiền lành. Chẳng những Đại tá lo lắng ăn ở cho họ chu đáo, đối xử tử tế với họ mà Đại tá c̣n giữ kỷ luật nghiêm minh để cho đàn bà con gái giữ được thanh danh trong cơn sa cơ thất thế. V́ thế, tôi xin đến đây để tỏ lời cám ơn Đại tá”. Tôi nghe bà Cụ nói và tự xét ḿnh chẳng làm ǵ gọi là ân nghĩa ngoài cái bổn phận tất nhiên của một sĩ quan và cách cư xử tự nhiên của một người b́nh thường, thế mà sao hai người đàn bà này lại có cử chỉ tuy thân kính nhưng lại đường đột như thế. Tôi nh́n bà Đại úy Tiên th́ thấy bà ta là một phụ nữ thùy mị đoan trang và chợt t́m ra rằng những bà mẹ hiền Việt Nam thường ưu tư cho con gái, nhất là con gái xa chồng mà lại phải sa vào nơi mà họ tưởng là “hang hùm ổ rắn”, nhưng rồi thấy con ḿnh được danh tiết bảo toàn sau cơn hoạn nạn nên bà vui mừng đến thăm và ngỏ lời tạ ơn. Câu chuyện quả thật không có ǵ đáng nói nhưng chính v́ ḷng yêu thương lo lắng cho con gái của một bà mẹ Việt Nam hiền ḥa chất phác, chính v́ những lời nói chân thành của bà Cụ, một bà già không phe đảng, không “chính chị chính em” mà tôi cảm nhận được rơ ràng nhân dân và quân sĩ đang coi chế độ Diệm là một địa ngục trần gian, coi những tay sai của chế độ, trong đó có tôi, là những hung thần ác quỷ. Lời bà Cụ như có mănh lực khuyến khích tôi, nhắn nhủ tôi luôn luôn phải giữ ḿnh, không những luôn luôn phải nh́n về việc phải, hướng về điều lành, mà c̣n phải hành xử trong đạo đức và chính trực (gia đ́nh tướng Phan Phụng Tiên hiện ở Mỹ).

 

-o0o-

 

Năm 1960, như đă tŕnh bày, nếu đă là năm mở đầu cho sự băng hoại tận gốc rễ của chế độ Diệm với 5 biến cố là sự thảm bại của Sư đoàn 13, bức tranh chuột đục khoét quả dưa hấu miền Nam của báo Tự Do, bản tuyên cáo của nhóm Caravelle, cuộc binh biến 11-11 do binh chủng Nhảy Dù khởi xướng, và sự ra đời đầy thách đố của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, th́ năm 1961, Việt Cộng phát động những trận đánh lớn, nâng mức độ hủy diệt của chiến tranh lên một tầng cao hơn để phát triển màng lưới chính trị ở nông thôn, xây dựng hạ tầng cơ sở, tuyên truyền tố cáo những tội ác của chế độ để phát huy chính nghĩa và thanh thế thêm cho Mặt trận.

T́nh trạng mất an ninh của miền Nam cũng như viễn tượng hủy diệt của chính chế độ rơ ràng và khẩn cấp đến nỗi thành phần rường cột trung kiên nhất của chế độ lúc bấy giờ cũng phải hốt hoảng lo lắng. Nguyễn Văn Châu, Giám đốc Nha Chiến tranh Tâm lư, chủ tịch quân ủy đảng Cần Lao, Lê Văn Thái (hiện ở San Diego), Phụ tá giám đốc Nha Nghiên cứu Chính trị của Trần Kim Tuyến và bác sĩ Lư Trung Dung, ủy viên Trung ương Đảng Cần Lao, bèn vận động với ông Ngô Đ́nh Nhu và một số chính khách nhân sĩ đối lập ôn ḥa để thành lập Hội nghị Đại đoàn kết Toàn dân chống Cộng trong mục đích cải thiện chế độ và làm giảm bớt nỗi căm thù của quần chúng đối với chế độ ông Diệm. Cuộc vận động bắt đầu từ 18 tháng Giêng mà măi đến mồng hai tháng Bảy năm 1961 mới thành h́nh, và mới triệu tập được một buổi họp chính thức tại tư gia của bác sĩ Phan Huy Quát với sự tham dự của một số chính khách có cả bác sĩ Đặng Văn Sung (hiện ở Mỹ) và dưới sự chủ tọa của ông Ngô Đ́nh Nhu. Người bạn trẻ của tôi, anh Tạ Chí Diệp (cháu ruột của cụ Tạ Chương Phùng, một cựu đồng chí của ông Diệm) vừa măn tù ra và được Đại hội cử làm thuyết tŕnh viên. Sau khi tŕnh bày thực trạng nguy ngập của đất nước, những hiểm họa rơ ràng của Cộng Sản, Đại hội đưa ra quyết nghị gồm các điểm: “công khai hóa hoạt động của các chính đảng, lập một diễn đàn chính trị, xét lại vấn đề chính trị phạm (v́ người quốc gia chống Cộng bị bắt bớ giam cầm quá nhiều, nhất là ở thôn quê), lập một hội đồng chính trị có nhiệm vụ phê b́nh và chất vấn chính quyền, và cử một ủy ban vận động Đại Đoàn kết gồm 11 người để thực hiện nghị quyết”.

Rơ ràng nghị quyết đó là một giải pháp chính trị ôn ḥa và thực tế để cứu nước, một phương thức dân chủ gây lại tinh thần đoàn kết, xóa bỏ hận thù. Nhưng ông Nhu không những bác bỏ ngay hết mọi đề nghị của Đại hội mà c̣n nặng lời chỉ trích các chính khách, đảng phái, và lên án họ đă phá hoại chế độ, không để cho chính quyền của ông ta rảnh tay lo đối phó với Cộng Sản. Sau lần gặp gỡ đó, ông Nhu không bao giờ đi họp nữa và Đại hội cũng tan luôn. Tội nghiệp cho mấy vị chính khách nhiệt thành và mấy ông Cần Lao sốt sắng; họ không biết kinh nghiệm đă cho thấy rằng đối với anh em nhà Ngô th́ cả nước chỉ biết cúi đầu tuân phục. Những thiện chí, những sáng kiến, dù có giá trị và xuất xướng từ người thân tín, mà hễ đả động đến tự ái của anh em nhà Ngô th́ chỉ là những giấc mơ không bao giờ thành sự thật. Nhiều khi kẻ đưa ra thiện chí, đưa ra sáng kiến c̣n mua lấy tai họa như trường hợp Tạ Chí Diệp v́ quá hăng say trong việc cứu nước mà mua lấy cái chết sau này.

Sau Đại hội Đoàn kết bất thành, Diệp bị bắt và bị thủ tiêu luôn. Được tin Diệp bị Công an sát hại, Bác sĩ Tuyến và tôi vô cùng bàng hoàng. Chúng tôi gặp nhau than thở không ngờ nhóm Nguyễn Văn Y, Dương Văn Hiếu tàn ác đến thế, không ngờ chế độ mà ḿnh đang phục vụ lại bất nhân đến thế.

Không ai có thể chối căi được thái độ chính trị của Tạ Chí Diệp cũng như những đề nghị của anh ta trong Hội nghị Đoàn Kết là những đề nghị xây dựng để mong cứu lấy miền Nam, thế mà Diệp đă chết v́ cái chủ trương đối lập xây dựng đó. Huống chi Diệp lại là cháu ruột của cụ Cử Tạ Chương Phùng, một đồng chí son sắt của ông Diệm trong phong trào Cường Để, từng hy sinh thân thế, sự nghiệp, tiền của cho ông Diệm, từng bị mật thám Pháp tra tấn đến nỗi gẫy cả răng và điếc cả tai.

Diệp chết đi để lại một ông Bác gần 70 tuổi nghèo nàn và cô đơn, với một bà mẹ già trên 90 tuổi già nua bệnh tật. Trước cảnh thương tâm đó, chỉ c̣n Cụ Huỳnh Minh Ư và Bác sĩ Bùi Kiện Tín giúp đỡ cụ Tạ một phần nào mà thôi. (Xem thêm thư của Cụ Huỳnh Minh Ư trong phần phụ lục).

Cái chết của Tạ Chí Diệp cũng như cái chết của Nguyễn Tấn Quê, Vũ Tam Anh, Nguyễn Bảo Toàn v.v... và hàng trăm ngàn người dân vô tội ở thôn quê nằm trong chính sách tiêu diệt người quốc gia đối lập của chế độ Diệm. Ai cũng biết rằng cái chết oan khiên của hàng trăm ngàn dân quê nhiều khi là do hành động lạm quyền của các cán bộ Cần Lao Công giáo, nhưng c̣n việc sát hại những nhân vật chính trị tên tuổi tại Sài G̣n là phải có lệnh của các ông Diệm, Nhu, Cẩn. Thế mà sau khi chế độ Diệm bị lật đổ, trước Ṭa án Cách mạng, Đại tá Nguyễn Văn Y khai rằng ông ta đă ra lệnh giết những nhân vật quốc gia kia chỉ v́ “nghe không rơ lệnh của Tổng thống”. Đó là một lời khai gian dối tuy có ư bênh vực Tổng thống Diệm nhưng đồng thời cũng tố cáo Tổng thống Diệm đă liên hệ vào các vụ giết người. Dù sao th́ một chế độ chủ trương sát hại, thủ tiêu những người quốc gia đối lập đă là một chế độ tàn bạo kiểu Cộng Sản và Nazi Đức Quốc xă. C̣n một chế độ mà ông Tổng giám đốc cầm đầu ngành Công an, Cảnh sát v́ “nghe không rơ lệnh của ông Tổng thống” mà đem những nhân vật quốc gia chân chính đi trấn nước cho chết (xem lời tố cáo của bà Đức Thụ trong phần phụ lục) như trấn nước một con chó dại th́ chế độ đó là chế độ ǵ? Đừng trách những nhà văn Hiếu Chân, Chu Tử, Từ Chung buộc tội chế độ Diệm là thứ “Chế độ phi cầm, phi thú” (xem lời tuyên bố của ba nhà văn này trong phần phụ lục).

Trường hợp yểu tử của Đại Hội Đoàn kết nếu đă để lại những xót xa và phản tỉnh trong ḷng một số người th́ nó cũng đă xác nhận thêm cái chân tướng chính trị của Ngô Đ́nh Nhu, một chân tướng được đúc nặn bằng tâm địa thâm độc chủ quan và óc tham quyền cố vị. Năm 1953, khi cần tạo uy thể cho anh ḿnh để nắm chính quyền, Ngô Đ́nh Nhu đă chủ trương chính sách đại đoàn kết với các đảng phái đến nỗi Ngô Đ́nh Nhu không ngại ngồi chung và cộng tác với những kẻ mà Nhu cho là “ăn cướp” như Năm Lửa, Bảy Viễn; thế mà khi nắm giữ được quyền hành rồi, Nhu lại bác bỏ phương thức đại đoàn kết để cứu nước, chỉ điều hành sinh hoạt quốc gia bằng những luật lệ độc tài phản dân chủ, khinh thị quốc dân, chỉ trích mạt sát các đảng phái mặc dù đất nước đang rách nát đau thương do chính tay gia đ́nh ông ta gây ra.

Đă không chịu thực hiện công cuộc đại đoàn kết, liều thuốc cuối cùng và hợp lư nhất để cùng nhau đương đầu với kẻ thù chung là Cộng sản, nhà Ngô c̣n ngoan cố bác bỏ mọi đề nghị dân chủ hóa chế độ của người Mỹ, mọi đề nghị đoàn kết của quốc dân, c̣n khinh thường thái độ của quân đội và nhân dân đă nhiều phen tha thiết biểu lộ nguyện vọng xin chính quyền nới rộng bàn tay kềm kẹp. Thủ đoạn thành lập chính phủ mới dưới đây càng tỏ rơ thái độ ngoan cố và khinh thường ư kiến của người Mỹ và ư nguyện của nhân dân Việt Nam.

Sau khi làm lễ tuyên thệ chức Tổng thống nhiệm kỳ II trước Quốc Hội vào ngày 28-5-1961, anh em ông Diệm thành lập một chính phủ mới, và tuy tuyên bố có cải tổ trong thành phần nhân sự nhưng thật sự cũng chỉ là những người thân tín cũ. Nếu có vài người mới th́ cũng chỉ là thứ người chỉ biết uốn ḿnh theo chế độ. Cũng như mới nh́n th́ có vẻ có một sự tái phối trí về nhiệm vụ nhờ một số danh từ mới, nhưng những danh từ này thật ra chỉ cốt để đánh lận con đen, không lừa dối được ai mà lại càng bảy tỏ rơ ràng thêm những thủ đoạn chánh trị ấu trĩ. Chánh phủ mới có ba bộ đặc nhiệm gồm có Phó Tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ kiêm Bộ trưởng Đặc nhiệm Phối hợp Phát triển Kinh tế, ông Nguyễn Đ́nh Thuần, làm Bộ trưởng tại Phủ Tổng thống kiêm Bộ trưởng Phụ tá Quốc pḥng và Bộ trưởng đặc nhiệm phối hợp An Ninh, và ông Trương Công Cừu, vốn là Dân biểu và Chủ tịch “Ủy ban Chống Phiến Cộng”, giữ chức Bộ trưởng Đặc nhiệm Văn Hóa Xă Hội. Lúc đặt ra ba bộ đặc nhiệm, anh em ông Diệm muốn chứng tỏ đang thực hiện chính sách tản quyền nhưng thiên hạ c̣n lạ ǵ thủ đoạn của họ Ngô, v́ trong lúc đưa ra ba bộ Đặc nhiệm do chính cộng sự viên thân tín nắm giữ th́ đồng thời nhà Ngô cũng lại ban hành nhiều sắc luật đặc biệt để nắm lấy quyền hành, những sắc luật mà tôi sẽ đề cập vào đoạn sau của chương này.

Ngoài ba vị Bộ trưởng Đặc nhiệm trên đây c̣n có các ông: Vũ Văn Mẫu, Bộ Ngoại giao; Bùi Văn Lương, Bộ Nội Vụ; Nguyễn Văn Lượng, Bộ Tư pháp; Nguyễn Quang Tŕnh, Bộ Giáo dục; Ngô Trọng Hiếu, Bộ Công dân vụ; Hoàng Khắc Thành, Bộ Kinh tế; Nguyễn Lương, Bộ Tài chánh; Trần Lệ Quang, Bộ Cải tiến Nông thôn; Trần Đ́nh Đệ, Bộ Y tế; Huỳnh Hữu Nghĩa, Bộ Lao động; Nguyễn Văn Dinh, Bộ Giao thông Công chánh; (đa số các vị trên đây đều có mặt tại hải ngoại). Ngoài một số Bộ trưởng được dư luận coi như nhân tài hay liêm chính như các ông Trần Lệ Quang, Vũ Văn Mẫu, Trần Đ́nh Đệ, Nguyễn Văn Lượng... một số khác có những “huyền thoại” riêng, tuy nhiên có hai nhân vật đặc biệt được dư luận bàn tán rất nhiều là các ông Huỳnh Hữu Nghĩa và Ngô Trọng Hiếu.

Ông Huỳnh Hữu Nghĩa (hiện ở Pháp) tuy rất trẻ tuổi và không có một bằng cấp văn hóa nào nhưng ông ta là “chiến hữu” của tướng Tŕnh Minh Thế đă được Đại tá CIA Lansdale thuyết phục kéo quân từ chiến khu Bà Đen về hợp tác với anh em ông Diệm từ thời 54-55. Thân phụ của ông Nghĩa là một nhà nho có tinh thần cách mạng. Nếu chỉ có thế th́ có lẽ đă không có dư luận bàn tán, nhưng từ khi cởi áo cách mạng mang áo công hầu th́ ông Nghĩa có nhiều thành tích mà hàng công thần của nhà Ngô nhiều người không có được. Giới báo chí và dân chúng thủ đô cho rằng ông lo việc bàn đèn cho ông Nhu tại Sài G̣n cũng như một ông Thị trưởng lo bàn đèn cho ông Nhu tại Đà Lạt mỗi khi ông Nhu đi săn bắn. Dư luận đó không biết có đúng không, nhưng theo ông Nguyễn Đ́nh Thuần kể lại cho nhiều người Mỹ biết th́ ông Nhu là người nghiện thuốc phiện [4]. Ông Nhu có cặp môi xám đen như thường thấy nơi những người hút sách nghiện ngập, thường đến chơi và thường ăn cơm tại nhà ông Nghĩa. V́ tôi cũng là một bạn quen của ông Bộ trưởng họ Huỳnh nên thỉnh thoảng được mời đến ăn cơm với ông Nhu, ông Thuần ở đấy. Nhưng chuyện mà các chính khách và các văn nghệ sĩ ở Sài G̣n bàn tán nhiều là vào năm 1956, ông Nghĩa đă cho ra đời một thi phẩm tựa đề là “Việt Nam Ngày Nay” để ca tụng Tổng thống Diệm như một “vĩ nhân giữa đời, kết tinh ư trời và hồn sông núi” để trong phần kết luận tác giả đă chiêm ngưỡng thần tượng do ḿnh tạo nên bằng cách “Cúi đầu lạy trước Cao dày, cùng nhau kể lể những ngày sau xưa”. Thi phẩm quái đản này và việc lo bàn đèn cho ông Nhu chắc chắn đă đóng góp vào chức vụ Bộ trưởng Bộ Lao động mà ông Nghĩa đă nắm cho đến ngày tàn của chế độ Ngô triều. Ông Nghĩa với tôi cũng có chút giao t́nh nên tôi biết ông là người hiền hậu, xuề x̣a không làm hại ai, không gây ân oán với ai, nhưng tập thơ “Việt Nam Ngày Nay” của ông và việc ông lo bàn đèn cho ông Nhu đă làm cho dư luận bàn tán nhiều về bản chất ưa nịnh bợ của anh em ông Diệm.

