NHỮNG THẤT BẠI
TIÊU BIỂU CỦA CHẾ ĐỘ
Sự kiện đạo luật Gia Đ́nh được thông qua đă mang
lại một sự tái phối trí quan trọng trong cơ cấu lănh đạo tối cao của gia tộc
Ngô Đ́nh, nghĩa là cũng của chế độ. Hơn ai hết, bà Nhu đă nắm được ư nghĩa
và giá trị của thắng lợi then chốt này, không phải thắng lợi v́ đă áp lực
cho người anh rể phải bỏ nước ra đi để cho chị ruột ḿnh là bà Trần Thị Lệ
Chi từ nay có thể ung dung sống cuộc đời vương giả với người t́nh mắt xanh
mũi lơ, mà thắng lợi đó có tầm vóc chính trị sâu sắc tại quốc hội với các
bạn đồng viện, và quan trọng hơn cả là, từ nay, bà có đầy đủ uy quyền để
tham dự vào những quyết định quan trọng của bộ năo chế độ.
Cho nên sau Đạo Luật Gia Đ́nh, bà Nhu bèn xúc tiến
việc thành lập Phong Trào Phụ Nữ Liên Đới. Ngày 20 tháng 5 năm 1958,
tại nghị trường Quốc hội, bà Nhu chính thức kêu gọi đoàn viên của Liên Đoàn
Công Chức (một tổ chức do ông Nhu thành lập) hăy cho vợ của họ tham gia
Phong Trào Phụ Nữ Liên Đới.
Tuy những văn kiện chính thức của phong trào – trên
mặt lư thuyết – có một nội dung tương đối tiến bộ, nhưng chính sự tiến bộ đó
cũng không phản ảnh được thực trạng Việt Nam lúc bấy giờ, đó là chưa nói đến
chương tŕnh hành động của Phong Trào th́ lại càng không phù hợp với những
nhu cầu cấp thiết của xứ sở trong giai đoạn đó. Nhưng điểm thất bại lớn nhất
của Phong Trào không phải chỉ v́ tính chất lư thuyết thiếu thực tế đó mà đặc
biệt v́ người khai sinh ra nó, tuy là một người có quyền lực lớn lao nhưng
lại không có đủ đức độ và khả năng lănh đạo để thúc đẩy cho
Phong trào hoạt động.
Cho nên Phong Trào Phụ Nữ Liên Đới ở cấp trung ương
chỉ gồm phu nhân của các vị Bộ trưởng, Dân biểu và Tổng giám đốc mà không
thấy sự tham dự của vợ các vị giáo sư Trung Đại học hoặc các nhà làm văn
hóa. Về phía quân đội cũng chỉ thấy vợ của tướng Nguyễn Văn Là, vợ của Đại
tá Cao Văn Viên và vợ của Đại tá Tạ Xuân Thuận mà thôi. Trong khi phát triển
phong trào ra miền Trung, bà Nhu đă bị ông Cẩn cản trở mạnh mẽ đến nỗi cuối
cùng đích thân ông Diệm phải can thiệp và c̣n cam kết sẽ sa thải bác sĩ Trần
Kim Tuyến khỏi chức vụ Giám đốc sở Nghiên cứu Chính Trị như một điều kiện
thương thảo, “Chú Cẩn” mới chịu để cho Phong trào thành lập cơ sở tại một số
tỉnh miền Trung như Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang… mà chủ tịch tỉnh bộ, dĩ
nhiên, lại là các bà Tỉnh trưởng với ủy ban trung ương gồm các bà Trưởng ty,
các bà Tiểu khu trưởng và vợ một vài vị thương gia giàu có.
Trên mặt quần chúng, rơ ràng phong trào này không
được hưởng ứng của nhân dân v́ h́nh bóng bà Nhu, người sáng lập và lănh đạo
phong trào, đă không gây được niềm tin và sự thương kính của đồng bào. Đó là
chưa nói đến bản chất “chính quyền” của phong trào này trên mặt nhân sự, từ
thượng tầng trung ương đến hạ tầng cơ sở. Trong số những bà tham dự vào
phong trào này, ít bà ư thức được đúng đắn nhiệm vụ xă hội và chính trị của
đoàn thể ḿnh, mà đa số hoặc v́ nghe theo lời chồng để bảo đảm sự an toàn
điạ vị của chồng, và số c̣n lại th́ bám theo oai lực của bà Nhu để có chút
danh ǵ với thiên hạ.
Trong nhiệm kỳ thứ nh́ của quốc hội vào tháng 8 năm
1959, trong lúc hai ông Phan Khắc Sửu và Phan Quang Đán dù đă đắc cử hàng
đầu tại Sài G̣n mà vẫn trắng trợn bị xóa tên, th́ Phong Trào Phụ Nữ Liên Đới
lại có tới 9 bà đắc cử Dân biểu: Các bà Ngô Đ́nh Nhu, Hồ Thị Chi, Nguyễn Thị
Minh, Nguyễn Kim Anh, Nguyễn Thị Xuân Lan, Phan Thị Nguyệt Minh, Nguyễn Thị
Vinh, Huỳnh Ngọc Nữ và Ngô Thị Hoa (chín nữ Dân biểu trong tổng số 123 Dân
biểu của một quốc gia 15 triệu dân quả thật là quá nhiều và đă nói lên cái
áp lực nặng nề của bà Nhu khi ta so sánh với chỉ 20 nữ đại biểu trên gần 500
vị dân cử của lưỡng viện quốc hội trong một quốc gia dân chủ 270 triệu dân
mà phái nữ đă được giải phóng tối đa như tại Hoa Kỳ). Trong một phúc tŕnh
tôi nhận được từ miền Trung, cán bộ của nha An Ninh Quân Đội đă báo cáo về
một luận điệu tuyên truyền mới của Việt Cộng gồm 4 chữ “âm thịnh dương
suy” để đánh mạnh vào niềm tin thần bí của quần chúng thôn quê về sự sụp
đổ tất yếu của chế độ khi quá nhiều đàn bà thứ “gà mái gáy” trong chính
quyền và quốc hội.
Người ta không thấy Phong Trào Phụ Nữ Liên Đới có
những hoạt động thiết thực và lâu dài nào để đóng góp cho công cuộc cứu nước
và dựng nước mà chỉ thấy những hoạt động tượng trưng, nặng phần tŕnh diễn,
để được quay phim tuyên truyền một cách rất phản tác dụng. Thỉnh thoảng ta
lại thấy các bà đi phát gạo phát tiền sau các vụ hỏa hoạn, khi mà các anh em
trong các đoàn Hướng Đạo, trong Gia Đ́nh Phật Tử hoặc các bộ phận y tế đă
khai quang an toàn và sạch sẽ các đổ vỡ khổ đau. Vào dịp Tết, các bà lại đến
Quân Y Viện phát quà cho thương bệnh binh, nhưng mỉa mai và đau đớn thay,
trong khi đi làm “công tác xă hội” th́ các bà vẫn ăn diện sang trọng, điểm
trang lộng lẫy bên cạnh các thân thể què quặt và những thảm trạng nghiệt ngă
của các nạn nhân. T́nh cảnh mỉa mai và đau đớn của những quân nhân thương
phế này đă biến thành t́nh cảm uất hận và họ đă gọi những công tác “từ
thiện” này của Phong Trào Phụ Nữ Liên Đới là công tác “xoa dầu cù là”.
Ngoài những công tác phô trương phải có này th́
nhiệm vụ tối quan trọng của các bà là phải có mặt đông đủ tại pḥng Đại Sảnh
của phủ Tổng thống, trong cái không khí mát rượi từ những máy điều ḥa không
khí lớn, để nghe bà chủ tịch Ngô Đ́nh Nhu đọc diễn văn hay ban huấn từ về
những “thành quả cách mạng” của chế độ như chủ trương nam nữ b́nh quyền để
giải phóng phụ nữ, chủ trương cộng đồng đồng tiến để cải tiến dân sinh, và
nhất là để cải chính dư luận đă chỉ trích cá nhân bà nói riêng và chế độ Ngô
Đ́nh Diệm nói chung. Những buổi hội họp này lên đến cao điểm vào ngày lễ Hai
Bà Trưng, khi mà ít nhất trên mặt h́nh thức, các bà chiêm ngưỡng bà Nhu phát
huy tối đa uy quyền danh vọng của ḿnh trong chiếc ghế bành vàng với lọng
xanh lọng đỏ, cờ vàng cờ tím trên khán đài danh dự.
Thành quả thực sự của Phong Trào Phụ Nữ Liên Đới do
bà Nhu tạo dựng là một tập thể vào khoảng 100 bà trong gần 8 triệu phụ nữ
Việt Nam tính khắp cả nước, mà quyền cũng như quư đều thuộc giai tầng thượng
lưu xă hội, cách biệt hẳn với thành phần phụ nữ hạ lưu và chị em sinh viên
học sinh vốn chiếm tuyệt đại đa số trong quần chúng miền Nam. Lại càng cách
biệt hẳn và đối nghịch với giai cấp phụ nữ ở thôn quê, vốn trọng lễ nghĩa và
có tâm t́nh mộc mạc, nên phong trào này chỉ đào sâu thêm hố chia rẽ giữa
chính quyền và quần chúng, giữa thành thị và thôn quê, giữa người giàu và kẻ
nghèo… tạo điều kiện thuận tiện cho cán bộ Cộng Sản tuyên truyền xúi giục
chồng, cha, anh, em đào ngũ theo Mặt Trận hay ở lại làm nội tuyến trong quân
đội hoặc trong bộ máy công quyền.
Cũng phải nhận rằng có một số rất hiếm các bà gia
nhập phong trào này hoặc v́ bị bắt buộc hoặc v́ quả thật muốn đóng góp cho
xă hội. Nhưng cơ cấu tổ chức của phong trào, vị trí chính trị xă hội của
phong trào và hiện thực xă hội miền Nam lúc bấy giờ không cho phép phong
trào này hiện diện, lại càng không dung thứ cho phong trào này phát triển.
Nhưng đứng trên những yếu tố đó, nếu bà Nhu biết giữ phong cách dung và ḥa
của người phụ nữ Việt Nam, biết giữ lối hành xử tiết và nghĩa của người phụ
nữ Việt Nam, và nhất là biết thông cảm, chia sẻ với tâm t́nh và nhiệm vụ
đích thực của một phụ nữ Việt Nam lúc bấy giờ, th́ đă làm ǵ có một cái quái
thai như phong trào đó, vô t́nh tạo thêm một nhược điểm lớn cho một chế độ
đang bại hoại đi sâu vào những đợt khủng hoảng sắp tới.
Sau Phong Trào Phụ Nữ Liên Đới mà chức năng và hoạt
động của nó luôn luôn đă là một đề tài đàm tiếu của quần chúng, bà Nhu thừa
thắng xông lên để khai sinh hai tổ chức mới: đoàn thể Thanh Nữ Cộng Ḥa
và lực lượng Phụ Nữ Bán Quân Sự.
Theo lời tuyên bố của bà Nhu th́ mục đích của lực
lượng này là “để sát cánh chia sẻ hiểm nguy gian lao với các chiến sĩ trên
chiến trường”, và chỉ tiêu nhân sự phải đạt là 1.500 phụ nữ có vơ trang như
đạo Nữ Quân Nhân của vợ Năm Lửa trước kia. Những lời tuyên bố đó, nếu không
phải là những bộc phát chính trị nông nổi lúc đầu th́ cũng là một lời ngụy
ngôn để mị dân và ve văn giới quân nhân v́ quả thật từ ngày thành lập tổ
chức này, chúng ta chưa bao giờ thấy những đoàn viên Thanh Nữ Cộng Ḥa ra
tiền tuyến chia bùi sẻ ngọt với anh em binh sĩ. Cũng may là họ không được
gởi ra nơi chiến địa v́ nếu họ đến th́ đơn vị nào được chiếu cố lại phải mất
công chia quân bảo vệ cho họ. Đó là chưa nói đến việc làm công phẫn lực
lượng Nữ Quân nhân, bộ phận âm thầm nhưng hiệu dụng của quân đội Việt Nam
Cọng Ḥa.
Trong suốt mấy năm hiện diện, hai tổ chức này chỉ
làm hai loại công tác: mặc đồng phục diễn hành vào những ngày lễ lớn, và tập
cơ bản thao diễn hoặc tác xạ tại vận động trường Hoa Lư hoặc vườn chơi Thị
Nghè. Chỉ có vậy thôi nhưng lúc nào cũng được bà Nhu đề cao như là một thành
quả của cuộc Cách mạng Nhân vị nhằm giải phóng phụ nữ. Chi phí cho “đoàn
quân” này chắc chắn là do ngân quỹ quốc gia đài thọ, và sự vô dụng trơ trẽn
của nó, lẽ tất nhiên, chế độ phải gánh chịu.
Điều đặc biệt là trong các buổi thực tập tác xạ mà
có ái nữ của ông bà Nhu là Ngô Đ́nh Lệ Thủy tham dự th́ thế nào cô ta cũng
là đệ nhất thiện xạ, và thế nào chỉ nội tuần sau, Bộ Thông Tin của chế độ
lại cho tŕnh chiếu dung nhan của cô Lệ Thủy trên khắp các màn ảnh chiếu
bóng của Đô Thành. Tôi không tin rằng chỉ tham dự những buổi huấn luyện bữa
có bữa không mà Lệ Thủy lại có thể trở thành thiện xạ, nhưng điều đó nếu có
cũng không đáng buồn cười. Điều buồn cười và lố lăng là từ những sinh hoạt
vô ích và hài hước như thế, Bộ thông tin của chế độ (hẳn v́ phải làm hài
ḷng ông bà Cố và ông Bác Tổng thống) đă cho tŕnh chiếu khắp nơi h́nh ảnh
đó khi mà cả nước đều biết chắc chắn và rơ ràng rằng sau những buổi tŕnh
diễn như thế, cô Lệ Thủy lại đi học trường đầm bằng xe Mercedes có cận vệ hộ
tống, và thỉnh thoảng lại ngao du nước ngoài chứ chẳng bao giờ nghĩ đến
chuyện “sát cánh chia sẻ nguy hiểm gian lao với chiến sĩ trên chiến trường”.
Cũng từ ngày bà Nhu chủ trương chuyện biểu dương
con gái của ḿnh th́ những tin đồn về thái độ kênh kiệu của Lệ Thủy trong
lớp học, tin Lệ Thủy thi hỏng vào trường Y Khoa đến nỗi ông bà Cố vấn phải
làm áp lực với ông Khoa trưởng để cô ta được thu nhận, tin Lệ Thủy khinh
thường con trai Việt Nam… được lan truyền trong quần chúng thủ đô và dân làm
báo. Những tin này không biết xác thực đến đâu, nhưng sự loan truyền của
loại tin này đă nói lên rất nhiều cái t́nh cảm quần chúng đối với gia đ́nh
họ Ngô: t́nh cảm công phẫn và khinh bỉ một gia đ́nh đứng đầu quốc gia mà đức
hạnh th́ thua người dân dă b́nh thường.
V́ quan niệm sai lầm về việc xây dựng uy tín và
quyền lực, v́ xem thường óc phê phán và truyền thống đạo đức Đông Phương cho
nên những việc làm của bà Nhu càng ngày càng làm cho bà bị quần chúng và
chính giới căm thù. Không phải nhờ cái áo hở ngực, cái ghế bọc lụa vàng có
lọng che, cuốn phim tŕnh chiếu trên màn ảnh hay các bài diễn văn đầy những
huyễn từ hoa mỹ mà người ta có thể xây dựng được sự kính trọng và cảm phục,
để từ đó đi đến sự hợp tác và thương mến. Cũng không phải nhờ cái thế em dâu
Tổng thống, Đệ nhất phu nhân, Dân biểu quốc hội, hay thủ lănh Thanh Nữ Cộng
Ḥa mà người ta có thể xây dựng được uy tín và niềm tin, để từ đó phát động
những chủ trương của ḿnh. Chính v́ không biết như thế, chính v́ trước hết
tự bản chất ngạo mạn và ham danh vọng, rồi sau đó v́ được nâng niu bởi những
lời tâng bốc nịnh bợ, nên bà Nhu đă trở thành một loại ác phụ trước mặt nhân
dân Việt Nam, trở thành một thứ “Rồng cái” (Dragon Lady) trước mặt
công luận thế giới.
Cai trị cốt lấy nhân tâm làm đầu. Nhất là cai trị
để chống Cộng Sản th́ phải lấy sự thu phục nhân tâm làm quốc sách, bà Nhu và
cả gia đ́nh họ Ngô xem thường quy luật gia bảo này của lịch sử cách mạng
Việt nên bị dân tộc khước từ là chuyện sẽ phải xảy ra.
Ngoài ba tổ chức chính trị ồn ào trống rỗng nói
trên, bà Nhu c̣n thành lập các kư nhi viện để giúp phụ nữ gởi con nhỏ trong
giờ làm việc. Cũng như những chương tŕnh khác, chương t́nh kư nhi viện cũng
đi vào thất bại và tạo thêm mâu thuẫn với quần chúng v́ tính cách thiếu căn
bản của nó và v́ cái cung cách hành xử của bà Nhu.
Trước hết, Việt
Nam
của cuối thập niên 50 chưa phải là một nước phát triển kinh tế sung măn để
vận dụng một khối nhân lực khổng lồ đến nỗi phải động viên phụ nữ vào làm ở
các cơ sở kỹ nghệ hay dịch vụ thương măi tại các đô thị. Truyền thống gia
đ́nh Việt Nam và hoàn cảnh xă hội Việt Nam cũng khuyến khích và cho phép một
người mẹ bận việc đi xa, dù là đi rất xa và lâu, gởi con cho người thân của
ḿnh hoặc bên nội hoặc bên ngoại (trong cái hệ thống khắng khít của đại gia
đ́nh Việt Nam), chứ không bao giờ gởi con cho người lạ. Túng lắm th́ gởi con
cho hàng xóm quen thân chứ có bao giờ t́nh mẫu tử của một phụ nữ Đông phương
lại bị đứt đoạn để v́ việc gởi con mà ray rứt suốt cả ngày xa cách. T́nh th́
không đúng mà lư lại càng sai, cho nên các kư nhi viện của bà Nhu bảo trợ
xây cất, sau những buổi khánh thành quay phim ồn ào, trở thành vườn hoang
nhà trống, hay kho hàng kho gạo của thành phố nếu cơ sở chưa đến nỗi suy sụp
v́ thời gian và sự vô dụng.
