MỤC LỤC

 

 

 
 

 

   Lời Giới thiệu của NXB

   Lời Mở đầu

 * * *

Chương 01

Chương 02

Chương 03

Chương 04

+ H́nh ảnh 1

Chương 05

Chương 06

Chương 07

Chương 08

Chương 09

Chương 10

Chương 11

Chương 12

Chương 13

Chương 14

Chương 15

Chương 16

Chương 17

Chương 18

Chương 19

Chương 20

 

THƯ MỤC

PHỤ LỤC

Phụ lục A

Phụ lục B

Phụ lục C

Phụ lục D

Phụ lục E

Phụ lục F

 

+ H́nh ảnh 2

 

* * *

 

CHƯƠNG I

 

QUẢNG B̀NH

QUÊ HƯƠNG ĐỊNH MỆNH

 

Trong suốt quá tŕnh lịch sử cận đại của nước ta, trên cả ba miền đất nước mà đặc biệt tại miền Trung, khi nói đến cái “ḷ” cách mạng hay cái “nôi” văn học là phải nói đến hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh ở phía Bắc Đèo Ngang, và hai tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngăi ở phía Nam Đèo Hải Vân. Những bậc hào kiệt tài danh đứng đầu ngọn sóng cách mạng hoặc làm đẹp cho nền thi văn đất nước như các cụ Phan Bội Châu, Phan Đ́nh Phùng, Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ đều xuất thân từ vùng đất Nghệ-Tĩnh; c̣n những tên tuổi của các cụ Phan Chu Trinh, Trần Cao Vân, Trần Quư Cáp th́ lại vươn lên từ vùng đất Nam-Ngăi, nơi được mang danh là đất của “Ngũ Phụng Tề Phi” (năm con phượng cùng bay) nhờ kỳ thi Hội năm Mậu Tuất (1898), ba tiến sĩ và hai phó bảng trong số mười tám vị chiếm bảng vàng đều xuất thân từ tỉnh Quảng Nam, cho nên vua Thành Thái mới ban cho năm vị tân khoa bốn chữ “Ngũ Phụng Tề Phi” vang rền đất nước.

Nghệ-Tĩnh và Nam-Ngăi, dưới thời Pháp thuộc, cũng chính là vùng đất bất khuất, tiếp nối truyền thống cách mạng chống ngoại xâm của cha ông, vùng lên đối kháng chính quyền bảo hộ Pháp mà điển h́nh là các cuộc đấu tranh của Văn Thân và Cần Vương, là phong trào chống thuế ở Nam-Ngăi, là phong trào Sô-Viết ở Nghệ-Tĩnh. Các ông Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng và một số các lănh tụ khác của đảng Cộng Sản Việt Nam, cũng xuất thân từ ḷ luyện thép này.

Bên cạnh vóc dáng và khí thế lẫy lừng của bốn tỉnh kể trên, B́nh-Trị-Thiên là ba tỉnh nằm giữa hai ngọn đèo lớn đó của miền Trung, v́ quen nhọc nhằn chống lại thiên nhiên hà khắc, lại vốn làm cái đ̣n gánh chính trị oằn vai v́ sức nặng cách mạng của bốn tỉnh tiếp giáp nên cũng đă cưu mang trong sức sống tất cả cái hào hùng và oan nghiệt của lịch sử. Tỉnh Quảng B́nh, tuy là một tỉnh nhỏ về cả hai phương diện dân số lẫn diện tích, nhưng nhờ vậy lại chiếm địa vị của một vùng đất quê hương nổi tiếng địa linh nhân kiệt.

Từ đời Hùng Vương, Quảng B́nh đă là một trong mười lăm bộ của nước Văn Lang, có tên là Việt Thường với thủ đô là Phong Châu[1]. V́ là tỉnh cực Nam tiếp giáp với biên giới Chiêm Thành nên suốt một thời gian dài trong quá tŕnh dựng nước và mở nước, Quảng B́nh đă là chiến địa khốc liệt và dai dẳng, lắm phen thay ngôi đổi chủ giữa hai dân tộc Chiêm-Việt. Cho đến năm 1069, khi vua Lư Thánh Tông xuất quân đánh Chiêm Thành bắt được vua Chế Củ và sát nhập ba châu Địa-Lư, Ma-Linh, và Bố-Chính th́ Quảng B́nh (và phần đất phía Bắc tỉnh Quảng Trị) mới hoàn toàn thuộc về lănh thổ nước Việt Nam và thuộc về chủ quyền dân tộc Việt Nam cho đến bây giờ. 

Tuy là một tỉnh nhỏ, dù bề dài 110 cây số, và bề ngang, chỗ hẹp nhất, chỉ vào khoảng 45 cây số, quanh năm ách nước tai trời, lưng dựa vào Trường Sơn huyền bí, mặt nh́n về biển Đông thét gào, đất cày lên không sỏi th́ đá, nhưng tạo hóa lại đền bù cho Quảng B́nh nhiều danh lam thắng cảnh để tô điểm cho thêm thanh kỳ, mỹ tú mà nhiều tỉnh khác không có. Lũy Thầy, Đèo Ngang, sông Linh Giang, động Phong Nha… không những là kỳ tích của thiên nhiên mà c̣n là những địa danh ghi đậm những biến cố hào hùng trong lịch sử nước nhà.

