| |
Lời
Giới thiệu của
NXB
Lời Mở đầu
* * *
Chương 01
Chương 02
Chương 03
Chương 04
+ H́nh ảnh 1
Chương 05
Chương 06
Chương 07
Chương 08
Chương 09
Chương 10
Chương 11
Chương 12
Chương 13
Chương 14
Chương 15
Chương 16
Chương 17
Chương 18
Chương 19
Chương 20
THƯ
MỤC
PHỤ LỤC
Phụ lục A
Phụ lục B
Phụ lục C
Phụ
lục D
Phụ lục E
Phụ lục F
+ H́nh ảnh 2
* * *
|
NHỮNG THẤT BẠI
TIÊU BIỂU CỦA CHẾ ĐỘ
Sự kiện đạo luật Gia Đ́nh được thông qua đă mang
lại một sự tái phối trí quan trọng trong cơ cấu lănh đạo tối cao của gia tộc
Ngô Đ́nh, nghĩa là cũng của chế độ. Hơn ai hết, bà Nhu đă nắm được ư nghĩa
và giá trị của thắng lợi then chốt này, không phải thắng lợi v́ đă áp lực
cho người anh rể phải bỏ nước ra đi để cho chị ruột ḿnh là bà Trần Thị Lệ
Chi từ nay có thể ung dung sống cuộc đời vương giả với người t́nh mắt xanh
mũi lơ, mà thắng lợi đó có tầm vóc chính trị sâu sắc tại quốc hội với các
bạn đồng viện, và quan trọng hơn cả là, từ nay, bà có đầy đủ uy quyền để
tham dự vào những quyết định quan trọng của bộ năo chế độ.
Cho nên sau Đạo Luật Gia Đ́nh, bà Nhu bèn xúc tiến
việc thành lập Phong Trào Phụ Nữ Liên Đới. Ngày 20 tháng 5 năm 1958,
tại nghị trường Quốc hội, bà Nhu chính thức kêu gọi đoàn viên của Liên Đoàn
Công Chức (một tổ chức do ông Nhu thành lập) hăy cho vợ của họ tham gia
Phong Trào Phụ Nữ Liên Đới.
Tuy những văn kiện chính thức của phong trào – trên
mặt lư thuyết – có một nội dung tương đối tiến bộ, nhưng chính sự tiến bộ đó
cũng không phản ảnh được thực trạng Việt Nam lúc bấy giờ, đó là chưa nói đến
chương tŕnh hành động của Phong Trào th́ lại càng không phù hợp với những
nhu cầu cấp thiết của xứ sở trong giai đoạn đó. Nhưng điểm thất bại lớn nhất
của Phong Trào không phải chỉ v́ tính chất lư thuyết thiếu thực tế đó mà đặc
biệt v́ người khai sinh ra nó, tuy là một người có quyền lực lớn lao nhưng
lại không có đủ đức độ và khả năng lănh đạo để thúc đẩy cho
Phong trào hoạt động.
Cho nên Phong Trào Phụ Nữ Liên Đới ở cấp trung ương
chỉ gồm phu nhân của các vị Bộ trưởng, Dân biểu và Tổng giám đốc mà không
thấy sự tham dự của vợ các vị giáo sư Trung Đại học hoặc các nhà làm văn
hóa. Về phía quân đội cũng chỉ thấy vợ của tướng Nguyễn Văn Là, vợ của Đại
tá Cao Văn Viên và vợ của Đại tá Tạ Xuân Thuận mà thôi. Trong khi phát triển
phong trào ra miền Trung, bà Nhu đă bị ông Cẩn cản trở mạnh mẽ đến nỗi cuối
cùng đích thân ông Diệm phải can thiệp và c̣n cam kết sẽ sa thải bác sĩ Trần
Kim Tuyến khỏi chức vụ Giám đốc sở Nghiên cứu Chính Trị như một điều kiện
thương thảo, “Chú Cẩn” mới chịu để cho Phong trào thành lập cơ sở tại một số
tỉnh miền Trung như Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang… mà chủ tịch tỉnh bộ, dĩ
nhiên, lại là các bà Tỉnh trưởng với ủy ban trung ương gồm các bà Trưởng ty,
các bà Tiểu khu trưởng và vợ một vài vị thương gia giàu có.
Trên mặt quần chúng, rơ ràng phong trào này không
được hưởng ứng của nhân dân v́ h́nh bóng bà Nhu, người sáng lập và lănh đạo
phong trào, đă không gây được niềm tin và sự thương kính của đồng bào. Đó là
chưa nói đến bản chất “chính quyền” của phong trào này trên mặt nhân sự, từ
thượng tầng trung ương đến hạ tầng cơ sở. Trong số những bà tham dự vào
phong trào này, ít bà ư thức được đúng đắn nhiệm vụ xă hội và chính trị của
đoàn thể ḿnh, mà đa số hoặc v́ nghe theo lời chồng để bảo đảm sự an toàn
điạ vị của chồng, và số c̣n lại th́ bám theo oai lực của bà Nhu để có chút
danh ǵ với thiên hạ.
Trong nhiệm kỳ thứ nh́ của quốc hội vào tháng 8 năm
1959, trong lúc hai ông Phan Khắc Sửu và Phan Quang Đán dù đă đắc cử hàng
đầu tại Sài G̣n mà vẫn trắng trợn bị xóa tên, th́ Phong Trào Phụ Nữ Liên Đới
lại có tới 9 bà đắc cử Dân biểu: Các bà Ngô Đ́nh Nhu, Hồ Thị Chi, Nguyễn Thị
Minh, Nguyễn Kim Anh, Nguyễn Thị Xuân Lan, Phan Thị Nguyệt Minh, Nguyễn Thị
Vinh, Huỳnh Ngọc Nữ và Ngô Thị Hoa (chín nữ Dân biểu trong tổng số 123 Dân
biểu của một quốc gia 15 triệu dân quả thật là quá nhiều và đă nói lên cái
áp lực nặng nề của bà Nhu khi ta so sánh với chỉ 20 nữ đại biểu trên gần 500
vị dân cử của lưỡng viện quốc hội trong một quốc gia dân chủ 270 triệu dân
mà phái nữ đă được giải phóng tối đa như tại Hoa Kỳ). Trong một phúc tŕnh
tôi nhận được từ miền Trung, cán bộ của nha An Ninh Quân Đội đă báo cáo về
một luận điệu tuyên truyền mới của Việt Cộng gồm 4 chữ “âm thịnh dương
suy” để đánh mạnh vào niềm tin thần bí của quần chúng thôn quê về sự sụp
đổ tất yếu của chế độ khi quá nhiều đàn bà thứ “gà mái gáy” trong chính
quyền và quốc hội.
Người ta không thấy Phong Trào Phụ Nữ Liên Đới có
những hoạt động thiết thực và lâu dài nào để đóng góp cho công cuộc cứu nước
và dựng nước mà chỉ thấy những hoạt động tượng trưng, nặng phần tŕnh diễn,
để được quay phim tuyên truyền một cách rất phản tác dụng. Thỉnh thoảng ta
lại thấy các bà đi phát gạo phát tiền sau các vụ hỏa hoạn, khi mà các anh em
trong các đoàn Hướng Đạo, trong Gia Đ́nh Phật Tử hoặc các bộ phận y tế đă
khai quang an toàn và sạch sẽ các đổ vỡ khổ đau. Vào dịp Tết, các bà lại đến
Quân Y Viện phát quà cho thương bệnh binh, nhưng mỉa mai và đau đớn thay,
trong khi đi làm “công tác xă hội” th́ các bà vẫn ăn diện sang trọng, điểm
trang lộng lẫy bên cạnh các thân thể què quặt và những thảm trạng nghiệt ngă
của các nạn nhân. T́nh cảnh mỉa mai và đau đớn của những quân nhân thương
phế này đă biến thành t́nh cảm uất hận và họ đă gọi những công tác “từ
thiện” này của Phong Trào Phụ Nữ Liên Đới là công tác “xoa dầu cù là”.
Ngoài những công tác phô trương phải có này th́
nhiệm vụ tối quan trọng của các bà là phải có mặt đông đủ tại pḥng Đại Sảnh
của phủ Tổng thống, trong cái không khí mát rượi từ những máy điều ḥa không
khí lớn, để nghe bà chủ tịch Ngô Đ́nh Nhu đọc diễn văn hay ban huấn từ về
những “thành quả cách mạng” của chế độ như chủ trương nam nữ b́nh quyền để
giải phóng phụ nữ, chủ trương cộng đồng đồng tiến để cải tiến dân sinh, và
nhất là để cải chính dư luận đă chỉ trích cá nhân bà nói riêng và chế độ Ngô
Đ́nh Diệm nói chung. Những buổi hội họp này lên đến cao điểm vào ngày lễ Hai
Bà Trưng, khi mà ít nhất trên mặt h́nh thức, các bà chiêm ngưỡng bà Nhu phát
huy tối đa uy quyền danh vọng của ḿnh trong chiếc ghế bành vàng với lọng
xanh lọng đỏ, cờ vàng cờ tím trên khán đài danh dự.