V́ không lấy mục tiêu phục vụ quần chúng là chính
mà chỉ chuộng h́nh thức làm những việc để ḿnh nổi danh, cho nên cả chương
tŕnh kư nhi viện được hâm nóng lên mấy tháng cho thời sự nhắc nhở rồi sau
đó đi vào quên lăng. Kiểu áo hở cổ do bà Nhu đề xướng cũng là một ví dụ điển
h́nh của quan niệm này. Nghĩa là cũng bắt nguồn từ sự háo danh mà không đếm
xỉa ǵ đến quan niệm thẩm mỹ có tính đạo đức của truyền thống Việt Nam, vốn
lấy sự kín đáo làm nét đẹp, lấy sự dịu dàng làm sức mạnh quyến rũ mà xác tín
rơ ràng nhất là trong nước, dù chiếc áo đă kinh qua nhiều biến đổi vẫn giữ
lại cổ áo để che vai che ngực, và ngoài nước, đă đoạt được nhiều giải thưởng
trong các cuộc thi tŕnh diễn thời trang quốc tế tại Nhật Bản, Tân Gia Ba,
Vọng Các… Cho nên “kiểu áo bà Nhu”, trừ một vài bà trong Trung ương của
Phong Trào Phụ Nữ Liên Đới, một số các cô gái bán Bar, c̣n th́ không thấy ai
mặc. Chị em phụ nữ tẩy chay không mặc không phải chỉ v́ mặc nó th́ bị bạn bè
xem là chạy theo “mode bà Nhu” vốn chẳng phải là một lời khen thưởng, mà c̣n
v́ tính cách trơ trẽn thiếu thẩm mỹ của nó.
Từ việc biến lễ Hai Bà Trưng thành ra một lễ Quốc
Khánh thứ nh́, đến việc xây tượng Hai Bà Trưng ở công trường Mê Linh Sài G̣n
có khuôn mặt giống mẹ con ḿnh, đến đạo luật Gia Đ́nh, đến việc tổ chức Phụ
Nữ Liên Đới, Thanh Nữ Cộng Ḥa, Phụ Nữ Bán Quân Sự, đến việc thành lập kư
nhi viện, đến việc đề xướng kiểu áo dài hở vai… bà Nhu đă phản ảnh đầy đủ
một tâm hồn Tây phương nổi loạn mà bà tưởng là cách mạng tiến bộ, hoàn toàn
mất bản chất dân tộc và sống cách biệt với hiện thực của quê hương.
Về tượng Hai Bà Trưng, ta thấy chẳng những nhà Ngô
xúc phạm đến hai vị anh thư liệt nữ Dân Tộc mà c̣n cao ngạo một cách vô văn
hóa nên đă gây phẫn nộ cho toàn dân.
Do đó, sau này, ngày 2–11–1963 không phải chỉ sinh
viên và thanh niên chặt cổ và hạ bệ bức tượng giả mạo đó kéo đi khắp Sài G̣n
để hạ nhục mẹ con Ngô Đ́nh Nhu như tôi sẽ nói rơ ở một chương sau, mà thi sĩ
Đông Hồ và học giả Nguyễn Hiến Lê cũng phải lên tiếng việc làm phạm thượng
của người đàn bà mà Đại tá Thi và Trung tá Đông gọi là “đĩ thơa trong dinh
Độc Lập”.
Trong Hồi kư “Đời Viết Văn Của Tôi” (tr.
200, 201). Học giả Nguyễn Hiến Lê trong đoạn phê b́nh thơ thi sĩ Đông Hồ đă
viết:
… Nhưng tôi thích nhất hai bài thơ luật
“Tượng Ai Đâu Phải Tượng Bà Trưng” (trên báo Bút Hoa, ngày 1- 4
-1964):
I
Tượng ai đâu phải
tượng bà Trưng
Tóc uốn lưng eo kiểu lố lăng
Đón gió lại qua người ưỡn ẹo
Chờ chim
Nam Bắc dáng tung tăng
Khuynh thành mặt đó y con ả,
Điêu khắc tay ai khéo cái thằng!
Chót vót đứng cao càng ngă nặng
Có ngày găy cổ đứt ngang lưng.
II
Đây một h́nh xưa nhục nước non
Thay hai h́nh mới đứng thon von
Ḿnh ni lông xát lưng eo thắt
Ngực xú chiêng nâng vú nở tṛn.
Tưởng đứng hiên ngang em với chị
Hóa ra d́u dắt mẹ cùng con
Ḍng sông Bến Nghé, ḍng sông Hát
Lưu xú lưu phương tiếng để c̣n.
Cả hai bài đều cực tả vẻ điếm đàng của
hai mẹ con nhà Ngô. Hai cặp luận đề hay: mạt sát nhà Ngô và kẻ điêu khắc:
mặt đó y con ả, tay ai khéo cái thằng (bài I). Hai tiếng dắt díu với cảnh mẹ
con Ngô Đ́nh Nhu lúc đó bơ vơ ở Mỹ hay ở Âu (bài II). Hai câu kết cảm xúc
triền miên.
Phong cách và hành xử, ngôn ngữ và tâm trạng, hoạt
động và chủ trương của bà Nhu đă là một tháp ngà ồn ào và cao ngạo giữa một
đất nước đang bị Cộng Sản đe dọa và giữa một dân tộc chưa lành vết đau quá
khứ th́ lại bị vết thương của hiện tại. Phê phán về bà, ông Nguyễn Thái, cựu
Giám đốc Việt Tấn Xă, đă phải than là thiếu ǵ công tác cấp bách phải làm để
cứu chữa một ngôi nhà đang sụp đổ mà bà Nhu lại bày ra những tṛ hề cho
quyền lợi riêng tư và cho thỏa măn tham vọng dương danh lănh tụ của ḿnh !
Trong trường hợp của bà Nhu, quan niệm xă hội học
“hoàn cảnh tạo ra con người” đă chứng tỏ hoàn toàn đúng. Bà Nhu sinh trưởng
trong một gia đ́nh trưởng giả mà người trong gia đ́nh chỉ nói tiếng Pháp với
nhau, mà bà mẹ th́ giao du thân mật với hạng thượng lưu Việt, Pháp, Nhật, mà
một bà chị có chồng danh giá th́ vẫn công khai ngoại t́nh với một người đàn
ông ngoại quốc, mà một người em trai (Trần Văn Khiêm) th́ đàng điếm chơi
bời, và sau 1975 qua Mỹ, đă nổi điên giết cả cha mẹ, nghĩa là một gia đ́nh
Tây hơn cả Tây. Bà Nhu lại là một nữ sinh tồi tệ của một trường đầm ở Hà
Nội, đang theo học giữa Trung học th́ bỏ ngang (tài liệu của kư giả Stanley
Karnow) khi lấy chồng th́ lấy một cậu Ấm xuất thân từ một gia đ́nh phong
kiến quan liêu, làm công chức ngạch Pháp. Bà lại càng kiêu căng lộng hành v́
chồng bà lớn hơn bà những 14 tuổi, mang mặc cảm quá nửa chừng xuân nên phải
hết sức nâng niu chiều chuộng bà để khỏi mất hạnh phúc gia đ́nh. Đă thế, gia
đ́nh chồng nhờ “thời thế tạo anh hùng”, đă nắm được quyền lănh đạo quốc gia,
nâng vợ chồng bà lên thành quốc sư và quư phi (lời của ông
Đoàn Thêm), để bà có cơ hội khuynh loát đất nước. Được nặn đúc từ một gia
đ́nh như thế, lại có quyền hành tuyệt đối trong tay vào lúc thời thế loạn
ly, cho nên tâm hồn của bà là tâm hồn của một kẻ đắc thế và muốn tận dụng uy
quyền, thế lực, danh vọng của ḿnh để thỏa măn những bản năng và ẩn ức tâm
lư luôn luôn sắp tung nổ. Thật vậy, cứ nh́n buổi sinh hoạt ngày 13 tháng
Chạp năm 1957 của Quốc hội th́ thấy rơ. Khi thảo luận về luật Gia Đ́nh, Dân
biểu Bùi Quang Út lễ độ yêu cầu bà làm sáng tỏ một vài điều nhưng bà không
thèm tôn trọng các nguyên tắc thảo luận nghị trường, và mặc dù bà cũng chỉ
là một Dân biểu nhưng lại lên giọng áp đảo ông Út ngay: “Tôi không đến đây
để trả lời ông Bùi Quang Út. Những điều luật trong dự luật sẽ có quốc hội
trả lời”. Trong một buổi sinh hoạt khác, ngày 27–5–1958, khi Quốc hội đă bị
áp lực của anh bà và chồng bà biểu quyết và thông qua đạo luật xong, với
cung cách và ngôn ngữ của một lănh tụ, bà Nhu tuyên bố:
Tôi muốn nhắc nhở cho các ông Dân biểu biết rằng
cuộc cách mạng chính trị, xă hội, kinh tế của chúng ta đă hoàn thành chỉ
trong thời gian 3 năm (sic). Đó là một kỷ lục mà chúng ta phải tự hào. V́
thế tôi yêu cầu các ông hăy tha thứ các lời công kích vô liêm sỉ của những
kẻ dốt nát đă nói những lời bẩn thỉu.
Hành động ngạo mạn, cử chỉ khiêu khích, ngôn ngữ
trịch thượng như thế mà không những chỉ chồng bà ca ngợi và khuyến khích mà
chính ông Diệm cũng bênh vực cho bà, tiếp tay gây thêm phẫn uất trong quần
chúng. Theo ông Đoàn Thêm th́ Tổng thống Diệm thường nói: “Bà Nhu có làm ǵ
đâu mà thiên hạ cứ hay dèm pha nói xấu bà”.
Ngoài những thành tích lẫy lừng nhưng tác hại trên
đây, bà Nhu c̣n đưa ra những đạo luật mà cựu Đổng lư Văn pḥng Bộ phủ Tổng
thống và các kư giả ngoại quốc gọi là những đạo luật “khét tiếng” để
bảo vệ luân lư, bảo vệ thuần phong mỹ tục. Bà đă thúc giục, ép buộc Quốc hội
phải biểu quyết gấp rút đạo luật chỉ trong ṿng hai tuần lễ. Đó là một đạo
luật nhằm tiêu diệt các tệ đoan xă hội từ lâu đă bám gốc vào xă hội ta. Nội
dung của đạo luật này không phải là hoàn toàn sai tuy có những điều quái đản
như cấm trai gái cầm tay nhau đi ngoài đường, cấm ngừa thai bằng những biện
pháp không tự nhiên (ảnh hưởng của giáo luật Vatican), cấm thi sắc đẹp, cấm
đấu vơ nơi công cộng, cấm đá gà vào những dịp Tết v.v… mà bất cứ ai vi phạm
sẽ bị trừng phạt rất nặng nề. Điều đáng nói là tính cách quyết liệt và thúc
bách của nó để thay đổi ngay liền hầu hết những sinh hoạt thông thường của
người dân từ cả hàng ngàn năm nay mà không có một kế hoạch chuẩn bị chu đáo
và tiệm tiến trước. Nhất là đạo luật không đặt nặng vấn đề giáo hóa như một
cách thế cải sửa mà lại đặt trừng phạt như là phương pháp chữa trị. Nghĩa là
dùng bạo lực để pháp trị chứ không phải dùng giáo dục để nhân trị. Nhất là
bạo lực đó và hệ thống pháp trị đó lại được giao cho một bộ máy công quyền
mà tập đoàn Cần Lao đang thao túng th́ chỉ gây ra lạm dụng quyền thế để hà
hiếp người dân mà thôi.
Những đạo luật vô hiệu và vô dụng lại thất nhân tâm
như thế mà người anh chồng làm Tổng thống và người chồng làm Cố vấn chính
trị cho Tổng thống không dám lên tiếng ngăn cản
cho nên giới trí thức và quần
chúng Sài G̣n đă cho rằng chính những đạo luật chống tệ đoan xă hội này của
bà Nhu “chỉ làm nổi bật thêm lên cái tư cách đạo đức giả của bà ta mà thôi”
.
V́ cái tư cách đạo đức giả đó của bà Nhu mà Đại tá
Nguyễn Chánh Thi, Trung tá Vương Văn Đông (hai lănh tụ của cuộc đảo chánh
ngày 11–11–1960) mới gọi bà ta là “phản dân hại nước”, là “đĩ điếm trong
dinh Độc Lập”, những lời tuyên bố được Vơ Văn Hải, Chánh văn pḥng Tổng
thống Diệm, xác nhận khi ra thương thảo với phe đảo chánh. Tôi tiếc rằng Vơ
Văn Hải đă chết nên thiếu mất một nhân chứng biết rơ nhiều chuyện thâm cung
bí sử của bà Nhu. Tôi biết rằng Vơ Văn Hải đă kể cho nhiều người trong dinh
Độc Lập như bác sĩ Bùi Kiện Tín chẳng hạn, biết việc bà Nhu giao du thân mật
với viên Đại sứ Ấn Độ trong Ủy Hội Quốc Tế Kiểm Soát Đ́nh Chiến ngay dưới
văn pḥng của ông Nhu. Hải cũng có cả xấp ảnh của bà Nhu tại biệt điện và
tại bờ biển Nha Trang và bờ biển Ḥn Chồng chụp vợ chồng người Mỹ Gregory và
một người Mỹ bạn thân của bà do dân chúng Nha Trang lén chụp được và gửi cho
Hải (mong bác sĩ Bùi Kiện Tín đừng v́ những ngại ngùng chính trị hoặc v́
t́nh cảm mà không nói lên sự thật, v́ chính bác sĩ đă từng lo buồn cho Tổng
thống Diệm mỗi khi nh́n thấy những tấm ảnh đồi trụy này. Nếu bác sĩ Tín v́
một lư do nào đó mà không muốn làm sáng tỏ những sự kiện lịch sử trên th́
xin cứ hỏi Cựu Hoàng Bảo Đại hay ông Trần Văn Đôn th́ biết rơ cái đạo đức
của bà Nhu như thế nào). Đại sứ Ba Lan, ông Maneli, trong tác phẩm War of
The Vanquished cũng ghi nhận dư luận Sài G̣n cho rằng bà Nhu là một thứ
Lucretia Borgia Đông Nam Á, có liên hệ thân mật với Đại sứ Ấn Độ.
Và trong lúc bà Nhu áp lực Quốc hội để thông qua
đạo luật trong sạch hóa xă hội này th́ mỉa mai thay cho chế độ và đau đớn
thay cho dân tộc, em trai của bà là ông Trần Văn Khiêm vẫn chơi bời trác
táng và làm tiền các thương gia, em chồng là ông Ngô Đ́nh Luyện mỗi lần từ
Luân Đôn về Sài G̣n vẫn đêm đêm rượu chè như các tuỳ viên trong dinh Độc Lập
đều biết (xem hồi kư Đỗ Thọ); th́ chính chồng ḿnh là ông Ngô Đ́nh Nhu vẫn
không những hút thuốc phiện hàng ngày mà sau này c̣n làm giàu nhờ buôn bán
thuốc phiện nữa!
Như những hoạt động nặng phần tŕnh diễn chính trị
mà thiếu hẳn nội dung xă hội và không được nghiên cứu một cách nghiêm túc,
đạo luật Bảo Vệ Thuần Phong Mỹ Tục của bà Nhu chỉ làm cho xă hội tạm
mất đi cái bề ngoài xấu xa nhưng bên trong th́ các tệ đoan đó lại phát triển
mạnh mẽ hơn và tinh vi hơn. Các h́nh thức cờ bạc, hút sách, dâm ô đan kết
lại thành những hệ thống chặt chẽ và ch́m mà nhiều địa phương c̣n có
nhân viên chính quyền tham dự, các h́nh thức mua dâm và bán dâm không c̣n
công khai nữa và bắt đầu phát triển một cách có tổ chức và “thượng lưu” hơn,
đặc biệt nạn du đăng gia tăng một cách đáng sợ đến nỗi ông Diệm cũng phải lo
âu để tâm đến.
Thật thế, dù Tổng thống hô hào trong sạch hóa xă
hội, dù bà Nhu đưa ra luật Bảo Vệ Luân Lư, cấm nhảy đầm… mà nạn mua dâm bán
dâm vẫn tràn ngập, chứng cớ là đêm 18–1–1959, hai ngàn nam nữ thanh niên bị
bắt trong Đô Thành v́ tội măi dâm (xem “Hai Mươi Năm Qua” của Đoàn
Thêm trang 246).
Cuối năm 1960, trước sự bành trướng đáng ngại của
nạn du đăng cướp bóc, Tổng thống Diệm đă cho thành lập một Hội đồng Liên bộ
để giải quyết tệ trạng này. Hội đồng Liên bộ gồm có các ông Nguyễn Quang
Tŕnh (Giáo dục), Huỳnh Hữu Nghĩa (Lao động), Trần Chánh Thành (Thông tin),
Nguyễn Sĩ (Tư pháp), Trần Trung Dung (Quốc pḥng) và ba cơ quan an ninh là
tướng Nguyễn Văn Là (Công an), Lê Nguyên Phu (Hiến binh) và tôi (An ninh
quân đội) dưới sự điều hợp của Bộ trưởng Nội vụ là ông Lâm Lễ Trinh (hầu hết
các vị trên đây đều có mặt tại hải ngoại hiện nay, trừ ba ông Trần Trung
Dung, Nguyễn Sĩ, Trần Chánh Thành). Nhiều ư kiến được đưa ra thảo luận và
cuối cùng đi đến kết quả sử dụng những biện pháp mạnh: lùng bắt và nhốt
(nhưng không truy tố) thanh niên du đăng vào các lao xá. Tôi c̣n nhớ trong
buổi họp liên bộ đó, ông Trần Chánh Thành đă có một lời phát biểu lạ lùng.
Trong phần phân tích các nguyên nhân, ông cho rằng sở dĩ có nạn thanh niên
du đăng là lỗi tại chánh quyền, lỗi tại người lớn, nếu người lớn gương mẫu
th́ thanh thiếu niên sẽ noi theo. Lúc đó, tôi quên hỏi ông ta để biết có
phải ông muốn ám chỉ bà Nhu và các thành viên trong gia tộc Ngô Đ́nh không ?
Nhưng dù luật Bảo Vệ Luân Lư của bà Nhu được thi
hành với các biện pháp và các phương tiện chế tài do Hội đồng Liên bộ hỗ
trợ, và dù với sự quan tâm của Tổng thống Diệm, nạn du đăng và tệ trạng xă
hội mỗi ngày một gia tăng (đến nỗi ngay sau ngày cách mạng 1–11–63 thành
công, tướng Mai Hữu Xuân, với tư cách Đô trưởng Sài G̣n Chợ Lớn, đă phải đề
nghị đem mấy ngàn thanh niên du đăng xuống trại cải tạo Thủ Đức, một số khác
chuyển vào trung tâm huấn luyện Quang Trung. C̣n một số ít độ hơn 100 tên du
đăng hạng nặng thuộc loại bất khả trị th́ bị đày ra Côn Đảo). Cũng từ mùa hè
năm 1963, lần đầu tiên trong lịch sử giáo dục nước nhà, các đề thi Trung học
và Tú tài được một tổ chức đem bán cho các thí sinh mở đầu cho tệ nạn tiết
lộ và buôn bán đề thi kéo dài cho đến dưới thời Thiệu.