Đèo Ngang nằm trên một rặng núi bắt nguồn từ dăy Trường Sơn, vươn ra biển Nam Hải như một bức trường thành hùng vĩ nên có lẽ v́ thế mà rặng núi này được gọi là Hoành Sơn. Sử chép rằng chúa Nguyễn Hoàng thời Lê Mạt trước khi vào trấn nhậm Đàng Trong, có cho người đến thỉnh ư cụ Trạng Nguyễn Bỉnh Khiêm. Cụ nh́n thấy một đàn kiến đang ḅ trên ḥn giả sơn trước sân nhà, bèn nói Hoành sơn nhất đái vạn đại dung thân (núi Hoành một dăy, vạn đời dung thân). Câu chuyện thuộc về dă sử không rơ thực hư, nhưng kể từ năm 1558, khi chúa Trịnh cho Nguyễn Hoàng vào Nam trấn nhậm cho đến khi nhà Nguyễn lập quốc xưng vương vào năm 1802, rồi kéo dài cho đến năm 1945, khi vua Bảo Đại thoái vị trao quyền lại cho ông Hồ Chí Minh, tổng cộng gần 400 năm kể cũng là vạn đại lắm rồi.

Cảnh vật Đèo Ngang như là nơi tao ngộ của trời mây non nước, đất đá cỏ cây, lại có ải-quan trơ gan cùng ngày tháng, có Cổ Lũy pha đậm nét rêu phong, cảnh trí vừa hùng vĩ, vừa nên thơ dễ làm động ḷng khách du quan mỗi khi đi qua Đèo. Vua Lê Thánh Tôn, Bà Huyện Thanh Quan, Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu… những thi hào tên tuổi của Việt Nam dừng chân trên đỉnh đèo, động ḷng hoài cảm trước cảnh vật giao ḥa đă để lại những vần thơ láng lai t́nh non nước. Người Việt Nam không mấy ai không biết bài thơ hoài cảm Qua Đèo Ngang tức cảnh của Bà Huyện Thanh Quan:

            Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà,

            Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.

            Lom khom dưới núi tiều vài chú,

            Lác đác bên sông rợ mấy nhà.

            Nhớ nước đau ḷng con quốc-quốc,

            Thương nhà mỏi miệng cái gia-gia.

            Dừng chân đứng lại trời non nước,

            Một mảnh t́nh riêng ta với ta.

Cách Đèo Ngang 15 cây số về phía Nam có con sông Gianh mà ḷng sông vừa sâu lượng nước lại vừa chảy mạnh. Sông Gianh bắt nguồn từ núi rừng Trường Sơn hiểm trở, bạt núi xuyên ngàn tạo ra nhiều thác lắm ghềnh và đổ ̣a ra biển Đông, cắt đôi đất nước thành hai miền riêng biệt. Bề ngang rộng lớn của ḍng sông và thế chảy mănh liệt của ḍng nước biến sông Gianh thành một trở lực thiên nhiên hữu ích cho các nhà quân sự muốn tạo ra một thế bố pḥng vững chắc vào cái thời mà vũ khí và các phương tiện vận tải c̣n giới hạn.

Cửa sông Gianh nước chảy xiết, khó bắc cầu, thuyền bè qua lại khó khăn nguy hiểm nên dân gian mới ví von:

            Bao giờ nước cạn Đồng Nai,

            Sông Gianh bớt chảy mới phai lời nguyền.

Tuy cửa sông Gianh hiểm trở nhưng đây cũng lại là nơi phong cảnh hữu t́nh, nên thơ với tiếng gió thổi lộng qua hàng dương liễu vi vu trỗi lên những bản nhạc du dương trầm hùng, với những cánh buồm nâu trở về bến cũ khi bóng xế chiều tà, với tiếng sóng dạt dào theo con nước thuỷ triều lên xuống. Khách lữ hành mỏi mệt sau những chặng đường dài trên con đường thiên lư, đến cửa sông Gianh dừng chân nghỉ lại trong những ngôi quán tranh của dân xóm Thanh Hà, phía hữu ngạn sông Gianh, nếm mùi hải vị, uống chén chè tươi, ngắm nh́n bức tranh thiên tạo, hưởng làn gió mát trước khi tiếp tục cuộc hành tŕnh ngược Bắc xuôi Nam.

Rời sông Gianh, theo phương Nam mà đi gần 30 cây số nữa, khách lữ hành sẽ gặp Đồng Hới, tỉnh lỵ Quảng B́nh, có Động Hải, có sông Nhật Lệ, có cổng B́nh Quan, có cổ lũy Phú Ninh, có những tiền đồn của Lũy Thầy, những di tích c̣n sót lại của thời Trịnh Nguyễn phân tranh.