Thành quả thực sự của Phong Trào Phụ Nữ Liên Đới do
bà Nhu tạo dựng là một tập thể vào khoảng 100 bà trong gần 8 triệu phụ nữ
Việt Nam tính khắp cả nước, mà quyền cũng như quư đều thuộc giai tầng thượng
lưu xă hội, cách biệt hẳn với thành phần phụ nữ hạ lưu và chị em sinh viên
học sinh vốn chiếm tuyệt đại đa số trong quần chúng miền Nam. Lại càng cách
biệt hẳn và đối nghịch với giai cấp phụ nữ ở thôn quê, vốn trọng lễ nghĩa và
có tâm t́nh mộc mạc, nên phong trào này chỉ đào sâu thêm hố chia rẽ giữa
chính quyền và quần chúng, giữa thành thị và thôn quê, giữa người giàu và kẻ
nghèo… tạo điều kiện thuận tiện cho cán bộ Cộng Sản tuyên truyền xúi giục
chồng, cha, anh, em đào ngũ theo Mặt Trận hay ở lại làm nội tuyến trong quân
đội hoặc trong bộ máy công quyền.
Cũng phải nhận rằng có một số rất hiếm các bà gia
nhập phong trào này hoặc v́ bị bắt buộc hoặc v́ quả thật muốn đóng góp cho
xă hội. Nhưng cơ cấu tổ chức của phong trào, vị trí chính trị xă hội của
phong trào và hiện thực xă hội miền Nam lúc bấy giờ không cho phép phong
trào này hiện diện, lại càng không dung thứ cho phong trào này phát triển.
Nhưng đứng trên những yếu tố đó, nếu bà Nhu biết giữ phong cách dung và ḥa
của người phụ nữ Việt Nam, biết giữ lối hành xử tiết và nghĩa của người phụ
nữ Việt Nam, và nhất là biết thông cảm, chia sẻ với tâm t́nh và nhiệm vụ
đích thực của một phụ nữ Việt Nam lúc bấy giờ, th́ đă làm ǵ có một cái quái
thai như phong trào đó, vô t́nh tạo thêm một nhược điểm lớn cho một chế độ
đang bại hoại đi sâu vào những đợt khủng hoảng sắp tới.
Sau Phong Trào Phụ Nữ Liên Đới mà chức năng và hoạt
động của nó luôn luôn đă là một đề tài đàm tiếu của quần chúng, bà Nhu thừa
thắng xông lên để khai sinh hai tổ chức mới: đoàn thể Thanh Nữ Cộng Ḥa
và lực lượng Phụ Nữ Bán Quân Sự.
Theo lời tuyên bố của bà Nhu th́ mục đích của lực
lượng này là “để sát cánh chia sẻ hiểm nguy gian lao với các chiến sĩ trên
chiến trường”, và chỉ tiêu nhân sự phải đạt là 1.500 phụ nữ có vơ trang như
đạo Nữ Quân Nhân của vợ Năm Lửa trước kia. Những lời tuyên bố đó, nếu không
phải là những bộc phát chính trị nông nổi lúc đầu th́ cũng là một lời ngụy
ngôn để mị dân và ve văn giới quân nhân v́ quả thật từ ngày thành lập tổ
chức này, chúng ta chưa bao giờ thấy những đoàn viên Thanh Nữ Cộng Ḥa ra
tiền tuyến chia bùi sẻ ngọt với anh em binh sĩ. Cũng may là họ không được
gởi ra nơi chiến địa v́ nếu họ đến th́ đơn vị nào được chiếu cố lại phải mất
công chia quân bảo vệ cho họ. Đó là chưa nói đến việc làm công phẫn lực
lượng Nữ Quân nhân, bộ phận âm thầm nhưng hiệu dụng của quân đội Việt Nam
Cọng Ḥa.
Trong suốt mấy năm hiện diện, hai tổ chức này chỉ
làm hai loại công tác: mặc đồng phục diễn hành vào những ngày lễ lớn, và tập
cơ bản thao diễn hoặc tác xạ tại vận động trường Hoa Lư hoặc vườn chơi Thị
Nghè. Chỉ có vậy thôi nhưng lúc nào cũng được bà Nhu đề cao như là một thành
quả của cuộc Cách mạng Nhân vị nhằm giải phóng phụ nữ. Chi phí cho “đoàn
quân” này chắc chắn là do ngân quỹ quốc gia đài thọ, và sự vô dụng trơ trẽn
của nó, lẽ tất nhiên, chế độ phải gánh chịu.
Điều đặc biệt là trong các buổi thực tập tác xạ mà
có ái nữ của ông bà Nhu là Ngô Đ́nh Lệ Thủy tham dự th́ thế nào cô ta cũng
là đệ nhất thiện xạ, và thế nào chỉ nội tuần sau, Bộ Thông Tin của chế độ
lại cho tŕnh chiếu dung nhan của cô Lệ Thủy trên khắp các màn ảnh chiếu
bóng của Đô Thành. Tôi không tin rằng chỉ tham dự những buổi huấn luyện bữa
có bữa không mà Lệ Thủy lại có thể trở thành thiện xạ, nhưng điều đó nếu có
cũng không đáng buồn cười. Điều buồn cười và lố lăng là từ những sinh hoạt
vô ích và hài hước như thế, Bộ thông tin của chế độ (hẳn v́ phải làm hài
ḷng ông bà Cố và ông Bác Tổng thống) đă cho tŕnh chiếu khắp nơi h́nh ảnh
đó khi mà cả nước đều biết chắc chắn và rơ ràng rằng sau những buổi tŕnh
diễn như thế, cô Lệ Thủy lại đi học trường đầm bằng xe Mercedes có cận vệ hộ
tống, và thỉnh thoảng lại ngao du nước ngoài chứ chẳng bao giờ nghĩ đến
chuyện “sát cánh chia sẻ nguy hiểm gian lao với chiến sĩ trên chiến trường”.
Cũng từ ngày bà Nhu chủ trương chuyện biểu dương
con gái của ḿnh th́ những tin đồn về thái độ kênh kiệu của Lệ Thủy trong
lớp học, tin Lệ Thủy thi hỏng vào trường Y Khoa đến nỗi ông bà Cố vấn phải
làm áp lực với ông Khoa trưởng để cô ta được thu nhận, tin Lệ Thủy khinh
thường con trai Việt Nam… được lan truyền trong quần chúng thủ đô và dân làm
báo. Những tin này không biết xác thực đến đâu, nhưng sự loan truyền của
loại tin này đă nói lên rất nhiều cái t́nh cảm quần chúng đối với gia đ́nh
họ Ngô: t́nh cảm công phẫn và khinh bỉ một gia đ́nh đứng đầu quốc gia mà đức
hạnh th́ thua người dân dă b́nh thường.
V́ quan niệm sai lầm về việc xây dựng uy tín và
quyền lực, v́ xem thường óc phê phán và truyền thống đạo đức Đông Phương cho
nên những việc làm của bà Nhu càng ngày càng làm cho bà bị quần chúng và
chính giới căm thù. Không phải nhờ cái áo hở ngực, cái ghế bọc lụa vàng có
lọng che, cuốn phim tŕnh chiếu trên màn ảnh hay các bài diễn văn đầy những
huyễn từ hoa mỹ mà người ta có thể xây dựng được sự kính trọng và cảm phục,
để từ đó đi đến sự hợp tác và thương mến. Cũng không phải nhờ cái thế em dâu
Tổng thống, Đệ nhất phu nhân, Dân biểu quốc hội, hay thủ lănh Thanh Nữ Cộng
Ḥa mà người ta có thể xây dựng được uy tín và niềm tin, để từ đó phát động
những chủ trương của ḿnh. Chính v́ không biết như thế, chính v́ trước hết
tự bản chất ngạo mạn và ham danh vọng, rồi sau đó v́ được nâng niu bởi những
lời tâng bốc nịnh bợ, nên bà Nhu đă trở thành một loại ác phụ trước mặt nhân
dân Việt Nam, trở thành một thứ “Rồng cái” (Dragon Lady) trước mặt
công luận thế giới.
Cai trị cốt lấy nhân tâm làm đầu. Nhất là cai trị
để chống Cộng Sản th́ phải lấy sự thu phục nhân tâm làm quốc sách, bà Nhu và
cả gia đ́nh họ Ngô xem thường quy luật gia bảo này của lịch sử cách mạng
Việt nên bị dân tộc khước từ là chuyện sẽ phải xảy ra.