Người ta chú ư đến ông Ngô Trọng Hiếu (hiện ở Mỹ) v́ ông Hiếu làm Bộ trưởng cho chính phủ “Cách mạng Nhân Vị” Việt Nam Cộng ḥa mà gốc gác lại không phải là người Việt Nam. Mẹ ông là người Việt nhưng cụ thân phụ của ông lại là người Phi Luật Tân có quốc tịch Pháp, và tuy ông sinh đẻ ở Thủ Dầu Một nhưng lại theo quốc tịch cha. Ông đă từng học luật ở Pháp và v́ là người Pháp, nên ông được chính phủ Bảo Hộ cử giữ chức Trưởng ty Ngân khố (dưới thời Pháp thuộc chỉ có người Pháp mới được giữ chức này). Thời Pháp thuộc, chức Trưởng ty Ngân khố được gọi là “Percepteur”. Ông Hiếu từng là “Percepteur” ở Lao Kay, Hưng Yên trước 1945. Ngày Nhật Bản đảo chánh 9-3-45, ông Hiếu bị Nhật bắt chung với mọi Pháp kiều thời bấy giờ. Tây trở lại Việt Nam, ông Hiếu lại được giữ chức Trưởng ty Ngân Khố tỉnh An Giang dưới quyền Tỉnh trưởng Nguyễn Ngọc Thơ, nguyên là Bí thư của toàn quyền Decoux. Từ chỗ tri giao đó cho nên khi ông Thơ làm Phó Tổng thống cho người bạn thân là ông Ngô Đ́nh Diệm th́ ông Hiếu được ông Thơ đề cử với ông Diệm giữ chức Phó Tổng Giám đốc rồi lên Tổng giám đốc Nha Ngân khố Trung ương. Con đường công danh của ông Hiếu từ đó mở rộng thênh thang để từ lănh vực chuyên môn ông bước qua lănh vực chính trị. Ông được ông Thơ giới thiệu với anh em ông Diệm cho đi làm Đại sứ Việt Nam ở Phnom Penh là nơi mà hệ thống gián điệp quốc tế (nhất là gián điệp Pháp và Cộng sản Hà Nội) dăng dày như lưới. Nhưng những thất bại ngoại giao của ông ở Cao Miên đă đưa đến việc ông Sihanouk thiên hẳn về Cộng sản Hà Nội và Trung Cộng, đưa đến việc Quốc trưởng Cao Miên quyết liệt hơn trong việc chống đối VNCH và dung túng cho Cộng Sản đóng quân tại biên giới Miên-Việt để làm xuất phát điểm tấn công miền Nam. Buồn cười thay, những thất bại trong nhiệm vụ Đại sứ lại làm cho ông trở thành Bộ trưởng Công Dân vụ cho đến ngày chế độ Diệm sụp đổ. Tôi c̣n nhớ ngày ông Hiếu sắp được cử làm Đại sứ tại Phnom Penh, tôi đă gặp ông ngồi chờ ở ngoài pḥng đợi tại văn pḥng chính trị của bác sĩ Tuyến. Khi ông Tuyến tiễn tôi ra khỏi văn pḥng, tôi không khỏi nhịn cười khi thấy cảnh ông Ngô Trọng Hiếu, một người to lớn phốp pháp đă phải khom lưng cúi ḿnh trước một ông Tuyến nhỏ thó hiền lành. Nhưng rồi thời gian trôi đi, ông Tuyến, một trung thần của nhà Ngô, một bạn thân đă từng giúp ông Nhu trốn thoát Cộng Sản tại Thanh Hóa thời 1945, dần dần bị thất sủng để cuối cùng phải chịu cái mệnh hệ “được làm vua thua làm Tổng lănh sự” ở Ai Cập, th́ ông Hiếu lại như diều gặp gió, được nhà Ngô hết sức tín nhiệm và cử nhiệm chức Bộ trưởng Công Dân vụ. Trên danh nghĩa th́ Bộ này c̣n thua kém quyền hành của nhiều bộ khác như các Bộ Ngoại giao, Nội vụ, Quốc pḥng chẳng hạn, nhưng trên thực tế, nhất là vào cái thời buổi nhiễu nhương loạn ly lúc bấy giờ th́ Bộ Công Dân vụ chịu trách nhiệm về vấn đề điều động nhân lực và tham gia vào việc xây dựng các sách lược quốc gia.

Thật vậy, sự kiện ông Hiếu chỉ huy các ngành thông tin, tuyên truyền, Công dân vụ, sự kiện ông Hiếu phụ trách về quốc sách ấp chiến lược, rồi lại đăc trách giao thiệp với các tôn giáo nhất là với Phật giáo trong biến cố 1963, đă nói lên cái địa vị, quyền hành to lớn của ông ta, cũng đă nói lên sự tín nhiệm gần như tuyệt đối của anh em ông Diệm đối với ông ta.

Một tài liệu (mà tôi quên tên) tại Sài G̣n cho biết ông Hiếu là em ruột của ông Phạm Văn Tươi, cũng là một người có Pháp tịch, chủ một nhà sách lớn tại Sài G̣n (thời chiến tranh Pháp - Việt 1945-1954). Thời Hồ Chí Minh mới cướp chính quyền, ông Ngô Trọng Hiếu cải tên họ từ Paul Hiếu ra Hồ Trọng Hiếu, nhưng khi Pháp trở lại, ông vội trở về với tên Paul Hiếu, lúc ông Ngô Đ́nh Diệm bắt những người có quốc tịch Pháp phải đổi thành quốc tịch Việt Nam, ông Paul Hiếu đổi tên lần nữa thành Ngô Trọng Hiếu. Khi tiếng súng cách mạng nổ giữa Sài G̣n năm 1963, ông Hiếu trốn vào Ṭa Đại sứ Phi Luật Tân và sau này, dưới chế độ Nguyễn Văn Thiệu, một chế độ Diệm không Diệm, ông Hiếu đắc cử Dân biểu đơn vị có nhiều giáo dân di cư tại Hố Nai nhờ ḷng trung thành của ông đối với chế độ cũ, đối với anh em ông Diệm ngày xưa. Ông Lê Quang Luật cũng ra ứng cử tại cùng đơn vị Hố Nai nhưng đă bị thất cử mặc dù ông Luật có công rất lớn trong việc tổ chức những người Công giáo di cư vào Nam năm 1954-1955. Theo ông Luật, ông đă thất cử là v́ không có tiền để thỏa măn các vị cha cố tại Hố Nai và nhất là v́ ông đă từng chống đối quyết liệt anh em ông Diệm. Từ ngày bị thất cử, dù là một tín đồ Công giáo, ông Luật thường thống trách các vị linh mục, cho rằng họ chỉ biết quyền lợi mà không hề biết đến ân t́nh.

Ông Hiếu thường ca tụng ông Ngô Đ́nh Nhu là Trương Lương đời nay. Trương Lương có tài nhưng lại biết sau khi “công thành th́ thân thoái”, tránh được nạn “vắt chanh bỏ vỏ” của Lữ Hậu, trong lúc ông Ngô Đ́nh Nhu chẳng những đă vô tài mà c̣n tham quyền cố vị để cuối cùng phải chết bất đắc kỳ tử.

Dư luận đă cho rằng việc nhà Ngô trọng dụng ông Ngô Trọng Hiếu là một thái độ khinh thị quần chúng, coi quốc gia đă hết nhân tài nên mới dùng “con Tây” làm Bộ trưởng. Hai nhân vật Ngô Trọng Hiếu và Huỳnh Hữu Nghĩa trong tân nội các của ông Diệm vào nhiệm kỳ Tổng thống thứ nh́ đă biểu lộ một cách chính xác nhất bản chất chế độ Diệm chỉ là chế độ trung ương tập quyền và phong kiến quan lại, chỉ tin dùng những bề tôi nịnh thần. C̣n việc đặt ra ba Bộ “đặc nhiệm” cho có h́nh thức tản quyền chỉ là thủ đoạn ấu trĩ không lừa dối được ai, chỉ mua thêm sự chán nản của đồng bào, của đồng minh Hoa Kỳ và dư luận quốc tế mà thôi.

 

-o0o-

 

V́ Miền Nam đă thực sự suy yếu, chế độ Diệm đă thực sự lung lay ngay từ năm 1960 khi những biến cố chính trị và quân sự dồn dập xảy đến, nên khi mới bước chân vào ṭa Bạch ốc vào đầu năm 1961, mối ưu tư hàng đầu của Tổng thống Kenendy là vấn đề Việt Nam. Ông cấp tốc lấy những biện pháp cần thiết và quan trọng để xây dựng lại uy tín cho Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm và để cứu văn miền Nam.

Tổng thống Kennedy vội vă phái Phó Tổng thống Johnson qua Sài G̣n để quan sát và nghiên cứu t́nh h́nh tại chỗ. Trước khi ra đi, Kennedy đă nói với Johnson rằng: “miền Nam Việt Nam đang rối rắm, ta cần phải giúp họ mà chính họ cũng phải tự giúp họ nữa”. Quả là lời nói bao hàm nhiều ư nghĩa chính trị, Tổng thống Kennedy cũng nhờ Phó Tổng thống Johnson trao cho Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm một bức thư đề nghị tăng quân viện và kinh viện, đặc biệt là đề nghị tăng quân số của quân đội Việt Nam Cộng Ḥa thêm 20.000 người, tăng lực lượng giang thuyền và cận duyên, tăng cường sức mạnh cho Bảo An [5]...

Cuộc viếng thăm ba ngày 11, 12, 13 tháng 5 năm 1961 của nhân vật thứ hai trong chính quyền Hoa Kỳ không những chỉ để cho cấp lănh đạo tối cao Mỹ có một cái nh́n chính xác hơn về t́nh h́nh Nam Việt Nam, mà c̣n có mục đích chứng tỏ cho Hà Nội và cho dân chúng miền Nam biết rằng Mỹ vẫn tiếp tục ủng hộ mạnh mẽ VNCH dưới sự lănh đạo của Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm. Để tạo lại uy tín cho Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm vốn đă bị sứt mẻ quá nhiều, khi đến Sài G̣n, Phó Tổng thống Johnson đă đưa ra lời ca ngợi ngoại giao lố lăng là tôn vinh ông Diệm như một “Winston Churchill Á Đông”. Những lời tán tụng ông Diệm của Phó Tổng thống Johnson đă làm cho kư giả thêm thắc mắc và nhân dân Việt Nam thêm bẽ bàng uất hận.

Tháng 11 năm 1961, Tổng thống Kennedy lại cử Đại tướng Taylor, cố vấn quân sự, và ông Rostow, cố vấn an ninh, qua Sài G̣n để cùng với chính phủ VNCH thiết lập dự án những nhu cầu viện trợ đa diện, đặc biệt là về phương diện quân sự. Hai nhà chức trách cao cấp Mỹ khi trở lại Hoa Thịnh Đốn đă báo cáo với Tổng thống Kennedy rằng t́nh h́nh quả thật nguy kịch nhưng vẫn c̣n có thể chiến thắng được Cộng Sản, với điều kiện là Mỹ phải cấp tốc tạo lại tinh thần lạc quan và quyết chiến cho miền Nam Việt Nam. Tờ tŕnh nói rằng: “Viện trợ dồi dào và rộng lượng của Mỹ cả về tài lực, nhân lực cho mọi ngành thuộc các cơ cấu dân sự, quân sự, có thể đưa đến kết quả là chế độ Diệm có thể được cải tiến để họ có ư chí quyết chiến” [6].

Trong những năm 61 và 62 đó, tuy chính quyền Kennedy có thật sự ưu tư và yểm trợ cho miền Nam Việt Nam nhưng tiếc thay, chính sách yểm trợ đó chỉ củng cố thêm uy tín và địa vị riêng của ông Diệm đang bị lực lượng chủ lực của đất nước là quân đội chống đối. Chính quyền Kennedy đă không dám quyết liệt đ̣i hỏi ông Diệm phải thực hiện một cuộc cải cách sâu rộng để trong sạch hóa và hùng mạnh hóa chế độ mà chỉ đề nghị những cải cách phiến diện đến độ anh em ông Diệm cũng không lưu tâm đến. Trong phần tư đầu của nhiệm kỳ, tuy vấn đề Việt Nam tiềm ẩn những yếu tố phức tạp và nghiêm trọng nhưng Tổng thống Kennedy vẫn chưa lấy các biện pháp có tầm quan trọng thích đáng v́ vẫn hy vọng miền Nam nói chung, và chế độ Diệm nói riêng, dù có sai lầm suy nhược nhưng vẫn c̣n có thể sửa sai để tự cường được.

Riêng đối với nhân dân Việt Nam, với trên 7 năm cầm quyền của anh em ông Diệm, người quốc gia miền Nam đă kinh qua nhiều kinh nghiệm xương máu với chế độ nên hoàn toàn thất vọng, không c̣n tin tưởng nơi lời nói và việc làm của ông ta nữa. Rơ ràng nhất là anh em ông Diệm vẫn không học được một bài học nào sau một năm 1960 đầy sóng gió, không chịu cảnh tỉnh trước sự công phẫn công khai và quyết liệt của quân nhân để vẫn cứ ngoan cố tiếp tục tác phong khinh thị quốc dân và tiếp tục chính sách quản trị đất nước một cách hẹp ḥi ngu xuẩn. Chứng cớ rơ ràng là những vụ lùng bắt, giam cầm, sát hại người quốc gia đối lập, vẫn tiếp tục và tiếp tục quyết liệt hơn. Chứng cứ rơ ràng là v́ Ngô Đ́nh Nhu khinh thị và mạt sát người quốc gia đối lập trong Hội nghị Đại Đoàn kết. Chứng cứ rơ ràng là việc thành lập một chính phủ mới gồm hầu hết những tay chân thân tín, không có thành tích và ư thức cách mạng.

Trong lúc đó, Việt Cộng lại khôn khéo khai thác những chiến thắng của năm 1960 để tung ra những đợt tiến công hung hăn hơn trong năm 1961 và những năm tiếp theo. Mới vào năm 1961 mà Việt Cộng đă làm chủ t́nh h́nh nhiều nơi, đă liên tiếp tấn công hết quận lỵ này đến quận lỵ khác, đă sát hại nhiều Quận trưởng, Dân biểu, Phó tỉnh trưởng và dám tấn công vào tỉnh lỵ Kiến Ḥa (ngày 1-4-1961). Đặc công Việt Cộng cũng đă liên tiếp khủng bố, đặt bom, ném lựu đạn ngay giữa đô thành Sài G̣n, Chợ Lớn, đă dám xua 2.500 dân các tỉnh lên Sài G̣n biểu t́nh phá rối cuộc bầu cử Tổng thống (ngày 9-4-1961). Việt Cộng cũng đă dám tấn công công trường Đa-Nhim, một khu vực nổi tiếng an toàn chỉ thua Thủ đô Sài G̣n, bắt và hạ sát cả Quận trưởng Đôn Dương. Ngày 28-6-1961, trong cuộc hành quân của quân đội VNCH vào chiến khu Tô Hạp (biên giới tỉnh Ninh Thuận và Khánh Ḥa), quân lực ta đă phải đương đầu với một lực lượng 1.500 Việt Cộng, cũng đủ nói lên sức mạnh có tính cách quy mô của Việt Cộng của hai tỉnh thường được coi là an ninh nhất miền Trung. Ngày 16-7-1961, Tiểu đoàn 502 của Việt Cộng dám công khai công hăm một Tiểu đoàn Nhảy Dù giữa ban ngày tại Mỹ Quư (Kiến Phong). Ngày 18-9-1961, Việt Cộng tấn công, chiếm đóng, đốt phá tỉnh lỵ Phước Thành làm cho thiếu tá Tỉnh trưởng Nguyễn Minh Mẫn, Phó tỉnh trưởng và nhiều viên chức dân sự, quân sự bị sát hại. Ngày 1-10-1961, Đại tá Hoàng Thụy Nam, Trưởng phái đoàn Việt Nam liên lạc với Ủy hội Quốc tế Kiểm soát Đ́nh chiến lên thăm trại riêng tại Thủ Đức, khu vực được coi là an toàn gần Thủ đô Sài G̣n, bị Việt Cộng bắt cóc và giết chết. Việc này làm cho Tổng thống Diệm phải viết thư báo động với Tổng thống Kennedy về chủ trương xâm lăng của Hà Nội... Tôi chỉ kể qua một ít hoạt động của Việt Cộng, nhưng nh́n vào bản đồ miền Nam năm 1961 th́ những vết đỏ giới hạn ban đầu đă từ từ lan tỏa khắp miền Nam, từ tuyến đầu Quảng Trị vào đến Cà Mau heo hút, từ Duyên Hải trù phú lên đến Cao Nguyên màu mỡ rồi.