Tiếp tục đi về phía Nam, băng qua sông Nhật Lệ, khách lữ hành sẽ t́m thấy những kiến trúc rêu phong vốn là vết tích của Lũy Thầy, c̣n được gọi là Trường Thành Định Bắc. Lũy Thầy, chiến lũy vững vàng đă từng chận đứng rất nhiều chiến dịch Nam tiến của quân chúa Trịnh, được xây từ năm 1629 do sáng kiến chiến lược của vị quân sư tài ba và đầy mưu lược của nhà Nguyễn là ông Đào Duy Từ. Ông vốn xuất thân từ một gia đ́nh làm nghề hát xướng, cái nghề mà xă hội phong kiến ngày xưa thường khinh bỉ gọi là “xướng ca vô loại”. Thủa thiếu thời, có lúc ông phải đi ăn xin từ làng này qua làng khác và rất nhiều lần phải chăn trâu cho các nhà phú hộ để đổi lấy bát cơm thừa. Trong hoàn cảnh khốn cùng đó, tương lai lại c̣n bị chận đứng bởi bức thành giai cấp cổ tục, ông vẫn quyết tâm sôi kinh nấu sử một ḿnh để trau dồi trí đức và sau này trở thành một bậc hiền tài mưu cao chí lớn được chúa Nguyễn Phúc Nguyên và các quan xem như bậc thầy.

Lũy Thầy dài ba trăm trượng, chạy từ chân núi Đầu Mâu, phía Tây huyện Lệ Thủy, đến cửa sông Nhật Lệ thuộc phủ Quảng Ninh, đă là chiến lũy chận đứng được nhiều cuộc tấn công của quân Đàng Ngoài. V́ thế mới có lời truyền tụng:

            Khôn ngoan qua cửa sông La,

            Dù ai có cánh khó qua Lũy Thầy.

Ngoài những cảnh trí non nước đă được nhắc nhở nhiều trong sử sách ngàn đời của dân tộc Việt, Quảng B́nh c̣n có nhiều phong cảnh đem tự hào cho dân chúng địa phương. Cách tỉnh lỵ Đồng Hới 17 cây số về phía Tây Nam, có động Phong Nha thuộc huyện Bố Trạch, một thắng cảnh vô cùng kỳ vĩ. Muốn vào động phải đi bằng thuyền, phải có đuốc dẫn đường; trong động có suối nước xanh màu ngọc bích, có thạch nhũ nhô ra như những bàn tay Phật, có những kiến trúc thiên nhiên như những toà lâu đài tráng lệ huy hoàng, lại có những sân khấu do thợ Trời sắp đặt với phong cảnh trang trí, đào kép múa may thật diễm ảo thần tiên. Những giọt nước từ nhũ đá rơi xuống suối nằm sâu trong ḷng động tạo thành những điệu nhạc trầm buồn và mỗi khi nước chao động đập vào ghềnh đá th́ có tiếng âm vang như tiếng chuông chùa. Theo dân chúng địa phương th́ những tiếng chuông chùa này chỉ ngân lên vào đêm Rằm và đêm mồng Một âm lịch mà thôi.

Trời trên ṿm động có những đám mây ngũ sắc từ chóp núi Trường Sơn tụ lại làm cho cảnh vật Phong Nha thêm huyền ảo, thanh kỳ khiến khách du quan tưởng ḿnh như lạc đến chốn Bồng Lai Tiên Cảnh.

Cụ Chu Mạnh Trinh cho rằng động Hương Sơn ở Hà Tây là Nam Thiên đệ nhất Động, c̣n học giả Thái Văn Kiểm (từng sống lâu năm và từng nghiên cứu về địa lư dân t́nh tỉnh Quảng B́nh và miền Trung) th́ lại cho rằng Phong Nha là “Đệ Nhất Kỳ Quan” của nước Việt Nam. Theo ông Thái Văn Kiểm th́ ông Barton, nhà chiêm tinh học người Anh, cho biết động Phong Nha không kém ǵ động Padirac của Pháp hay Cuevas del Drach ở Mallorque của xứ Tây Ban Nha[2]. Chỉ tiếc rằng động Phong Nha, một kỳ quan của đất nước quê hương, mà chỉ có người Âu Châu thăm viếng nhiều c̣n người Việt Nam chưa mấy ai lui tới chỉ v́ giao thông trắc trở, v́ chiến tranh cản ngăn.

Nếu động Phong Nha đă tô điểm cho huyện Bố Trạch thành một vùng giang sơn cẩm tú th́ núi Đầu Mâu và đầm Hạc Hải ở Lệ Thủy và Quảng Ninh lại là nơi tụ hội của khí thiêng sông núi hun đúc nhân tài tỉnh Quảng B́nh. Núi Đầu Mâu cao vút, quanh năm mây mù bao phủ đầu non, h́nh chóp núi nhọn như ng̣i bút, c̣n đầm Hạc Hải h́nh thể như cái nghiên mực có lạch riêng cho thuyền bè qua lại, phía Đông Nam bao bọc bởi những động cát chập chùng, phía Tây Bắc có vách núi Trường Sơn làm thành quách. Cảnh vật Đầu Mâu và Hạc Hải trông giống như ng̣i bút và đĩa nghiên cho nên tiền nhân mới gọi Đầu Mâu vi bút, Hạc Hải vi nghiên, làm biểu tượng cho nền văn học tỉnh Quảng B́nh. Quanh Đầu Mâu và Hạc Hải có nhiều động, nhiều hang thiêng liêng, thần bí khác, đặc biệt là động Chấn Linh được tiền nhân ca ngợi là chốn đào nguyên hạ giới, người trần tục không nên lui tới: Động môn vô tỏa thực, tục khách bất tàng lai [3].