Ngoài ba tổ chức chính trị ồn ào trống rỗng nói
trên, bà Nhu c̣n thành lập các kư nhi viện để giúp phụ nữ gởi con nhỏ trong
giờ làm việc. Cũng như những chương tŕnh khác, chương t́nh kư nhi viện cũng
đi vào thất bại và tạo thêm mâu thuẫn với quần chúng v́ tính cách thiếu căn
bản của nó và v́ cái cung cách hành xử của bà Nhu.
Trước hết, Việt
Nam
của cuối thập niên 50 chưa phải là một nước phát triển kinh tế sung măn để
vận dụng một khối nhân lực khổng lồ đến nỗi phải động viên phụ nữ vào làm ở
các cơ sở kỹ nghệ hay dịch vụ thương măi tại các đô thị. Truyền thống gia
đ́nh Việt Nam và hoàn cảnh xă hội Việt Nam cũng khuyến khích và cho phép một
người mẹ bận việc đi xa, dù là đi rất xa và lâu, gởi con cho người thân của
ḿnh hoặc bên nội hoặc bên ngoại (trong cái hệ thống khắng khít của đại gia
đ́nh Việt Nam), chứ không bao giờ gởi con cho người lạ. Túng lắm th́ gởi con
cho hàng xóm quen thân chứ có bao giờ t́nh mẫu tử của một phụ nữ Đông phương
lại bị đứt đoạn để v́ việc gởi con mà ray rứt suốt cả ngày xa cách. T́nh th́
không đúng mà lư lại càng sai, cho nên các kư nhi viện của bà Nhu bảo trợ
xây cất, sau những buổi khánh thành quay phim ồn ào, trở thành vườn hoang
nhà trống, hay kho hàng kho gạo của thành phố nếu cơ sở chưa đến nỗi suy sụp
v́ thời gian và sự vô dụng.
V́ không lấy mục tiêu phục vụ quần chúng là chính
mà chỉ chuộng h́nh thức làm những việc để ḿnh nổi danh, cho nên cả chương
tŕnh kư nhi viện được hâm nóng lên mấy tháng cho thời sự nhắc nhở rồi sau
đó đi vào quên lăng. Kiểu áo hở cổ do bà Nhu đề xướng cũng là một ví dụ điển
h́nh của quan niệm này. Nghĩa là cũng bắt nguồn từ sự háo danh mà không đếm
xỉa ǵ đến quan niệm thẩm mỹ có tính đạo đức của truyền thống Việt Nam, vốn
lấy sự kín đáo làm nét đẹp, lấy sự dịu dàng làm sức mạnh quyến rũ mà xác tín
rơ ràng nhất là trong nước, dù chiếc áo đă kinh qua nhiều biến đổi vẫn giữ
lại cổ áo để che vai che ngực, và ngoài nước, đă đoạt được nhiều giải thưởng
trong các cuộc thi tŕnh diễn thời trang quốc tế tại Nhật Bản, Tân Gia Ba,
Vọng Các… Cho nên “kiểu áo bà Nhu”, trừ một vài bà trong Trung ương của
Phong Trào Phụ Nữ Liên Đới, một số các cô gái bán Bar, c̣n th́ không thấy ai
mặc. Chị em phụ nữ tẩy chay không mặc không phải chỉ v́ mặc nó th́ bị bạn bè
xem là chạy theo “mode bà Nhu” vốn chẳng phải là một lời khen thưởng, mà c̣n
v́ tính cách trơ trẽn thiếu thẩm mỹ của nó.
Từ việc biến lễ Hai Bà Trưng thành ra một lễ Quốc
Khánh thứ nh́, đến việc xây tượng Hai Bà Trưng ở công trường Mê Linh Sài G̣n
có khuôn mặt giống mẹ con ḿnh, đến đạo luật Gia Đ́nh, đến việc tổ chức Phụ
Nữ Liên Đới, Thanh Nữ Cộng Ḥa, Phụ Nữ Bán Quân Sự, đến việc thành lập kư
nhi viện, đến việc đề xướng kiểu áo dài hở vai… bà Nhu đă phản ảnh đầy đủ
một tâm hồn Tây phương nổi loạn mà bà tưởng là cách mạng tiến bộ, hoàn toàn
mất bản chất dân tộc và sống cách biệt với hiện thực của quê hương.
Về tượng Hai Bà Trưng, ta thấy chẳng những nhà Ngô
xúc phạm đến hai vị anh thư liệt nữ Dân Tộc mà c̣n cao ngạo một cách vô văn
hóa nên đă gây phẫn nộ cho toàn dân.
Do đó, sau này, ngày 2–11–1963 không phải chỉ sinh
viên và thanh niên chặt cổ và hạ bệ bức tượng giả mạo đó kéo đi khắp Sài G̣n
để hạ nhục mẹ con Ngô Đ́nh Nhu như tôi sẽ nói rơ ở một chương sau, mà thi sĩ
Đông Hồ và học giả Nguyễn Hiến Lê cũng phải lên tiếng việc làm phạm thượng
của người đàn bà mà Đại tá Thi và Trung tá Đông gọi là “đĩ thơa trong dinh
Độc Lập”.
Trong Hồi kư “Đời Viết Văn Của Tôi” (tr.
200, 201). Học giả Nguyễn Hiến Lê trong đoạn phê b́nh thơ thi sĩ Đông Hồ đă
viết:
… Nhưng tôi thích nhất hai bài thơ luật
“Tượng Ai Đâu Phải Tượng Bà Trưng” (trên báo Bút Hoa, ngày 1- 4
-1964):
I
Tượng ai đâu phải
tượng bà Trưng
Tóc uốn lưng eo kiểu lố lăng
Đón gió lại qua người ưỡn ẹo
Chờ chim
Nam Bắc dáng tung tăng
Khuynh thành mặt đó y con ả,
Điêu khắc tay ai khéo cái thằng!
Chót vót đứng cao càng ngă nặng
Có ngày găy cổ đứt ngang lưng.
II
Đây một h́nh xưa nhục nước non
Thay hai h́nh mới đứng thon von
Ḿnh ni lông xát lưng eo thắt
Ngực xú chiêng nâng vú nở tṛn.
Tưởng đứng hiên ngang em với chị
Hóa ra d́u dắt mẹ cùng con
Ḍng sông Bến Nghé, ḍng sông Hát
Lưu xú lưu phương tiếng để c̣n.
Cả hai bài đều cực tả vẻ điếm đàng của
hai mẹ con nhà Ngô. Hai cặp luận đề hay: mạt sát nhà Ngô và kẻ điêu khắc:
mặt đó y con ả, tay ai khéo cái thằng (bài I). Hai tiếng dắt díu với cảnh mẹ
con Ngô Đ́nh Nhu lúc đó bơ vơ ở Mỹ hay ở Âu (bài II). Hai câu kết cảm xúc
triền miên.
Phong cách và hành xử, ngôn ngữ và tâm trạng, hoạt
động và chủ trương của bà Nhu đă là một tháp ngà ồn ào và cao ngạo giữa một
đất nước đang bị Cộng Sản đe dọa và giữa một dân tộc chưa lành vết đau quá
khứ th́ lại bị vết thương của hiện tại. Phê phán về bà, ông Nguyễn Thái, cựu
Giám đốc Việt Tấn Xă, đă phải than là thiếu ǵ công tác cấp bách phải làm để
cứu chữa một ngôi nhà đang sụp đổ mà bà Nhu lại bày ra những tṛ hề cho
quyền lợi riêng tư và cho thỏa măn tham vọng dương danh lănh tụ của ḿnh !