Trước hoàn cảnh bi đát đó, người quốc gia không thể cứ ngồi nh́n anh em ông Diệm và chế độ “Cần Lao Công giáo” bất lực và thối nát kia bám lấy địa vị và xé dần bản dư đồ Việt Nam cho rách nát thêm. Họ nhận định rằng nếu chế độ Diệm tồn tại th́ họ sẽ không có một cơ may nào để sinh tồn v́ họ vừa phải chống giặc ngoài vừa dẹp thù trong, nên người quốc gia miền Nam đă hết lớp này đến lớp khác, kẻ này bị bắt bị giết th́ kẻ khác lại vùng lên. Biểu hiện rơ ràng nhất là một biến cố vào đầu năm 1962, tưởng đă tiêu diệt được trọn họ Ngô Đ́nh.

 

-o0o-

 

Sáng ngày 27-2-1962, khoảng 7 giờ, tôi đang chuẩn bị đến văn pḥng th́ bỗng nghe những tiếng nổ dữ dội, rồi một vùng khói đen nghịt cuồn cuộn từ phía Dinh Độc Lập tỏa lên cao, trong lúc trên bầu trời quận 1 và quận 2 thành phố, hai chiếc chiến đấu cơ đang bay lượn theo đội h́nh tác chiến. Không cần phải kiểm chứng tôi cũng biết được dinh Độc Lập đă bị ném bom như chỉ cách đây 2 năm, ngày 10-3-1960, dinh Tổng thống Sukarno ở Nam Dương cũng bị phi cơ bắn phá.

Tôi bèn lên xe chạy ngay vào Dinh Độc Lập nhưng đến nơi th́ thấy cửa vào dinh đă đóng kín, quân pḥng vệ phủ Tổng thống đă bố trí trong tư thế tác chiến cả bốn mặt. Tôi gặp tướng Nguyễn Khánh dọc đường nên hai chúng tôi bèn trở lại theo phía cổng đường Nguyễn Du mà vào. Nh́n thấy cánh trái dinh Độc Lập bị sụp đổ, tôi nghĩ rằng vợ chồng Ngô Đ́nh Nhu đă bị trúng bom rồi, không ngờ khi đến một căn pḥng nhỏ hẹp ngay dưới cầu thang chính của pḥng Đại sảnh, nơi xây cất vững chắc nhất, th́ thấy Tổng thống Diệm, gia đ́nh ông Ngô Đ́nh Nhu và t́nh cờ lại có cả giám mục Ngô Đ́nh Thục nữa, đang ngồi chen chúc trú ẩn. Mọi người im thin thít, mặt mày xanh như tàu lá chuối. Trước cảnh tượng đó, tướng Khánh và tôi vội chào rồi lui ra. Khoảng một giờ sau, một sĩ quan của Nha An Ninh Quân đội đến báo cho tôi biết Hải Quân đă bắn hạ một chiếc chiến đấu cơ của Không quân trên sông Nhà Bè, cách Hải quân công xưởng chỉ độ vài cây số, và đă biết được viên phi công là Trung úy Phạm Phú Quốc, c̣n chiếc máy bay thứ hai th́ đă mất dạng. Tôi vào “hầm” tŕnh bày tự sự cho ông Diệm biết, bấy giờ mọi người mới lục tục đi ra. Và cũng cho đến lúc đó mới có một nhân viên của Phủ báo cho biết ngay trên vị trí trú ẩn c̣n một quả bom không nổ. Nhờ vậy mà cả gia đ́nh ông Diệm đều được b́nh an chỉ trừ bà Nhu bị thương nhẹ v́ gạch văng trúng vào người. Mới quan sát qua quang cảnh đó tôi đă biết ư định của nhóm phi công “phản loạn” vốn không có ư hạ sát ông Diệm mà chỉ muốn giết vợ chồng Ngô Đ́nh Nhu mà thôi.

Sau đó mấy giờ, ông Diệm ra lệnh dời Phủ Tổng thống về dinh Gia Long tức khắc, chỉ để lại một số cơ quan phụ thuộc tại những ngôi nhà nhỏ trong Dinh.

So với biến cố 11-11-1960, vụ ném bom không xảy ra tuần tự có thứ lớp để ông Diệm có th́ giờ đối phó. Tiếng nổ long trời lở đất (đúng là như “trời giáng” xuống Dinh Độc Lập) đến một cách bất thần, không những đă làm sụp đổ cái kiến trúc biểu tượng cho uy quyền của ông mà c̣n làm sụp đổ chỉ trong mấy giờ phút ngắn ngủi, cái niềm tin thiên mệnh thần bí đă từ lâu bám chặt lấy tâm lư của ông.

Chỉ độ vào khoảng vài tiếng đồng hồ sau tiếng sét chính trị đó, ông Diệm gọi tôi đi theo ông về ngôi nhà Trắng biệt lập ở góc đường Nguyễn Du - Công Lư trong ṿng rào của Dinh. Trước đây vài phút, giữa đám đông, ông đă cố gắng b́nh tĩnh để giữ thể thống của một nhà lănh đạo gan ĺ không xao xuyến trước mọi thử thách, nhưng khi đến ngồi trong căn nhà vắng lặng chỉ có hai thầy tṛ, khuôn mặt của ông lộ hẳn vẻ buồn phiền. Ngồi im lặng đến hơn 5 phút ông mới hỏi tôi: “Mậu có biết thằng Quốc không?” Tôi biết ông muốn hỏi Trung úy Phạm Phú Quốc nhưng v́ chưa nắm vững t́nh h́nh nên tôi chỉ trả lời: “Thưa cụ, nếu nói là Phạm Phú Quốc th́ y là người Quảng Nam thuộc gịng dơi cụ Phạm Phú Thứ”. Nghe tôi nói đến cái tên Phạm Phú Thứ, ông Diệm liền chau mày. Hơn ai hết, ông biết rơ tiền bối Phạm Phú Thứ đă từng làm quan Nam Triều, từng làm Tuần Vũ B́nh Thuận nơi mà ông đă có thời trấn nhậm, ông cũng biết cụ là người Quảng Nam nơi anh ruột ông đă từng làm Tổng đốc. Cụ Phạm Phú Thứ là một nhà nho tuy ra làm quan vào thời Tây bắt đầu đô hộ xứ Trung Kỳ nhưng Cụ luôn luôn hành xử một cách thanh liêm, cương trực và từng tỏ thái độ bất khuất đối với người Pháp nên được giới sĩ phu và nhân dân miền Trung hết ḷng ngưỡng mộ. Ông Diệm là người mang nhiều tự ái, tính t́nh lại cao ngạo, ông tự cho ḿnh cũng là nhân vật tên tuổi, tiếng tăm không thua ǵ Phạm tiền bối mà sao con cháu ḍng họ Phạm lại dám ném bom dinh Độc Lập. Đoán biết tư tưởng của ông, tôi nghĩ thầm có lẽ ông Diệm đang uất ức lắm. Cái chau mày bất th́nh ĺnh đó hàm chứa một sự tức giận cao độ v́ bị sỉ nhục. Ông chỉ hỏi có ngần đó rồi lại ngồi im, lầm ĺ buồn bă, cặp mắt đăm chiêu ra chiều suy nghĩ lung lắm. Tôi muốn phá tan bầu không khí im lặng nặng nề rất khó chịu cho tôi trong giờ phút phải đối diện với vị nguyên thủ quốc gia đang buồn bực v́ một cảnh ngộ vừa là gia biến vừa là quốc biến mà chính tôi ít nhiều đă có lỗi v́ không chu toàn được trách nhiệm khám phá những âm mưu phản loạn trong quân đội. Để gián tiếp an ủi ông và cũng có ư để phân trần với ông, tôi nói: “Thưa cụ, qua phương pháp và mục tiêu của vụ ném bom th́ h́nh như bọn “phản loạn” chỉ muốn tốc chiến tốc thắng giết ông bà Cố vấn mà thôi, họ không muốn làm hại cụ. Hơn nữa, quả bom trên lầu cầu thang đă không nổ, tức là số mạng của cụ c̣n vững vàng lắm”. Nói mấy lời đó, tôi có ư muốn nhắc khéo cho ông Diệm biết rằng quân nhân chỉ thù ghét vợ chồng Ngô Đ́nh Nhu mà thôi. Nói cách khác tôi chỉ muốn nhắc cho ông biết chính anh em, bà con của ông mới là những nguyên nhân chính gây tai họa cho ông, và qua ông, họ gây tai họa cho đất nước.

Tôi đoán từ lâu rồi ông Diệm đă biết rơ ông Nhu không ưa tôi, nhưng vụ ném bom dinh Độc Lập mà chủ ư là để giết ông bà Nhu, như thêm một bằng chứng nói lên việc quốc dân thù oán ông bà Nhu đến tột độ để cho ông Diệm thấy rằng ông Nhu ghét tôi là một thái độ sai lầm, thiếu sáng suốt. Có lẽ v́ thế mà sau vụ ném bom ngày 27-2-1962, ông Diệm càng ngày càng tỏ vẻ thương mến tôi hơn. Thời c̣n ở Dinh Độc lập, thường thường vài tháng một lần ông mới gọi tôi và Dinh ban đêm nói chuyện thế sự, nhưng từ ngày soạn về dinh Gia Long, cứ vài tuần lễ ông lại cho gọi tôi vào để nói chuyện đời; có khi đến 2,3 giờ sáng mới chấm dứt, làm cho sĩ quan tùy viên và ông già Ẩn, người đày tớ trung thành của ông, phải thức đêm chầu chực (hiện nay tại hải ngoại có Châu Văn Lộc là sĩ quan tùy viên vào thời đó). Có lần gia đ́nh tôi được gia đ́nh một bạn Pháp cố vấn cho Phủ Tổng thống là ông Mourer mời ăn cơm tối tại nhà riêng, nhưng vào đúng giờ bắt đầu ăn cơm, ông Diệm cho gọi tôi vào Dinh làm cho chúng tôi phải đợi đến nửa đêm mới bắt đầu bữa tiệc dù trong lúc ngồi nói chuyện với ông, tôi đă vài lần nhắc khéo chuyện gia đ́nh tôi đang đợi tại nhà ông bà Mourer (ông Mourer sau khi về Pháp làm Cố vấn Hành chính cho Tổng thống Georges Pompidou và hiện sống ở Paris). Nhiều đêm, hai thầy tṛ đang say sưa vui chuyện nhưng khi nghe tiếng dép của ông Nhu đi tới th́ ông Diệm vội nhè nhẹ bảo tôi: “Thôi anh về đi kẻo ông Nhu tới đó”. Chính cách cư xử thân t́nh đó lại càng làm cho tôi thương mến ông nhiều hơn mặc dù tôi đă không c̣n t́m thấy nơi ông một người có vóc dáng xứng đáng để lănh đạo quốc gia nữa. Mối thâm t́nh thắm thiết kéo dài cho đến khi biến cố Phật giáo xảy ra, rồi v́ ông Diệm quá bề bộn công việc, quá bối rối buồn bực, giữa ông và tôi không c̣n những lần tâm t́nh vào ban đêm như trước nữa.

Tại ngôi nhà Trắng, ông Diệm và tôi đang ngồi im lặng mỗi người mang riêng một tâm sự, và cặp mắt cả hai thầy tṛ như muốn ứa lệ trước một biến cố hết sức hăi hùng th́ bỗng nhiên tướng Nguyễn Khánh bước vào. Tướng Khánh tỏ vẻ bỡ ngỡ rơ rệt khi thấy chỉ có ông Diệm và tôi, nhưng ông Diệm vội vă lấy lại b́nh tĩnh rồi bảo tôi: “Thôi Mậu về lo việc điều tra đi”.

Khi tôi về đến Nha th́ An ninh Hải quân đă bắt được Trung úy Phạm Phú Quốc và An ninh Không quân đă bắt được Trung úy Nguyễn Văn Đính, anh ruột của Trung úy phi công Nguyễn Văn Cử rồi. Tối đó, chúng tôi nghe được đài phát thanh Nam Vang thông báo việc chính phủ Cao Miên bắt được Nguyễn Văn Cử và chiếc phi cơ quân sự của VNCH do Cử lái.

Tôi xuống pḥng điều tra của Đại úy Sinh (Trung tá Sinh hiện ở Mỹ), thấy hai sĩ quan vừa bị bắt mặt mày thâm tím, sưng vù trông rất đáng thương. Tôi ra lệnh ngưng ngay cuộc hỏi cung và cho dẫn Quốc và Đính về pḥng giam tạm của Nha. Ba hôm sau, bà mẹ của Phạm Phú Quốc (hiện ở Mỹ) từ Đà Nẵng vào xin gặp tôi để được phép thăm con. Luật pháp cũng như thông lệ không cho phép ai được thăm viếng một đại tội phạm vừa mới bị bắt, nhưng lương tâm riêng lại bảo tôi cứ để cho bà cụ được gặp con trong cơn hoạn nạn. Chính tôi đích thân dẫn bà cụ vào pḥng giam thăm Quốc và khi vừa thấy Quốc, bà cụ vẫn giữ vẻ b́nh tĩnh lại c̣n mỉm môi cười rồi hỏi con: “V́ sao mặt con sưng cảy lên như thế?” Quốc trả lời: “Thưa mẹ, khi máy bay rớt xuống nước, mặt con đụng vào thân phi cơ”. Tôi biết rằng nét mặt b́nh tĩnh và nụ cười trên môi bà cụ chỉ là thái độ gượng gạo bên ngoài để che dấu ḷng dạ đang héo hon của bà. Cũng như việc Quốc không nói lên sự thật đă bị tra tấn cũng chỉ là che dấu để mẹ được yên tâm. Tôi khâm phục mẹ Quốc như một bà Mạnh Mẫu, tôi cảm phục Quốc là người dũng sĩ, tôi tự nghĩ họ thật xứng đáng là dâu con, cháu chắt của gia đ́nh Phạm Phú tiên sinh, nơi quê hương của Trần Quư Cáp, Phan Chu Trinh, Trần Cao Vân,... Tôi liền thưa với bà cụ: “Thưa Bác, anh Quốc muốn dấu Bác đó, chính nhân viên điều tra của tôi đă tra khảo anh ta đến nỗi mang thương tích nặng nề. Tôi xin lỗi Bác và xin Bác cứ yên tâm, từ nay sẽ không có những vụ hành hạ đó với Quốc nữa đâu”. Cử chỉ khiêm tốn của tôi đối với một gia đinh can phạm đă được đền bù xứng đáng v́ mười năm sau, Quốc đă anh dũng đền nợ nước trong một phi vụ ném bom Bắc Việt, chỉ v́ muốn cứu bạn mà anh đă phải vĩnh biệt quê hương đất nước tại vùng Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh.

Vụ ném bom dinh Độc Lập do ông Nguyễn Văn Lực tổ chức và lănh đạo. Ông Lực là người miền Bắc, một đảng viên kỳ cựu của Việt Nam Quốc Dân Đảng và cũng từng quen biết nhiều với ông Ngô Đ́nh Nhu. Ông Lực là tác giả bản “Tuyên ngôn Con người” rất nổi tiếng trong giới chính trị Sài G̣n. Ông phân giải hệ thống Âm dương Ngũ hành trong Kinh dịch Đông phương để đưa ra thuyết “nhân chủ” chống lại quan niệm vũ trụ và nhân sinh của Các Mác cũng như của các giáo lư tín điều của Thiên Chúa giáo, chủ trương tôn thờ một Đấng Chúa tể vạn năng. Theo ông Lực th́ muốn chống Cộng cứu nước, phải thực hiện chế độ nhân chủ dựa theo thuyết Âm dương Ngũ hành...

Ông Nguyễn Văn Lực là thứ người cương nghị, đảm lược nên ông ta dám có những hành động táo bạo, tốc chiến tốc thắng. Ông lư luận một cách tuy đơn giản nhưng rất hợp lư rằng đối với một gia đ́nh độc đoán, mục hạ vô nhân mà lại ngoan cố như gia đ́nh họ Ngô th́ chỉ có hai cách đối xử: một là đầu hàng họ để kiếm miếng đỉnh chung cho cá nhân ḿnh, hai là đập cho nát đầu họ để cướp lấy chính quyền mà chống Cộng cứu nước. C̣n thiện chí xây dựng, ḥa giải hay đoàn kết th́ chắc chắn đă không cảm hóa được họ mà nhiều khi c̣n rước họa vào thân.