Quảng B́nh, quê hương tôi, c̣n rất nhiều sơn kỳ, thủy tú. Có lẽ v́ tạo hóa đặc biệt ân thưởng để đền bù cho một vùng đất vốn không được ưu đăi về mặt kinh tế như các vùng khác của đất nước, lại gặp quá nhiều đau khổ v́ ách nước tai trời, v́ chinh chiến triền miên theo dọc chiều dài lịch sử. Trong thời xa xưa, Quảng B́nh liên tiếp đă là băi chiến trường của hai quốc gia Chiêm-Việt; đến đời nhà Lê, Quảng B́nh lại đắm ch́m trong can qua v́ cuộc phân tranh của hai nhà Trịnh-Nguyễn. Trong thời Pháp thuộc, vùng Tuyên Hoá phía Tây Quảng B́nh là chiến khu của vua Hàm Nghi, vùng tả hữu ngạn sông Gianh trở thành chiến địa giữa nghĩa quân Cần vương và quân đội viễn chinh của thực dân, giữa người Lương chống Pháp và người Giáo theo Pháp. Thời chiến tranh Pháp-Việt, 1945-1954, vùng Bắc Quảng B́nh là biên giới của hai phe lâm chiến, nhiều trận giao phong ác liệt đă xảy ra nơi vùng tiền tuyến của hai bên. Thời chiến tranh Nam Bắc Quốc Cộng (1954-1975) Quảng B́nh là tuyến đầu của quân đội miền Bắc, được sử dụng như một căn cứ tiền phương với nhiệm vụ t́nh báo, tồn trữ quân nhu, quân cụ và là xuất phát điểm của những chiến dịch xâm nhập hay tấn công quân đội miền Nam, nên đất và dân Quảng B́nh đă phải hứng chịu nhiều trận mưa bom hăi hùng, bất tận của không quân Mỹ-Việt.

Ông bà xưa thường nói người khôn của khó. Câu nói đó áp dụng đúng cho trường hợp nhân dân Quảng B́nh. Dân Quảng B́nh nghèo khó, dân Quảng B́nh gặp tai ương triền miên, nhưng người Quảng B́nh lại thông minh, khí phách, can trường và nhất là dám sống chết cho lư tưởng.

Tuy Quảng B́nh không có những nhân vật nổi tiếng về văn học và cách mạng như các danh sĩ Nghệ-Tĩnh và Nam-Ngăi, nhưng số người đỗ đạt khoa giáp lại rất nhiều, đặc biệt là tại hai phủ Quảng Trạch và Quảng Ninh. Quảng Trạch có bốn đại xă văn học là SƠN (Lệ Sơn), HÀ (La Hà), CẢNH (Cảnh Dương), THỔ (Thổ Ngọa). Quảng Ninh có bốn đại xă là VĂN (Văn La), VƠ (Vơ Xá), CỔ (Cổ Liễu), KIM (Kim Nại). Tên của tám xă góp lại thành hai vế của một câu đối là Sơn Hà Cảnh Thổ đối với Văn Vơ Cổ Kim, đă đem lại danh dự cho dân chúng Quảng B́nh. Ngoài hai phủ Quảng Trạch và Quảng Ninh, huyện Lệ Thủy cũng là một quê hương có nhiều nhân tài khoa hoạn, nhiều tiến sĩ, phó bảng. Sách Đại Nam Nhất Thống Chí cho biết từ đời nhà Lê cho đến đời nhà Nguyễn, Quảng B́nh có rất nhiều người đỗ đạt và làm quan phục vụ cho dân, cho nước mà toàn là những người nổi tiếng về khí tiết, đức độ, liêm chính, tài năng, mưu lược. Có những nhân vật đức độ được ca ngợi là Phật sống, là Bồ Tát, có những nhân vật văn vơ vẹn toàn, có những người đa mưu túc trí được so sánh với Khổng Minh, với Lưu Bá Ôn, những nhân tài đời Hán, đời Minh bên Trung Quốc. Có những người chỉ xuất thân từ hàng sĩ tốt, nhờ tài thao lược, nhờ dũng khí, can trường làm nên đến Đô Thống, Quận Công. Quảng B́nh tỉnh nhỏ, người thưa mà lại có nhiều vị khoa giáp, tài đức, học hành toàn vẹn được nhiều đời Vua mời vào cung giữ chức “Phụ Đạo”, làm thầy dạy học cho các Hoàng Tử, Hoàng Đệ như Nguyễn Đăng Tuấn, Ngô Đ́nh Giỏi, Vũ Xuân Cẩn, Nguyễn Hàm Ninh. Có người như Nguyễn Tử Kính làm quân sư cho vua Lê đánh đuổi giặc Tàu, như Lê Trực, Nguyễn Phạm Tuân lănh đạo nghĩa quân Cần Vương, pḥ vua Hàm Nghi đánh Pháp. Có người như Nguyễn Hàm Ninh (bạn tri kỷ của Cao Bá Quát) nửa đường công danh không muốn tiếp tục vào ḷn ra cúi, cởi áo từ quan về nhà sống cuộc đời thanh bần. Lại có người như tiến sĩ Phạm Phi Diệu đỗ đạt rồi mà không màng lợi danh, chỉ muốn sống cuộc đời ẩn dật vui với non nước, cỏ cây chốn thôn dă bần hàn:

            Bảng chiếu dương Ngô mai bạch tuyết,

            Tâm lao hậu bỉ Thảo, Huyền nhân.