Nạn măi dâm lén lút, nạn du đăng lộng hành, phong
trào buôn bán đề thi là những tệ đoan phát xuất từ tầng lớp thanh thiếu niên
mà nguyên do chủ yếu là v́ đạo luật Bảo Vệ Thuần Phong Mỹ Tục của bà Nhu đă
không điều nghiên kỹ càng, và phần áp dụng đă không phù hợp với thực tế Việt
Nam lúc bấy giờ. Nhưng một lư do khác không kém phần quan trọng nữa là làm
sao thanh thiếu niên có thể chịu đựng không phản kháng, khi mà người mẹ đẻ
ra đạo luật đó, và những ông Cố, ông Cậu, những đoàn viên của đảng Cần Lao
lại là những người đầu tiên dẫm nát lên đạo luật đó.
Thượng bất minh, Hạ tắc loạn,
có lẽ đó là điều mà ông Trần Chánh Thành muốn nói trong buổi họp liên bộ đầu
tiên, buổi họp để giải quyết những hệ quả tác hại của một người đàn bà cũng
tác hại không kém.
Ông Trần Văn Lư, người đă từng là bạn thân và đồng
chí của nhà Ngô, đă cho tôi biết rằng năm 1943, khi ông Ngô Đ́nh Khôi và ông
Ngô Đ́nh Thục đi Hà Nội cưới cô Trần Thị Lệ Xuân cho ông Nhu th́ v́ đoạn
đường Huế–Hà Nội quá xa nên họ đă phải ngừng xe và nghỉ lại đêm tại Hà Tĩnh,
trong dinh Tuần Vũ của ông Lư. Trong dịp này, v́ sợ ông Lư chê cười nên hai
ông Khôi và Thục phải tâm sự phân trần với ông Lư như sau: “Gia đ́nh chúng
tôi nào có muốn rước “ngựa cái” về nhà để phá hoại gia phong, huống chi Cụ
tôi ngày xưa với các ông Trần Văn Thông, Thân Trọng Huề vốn chống đối nhau
th́ làm sao có thể kết làm thông gia được. Nhưng v́ chú Nhu quá mê con gái
ông Trần Văn Chương nên chúng tôi đành phải chịu khổ tâm mà chiều ḷng chú
ấy” (ghi chú: ông Trần Văn Thông là một vị Tổng đốc, ông nội của bà Nhu, c̣n
ông Thân Trọng Huề ông ngoại của bà Nhu, là một Thượng thư Nam triều cùng
thời với cụ Ngô Đ́nh Khả). Có lẽ lúc mới cưới bà Nhu, gia đ́nh không ưa nên
ông Diệm đă có lúc ném cái gạt tàn vào người bà ta như nhiều người đă biết.
Viết về bà Nhu, ông Đoàn Thêm có một đoạn phân tách
sâu sắc như sau:
“… Không những bà ấy cứ tin rằng bà
phải làm nếu không th́ chẳng ai làm một số việc mà bà coi là tối cần: như
huy động phụ nữ vào công việc chung. Nhưng họ phàn nàn: thái độ của bà làm
hại chánh sách; giả thử bà dễ dăi, nhún nhường mềm dẻo th́ may ra cũng được
tin theo phần nào, ít ra không bị ghen ghét lắm. Nhưng bà nói quá mạnh, có
vẻ coi thường hết mọi người nên dù hành động có ưu điểm ǵ chăng nữa cũng
không thể đổi ngược chiều công luận.
Nguyên do sâu xa nhất và đích thực nhất
của nỗi ác cảm chung của sự mâu thuẫn giữa lối sinh hoạt của bà và ư niệm
thắm thiết về sắc đẹp của nhiều người đàn ông nước Việt: người đẹp mà muốn
khỏe và hách nữa th́ quá lắm không chịu nổi. Nên dù phải hay trái, người đàn
bà Việt
Nam
muốn sống theo gương đàn bà tiền phong (avant-garde) Âu-Mỹ, tất chưa thể
được yên thân trên một đất nước mà nhiều người c̣n ghê sợ những Vơ Hậu và
những Từ Hi”.
Là một nhà luật học, là một nhà làm văn hóa, lại
vừa là một chứng nhân của thời đại, ông Đoàn Thêm chẳng những đă chê ông
Diệm là quan liêu phong kiến, bất tài bệnh hoạn, chỉ đáng làm quan Nam
triều, chỉ đáng làm Tổng thanh tra, ông c̣n lên án bà Nhu là một thứ Từ Hi,
Vơ Hậu, thế mà giọng văn của ông vẫn rất linh hoạt nhẹ nhàng. Phần tôi vốn
là quân nhân, nên xin nói thẳng rằng nếu gia đ́nh họ Ngô không rước “ngựa
cái” hay “rồng cái” về nhà, hoặc nếu bà Nhu khiêm cung đức hạnh và không
tham quyền háo danh trong thời gian ông Diệm cầm quyền th́ may ra ông Diệm
c̣n sống sót vào năm 1963 để họ Ngô khỏi bị ô danh muôn đời. Và tôi cũng tin
rằng nếu không có bà Nhu khuynh loát trong dinh Độc Lập, không làm Đệ Nhất
phu nhân th́ có lẽ miền Nam Việt Nam đă không đến nỗi rối loạn đưa đến thắng
lợi dễ dàng cho Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Khốn nỗi bà Nhu lại là “mẫu
nghi thiên hạ” nên thảm họa mới xảy đến cho nhân dân miền Nam như bác sĩ
Dương Tấn Tươi đă mượn tiếng cười chua chát để trách oán bà Nhu:
Dưới triều đại Ngô Đ́nh Diệm, người ta
cố tận dụng lối tuyên truyền để tŕnh bày một gia đ́nh như là đáng tiêu biểu
cho cả một dân tộc. Tuy có sự đảm bảo của bài đường luật, chữ phết vàng trên
bảng sơn đen bóng loáng nhưng nào ai dấu được sự hạ giá quá chán chường.
Cũng như đem một người đàn bà thiếu đức hạnh sơ đẳng của phụ nữ Việt
Nam
lên chức mẫu nghi thiên hạ th́ có ǵ mỉa mai hơn
.
Ngoài ra nhiều người ngoại quốc c̣n lên án vợ chồng
Ngô Đ́nh Nhu một cách quyết liệt hơn. Đồng một quan điểm với những kư giả
danh tiếng như Malcolm Brown và Sergliano, giáo sư Buttinger, người bạn của
ông Diệm viết rằng:
Đối với quần chúng Việt
Nam
nói chung và giới trí thức nói riêng th́ những cố gắng để kiểm soát nền đạo
lư công cộng và cá nhân của dân chúng làm tăng thêm một cách gay gắt điều ám
thị về bà Nhu vốn đă được coi như là người thiếu đức hạnh. Tại miền Nam Việt
Nam, vợ chồng Nhu là hai nhân vật bị dân chúng oán ghét nhất. Không có điều
ǵ mà vợ chồng Nhu không dám làm: ŕnh rập cộng sự viên, bắt bớ một cách độc
đoán những người t́nh nghi là đối lập, vu khống và xuyên tạc họ trắng trợn.
Tất nhiên khó mà thu lượm được những bằng chứng tham nhũng của vợ chồng Nhu
nhưng ai ai cũng biết họ đă bóc lột những số tiền vô cùng to lớn của thương
gia Hoa Kiều và Việt Nam, những kẻ xin môn bài xuất nhập cảng, xin đấu thầu
cho chính phủ. Lạm dụng quyền hành, hối mại quyền thế, dĩ công vi tư, tham
nhũng, khinh miệt thuộc cấp và bất chấp nhu cầu của nhân dân, nhà Ngô đă làm
gương cho Bộ trưởng, Dân biểu, Tướng lănh, Tỉnh trưởng, Xă trưởng những kẻ
mà nhà Ngô sử dụng như công cụ. Đồng ư với những việc làm xấu xa đó, những
tay sai của nhà Ngô cũng mua lấy sự khinh bỉ vừa của cả quan thầy vừa của cả
nhân dân
.
Đă mang bản chất con người hư đốn, đă bẩm sinh là
thứ đàn bà Lucretia Borgia, đă sớm hư thân mất nết từ thời c̣n là học sinh
trường trung học Albert Sarraut như kư giả Karnow đă mô tả mà sinh viên Hà
Thành thời bấy giờ nhiều người biết rơ, th́ Trần Thị Lệ Xuân tức Đệ Nhất Phu
Nhân thời Đệ Nhất Cộng Ḥa làm sao có thể trở thành người đàn bà đức hạnh
được.
Thật thế, sau khi Ngô triều bị lật đổ, bà Ngô Đ́nh
Nhu sống đời một sương phụ âm thầm và cô đơn tại ngoại ô thành phố La Mă
nhưng vẫn bị rất nhiều nhà văn, nhà báo tên tuổi không buông tha cho bà cái
tội dâm loạn và tham quyền đưa đến việc sụp đổ miền Nam và cái chết của ba
anh em Ngô Đ́nh. Những nhà văn nhà báo đó cũng không quên nhắc đến những thủ
đoạn của bà Nhu mê hoặc người anh Tổng thống độc thân mà v́ “mở miệng mắc
quai”, ông Tổng thống đành để cho người em dâu tội lỗi tha hồ lộng quyền,
thao túng chánh t́nh và xă hội miền Nam.
Dưới đây là những tài liệu mới ra đời tại hải ngoại
viết bởi những nhân chứng và nhà văn tên tuổi:
- Cuốn “Đệ nhất phu nhân” của học giả Hoàng
Trọng Miên, tác giả cuốn “Văn học toàn thư”.
- Cuốn “Những bí ẩn lịch sử dưới chế độ Ngô Đ́nh
Diệm” của ông Lê Trọng Văn vốn là đặc vụ của ông Ngô Đ́nh Nhu.
- Bài báo “Đây ngôi biệt thự mùa hè của bà Nhu
tại Đà Lạt” có lời phê phán chế độ Diệm và bà Nhu của hai nhà văn học
lớn là học giả Nguyễn Hiến Lê và thi sĩ Đông Hồ (tạp chí Tia Sáng, Houston,
số 26 tháng 8 năm 1988).
- Bài báo “Trương Đ́nh Cát và Hà Như Chi”
của Trung tướng Nguyễn Chánh Thi (tạp chí “Ánh Sáng Dân Tộc”
Fresno
số 1 tháng 5 năm 1989).
(Xin xem thêm hai bài báo ở phần Phụ Lục)
-o0o-
Hoạt động của bà Nhu c̣n nhiều loại thất nhân tâm
làm hại cho chế độ và làm lợi cho Cộng Sản đó vẫn cứ tiếp tục và lên đến cao
điểm trong chuyến công du giải độc nhân biến cố Phật giáo mà tôi sẽ đề cập
sau này. Bây giờ xin nói về ông Ngô Đ́nh Nhu, người được xem như là bộ óc
của chế độ, và nếu không có ngày
1–11–63 th́ sẽ là kẻ thừa kế đương nhiên chức vụ Tổng thống của nền Đệ Nhất
Cộng Ḥa.
Quả thật từ khi quen biết ông vào những ngày đầu
của thập niên 40, cho đến thời kỳ ông oai danh tột đỉnh những năm đầu thập
niên 60, tôi chưa bao giờ có được sự cảm mến và tín phục con người của ông
Nhu. Dù đă có lúc ông đến tận ngôi nhà nghèo nàn của tôi tại cửa Đông Ba
(Huế) để khen tặng, dù trong quá tŕnh hơn 20 năm hoạt động với ông Diệm đă
có nhiều dịp cho ông và tôi chia sẻ những thành công và thất bại chung…
nhưng chưa bao giờ, và không bao giờ, ông Nhu tạo được nơi tôi một ấn tượng
tốt của một cấp lănh đạo hữu tài hữu đức. Báo chí dưới chế độ Diệm và sau
này một vài tờ báo hải ngoại thuộc phần tử hoài Ngô trong phong trào gọi là
Phục hưng tinh thần Ngô Đ́nh Diệm chủ xướng, đă huyền thoại hóa con
người ông Nhu và tô vẽ cho ông những kích thước không bao giờ có thật. Có lẽ
v́ biết ông quá rơ, và biết từ thời ông c̣n là một công chức của Pháp, nên
tôi đă không bị chức vụ và bằng cấp của ông mê hoặc từ đầu như một số người
khác. Do đó tôi đă thấy nơi ông một loại “chính khách xa lông” rất tiêu
biểu: khi chưa có quyền th́ ve văn vận động đấu tranh chắp vá, khi nương
theo sự thành công địa vị của người anh mà bước vào nắm quyền hành th́ cũng
lại tiếp tục cái kỹ thuật mượn sức người khác để củng cố sức ḿnh mà đánh
phá mọi lực lượng đối lập. Đó là loại chính trị vận dụng thiếu cơ bản và
thiếu chiều sâu để tính chuyện lâu dài, chứ tự ông Nhu, tôi không thấy ông
thành công trong việc xây dựng một chủ lực cho chính ḿnh để làm rường cột
cho chế độ, và để tiến hành cuộc cách mạng xă hội cần thiết cho miền Nam lúc
bấy giờ. Tôi thấy rơ rằng triết lư đấu tranh của ông là t́m cách hủy diệt
địch mà không đặt trọng tâm vào việc xây dựng sức mạnh của ta trong khi
đáng lẽ phải tiến hành cả hai nhiệm vụ đó một cách song hành.
Cho nên ông đă nhờ Mỹ bảo vệ để chống Pháp mà nắm
chính quyền, rồi lại phản Mỹ để hợp tác với Pháp, và cuối cùng vào năm 1963,
nhờ Pháp để thương thảo với Cộng Sản Hà Nội. Trong nước th́ ông thẳng tay
đàn áp thủ tiêu đối lập, c̣n cái gọi là chủ lực đảng Cần Lao Công Giáo th́
chỉ khai sinh cho có rồi hoặc v́ bất tài, hoặc v́ không có chủ ư nên đă để
cho nó trở thành một thứ quái vật xổng chuồng cắn phá cả nhân dân lẫn chế
độ.
Chủ nghĩa Nhân Vị, đảng Cần Lao và Hiến Pháp VNCH
được xem như là những tác phẩm chính yếu của ông th́ như tôi đă đề cập trong
những chương trước, chỉ là những sản phẩm trí thức bệnh hoạn, chắp vá từ
nhiều lư thuyết Tây phương khác nhau và từ nhiều tiền lệ lịch sử khác nhau.
Sở dĩ có sự chắp vá chính trị ấu trĩ đó là v́ ông Nhu quan niệm cần có một
thể chế độc tài, một chủ trương cai trị độc tài, và tập trung quyền lực vào
một giai cấp lănh đạo độc tôn để trước là chống Cộng và sau là cho tên tuổi
của ḍng họ Ngô Đ́nh vào bảng vàng bia đá của lịch sử.
Nhưng từ cơ bản, chủ trương chống Cộng và xây dựng
đất nước bằng độc tài (nhất là độc tài kiểu Thiên Chúa giáo Trung Cổ) và độc
tôn (loại độc tôn quân chủ phong kiến) đă là những quan niệm chiến lược sai
lầm lớn để đối đầu với chiến tranh nhân dân của Cộng Sản và để đi t́m sự yểm
trợ có điều kiện của những nước Tây phương lấy dân chủ tự do làm nguyên lư
chỉ đạo quốc gia. Quan trọng hơn cả, độc tôn và độc tài là đi ngược với xu
thế thời đại và ước vọng của dân ta sau cả trăm năm dài ngoại thuộc. Dân tộc
xả thân v́ đất nước hơn một thế kỷ không phải để cuối cùng lại chui vào chu
kỳ nô lệ đen tối cũ.
V́ vậy, ba tác phẩm đó của ông Nhu vừa không nhất
quán giữa nội dung và h́nh thức, vừa không hiệu dụng trong thực tế, và vừa
gây tác hại cho sinh lực quốc gia. Cho nên dân tộc đă dơng dạc khước từ và
cuối cùng đă quyết liệt trừng phạt. Tên tuổi của ḍng họ Ngô Đ́nh có đi vào
lịch sử thật nhưng đi bằng ngả sau và được ghi tiếp theo vào danh sách của
những phản thần, bạo chúa Lê Long Đỉnh, Trần Ích Tắc, Khải Định, v.v…
Có chính quyền trong tay, có đảng Công Giáo Cần Lao
làm chủ lực, có Hiến pháp và Quốc Hội làm một thứ chiêu bài bảo đảm, có Mỹ
và Vatican yểm trợ… lại có Cộng Sản Hà Nội để biện minh cho hành động, có
hoàn cảnh chậm tiến của quốc gia để bào chữa cho lỗi lầm, thế mà ông Nhu đă
làm được ǵ cho quê hương đất nước trong suốt 9 năm cầm quyền, hay ngược
lại, đă tiêu diệt sức mạnh của dân tộc và chính nghĩa của quốc gia để đẩy
miền Nam đến nhanh hơn và gần hơn bờ vực thẳm của ngày 30 tháng 4 năm 1975?
Tôi xin lấy một số công tác độc đáo và được nhóm sử gia hoài Ngô tự hào để
phân tách về giá trị đích thực của ông Nhu.
Chỉ một thời gian ngắn sau khi ông Diệm làm Tổng
thống, ông Nhu bắt đầu tổ chức những lực lượng ngoại vi có tính quần chúng
để yểm trợ cho chính quyền. Đây là một công thức cổ điển về đấu tranh đă
được các đảng Cộng Sản Nga và đảng Quốc Xă Đức thiết kế để điều động và lănh
đạo quần chúng. Để bảo đảm sự hiệu dụng của công thức này, điều kiện tiên
quyết là các tổ chức này phải do một bộ phận của đảng chủ lực (hay là đảng
cầm quyền) bí mật phát động và kiểm soát mới có khả năng tạo được sức hút
rộng răi trên mọi tầng lớp quần chúng, và đến khi cần thiết có thể phát khởi
những cao trào nhân dân.
Hai tổ chức Liên Đoàn Công Chức Cách Mạng Quốc
Gia và Thanh Niên Cộng Ḥa do ông Nhu mang nặng đẻ đau, tuy đă cố
gắng bắt chước mô thức này, nhưng v́ quá thô kệch và vụng về nên trở thành
tṛ hề chính trị cho quần chúng và gánh nặng tài chánh cho quốc gia. Thật
vậy, trước hết là về mặt căn cước chính trị của các tổ chức này, ai cũng
biết là của chính quyền chứ không do nhân dân tự phát, v́ đảng Cần Lao của
ông Nhu chỉ được giao cho nhiệm vụ khủng bố tranh đoạt quyền lợi thay v́
tiến hành những tổ chức căn bản trong nhân dân. V́ đă là của chính quyền chứ
không phải của đảng th́ cái yếu tố thứ hai là bí mật điều động và kiểm soát
cũng không c̣n nữa. Lộ liễu đến cả trong cái danh xưng của tổ chức là “Công
Chức Cách Mạng” nên trọng điểm thứ hai của tổ chức là nội dung chính trị của
nó cũng trở thành rỗng tuếch. Ta hăy nghe ông Vơ Phiến, một nhà văn dân tộc
phê phán như sau:
Thật là lạ lùng: Công chức và cách mạng
là hai thái cực mâu thuẫn, một bên th́ chấp nhận cúi ḿnh theo kỷ luật, một
bên th́ muốn phá tung những câu thúc, những cái cũ kỹ. Như thế th́ làm sao
công chức với cách mạng có thể đi đôi với nhau được mà lại thành lập “Liên
Đoàn Công Chức Cách Mạng Quốc Gia”
.