Do đó, vào sáng 27-2-62, khi Trung úy Nguyễn văn Cử (con trai ông Nguyễn Văn Lực) và đồng chí là trung úy Phạm Phú Quốc được lệnh thực hiện phi vụ hành quân tại Quân khu Tư, khi vừa cất cánh khỏi phi đạo của căn cứ Không Quân Biên Ḥa, hai phi công liền đổi hướng bay về Sài G̣n để thực hiện cuộc ném bom vào giờ phút mà vợ chồng Ngô Đ́nh Nhu đang say sưa giấc điệp. Trong lúc đó th́ Trung úy Nguyễn Văn Đính (anh ruột của Nguyễn Văn Cử, một sĩ quan Không quân thuộc căn cứ Tân Sơn Nhất) có nhiệm vụ giữ liên lạc giữa Bộ Chỉ huy Đảo chánh và hai phi công “phản loạn” theo đúng kế hoạch đă định.

Sau này ông Lực cho tôi biết nếu cuộc ném bom thành công, tiêu diệt được vợ chồng Ngô Đ́nh Nhu th́ một trong hai trường hợp có thể xảy ra: Một là ông Diệm sẽ v́ mất em ruột, bộ óc chính trị mà ông vẫn phải nương dựa, nên buồn phiền rồi tự ư từ bỏ địa vị; hai là ông ta sẽ được người Mỹ khuyến cáo tiếp tục lănh đạo quốc gia trong tư thế lâm thời cho đến ngày một “Quốc dân Đại Hội” bao gồm các tôn giáo, đảng phái, các tổ chức quần chúng khác và quân đội được thành h́nh để nhận trách nhiệm lănh đạo đất nước. Ông Lực cũng cho tôi biết lư do ông không muốn giết ông Diệm là v́ ông không muốn làm cho Hoa Kỳ, vốn đang mạnh mẽ ủng hộ ông Diệm, phải xúc động dẫn đến những phản ứng bất lợi hoặc những hệ quả tiêu cực cho miền Nam.

Sau khi thất bại, ông Lực trốn về Biên Ḥa, xuống tóc và bận áo nâu ṣng sống như một nhà tu hành ẩn nấp từ chùa này qua chùa khác, thỉnh thoảng ông về thăm nhà và liên lạc với các đồng chí của tổ chức.

Tổ chức của ông Lực, theo kết quả điều tra của Nha tôi, chỉ gồm có gia đ́nh ông ta, một số đảng viên Việt Quốc như nhà báo tên tuổi Vũ Ngọc Các, giáo sư Nguyễn Mậu, trung úy Không quân Phan Ngô, và một số người khác. Ngoài ra c̣n có ông Nguyễn Xuân Kỳ (hiện ở Mỹ), trưởng nam của bác sĩ Nguyễn Xuân Chữ, linh mục Nguyễn Văn Dũng ở Ba Ng̣i và ông Phan Xứng ở Đà Lạt. Linh mục Nguyễn Văn Dũng và ông Phan Xứng là những người đă từng hết ḷng ủng hộ ông Diệm trong những năm đầu khi ông Diệm mới cầm quyền. Riêng về phía Quân đội, ông Lực tổ chức những tiểu tổ trong các đơn vị nhưng họ chỉ có nhiệm vụ sẵn sàng đợi cuộc ném bom thành công là phát động phong trào binh sĩ nổi dậy hưởng ứng cuộc cách mạng để vận dụng quân lực yểm trợ cho tổ chức.

Sau ngày ném bom độ một tuần lễ, về phía dân sự, nhân viên của Nha tôi chỉ mới bắt giáo sư Nguyễn Mậu, ông Nguyễn Xuân Kỳ và vài người nữa th́ tôi được lệnh của ông Nhu phải bắt toàn thể gia đ́nh của ông Lực về giam giữ để làm con tin hầu có thể làm áp lực để bắt chánh phạm. Tôi bèn phái đi bắt bà Lực, vợ con Trung úy Cử, Trung úy Đính, giam giữ tại Nha An Ninh Quân Đội nhưng không bắt Đại úy Nguyễn Văn Năng và tiểu gia đ́nh anh ta, v́ tôi cố t́nh để cho gia đ́nh ông Lực c̣n có người thân tự do ở ngoài để lo lắng việc gia đ́nh trong lúc toàn gia bị nằm trong ṿng lao lư. (Đại úy Năng là con trai trưởng của ông Lực lúc bấy giờ phục vụ tại Bộ Tổng tham mưu, hiện sống tại Texas, Hoa Kỳ) Sau Cách mạng 1-11-63, gia đ́nh ông Lực trở về đoàn tụ, Đại úy Năng thường làm người liên lạc giữa ông Lực và tôi lúc bấy giờ đă trở nên đôi bạn tri kỷ.

Mấy tháng trôi qua, tôi không bắt thêm ai nữa ngoại trừ những người đă kể, chẳng những thế tôi c̣n trả tự do cho giáo sư Nguyễn Xuân Kỳ (anh ruột Trung tá Nguyễn Xuân Phát hiện ở San José) v́ khi nghiên cứu hồ sơ thấy ông là trưởng nam nhà cách mạng Nguyễn Xuân Chữ mà tôi rất kính trọng. Tôi mời riêng ông Kỳ lên văn pḥng vừa để an ủi vừa để tỏ ḷng khâm phục chí hướng của ông, nhờ ông chuyển lời thăm hỏi của tôi lên thân phụ ông rồi trả tự do cho ông về nhà. Tôi cũng trả tự do cho Trung úy Không quân Phan Ngô sau khi biết được Ngô là con trai của sử gia Phan Khoang, một nhân sĩ Quang Nam khả kính mà tôi đă quen biết hơn 10 năm trước (gia đ́nh anh Phan Ngô hiện sống tại San José, Hoa Kỳ).

Có lẽ những hành động đó của tôi đă đến tai ông Ngô Đ́nh Nhu cho nên tôi được lệnh   Văn pḥng Cố vấn Chính trị phải chuyển nội vụ qua Nha Công An thụ lư, tôi chỉ giữ lại hai sĩ quan Không quân là Trung úy Phạm Phú Quốc và Trung úy Nguyễn Văn Đính.

Biến cố ném bom dinh Độc Lập như một vụ “trời giáng” làm xúc động nặng nề tâm tư anh em ông Diệm cho nên ông Diệm nghi ngờ nhiều người biết trước vụ ném bom trong đó có cả ông Đoàn Thêm.

Khi xảy ra vụ ném bom dinh Độc Lập, Bộ trưởng Quốc pḥng Nguyễn Đ́nh Thuần và Đại tá Nguyễn Xuân Vinh, Tư lệnh Không quân, c̣n công du tại Đài Loan, hai ông vội trở về nước ngay sau ngày xảy ra thảm họa. Về đến Sài G̣n, họ vội vă vào vấn an Tổng thống liền bị ông Diệm hỏi ngay: “Có phải các ông biết trước vụ ném bom nên bỏ đi ra nước ngoài phải không?”. Tất nhiên cả Bộ trưởng và Tư lệnh Không quân đều lo sợ và ngạc nhiên.

Từ ngày xảy ra vụ ném bom dinh Độc Lập, có lẽ Tổng thống Diệm không c̣n tín nhiệm Đại tá Vinh nữa v́ ông biểu lộ rơ rệt thái độ lơ là với vị Tư lệnh Không quân. Nguyên nhân chính làm cho ông Tổng thống giảm bớt ḷng tin với Đại tá Vinh không phải v́ Vinh có lỗi mà v́ những lời dèm pha của một số người trong dinh Tổng thống, những người có cảm t́nh với Trung tá Huỳnh Hữu Hiền, viên phi công được Tổng thống hết sức thương mến.

Tôi gặp Nguyễn Xuân Vinh từ ngày hai chúng tôi c̣n ở Nha Trang (năm 1955) lúc tôi c̣n giữ chức Tư lệnh Phân khu Duyên Hải, c̣n Vinh là một Thiếu úy phi công ở căn cứ Nha Trang đồng thời cũng là giáo sư toán tại trường trung học Vơ Tánh. Lúc bấy giờ tôi thường nghe nhiều phụ huynh học sinh và một số giáo sư ca ngợi Vinh, nên tôi hỏi thăm và ngầm điều tra về con người của Nguyễn Xuân Vinh hầu tổ chức ông ta vào Phong trào cách mạng Quốc gia.

Sau khi biết Vinh từng bị nhóm sĩ quan của tướng Nguyễn Văn Hinh chèn ép ganh ghét, biết Vinh có bằng Cử nhân Toán, biết phong cách đàng hoàng của Vinh, biết Vinh rất thông minh và có chí lớn, tôi thầm nghĩ phải tiến cử Vinh với ông Diệm để một nhân tài của quân đội khỏi bị mai một.

Nhưng rồi tôi bị mất chức Tư lệnh Phân Khu Duyên Hải, bị đổi đi Pháp, Vinh cũng đi Pháp để được trau dồi thêm kỹ thuật ngành Không quân.

Năm 1958, khi tôi về chỉ huy ngành An ninh Quân đội, Vinh phục vụ tại căn cứ Tân Sơn Nhất, tôi bèn đem hồ sơ của Vinh tŕnh bày với ông Diệm và đề bạt Vinh làm Tham Mưu trưởng Bộ Tư lệnh Không quân. Tôi c̣n mang tham vọng đề bạt Vinh lên giữ chức Tư lệnh Không quân vài năm sau nữa.

Trước khi “đẩy” Vinh lên năm giữ quyền chỉ huy binh chủng trọng yếu của quân đội, tôi muốn “soát xét” con người của Vinh một lần chót, tôi bèn rủ Vinh đi xem tử vi. Thầy quỷ cốc đường Trần Quư Cáp, sau khi nói về gia thế của Vinh, thời thơ ấu của Vinh, tính t́nh của Vinh, bèn kết luận:

“Tuổi này hiện nay là một sĩ quan cao cấp, nhưng rồi đây sẽ giữ một địa vị rất lớn, địa vị chỉ huy quan trọng. Tuy nhiên vào năm (tôi không c̣n nhớ năm nào) tuổi này sẽ bỏ đường vơ cách để tiếp tục học hành và sẽ trở thành một tiến sĩ, một giáo sư đại học nổi tiếng trên trường quốc tế”.

Quả thật hai năm sau, mặc dù không c̣n mang cấp bậc trung tá, Vinh được ông Diệm cử giữ chức Tư lệnh Không quân, ḷng tôi rộn lên niềm sung sướng. Một hôm chủ nhật, h́nh như sau biến cố đảo chánh của Nhảy Dù, tôi c̣n ngồi uống trà với nhà tôi tại nhà riêng th́ bỗng Vinh tới với quân phục trắng. Vinh cho biết vừa nhận được nghị định thăng cấp Đại tá, và rút trong túi ra cặp cấp hiệu có ba hoa mai trắng rồi nói:

“Từ ngày quen biết Đại tá, biết Đại tá là người có cặp mắt xanh, biết Đại tá lo cho đại sự quốc gia đăi tôi như một hiền sĩ. Hôm nay nhân được Nghị định thăng cấp Đại tá, tôi đến đây để nhờ Đại tá đích thân gắn cặp “lon” Đại tá lên vai để tôi được đền chút ơn tri ngộ”. Sau đó hai chúng tôi chụp chung một tấm h́nh kỷ niệm.

Biết rằng Vinh rất cẩn mật, không muốn ai biết cung cách xử thế khôn ngoan tế nhị đối với một người tri kỷ, nhưng mấy lời nói của Vinh làm cho vợ chồng tôi vô cùng cảm kích, tôi ôm choàng lấy Vinh tỏ lời cảm ơn và khen ngợi.

Vinh ra về, tôi ngồi độc ẩm nhớ lại câu chuyện Trương Lương từng giới thiệu Hàn Tín với Lưu Bang, mừng cho Tổng thống Diệm có một Trung thần văn vơ toàn tài.

Nhưng rồi hoàn cảnh đất nước, bản chất của chế độ Diệm đưa đẩy Đại tá Nguyễn Xuân Vinh không đi theo bước chân của Hàn Tín làm kẻ ngu trung, để khỏi phải chết oan khiên như Tề giả Vương họ Hàn.

Thái độ nghi ngờ của ông Diệm sau vụ ném bom dinh Độc Lập và chế độ thất nhân tâm của Công giáo Cần lao buộc con người khí phách, có chí lớn như Nguyễn Xuân Vinh từ giă binh nghiệp, từ giă địa vị cao sang để tiếp tục con đường văn học. Biết Tổng thống Diệm không c̣n tin tưởng ḿnh nữa, Nguyễn Xuân Vinh xin từ chức, xin giải ngũ và xin đi học ở Hoa Kỳ. Ông trở thành một khoa học gia tên tuổi đem vẻ vang lại cho đất nước quê hương đúng như lời tiên đoán của thầy tử vi Sài G̣n năm nọ. Đối với tôi, từ ngày Vinh rời khỏi quê hương, giữa hai chúng tôi không c̣n liên lạc ǵ nữa cho đến năm 1976 tôi mới nhận được thư Vinh từ Michigan gởi lời thăm, khi Vinh biết tôi cư ngụ tại Sacramento, Hoa Kỳ.

Nguyễn Xuân Vinh không chỉ là một cựu Tư lệnh Không quân Việt nam, không chỉ là một khoa học gia (có chân trong Hàn Lâm Viện Khoa học Pháp), mà c̣n là một nhà văn. Anh từng viết cuốn Đời Phi công với bút hiệu Toàn Phong, nói lên tâm t́nh và chí hướng của một chàng trai thời loạn, một chiến sĩ yêu nước tung mây lướt gió cho thỏa chí b́nh sanh. Sách của anh được giới nam nữ thanh niên của thập niên 60 hết sức ngưỡng mộ. “Đời Phi công” được giải nhất đồng hạng với tác phẩm “Thần Tháp Rùa” của giáo sư Vũ Khắc Khoan trong giả thưởng văn chương toàn quốc năm 1960, được triển lăm tại pḥng Khánh tiết Đô thành Sài G̣n, ngày 6-4-1961.

Quả thật cuộc đời và sự nghiệp Nguyễn Xuân Vinh đáng làm cho người đời suy gẫm, đáng làm gương cho thế hệ thanh niên. Từ một hàn sĩ miền quê Bắc Việt, lớn lên thành lập gia đ́nh với ái nữ của một vị đại thần Nam Triều, học hành đứt quăng mà rồi cũng thành tài rồi trở thành một nhân vật văn vơ toàn tài; chỉ tiếc Vinh sinh bất phùng thời, không gặp được nhà lănh đạo quốc gia anh minh lỗi lạc để Vinh phục vụ cho xứ sở quê hương trong thời ly loạn.

 

Sau ngày lật đổ chế độ Diệm, cuối năm 1963, tất cả mọi chính trị phạm quốc gia đều được thoát cảnh ngục tù, gia đ́nh đoàn tụ.

Ông Nguyễn Văn Lực và tôi trước kia ở hai chiến tuyến đối nghịch, nhưng sau khi chế độ Diệm bị lật đổ, ông Lực và tôi trở thành đôi bạn tâm giao, thường lui tới nhà nhau để hàn huyên tâm sự.

Ông Lực đến thăm tôi để ngỏ lời cám ơn đă đối xử tử tế với gia đ́nh và những đồng chí của ông. Ông cho biết từ khi gia đ́nh ông bị chuyển qua Nha Công An, họ đă bị hành hạ tra tấn dă man dù họ chỉ là đàn bà con trẻ.

Vào cuối thời Nguyễn Văn Thiệu, trong giai đoạn hoạt động cao độ của Phong trào Chống Tham Nhũng, ông dẫn một người bạn đến nhà tôi và giới thiệu là linh mục Nguyễn Học Hiệu (hiện ở Pháp), bộ óc chánh trị của linh mục Trần Hữu Thanh đang là chủ tịch Phong trào. Ông Lực cho biết cha Thanh nhờ cha Hiệu đến mời ông tham gia Phong trào nhưng ông trả lời là phải có Thiếu tướng Mậu cùng tham gia th́ ông ta mới nhận, v́ thế cha Hiệu đă đến nhà tôi. Cha Hiệu cho tôi biết ông đại diện cho cha Thanh đến mời tôi tham dự Phong trào Chống Tham Nhũng, nhưng tôi lễ độ từ chối ngay. Tôi nhờ cha Hiệu thưa lại với cha Thanh rằng tôi xin cảm tạ tấm t́nh tri kỷ của Ngài, đặc biệt là Ngài đă viết bài xếp hàng tôi cùng với 12 “tướng sạch” khác trên nhật báo Ḥa B́nh, nhưng tôi không thể tham gia vào Phong trào của Ngài v́ nhiều lư do mà lư do đầu tiên là đa số người Công giáo thù ghét tôi v́ tôi đă tham dự cuộc cách mạng 1-11 năm 1963, trong khi Phong trào trên mặt tổ chức lại nặng màu sắc Công giáo với hậu thuẫn của một số họ đạo tại Sài G̣n và Phú Cam. Không biết có phải v́ tôi đă từ chối lời mời của cha Thanh mà sau này không thấy tên của ông Nguyễn Văn Lực trong hàng ngũ cấp lănh đạo của Phong trào nữa.