Trong trường hợp của bà Nhu, quan niệm xă hội học
“hoàn cảnh tạo ra con người” đă chứng tỏ hoàn toàn đúng. Bà Nhu sinh trưởng
trong một gia đ́nh trưởng giả mà người trong gia đ́nh chỉ nói tiếng Pháp với
nhau, mà bà mẹ th́ giao du thân mật với hạng thượng lưu Việt, Pháp, Nhật, mà
một bà chị có chồng danh giá th́ vẫn công khai ngoại t́nh với một người đàn
ông ngoại quốc, mà một người em trai (Trần Văn Khiêm) th́ đàng điếm chơi
bời, và sau 1975 qua Mỹ, đă nổi điên giết cả cha mẹ, nghĩa là một gia đ́nh
Tây hơn cả Tây. Bà Nhu lại là một nữ sinh tồi tệ của một trường đầm ở Hà
Nội, đang theo học giữa Trung học th́ bỏ ngang (tài liệu của kư giả Stanley
Karnow) khi lấy chồng th́ lấy một cậu Ấm xuất thân từ một gia đ́nh phong
kiến quan liêu, làm công chức ngạch Pháp. Bà lại càng kiêu căng lộng hành v́
chồng bà lớn hơn bà những 14 tuổi, mang mặc cảm quá nửa chừng xuân nên phải
hết sức nâng niu chiều chuộng bà để khỏi mất hạnh phúc gia đ́nh. Đă thế, gia
đ́nh chồng nhờ “thời thế tạo anh hùng”, đă nắm được quyền lănh đạo quốc gia,
nâng vợ chồng bà lên thành quốc sư và quư phi (lời của ông
Đoàn Thêm), để bà có cơ hội khuynh loát đất nước. Được nặn đúc từ một gia
đ́nh như thế, lại có quyền hành tuyệt đối trong tay vào lúc thời thế loạn
ly, cho nên tâm hồn của bà là tâm hồn của một kẻ đắc thế và muốn tận dụng uy
quyền, thế lực, danh vọng của ḿnh để thỏa măn những bản năng và ẩn ức tâm
lư luôn luôn sắp tung nổ. Thật vậy, cứ nh́n buổi sinh hoạt ngày 13 tháng
Chạp năm 1957 của Quốc hội th́ thấy rơ. Khi thảo luận về luật Gia Đ́nh, Dân
biểu Bùi Quang Út lễ độ yêu cầu bà làm sáng tỏ một vài điều nhưng bà không
thèm tôn trọng các nguyên tắc thảo luận nghị trường, và mặc dù bà cũng chỉ
là một Dân biểu nhưng lại lên giọng áp đảo ông Út ngay: “Tôi không đến đây
để trả lời ông Bùi Quang Út. Những điều luật trong dự luật sẽ có quốc hội
trả lời”. Trong một buổi sinh hoạt khác, ngày 27–5–1958, khi Quốc hội đă bị
áp lực của anh bà và chồng bà biểu quyết và thông qua đạo luật xong, với
cung cách và ngôn ngữ của một lănh tụ, bà Nhu tuyên bố:
Tôi muốn nhắc nhở cho các ông Dân biểu biết rằng
cuộc cách mạng chính trị, xă hội, kinh tế của chúng ta đă hoàn thành chỉ
trong thời gian 3 năm (sic). Đó là một kỷ lục mà chúng ta phải tự hào. V́
thế tôi yêu cầu các ông hăy tha thứ các lời công kích vô liêm sỉ của những
kẻ dốt nát đă nói những lời bẩn thỉu.
Hành động ngạo mạn, cử chỉ khiêu khích, ngôn ngữ
trịch thượng như thế mà không những chỉ chồng bà ca ngợi và khuyến khích mà
chính ông Diệm cũng bênh vực cho bà, tiếp tay gây thêm phẫn uất trong quần
chúng. Theo ông Đoàn Thêm th́ Tổng thống Diệm thường nói: “Bà Nhu có làm ǵ
đâu mà thiên hạ cứ hay dèm pha nói xấu bà”.
Ngoài những thành tích lẫy lừng nhưng tác hại trên
đây, bà Nhu c̣n đưa ra những đạo luật mà cựu Đổng lư Văn pḥng Bộ phủ Tổng
thống và các kư giả ngoại quốc gọi là những đạo luật “khét tiếng” để
bảo vệ luân lư, bảo vệ thuần phong mỹ tục. Bà đă thúc giục, ép buộc Quốc hội
phải biểu quyết gấp rút đạo luật chỉ trong ṿng hai tuần lễ. Đó là một đạo
luật nhằm tiêu diệt các tệ đoan xă hội từ lâu đă bám gốc vào xă hội ta. Nội
dung của đạo luật này không phải là hoàn toàn sai tuy có những điều quái đản
như cấm trai gái cầm tay nhau đi ngoài đường, cấm ngừa thai bằng những biện
pháp không tự nhiên (ảnh hưởng của giáo luật Vatican), cấm thi sắc đẹp, cấm
đấu vơ nơi công cộng, cấm đá gà vào những dịp Tết v.v… mà bất cứ ai vi phạm
sẽ bị trừng phạt rất nặng nề. Điều đáng nói là tính cách quyết liệt và thúc
bách của nó để thay đổi ngay liền hầu hết những sinh hoạt thông thường của
người dân từ cả hàng ngàn năm nay mà không có một kế hoạch chuẩn bị chu đáo
và tiệm tiến trước. Nhất là đạo luật không đặt nặng vấn đề giáo hóa như một
cách thế cải sửa mà lại đặt trừng phạt như là phương pháp chữa trị. Nghĩa là
dùng bạo lực để pháp trị chứ không phải dùng giáo dục để nhân trị. Nhất là
bạo lực đó và hệ thống pháp trị đó lại được giao cho một bộ máy công quyền
mà tập đoàn Cần Lao đang thao túng th́ chỉ gây ra lạm dụng quyền thế để hà
hiếp người dân mà thôi.
Những đạo luật vô hiệu và vô dụng lại thất nhân tâm
như thế mà người anh chồng làm Tổng thống và người chồng làm Cố vấn chính
trị cho Tổng thống không dám lên tiếng ngăn cản
cho nên giới trí thức và quần
chúng Sài G̣n đă cho rằng chính những đạo luật chống tệ đoan xă hội này của
bà Nhu “chỉ làm nổi bật thêm lên cái tư cách đạo đức giả của bà ta mà thôi”
.
V́ cái tư cách đạo đức giả đó của bà Nhu mà Đại tá
Nguyễn Chánh Thi, Trung tá Vương Văn Đông (hai lănh tụ của cuộc đảo chánh
ngày 11–11–1960) mới gọi bà ta là “phản dân hại nước”, là “đĩ điếm trong
dinh Độc Lập”, những lời tuyên bố được Vơ Văn Hải, Chánh văn pḥng Tổng
thống Diệm, xác nhận khi ra thương thảo với phe đảo chánh. Tôi tiếc rằng Vơ
Văn Hải đă chết nên thiếu mất một nhân chứng biết rơ nhiều chuyện thâm cung
bí sử của bà Nhu. Tôi biết rằng Vơ Văn Hải đă kể cho nhiều người trong dinh
Độc Lập như bác sĩ Bùi Kiện Tín chẳng hạn, biết việc bà Nhu giao du thân mật
với viên Đại sứ Ấn Độ trong Ủy Hội Quốc Tế Kiểm Soát Đ́nh Chiến ngay dưới
văn pḥng của ông Nhu. Hải cũng có cả xấp ảnh của bà Nhu tại biệt điện và
tại bờ biển Nha Trang và bờ biển Ḥn Chồng chụp vợ chồng người Mỹ Gregory và
một người Mỹ bạn thân của bà do dân chúng Nha Trang lén chụp được và gửi cho
Hải (mong bác sĩ Bùi Kiện Tín đừng v́ những ngại ngùng chính trị hoặc v́
t́nh cảm mà không nói lên sự thật, v́ chính bác sĩ đă từng lo buồn cho Tổng
thống Diệm mỗi khi nh́n thấy những tấm ảnh đồi trụy này. Nếu bác sĩ Tín v́
một lư do nào đó mà không muốn làm sáng tỏ những sự kiện lịch sử trên th́
xin cứ hỏi Cựu Hoàng Bảo Đại hay ông Trần Văn Đôn th́ biết rơ cái đạo đức
của bà Nhu như thế nào). Đại sứ Ba Lan, ông Maneli, trong tác phẩm War of
The Vanquished cũng ghi nhận dư luận Sài G̣n cho rằng bà Nhu là một thứ
Lucretia Borgia Đông Nam Á, có liên hệ thân mật với Đại sứ Ấn Độ.
Và trong lúc bà Nhu áp lực Quốc hội để thông qua
đạo luật trong sạch hóa xă hội này th́ mỉa mai thay cho chế độ và đau đớn
thay cho dân tộc, em trai của bà là ông Trần Văn Khiêm vẫn chơi bời trác
táng và làm tiền các thương gia, em chồng là ông Ngô Đ́nh Luyện mỗi lần từ
Luân Đôn về Sài G̣n vẫn đêm đêm rượu chè như các tuỳ viên trong dinh Độc Lập
đều biết (xem hồi kư Đỗ Thọ); th́ chính chồng ḿnh là ông Ngô Đ́nh Nhu vẫn
không những hút thuốc phiện hàng ngày mà sau này c̣n làm giàu nhờ buôn bán
thuốc phiện nữa!
Như những hoạt động nặng phần tŕnh diễn chính trị
mà thiếu hẳn nội dung xă hội và không được nghiên cứu một cách nghiêm túc,
đạo luật Bảo Vệ Thuần Phong Mỹ Tục của bà Nhu chỉ làm cho xă hội tạm
mất đi cái bề ngoài xấu xa nhưng bên trong th́ các tệ đoan đó lại phát triển
mạnh mẽ hơn và tinh vi hơn. Các h́nh thức cờ bạc, hút sách, dâm ô đan kết
lại thành những hệ thống chặt chẽ và ch́m mà nhiều địa phương c̣n có
nhân viên chính quyền tham dự, các h́nh thức mua dâm và bán dâm không c̣n
công khai nữa và bắt đầu phát triển một cách có tổ chức và “thượng lưu” hơn,
đặc biệt nạn du đăng gia tăng một cách đáng sợ đến nỗi ông Diệm cũng phải lo
âu để tâm đến.