Cũng vậy lực lượng Thanh Niên Cộng Ḥa mà cấp lănh
đạo từ trung ương đến tận các cơ sở tỉnh quận toàn là người của chính quyền,
hoặc lố lăng thân chính, đă không thu hút được thành phần thanh niên trẻ có
nhiệt tâm và có tinh thần cộng ḥa với những ước vọng hiến thân cho tự do và
dân chủ thật sự. Cho nên, bên trong những bộ đồng phục xanh của những công
chức “sớm vác ô đi tối vác về”, ta không t́m được những ngọn lửa bừng bừng
ḷng yêu nước của tuổi trẻ Việt
Nam
từ ruộng đồng đến giảng đường đại học, từ công trường xưởng thợ đến núi đỏ
rừng xanh. Ngược lại ta chỉ t́m thấy rất nhiều vẻ già nua thư lại, nét cam
chịu phục ṭng của những người mang thân phận làm cho hết chuyện qua ngày.
Điều thê thảm là bộ óc của chế độ lại đặt rất nhiều
kỳ vọng và tin tưởng vào những bộ phận đấu tranh như thế để bảo vệ chế độ
Cộng Ḥa và xây dựng Cách Mạng Nhân Vị:
… Nhưng ông Nhu đă tin và tin thật vào
những bộ đồng phục màu xanh. Bộ đồ đó lại không có phép lạ biến ông chủ sự
hay người thư kư thành một phần tử đấu tranh. Bắt mặc th́ mặc, xếp hàng th́
xếp hàng, giơ tay th́ giơ tay. Người tùy phái của tôi vừa cười rũ vừa thay
đồ vừa tủm tỉm xin phép “đi thanh niên”, rồi một lúc sau về lại trút vỏ
thanh niên, lại đưa giấy và mở cửa cho khách, hút thuốc và đọc báo: anh ta
cũng chẳng biết ḿnh cách mạng ở chỗ nào. Nhưng cố vấn Ngô Đ́nh Nhu, học giả
kiêm chính trị gia, đă tỏ vẻ hài ḷng về sự thành công của ḿnh khi đứng
nh́n diễn hành hàng ngàn bộ đồ xanh. Tổ chức của ông có giúp được chút nào
cho chế độ được đứng vững hay không?
.
Xuất phát từ chính quyền, mục tiêu chính trị là bảo
vệ chế độ, đối tượng kết nạp là thành phần ngoan ngoăn phục tùng, cho nên
hoạt động của các tổ chức ngoại vi này không c̣n ǵ khác hơn là đi diễn
hành, đi hoan hô đả đảo, mà không có một xác tín chính trị nào về nền Cộng
Ḥa và về cuộc cách mạng. Mà không có cũng là phải v́ nền Cộng Ḥa mà họ
đang uể oải xây dựng có phải là nền Cộng Ḥa chân thực đâu; cuộc cách mạng
mà lănh tụ của họ đang chủ xướng có phải là một cuộc cách mạng v́ họ và cho
họ đâu.
Cũng v́ vậy mà ngày 15 tháng 8 năm 1963, khi vị
Tổng thủ lănh Ngô Đ́nh Nhu kêu gọi đoàn viên Thanh Niên Cộng Ḥa “làm rạng
tỏ chính sách” bằng cách phản ứng quyết liệt với lực lượng sinh viên và Phật
tử trong biến cố đàn áp Phật giáo th́ đại đa số đoàn viên chẳng những đă
không có phản ứng ǵ hết mà c̣n ră ngũ để đứng về phía lực lượng bị đàn áp
đang đấu tranh. Phải đợi cho đến ngày 1–11–1963, khi tiếng súng cách mạng
đáp tiếng gọi của nhân dân nổ lớn, nổ mạnh vào dinh Gia Long th́ người thanh
niên gọi là “Thanh Niên Cộng Ḥa” mới hành xử thực sự một cách Cộng
Ḥa khi họ dơng dạc khước từ lời kêu cứu khẩn cấp của ông Tổng giám đốc
Thanh niên Cao Xuân Vỹ và Trung tá Trần Văn Phước, thủ lănh Thanh Niên Cộng
Ḥa Đô Thành, đang nuôi ảo vọng tổ chức một lực lượng phản đảo chánh. Thật
vậy, yếu tính của một nền Cộng Ḥa là ǵ nếu không phải là dân chủ, là quyền
làm chủ đất nước của người dân qua các định chế dân cử. Trong bộ đồng phục
màu xanh từ mấy năm qua, họ chỉ là một bộ phận tôi tớ chứ có ngày nào được
tự do chọn lựa, tự do nói lên ước nguyện của ḿnh đâu! Và ngày
1–11–63 đă cho họ cơ hội dơng dạc nói lên tiếng nói phản ánh ước nguyện của
họ đó. Cho nên chính trong ngày lịch sử đó họ mới thật sự cùng với thanh
niên cả nước trở thành những thanh niên cộng ḥa trên cả hai mặt tâm thức
lẫn hành động.
Sự thất bại trong việc tổ chức Liên Đoàn Công Chức
Cách Mạng Quốc Gia và lực lượng Thanh Niên Cộng Ḥa, hai cánh tay nối dài
của chế độ, để đi vào quần chúng do vị cố vấn Tổng thống tổ chức và điều
hành, đă nói lên rất đủ kiến thức và khả năng của ông Nhu về mặt đấu tranh
chính trị. Đó là cái kiến thức và khả năng làm những công tác biểu dương bên
ngoài mà không có một thực chất sâu sắc ở bên trong. Mà ngay cả nhiệm vụ
biểu dương đó cũng mang tính chất hài hước chứ không có tác dụng nào đối với
nhân dân Việt Nam, đối với đồng minh Hoa Kỳ, và nhất là đối với kẻ thù Cộng
Sản Hà Nội nếu không muốn nói là đă có phản tác dụng nguy hại cho chính chế
độ vậy.
Đó là nói về sự thất bại của hai tổ chức cơ hữu của
chế độ. C̣n để thực sự đối kháng với kẻ thù trên mặt trận quân sự chính trị,
ông Ngô Đ́nh Nhu đă đích thân điều khiển việc thực hiện chương tŕnh Ấp
Chiến Lược, một chương tŕnh được nâng lên hàng quốc sách.
Nói cho đúng, quan niệm chiến lược nhằm thiết kế
những đơn vị hành chánh có vơ trang tại thôn quê để tự bảo vệ và được huấn
luyện chính trị để từ đó đan vào nhau thành một hàng rào vừa pḥng ngự vừa
tấn công là sáng kiến của ông Robert Thompson, một chuyên viên chống du kích
người Anh. Sáng kiến này đă được thực hiện hữu hiệu tại Mă Lai và chận đứng
cũng như tiêu diệt quân phiến loạn Mă–Cộng, cho nên chính quyền Kennedy đă
xem đó như một sách lược quan trọng khả dĩ có thể công phá được loại chiến
tranh du kích của Cộng Sản tại chiến trường Việt
Nam.
Và cũng nói cho thật đúng th́ “Ấp Chiến Lược” không
phải là một phát minh mới mẻ lạ lùng ǵ đối với nhân dân Việt
Nam.
Trong quá tŕnh dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, nhân dân và triều đ́nh
của nước ta đă biết rào làng, lập đoàn tuần canh, cổ súy ư thức làng xă để
đối phó với giặc cướp, với quân xâm lăng và với cả sự hà khắc của thiên
nhiên nữa. Lũy tre gai góc và rậm rạp đă là những chiến lũy thiên tạo vững
chắc, đoàn tuần canh siêng năng đă là những cán bộ quân sự minh mẫn và nhiệt
t́nh; hội làng, lễ đ́nh, tế thần đă là những sinh hoạt văn hóa chính trị
nuôi dưỡng ư thức và khả năng đề kháng của xóm làng Việt Nam. Trong cuộc
chiến Pháp–Việt (1945–1954), Việt Minh đă thiết lập tại Bắc Việt những làng
chiến đấu để chận đứng những chiến dịch càn quét của quân đội cơ giới Pháp
và nhiều khi gây tổn thất nặng nề cho đoàn quân thực dân viễn chinh. Dưới
chế độ vua Bảo Đại, các Thủ hiến Phan Văn Giáo và Trần Văn Lư cũng đă xây
dựng một hệ thống pḥng thủ tại miền Trung bằng các làng Hương Vệ để bảo đảm
an ninh cho vùng nông thôn Trung Việt.
Cho nên nói rằng ông Nhu là “cha đẻ” của chính sách
Ấp Chiến Lược như bộ máy tuyên truyền của chế độ vẫn thường rêu rao, là một
sự bịp bợm ấu trĩ và đầy trào phúng. Ngay cả chính sách này, lúc được Hoa Kỳ
đề nghị, cũng đă từng bị ông Nhu đả kích kịch liệt
. Măi cho đến khi t́nh h́nh an
ninh tại nông thôn trở nên tồi tệ hơn và nhất là khi Hoa Kỳ chịu tháo khoán
một ngân quỹ lớn lao, ông Nhu mới chấp thuận thực hiện chính sách này và
thêm vào đó một mớ ư niệm “tam túc, tam giác” cho quốc sách Ấp Chiến Lược có
vẻ có một triết lư chính trị riêng, để tỏ ra ḿnh cũng có một lư thuyết
chống lại chiến tranh nhân dân của Cộng Sản.
Với một chủ thuyết chỉ đạo lai căng nửa Mỹ nửa Việt
như thế, cho nên khi biến thành hành động cụ thể để đi vào thực tế Việt Nam,
“quốc sách” ấp chiến lược đă trở thành một mối họa cho nhân dân, và trở
thành (một lần nữa) nhược điểm lớn của chế độ cho kẻ thù khai thác đánh phá.
Hai yếu tố lớn làm thui chột quốc sách này, như
thường lệ, vẫn là thứ nhất, óc chủ quan nặng lư thuyết của ông Ngô Đ́nh Nhu,
và thứ hai là bộ máy nhân sự để thực hiện quốc sách này lại chuộng h́nh
thức, tham lợi lộc và ưa nịnh hót vốn là đặc tính cố hữu của Cần Lao Công
Giáo.
Trước hết, trên mặt địa lư nhân văn, ruộng đồng
miền Nam rộng mênh mông, c̣ bay thẳng cánh nên gia cư không quần tụ lại
thành thôn xóm khắng khít như nông thôn miền Bắc, do đó đi từ nhà này đến
nhà nọ nhiều khi cách xa bốn năm cây số, hai ba con kênh. Đất đai miền Nam
lại ph́ nhiêu màu mỡ nên người dân làm ăn thư thả, tâm hồn phóng khoáng và
tính t́nh bộc trực; họ ghét sự câu thúc trên cả hai mặt tâm lư lẫn vật lư,
họ thích sống phóng khoáng trong cảnh trời cao đất rộng để đập vỡ một xị đế
theo giọng vọng cổ lên bổng xuống trầm… V́ vậy tập trung họ trong một ấp xa
xôi có rào, có hào, có cắm chông, có vọng gác đă là một điều phản tâm lư,
lại kiểm soát gắt gao giấy tờ, kiểm soát thời giờ và hoạt động nông tác của
họ th́ quả thật là thất nhân tâm. Huống ǵ bắt họ rời bỏ nơi chôn rau cắt
rốn, mồ mả cha ông, khung cảnh quen thuộc mà họ đă lớn lên th́ không khác ǵ
tước đoạt mất cái phần hồn quư giá của họ.
Đă thế, mặc dù “chương tŕnh Ấp Chiến Lược” có một
ngân quỹ dồi dào do ngân sách viện trợ Mỹ đài thọ, chính quyền địa phương
vẫn buộc dân chúng phải góp nạp vật liệu như tranh tre, mây nứa, phải đóng
góp mấy ngày công một tháng để đắp đất cắm chông mà không được trả một chút
tiền nhỏ nào cả. Ông Ngô Đ́nh Nhu lại hạ lệnh cho thuộc cấp phải huy động
tối đa tài lực của quần chúng nông thôn để đạt cho được chỉ tiêu lư thuyết
và làm đẹp những con số thống kê của thành tích chính phủ, nên các Tỉnh
trưởng, Quận trưởng lại được cơ hội chính thức và hợp pháp để làm giàu trên
nỗi uất hận của đồng bào.
Họ tổ chức các dịch vụ buôn bán, các cơ sở làm ăn,
các đường dây kiểm soát để vơ vét tiền bạc của những nông dân bị xung công
vào công tác “ấp chiến lược”. Điển h́nh là Quận Thái, quận trưởng quận Điện
Bàn và cũng là một cán bộ Cần Lao Công Giáo nổi tiếng hung thần tại tỉnh
Quảng
Nam
(Quận Thái hiện sống tại Hoa Kỳ). Y làm chủ 5 ḷ gạch gần tỉnh lỵ Quảng Nam
nên đă bắt dân chúng đến làm việc không công tại ḷ gạch trong khuôn khổ xây
dựng ấp chiến lược. Số gạch sản xuất ra được y đem bán lại cho chính quyền
với giá cao để chia sẻ với cấp trên hầu y có thể tiếp tục dịch vụ béo bổ
này.
Và rồi các ấp chiến lược cũng được xây xong trên sự
công phẫn của đồng bào, và rồi nông dân cũng phải cúi đầu nghẹn ngào từ bỏ
ngôi nhà thân thiết để dồn vào cư ngụ trong ṿng rào kẽm gai. Đợt hai của
chương tŕnh là chính trị hóa và vơ trang các đơn vị hành chánh đó để mong
nó biến thành những pháo đài chống du kích Việt Cộng. Tuy nhiên v́ bước thứ
nhất đă đạp vào bùn th́ bước thứ hai chỉ làm lún sâu thêm sự sa lầy của cả
chính sách. Cán bộ giảng huấn chính trị th́ không có ǵ hơn ngoài những luận
điệu chống Cộng hàm hồ thiếu đối chiếu với những thực tế khách quan, và
những hứa hẹn xây trường xây bệnh xá mà không bao giờ có thầy, có thuốc. Hơn
nữa tác phong chính quyền của họ chỉ làm cho họ xa cách quần chúng đang âm
thầm so sánh với tác phong của những cán bộ Cộng Sản nằm vùng gương mẫu; đó
là chưa nói đến trong suốt 10 năm kháng Pháp, quần chúng nông thôn Nam bộ đă
không thiếu ǵ bà con quyến thuộc tham gia kháng chiến, bây giờ bắt họ phải
lên án anh em, vợ chồng, cha con là “Cộng Sản khát máu ác ôn” th́ làm sao họ
tin được, họ theo được.
Những bài học chính trị, những luận điệu tuyên
truyền – nếu có phần nào thuyết phục được quần chúng tư sản đô thị th́ lại
trở nên vô hiệu quả và phản tuyên truyền trước tâm hồn b́nh dị và nhân sinh
quan mộc mạc chính trực của quần chúng nông thôn. V́ vậy trên mặt tâm lư
chiến, “quốc sách Ấp Chiến Lược” đă thất bại ngay từ trong ḷng dân rồi cho
nên “mỗi khi Việt Cộng đến tấn công (ấp chiến lược), chúng đă có đồng minh
ngay trong ấp”
.
Đến kế hoạch vơ trang cho ấp th́ lại càng quái dị
v́ nó hoàn toàn phản lại mọi nguyên tắc sơ đẳng nhất của khoa học chiến
tranh và quy luật về an ninh pḥng ngự. Xây dựng một công sự pḥng thủ cố
định mà lại không trang bị đầy đủ hỏa lực để bảo vệ nó: Hai tiểu đội địa
phương quân trong ấp với súng carbine lỗi thời và một ít lựu đạn loại ném
tay th́ làm sao cầm cự lâu dài với chiến thuật lấy nhiều đánh ít của Việt
Cộng để có thể đợi quân cứu viện. Đă thế, vị trí các ấp không được thiết kế
theo tiêu chuẩn bố pḥng trận địa để có thể phối trí cứu ứng nhau mà c̣n
phải tùy thuộc vào các điều kiện canh tác, cho nên chiến thuật công đồn đả
viện của Việt Cộng đă một thời được khai thác tối đa v́ vẫn c̣n hiệu dụng.
Cũng như chiến thuật trực thăng vận, hay thiết vận M113, chỉ sau một thời
gian điều nghiên và thăm ḍ, hệ thống Ấp Chiến Lược trở thành những con mồi
ngon cho Việt Cộng trên cả hai phương diện tuyên truyền dân vận cũng như
tiêu hao lực lượng quân đội quốc gia.
Nguyệt san Thức Tỉnh số 42 năm 1980 xuất bản tại
Los Angeles, Hoa Kỳ (do một viên cựu Quận trưởng quận Đồng Xuân, tỉnh Phú
Yên làm chủ nhiệm) cũng đă công nhận chương tŕnh ấp chiến lược là một thất
bại chiến lược nặng nề của chính phủ Diệm, nhưng lại quy lỗi cho cán bộ hạ
tầng mà không phê phán những sai lầm về đường hướng lănh đạo và kế hoạch
thiết trí của ông Ngô Đ́nh Nhu. Trong lúc đó th́ ông Rufus Phillip, cố vấn
đặc trách về Ấp Chiến Lược, lại xác quyết rằng “chương tŕnh Ấp Chiến Lược
hoàn toàn thất bại tại vùng châu thổ sông Mê Kông mà chủ yếu là v́ lănh đạo
sai, kế hoạch kém”.
Chỉ sống và biết rằng những con số thống kê và
những báo cáo êm tai, (mà điển h́nh là việc ban thưởng công đầu cho Trung tá
Khánh, người Thiên Chúa giáo Phú Cam Huế, đă hoàn thành vượt chỉ tiêu công
tác xây dựng Ấp Chiến Lược tại Ninh Thuận như tôi đă kể trong một chương
trước), ông Ngô Đ́nh Nhu rơ ràng chỉ là một nhà cai trị không có trí và
không có tài nhưng lại có rất nhiều ngạo mạn và rất nhiều độc đoán mà “tất
cả nhân chứng đều đă cho thấy mưu sĩ Ngô Đ́nh Nhu sống biệt lập trong tháp
ngà, xa rời thực tế nông thôn mà cứ đinh ninh rằng chương tŕnh Ấp Chiến
Lược là một thành công lớn v́ những sĩ quan nịnh hót, những công chức khiếp
nhược hàng tháng đă báo cáo cho ông ta như thế”
. Ngay cả Đại sứ Ba Lan Maneli
cũng chê bai việc thực hiện chương tŕnh Ấp Chiến Lược của ông Nhu.