 

-o0o-

 

Quyết định của tôi khi trả tự do cho ông Nguyễn Xuân Kỳ, Trung úy Phan Ngô hoặc không bắt linh mục Nguyễn Văn Dũng và các ông Phan Xứng, Vũ Ngọc Các... nằm trong ư hướng bảo vệ những chiến sĩ quốc gia vốn là sức mạnh thực sự để chống Cộng. Nếu tôi đă bị tê liệt v́ liên hệ với một triều đ́nh mục nát đang làm cho Cộng sản sinh sôi nẩy nở mau chóng tại miền Nam, mà môi trường và điều kiện chính trị cũng như hoàn cảnh cá nhân của tôi lúc bấy giờ không giúp tôi quyết liệt lấy những hành động trong sạch hóa chế độ, th́ tại sao lại ngăn cản đồng bào tôi hoặc những chiến sĩ khác làm việc đó. Ư hướng này đă được thực hiện và đă được thông hiểu nên chỉ sáu năm sau, tôi được hân hạnh tham dự vào thành phần lănh đạo của một lực lượng chính trị có quần chúng đông đảo tại miền Nam mà ngay cả kư giả quốc tế cũng đă hết sức chú ư.

Vào một buổi sáng mùa hè năm 1967, tôi đang ngồi uống chén trà mai trong pḥng khách nhà riêng tại đường Gia Long Sài G̣n th́ bỗng thấy một lăo trượng mặc quốc phục, đầu đội khăn nhiễu Tam Giang lớn vành, ḿnh mặc áo lụa màu nâu nhạt, chân đi giày hạ, dáng điệu khoan thai đi vào nhà, theo sau có một trung niên bận âu phục đen tề chỉnh. Thấy lăo trượng có vẻ “tiên phong đạo cốt”, tuổi độ thất tuần, tôi vội ra thềm đón mời lăo trượng vào nhà. Ông Cụ nở một nụ cười rồi tự xưng: “Tôi là Nguyễn Xuân Chữ đây, c̣n ông này là ông Lê Vinh, một đảng viên Duy Dân và là trưởng nam của lăo thi sĩ Á Nam Trần Tuấn Khải”.

Sau khi chủ khách an tọa, tôi liền tŕnh bày những hiểu biết của ḿnh về tiếng tăm của Cụ để định rơ vị trí tôn trưởng của Cụ trong buổi tương kiến sơ khởi: “Thưa Cụ, được nghe Cụ là một nhân sĩ đất Bắc Hà; trước 1945, đă hoạt động cách mạng trong phong trào Cường Để, bị Pháp lùng bắt Cụ phải trốn vào Sài G̣n cũng như ông Diệm. Cụ đă từng giữ chức Phó Khâm sai Bắc Việt cho chính phủ Trần Trọng Kim, đă dám ra lệnh cho lính Bảo An bắn vào Việt Minh khi họ đến cướp chính quyền Bắc Bộ Phủ vào năm 1945 trong khi cha con Khâm sai Phan Kế Toại th́ lại hoạt động cho Việt Minh. Trong những năm chiến tranh Pháp - Việt, biết Pháp không thực t́nh giao trả độc lập cho Việt Nam, Cụ thành lập “Thanh Niên Ái quốc Đoàn” để tranh đấu. Cụ Nguyễn Xuân Chữ đă cùng với các ông Ngô Đ́nh Diệm, Vũ Đ́nh Dy, Lê Toàn, Vũ Văn An ở trong “Ủy Ban Kiến Quốc” ủng hộ Kỳ Ngoại Hầu Cưởng Để thời quân đội Nhật Bản chiếm đóng Đông Dương. (Xem thêm “Việt Nam Niên biểu Nhân vật chi” tr. 63). Khi ông Diệm được Quốc trưởng Bảo Đại cử làm Thủ tướng mời Cụ giữ chức Phó Thủ tướng, nhưng Cụ không chịu hợp tác với ông ta v́ Cụ đă biết rơ con người hẹp ḥi của ông ta và từ đó cụ lui về với nghề y sĩ để âm thầm lănh đạo tinh thần cho những đảng phái đang bí mật hoạt động. Thế mà tôi chưa có dịp yết kiến Cụ để được Cụ dạy dỗ, hôm nay Cụ lại đích thân đến nhà một tên lính già dốt nát, như rồng đến nhà tôm, quả thật là một đại hạnh cho tôi”. Cụ Chữ nở một nụ cười rồi tiếp lời tôi: “Kể ra cho đến hôm nay tôi mới đến thăm Thiếu tướng là đă quá muộn rồi, đă rất không phải phép đối với Thiếu tướng, nhưng xin Thiếu tướng hiểu cho, nếu tôi đến thăm lúc Thiếu tướng c̣n có quyền hành, nó có điều bất tiện cho tôi. Hôm nay đến đây trước hết là để tạ ḷng hào hiệp với ân nhân v́ Thiếu tướng đă trả tự do cho con trai tôi là Nguyễn Xuân Kỳ và khoan dung cho nhiều đảng viên các đảng phái dù họ có đại tội với chế độ ông Diệm. Phục vụ cho chế độ ông Diệm mà Thiếu tướng lại bênh vực che chở người quốc gia đối lập, cung cách cư xử của Thiếu tướng thật hiếm hoi có khác ǵ “cánh sen trong bùn”; bên ngoài hầu hết những anh em đảng phái, anh em cách mạng ca ngợi Thiếu tướng lắm. Cũng v́ thế mà một số anh em nhờ tôi hôm nay đến mời Thiếu tướng gia nhập Lực lượng Dân Tộc Việt gồm nhiều hệ phái của các tôn giáo và đảng phái do tôi đỡ đầu vận động để làm một cái ǵ cho việc “cứu nguy dân tộc”.

Sau khi cuộc Cách mạng bị dang dở vào cuối năm 1963, tôi đă thấy chán chường với nhân t́nh thế thái, đầu năm 1965, dù chưa phải là già, tôi đă bị các “tướng trẻ” bắt phải giải ngũ. Năm 1965-66, lại bị các tướng Khánh, Thiệu, Kỳ bắt đi an trí tại Komtum và Nha Trang. Hơn nữa, trước cảnh xáo trộn của đất nước, ḷng tôi đă trở nên nguội lạnh, không c̣n nhiệt tâm để hoạt động chính trị cách mạng nữa. Tôi đă định từ chối lời mời của cụ Nguyên Xuân Chữ nhưng rồi nghĩ đến Cụ đă da mồi tóc bạc mà c̣n ưu tư cho vận mệnh đất nước, lại c̣n đích thân đến tận nhà kêu gọi, há ḿnh lại không biết câu "thất phu hữu trách” hay sao nên tôi nhận lời tham gia "Lực Lượng Dân Tộc Việt”.

Tôi lại nghĩ rằng trong thời gian trước năm 1945, tuy tôi có hoạt động cách mạng chống Pháp trong Phong trào Cường Để do ông Diệm làm lănh tụ tại miền Trung, nhưng cái phong trào của ông Diệm chỉ phản ánh tính t́nh và cung cách làm việc của ông nên đă là một đoàn thể luộm thuộm, không có tổ chức, huấn luyện, kỷ luật, quy củ ǵ hết, nay gia nhập vào một lực lượng có nhiều lănh tụ đảng phái có thành tích đấu tranh cách mạng, có kinh nghiệm hoạt động, có kinh nghiệm tổ chức, âu cũng là một cơ hội cho ḿnh học hỏi thêm.

“Lực Lượng Dân Tộc Việt” do cụ Nguyễn Xuân Chữ và anh Phan Bá Cầm, một lănh tụ Ḥa Hảo, Chủ Tịch Hội Nhân Quyền Việt Nam khởi xướng. Ngoài ra c̣n có những nhân vật khác như các ông Xuân Tùng Dương Như Thuấn đại diện cho đảng Đại Việt, Phạm Thành Giang đại diện cho Đảng Duy Dân, Tạ Nguyên Minh, người đồng chí số một của Cụ Nguyễn Hải Thần, đại diện cho Cách mạng Đồng Minh Hội, linh mục Hoàng Quỳnh và ông Trần Văn Lư đại diện cho Thiên Chúa giáo, ông Trần Quang Vinh đại diện cho Cao Đài, Thượng Tọa Pháp Tri đại diện cho Phật giáo, Bùi Lượng, đại diện cho các nghiệp đoàn tự do, và rất đông những nhân sĩ, chính khách khác. Đặc biệt lại có nhiều cụ Cử, cụ Tú Nho học c̣n sót lại như Cụ Tạ Chương Phùng chẳng hạn. C̣n giáo sư Trần Ngọc Ninh, học giả Nguyễn Đức Quỳnh, ông Trần Văn Tuyên, Thái Lăng Nghiêm, Nguyễn Văn Lực, Phạm Vô Kỵ, Nguyễn Ngọc Huy, Trần Văn Đôn... những người này tuy không gia nhập Lực lượng nhưng có cảm t́nh với Lực Lượng, thỉnh thoảng ghé lại trụ sở trung ương của Lực Lượng ở đường Hồng Thập Tự để đóng góp thêm nhiều ư kiến,... Chủ đạo của Lực Lượng là lư thuyết “Nhân chủ” và chủ trương của Lực Lượng là thực hiện một “xă hội nhân bản” để cùng liên kết với các nước đệ tam chậm tiến, xây dựng một thế giới ḥa b́nh và thịnh vượng, một trật tự kinh tế b́nh sản và công bằng. Bản tuyên ngôn của Lực Lượng là một tác phẩm chính trị đă được nhiều giới trí thức trong và ngoài sinh hoạt chính trị tại Sài G̣n ngưỡng mộ (anh Hà Thế Ruyệt và một số đoàn viên Lực Lượng, khi vượt biển ra đi t́m tự do vào năm 1975, có mang theo bản tuyên ngôn này và các anh Phạm Quốc Trị, Lê Văn Hoạnh v.v... đă phổ biến trên nguyệt san Thức Tỉnh xuất bản tại Los Angeles, Hoa Kỳ).

Một lực lượng chính trị thanh thế, thực lực như vậy mà tôi lại được đề cử làm Đệ nhất Phó Chủ tịch trong lúc những nhà cách mạng như các ông Xuân Tùng Dương Như Thuấn, như Tạ Nguyên Minh suốt đời hiến thân cho đất nước, hay như ông Trần Văn Lư vị thầy cũ của tôi, một vị cựu Tổng đốc nổi tiếng đạo đức, liêm chính lại chịu làm Đệ Nhị Phó Chủ tịch hay giữ chức ủy viên Trung ương khiến tôi không dám nhận lời. Tôi đă viện ra nhiều lư do tự cho ḿnh không xứng đáng nhận lănh địa vị thứ hai của Lực lượng để từ chối, nhưng mọi người đều đồng thanh “ép buộc” nên tôi phải vâng lời. Họ lư luận rằng, tuy tôi không có thành tích đấu tranh và xả thân hy sinh như nhiều nhân vật cách mạng trong Lực Lượng, nhưng chỉ một việc tôi ở “trong bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”, chỉ một việc tôi hy sinh danh lợi, t́nh nghĩa riêng tư cho chính nghĩa chung để tổ chức cuộc lật đổ nhà Ngô hầu giải thoát cho nhân dân và đảng phái, tôn giáo khỏi tai ách của Ngô triều, th́ thái độ và hành động đó cũng đă đủ là một thành tích to lớn rồi.

Tuy Lực Lượng Dân Tộc Việt (và ngay cả bốn tôn giáo lớn) không tạo được sự nghiệp cứu nước khỏi nạn Cộng Sản trong một giai đoạn mà dân tộc gặp quá nhiều khó khăn phức tạp, lại phải đương đầu với quá nhiều kẻ thù giữa một quê hương ngập tràn khói lửa chết chóc, nhưng cho đến bây giờ, nh́n lại suốt cả cuộc đời, tôi vẫn cho rằng sự có mặt của tôi trong Lực Lượng để sát cánh với các đồng chí trong nỗ lực cứu lấy giang sơn và dân tộc đă là một vinh dự lớn lao nhất trong cuộc đời hoạt động chính trị của ḿnh.

Ra đời dưới mái tranh nghèo, mồ côi cha mẹ từ tấm bé, lớn lên giữa cảnh nước đọng bùn lầy, dang dở việc học hành, xuất thân lại là một anh đội khố xanh, tôi không nghĩ rằng sẽ có ngày được Chí sĩ Ngô Đ́nh Diệm kết nạp làm chiến hữu trong Phong trào Cường Để để chống Tây giành độc lập, có ngày được một danh sĩ đất Bắc Hà là Cụ Nguyễn Xuân Chữ đích thân đến nhà để tạ ơn, có ngày được linh mục Trần Hữu Thanh, chủ tịch Phong trào Chống Tham Nhũng viết báo ca ngợi là “Tướng sạch”, lại được những nhà làm văn hóa tiếng tăm như Đào Đăng Vỹ, Thái Văn Kiểm, Trần Ngọc Ninh, Phùng Tất Đắc, Nguyễn Đức Quỳnh, Lê Văn Siêu, Mai Ngọc Liệu, Hoàng Trọng Miên, Nghiêm Xuân Hồng, Nguyễn Ngọc Huy, Vơ Văn ái, Hiếu Chân,... xem như bạn bè tri kỷ. Những t́m cảm đó đối với tôi, một kẻ xuất thân từ cảnh ngộ hàn vi thôn dă đă là một vinh hạnh lắm rồi, nhưng tôi vẫn cho việc gia nhập Lực Lượng Dân Tộc Việt là điều vinh dự lớn lao nhất. Được chia sẻ ưu tư và sinh hoạt chung với những thành phần quốc gia chân chính, những nhân vật ôm ấp lư tưởng Dân tộc, Nhân Chủ, mà suốt đời chỉ xông pha đấu tranh cho độc lập, dân chủ, tự do của đất nước. Những nhân vật tụ tại từ bốn phương trời của quê hương yêu dấu thuộc mọi tôn giáo và đảng phái để chung lo việc cứu nguy dân tộc, như thế bảo tôi không tự hào sao được. Người con xác xơ tuy không cứu được mẹ hiền Việt Nam qua cơn trọng bệnh nhưng những suy tư, dằn vặt, thổn thức ngày đêm cũng có thể chứng tỏ ḷng hiếu thảo của người con rồi.

Đau đớn thay, Lực Lượng Dân Tộc Việt đang trên đà tổ chức, phong trào, huấn luyện, th́ người cha đẻ của Lực Lượng, vị lănh đạo tinh thần đầy uy tín là cụ Nguyễn Xuân Chữ lại vĩnh viễn ra đi. Cụ Chữ ra đi, Lực Lượng Dân Tộc Việt mất đi một người chỉ đạo sáng suốt, riêng tôi mất đi một người tri kỷ, một người bạn vong niên. Ngày cử hành tang lễ, tôi được các đoàn thể chính trị chỉ định khiêng quan tài cùng với 7 nhân vật khác là các ông Trần Ngọc Ninh, Phan Bá Cầm, Hoàng Cơ Thụy, Hoàng Cơ B́nh, Phạm Biểu Tâm (và hai người nữa mà tôi quên tên). Tại nghĩa trang Bắc Việt, trước hàng vạn người, giáo sư Phạm Biểu Tâm đă đọc điếu văn tiễn đưa bậc huynh trưởng, bậc thầy về cơi Phật, giữa sự thương tiếc của hàng ngàn nhân sĩ chính khách Miền Nam.

Khi cụ Chữ mất rồi tôi mới biết cụ đang viết dở dang thiên hồi kư, mà tôi không ngờ cụ lại dành cho tôi một vinh dự lớn lao: Cụ đă dành hẳn một đoạn ba trang giấy để đề cập đến cái duyên kỳ ngộ giữa gia đ́nh cụ và tôi. Và sau khi cụ tạ thế rồi th́ ông Nguyễn Xuân Kỳ theo phong cách của một gia đ́nh nho phong nề nếp, cứ mỗi dịp Tết Âm lịch lại đến nhà tôi thay mặt Bà cụ thân mẫu để chúc mừng năm mới và để mượn ngày thiêng liêng của dân tộc ngỏ lời cảm tạ chút t́nh tri ngộ ngày xưa.