Ư muốn nói là thi đỗ rồi chỉ muốn bồi dưỡng tâm hồn cho trắng như tuyết, cho sạch như mai, không nhọc ḷng làm kẻ viết kinh Huyền, kinh Thảo[4].

Đến thời cận đại, khi nền giáo dục Tây phương theo chân quân xâm lăng tràn vào bờ cơi để đánh bật tận gốc rễ nền giáo dục Nho Hán và thay vào đấy bằng một nền giáo dục gọi là Tây học th́ Quảng B́nh, trong cơn chuyển đổi ngặt nghèo, cũng sản xuất ra được những nhân vật tiếng tăm lẫy lừng như gịng họ Ngô Đ́nh chẳng hạn, gịng họ đă có người làm đến Tổng Đốc Thượng Thư dưới thời bảo hộ Pháp, có người làm đến Tổng thống, Tổng giám mục dưới thời ảnh hưởng Mỹ. Cũng trong thời kỳ này, khi chiến tranh bao phủ non sông và bao nhiều người con yêu của tổ quốc đều chọn binh nghiệp làm lẽ sống th́ Quảng B́nh cũng có người làm đến Đại tướng hay Bộ trưởng như ông Vơ Nguyên Giáp chẳng hạn, tạo ra những chiến công hiển hách trong quân sử nước nhà. Quảng B́nh cũng c̣n nằm trong bộ phận đại quần chúng để cung cấp cho dân tộc những nghệ sĩ biết rung động với thiên nhiên và thời đại, những kỹ thuật gia biết vận dụng năng lực sáng tạo để khắc phục khó khăn.

Lật trang sử cũ, ta thấy Quảng B́nh quả thật là quê hương địa linh nhân kiệt, vùng đất vốn chật hẹp, nghèo nàn mà núi sông lại hùng vĩ, phong cảnh lại hữu t́nh, sản xuất không biết bao nhiêu là văn tài, vơ tướng, hào kiệt, trượng phu, tô điểm vàng son cho lịch sử nước nhà. Nhưng rồi như cổ nhân đă dạy dân có vận, nước có tuần, đến giữa thế kỷ 20, chính những người con dân Quảng B́nh lại là những người chủ trương gây cảnh huynh đệ tương tàn, chiến tranh suốt 30 năm trời, quê hương núi xương sông máu, mà tiêu biểu rơ ràng nhất là hai nhân vật Ngô Đ́nh Diệm và Vơ Nguyên Giáp.

Ư nghĩa lịch sử đích thực của cuộc chiến tranh đó nh́n bằng con mắt của 50 triệu người dân Việt và đặt nó nằm trong ḍng sinh mệnh gần 5000 năm ngút ngàn của tổ quốc Việt Nam th́ chỉ là một cuộc chiến huynh đệ tương tàn. V́ dù có nhân danh bất kỳ một chủ nghĩa nào (Cộng sản hay Tư bản), dù có biện minh bằng một nguyên ủy nào (Giải phóng hay Tự do), th́ rơ ràng chính máu xương của người Việt đă đổ ra, chính người Việt này đă giết người Việt kia không bằng sự tỉnh táo và tự do của một con người Việt b́nh thường mà ước vọng về cuộc sống th́ thật là giản dị. Người Việt đă không phát kiến ra những hệ ư thức để mâu thuẫn nhau, lại càng không phát minh ra những vũ khí để tiêu diệt nhau. Đi t́m nguồn gốc lịch sử sâu xa của cuộc chiến Quốc Cộng là phải đi xa hơn nữa vào chiều dài của lịch sử, kể từ lúc ngọn gió dữ phương Tây quái ác cuộn vào đất nước làm bật tung cây cổ thụ văn hóa của dân tộc, cây cổ thụ đă được vun trồng bởi Quốc Tổ Hùng Vương, và được tưới bằng máu của biết bao anh hùng liệt nữ trải dài gần 5000 năm văn hiến, và cây cổ thụ đă một thời xanh tốt vững chăi bằng đất lành khí mát của nền Tam giáo đồng nguyên.

Năm 1558, khi Nguyễn Hoàng được phép anh rể là Trịnh Kiểm vào Nam trấn nhậm, ông ra đi mang theo cái mộng trả thù cho cha anh và cái chí mưu bá đồ vương, anh hùng một cơi. Ông lập nên nghiệp Chúa ở Đàng Trong, mở mang bờ cơi đến tận Châu Đốc, Hà Tiên, xây dựng một giang sơn riêng biệt quyết chí đương đầu với chúa Trịnh ở phương Bắc. Từ đó Việt Nam bị chia đôi bằng ḍng sông Gianh của tỉnh Quảng B́nh và dân tộc Việt Nam phải chịu hai hệ thống cai trị. Tất nhiên cuộc Nam Bắc phân tranh đă phải xảy ra giữa hai họ Trịnh Nguyễn, với hệ quả tất yếu là cuộc nội chiến giữa Nguyễn Gia Long và Nguyễn Tây Sơn, kéo dài cho đến năm 1802 khi Gia Long thống nhất đất nước mới chấm dứt. Trong giai đoạn này, từ ải Nam Quan cho đến mũi Cà Mau, dân tộc Việt đă phải gánh chịu cảnh cốt nhục tương tàn trên 200 năm trời.