Georges Chaffard, sau khi chỉ trích Ngô Đ́nh Nhu là
nhà độc tài đă thiết lập chương tŕnh Ấp Chiến Lược làm cho dân chúng căm
thù chế độ, c̣n cho biết trong một chuyến tham quan các Ấp Chiến Lược do
chính phủ tổ chức cho một số Đại sứ ngoại quốc tại Sài G̣n do Giáo sư Bửu
Hội hướng dẫn, Đại sứ Ba Lan, ông Mieczyslaw Maneli đă
... dùng vai để thử sức chịu đựng của
hàng rào che chở Ấp Chiến Lược rồi quay lại phía một viên chức Việt
Nam
mà hỏi: “Như thế mà ông tin tưởng có thể chận đứng được Việt Cộng hay sao?”.
Bằng tay không, Maneli nhổ một cái cọc rồi ném vào chân người công chức
chính phủ đang ngẩn ngơ.
(Maneli éprouve de l’épaule la solidité de la palissade protégeant un
hameau, puis se tournant vers le responsible Vietnamien: “Est ce avec celà
que vous croyez arrêter les Vietcongs?” A pleine main, il arrache un pieu et
le jette aux pieds du fonctionnaire médusé). Les Deux Guerres du Vietnam,
tr. 296-297.
Cựu
Tỉnh trưởng Nguyễn Trân, một tín đồ Thiên Chúa giáo, lại vốn là bà con của
nhà Ngô, cũng đă kết tội rất nặng nề chính sách “Ấp Chiến Lược” trong cuốn
hồi kư “Công và Tội” của ông ta:
… Bị
dân chúng chống đối mạnh khắp nơi, Tổng thống ngưng việc làm các Khu Trù mật
sau khi đă lập xong 26 khu để thay thế bằng chính sách Ấp Chiến Lược. Dân
chúng trên toàn quốc bị bắt buộc phải nạp tre và đi dân công để xây hàng rào
xung quanh ấp và đào hào bên ngoài để không cho Cộng Sản tuyên truyền cho
dân và dân khỏi tiếp tế cho Cộng Sản.
Tại
miền Trung, theo tài liệu chính thức, Ngô Đ́nh Cẩn bắt dân chúng góp mỗi
người từ 1000 đồng tới 1500 đồng để mua tre, kẽm gai và đi dân công từ 10
tới 15 ngày để làm hàng rào, đào hào, giăng kẽm gai.
Tại
miền Nam, với 80% xă thôn bị Cộng Sản kiểm soát, các Quận trưởng phải mở
những cuộc hành quân để bắt dân phục dịch và vợ con phải đem cơm nước cho
họ.
Chính sách đó hoàn toàn thất bại trên nguyên tắc cũng như trên thực tế. Trên
nguyên tắc, không có cách nào phân biệt giữa người dân thường với Cộng Sản.
Gom dân vào bên trong Ấp Chiến Lược tức là gom cả cán bộ Cộng Sản vào với họ
v́ môi trường hoạt động của Cộng Sản là dân. Chúng không tuyên truyền Cộng
Sản công khai, mà khai thác sự công phẫn của dân chúng chống Khu Trù mật và
Ấp Chiến Lược bắt dân chúng phải phục dịch khốn khổ.
Cưỡng bách dân chúng phá hoại mùa màng để lập Khu Trù mật với tánh nóng nảy
phi lư của Tổng thống Diệm như trường hợp tỉnh Cần Thơ chỉ làm cho dân chúng
thù ghét ông như thể một Tần Thủy Hoàng. (“Công và Tội”, tr.
332-333).
Ông
Nguyễn Trân c̣n viết thêm:
Sách
“A Death in November” của Tiến sĩ Ellen Hammer viết đầy thiện cảm với Tổng
thống Diệm như sau này tôi sẽ t́nh bày, đă tường thuật rằng một ngày Xuân
1963, ba Ủy viên trong Ủy Hội Kiểm Soát Đ́nh Chiến là Gordon Cox người Gia
Nă Đại, Ramchundur Goburdhum, người Ấn Độ và Mieczyslaw Maneli, người Ba
Lan, đă đi với Đại sứ Bửu Hội thăm một Ấp Chiến Lược ở Cao Nguyên.
Maneli đi trên đầu nhọn các cây hàng rào của ấp, lấy tay lắc xem có chắc
không. “Không có chắc lắm!” Maneli vừa cười vừa nói, “thằng con nhỏ của tôi
ở Warsaw có thể xô ngă. Chính phủ có chắc tin sẽ dùng hàng rào này để ngăn
cản du kích không?” (“Công và Tội”, sđd, tr. 333-334).
Toàn
bộ chương tŕnh Ấp Chiến Lược chỉ làm tổn hao công quỹ quốc gia và tạo thêm
gánh nặng cho quân đội mà hai mục tiêu chính vẫn hoàn toàn không đạt được:
mục tiêu bảo vệ an ninh và bồi dưỡng chính trị cho dân th́ chỉ làm cho dân
thêm lo âu bất măn; mục tiêu cô lập cán bộ Cộng Sản ra khỏi dân th́ chỉ làm
cho cán bộ Việt Cộng len lỏi vào được sống trong Ấp để dễ dàng làm nội tuyến
và địch vận (sau này, dưới thời Nguyễn Văn Thiệu, phải nhờ đến cả một chiến
dịch Phượng Hoàng do người Mỹ điều khiển mới phần nào phát hiện và tiêu diệt
được sự xâm nhập quá sâu này của cán bộ Việt Cộng tại nông thôn từ thời
Diệm).
Lấy
hai thất bại của công tác xây dựng lực lượng quần chúng ngoại vi (Liên Đoàn
Công Chức Cách Mạng Quốc Gia và Lực Lượng Thanh Niên Cộng Ḥa) và quốc sách
Ấp Chiến Lược để phân tích, tôi chỉ muốn định lại cho đúng giá trị của ông
Ngô Đ́nh Nhu. Hai công tác đó tiêu biểu cho chức năng và khả năng của một
nhà lănh đạo trong giai đoạn đáng lẽ phải vươn lên đó của đất nước. Nhưng v́
khả năng th́ thấp kém mà vẫn tự cao tự đại, chức năng th́ không nắm vững mà
vẫn hống hách độc quyền, nên ta có thể kết luận rằng chính sự thất bại của
ông Nhu đă soi lủng cái nền móng sức mạnh của quốc gia và dân tộc, để sau
này, những chế độ tiếp theo có xây dựng được ǵ th́ cũng sụp đổ mà thôi.
Chương tŕnh Ấp chiến lược làm khổ dân như thế, làm lợi cho Cộng Sản như
thế, thế mà sau khi lật đổ chế độ Diệm, Tướng lănh cho phá hủy để lấy lại
ḷng dân lại bị Cần Lao Công Giáo kết tội là phá hoại, giúp Việt Cộng phát
triển.
-o0o-
Trên
mặt đối ngoại vào những năm đầu của chế độ, nhờ đă được bảo trợ bởi cây dù
ngoại giao của Hoa Kỳ nên nhiệm vụ của chính quyền chỉ c̣n là khai dụng
những liên hệ tốt đẹp với các quốc gia trong ṿng ảnh hưởng của Mỹ để tiếp
nhận các viện trợ phát triển mà thôi. Nhưng đứng về mặt an ninh quốc gia th́
sự can thiệp dứt khoát của Mỹ tại miền Nam Việt Nam đă là một bảo đảm vững
chắc cho sự sống c̣n và lớn mạnh của quốc gia. Nhưng sự vững chắc đó chấm
dứt khi thế liên kết chiến lược với hai quốc gia trong bán đảo Đông Dương là
Lào và Cao Miên bị đổ vỡ mà nguyên nhân sâu xa (một lần nữa) lại là sự yếu
kém ư thức chính trị và tính ngạo mạn của anh em họ Ngô.
Nguyên ông Norodom Sihanouk, Quốc trưởng Cao Miên, vốn là một nhân vật háo
thắng, quyền biến, nhiều thủ đoạn và không thân thiện với Việt Nam v́ những
mâu thuẫn lịch sử trong quá khứ giữa hai nước, nhưng lập trường căn bản của
ông Sihanouk vẫn là lập trường chống Cộng và thân Tây phương.
Ngay
sau khi Hiệp Ước Genève 1954 thành h́nh, ông Sihanouk vẫn thường đ̣i hỏi sửa
đổi lại biên giới Miên Việt để dành lại một số đất đai mà các Vua nhà Nguyễn
đă chiếm đoạt của Cao Miên. Ông Sihanouk thường cho quân đội quấy phá vùng
biên giới nên năm 1956, ông Nhu đă phải sang Phnom Penh viếng thăm thân hữu
ông Sihanouk mong giải ḥa.
Hai
bên đă thỏa thuận sẽ thiết lập một mối giao hảo tốt đẹp giữa hai nước và mặc
nhiên công nhận thỏa ước Dupré, do vị Tổng đốc Pháp tại Nam Kỳ và Miên hoàng
Norodom kư năm 1873 về biên giới Việt–Miên. Cao Miên không thừa nhận chính
quyền Bắc Việt nên không có quan hệ ngoại giao với Hà Nội và tôn trọng hiệp
ước Genève 1954, Cao Miên chỉ thiết lập bang giao với Việt Nam Cộng Ḥa ở
cấp bực đặc sứ mà thôi (ministre plénipotentiaire).
Nếu
sau những thỏa thuận ngoại giao đó mà chế độ Diệm biết khai thác mối giao
hảo để xây dựng một thế liên minh chính trị quân sự “môi hở răng lạnh” với
Cao Miên, hoặc ngay cả nếu biết dùng những thủ đoạn phi ngoại giao (như mua
chuộc) để duy tŕ mối thân hữu với cá nhân ông hoàng Sihanouk th́ có lẽ miền
Nam sau này đă không điêu đứng v́ các mật khu ven biên của Việt Cộng.
Nhưng v́ không có được tầm nh́n chiến lược lâu dài, không có ư thức cụ thể
được sự mâu thuẫn trầm trọng có tính lịch sử của hai dân tộc, lại cao ngạo
xem thường Cao Miên trong cung cách của một đại quốc phong kiến, nên anh em
ông Diệm đă làm cho ông Sihanouk trở thành kẻ thù của chế độ, và từ đó, của
cả miền Nam Việt Nam.
Khủng hoảng ngoại giao bắt đầu do quyết định của ông Nhu đề cử với ông Diệm
cho ông Ngô Trọng Hiếu làm đại sứ của Việt Nam Cộng Ḥa tại Cao Miên. Ngay
sau khi tŕnh ủy nhiệm thư, vị tân đại sứ bèn trịnh trọng đến chiêm bái đền
thờ Trương Minh Giảng là vị đại thần nhà Nguyễn đă từng mang quân sang tấn
chiếm và đô hộ Cao Miên bằng bàn tay sắt trong suốt bảy năm, từ 1835 đến
1841
.
Dù
cho hành động đó có phát xuất từ ḷng kính trọng tiền nhân thực sự (?) hay
từ ngu dốt về lịch sử đi nữa th́ cũng không thể biện minh được cho sự vụng
về ngoại giao và những thiệt hại chiến lược sau này. Tŕnh diễn chuyện chiêm
bái đền thờ tiền nhân mà làm nguy hại tổ quốc th́ tŕnh diễn làm ǵ, huống
hồ nếu quả thật có yêu nước th́ việc chiêm bái đó vẫn có thể làm âm thầm mà
không có ai hay biết. Chính hành động phản ngoại giao đầu tiên này của ông
Ngô Trọng Hiếu đă làm cho ông Sihanouk bất măn với chính phủ Sài G̣n và dân
chúng Cao Miên tăng thêm ác cảm với dân tộc ta.
Mấy
tháng sau đó, khi ông Sihanouk đáp lời mời của chính phủ Sài G̣n qua thăm
viếng thân hữu Việt Nam, trong buổi hội kiến tại dinh Độc Lập, ông Diệm lại
có thái độ trịnh thượng trong cách đối xử, và tỏ vẻ lạnh lùng với ông
Sihanouk làm chạm tự ái vị Hoàng tử nhiều tham vọng này. Là nguyên thủ của
một vương quốc mà thế quyền và giáo quyền đă như h́nh với bóng, ông Sihanouk
được toàn dân Cao Miên ngưỡng mộ và kính trọng như một vị Thần, thế mà lại
bị người lân bang khinh thường, chẳng trách sau này ông Sihanouk đă xuống
tay hạ độc thủ Việt Nam Cọng Ḥa bằng cách dung dưỡng cho Việt Cộng lập mật
khu an toàn.
Cụ
Hoàng Văn Chí, trong tác phẩm “Duy Văn Sử Quan” (tr. 96), cũng đă phê
phán nặng nề thất bại ngoại giao đó như sau:
Có
một câu hỏi cần được nêu lên: Tại sao ông Diệm lại hách đối với Sihanouk,
trong khi ông Diệm chỉ là một cựu quan lại và Sihanouk là một cựu quốc
vương? Xin thưa là tại có hai lư do:
-
Ông Diệm là quan lại, xuất thân trong một gia đ́nh ba đời làm quan, mà quan
lại thường tự coi ḿnh là “dân chi phụ mẫu”, thường có thái độ hách dịch đối
với bất cứ ai. V́ biết như vậy nên năm 1945, Nhật không dám cử ông làm Thủ
tướng, mặc dầu ông ráo riết vận động.
-
Hai là ông có mặc cảm tự tôn, khinh miệt tất cả những chủng tộc khác, kể cả
người Miên và những thiểu số trong nước v́ họ không có văn hóa Hán tộc,
không phải là con cháu ông Thần Nông bên tàu.
Mang
cái bệnh “mục hạ vô nhân” từ trong bản chất, ông Diệm tuy gọi là môn đồ Nho
học mà vẫn không nhớ chủ trương của Khổng Minh Đông ḥa Tôn Quyền để Bắc
phạt Tào Tháo. Đọc lại sách xưa, ta thấy kẻ tài trí như Khổng Minh mà
vẫn phải nhờ đến kế cưới em của Tôn Quyền cho Lưu Bị để cầu ḥa mong được
tạm yên phương Đông hầu đối phó với phương Bắc. C̣n ông Nhu xuất thân từ Tây
học mà không học được bài học của tướng De Gaulle, của Nhật hoàng Hirohito.
Tổng thống De Gaulle, vị anh hùng cứu quốc của Pháp, sau khi trở lại chính
quyền vào năm 1958 đă biết để tự ái quốc gia, tự ái cá nhân qua một bên,
đích thân sang Đức để bắt tay ḥa hiếu với kẻ láng giềng cựu thù v́ ông biết
sự nhún nhường đó có lợi cho quê hương dân tộc ông. Cũng như Nhật hoàng
Hirohito khi tuyên bố đầu hàng Đồng Minh vào tháng 8 năm 1945, đă thống
thiết kêu gọi nhân dân hăy v́ tương lai xứ sở mà đổi căm hờn thành nhẫn
nhục, cứ tạm ẩn nhẫn dưới gót giày sắt của kẻ chiến thắng là Mac Arthur để
âm thầm xây dựng đất nước.
Tự
cho ḿnh là kẻ mạnh nước lớn, anh em ông Diệm khinh bạc vị Quốc trưởng Cao
Miên mà không nhớ chuyện ngụ ngôn ấu trĩ về con chuột nhắt có thể cứu được
mạng sống chúa sơn lâm sa lưới, chuyện con kiến có thể làm đau đớn chú voi
khổng lồ.
Tổng
thống và đại sứ th́ vụng về trong việc giao tế, ông Nhu lại c̣n nuôi dưỡng,
giúp đỡ những kẻ thù của ông Sihanouk là Sam Sary và Sơn Ngọc Thành trong âm
mưu lật đổ chính phủ đương nhiệm. Sam Sary và Sơn Ngọc Thành là hai nhân vật
không có uy tín, không có thực lực, lại không có khả năng đấu tranh chính
trị, thế mà ông Nhu lại mù quáng tin tưởng vào hai nhân vật đó nên định đầu
tư để tính kế lâu dài. Ông Nhu tin tưởng nên ồ ạt xuất quỹ mật yểm trợ mà
không điều nghiên kỹ lưỡng, không có kế hoạch khoa học, không có nhân sự
giỏi để thi hành nên chẳng bao lâu Sam Sary bị ông Sihanouk bắt và thảm sát,
c̣n Sơn Ngọc Thành th́ sống vương giả tại Sài G̣n, không gây được tiếng vang
nào.
Sự
yếu kém của ông Nhu về khả năng phân tích chính trị cũng như về khả năng tổ
chức đă không những làm phí phạm ngân quỹ quốc gia mà trên mặt chính trị
quốc tế c̣n gây thêm một kẻ đáng lẽ là bạn th́ lại trở thành thù thiên thu.
Thật
thế, vào cuối năm 1964, nhân tướng Nguyễn Khánh lúc bấy giờ là Thủ tướng
chính phủ chỉ định tôi đi Thái Lan để quan sát tổ chức kháng chiến chống ông
Sihanouk của Sơn Ngọc Thành, tôi được biết rơ uy tín và thực lực của Sơn
Ngọc Thành đối với ông Sihanouk chỉ như trứng chọi với đá, không có một
triển vọng nào làm cho ông Sihanouk phải quan tâm như lịch sử đă chứng minh.
Sự yếu kém của Sơn Ngọc Thành càng nổi bật khi ông ta làm Thủ tướng mấy
tháng dưới chế độ Lon Nol.
Tại
Bangkok, trong các dịp thảo luận với Thủ tướng Thái Lan Thanon Kiitikachon,
cũng như trong các buổi họp với cơ quan T́nh báo Trung ương Thái, tôi rất
thất vọng khi chính phủ Thái cho biết rằng Sơn Ngọc Thành chẳng có thực lực
ǵ. Lực lượng vơ trang của Sơn Ngọc Thành chỉ gồm độ hai trung đội đóng trên
một vùng đất an toàn ở biên giới Thái–Miên và hoạt động chỉ gồm việc giúp đỡ
cảnh sát Thái trong các công tác biên pḥng.
Sau
đó, Sơn Ngọc Thành mời tôi đến thăm Bộ tham mưu của ông ta. Đó là một ngôi
nhà có vườn tược rậm rạp ở ngoại ô Bangkok, mà lúc tôi đến th́ có độ sáu
nhân viên đang làm việc bếp núc vệ sinh. Kho vũ khí có khoảng mười khẩu súng
cũ, và các tài liệu t́nh báo và hành quân th́ không có ǵ ngoài một bản đồ
Đông Dương treo trên tường và một radio nhỏ. Họ chỉ điện thoại để liên lạc
với giới chức t́nh báo Thái mà không có máy truyền tin viễn liên để liên lạc
với các đơn vị hành quân, không có cả xe cộ để khi cần có thể di chuyển.
Sơn
Ngọc Thành cho biết đó là Tổng Hành Dinh của ông ta, nơi mà Ngô Đ́nh Nhu đă
liên lạc để yểm trợ mong đánh bại quân đội Cao Miên, lật đổ Sihanouk!