Sau tháng tư năm 1975, trong số những lănh tụ Lực Lượng Dân Tộc Việt, tôi không biết có bao nhiêu vị thoát được ra nước ngoài, tin tức dồn dập cho biết những lănh tụ của Lực Lượng Dân Tộc Việt như Phan Bá Cầm, Phạm Thành Giang, Trần Quang Vinh, Bùi Lượng, Tạ Nguyên Minh, v.v... đều bị tù đày sát hại, không ngờ một hôm tôi nhận được thư của anh Xuân Tùng, vị Đệ Nhị Phó Chủ Tịch của Lực lượng:

Houston, Nov., 1977

Kính anh Mậu,

Cách đây ít lâu tôi có gửi anh một lá thư, không biết anh đă nhận được chưa? Đọc báo Việt Nam Hải Ngoại số 11 thấy quảng cáo thiên hồi kư “Một Cơn Dâu Bể”, tôi tin là thiên hồi kư của anh.

Công việc chúng tôi vẫn tiến hành đều và thâu lượm được ít nhiều kết quả. Nhưng hiện t́nh và bài toán Đông Dương c̣n chứa nhiều ẩn số, phải gặp nhau mới mổ xẻ được mọi t́nh tiết về công việc cũng như nhân sự. Tôi hy vọng một ngày gần sẽ có dịp gặp lại anh.

Để xoa dịu một phần nào niềm uất hận của một chiến sĩ biết người biết việc mà đành mang mối hận v́ không gặp thời, xin tặng anh bài thơ thứ hai.

Xuân Tùng

Tôi nhận được thư của anh Xuân Tung độ hơn một tháng th́ vào một buổi sáng, anh Phạm Quốc Trị và tướng Nguyễn Văn Chức dẫn anh Xuân Tùng đi cùng với anh Trịnh Xuân Hổ đến thăm tôi tại Sacramento. Anh cho biết dự định sau khi đi khắp Hoa Kỳ, Canada để gặp gỡ lại các đồng chí và thân hữu rồi sẽ trở lại gặp tôi để cùng nhau t́m phương thức tái lập Lực Lượng Dân Tộc Việt tại Hải Ngoại, hầu từ đó lập kế hoạch gửi người về Đông Nam Á t́m cách bắt liên lạc với những anh em tại quê nhà. Không ngờ cuộc hội kiến hôm đó lại là buổi gặp gỡ cuối cùng để từ đó anh và tôi ngàn thu vĩnh biệt,  anh mang theo cả một cuộc đời lao lư, một ư chí gang thép và một giấc mộng không thành về cơi hư vô.

Anh Xuân Tùng đă từng tiếc cho tôi “biết người biết việc mà đành mang mối hận v́ không gặp thời”, nhưng chính anh mới thật sự là một chiến sĩ cách mạng suốt đời bôn ba tù tội đầy sóng gió mà chẳng bao giờ gặp được thời. Khi nghe tin anh qua đời, lật lại chồng thư cũ, tôi t́m được bài thơ anh gửi tặng tôi nên xin chép ra đây để than khóc nhớ thương anh...

Gió ơi gió có về nơi ấy

Xin gửi dùm nhau lấy một lời

Trăng thề soi tỏ ḷng chung thủy

Đành hẹn cùng nhau kiếp lai sinh!

(ghi chú: Bài thơ dài của Xuân Tùng tặng tôi đă được hai đồng chí Việt Nam Quốc Dân Đảng của anh là cụ Trần Trọng Sanh và cụ Cung Trầm Vấn ở Mỹ phụ họa).

Than ôi! Giấc mộng lớn chưa thành, cuộc chiến đấu c̣n dang dở mà anh đành bỏ đi để hẹn với non sông trong một kiếp khác. Lời thơ của anh đúng là lời trăn trối, lời từ biệt để măi măi ra đi. Anh nhờ gió gửi lời nhắn với quê hương, nhờ trăng soi tỏ ḷng chung thủy, nhưng cả cuộc đời đấu tranh của anh rơ ràng đă là tấm gương thủy chung vàng đá sắt son với dân tộc quê hương rồi.

Nhớ lại từ sau cuộc cách mạng Tân Hợi của Tàu năm 1911, những tư tưởng dân chủ, dân quyền dần dần được du nhập vào Việt Nam. Nền văn minh Tây phương cũng ảnh hưởng đến t́nh trạng xă hội, kinh tế nước ta nên các nhà cách mạng của thời đại đó trong công cuộc đấu tranh giải phóng xứ sở đă tổ chức đoàn thể khoa học hơn, nêu lên những mục tiêu rơ rệt hơn và được giới thanh niên tham gia đông đảo hơn. Trong số các đoàn thể cách mạng lúc bấy giờ th́ Việt Nam Quốc Dân Đảng là đảng cách mạng đầu tiên trong nước có tổ chức quy mô hơn cả. Thành h́nh vào năm 1927 tại Bắc Việt, Đảng phát triển mau chóng vào Trung và Nam nhưng lại bị thực dân Pháp khủng bố dă man nhất cho nên năm 1930, v́ vụ ám sát người Tây mộ phu đồn điền là Bazin mà đảng bị Pháp khủng bố đến nỗi gần như bị tan ră. Những lănh tụ của đảng là Nguyễn Thái Học, Nguyễn Khắc Nhu bèn thực hiện một cuộc bạo động Tổng khởi nghĩa toàn hạt Bắc Kỳ để cướp chính quyền. Nhưng mưu sự tại nhân mà thành sự tại thiên, cuộc khởi nghĩa thất bại, đảng trưởng Nguyễn Thái Học và 12 vị anh hùng lên đoạn đầu đài đền nợ nước, rất đông đồng chí của ông bị Tây giam cầm, sát hại. Trong số những người bị lưu đày ra Côn Đảo này có anh Xuân Tùng.

Sau mấy năm trời khổ sai nhọc nhằn nơi Côn Đảo, anh được trả tự do và trở về làng cũ. Nhưng chí vẫn không sờn và ḷng không bao giờ nản, nên anh lại cùng với nhiều đồng chí khác củng cố lại tổ chức Đảng để tiếp tục cuộc đấu tranh giải phóng, rồi qua Tàu liên lạc gặp gỡ lănh tụ các đảng phái quốc gia. Năm 1945, các lănh tụ của ba đảng quốc gia là Đại Việt Quốc Dân Đảng của ông Trương Tử Anh, Đại Việt Dân Chính Đảng của ông Nguyễn Tường Tam và Việt Nam Quốc Dân Đảng bèn hợp nhất lại và thành lập “Quốc Dân Đảng” để cùng với Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội của Cụ Nguyễn Hải Thần chiến đấu chống Việt Minh. Ông Trương Tử Anh được cử giữ chức Chủ Tịch, ông Vũ Hồng Khanh giữ chức Bí thư trưởng, ông Nguyễn Tường Tam phụ trách đảng bộ trung ương c̣n Xuân Tùng và những nhân vật tên tuổi như Nguyễn Tường Long, Phạm Khải Hoàn, Chu Bá Phương, Nghiêm Kế Tổ, Nguyễn Tường Bách, Nguyễn Tiến Hỷ v.v... trở thành ủy viên Trung ương Đảng. Nhưng v́ ông Hồ Chí Minh đang nắm quyền lực trong tay và v́ quần chúng không ư thức được Việt Minh do Cộng Sản khống chế nên bị mê hoặc với chiêu bài “Tự Do, Hạnh phúc, Độc Lập”, lại thêm nhóm Tàu phù Lư Hán và Tiêu Văn phản bội, nên Quốc Dân Đảng đành phải chịu thất bại trong cuộc tranh chấp Quốc Cộng này dù đă hy sinh rất nhiều xương máu. Thỏa hiệp mồng 6 tháng 3 năm 1946, kư kết giữa Pháp và Việt Minh, dẫn đến cuộc kháng chiến toàn quốc do Việt Minh lănh đạo xảy ra vào tháng Chạp năm đó nên những lănh tụ phe quốc gia đă phải lánh qua Tàu. Măi cho đến khi giải pháp Bảo Đại ra đời, Xuân Tùng và một số nhân vật đảng phái mới trở về Việt Nam.

Tuy về lại Việt Nam nhưng vốn thấm nhuần chủ nghĩa cách mạng Tam Dân nên Xuân Tùng nhất định không chịu hợp tác với các chính phủ từ Bảo Đại đến Ngô Đ́nh Diệm mà anh cho là những nhân vật quan liêu phong kiến, không thể nào đáp ứng được nguyện vọng tự do dân chủ của nhân dân và chiến thắng được Cộng Sản, do đó anh chỉ lo củng cố lại bộ máy Đảng vốn đă bị phân hóa, bị sứt mẻ v́ thời cuộc. Chế độ Ngô Đ́nh Diệm lại là chế độ độc tài Cần Lao Công giáo, khủng bố, đàn áp các tôn giáo, đảng phái cho nên cuối năm 1960, cùng với nhiều nhân vật đảng phái khác, anh tham gia cuộc đảo chánh Nhảy Dù đứng trong Liên Minh Dân Chủ của Luật sư Hoàng Cơ Thụy. Cuộc đảo chánh thất bại, những người quốc gia đối lập bị khủng bố như đă nói ở trước kia, anh Xuân Tùng may mắn thoát được ra nước ngoài, lưu vong ở Cao Miên cho đến khi chế độ Diệm bị lật đổ anh mới trở về quê hương.

Từ tuổi 20 cho đến lúc về già, anh Xuân Tùng chỉ biết xả thân đấu tranh cho độc lập, tự do, dân chủ. Suốt 45 năm trời quê hương nghiêng ngửa, anh không chịu ngồi yên hưởng một phút nhàn hạ thảnh thơi nào.

Những ai đă từng là đồng chí của anh, đă từng biết t́nh cảnh “cha già nhà khó” của anh Xuân Tùng, đă đến ngôi nhà tôn vách ván xiêu vẹo trong xóm nghèo Gia Định, đă biết anh Xuân Tùng ngày ngày đi bộ từ Gia Định qua trường Trung học Phan Sào Nam Sài G̣n, trung tâm bí mật đào tạo cán bộ cách mạng, để đạy Việt Văn và Sử Địa mới thấy sự nghèo khó, ḷng hy sinh của anh.

Năm 1975, mặc dù tuổi đă cao và sức đă yếu v́ bệnh hoạn, nhưng ra đến nước ngoài anh Xuân Tung vẫn thủy chung với lư tưởng đấu tranh, vẫn ḷng son dạ sắt với đất nước đồng bào.

Nhắc lại Lực Lượng Dân Tộc Việt cũng như ghi lại những kỷ niệm về cụ Nguyễn Xuân Chữ, với ông Nguyễn Văn Lực, anh Xuân Tùng ở đây, tôi chỉ muốn nói đến sự tương phản và mâu thuẫn sâu sắc và rơ rệt giữa chính quyền ông Diệm với các lực lượng đối lập khác. Tương phản và mâu thuẫn không những về tác phong, nhân cách và sự nghiệp cá nhân mà c̣n cả về lư tưởng, chủ trương và chí hướng nữa. Trong khung cảnh chính trị và xă hội của những năm đầu trong thập niên 60 tại miền Nam Việt Nam, những tương phản và mâu thuẫn đó nhất định phải và rơ ràng đă bùng nổ lên thành những hành động quyết liệt mà Tuyên ngôn phản kháng của nhóm Caravelle, vụ binh biến 11-11-1960, vụ ném bom 27-2-1962 cũng như cuộc vận động cách mạng của Phật giáo, biến cố 1-11-1963 sau này đă là những chứng tích lịch sử rơ ràng. Chế độ Diệm chắc chắn đă đi ngược ḷng dân, đă phản lại thời đại cho nên, chỉ có thời gian 3 năm mà đă dồn dập xảy ra sáu lần chống đối quan trọng và đẫm máu. Và lần nào cũng được khởi xướng bởi những người Việt Nam trong trắng nhất, nhiệt huyết nhất, bằng các phương thức quyết liệt nhất, hùng tráng nhất. Những chống đối đó hoàn toàn độc lập với chính sách của người Mỹ đối với chính quyền Diệm, hoàn toàn độc lập với quyết tâm của Việt Cộng muốn Cộng Sản hóa miền Nam, cho nên bản chất của những chống đối này rơ ràng có tính dân tộc và có chất cách mạng.

Cũng cần thêm rằng trong năm 1962, chế độ Ngô Đ́nh Diệm không chỉ bị vụ ném bom dinh Độc Lập của hai phi công Quốc và Cử biểu hiện mối căm thù của quân nhân mà lại c̣n bị bác sĩ Phạm Huy Cơ, một chính khách tên tuổi công khai đả kích chính sách độc tài gia đ́nh trị. Bác sĩ Cơ đă thành lập Hội đồng Cách Mạng Quốc gia rồi thuyết phục Hoa Kỳ ngưng ủng hộ Tổng thống Diệm. Ông lập luận rằng nền độc tài gia đ́nh trị của chế độ Diệm chỉ làm lợi cho Cộng Sản Hà Nội và Mặt trận Giải phóng. Nhưng ông đă bị bắt giam.

 

-o0o-

 

Sau cuộc viếng thăm miền Nam của Phó Tổng thống Johnson và của hai ông Taylor và Rostow trong năm 1961, qua năm 1962, viện trợ hùng hậu của Hoa Kỳ về mọi mặt đă tuôn đổ vào miền Nam sau khi ông Diệm hứa sẽ cải cách chế độ của ông ta.

Về quân sự, Hoa Kỳ đă tăng cường thêm cho miền Nam 400 chuyên viên. Về quân cụ, Hoa Kỳ đă trang bị thêm cho quân lực Việt Nam Cộng Ḥa thiết vận xa M113, trực thăng chiến đấu CH21, phi cơ trinh sát, phóng pháo cơ, chiến hạm và nhiều vơ khí, dụng cụ tân tiến để cải tiến quân đội Việt Nam Cộng Ḥa về mọi mặt, từ huấn luyện đến tiếp liệu, từ tác chiến đến vận tải và truyền tin. Đầu năm 1962, Việt-Mỹ thỏa thuận thành lập Bộ Tư lệnh Quân Đội Mỹ tại Sài G̣n, thường được gọi là MACV (Military Assistance Command, Vietnam), để điều hành và phối hợp chính sách viện trợ và hành quân tại Nam Việt Nam. Hoa Kỳ cũng giúp Việt Nam Cộng Ḥa thiết lập một hệ thống tiếp liệu quy mô, cải tiến phương pháp sưu tầm, khai thác về t́nh báo. Vào tháng 9 năm 1962, tất cả mọi cơ cấu chính yếu của quân đội Việt Nam Cộng Ḥa khắp toàn quốc đều được Hoa Kỳ giúp thiết trí một hệ thống truyền tin vô cùng tối tân để tiêu chuẩn hóa và phối hợp hóa việc liên lạc giữa các đơn vị quân đội với các trung tâm hành quân tại trung ương lẫn địa phương. Nhờ sự giúp đỡ của Hoa Kỳ mà lần đầu tiên quân đội Việt Nam Cộng Ḥa mới xâm nhập sâu vào những căn cứ bất khả xâm phạm của Việt Cộng như chiến khu D, như rừng già U Minh. Nhờ phương tiện hiện đại mà quân đội Việt Nam Cộng Ḥa đă di động một cách tiện lợi mau chóng hơn, để có thể bao vây quân địch, đánh tập hậu quân địch dễ dàng nhanh chóng và làm cho Việt Cộng thiệt hại nặng nề... Ngoài ra Hoa Kỳ c̣n giúp tăng cường Lực lượng Đặc biệt về cả nhân sự lẫn phương tiện để hoạt động tại Bắc Việt và Lào, giúp Việt Nam Cộng Ḥa thực hiện chương tŕnh Ấp Chiến lược, bỏ ra một ngân quỹ 55 triệu đô la để mua phân bón, giây kẽm gai,... Hoa Kỳ cũng đă vận động với Chính phủ Úc gửi phái đoàn quân sự giúp huấn luyện du kích mà chỉ trong đợt đầu vào tháng 8 năm 1962 đă có 30 sĩ quan Úc đến Việt Nam [7].

Chẳng những chính quyền Kennedy yểm trợ dồi dào về mặt vật chất cho Việt Nam Cộng Ḥa mà c̣n hỗ trợ luôn cả về mặt chính trị. Để cải thiện mối bang giao Việt-Mỹ cho thật tối đẹp, Kennedy đă bổ nhiệm Đại sứ Nolting, một nhà ngoại giao chuyên nghiệp, mềm dẻo, tế nhị qua Sài G̣n thay thế Đại sứ Durbrow vốn có thái độ bất măn với chế độ Diệm, với hy vọng ông Diệm có thể tiến hành những cải cách mà ông đă hứa hẹn. Đồng thời, Bộ Ngoại giao Mỹ làm áp lực mạnh mẽ với các nước tại Á Châu để các nước này nỗ lực nhiều hơn trong việc yểm trợ Việt Nam Cộng Ḥa gia nhập các định chế quốc tế và cụ thể là việc gia tăng giao thương với Việt Nam Cộng Ḥa, làm kích thích tố trong công cuộc phát triển kinh tế của miền Nam Việt Nam.