Thật thế, dù Tổng thống hô hào trong sạch hóa xă
hội, dù bà Nhu đưa ra luật Bảo Vệ Luân Lư, cấm nhảy đầm… mà nạn mua dâm bán
dâm vẫn tràn ngập, chứng cớ là đêm 18–1–1959, hai ngàn nam nữ thanh niên bị
bắt trong Đô Thành v́ tội măi dâm (xem “Hai Mươi Năm Qua” của Đoàn
Thêm trang 246).
Cuối năm 1960, trước sự bành trướng đáng ngại của
nạn du đăng cướp bóc, Tổng thống Diệm đă cho thành lập một Hội đồng Liên bộ
để giải quyết tệ trạng này. Hội đồng Liên bộ gồm có các ông Nguyễn Quang
Tŕnh (Giáo dục), Huỳnh Hữu Nghĩa (Lao động), Trần Chánh Thành (Thông tin),
Nguyễn Sĩ (Tư pháp), Trần Trung Dung (Quốc pḥng) và ba cơ quan an ninh là
tướng Nguyễn Văn Là (Công an), Lê Nguyên Phu (Hiến binh) và tôi (An ninh
quân đội) dưới sự điều hợp của Bộ trưởng Nội vụ là ông Lâm Lễ Trinh (hầu hết
các vị trên đây đều có mặt tại hải ngoại hiện nay, trừ ba ông Trần Trung
Dung, Nguyễn Sĩ, Trần Chánh Thành). Nhiều ư kiến được đưa ra thảo luận và
cuối cùng đi đến kết quả sử dụng những biện pháp mạnh: lùng bắt và nhốt
(nhưng không truy tố) thanh niên du đăng vào các lao xá. Tôi c̣n nhớ trong
buổi họp liên bộ đó, ông Trần Chánh Thành đă có một lời phát biểu lạ lùng.
Trong phần phân tích các nguyên nhân, ông cho rằng sở dĩ có nạn thanh niên
du đăng là lỗi tại chánh quyền, lỗi tại người lớn, nếu người lớn gương mẫu
th́ thanh thiếu niên sẽ noi theo. Lúc đó, tôi quên hỏi ông ta để biết có
phải ông muốn ám chỉ bà Nhu và các thành viên trong gia tộc Ngô Đ́nh không ?
Nhưng dù luật Bảo Vệ Luân Lư của bà Nhu được thi
hành với các biện pháp và các phương tiện chế tài do Hội đồng Liên bộ hỗ
trợ, và dù với sự quan tâm của Tổng thống Diệm, nạn du đăng và tệ trạng xă
hội mỗi ngày một gia tăng (đến nỗi ngay sau ngày cách mạng 1–11–63 thành
công, tướng Mai Hữu Xuân, với tư cách Đô trưởng Sài G̣n Chợ Lớn, đă phải đề
nghị đem mấy ngàn thanh niên du đăng xuống trại cải tạo Thủ Đức, một số khác
chuyển vào trung tâm huấn luyện Quang Trung. C̣n một số ít độ hơn 100 tên du
đăng hạng nặng thuộc loại bất khả trị th́ bị đày ra Côn Đảo). Cũng từ mùa hè
năm 1963, lần đầu tiên trong lịch sử giáo dục nước nhà, các đề thi Trung học
và Tú tài được một tổ chức đem bán cho các thí sinh mở đầu cho tệ nạn tiết
lộ và buôn bán đề thi kéo dài cho đến dưới thời Thiệu.
Nạn măi dâm lén lút, nạn du đăng lộng hành, phong
trào buôn bán đề thi là những tệ đoan phát xuất từ tầng lớp thanh thiếu niên
mà nguyên do chủ yếu là v́ đạo luật Bảo Vệ Thuần Phong Mỹ Tục của bà Nhu đă
không điều nghiên kỹ càng, và phần áp dụng đă không phù hợp với thực tế Việt
Nam lúc bấy giờ. Nhưng một lư do khác không kém phần quan trọng nữa là làm
sao thanh thiếu niên có thể chịu đựng không phản kháng, khi mà người mẹ đẻ
ra đạo luật đó, và những ông Cố, ông Cậu, những đoàn viên của đảng Cần Lao
lại là những người đầu tiên dẫm nát lên đạo luật đó.
Thượng bất minh, Hạ tắc loạn,
có lẽ đó là điều mà ông Trần Chánh Thành muốn nói trong buổi họp liên bộ đầu
tiên, buổi họp để giải quyết những hệ quả tác hại của một người đàn bà cũng
tác hại không kém.
Ông Trần Văn Lư, người đă từng là bạn thân và đồng
chí của nhà Ngô, đă cho tôi biết rằng năm 1943, khi ông Ngô Đ́nh Khôi và ông
Ngô Đ́nh Thục đi Hà Nội cưới cô Trần Thị Lệ Xuân cho ông Nhu th́ v́ đoạn
đường Huế–Hà Nội quá xa nên họ đă phải ngừng xe và nghỉ lại đêm tại Hà Tĩnh,
trong dinh Tuần Vũ của ông Lư. Trong dịp này, v́ sợ ông Lư chê cười nên hai
ông Khôi và Thục phải tâm sự phân trần với ông Lư như sau: “Gia đ́nh chúng
tôi nào có muốn rước “ngựa cái” về nhà để phá hoại gia phong, huống chi Cụ
tôi ngày xưa với các ông Trần Văn Thông, Thân Trọng Huề vốn chống đối nhau
th́ làm sao có thể kết làm thông gia được. Nhưng v́ chú Nhu quá mê con gái
ông Trần Văn Chương nên chúng tôi đành phải chịu khổ tâm mà chiều ḷng chú
ấy” (ghi chú: ông Trần Văn Thông là một vị Tổng đốc, ông nội của bà Nhu, c̣n
ông Thân Trọng Huề ông ngoại của bà Nhu, là một Thượng thư Nam triều cùng
thời với cụ Ngô Đ́nh Khả). Có lẽ lúc mới cưới bà Nhu, gia đ́nh không ưa nên
ông Diệm đă có lúc ném cái gạt tàn vào người bà ta như nhiều người đă biết.
Viết về bà Nhu, ông Đoàn Thêm có một đoạn phân tách
sâu sắc như sau:
“… Không những bà ấy cứ tin rằng bà
phải làm nếu không th́ chẳng ai làm một số việc mà bà coi là tối cần: như
huy động phụ nữ vào công việc chung. Nhưng họ phàn nàn: thái độ của bà làm
hại chánh sách; giả thử bà dễ dăi, nhún nhường mềm dẻo th́ may ra cũng được
tin theo phần nào, ít ra không bị ghen ghét lắm. Nhưng bà nói quá mạnh, có
vẻ coi thường hết mọi người nên dù hành động có ưu điểm ǵ chăng nữa cũng
không thể đổi ngược chiều công luận.
Nguyên do sâu xa nhất và đích thực nhất
của nỗi ác cảm chung của sự mâu thuẫn giữa lối sinh hoạt của bà và ư niệm
thắm thiết về sắc đẹp của nhiều người đàn ông nước Việt: người đẹp mà muốn
khỏe và hách nữa th́ quá lắm không chịu nổi. Nên dù phải hay trái, người đàn
bà Việt
Nam
muốn sống theo gương đàn bà tiền phong (avant-garde) Âu-Mỹ, tất chưa thể
được yên thân trên một đất nước mà nhiều người c̣n ghê sợ những Vơ Hậu và
những Từ Hi”.