Tuy
nhiên, vụ Sơn Ngọc Thành và Sam Sary, dù tốn hao tiền bạc và thời giờ rất
nhiều, vẫn chưa phải là thất bại lớn nhất của ông Nhu v́, như tôi đă nói,
hai lực lượng này quá yếu kém, ông Sihanouk không bận tâm lắm. Thất bại lớn
nhất cũng là điểm chứng tỏ sự bất tài, bất trí nhất của ông Nhu trong mặt
trận ngoại giao Miên–Việt là vụ Đáp Chuồn, vụ đă đưa đến những đổ vỡ toàn
diện trong liên hệ Miên–Việt để mở đầu cho những thắng lợi chính trị của
Cộng Sản Hà Nội tại quốc gia chiến lược này.
Năm
1959, Đáp Chuồn là Tỉnh trưởng tỉnh Siem–Reap, cai trị tỉnh này như một lănh
chúa quân phiệt có khuynh hướng chính trị cực hữu và có tham vọng lật đổ ông
Sihanouk. Tuy biết rơ ư đồ và những âm mưu này nhưng ông Sihanouk chưa có cơ
hội thanh toán kẻ nội thù v́ chưa có chứng cứ cụ thể. Chỉ biết như thế mà
chưa chịu điều nghiên kỹ càng, ông Nhu đă liên lạc và tặng một trăm kư vàng
để nhờ Đáp Chuồn lật đổ ông Sihanouk. Nhưng bao nhiêu âm mưu của Việt Nam
Cọng Ḥa và Đáp Chuồn đều bị ông Sihanouk theo dơi chặt chẽ cho nên khi Đáp
Chuồn khởi sự đảo chánh, ông Sihanouk bèn đem quân tấn công Siem – Reap, bắt
và xử bắn Đáp Chuồn tại chỗ, hai sĩ quan truyền tin VNCH được ông Nhu bí mật
phái đến làm việc cho Đáp Chuồn để liên lạc với Sài G̣n đều bị xử tử. Sau
đó, ông Sihanouk bèn họp báo chí quốc tế trưng bày bằng cớ để lên án VNCH và
Mỹ, mặc dù Hoa Kỳ, theo hồi kư của cựu Giám đốc CIA William Colby, đă khuyên
ông Nhu không nên có hành động phiêu lưu nguy hiểm đối với Cao Miên.
Cũng
cần nói thêm rằng trước khi xảy ra vụ Đáp Chuồn, Hà Nội và Bắc Kinh chưa có
đại diện ngoại giao tại Cao Miên trong lúc VNCH có Ṭa Đại sứ. Nhưng sau vụ
đảo chánh hụt này của Đáp Chuồn, Đại sứ Ngô Trọng Hiếu bị trục xuất và, tuy
hai quốc gia chưa hoàn toàn đoạn giao nhưng hai ṭa đại sứ ở Phnom Penh và
Sài G̣n đă phải ngưng hoạt động, tạo cơ hội thuận tiện cho cán bộ t́nh báo
và dân vận của Việt Cộng xâm nhập và kiểm soát cộng đồng Việt kiều đông đảo
tại xứ Chùa Tháp. Và cũng từ đó, ông Sihanouk bắt đầu chính thức có những
liên hệ thân hữu với Hà Nội và Bắc Kinh mà kết quả cụ thể đầu tiên là để mặc
cho Việt Cộng lập khu hậu cần an toàn trên đất Miên, và lấy đất Miên làm bàn
đạp để tấn công VNCH, tạo cho quân đội VNCH một mặt trận gay go từ vùng Ba
Biên Giới đến tận Hà Tiên.
Trong biến cố này, có ba lư do thất bại rất ấu trĩ mà ông Nhu và cộng sự
viên v́ chủ quan, mù quáng nên không chịu nghiên cứu và đánh giá đúng đắn.
Thứ
nhất là trên mặt tương quan lực lượng quân sự, Đáp Chuồn đă đơn phương chủ
quan phản loạn mà không tạo thế liên kết với các đơn vị quân đội thuộc các
binh chủng khác và các tỉnh khác… Là một phần tử quân phiệt cực hữu, Đáp
Chuồn chỉ nghĩ đến giải pháp đảo chánh quân sự mà không đếm xỉa đến khía
cạnh chính trị quan trọng của nó, và ngay cả trên mặt thuần túy quân sự này
th́ một lực lượng của tỉnh Siem–Reap làm sao có thể đương đầu được với lực
lượng của thủ đô Phnom Penh chứ đừng nói đến của cả nước. Lực lượng phản
loạn chưa xuất phát ra khỏi tỉnh đă bị tiêu diệt ngay là v́ thế.
Thứ
hai là trên mặt an ninh và t́nh báo mà thái độ và lập trường của Đáp Chuồn
đă từ lâu biến ông ta thành một đối tượng bị theo dơi và canh chừng chặt chẽ
bởi cơ quan T́nh báo Trung ương Cao Miên. Đó là chưa nói đến Cao Miên vốn là
một trong những ngă tư gián điệp quốc tế với những màng lưới t́nh báo dày
đặc của Nga Sô và Trung Cộng, Pháp và Bắc Việt vốn là những kẻ thù của Việt
Nam Cọng Ḥa. Cho nên chính Nga Sô và Pháp đă thông báo đầy đủ cho ông
Sihanouk biết mọi âm mưu và hoạt động của chính phủ Diệm trong vụ Đáp Chuồn
để tạo thế ly gián giữa hai quốc gia đáng lẽ là đồng minh chiến lược này. Do
đó, trước khi âm mưu đảo chánh bắt đầu, ông Sihanouk đă huy động được các
lực lượng quân đội về bao vây chuẩn bị dẹp loạn tại ngoại ô Siem–Reap là v́
thế.
Thứ
ba là trên mặt chính trị, ông Sihanouk đang được ḷng dân v́ các chính sách
khôn khéo về chính trị, tôn giáo và kinh tế của ông ta, khôn khéo kiểm soát
lại được các lực lượng chính trị đối lập trong nước cũng như tạo được một
thế đứng vững chăi và thân hữu trên mặt quốc tế. Do đó mọi kế hoạch khuynh
đảo ông Sihanouk trước hết phải bắt đầu bằng cách đánh tan cái thế nhân dân
và quốc tế mới tạo được những yểm trợ cần thiết khi phát động cuộc đảo
chánh. Không đặt nặng yếu tố chính trị như yếu tố tất yếu, Đáp Chuồn trở nên
hoàn toàn cô lập trước, trong, và sau cuộc đảo chánh đến nỗi bị bắt mà không
một ai can thiệp, đến nỗi bị giết và Việt Nam Cọng Ḥa bị tố cáo mà không
phản ứng được một lời nào.
Ba
lư do minh nhiên như thế mà ông Nhu và Bộ tham mưu của ông không thấy được
để đối phó, lại chỉ lo đầu tư 100 kư vàng và chính sách ngoại giao của Việt
Nam Cộng Ḥa vào một phần tử hữu dũng vô mưu th́ chỉ có thể kết luận rằng
đầu óc Ngô Đ́nh Nhu chủ quan, lư thuyết, vô ư thức chính trị.
Cũng
nhân dịp này, tôi c̣n muốn nói thêm rằng việc anh em ông Diệm đặc cử ông Ngô
Trọng Hiếu làm đại sứ tại Cao Miên và hợp tác với Đáp Chuồn trong âm mưu lật
đổ ông Sihanouk là một lỗi lầm vô cùng tai hại. Ông Ngô Trọng Hiếu vốn là
dân Pháp (tên thật là Paulus Hiếu, sau đổi thành họ Ngô… cho hợp thời) và có
rất nhiều liên hệ mật thiết với nhiều bạn bè người Việt thân Pháp. Dù v́
thời thế và v́ lợi danh ông Hiếu đă hết sức trung thành với anh em ông Diệm,
nhưng làm sao ông có thể giữ kín đáo một vài bí mật chính trị trước các bạn
bè mà ông vẫn tưởng họ không c̣n làm việc cho người Pháp nữa. Riêng trong
công tác hỗ trợ Đáp Chuồn lật đổ ông Sihanouk, dùng ai cũng được nhưng không
bao giờ nên dùng ông Ngô Trọng Hiếu làm đại sứ tại Cao Miên và giao cho ông
ta điều khiển một hoạt động nặng phần gián điệp trên một khu vực mà t́nh báo
gián điệp của Pháp hoạt động rất đắc lực. Tướng Nguyễn Chánh Thi, Trung tá
Vương Văn Đông và các nhân vật đảng phái từng lưu vong trên đất Cao Miên, đă
từng thấy rất rơ những hoạt động t́nh báo gián điệp quốc tế, đặc biệt là của
Pháp, th́ chắc sẽ đồng ư với tôi về trường hợp của Ngô Trọng Hiếu. Hơn nữa,
v́ là dân Pháp cũ mà nay được anh em ông Diệm trọng dụng nên ông Hiếu phải
cần tỏ ra “Bảo Hoàng hơn Vua”, phải tận tụy lập công cho nên ông đă có những
hành động thiếu khôn ngoan rất phản tác dụng. Ngoài cái vụng về đi chiêm bái
đền thờ Trương Minh Giảng như đă nói ở trên, ông Hiếu c̣n công khai giao du
với Đáp Chuồn, đi săn bắn với Đáp Chuồn, nghĩa là ông đă “lạy ông tôi ở bụi
này”. Chỉ điều đó mà thôi đă đủ làm cho ông Sihanouk nghi ngờ và đủ để cho
điệp viên quốc tế theo dơi. Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy trong tác phẩm T́m
hiểu sự giao thiệp giữa Việt Nam và Campuchia cũng cho biết chính người
Pháp đă biết được kế hoạch đảo chánh của Đáp Chuồn và VNCH nên đă báo cáo
cho ông Sihanouk.
Nhận
định t́nh h́nh thiếu ư thức chính trị sâu sắc, phát động công tác với một kế
hoạch cẩu thả, và sử dụng nhân sự không theo tiêu chuẩn an ninh đă là ba yếu
tố nổi bật nhất nơi con người Ngô Đ́nh Nhu. V́ không phải chỉ riêng vụ Đáp
Chuồn mà từ nay Cao Miên trở thành một kẻ thù dung dưỡng cho Việt Cộng đe
dọa sườn phía Tây của Việt Nam Cộng Ḥa, một kẻ thù giúp đỡ nhóm Fulro lănh
đạo người Thượng khuấy phá miền Cao Nguyên, vấn đề Lào mà tôi sẽ tŕnh bày
sau đây lại thêm một lần nữa chứng tỏ sự kém cỏi chính trị của ông Ngô Đ́nh
Nhu đă là yếu tố giúp Hà Nội củng cố đường ṃn Hồ Chí Minh sau này.
Từ
khi Hiệp định Genève 1954 ra đời để phân định Việt Nam thành hai miền với
biên cương địa lư chính trị rơ ràng, và nhất là kể từ năm 1956, khi cuộc
tổng tuyển cử quy định trong Hiệp Ước để thống nhất đất nước không thành
h́nh th́ Hà Nội quyết định phải mở một hành lang để chuyển vận quân sĩ và
khí giới vào miền Nam chuẩn bị cuộc chiến đấu đương đầu với chính quyền Ngô
Đ́nh Diệm.
Hành
lang đó gồm ba hệ thống: xâm nhập bằng đường biển, xâm nhập bằng cách băng
vĩ tuyến 17 ở thượng lưu phía Tây sông Bến Hải và xâm nhập bằng cách men vào
vùng biên giới Lào–Việt để vượt Trường Sơn vào Nam. Trong ba hệ thống đó th́
đường biên giới Lào–Việt là dễ dàng nhất, an toàn nhất và lưu lượng vận
chuyển lớn nhất. V́ vậy ngay từ khi chữ kư chưa ráo mực trên bản Hiệp Ước,
Hà Nội đă phối hợp kế hoạch với lực lượng Cộng Sản Pathet Lào để chuẩn bị
đại công tác chiến lược này.
Trong khi chính phủ Hoàng gia Lào và VNCH thiết lập những bang giao hữu nghị
và kư kết những hiệp ước hợp tác lâu dài th́ Hà Nội bắt đầu gởi cán bộ lên
Lào, phát động một cuộc đấu tranh chính trị nội bộ trong ḷng Pathet Lào để
chi phối và lănh đạo lực lượng này. Họ thúc đẩy lực lượng này tỏ thái độ
cứng rắn trong mọi cuộc thương thuyết với phe hữu phái Lào để phá hoại tất
cả mọi liên minh chính trị của một chính phủ liên hiệp. Từ năm 1958, khi hữu
phái Lào bắt đầu tỏ thái độ chống Cộng một cách rơ rệt th́ Hà Nội cũng tăng
phái những lực lượng vơ trang hùng hậu lên Lào để yểm trợ, đến nỗi vào tháng
Giêng năm 1959, chính phủ Hoàng gia Lào phải đưa vấn đề ra Liên Hiệp Quốc để
yêu cầu Hà Nội rút quân về.
Tháng 5 năm 1959, mọi nỗ lực t́m kiếm một giải pháp chính trị cho nội t́nh
nước Lào hoàn toàn tê liệt, và trước sự căng thẳng của một chính biến có vơ
lực, phe Pathet Lào quyết định rút vào rừng lập chiến khu. Những cuộc chạm
súng không thể tránh được trong cuộc rút quân này đă giúp Hà Nội thêm cái cớ
để tung quân giải vây Pathet Lào, đang bị quân đội Hoàng gia truy kích. Từ
đó Hà Nội bắt đầu hoàn toàn chi phối Pathet Lào. Các cán bộ Cộng Sản lai
Lào, hoặc biết tiếng Lào, hoặc đă chiến đấu tại Lào trong cuộc chiến tranh
Pháp–Việt (1945–1954) được điều động gởi qua Lào để nắm những chức vụ chính
trị và quân sự then chốt trong lực lượng Pathet Lào, và biến nó thành một bộ
phận của đảng Cộng Sản Việt Nam. Không những thế, Hà Nội c̣n di chuyển những
đơn vị quân đội thuần túy Việt Nam vào trong nội địa của Lào ven biên giới,
lấy cớ là những cuộc hành quân thao dượt biên pḥng.
Tháng 8 năm 1960, khi Đại úy Khong Le tổ chức và phát động lực lượng trung
lập để làm cuộc đảo chánh, cán bộ Hà Nội cũng đă t́m cách xâm nhập được vào
cả lực lượng này để khuynh loát và tạo ra những cuộc xung đột tại biên giới
để công phá quân đội Hoàng gia Lào và các lực lượng người Mèo do Mỹ huấn
luyện và vơ trang.
Trong khi Hà Nội phát động một chính sách làm lũng đoạn t́nh h́nh nước Lào
để cuối cùng đặt được những nền móng chính trị, quân sự tại đây th́ chính
quyền Sài G̣n đă làm được những ǵ?
Từ
1954 đến tháng 7 năm 1962, VNCH chỉ đặt trọng tâm vào công tác phát triển
t́nh hữu nghị Lào–Việt trong các lănh vực kinh tế, kiều cư và thỏa thuận về
vị trí đường biên giới. Ṭa đại sứ Việt Nam tại Lào xin mở được nhiều lănh
sự quán và vận động ngoại giao để đạo luật của chính phủ Lào cấm người ngoại
quốc làm một số nghề (tháng 8–1960) đặc biệt không áp dụng cho kiều dân Việt
Nam… Nói tóm lại chỉ là những hoạt động ngoại giao thông thường của hai quốc
gia bang giao với nhau trong thời b́nh.
Cuối
năm 1962, hội nghị Genève về Lào h́nh thành, chính phủ liên hiệp Lào do
Hoàng thân Souvana Phouma lănh đạo nh́n nhận và thiết lập liên hệ ngoại giao
với nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa của Cộng Sản Hà Nội, ông Nhu bèn đề nghị
với ông Diệm cho triệu hồi đại sứ VNCH là ông Kỳ Quan Thân về nước, đóng cửa
ṭa đại sứ để phản đối việc Lào thừa nhận miền Bắc Việt Nam
.
Dựa
vào thế chính trị quân sự vô cùng thuận lợi lại vắng mặt VNCH, từ đó Hà Nội
như vào chỗ không người, tạo áp lực cần thiết để làm tê liệt sức mạnh của
quốc gia nhỏ bé này, và bắt đầu tiến hành việc củng cố đường ṃn Hồ Chí Minh
để yểm trợ cho Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam cũng vừa ra đời tại miền
Nam Việt Nam. Hành động “lẫy” này chỉ tô đậm thêm cho tính cách phong kiến
và mù quáng của anh em nhà Ngô mà không thấy những tác hại chính trị cho
quốc gia ḿnh.
Xét
lại toàn bộ t́nh h́nh nước Lào kể từ năm 1954, ta thấy bắt đầu Pathet Lào
chỉ là một lực lượng phiến loạn bất hợp pháp và rất nhỏ yếu khi so sánh với
lực lượng chính trị quân sự hùng mạnh hơn của chính phủ hoàng gia Lào, thế
mà Bắc Việt đă biết nắm lấy và điều khiển để biến nó thành lực lượng của
ḿnh, sử dụng nó như một vũ khí hiệu dụng để vừa chống lại chính phủ thiên
hữu Lào, vừa khuấy phá miền Nam. Trong lúc đó th́ tuy VNCH ở vào thế rất
thuận lợi hơn trên đất Lào ngay từ đầu mà đă không nh́n thấy được những biến
chuyển tương lai do Pathet Lào và Hà Nội gây ra, không biết yểm trợ đúng
cách và đúng lúc cho chính phủ Hoàng gia Lào giữ vững thế lực để làm thế ỷ
dốc, mà chỉ giao thiệp với Lào bằng những hoạt động thời b́nh và bằng những
phương thức hành chánh ngoại giao thông thường. Đă không có ư niệm “tiên
liệu và dự pḥng” lại không có một sách lược khôn ngoan để ảnh hưởng chính
phủ thiên hữu Lào hầu giúp họ có hiệu năng hơn trong công cuộc chống Cộng
chung, ông Cẩn và ông Nhu lại chỉ đưa cán bộ của ḿnh vào hoạt động trên đất
Lào để mua thuốc phiện sống, để buôn thuốc phiện lậu, việc mà tôi sẽ nói rơ
trong mục “Tham Nhũng” sau này.
Tai
hại hơn nữa là sau khi Hoàng thân Souvanna Phouma, Thủ tướng chính phủ liên
hiệp Lào, công nhận chế độ Bắc Việt, anh em ông Diệm lại lấy một quyết định
sai lầm là băi bỏ ṭa đại sứ VNCH tại Vạn Tượng, chấm dứt mọi hoạt động trên
đất Lào và làm mất khả năng theo dơi t́nh thế một vùng đất tối cần thiết cho
công cuộc đối phó với Hà Nội về phương diện quân sự và t́nh báo. Cho nên từ
đó, Hà Nội đă đổ quân lực vơ khí vào miền Nam bằng đường ṃn Hồ Chí Minh.