Nh́n lại giai đoạn đó, ta có thể nói rằng tuy chế độ Ngô Đ́nh Diệm do Tổng thống Eisenhower và Ngoại trưởng Foster Dulles khai sinh, nhưng việc nuôi dưỡng, bảo bọc, săn sóc, nuông chiều tận tâm chu đáo là do Tổng thống Kennedy và chính quyền của ông ta.

Tuy nhiên, mặc dù viện trợ Hoa Kỳ gia tăng dồi dào, t́nh h́nh Miền Nam vẫn như cơn bệnh trầm kha không cải thiện được phần nào trái lại càng ngày càng thêm trầm trọng. Trong năm 1962, chẳng những Việt Cộng tấn công các căn cứ quân sự, các quận lỵ, tỉnh lỵ, các ấp chiến lược khắp nơi mà c̣n tập kích vào các đoàn xe của Uỷ Hội Quốc tế, vào những đoàn công voa lớn của Việt Nam Cộng Ḥa gây thiệt hại nặng nề cho binh sĩ Việt Nam và Mỹ. Ngày 27 tháng 5 năm 1962, không lực Việt Nam Cộng Ḥa đă phải xuất trận đến 60 phi vụ, ném 100 tấn bom xuống một cơ sở Liên khu V ở ranh giới ba tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngăi, Kontum. Ngay giữa Thủ đô Sài G̣n, đặc công Việt Cộng liên tiếp gài chất nổ, đặt ḿn gây thiệt hại đáng kể cho các cơ sở Mỹ và Việt Nam Cộng Ḥa, tấn công bằng lựu đạn vào cả khu triển lăm chiến lợi phẩm của quân đội trước ṭa Đô Chính, nơi được canh pḥng vô cùng cẩn mật [8]. Cũng trong năm 1962, mặc dù Việt Cộng bị bất ngờ trước chiến thuật trực thăng vận của quân đội Việt Nam Cộng Ḥa với sự yểm trợ của thiết vận xa M113, thế mà tại đồng bằng sông Cửu Long, Việt Cộng vẫn dám mở các cuộc tấn công đánh phá những lực lượng hùng hậu của quân đội. Chính sách ngoại giao bất lực, vụng về của anh em ông Diệm đối với Lào và Cao Miên lại gây t́nh trạng môi hở răng lạnh cho miền Nam, tạo thêm sức mạnh cho Việt Cộng.

Trong năm 1962, t́nh h́nh miền Nam bất an đến nỗi phải băi bỏ nhiều cơ sở kinh tế ở những vùng xôi đậu như cơ sở khai thác nước suối Vĩnh Hảo ở Phan Rí, cơ sở khai thác tôm ở Long Hải, và phải xử dụng cả một tiểu đoàn Bộ Binh để bảo vệ công trường mỏ than Nông Sơn ở Quảng Ngăi mà khu công trường vẫn bất an. Mùa Thu năm 1962, ông Diệm cũng đành phải băi bỏ con đường hỏa xa Xuyên Việt mà ông mới khánh thành năm 1959, dân chúng phải giao thông bằng đường hàng không, quân đội phải di chuyển bằng Công Voa hoặc hàng không quân sự. Ngay cả than Cà Mau muốn đưa lên Sài G̣n mà cũng phải được chuyên chở bằng đường thủy và với chiến hạm của hải quân hộ tống... Năm 1962, Việt Cộng coi như đă làm chủ t́nh h́nh nông thôn đến nỗi trong một bài tường thuật, giáo sư danh tiếng Robert Scigliano đă phải than: “Vào năm 1962, Việt Cộng đă chiếm được 80% nông thôn của Việt Nam Cộng Ḥa” [9].

Miền Nam Việt Nam như lá dâu bị tằm gặm nhấm dần cho đến cuối năm 1962 th́ t́nh h́nh bi đát đến độ Tổng thống Diệm phải có những biện pháp hết sức quyết liệt để đối phó với Cộng Sản. Dù từ năm 1957, các Tỉnh tưởng đă được toàn quyền bắt bớ, giam cầm và năm 1959 thêm một đạo luật (10/59) với 21 điều khoản quy định tội tử h́nh cho những ai có liên hệ với Việt Cộng, một đạo luật mà các nhà viết sử tên tuổi của Hoa Kỳ đều phải nhắc đến [10], nhưng vẫn không ngăn được sức bành trướng của Việt Cộng, nên ông Diệm đă phải lấy thêm những biện pháp sau đây:

- Ngày 10 tháng 10 năm 1961, ông Diệm ban bố t́nh trạng khẩn cấp trên toàn lănh thổ Việt Nam Cộng Ḥa (sắc lệnh 209-TTP).

- Ngày 29 tháng 10 năm 1961, Quốc Hội ủy quyền đặc biệt cho Tổng thống ban hành các sắc luật trong t́nh trạng khẩn cấp (luật số 13/61).

- Ngày 25 tháng 11 năm 1961, Quốc hội lại ủy quyền cho Tổng thống về ngân sách an ninh và các biện pháp tài chánh (luật số 15/61).

- Ngày 7 tháng 12 năm 1961, Tổng thống Diệm gửi thư cho Tổng thống Kennedy xin tăng thêm viện trợ. Trong thư ông đă tŕnh bày cho Tổng thống Mỹ về sự nguy ngập của Việt Nam Cộng Ḥa cùng với sự lớn mạnh của Việt Cộng, và báo động việc Bắc Việt cho quân xâm nhập vào miền Nam. Ông Diệm cũng nêu lên việc Việt Cộng bắt cóc Đại tá Hoàng Thụy Nam; riêng tháng 10 đă có đến 1.200 vụ khủng bố với 2.000 thương vong cho Việt Nam Cộng Ḥa. Ông Diệm kết luận lá thư với lời lẽ vô cung bi thiết: “Nói tóm lại, Việt Nam Cộng Ḥa hiện nay đang phải đối đầu với một thảm họa lớn nhất trong lịch sử”. Bức thư của ông Diệm đă được Tổng thống Kennedy phúc đáp ngày 14 tháng 12 năm 1961, hứa sẽ giúp đỡ Việt Nam Cộng Ḥa để chống lại Cộng Sản, bảo vệ độc lập cho miền Nam [11].

- Ngày 31 tháng 3 năm 1962, ông Diệm gửi thông điệp cho 92 quốc gia trên thế giới yêu cầu ủng hộ Việt Nam Cộng Ḥa chống xâm lăng Cộng Sản, tố cáo Bắc Việt giật dây Cộng Sản miền Nam.

- Ngày 27 tháng 10 năm 1962, đặc quyền Tổng thống ban hành sắc luật về t́nh trạng khẩn cấp được Quốc Hội gia hạn kể từ 19 tháng 10 năm 1962 (sắc luật số 18/62).

Những biện pháp và những thông điệp kêu cứu trên đây cho thấy mới năm 1962 mà t́nh h́nh Việt Nam Cộng Ḥa đă nguy ngập như thế nào rồi.

Mặc dầu ông Diệm đă ban bố “t́nh trạng khẩn cấp” để cai trị bằng sắc luật, đă nắm hết vào trong tay toàn bộ quyền hành, và mặc dù viện trợ Mỹ gia tăng dồi dào, đặc biệt là đă dành một ngân khoản lớn giúp thực hiện quốc sách ấp chiến lược (một chương tŕnh mà cả Mỹ lẫn anh em ông Diệm đặt hết hy vọng có thể tiêu diệt được hạ tầng cơ sở địch, tiêu diệt lực lượng du kích địch) thế mà t́nh trạng miền Nam vẫn cứ mỗi ngày một thêm bi đát, nguy kịch. Thế rồi tháng Giêng năm 1963, thảm bại Ấp Bắc lại xảy ra chẳng những minh chứng rơ ràng sự yếu kém cả về khả năng lẫn tinh thần chiến đấu của quân lực Việt Nam Cộng Ḥa mà c̣n báo hiệu sự khủng hoảng chính trị thê thảm của miền Nam Việt Nam.

Ấp Bắc là một làng được chính quyền coi là an ninh v́ ở kế cận tỉnh lỵ Mỹ Tho, được bảo vệ bởi những Ấp Chiến Lược và chỉ cách Sài G̣n 50 cây số đường chim bay. Tháng Chạp năm 1962, t́nh báo Việt Nam Cộng Ḥa được tin một đại đội du kích Việt Cộng đang hoạt động tại đó. Đại tá Bùi Đ́nh Đạm, Tư lệnh Sư đoàn 7, và tướng Huỳnh Văn Cao, Tư lệnh quân khu 4, quyết định mở cuộc hành quân. Một lực lượng mạnh mẽ của quân lực Việt Nam Cộng Ḥa gồm nhiều tiểu đoàn Bộ Binh, Biệt Động quân, trực thăng CH21, thiết vận xa M113, Pháo binh, Bảo An tỉnh Định Tường và 51 cố vấn Mỹ tham dự trận đánh. Không ngờ khi chạm súng, lực lượng của ta bị thiệt hại nặng nề và khám phá ra rằng tại Ấp Bắc không phải chỉ có một đại đội du kích mà là Tiểu đoàn 514 của Việt Cộng có độ trên 400 người, cho nên khi bị thiệt hại quá nặng nề, Bộ Chỉ huy hành quân bèn gọi một Tiểu đoàn Dù đến cứu viện. Thay v́ nhảy xuống phía Đông để chận đánh địch th́ Tiểu đoàn Dù lại nhảy về phía Tây nên Việt Cộng lợi dụng trời tối rút lui an toàn. Kết quả về phía ta có 5 trực thăng bị phá hủy, 11 chiếc bị hư hại nặng, 65 binh sĩ Việt Nam Cộng Ḥa và 3 cố vấn Mỹ bị chết và vô số bị thương [12]. Trận Ấp Bắc, một thảm bại nhục nhă của quân đội Việt Nam Cộng Ḥa mà 3 nguyên do chính là sự bất lực của cấp chỉ huy, tinh thần bạc nhược của quân sĩ và sự ước lượng sai lầm của t́nh báo. Ngược lại, thảm bại đó cũng chứng tỏ rơ rệt sự trưởng thành về lực lượng và tinh thần quyết chiến của Việt Cộng tại Miền Nam.

Bi thảm hơn nữa là cấp lănh đạo Việt - Mỹ không chịu lấy Ấp Bắc để làm bài học quư giá cho quân đội để sửa sai, không chịu trừng phạt những cấp chỉ huy bất lực gây nên cuộc thảm bại để cho quân kỷ được nghiêm minh mà ngược lại, từ ông Diệm, bà Nhu đến tướng Harkins, Đại sứ Nolting lại vẽ vời ca ngợi trận Ấp Bắc là một chiến thắng của Việt Nam Cộng Ḥa. Trong lúc đó th́ trong nội bộ quân đội, chính Đại tướng Lê Văn Tỵ đă phải đích thân đến tại chỗ để điều tra và khiển trách Huỳnh Văn Cao (để rồi Cao lại đổ lỗi cho Bùi Đ́nh Đạm) và tất cả các cố vấn Mỹ tại trận địa đều phúc tŕnh trận đánh này như một thảm bại quân sự lớn của Việt Nam Cộng Ḥa. Đại tướng Tổng Tham mưu trưởng quân đội Việt Nam Cộng Ḥa đă phải kềm hăm ḷng tự ái để hỏi một cố vấn Mỹ: “Đại tá Vann, tại sao quân đội chúng tôi chiến đấu tồi tệ đến thế?” Sở dĩ có mâu thuận trong việc tuyên bố kết quả trận đánh là v́ ông Diệm muốn che dấu khả năng lănh đạo yếu kém của ḿnh, nhất là về phương diện bổ nhiệm các sĩ quan, c̣n người Mỹ cao cấp th́ che dấu sự thật trên mặt chính thức công khai để khỏi làm phật ḷng ông Diệm. Nhưng báo chí Mỹ, v́ không bị ràng buộc bởi những thủ đoạn chính trị đó nên nổi giận và phanh phui sự thật ra ánh sáng, tạo nên luồng dư luận công phẫn chống lại ông Diệm và chống lại chính phủ Mỹ. Nhiều nhà báo Mỹ lên án chính phủ của họ đă bỏ ra 400 triệu Mỹ kim, hy sinh 50 quân nhân Mỹ mà không thu lượm được ǵ ngoài sự từ chối của ông Diệm trong việc cải tiến chế độ, mặc dù chính ông ta đă hứa cải tiến để được nhận viện trợ Mỹ. Báo chí Mỹ lại c̣n phanh phui rằng trong lúc Việt Cộng đă chiếm hết nông thôn th́ sĩ quan Việt Nam Cộng Ḥa lại ngại ngùng không chịu thật tâm chiến đấu, do đó một số b́nh luận gia Mỹ đ̣i chính phủ của họ phải nắm lấy toàn quyền lănh đạo chiến tranh ở Việt Nam.

Phân tách về thảm bại Ấp Bắc cũng như về những thất bại của quân lực Việt Nam Cộng Ḥa trên toàn lănh thổ vào giai đoạn đó, ta thấy rằng yếu tố kỹ thuật và khả năng tác chiến chỉ là hệ quả tất nhiên của chính sách chọn lựa và sử dụng nhân lực sai lầm của dinh Độc Lập. Chính sách này, v́ bản chất “Cần Lao Công giáo” của nó, đă không chọn lựa sĩ quan theo tiêu chuẩn nào hơn là Công giáo và Cần Lao ! Cho nên quân đội không c̣n tinh thần chiến đấu, không c̣n muốn xông vào lửa đạn để hy sinh. Họ hy sinh cho ai và chết để làm ǵ, khi họ không được phục vụ cho Tổ Quốc mà chỉ phục vụ cho một thiểu số thống trị vốn đă thụ hưởng chán chê lại c̣n chủ trương kỳ thị, đàn áp tất cả các thành phần khác của dân tộc, nhất là tôn giáo và đảng phái.

Huỳnh Văn Cao, Bùi Đ́nh Đạm là những sĩ quan bất tài, nhưng chỉ v́ là người Công giáo lại có tài nịnh hót, bợ đỡ cho nên anh em ông Diệm đă trao vào tay họ cả một vùng đất trách nhiệm rộng lớn, một số dân đông đảo và một lực lượng quân sự lớn lao.

Khi c̣n chỉ huy sư đoàn 7 vào đầu năm 1962, nhờ trực thăng chiến đấu và thiết vận xa M113 mới được du nhập vào miền Nam làm cho Việt Cộng bỡ ngỡ lúc đầu, Cao thu hoạch được một số ít chiến thắng, mặc dù mỗi lần Việt Cộng rút lui, Cao không dám xua quân truy kích. Sau mỗi cuộc hành quân, Cao vội vă tổ chức lễ Tạ ơn Đức Mẹ tại nhà thờ rồi về ngay Sài G̣n khoe với ông Diệm lư do chiến thăng là nhờ Đức Mẹ chỉ dạy cho Cao hành quân nơi nào, bày binh bố trận ra sao? Cao biết găi vào chỗ ngứa của ông Diệm mỗi khi Cao dùng Đức Mẹ để mê hoặc ông ta. Những “chiến thắng” nhờ Đức Mẹ, những lễ Tạ Ơn đó Cao trắng trợn ghi vào tập Hồi Kư “Ḷng Ái Quốc” để khoe khoang.

Đức Mẹ đă bị Đại tá Lansdale “bắt di cư” vào Nam năm 1954, lại bị Cao “bắt đi đánh giặc” vào những năm 1962-1963, bây giờ ra hải ngoại, vài tờ báo của “Cần Lao” lại bắt Đức Mẹ làm thầy bói khi họ đăng tin Đức Mẹ hiện ra ở nhà thờ Fatima ở cầu B́nh Triệu để chỉ cho giáo dân biết đến năm 1980-1981 th́ Cộng Sản sẽ bị tiêu diệt hết, và miền Nam sẽ thanh b́nh!

Trong lúc Cao bày tṛ đưa Đức Mẹ ra để mê hoặc ông Diệm và các linh mục địa phương với ư đồ sử dụng các vị này như một hệ thống tuyên truyền đến tai anh em ông Diệm, bày tṛ tổ chức mừng chiến thắng và đề nghị với ông Diệm cho kéo quân diễn hành tại các đường phố Sài G̣n để khoe khoang công trạng, th́ Bùi Đ́nh Đạm lại không phải là thứ người sinh ra để cầm quân tác chiến v́ Đạm chỉ biết nghề kế toán, Đạm chỉ có tài vâng lời Huỳnh Văn Cao, và theo kư giả Halberstam, lúc ngồi trong máy bay đi hành quân, Đạm chỉ biết nhắm mắt lâm râm cầu nguyện Đức Mẹ phù hộ cho Đạm được an lành mà thôi [13].