Gia Long chấm dứt 200 năm nội chiến và thống nhất sơn hà phần lớn nhờ vào sức mạnh của vũ khí Tây phương qua sự vận động của các giáo sĩ Kitô giáo. Cho nên nội chiến chấm dứt rồi, sơn hà thống nhất rồi mà dân ta vẫn chưa được hưởng thái b́nh an lạc v́ các giáo sĩ Kitô giáo, khi đến Việt Nam, không phải chỉ có một mục đích rao giảng tin mừng của Thiên Chúa mà c̣n có một mục đích xâm thực văn hóa nữa. Mục đích xâm thực này phù hợp hoàn toàn với mục đích chiếm đất giành dân của chính quyền thực dân Pháp để cấu kết với nhau trở thành một chiêu bài mà họ gọi là “nhiệm vụ khai hóa” (mission civilisatrice).

Cho nên Phong kiến không tự nó đẻ ra được Cộng sản trong trường hợp nước ta mà chính Thực dân đă đẻ ra Cộng sản. Và sau này, cũng chính hai sản phẩm này của nền văn minh Tây phương là Thực dân và Cộng sản đă thôi thúc dân ta rơi vào cảnh huynh đệ tương tàn.

V́ vậy, bất hạnh thay cho dân tộc Việt, đúng 25 năm trước cuộc Nam tiến của Nguyễn Hoàng, vào năm 1533 thời vua Lê Trang Tôn, các giáo sĩ Kitô giáo Tây phương đă đi đường biển lẻn vào nước ta để giảng đạo. Nếu hoạt động của các giáo sĩ Tây phương chỉ cốt để truyền giáo mà thôi, như Thiền sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi đến Hà Đông năm 580 để truyền bá đạo Phật chẳng hạn, th́ có lẽ không có cái hậu quả 30 năm chiến tranh Quốc Cộng 1945-1975 sau này. Khốn nỗi họ lợi dụng việc truyền giáo, toa rập với các lực lượng Thực dân và Đế quốc phương Tây, để mưu đồ thôn tính Việt Nam. Không những họ đă làm đảo lộn cương thường đạo lư, tập tục cổ truyền của nền văn hóa dân tộc, mà họ c̣n gây căm thù chia rẽ giữa người Việt với người Việt, họ xây dựng một đạo quân thứ 5 bản xứ làm đội quân mai phục đưa đường dẫn lối cho quân đội Pháp sau này. Đây không phải là một biệt lệ cho trường hợp Việt Nam mà là một chính sách toàn cầu của đạo Công giáo La Mă được Toà thánh Vatican thực hiện một cách hiệu quả đến mức giáo hoàng John Paul II ngày nay phải đi nhận tội và xin lỗi ở khắp nơi từ Nam Mỹ đến Phi Châu.

Dưới thời chúa Nguyễn Ánh, giám mục Pigneau de Béhaine đă cùng với Hoàng tử Cảnh, con trai đầu ḷng của Nguyễn Ánh, đến Pháp bệ kiến vua Louis 16 để xin viện trợ và kư hiệp ước Versailles, hiệp ước đầu tiên bán nước Việt Nam cho Pháp. Hiệp ước Versailles tuy không được áp dụng, nhưng từ đó và nhờ đó, Pigneau de Béhaine, các giáo sĩ và các sĩ quan hiếu động, nhiều tham vọng của Pháp đă khai thác cơ hội để thực hiện âm mưu thôn tính Việt Nam. Với những mưu đồ đen tối, với những thủ đoạn xảo quyệt, họ đă thúc đẩy được chính phủ Pháp đem quân xâm chiếm Việt Nam, đặt nền đô hộ gần suốt 100 năm trời.

Trong tác phẩm nghiên cứu lịch sử nổi tiếng Việt Nam Pháp Thuộc Sử (in lại tại Mỹ gần đây), giáo sư Phan Khoang đă đưa ra những sử liệu rất rơ ràng về vai tṛ của các giáo sĩ Kitô giáo.

“Nói về nước Pháp th́ sau cuộc chiến tranh bảy năm, đă mất nhiều thuộc địa, ở Ấn Độ chỉ c̣n năm nơi thương phụ, vậy muốn khôi phục thế lực ở Á Đông, người Pháp phải gắng kiếm thêm đất đai ở bên này mới được.

Một giáo sĩ Pháp sẽ t́m cơ hội can thiệp vào nước Việt Nam và đặt viên đá đầu tiên cho cuộc xâm nhập nước ḿnh” (trang 32).

và cũng trong cuốn Sử đó, ông đă đi vào chi tiết rơ hơn:

“Những người đề xướng đầu tiên cuộc chinh phục nước Nam là mấy sĩ quan hải quân của hạm đội Pháp ở biển Trung Quốc như các ông Cécille, Rocquemaurel, Fourichon, Jaurès Maison-Neuve, mấy đại diện ngoại giao kế nhau ở Toà lănh sự Pháp ở Macao như các ông Forth Rouen, De Courcy, Bourboulon; các ông ấy đă nhiều lần đề nghị với chánh phủ đem quân can thiệp ở nước Nam.