C̣n nhớ một tướng lănh Pháp từ thời c̣n đô hộ Đông Dương đă từng nói: “Qui
tient Boloven, tiendra l’Indochine” (Ai chiếm được Hạ Lào là chiếm được Đông
Dương) để thấy sinh mạng miền Nam Việt Nam liên hệ mật thiết với Lào như thế
nào. Anh em ông Diệm, đặc biệt là “chiến lược gia” Ngô Đ́nh Nhu – như lời
tâng bốc so sánh ông ta với Trương Lương của một nhóm bồi bút dưới chế độ Đệ
I Cộng Ḥa vẫn thường xưng tụng – rơ ràng đă không có một ư thức chính trị
tổng quát về t́nh h́nh Đông Dương, lại thiển cận trong khả năng nhận định
t́nh h́nh nên đă lấy những quyết định chính trị sai lầm, đẩy VNCH vào cái
thế “môi hở răng lạnh” nguy hiểm. Cho nên Việt Nam Cọng Ḥa không phải đă bị
chết vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, cũng không phải từ ngày chế độ Nguyễn Văn
Thiệu biến tham nhũng thành quốc sách, mà phải tính từ ngày người cán binh
Cộng Sản Hà Nội cuốc miếng đất đầu tiên khai mở đường ṃn Hồ Chí Minh, hậu
thân của “Đường giây ông Cụ” được thiết lập từ năm 1956.
Lát
cuốc đó đáng lẽ không có được, không bao giờ có được, nếu ông Ngô Đ́nh Nhu
không chủ quan, cao ngạo và biết rằng chuyện an nguy đất nước là chuyện của
mọi người chứ không phải là chuyện của một gia đ́nh. Nhất là gia đ́nh họ Ngô
!
Cũng
như những lộng hành và phản luân lư của bà Nhu, những sai lầm và tội ác của
ông Nhu đă được nhân dân ghi bằng máu lệ vào những trang sử để đời. Những
trang sử máu lệ đó tôi sẽ tiếp tục ghi thêm vào tập sách này để cái huyền
thoại mà các “sử gia hoài Ngô” đang cố xây đắp phải bị lột trần, tan ră.
Huyền thoại về một Ngô Đ́nh Nhu sáng suốt, một Ngô Đ́nh Nhu mưu lược quả
thật có hiện hữu trong tâm hồn của một số phần tử Cần Lao Công Giáo, nhưng
không phải v́ khả năng có thực. Nếu Ngô Đ́nh Nhu quả thật có sáng suốt, có
mưu lược và có được kẻ khác dựng ra một huyền thoại th́ đó là hoàn toàn nhờ
vào sự bệnh hoạn tâm thần đă đẻ ra một ư thức bạo động và một khả năng áp
bức thất thường mà hàng triệu nạn nhân đă từng là nhân chứng hứng chịu. Thật
vậy:
Ngô
Đ́nh Nhu chỉ có cái thực tài là tổ chức màng lưới do thám để những tổ cán bộ
của ông ta trong quân đội và trong cơ quan chính quyền ŕnh ṃ, theo dơi,
báo cáo những kẻ có ư chống đối chế độ, và thăng thưởng cho những kẻ trung
thành với ḿnh. Hệ thống đó chỉ có nhiệm vụ bảo vệ chế độ với một mục đích
quá hẹp ḥi, v́ thế chế độ Ngô Đ́nh Diệm đă mất đi sự ủng hộ của nhân dân
.
Chỉ
có tài làm mật thám công an mà lại được đứng trong cương vị lănh đạo quốc
gia, trách ǵ sinh lực quốc gia không tiêu tán và sinh mệnh tổ quốc không
nghiêng ngả?
Ông
Ngô Đ́nh Nhu là cột trụ cật ruột và khắn khít mà ông Diệm đă tin cậy để dựa
vào kiến thức lẫn khả năng của người em hầu hành xử nhiệm vụ Tổng thống mà
cai trị đất nước. Mỗi lần ông Nhu đi vắng khỏi dinh Độc Lập là ông Diệm băn
khoăn không an tâm, mỗi lần ông Nhu giận hờn bỏ đi Cao Nguyên săn bắn cả
tuần lễ là ông Diệm thấp thỏm lo âu. Hầu như mọi chính sách, mọi buổi họp
Hội Đồng Nội Các, mọi bài diễn văn, mọi lời tuyên bố… ông Diệm đều thảo luận
và hội ư trước với ông Nhu rồi mới lấy quyết định. Vai tṛ và ảnh hưởng của
ông Nhu bao trùm như thế th́ tài lănh đạo trị nước của ông Diệm như thế nào?
Suốt
hơn 20 năm trời làm việc với ông, trước cũng như sau khi nắm chính quyền,
trong hoạn nạn cũng như lúc thành công, tôi nhận thấy điểm nổi bật nơi con
người ông Diệm là bầu nhiệt tâm trong công việc, nhưng cái nhiệt tâm đó có
đem lại thành quả ǵ không th́ lại là một vấn đề hoàn toàn khác. Tôi không
c̣n nhớ vào năm nào đó khi mới lên làm Tổng thống, ông đă thực sự gây xúc
động sâu xa trong ḷng tôi khi ông ra lệnh cho phi cơ của Không quân thả dù
rau khoai xuống cho dân hai tỉnh Kiến Phong, Kiến Tường để họ trồng trọt lại
sau trận lũ đă cuốn trôi hết hoa màu, nông phẩm của địa phương. Dù số lượng
rau thả dù xuống bị bầm dập hư hao gần hết, và dù rau khoai không phải là
nông phẩm thiết yếu nhất để giải quyết những thiếu hụt thực phẩm của hai
tỉnh này lúc bấy giờ, nhưng thái độ thực tế và quyền biến phát xuất từ tâm
thành đó đă làm cho tôi nhớ lại những kỷ niệm ban đầu, ngày tôi mới gặp ông
trong ngôi nhà c̣n đ́u hiu tại Phú Cam Huế, khi mà Quyền, Lực, Danh, Lợi đều
chưa bao vây và tác hại ông.
Ông
Diệm là người có tiểu kế giỏi mà không có đại mưu hay, ưa soi mói vào tiểu
tiết một cách quá độ đến nỗi trở thành lẩm cẩm. Đă thế, ông lại không có khả
năng diễn đạt bằng lời cũng như bằng chữ cho nên nói năng lúng túng, phân
tích vấn đề một cách không có hệ thống, và thích nói dài, nói dai không cho
người đối thoại góp ư hay ngay cả trả lời những câu hỏi do chính ông đặt ra.
Trí
năo ông Diệm không quen lư hội sự ǵ trừu tượng và tổng quát. Ông chỉ ưa
việc cụ thể mà ông h́nh dung được rơ mới chịu là cần, ông xét định về từng
trường hợp và từng công tác dễ hơn là về toàn diện vấn đề. Ông có thể chỉ
làm được một tổng thanh tra tẳn mẳn, sục sạo như viên kỹ sư Bigorne thời
Pháp thuộc: Giá ông làm tổng thanh tra như Bigorne không chừng làm được việc
hơn một Tổng thống
.
Hạ
một ông Tổng thống được nhóm người Công giáo Cần Lao coi như thánh thần
xuống hàng tổng thanh tra chưa đủ, Đoàn Thêm c̣n phê b́nh ông Diệm:
Là
thứ người có đầu óc bệnh hoạn, mà toàn thân là một khối vững chắc nặng nề,
đầy chặt nên khó cởi mở, co tṛn và ch́m lặng vào trong th́ dễ hơn là phơi
bày rộng răi ra ngoài
.
Ông
Đoàn Thêm cho rằng ông Diệm v́ quen làm quan lâu năm, quen không khí triều
đ́nh quan liêu nên chỉ có tài làm quan Nam triều hơn là làm Tổng thống một
nước Cộng Ḥa kiểu dân chủ Tây phương.
C̣n
ông Hồ Sĩ Khuê, một cộng sự viên về những vấn đề chiến lược quốc gia cho ông
Diệm khoảng thời gian đầu thập niên 50’, trong tác phẩm “Hồ Chí Minh, Ngô
Đ́nh Diệm và Mặt Trận Giải Phóng” đă nhận xét về ông Diệm như sau: Dùng
tôn giáo để chống Cộng (trang 152); phong kiến (trang 157), quả giao (trang
160), óc kỳ thị (trang 163), bị ảnh hưởng mạnh của ông anh (trang 168), chưa
có đủ tầm vóc lănh tụ quốc gia, càng không có tầm vóc lănh tụ quốc tế… không
nh́n đúng các vấn đề chính yếu của đất nước (trang 262). Nhân sinh quan hẹp
ḥi… không dám tin ai khác và thường ngờ vực mọi người (trang 262), bản chất
quan lại không gột sạch được… quan liêu gia đ́nh (trang 263), mặc cảm đố kỵ
người Nam Kỳ (trang 264), được Mỹ bồng lên (trang 275), không có phong độ
bậc lương đống (trang 279), cảnh sát trị… gia đ́nh trị (trang 329).
Về
con người của ông Diệm, trên mặt cá tính cũng như trí tuệ, nếu tổng hợp lại
tất cả những mô tả và phê b́nh khác nhau của những cộng sự viên đă từng làm
việc với ông, của những chánh khách Việt cùng ngoại quốc đă từng tiếp xúc
với ông, của những kư giả và tác giả đă từng nghiên cứu về ông, từ Đoàn Thêm
đến Joseph Buttinger, từ Bảo Đại đến Robert Shaplen, từ Đỗ Thọ đến Bernard
Fall, từ Nguyễn Thái đến Frances Fitzgerald, từ Trần Văn Đôn đến Cabot
Lodge… th́ tất cả đều có những cái nh́n dưới những khía cạnh khác nhau,
nhưng có một điểm mà tất cả đều ngầm đồng ư với nhau là miền Nam quả thật
bất hạnh v́ đă bị lănh đạo bởi một nhân vật mà tài trí đă là con số không
trước ông Hồ Chí Minh. Ngay nếu Việt Nam trong thời thanh b́nh, ông Diệm
cũng không đóng nổi vai tṛ của một nhà cai trị huống ǵ tổ quốc đang bị đe
dọa trong cảnh lâm nguy dầu sôi lửa bỏng.
Tôi
không lấy thành bại để luận anh hùng v́ tâm thức và đạo đức của ông Diệm
không thuộc loại anh hùng, mà tôi chỉ muốn lấy kết quả của một số sự việc mà
ông đă làm để đo lường tài năng của ông. Đó là khu trù mật, kế hoạch nối Cao
Nguyên với Đồng Bằng, và đường xe lửa xuyên Việt v.v…
Chương tŕnh Khu Trù Mật được thành lập nhằm yểm trợ kế hoạch Cải Cách Điền
Địa mà như tôi đă tŕnh bày trong chương trước, một kế hoạch chỉ thành công
trên giấy tờ và cho một thiểu số đại và trung điền chủ tại miền Nam, c̣n
tiểu địa chủ và nhất là đại đa số tá điền nông dân th́ phẫn uất v́ không làm
chủ được một mảnh ruộng riêng của ḿnh nên có nhiều trường hợp mức thu hoạch
c̣n kém hơn cả thời Tây thuộc địa.
Trên
lư thuyết, Khu Trù Mật được xem như là những đơn vị hành chánh nông nghiệp
nhằm quy tụ nông dân thành từng khu để bảo vệ, yểm trợ và phát triển. Trên
mặt xă hội, Khu Trù Mật c̣n là gạch nối giữa thành thị và thôn quê mà qua đó
các sinh hoạt và phát triển tiến bộ của đô thị sẽ đổ về nông thôn.
Như
tất cả mọi sản phẩm lư thuyết của chế độ, phần kế hoạch và những biểu hiện
h́nh thức bao giờ cũng bắt đầu rất đẹp và quyến rũ. Nhưng trên thực tế, dù
chương tŕnh này do chính vị Tổng thống điều động và theo dơi kiểm soát từng
chi tiết một, kết quả vẫn trở nên bi thảm. Sự thất bại bi thảm của nó, ngoài
những lư do dễ hiểu là không nghiên cứu kỹ càng để đi sát với thực tế, là
chuộng h́nh thức nặng về lượng hơn là về phẩm, là cán bộ thừa hành lo hối hả
trồng cây hôm nay để ngày mai Tổng thống đi kinh lư khen thưởng hơn là thực
sự phát triển chậm nhưng chắc… C̣n có một lư do khác là sự can thiệp quá độ
của ông Diệm, người đích thân điều khiển chương tŕnh một cách độc đoán mà
lại không đủ hoặc không lưu tâm đến những kiến thức chuyên môn cần thiết cho
một chương tŕnh bao gồm cả bốn lănh vực nông nghiệp, xă hội, quốc pḥng và
nhân tâm.
Đưa
việc này lên hàng trọng tâm công tác, ông Diệm bắt ngừng xây cất các cư xá
công chức, để dành tiền xổ số cho các khu. Ông đi kinh lư ngắm địa thế, t́m
vị trí cấp ngân khoản với một vẻ hăng say tin tưởng khiến nhà chức trách địa
phương, vốn ṇi nhạy cảm, vội thi đua “lập Khu mà cốt để lập công”. Nên tới
giữa năm 1959 đă có 25 Khu thành lập. 25 thị trấn hoàn thành trong thời gian
kỷ lục chưa đầy hai năm, được coi như một kết quả không ngờ.
Nhưng ông Tổng thống cũng không ngờ những phản ứng trong dân gian. Lời ta
thán và đơn khiếu nại tới ông mỗi ngày một nhiều: bị đe dọa nên phải rời
nhà, bị thiếu thốn về mọi mặt, thay v́ được trợ cấp, công nhu bị biển thủ,
kinh phí bị phóng đại, tài sản bị xâm phạm…
Ông
cho điều tra: sự oán trách không phải là vô căn cứ, nhiều khu được dựng lên
quá hấp tấp, dân chúng chưa hiểu rơ thiện chí của chính quyền, sự giúp đỡ
không đền bù các thiệt hại và vấn đề quan trọng nhất là sinh kế chưa có giải
pháp thích ứng: nhà nông không thể tiếp tục công việc hàng ngày khi ruộng
vườn ở xa khu mới. Ông phải ra lệnh tạm đ́nh. Nhưng rồi chương tŕnh Khu Trù
Mật cũng đă làm tốn không biết bao nhiêu công quỹ và làm khổ sở cho dân gian
.
Thất
bại lớn nhất khi đ́nh chỉ kế hoạch này là sự giao động trong quần chúng.
Sinh hoạt nông nghiệp vốn có tính định kỳ, theo thời tiết, theo giống lúa,
và theo loại đất, cho nên tự ngàn xưa, chính những hoạt động canh tác đă qui
định những sinh hoạt nhân văn khác của thôn xă như hội hè, đ́nh đám, cưới
hỏi, lễ lạc,… Chỉ cần làm xáo trộn chu kỳ sinh hoạt này là làm xáo trộn luôn
nếp sống của người dân, trên cả hai mặt nghề nghiệp cũng như phong cách.
Xin
lấy trường hợp điển h́nh của một Khu Trù Mật thành công nhất để thấy cái lợi
của một Khu Trù Mật không bù lại được cái hại to lớn và dây chuyền của những
hệ quả gây ra:
Khi
tôi tới gần, Khu Trù Mật Vị Thanh (nơi mà Tổng thống Diệm đă cho khánh thành
rầm rộ) trông thật là rộng răi, đồ sộ khi so sánh với các làng mạc dọc
đường. Viên chỉ huy chương tŕnh Khu Trù Mật địa phương, Thiếu tá Trần Cửu
Thiên, giới thiệu nào là trường học, nhà thương, trụ điện để đưa điện về cho
nông dân lần đầu tiên trong đời họ. Ông ta cũng cho tôi biết là nông dân sẽ
có nhiều lợi tức. Ông ta khoe khoang là đă hoàn thành Khu Trù Mật chỉ trong
ṿng có năm mươi ngày theo lệnh của Tổng thống Diệm, và Khu Trù Mật là một
kiến trúc gương mẫu để làm vui ḷng những nhà lập pháp Hoa Kỳ đến viếng thăm
Việt Nam. Nhưng trong thực tế lại là một đại họa.
Đại
họa là v́ nông dân bị bắt buộc phải bỏ làng mạc cũ, bỏ cả mồ mả cha ông, bỏ
cả tập tục cổ truyền để tập trung về Khu. Tai hại hơn nữa là Thiếu tá Thiên
đă phải theo lệnh Tổng thống để huy động 20 ngàn người để xây dựng một Khu
chỉ để cho 6 ngàn người ở. Số 14 ngàn người kia phải bỏ công việc đồng áng
để làm việc mà không được trả tiền công. Thiên bảo rằng bắt họ làm công
không trả tiền là để tập cho họ làm bổn phận công dân (sic). Trái lại, đối
với nông dân th́ những công tác cộng đồng như thế là h́nh thức “cưỡng bách
lao động” nên dù lúc đó họ chưa theo Việt Cộng họ cũng đă tỏ ra bất măn với
chế độ Diệm
.
Thật
vậy, thất bại về phát triển nông nghiệp của chương tŕnh này không phải là
tác hại lớn nhất, chính tác hại sâu đậm và lâu dài lại có kích thước chính
trị, đối nội cũng như đối ngoại. Đối nội là xác định với quần chúng nông
thôn sự bất lực của chính quyền trước một lănh vực quan trọng cho miền Nam
là vấn đề phát triển nông nghiệp, và đẩy cái quần chúng lớn lao đó về phía
kẻ thù Việt Cộng; đối ngoại là làm mất sự tín nhiệm của chính quyền và nhân
dân Hoa Kỳ về khả năng tự cứu và tự cường của Việt Nam Cộng Ḥa.
Một
phần tư tỉ Mỹ kim mỗi năm đối với Hoa Kỳ th́ chẳng thấm thía vào đâu nhưng
với năm năm đầu của chế độ Diệm, tiền viện trợ của Mỹ đủ để trang trải không
những 100% chi phí quân sự và 80% chi phí dân sự của chính phủ Sài G̣n, mà
c̣n để trả nợ thiếu hụt về ngoại thương 178 triệu Mỹ kim. Hoa Kỳ lúc đầu hy
vọng rằng số nợ ngoại thương sẽ dần dần trả hết, không ngờ nó cứ mỗi ngày
một gia tăng v́ phải trả thêm tốn phí của người Mỹ. Và mặc dù lúa gạo là
nguồn lợi quốc gia to lớn nhất, năm 1959, VN vẫn phải nhập cảng 20 triệu Mỹ
kim thực phẩm trong chương tŕnh thực phẩm cho Ḥa B́nh.
Dưới
chế độ Diệm, trừ chương tŕnh định cư cho người Công Giáo di cư từ Bắc vào,
tất cả các công tác khác như khu Trù Mật, như dinh điền, như hợp tác xă nông
nghiệp… đều thất bại nặng nề
.