Quân đội Việt Nam Cộng Ḥa nhất định không phải là quân đội bạc nhược, quân đội Việt Nam Cộng Ḥa đă có những Nguyễn Khoa Nam, Nguyễn Hữu Thanh, Lê Văn Hưng, Phạm Phú Quốc, Trần văn Hai, Nguyễn Bá Liên và vô số anh hùng khác. Quân đội Việt Nam Cộng Ḥa đă nêu cao tên tuổi nơi “Quảng Trị vùng lên”, nơi “B́nh Long anh dũng”, nơi “Kontum kiêu hùng” và vô số chiến công khác, quân đội Việt Nam Cộng Ḥa đă lẫy lừng với “Mùa hè Đỏ Lửa”, với “Tết Mậu Thân” v.v... nhưng cũng chính quân đội đó vào năm 1963 đă khuất thân chịu thảm bại ở Ấp Bắc v́ bị những cán bộ Cần Lao chỉ huy, bị một ông Tổng thống không biết chọn người để trao việc, và v́ bị một chế độ Công giáo trị đàn áp, chèn ép làm cho toàn dân căm thù.

Viết về Huỳnh Văn Cao, tướng Westmoreland cho biết:

Cao nói với tôi rằng Cao không tin một người Việt Nam nào cả ngoài vợ y. Cao viết cho tôi xin xỏ được vào dân Mỹ hay gia nhập binh chủng Thủy quân Lục chiến hay Bộ binh để chống Cộng bất kỳ ở đâu trên thế giới [14].

Một kẻ từng làm mật thám cho Pḥng Nh́ Pháp tại Đồng Hới, làm tay sai cho đàn em tướng Hinh lúc ở Khánh Ḥa, một kẻ chuyên nịnh hót Mỹ, rồi lại xin làm lính đánh thuê người ngoại quốc, thế mà nhóm Công giáo Cần Lao tôn vinh vào hàng Thần tượng, anh em ông Diệm lại đưa lên đến chức Tư lệnh Quân đoàn nắm sinh mạng quân dân cả vùng Tiền Giang và Hậu Giang th́ chế độ Diệm đúng là vừa đui vừa điếc. Tài không, đức không, can trường cũng không, kiến thức cũng không, đầu óc chỉ mưu mô làm Việt gian phản quốc để vinh thân ph́ gia, thế mà qua đến thời Đệ Nhị Cộng Ḥa, Công giáo Cần Lao vẫn đưa Cao lên làm Nghị sĩ, làm chính trị gia, tiêu biểu cho giới lănh đạo quốc gia th́ miền Nam rơi vào tay Cộng Sản là đúng quá rồi c̣n ǵ ?

Nh́n lại cuộc chiến đấu từ đầu Xuân 1963, t́nh h́nh miền Nam quả thực đă đi vào tuyệt lộ, mặc dù lúc bấy giờ quân đội đă được gia tăng hùng hậu và viện trợ Mỹ vẫn ào ạt đổ vào. Bernard Fall cho biết rằng vào đầu năm 1963, dưới chế độ Diệm, con số chính xác của quân đội Việt Nam Cộng Ḥa gồm có 225.000 binh sĩ chính quy, 100.000 Bảo An, 90.000 Địa phương quân, 85.000 Dân vệ... tất cả là 500.000 người [15].

Với một nửa triệu quân, chưa kể 100.000 nhân viên Công an, Cảnh sát, Cảnh sát dă chiến, nhân viên An Ninh xă, ấp, chưa kể sự hiện diện của 16.000 binh sĩ Mỹ, đoàn cố vấn người Úc, thế mà với lực lượng hùng hậu đó t́nh h́nh miền Nam đă vô phương cứu chữa nếu không có quân đội đồng minh nhập cuộc sau này. Dennis Warner, một kư giả tiếng tăm người Úc được kư giả Hoa Kỳ, ngay cả Berner Fall cũng phải kính trọng, đă nói rằng: “Năm 1963, tướng lănh Mỹ gặp khó khăn về t́nh h́nh chiến sự tại đồng bằng sông Cửu Long cũng giống như năm 1951-1952, tướng lănh Pháp gặp khó khăn về t́nh h́nh chiến sự tại đồng bằng sông Hồng Hà”. Năm 1951-1952, t́nh h́nh chiến sự Bắc Việt nguy kịch đến độ chính phủ Pháp phải cử danh tướng số một của họ qua cầm quân ở Đông Dương. Và tuy danh tướng De Lattre De Tassigny có thu lượm được vài chiến thắng lúc đầu như vụ chận đứng quân của tướng Vơ Nguyên Giáp tại Vĩnh Phúc Yên chẳng hạn, nhưng sau đó t́nh h́nh đă trở nên tồi tệ đến nỗi De Lattre phải thu quân về cố thủ sau dăy chiến lũy khu tam giác nhỏ hẹp miền Trung châu mà vùng đó vẫn mỗi ngày một ung thối thêm. Lời ví von của Dennis Warner cho thấy toàn thể lănh thổ miền Nam vào năm 1963 cơ hồ đă nằm trong tay Việt Cộng ngoại trừ những đô thị và những tỉnh lỵ. Và ngay cả trong những khu an toàn này, cán bộ nội thành của Việt Cộng cũng đă lộng hành, phá hoại hoăc xâm nhập làm nội tuyến nằm vùng trong các cơ sở của chính quyền.

Đă thế, đầu mùa hè 1963, chế độ Diệm lại bị rơi vào một cuộc khủng hoảng chính trị v́ biến cố Phật giáo, một biến cố do chủ trương kỳ thị tôn giáo của chính anh em ông Diệm gây ra, làm cho quân đội (Nhảy Dù và Thủy quân Lục chiến), Công An Cảnh Sát, An Ninh Quân đội bị huy động vào việc bao vây các chùa chiền, vào việc đàn áp các phong trào nổi dậy của sinh viên và Phật tử. Bộ máy cai trị lúc bấy giờ chỉ chú tâm vào việc đối phó với t́nh h́nh chính trị nội bộ đă tạo ra nhiều sơ hở an ninh cho Cộng Sản lợi dụng gia tăng hoạt động, xâm nhập thêm người, thêm vũ khí vào miền Nam. Cho nên sau khi chế độ Diệm bị lật đổ th́ vào những năm 1964-1965, chiến tranh miền Nam dĩ nhiên phải trở nên sôi động hơn v́ lực lượng Cộng Sản đă được gia tăng nhiều hơn từ những năm trước. (ở đây tôi chưa đề cập đến những yếu tố khác như những xáo trộn chính trị, những âm mưu của Cần Lao sau khi ông Diệm bị lật đổ).

T́nh h́nh miền Nam từ 1961 đến 1963 trầm trọng đến độ ông Diệm đă phải kêu gọi 92 nước ủng hộ, đă phải nhờ thêm phái đoàn quân sự Úc đến giúp đỡ, đă phải báo cáo với Tổng thống Kennedy là “Việt Nam Cộng Ḥa đang phải đối đầu với thảm họa lớn nhất trong lịch sử”, thế mà sau khi ông Diệm bị lật đổ, nhóm Cần Lao lại cho rằng nếu ông Diệm c̣n cầm quyền th́ miền Nam đă chiến thắng được Cộng Sản rồi. Tiếc thay trong nhóm Cần Lao đưa ra luận điệu đó, đưa ra những lời buộc tội cuộc đảo chánh 1-11-1963 lại có cả một người bạn cũ, một người đồng hương cùng tỉnh, cùng phủ với tôi, đó là cựu Trung tá Nguyễn Văn Châu (hiện ở Pháp).

Trung tá Châu theo ông Diệm từ năm 1946, là lănh tụ Quân ủy Đảng Cần Lao, giám đốc Nha Chiến Tranh Tâm Lư từ năm 1957, Tổng thư kư Mặt Trận Nhân Dân Chống Phiến Cộng sau vụ đảo chánh của Nhảy Dù cuối năm 1960. Với tất cả thành tích của một “Đại công thần” như thế, lại được tất cả các anh em ông Diệm thương yêu tin cậy, thế mà Châu lại vận động để bỏ nước, bỏ chức vị ra đi, trong khi Châu đang ngồi trên quyền uy và tiền bạc. Lại nữa, vào năm 1962, những khó khăn, rối rắm, hiểm nguy của quốc gia và chế độ đang cần sự hiện diện của một thành phần trung kiên, hăng hái hoạt động như Châu bên cạnh các lănh tụ và đảng Công giáo Cần Lao thay v́ đi làm Tùy viên quân sự tại Hoa Kỳ, một nhiệm sở không phù hợp với khả năng của Châu.

Sự thật th́ sau bao nhiêu biến cố bất lợi liên tiếp xảy ra cho đất nước và chế độ, Châu cảm nhận được chế độ đang trên đà suy vong mà Châu đă cố gắng cùng với các ông Lư Trung Dung, Lê Văn Thái t́m phương cứu chữa bằng “Hội Nghị đoàn kết” nhưng lại bị ông Nhu khinh thường bác bỏ. Châu thất vọng hoàn toàn, nh́n thấy cơn bệnh trầm kha của chế độ đă vô phương cứu chữa. Hơn ai hết, Châu biết thế nào chế độ cũng bị lật đổ mà Châu sẽ là cái bia đầu tiên cho Cách mạng nhắm bắn, Châu phải ra đi, phải xa quê hương để tránh một cuộc trả thù. Tâm sự này Châu bộc bạch với tôi vào tháng 4 năm 1963, khi tôi gặp Châu tại Hoa Thịnh Đốn.

Sự kiện đầu năm 1963 Châu cố vận động xin đi làm Tùy viên Quân sự tại Hoa Kỳ để lánh xa quê hương, lánh xa chế độ đă đủ nói lên t́nh thế chế độ Diệm chênh vênh như ngọn lá vàng chỉ chờ một cơ gió nhẹ lay động là rụng xuống.

Nếu chỉ có thế th́ cũng có thể khen Châu là khôn ngoan, thức thời nhưng điều cần phải nói lên để làm sáng tỏ lịch sử là sau khi chế độ Diệm bị lật đổ, Châu lại ca ngợi chế độ mà Châu đă chạy trốn, lại c̣n chỉ trích những người đă lật đổ nó.

Sự ra đi này chỉ được đánh giá như một hành động đào ngũ khỏi chế độ, khỏi nơi nương tựa đă bắt đầu lung lay, khác hẳn với trường hợp của công thần Nguyễn Thái, giám đốc Việt Tấn Xă, cũng ra đi v́ muốn cảnh cáo một chế độ đang đi ngược ḷng dân.

Ngược lại với ông Nguyễn Văn Châu, chính Vơ Văn Hải cũng nắm vững t́nh h́nh quốc gia, t́nh h́nh chế độ Diệm, cũng đă biết trước “phép lạ không xảy ra hai lần” cho chế độ Diệm sau biến cố Nhảy Dù năm 1960, nhưng Hải không ra đi và sau khi chế độ Diệm bị lật đổ, Hải không bao giờ tham dự những buổi cúng kỵ do Cần Lao tổ chức tại nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi. Hải chỉ âm thầm nhớ thương ông Diệm v́ t́nh nghĩa thầy tṛ gần 20 năm trời, nhưng Hải không bao giờ lên án cuộc lật đổ ông Diệm ngày 1-11-1963 v́ Hải biết trước được việc phải đến sẽ đến. Trái lại Hải c̣n ủng hộ Dương Văn Minh, người đă từng cầm đầu cuộc đảo chánh ông Diệm.

Cũng cần phải nói thêm rằng tháng 10 năm 1963, sau cuộc tấn công chùa chiền đêm 20 tháng 8, Châu tưởng rằng anh em ông Diệm đă làm chủ được t́nh h́nh nên Châu xin về nước tham quan một chuyến, không ngờ Cách mạng 1-11-1963 xảy ra, Châu bị Hội đồng Tướng lănh nhốt vào khám Chí Ḥa. Sau một tuần lễ tôi mới can thiệp được để trả tự do và giúp Châu trở lại Hoa Kỳ. (Đồng thời tôi cũng can thiệp trả tự do cho Trung tá Nguyễn Ngọc Khôi, cựu Tư lệnh Lữ đoàn Pḥng Vệ và Trung tá Phạm Thu Đường, bí thư của ông Ngô Đ́nh Nhu).

Trở lại Hoa Kỳ, Châu bị cách chức tùy viên quân sự v́ bất tuân lệnh hồi hương của chính phủ Việt Nam Cộng Ḥa. Châu bèn trốn qua Pháp để tránh lệnh dẫn độ của Chính phủ Hoa Kỳ. Qua Pháp, Châu trở cờ chạy theo Cộng Sản Việt Nam tại Pháp. Biết được hành tung phản bội của cựu Trung tá Nguyễn Văn Châu, nhân một chuyến du hành tại Âu Châu, khi về Mỹ, tướng Nguyễn Chánh Thi bèn cho phổ biến một bức thư luân lưu để cảnh giác anh em cựu quân nhân tại Hải Ngoại. Tuy vậy, càng ngày Châu càng lún sâu vào con đường phản bội quốc gia và trung thành với chế độ Hà Nội. Một mặt Châu viết lại cuốn “Bên ḍng Lịch Sử” của Linh mục Cao Văn Luận với rất nhiều đoạn tâng bốc Cộng Sản và Hồ Chí Minh. Mặt khác Châu viết cuốn “Nỗ Lực Ḥa B́nh dang dở của Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm” lên án tướng lănh đảo chánh đă làm cho cuộc bắt tay với Hà Nội của các ông Diệm, Nhu bất thành. Thế mà Công giáo Cần Lao vẫn có kẻ bênh vực Nguyễn Văn Châu và khen ngợi cuốn sách thân Cộng của Châu!

Nêu trường hợp của ông Nguyễn Văn Châu ra đây, tôi chỉ muốn dẫn chứng thêm rằng, dưới chế độ Diệm t́nh h́nh miền Nam của năm 1963 đă tuyệt vọng hoàn toàn (đến nỗi một trung thần như Nguyễn Văn Châu mà cũng phải đào thoát t́m đường sống) và khi ông Diệm chết đi, đă để lại một hậu quả nguy kịch và tệ hại cho những chế độ kế tiếp.

Trên mặt an ninh quốc gia, hay một cách đặc thù hơn, trên mặt quốc pḥng, hai năm 1961 và 1962 đă là hai năm khốn đốn cho chế độ, nhưng khía cạnh đó cũng chưa đủ để cho miền Nam sau này hoàn toàn kiệt quệ và buông súng đầu hàng vào mùa Xuân 1975.

Phải có những yếu tố khác sâu sắc hơn, trầm trọng hơn đă làm hủy hoại sinh lực của dân tộc, đă làm tiêu hủy mọi nỗ lực tội nghiệp của nhân dân miền Nam trong cuộc chiến đấu chống Cộng Sản.

Những yếu tố đó là sự băng hoại xă hội do hệ thống tham nhũng có kế hoạch và có chỉ đạo của vợ chồng Ngô Đ́nh Nhu, Ngô Đ́nh Thục, Ngô Đ́nh Cẩn; và chính sách kỳ thị tôn giáo có chủ trương và có sách lược của ḍng họ Ngô Đ́nh mà tôi sẽ tŕnh bày trong các chương tiếp. V́ hai yếu tố đó có tính cách văn hóa nên bao trùm mọi sinh hoạt của xă hội và tác dụng lên mọi kích thước sinh sống của người dân, cho nên chính hai yếu tố này đă là những loại độc dược góp phần tiêu hủy chế độ trong cấp kỳ, và chậm răi mà chắc chắn đánh gục quốc gia trong lâu dài.


 


[1] Bernard C. Nalty, Rival Ideologies in Divided Nations (Vietnam War), tr. 62.

 [2] Nguyễn Tường Thiết, Nhất Linh Cha Tôi, trong tuần báo Đồng Nai (số 110 ngày 27-7-1985)

[3] Trần Tương, Biến Cố 11-11-1960, tr. 584.

[4] George Chaffard, Les Deux Guerres du Vietnam, tr. 313.

 [5] Lyndon B. Johnson, The Vantage Point, tr. 52-53.

[6] William Hammond, US Intervention And The Fall Of Diem (Vietnam War), tr. 64.

 [7] Nguyễn Khắc Ngữ, Những ngày Cuối Cùng của Việt Nam Cộng Ḥa, tr. 383.

[8] William Hammond, US Intervention And The Fall Of Diem (Vietnam War), tr.65, 66.

[9]  Robert Scigliano, Vietnam, A Country At War.

[10]  Marvin E, Gettleman, Vietnam History, Documents and Opinions, tr. 256-260.

[11] Marvin E, Gettleman, Vietnam History, Documents and Opinions, tr. 206-209.

[12]  Để biết toàn bộ chi tiết trận Ấp Bắc, xem “The Making of a Quagmire” của David Halberstam, tr. 147-162. Ngoài ra, có thể đọc “The Bright Shining Lie” của Neil Sheihan đă được dịch ra Việt ngữ dưới nhan đề “Sự Lừa Dối Hào Nhoáng”.

 [13] David Halberstam, The Making Of A Quagmire, tr. 147-162.

[14]  William Westmoreland, A Soldier Report, tr. 173.

[15]  Bernard Fall, Vietnam Witness, tr. 307.

 

 
 

<<  First   

 <  Previous

Next  >

  Last >>
 

Design by GDOL - 2008