Là một nhà luật học, là một nhà làm văn hóa, lại
vừa là một chứng nhân của thời đại, ông Đoàn Thêm chẳng những đă chê ông
Diệm là quan liêu phong kiến, bất tài bệnh hoạn, chỉ đáng làm quan Nam
triều, chỉ đáng làm Tổng thanh tra, ông c̣n lên án bà Nhu là một thứ Từ Hi,
Vơ Hậu, thế mà giọng văn của ông vẫn rất linh hoạt nhẹ nhàng. Phần tôi vốn
là quân nhân, nên xin nói thẳng rằng nếu gia đ́nh họ Ngô không rước “ngựa
cái” hay “rồng cái” về nhà, hoặc nếu bà Nhu khiêm cung đức hạnh và không
tham quyền háo danh trong thời gian ông Diệm cầm quyền th́ may ra ông Diệm
c̣n sống sót vào năm 1963 để họ Ngô khỏi bị ô danh muôn đời. Và tôi cũng tin
rằng nếu không có bà Nhu khuynh loát trong dinh Độc Lập, không làm Đệ Nhất
phu nhân th́ có lẽ miền Nam Việt Nam đă không đến nỗi rối loạn đưa đến thắng
lợi dễ dàng cho Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Khốn nỗi bà Nhu lại là “mẫu
nghi thiên hạ” nên thảm họa mới xảy đến cho nhân dân miền Nam như bác sĩ
Dương Tấn Tươi đă mượn tiếng cười chua chát để trách oán bà Nhu:
Dưới triều đại Ngô Đ́nh Diệm, người ta
cố tận dụng lối tuyên truyền để tŕnh bày một gia đ́nh như là đáng tiêu biểu
cho cả một dân tộc. Tuy có sự đảm bảo của bài đường luật, chữ phết vàng trên
bảng sơn đen bóng loáng nhưng nào ai dấu được sự hạ giá quá chán chường.
Cũng như đem một người đàn bà thiếu đức hạnh sơ đẳng của phụ nữ Việt
Nam
lên chức mẫu nghi thiên hạ th́ có ǵ mỉa mai hơn
.
Ngoài ra nhiều người ngoại quốc c̣n lên án vợ chồng
Ngô Đ́nh Nhu một cách quyết liệt hơn. Đồng một quan điểm với những kư giả
danh tiếng như Malcolm Brown và Sergliano, giáo sư Buttinger, người bạn của
ông Diệm viết rằng:
Đối với quần chúng Việt
Nam
nói chung và giới trí thức nói riêng th́ những cố gắng để kiểm soát nền đạo
lư công cộng và cá nhân của dân chúng làm tăng thêm một cách gay gắt điều ám
thị về bà Nhu vốn đă được coi như là người thiếu đức hạnh. Tại miền Nam Việt
Nam, vợ chồng Nhu là hai nhân vật bị dân chúng oán ghét nhất. Không có điều
ǵ mà vợ chồng Nhu không dám làm: ŕnh rập cộng sự viên, bắt bớ một cách độc
đoán những người t́nh nghi là đối lập, vu khống và xuyên tạc họ trắng trợn.
Tất nhiên khó mà thu lượm được những bằng chứng tham nhũng của vợ chồng Nhu
nhưng ai ai cũng biết họ đă bóc lột những số tiền vô cùng to lớn của thương
gia Hoa Kiều và Việt Nam, những kẻ xin môn bài xuất nhập cảng, xin đấu thầu
cho chính phủ. Lạm dụng quyền hành, hối mại quyền thế, dĩ công vi tư, tham
nhũng, khinh miệt thuộc cấp và bất chấp nhu cầu của nhân dân, nhà Ngô đă làm
gương cho Bộ trưởng, Dân biểu, Tướng lănh, Tỉnh trưởng, Xă trưởng những kẻ
mà nhà Ngô sử dụng như công cụ. Đồng ư với những việc làm xấu xa đó, những
tay sai của nhà Ngô cũng mua lấy sự khinh bỉ vừa của cả quan thầy vừa của cả
nhân dân
.
Đă mang bản chất con người hư đốn, đă bẩm sinh là
thứ đàn bà Lucretia Borgia, đă sớm hư thân mất nết từ thời c̣n là học sinh
trường trung học Albert Sarraut như kư giả Karnow đă mô tả mà sinh viên Hà
Thành thời bấy giờ nhiều người biết rơ, th́ Trần Thị Lệ Xuân tức Đệ Nhất Phu
Nhân thời Đệ Nhất Cộng Ḥa làm sao có thể trở thành người đàn bà đức hạnh
được.
Thật thế, sau khi Ngô triều bị lật đổ, bà Ngô Đ́nh
Nhu sống đời một sương phụ âm thầm và cô đơn tại ngoại ô thành phố La Mă
nhưng vẫn bị rất nhiều nhà văn, nhà báo tên tuổi không buông tha cho bà cái
tội dâm loạn và tham quyền đưa đến việc sụp đổ miền Nam và cái chết của ba
anh em Ngô Đ́nh. Những nhà văn nhà báo đó cũng không quên nhắc đến những thủ
đoạn của bà Nhu mê hoặc người anh Tổng thống độc thân mà v́ “mở miệng mắc
quai”, ông Tổng thống đành để cho người em dâu tội lỗi tha hồ lộng quyền,
thao túng chánh t́nh và xă hội miền Nam.
Dưới đây là những tài liệu mới ra đời tại hải ngoại
viết bởi những nhân chứng và nhà văn tên tuổi:
- Cuốn “Đệ nhất phu nhân” của học giả Hoàng
Trọng Miên, tác giả cuốn “Văn học toàn thư”.
- Cuốn “Những bí ẩn lịch sử dưới chế độ Ngô Đ́nh
Diệm” của ông Lê Trọng Văn vốn là đặc vụ của ông Ngô Đ́nh Nhu.
- Bài báo “Đây ngôi biệt thự mùa hè của bà Nhu
tại Đà Lạt” có lời phê phán chế độ Diệm và bà Nhu của hai nhà văn học
lớn là học giả Nguyễn Hiến Lê và thi sĩ Đông Hồ (tạp chí Tia Sáng, Houston,
số 26 tháng 8 năm 1988).
- Bài báo “Trương Đ́nh Cát và Hà Như Chi”
của Trung tướng Nguyễn Chánh Thi (tạp chí “Ánh Sáng Dân Tộc”
Fresno
số 1 tháng 5 năm 1989).
(Xin xem thêm hai bài báo ở phần Phụ Lục)
-o0o-
Hoạt động của bà Nhu c̣n nhiều loại thất nhân tâm
làm hại cho chế độ và làm lợi cho Cộng Sản đó vẫn cứ tiếp tục và lên đến cao
điểm trong chuyến công du giải độc nhân biến cố Phật giáo mà tôi sẽ đề cập
sau này. Bây giờ xin nói về ông Ngô Đ́nh Nhu, người được xem như là bộ óc
của chế độ, và nếu không có ngày
1–11–63 th́ sẽ là kẻ thừa kế đương nhiên chức vụ Tổng thống của nền Đệ Nhất
Cộng Ḥa.
Quả thật từ khi quen biết ông vào những ngày đầu
của thập niên 40, cho đến thời kỳ ông oai danh tột đỉnh những năm đầu thập
niên 60, tôi chưa bao giờ có được sự cảm mến và tín phục con người của ông
Nhu. Dù đă có lúc ông đến tận ngôi nhà nghèo nàn của tôi tại cửa Đông Ba
(Huế) để khen tặng, dù trong quá tŕnh hơn 20 năm hoạt động với ông Diệm đă
có nhiều dịp cho ông và tôi chia sẻ những thành công và thất bại chung…
nhưng chưa bao giờ, và không bao giờ, ông Nhu tạo được nơi tôi một ấn tượng
tốt của một cấp lănh đạo hữu tài hữu đức. Báo chí dưới chế độ Diệm và sau
này một vài tờ báo hải ngoại thuộc phần tử hoài Ngô trong phong trào gọi là
Phục hưng tinh thần Ngô Đ́nh Diệm chủ xướng, đă huyền thoại hóa con
người ông Nhu và tô vẽ cho ông những kích thước không bao giờ có thật. Có lẽ
v́ biết ông quá rơ, và biết từ thời ông c̣n là một công chức của Pháp, nên
tôi đă không bị chức vụ và bằng cấp của ông mê hoặc từ đầu như một số người
khác. Do đó tôi đă thấy nơi ông một loại “chính khách xa lông” rất tiêu
biểu: khi chưa có quyền th́ ve văn vận động đấu tranh chắp vá, khi nương
theo sự thành công địa vị của người anh mà bước vào nắm quyền hành th́ cũng
lại tiếp tục cái kỹ thuật mượn sức người khác để củng cố sức ḿnh mà đánh
phá mọi lực lượng đối lập. Đó là loại chính trị vận dụng thiếu cơ bản và
thiếu chiều sâu để tính chuyện lâu dài, chứ tự ông Nhu, tôi không thấy ông
thành công trong việc xây dựng một chủ lực cho chính ḿnh để làm rường cột
cho chế độ, và để tiến hành cuộc cách mạng xă hội cần thiết cho miền Nam lúc
bấy giờ. Tôi thấy rơ rằng triết lư đấu tranh của ông là t́m cách hủy diệt
địch mà không đặt trọng tâm vào việc xây dựng sức mạnh của ta trong khi
đáng lẽ phải tiến hành cả hai nhiệm vụ đó một cách song hành.