Không được dân chúng yểm trợ, bị người Mỹ khám phá những thất thoát và hà
lạm công quỹ nên kiểm soát gắt gao việc chi thu; năng xuất không đạt được
chỉ tiêu, làm vướng bận thêm khả năng tác chiến của quân đội… nên cuối cùng,
toàn bộ chương tŕnh khu Trù Mật bị sụp đổ, và các khu gọi là Trù Mật bị ră
ra và tan loăng vào sự mênh mông của ruộng đồng miền Nam.
Chương tŕnh khu Trù Mật chủ yếu nhắm vào miền Nam vốn là vựa lúa của nước
ta. Riêng tại miền Trung, nhất là từ Phú Yên trở ra, nông nghiệp không phải
là khu vực kinh tế chính trong kế sách phát triển quốc gia. Hải sản của miền
Duyên Hải và lâm sản của vùng Cao Nguyên cần được phối hợp với nhau trong hệ
thống lưu thông trên cả hai mặt sản phẩm lẫn tiền tệ. Do đó, một kế hoạch
chỉnh trang và tân lập các trục giao thông để nối liền hai miền địa dư của
đất nước được thiết kế. Và v́ miền Trung có một vị thế đặc biệt, có một dân
t́nh cũng đặc biệt không kém trong cuộc chiến Pháp–Việt mà những mật khu
ngày xưa của Việt Minh vẫn chưa được khám phá ra và tiêu hủy, mà những tổ
cán bộ Cộng Sản nằm vùng đă bắt đầu khuấy động mạnh… nên kế hoạch này phần
lớn do quân đội đảm trách.
Công
tác đầu tiên là xây dựng trục lộ Kontum–Quảng Nam. Công tác này được ủy
nhiệm cho Đại úy Trần Văn Kha (sau này là Đại tá và hiện nay đang ở
California, Hoa Kỳ) phụ trách với chức vụ chỉ huy trưởng công trường. Nhưng
mặc dầu đă hết sức cố gắng và đă có lần phúc tŕnh về điều kiện an ninh
không thuận tiện, ông Kha cũng không thể nào hoàn tất nổi công tác này. Một
đại đội công binh với những trang bị dụng cụ hiện đại cho việc xây dựng kiều
lộ và hai đại đội Bảo an có nhiệm vụ bảo vệ công trường bị Việt Cộng tấn
công gây thiệt hại nặng nề, nhất là về mặt nhân lực. Cuối cùng, công tác
phải bị băi bỏ và công trường th́ bị bỏ hoang cho mưa nắng tàn phá.
Kế
hoạch lớn nhằm “nối Cao Nguyên với Duyên Hải” bị gẫy đổ chỉ v́ tính
chủ quan phiến diện trong lư luận và v́ phương pháp làm việc độc quyền rất
luộm thuộm của ông Diệm. Thật vậy, đường Kontum–Quảng Nam là một trục lộ gai
góc, chạy song song với sườn phía Đông rất hiểm trở của dăy Trường Sơn và
đâm chéo về hướng Đông Bắc xuyên qua các núi đá trước khi đổ vào địa phận
tỉnh Quảng Nam, tất cả kéo dài gần 200 cây số. Nếu ông Diệm cho điều nghiên
cẩn thận toàn bộ công tác này trước khi bắt đầu th́ sẽ thấy rằng t́nh h́nh
an ninh tại hai tỉnh này không tốt đẹp chút nào, dân t́nh cũng như các điều
kiện kinh tế không thuận tiện và khả năng giới hạn của công binh cũng như
của các lực lượng bảo vệ cơ hữu của địa phương sẽ không đủ sức để duy tŕ
nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ một trục lộ vừa cô lập vừa dễ bị phá, vừa dài
như thế.
Nhưng v́ Tổng thống muốn là Trời muốn, và Tổng thống muốn là Tổng thống làm
liền không cần ḷng dân, không cần t́nh thế, không cần phương tiện… cho nên
kết quả mới thảm hại.
Riêng đường xe lửa Xuyên Việt th́ quyết định của ông Diệm dành một ngân
khoản quá lớn và điều động một lực lượng nhân sự quá nhiều để ưu tiên tái
thiết toàn bộ hệ thống đă bị nhiều người ngăn cản v́ sợ sẽ khó bảo vệ trục
đường sắt quá dài đó một khi chiến tranh tái phát. Ngay trong hội nghị Liên
Bộ (1960) mà tôi đă đề cập trong chương trước (khi thảo luận về vấn đề bài
trừ nạn du đăng), trong dịp tŕnh bày tổng quát t́nh h́nh an ninh, tôi đă
lưu ư hội nghị (để gián tiếp nhờ họ giúp tôi thuyết phục ông Diệm về mức độ
phá hoại càng lúc càng gia tăng của Việt Cộng mà mỗi lần tôi tŕnh bày th́
ông lại gạt đi v́ cho là tôi bi thảm hóa vấn đề) về khả năng và ư đồ của
Việt Cộng muốn cắt đứt đường xe lửa nối liền hai miền Trung và Nam.
Để
phản đề nghị, một số chuyên viên có tŕnh bày với ông Diệm về việc sử dụng
ngân khoản lớn lao đó cho hai dự án: hoặc là phát triển một hệ thống thương
thuyền vừa an ninh hơn vừa vận chuyển được nhiều hơn; hoặc là tái thiết quốc
lộ số 1 chạy từ Quảng Trị đến Tây Ninh để khuyến khích ngành vận tải bằng xe
đ̣
.
Cả
hai dự án này đều lấy yếu tố an ninh làm chính v́ thực tế Việt Nam là một
nước đang lâm chiến với một kẻ thù mà phá hoại, đột kích là sở trường số
một. Cả hai dự án này cũng đều đặt tính khả thi làm điều kiện tiên quyết để
khả dĩ duy tŕ được mạch sống kinh tế cho cả hai miền Trung và Nam. Nhưng
ông Diệm đều không đồng ư và gạt bỏ đi. Khi ông đă có chủ ư làm đường xe lửa
Xuyên Việt v́ (trong giai đoạn đó th́) dễ dàng hơn và chóng hoàn tất hơn,
th́ chủ ư đó đă trở thành một ám ảnh thôi thúc, đủ sức đánh phá mọi lư luận
hợp lư và khả thi nhất, dù lư luận đó có là lư luận tổng hợp của những
chuyên viên về an ninh, về kinh tế, về giao thông, biết nhiều và nắm vững
t́nh h́nh thực tế hơn ông.
Đường xe lửa Sài G̣n–Đông Hà được ông Diệm khánh thành trọng thể tại Quy
Nhơn ngày 7 tháng 8 năm 1959. Nhưng chỉ gần hai năm sau, giữa năm 1961,
đường xe lửa Xuyên Việt bị chặt ra nhiều khúc v́ những cuộc tấn công, đặt
ḿn, phá hoại đường rầy của du kích Việt Cộng.
Việc
tái thiết đường xe lửa từ Sài G̣n đến Đông Hà đă làm thiệt hại nặng nề về cả
tài chánh lẫn nhân mạng. Hàng ngày, trên mỗi chuyến tàu, một tiểu đoàn thiết
vận “bảo vệ hỏa xa” được phái theo hộ tống các đoàn tàu. Đại tá Nguyễn Văn
Tự (hiện nay ở Mỹ), lúc bấy giờ là Thiếu tá chỉ huy công tác bảo vệ đường
hỏa xa, thường đến phàn nàn với tôi về nhiệm vụ khó khăn, thiếu phương tiện
và nhân sự để nhờ tôi can thiệp với cấp trên t́m biện pháp đối phó. Nhưng
cũng như bao nhiêu chính sách, kế hoạch, chương tŕnh, công tác khác của ông
Diệm, không c̣n biện pháp nào để cải tiến những thất bại có tính cách cơ bản
khi ông đă chủ quan cho ḿnh là đúng, ngoài phương pháp chịu đựng những
thiệt hại cho đến khi thời gian bắt nó phải tê liệt hoặc tự hủy.
Tôi
đoán ông Diệm muốn trở thành một Nguyễn Công Trứ từng khai phá vùng Kim Sơn,
Tiền Hải (Ninh B́nh) nhưng tiếc thay ông lại không có tâm hồn và tài năng
của Nguyễn Công Trứ:
Ngay
từ những ngày đầu, chính cá nhân của Tổng thống Diệm và quan niệm chính trị
của ông đă làm giảm thiểu hiệu năng của chính quyền.
Là
sản phẩm của một gia đ́nh vừa cuồng tín theo Thiên Chúa giáo vừa mang nặng
tính phong kiến của giai cấp quan lại thống trị, ông Diệm là một người độc
đoán cố chấp, thơ lại đa nghi và câu nệ về phương diện luân lư. Tinh thần
của ông Diệm được mô tả như tinh thần của các lănh chúa Y Pha Nho thời Trung
Cổ (Spanish Inquisitor).
Bộ
máy chính trị của ông Diệm đúng là một định chế gia đ́nh trị, được tổ chức
cứng ngắc và có đặc tính trung ương tập quyền quá độ.
Theo
bảng lượng giá của t́nh báo Mỹ th́ t́nh h́nh được mô tả như sau: “Tổng thống
Diệm vẫn tiếp tục là nhà cai trị không thể chối căi được của miền Nam, tất
cả những vấn đề trọng đại và những vấn đề thứ yếu đều do chính ông ta quyết
định.”
Mặc
dù cổ vơ một chính phủ dân chủ và đại nghị nhưng ông Diệm tin rằng người
Việt Nam cũng tin rằng ông phải cai trị một cách cứng rắn, ít nhất là trong
giai đoạn an ninh quốc gia bị đe dọa.
Ông
cũng tin rằng đất nước chưa thể có đối lập chính trị nếu sự đối lập này làm
cản trở và tiêu hao những nỗ lực của chính phủ trong việc thiết lập một nền
cai trị vững chắc. Ông vẫn là một khuôn mặt có phần nào khắt khe và xa cách
đối với hầu hết người Việt, do đó không khơi dậy được sự nồng nhiệt rộng răi
nào trong ḷng quần chúng.
Chế
độ Diệm phản ánh quan niệm của ông ta: Bộ mặt chính phủ đại nghị vẫn được
duy tŕ nhưng trên thực tế, chính phủ đă cai trị một cách hoàn toàn độc
đoán.
Quyền lập pháp của quốc hội bị giới hạn chặt chẽ, quyền tư pháp không được
phát triển và lệ thuộc vào hành pháp. Thành phần nhân sự của hành pháp lại
không ai khác hơn là những thuộc hạ của ông Diệm.
Trầm
trọng hơn nữa, các chương tŕnh của ông Diệm nhằm gia tăng an ninh ở nông
thôn đă được thực hiện một cách tồi tệ đến nỗi thay v́ tạo được sự phân cách
giữa quân phiến loạn và nông dân th́ ngược lại, lại tạo ra sự phân cách giữa
nông dân và chánh quyền, hậu quả là an ninh đáng lẽ được gia tăng th́ lại bị
suy giảm.
Chương tŕnh Dân Sự Vụ được quan niệm như để tạo dựng mối cảm thông giữa
chính phủ Sài G̣n và dân quê đă không đạt được mục tiêu đó khi ông Diệm đưa
toàn người Bắc di cư và tín đồ Thiên Chúa giáo về thôn ấp. Đối với dân quê,
các đoàn Dân Sự Vụ ấy đă là những kẻ ngoại cuộc.
Chương tŕnh Cải Cách Điền Địa thay v́ phân phối đất cho người nghèo chung
cuộc th́ chỉ đă lấy lại những ǵ mà nông dân đă được Việt Minh cấp phát để
đem trả lại cho điền chủ. Năm 1960, 15% dân số vẫn c̣n chiếm hữu 75% đất
đai.
Ông
Diệm đă giải tán các hội đồng dân cử theo truyền thống ở thôn xă v́ sợ Cộng
Sản nắm quyền hành ở đó. Rồi ông thay thế cơ cấu nhân dân đó bằng những kẻ
ngoại cuộc được chỉ định, đó là những người Bắc di cư và các tín đồ Công
giáo trung thành với ông ta.
Trong chiến dịch gọi là Tố Cộng bắt đầu từ mùa Hè năm 1955, từ 50.000 người
đến 100.000 người bị nhốt vào trại tập trung, trong số những kẻ bị giam cầm
rất nhiều người không có liên hệ ǵ đến Cộng Sản.
Tổng
thống Diệm cũng ban hành những chương tŕnh để tái cư dân chúng để gia tăng
an ninh, nhưng những thứ đó lại chỉ có phản ứng bất lợi mà thôi. Người
Thượng thiểu số bị bắt buộc rời quê cha đất tổ ở Cao Nguyên Trung phần để
đến định cư tại các vùng ổn cố và an ninh hơn, lại gia nhập vào quân đội của
Việt Cộng; dân quê bị dời khỏi hương ấp của tổ tiên để xây các làng mới theo
chương tŕnh dinh điền, đă trở nên căm thù chính phủ Sài G̣n.
Dù
nói là lo lắng về an ninh, ông Diệm không làm ǵ cả để tăng cường cảnh sát
và t́nh báo ở nông thôn. Lực lượng bán quân sự, dân vệ và bảo an th́ không
được trang bị, không được huấn luyện đầy đủ, và về mặt chỉ huy th́ rất tồi
tệ.
Sự
bạo tàn, cướp bóc và vô kỷ luật của nhân viên chính quyền đă thúc đẩy dân
làng hưởng ứng một cách công khai các cuộc chống đối chính phủ.
Bằng
phương cách bóp nghẹt tự do ngôn luận và bỏ tù những thành phần chống đối,
ông Diệm đă làm tê liệt thành phần trí thức, bằng cách thăng thưởng sĩ quan
trên căn bản trung thành với gia đ́nh ông ta, thay v́ theo tiêu chuẩn khả
năng, ông Diệm đă làm tê liệt đa phần quân lực
.
Trước những thất bại ngày một gia tăng của chính phủ Diệm, vào tháng Giêng
năm 1960, Ṭa Đại sứ Mỹ – trong “bản Tường tŕnh đặc biệt về t́nh h́nh nội
an ở Việt Nam” – đă đi đến kết luận:
T́nh
h́nh có thể tóm lược trong nhận định sau đây: Chính phủ đă đi đến chỗ đối
đăi với dân chúng bằng con mắt nghi kỵ, đàn áp để đổi lấy sự thờ ơ, thụ động
và oán ghét của quần chúng.
Ư
thức về liên đới giữa chính quyền và nhân dân là yếu tố cơ bản th́ đă không
c̣n nữa. Nhân dân đă không c̣n đồng hóa bản chất của ḿnh và bản chất của
chính quyền.
Bản
Tường tŕnh đă nêu rơ ràng sự thờ ơ và bất măn ngày một gia tăng trong dân
quê đă là nguyên nhân chính của sự nổi loạn tại miền Nam.
Phần
trích dẫn trên đây là những nhận định dựa vào thực tế khách quan của năm
1960 bằng cái nh́n có hệ thống của một người Mỹ nghiên cứu về vấn đề Việt
Nam hầu đóng góp vào chính sách của Mỹ tại nước ta, một chính sách vẫn c̣n
thuận lợi cho miền Nam nói chung và ông Diệm nói riêng, dù t́nh h́nh đă có
nhiều dấu hiệu bi quan.
Tuy
cái nh́n đó đă mô tả đúng và đúc kết được những thất bại cũng như tương lai
đen tối của chế độ Diệm nhưng cũng chưa truy tầm được tận gốc rễ những lư do
thật sự của các thất bại đó. Lư do thật sự đó là ǵ nếu không phải xuất phát
từ tư cách và khả năng lănh đạo của sáu anh em nhà Ngô.
Hoàn
cảnh xă hội, tâm thức tôn giáo, giáo dục gia đ́nh đă đúc kết thành sáu nhân
vật chỉ biết bám chặt lấy quyền lực để độc tôn, độc tài khuynh loát quốc
gia, sáu nhân vật tự trao cho ḿnh cái nhiệm vụ dẫn dắt dân tộc Việt mà
không thèm đếm xỉa đến ḷng dân thế nước.
Đứng
trên quan điểm lịch sử Tây phương, ta có thể giải thích bằng sự vận động tất
yếu của lịch sử về sự khủng hoảng lănh đạo của đất nước trong giai đoạn này.
Nhưng đứng trên sử quan Đông phương th́ ta chỉ thấy đó là cơ duyên nhân quả
của vận nước trong sự tuần hoàn biến dịch của vũ trụ và nhân sinh, mà cũng
như quá tŕnh biến thiên lịch sử của các quốc gia khác, phải có những
triều đại bạo ác ra đời trước khi quê hương và dân tộc bước vào chu kỳ tươi
sáng mới của tương lai. Ta phải có chế độ Ngô Đ́nh Diệm th́ mới có ngày
30 tháng 4 năm 1975 để cho Cộng Sản có cơ hội quét sạch, quét hết những rác
rớm tàn dư lịch sử của các chế độ ngoại thuộc kể từ ngày Pháp đánh vô Đà
Nẵng cho đến ngày Cộng Sản thống nhất Việt Nam. Và ta phải có ngày 30 tháng
4 năm 1975 để bộ mặt lỗi thời và bất lực của Cộng Sản Hà Nội lộ diện th́ dân
tộc mới có cơ hội vùng lên viết trang sử mới sau này.
Mười sáu thất bại chính trị, ngoại giao, kinh tế, xă hội của chế độ Diệm đă
được tôi đề cập trong hai chương vừa qua, tuy không ồn ào tiếng súng như
trên chiến địa, nhưng chính chúng lại là những yếu tố mở đường cho các thất
bại quân sự máu đổ xương rơi kể từ năm 1960 mà tôi sẽ đề cập trong chương
tiếp theo. Thật vậy, v́ chính trị điều động mức độ và bản chất của chiến sự,
nên những thất bại chính trị của chế độ đă dĩ nhiên kéo theo những thảm bại
về quân sự trong một cuộc chiến mà đối thủ Cộng Sản đă biết phối hợp cả hai
yếu tố này một cách tinh khôn và hữu hiệu.
Nguyễn Thái, Is
South Vietnam Viable?,
tr. 185, 186.
Malcolm Browne, The New Face of War,
tr. 70.
Joseph Buttinger,
Vietnam A Political History,
tr. 447.
Dương Tấn Tươi, Cười,
Nguyên Nhân và Thực Chất, tr. 333.
Joseph Buttinger,
Vietnam A Political History,
tr. 447, 448.
Đoàn Thêm, Những Ngày Chưa Quên,
tr. 119, 120.
David Halberstam, The Making of a
Quagmire, tr.172.
George Chaffard, Les Deux
Guerres du Vietnam, tr. 310.
Đoàn Thêm, Những Ngày Chưa Quên,
tr. 200.
Đoàn Thêm, Những Ngày Chưa
Quên, tr. 200.
Stanley Karnow, Vietnam, A History, tr. 231.
Frances Fitzgerald, Fire in the
Lake, tr. 101-104.
Neil Sheehan, The Pentagon
Papers, tr. 70, 72.
|