Nhưng hoạt động hăng hái hơn cả để làm cho chánh phủ Pháp quyết định là các Giáo sĩ, nhất là giáo sĩ Huc, Giám mục Retord, Giáo sĩ Libois và Giám mục Pellerin.

Giáo sĩ Huc trước đă dâng vua Napoléon III một kế hoạch thành lập một công ty để lo việc chinh phục và khai thác các xứ Cao Ly, Đà Nẵng, Madagascar; năm 1857 lại dâng một bức thư nhắc lại Pháp-Nam hiệp ước 1857 và sự cần thiết phải thiết lập gấp một căn cứ ở nước Nam. Chính lá thư ấy đă làm cho chánh phủ vua Napoléon III quyết định đặt một ủy ban để Nghiên Cứu vấn đề Nước Nam (Commission de la Cochinchine), trong ủy ban ấy, Giáo sĩ Huc đă tỏ bày ư kiến. Sau khi dâng bức thư kia, Giáo sĩ Huc được vua vời đến diện yết, và Giáo sĩ đă làm cho vua tin tưởng ở lời nói ḿnh.

Giám mục Pellerin th́ trong các năm 1851, 1855 đă xin chánh phủ Pháp giúp đỡ các giáo sĩ, giáo đồ đương bị bạc đăi và giết hại. Như ta đă thấy, năm 1856, Giám mục lén đến Đà Nẵng, gặp thuyền trưởng tàu Capricieuse.

Nhân đó, Giám mục có dự cuộc thương thuyết của Montigny và các quan ta, rồi về Pháp bày tỏ trước công chúng những cảnh tượng bi thảm mà Giáo hội ở nước Nam đă phải trải qua. Giám mục có ra trước Ũy ban Nước Nam, được diện yết vua Napoléon III nhiều lần và dâng lên vua hai tờ điều trần dài.” (trang 115-117)

Hai tờ điều trần mở đầu cho tàu chiến súng đạn Pháp xâm lăng nước ta.

Tuy nhiên âm mưu xâm chiếm Việt Nam thật ra đă có từ thời giáo sĩ Alexandre de Rhodes kể từ khi ông ta đến Việt Nam (1624), nghĩa là hơn 200 năm trước.

Ánh sáng của sự thật càng ngày càng được chiếu rọi vào hồ sơ mật trong các văn khố của Hội Truyền Giáo Hải Ngoại Pháp và đă cho phép các sử gia xác định âm mưu thôn tính Việt Nam của Thiên Chúa giáo vốn có từ thời Cố đạo Alexandre de Rhodes chứ không phải dưới thời Pigneau de Béhaine và Nguyễn Ánh, như một số người chưa chịu nghiên cứu kỹ vẫn bị nhầm lẫn.

Alexandre de Rhodes đến Việt Nam năm 1624 và vĩnh viễn rời Việt Nam năm 1645. Thời gian ở Việt Nam ông viết rất nhiều sách giúp người Âu Châu t́m hiểu t́nh h́nh chính trị, địa h́nh, địa vật, sông núi, sản phẩm, tài nguyên, v.v… của xứ Việt Nam. Ông cũng hoàn bị công tŕnh của các Giáo sĩ Bồ Đào Nha trưóc đó, dựa vào chữ La tinh mà chế ra chữ Quốc ngữ, để trước hết là cho giáo dân dễ học Kinh thánh và dễ dàng giao thiệp với những thừa sai ngoại quốc. Nhiều lần ông đă bị chúa Trịnh đuổi đi, nhưng từ Áo Môn, năm 1640 ông t́m cách trở lại Việt Nam để hoạt động cho đến năm 1645:

Năm đó, cấp trên bảo ông trở về Âu châu để xin viện trợ vật chất và tuyển người truyền giáo mới. Ông đến La Mă năm 1649 đúng lúc Toà thánh cố tách rời việc truyền giáo tại châu Á ra khỏi quyền hành thế tục của Bồ Đào Nha. Ông tŕnh bày trước Hiệp Hội Truyền Giáo “Congrégations Propaganda Fide”, kế hoạch thiết lập tại Việt Nam một giáo đoàn thoát khỏi sự bảo trợ của Bồ Đào Nha. Được Giáo hoàng hân hạnh tiếp nhận. Vị tu sĩ ḍng Tên xứ Avignon được lựa chọn trong mục đích đó, Alexandre de Rhodes bèn quay về Pháp.

Ông viết: “Tôi tin rằng Pháp, v́ là nước ngoan đạo nhất thế giới, sẽ cung cấp cho tôi nhiều binh sĩ để đi chinh phục toàn thể phương Đông. Cũng như ở đó tôi sẽ có cách có nhiều Giám mục vốn là các Cha và các Thầy của chúng ta ở trong nhà thờ. Tôi rời La Mă ngày 11-9-1652 với ư định đó.”