Cho nên ông đă nhờ Mỹ bảo vệ để chống Pháp mà nắm
chính quyền, rồi lại phản Mỹ để hợp tác với Pháp, và cuối cùng vào năm 1963,
nhờ Pháp để thương thảo với Cộng Sản Hà Nội. Trong nước th́ ông thẳng tay
đàn áp thủ tiêu đối lập, c̣n cái gọi là chủ lực đảng Cần Lao Công Giáo th́
chỉ khai sinh cho có rồi hoặc v́ bất tài, hoặc v́ không có chủ ư nên đă để
cho nó trở thành một thứ quái vật xổng chuồng cắn phá cả nhân dân lẫn chế
độ.
Chủ nghĩa Nhân Vị, đảng Cần Lao và Hiến Pháp VNCH
được xem như là những tác phẩm chính yếu của ông th́ như tôi đă đề cập trong
những chương trước, chỉ là những sản phẩm trí thức bệnh hoạn, chắp vá từ
nhiều lư thuyết Tây phương khác nhau và từ nhiều tiền lệ lịch sử khác nhau.
Sở dĩ có sự chắp vá chính trị ấu trĩ đó là v́ ông Nhu quan niệm cần có một
thể chế độc tài, một chủ trương cai trị độc tài, và tập trung quyền lực vào
một giai cấp lănh đạo độc tôn để trước là chống Cộng và sau là cho tên tuổi
của ḍng họ Ngô Đ́nh vào bảng vàng bia đá của lịch sử.
Nhưng từ cơ bản, chủ trương chống Cộng và xây dựng
đất nước bằng độc tài (nhất là độc tài kiểu Thiên Chúa giáo Trung Cổ) và độc
tôn (loại độc tôn quân chủ phong kiến) đă là những quan niệm chiến lược sai
lầm lớn để đối đầu với chiến tranh nhân dân của Cộng Sản và để đi t́m sự yểm
trợ có điều kiện của những nước Tây phương lấy dân chủ tự do làm nguyên lư
chỉ đạo quốc gia. Quan trọng hơn cả, độc tôn và độc tài là đi ngược với xu
thế thời đại và ước vọng của dân ta sau cả trăm năm dài ngoại thuộc. Dân tộc
xả thân v́ đất nước hơn một thế kỷ không phải để cuối cùng lại chui vào chu
kỳ nô lệ đen tối cũ.
V́ vậy, ba tác phẩm đó của ông Nhu vừa không nhất
quán giữa nội dung và h́nh thức, vừa không hiệu dụng trong thực tế, và vừa
gây tác hại cho sinh lực quốc gia. Cho nên dân tộc đă dơng dạc khước từ và
cuối cùng đă quyết liệt trừng phạt. Tên tuổi của ḍng họ Ngô Đ́nh có đi vào
lịch sử thật nhưng đi bằng ngả sau và được ghi tiếp theo vào danh sách của
những phản thần, bạo chúa Lê Long Đỉnh, Trần Ích Tắc, Khải Định, v.v…
Có chính quyền trong tay, có đảng Công Giáo Cần Lao
làm chủ lực, có Hiến pháp và Quốc Hội làm một thứ chiêu bài bảo đảm, có Mỹ
và Vatican yểm trợ… lại có Cộng Sản Hà Nội để biện minh cho hành động, có
hoàn cảnh chậm tiến của quốc gia để bào chữa cho lỗi lầm, thế mà ông Nhu đă
làm được ǵ cho quê hương đất nước trong suốt 9 năm cầm quyền, hay ngược
lại, đă tiêu diệt sức mạnh của dân tộc và chính nghĩa của quốc gia để đẩy
miền Nam đến nhanh hơn và gần hơn bờ vực thẳm của ngày 30 tháng 4 năm 1975?
Tôi xin lấy một số công tác độc đáo và được nhóm sử gia hoài Ngô tự hào để
phân tách về giá trị đích thực của ông Nhu.
Chỉ một thời gian ngắn sau khi ông Diệm làm Tổng
thống, ông Nhu bắt đầu tổ chức những lực lượng ngoại vi có tính quần chúng
để yểm trợ cho chính quyền. Đây là một công thức cổ điển về đấu tranh đă
được các đảng Cộng Sản Nga và đảng Quốc Xă Đức thiết kế để điều động và lănh
đạo quần chúng. Để bảo đảm sự hiệu dụng của công thức này, điều kiện tiên
quyết là các tổ chức này phải do một bộ phận của đảng chủ lực (hay là đảng
cầm quyền) bí mật phát động và kiểm soát mới có khả năng tạo được sức hút
rộng răi trên mọi tầng lớp quần chúng, và đến khi cần thiết có thể phát khởi
những cao trào nhân dân.
Hai tổ chức Liên Đoàn Công Chức Cách Mạng Quốc
Gia và Thanh Niên Cộng Ḥa do ông Nhu mang nặng đẻ đau, tuy đă cố
gắng bắt chước mô thức này, nhưng v́ quá thô kệch và vụng về nên trở thành
tṛ hề chính trị cho quần chúng và gánh nặng tài chánh cho quốc gia. Thật
vậy, trước hết là về mặt căn cước chính trị của các tổ chức này, ai cũng
biết là của chính quyền chứ không do nhân dân tự phát, v́ đảng Cần Lao của
ông Nhu chỉ được giao cho nhiệm vụ khủng bố tranh đoạt quyền lợi thay v́
tiến hành những tổ chức căn bản trong nhân dân. V́ đă là của chính quyền chứ
không phải của đảng th́ cái yếu tố thứ hai là bí mật điều động và kiểm soát
cũng không c̣n nữa. Lộ liễu đến cả trong cái danh xưng của tổ chức là “Công
Chức Cách Mạng” nên trọng điểm thứ hai của tổ chức là nội dung chính trị của
nó cũng trở thành rỗng tuếch. Ta hăy nghe ông Vơ Phiến, một nhà văn dân tộc
phê phán như sau:
Thật là lạ lùng: Công chức và cách mạng
là hai thái cực mâu thuẫn, một bên th́ chấp nhận cúi ḿnh theo kỷ luật, một
bên th́ muốn phá tung những câu thúc, những cái cũ kỹ. Như thế th́ làm sao
công chức với cách mạng có thể đi đôi với nhau được mà lại thành lập “Liên
Đoàn Công Chức Cách Mạng Quốc Gia”
.
Cũng vậy lực lượng Thanh Niên Cộng Ḥa mà cấp lănh
đạo từ trung ương đến tận các cơ sở tỉnh quận toàn là người của chính quyền,
hoặc lố lăng thân chính, đă không thu hút được thành phần thanh niên trẻ có
nhiệt tâm và có tinh thần cộng ḥa với những ước vọng hiến thân cho tự do và
dân chủ thật sự. Cho nên, bên trong những bộ đồng phục xanh của những công
chức “sớm vác ô đi tối vác về”, ta không t́m được những ngọn lửa bừng bừng
ḷng yêu nước của tuổi trẻ Việt
Nam
từ ruộng đồng đến giảng đường đại học, từ công trường xưởng thợ đến núi đỏ
rừng xanh. Ngược lại ta chỉ t́m thấy rất nhiều vẻ già nua thư lại, nét cam
chịu phục ṭng của những người mang thân phận làm cho hết chuyện qua ngày.
Điều thê thảm là bộ óc của chế độ lại đặt rất nhiều
kỳ vọng và tin tưởng vào những bộ phận đấu tranh như thế để bảo vệ chế độ
Cộng Ḥa và xây dựng Cách Mạng Nhân Vị:
… Nhưng ông Nhu đă tin và tin thật vào
những bộ đồng phục màu xanh. Bộ đồ đó lại không có phép lạ biến ông chủ sự
hay người thư kư thành một phần tử đấu tranh. Bắt mặc th́ mặc, xếp hàng th́
xếp hàng, giơ tay th́ giơ tay. Người tùy phái của tôi vừa cười rũ vừa thay
đồ vừa tủm tỉm xin phép “đi thanh niên”, rồi một lúc sau về lại trút vỏ
thanh niên, lại đưa giấy và mở cửa cho khách, hút thuốc và đọc báo: anh ta
cũng chẳng biết ḿnh cách mạng ở chỗ nào. Nhưng cố vấn Ngô Đ́nh Nhu, học giả
kiêm chính trị gia, đă tỏ vẻ hài ḷng về sự thành công của ḿnh khi đứng
nh́n diễn hành hàng ngàn bộ đồ xanh. Tổ chức của ông có giúp được chút nào
cho chế độ được đứng vững hay không?
.
Xuất phát từ chính quyền, mục tiêu chính trị là bảo
vệ chế độ, đối tượng kết nạp là thành phần ngoan ngoăn phục tùng, cho nên
hoạt động của các tổ chức ngoại vi này không c̣n ǵ khác hơn là đi diễn
hành, đi hoan hô đả đảo, mà không có một xác tín chính trị nào về nền Cộng
Ḥa và về cuộc cách mạng. Mà không có cũng là phải v́ nền Cộng Ḥa mà họ
đang uể oải xây dựng có phải là nền Cộng Ḥa chân thực đâu; cuộc cách mạng
mà lănh tụ của họ đang chủ xướng có phải là một cuộc cách mạng v́ họ và cho
họ đâu.
Cũng v́ vậy mà ngày 15 tháng 8 năm 1963, khi vị
Tổng thủ lănh Ngô Đ́nh Nhu kêu gọi đoàn viên Thanh Niên Cộng Ḥa “làm rạng
tỏ chính sách” bằng cách phản ứng quyết liệt với lực lượng sinh viên và Phật
tử trong biến cố đàn áp Phật giáo th́ đại đa số đoàn viên chẳng những đă
không có phản ứng ǵ hết mà c̣n ră ngũ để đứng về phía lực lượng bị đàn áp
đang đấu tranh. Phải đợi cho đến ngày 1–11–1963, khi tiếng súng cách mạng
đáp tiếng gọi của nhân dân nổ lớn, nổ mạnh vào dinh Gia Long th́ người thanh
niên gọi là “Thanh Niên Cộng Ḥa” mới hành xử thực sự một cách Cộng
Ḥa khi họ dơng dạc khước từ lời kêu cứu khẩn cấp của ông Tổng giám đốc
Thanh niên Cao Xuân Vỹ và Trung tá Trần Văn Phước, thủ lănh Thanh Niên Cộng
Ḥa Đô Thành, đang nuôi ảo vọng tổ chức một lực lượng phản đảo chánh. Thật
vậy, yếu tính của một nền Cộng Ḥa là ǵ nếu không phải là dân chủ, là quyền
làm chủ đất nước của người dân qua các định chế dân cử. Trong bộ đồng phục
màu xanh từ mấy năm qua, họ chỉ là một bộ phận tôi tớ chứ có ngày nào được
tự do chọn lựa, tự do nói lên ước nguyện của ḿnh đâu! Và ngày
1–11–63 đă cho họ cơ hội dơng dạc nói lên tiếng nói phản ánh ước nguyện của
họ đó. Cho nên chính trong ngày lịch sử đó họ mới thật sự cùng với thanh
niên cả nước trở thành những thanh niên cộng ḥa trên cả hai mặt tâm thức
lẫn hành động.
Sự thất bại trong việc tổ chức Liên Đoàn Công Chức
Cách Mạng Quốc Gia và lực lượng Thanh Niên Cộng Ḥa, hai cánh tay nối dài
của chế độ, để đi vào quần chúng do vị cố vấn Tổng thống tổ chức và điều
hành, đă nói lên rất đủ kiến thức và khả năng của ông Nhu về mặt đấu tranh
chính trị. Đó là cái kiến thức và khả năng làm những công tác biểu dương bên
ngoài mà không có một thực chất sâu sắc ở bên trong. Mà ngay cả nhiệm vụ
biểu dương đó cũng mang tính chất hài hước chứ không có tác dụng nào đối với
nhân dân Việt Nam, đối với đồng minh Hoa Kỳ, và nhất là đối với kẻ thù Cộng
Sản Hà Nội nếu không muốn nói là đă có phản tác dụng nguy hại cho chính chế
độ vậy.
Đó là nói về sự thất bại của hai tổ chức cơ hữu của
chế độ. C̣n để thực sự đối kháng với kẻ thù trên mặt trận quân sự chính trị,
ông Ngô Đ́nh Nhu đă đích thân điều khiển việc thực hiện chương tŕnh Ấp
Chiến Lược, một chương tŕnh được nâng lên hàng quốc sách.
Nói cho đúng, quan niệm chiến lược nhằm thiết kế
những đơn vị hành chánh có vơ trang tại thôn quê để tự bảo vệ và được huấn
luyện chính trị để từ đó đan vào nhau thành một hàng rào vừa pḥng ngự vừa
tấn công là sáng kiến của ông Robert Thompson, một chuyên viên chống du kích
người Anh. Sáng kiến này đă được thực hiện hữu hiệu tại Mă Lai và chận đứng
cũng như tiêu diệt quân phiến loạn Mă–Cộng, cho nên chính quyền Kennedy đă
xem đó như một sách lược quan trọng khả dĩ có thể công phá được loại chiến
tranh du kích của Cộng Sản tại chiến trường Việt
Nam.
Và cũng nói cho thật đúng th́ “Ấp Chiến Lược” không
phải là một phát minh mới mẻ lạ lùng ǵ đối với nhân dân Việt
Nam.
Trong quá tŕnh dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, nhân dân và triều đ́nh
của nước ta đă biết rào làng, lập đoàn tuần canh, cổ súy ư thức làng xă để
đối phó với giặc cướp, với quân xâm lăng và với cả sự hà khắc của thiên
nhiên nữa. Lũy tre gai góc và rậm rạp đă là những chiến lũy thiên tạo vững
chắc, đoàn tuần canh siêng năng đă là những cán bộ quân sự minh mẫn và nhiệt
t́nh; hội làng, lễ đ́nh, tế thần đă là những sinh hoạt văn hóa chính trị
nuôi dưỡng ư thức và khả năng đề kháng của xóm làng Việt Nam. Trong cuộc
chiến Pháp–Việt (1945–1954), Việt Minh đă thiết lập tại Bắc Việt những làng
chiến đấu để chận đứng những chiến dịch càn quét của quân đội cơ giới Pháp
và nhiều khi gây tổn thất nặng nề cho đoàn quân thực dân viễn chinh. Dưới
chế độ vua Bảo Đại, các Thủ hiến Phan Văn Giáo và Trần Văn Lư cũng đă xây
dựng một hệ thống pḥng thủ tại miền Trung bằng các làng Hương Vệ để bảo đảm
an ninh cho vùng nông thôn Trung Việt.
Cho nên nói rằng ông Nhu là “cha đẻ” của chính sách
Ấp Chiến Lược như bộ máy tuyên truyền của chế độ vẫn thường rêu rao, là một
sự bịp bợm ấu trĩ và đầy trào phúng. Ngay cả chính sách này, lúc được Hoa Kỳ
đề nghị, cũng đă từng bị ông Nhu đả kích kịch liệt
. Măi cho đến khi t́nh h́nh an
ninh tại nông thôn trở nên tồi tệ hơn và nhất là khi Hoa Kỳ chịu tháo khoán
một ngân quỹ lớn lao, ông Nhu mới chấp thuận thực hiện chính sách này và
thêm vào đó một mớ ư niệm “tam túc, tam giác” cho quốc sách Ấp Chiến Lược có
vẻ có một triết lư chính trị riêng, để tỏ ra ḿnh cũng có một lư thuyết
chống lại chiến tranh nhân dân của Cộng Sản.
Với một chủ thuyết chỉ đạo lai căng nửa Mỹ nửa Việt
như thế, cho nên khi biến thành hành động cụ thể để đi vào thực tế Việt Nam,
“quốc sách” ấp chiến lược đă trở thành một mối họa cho nhân dân, và trở
thành (một lần nữa) nhược điểm lớn của chế độ cho kẻ thù khai thác đánh phá.
Hai yếu tố lớn làm thui chột quốc sách này, như
thường lệ, vẫn là thứ nhất, óc chủ quan nặng lư thuyết của ông Ngô Đ́nh Nhu,
và thứ hai là bộ máy nhân sự để thực hiện quốc sách này lại chuộng h́nh
thức, tham lợi lộc và ưa nịnh hót vốn là đặc tính cố hữu của Cần Lao Công
Giáo.
Trước hết, trên mặt địa lư nhân văn, ruộng đồng
miền Nam rộng mênh mông, c̣ bay thẳng cánh nên gia cư không quần tụ lại
thành thôn xóm khắng khít như nông thôn miền Bắc, do đó đi từ nhà này đến
nhà nọ nhiều khi cách xa bốn năm cây số, hai ba con kênh. Đất đai miền Nam
lại ph́ nhiêu màu mỡ nên người dân làm ăn thư thả, tâm hồn phóng khoáng và
tính t́nh bộc trực; họ ghét sự câu thúc trên cả hai mặt tâm lư lẫn vật lư,
họ thích sống phóng khoáng trong cảnh trời cao đất rộng để đập vỡ một xị đế
theo giọng vọng cổ lên bổng xuống trầm… V́ vậy tập trung họ trong một ấp xa
xôi có rào, có hào, có cắm chông, có vọng gác đă là một điều phản tâm lư,
lại kiểm soát gắt gao giấy tờ, kiểm soát thời giờ và hoạt động nông tác của
họ th́ quả thật là thất nhân tâm. Huống ǵ bắt họ rời bỏ nơi chôn rau cắt
rốn, mồ mN |