Về Paris, Alexandre de Rhodes gặp một nhóm linh mục trẻ liền quyết tâm biến việc đào tạo này thành sự vụ riêng của Pháp (affaire Francaise). Đó là thời kỳ chính trị Pháp bắt đầu chịu ảnh hưởng sự thu hút của biển cả. Được Hoàng hậu Pháp và một nhân vật cao cấp ủng hộ, kế hoạch bị Bồ Đào Nha tấn công mạnh mẽ, họ viện dẫn sự bảo trợ hoàn toàn mà năm 1493 Giáo hoàng Alexandre Borgia đă giao cho họ. Alexandre de Rhodes chết năm 1660 khi chưa thấy được kế hoạch của ḿnh thực hiện, nhưng cố gắng của ông đă thành tựu. Năm 1658 La Mă bổ nhiệm hai vị đại diện Tông Toà người Pháp là Francois Pallu (1626-1684) và Lambert De la Motte (1637-1693) đại diện trực tiếp Giáo hoàng… Lịch Sử của Hội này (Hội Truyền Giáo Hải Ngoại Pháp) sẽ gắn liền chặt chẽ với lịch sử chiếm đóng của Pháp tại Việt Nam (La Société des Missions Etrangères fut alors créée dont l’histoire allait être intimement liée avec celle de l’implantation francaise au Vietnam). (Xem Đạo Thiên Chúa và Chủ nghĩa Thực dân tại Việt Nam, luận án tiến sĩ của Cao Huy Thuần, bản Việt văn trang 47, 48, bản Pháp văn trang 9, 10).

Giáo sư sử học Joseph Buttinger trong Vietnam a Political History (trang 63, 64) cũng có những nhận định như của tiến sĩ Cao Huy Thuần, được tạm dịch ra như dưới đây:

Công cuộc phát triển đạo Thiên Chúa tại Đông Dương trở thành công tác đặc biệt của một tổ chức Pháp được gọi là Hội Truyền Giáo Hải Ngoại (Society of Foreign Mission) thành lập năm 1664 tại Paris. Tổ chức này đi song hành với Công ty Đông Ấn Pháp do các giáo sĩ Paris, Rouen thành lập. Ông viết:

“Các tổ chức song hành “thương măi-tôn giáo đó” mở một trang sử khó quên cho nền thực dân Tây phương (A memorable chapter in the history of Western Colonialism) được thành lập vào khoảng 1650. Người Pháp mở một trung tâm thương măi Pháp Việt ở Hà Nội nhưng những người cư ngụ trong trung tâm đó là những giáo sĩ cải trang thành thương nhân người Pháp. Có vài dịch vụ trao đổi hàng hóa nhưng mục đích chính là để che đậy công tác bí mật nhằm tổ chức người cải đạo (Some trade was made but it served mainly as a cover for clandestine proselytizing).

“…Pallu và De la Motte cố gắng tiếp tục công việc của Rhodes đă bỏ dở mặc dù bị các chính phủ Đàng trong và Đàng ngoài cấm giáo sĩ ngoại quốc xâm nhập vào Việt Nam. Họ chiến đấu bằng sự cải trang thành thương nhân để lo chuyện thương măi, nhưng khi các dịch vụ thương măi bị đ́nh trệ th́ số phận của họ lại phải tuỳ thuộc vào sự hoạt động tôn giáo tại Việt Nam. (“Vietnam a Political History”, Joseph Buttinger trang 64)

Buttinger c̣n viết:

“Đặc biệt Pallu là một nhà kế hoạch chính trị, thường đi xa hơn các chỉ thị của cấp trên. Có thể gọi ông ta là người sáng chế mô thức thuộc địa trong đường lối chính trị tại Paris với phương sách “đă rồi” (accomplished facts). Ngoài những công việc đă thực hiện tại Á Châu trong khuôn khổ của Hội truyền Giáo mới thành lập, Francois Pallu c̣n lo việc tại Pháp, hợp tác với chính phủ khuếch trương ảnh hưởng Pháp tại Viễn Đông.

Như vậy chính Alexandre de Rhodes là người đầu tiên đă âm thầm hoạt động cho mưu đồ thực dân Pháp và lộ rơ vào năm 1649 khi được yết kiến Giáo Hoàng. Tuy nhiên, mưu đồ chưa thành h́nh th́ ông đă chết, sự nghiệp thực dân của ông ta được giáo sĩ Pallu tiếp nối.

C̣n ông Yoshiharu Tsuboi, giáo sư đại học Đông Kinh xuất thân từ Đại học Paris, trong cuốn “L’Empire Vietnamien Face à la France et à la Chine” (trang 31-57) đă viết như sau:

“…Sau hết người ta đă thảo luận dài ḍng về những nguyên nhân của sự can thiệp và xâm chiếm thuộc địa của Pháp tại Việt Nam, tác giả này th́ nhấn mạnh vào những nguyên nhân chính trị, tác giả khác lại chú ư tới những nguyên nhân kinh tế.

Phần chúng tôi, chúng tôi muốn tập trung sự chú ư vào những người Pháp từng làm việc tại Việt Nam, qua đó và căn cứ vào quá tŕnh truyền thông những tin tức về mọi mặt có liên quan đến Việt Nam để đưa về Pháp. Làm thế nào để cho nổi rơ những nguồn thông tin từng thúc bách chính phủ Pháp phải can thiệp vào Việt Nam và chiếm lấy nước này làm thuộc địa (…de mettre en évidence les sources de renseignements qui ont déterminés l’intervention des gouvernements Francais au Vietnam et la colonisation de ce pays). Rút lại, tôi muốn đưa ra mấy yếu tố để trả lời một câu hỏi đơn giản song quan trọng: Tại sao không phải Anh Cát Lợi, Ḥa Lan, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha mà chỉ có một ḿnh nước Pháp “gắn bó” với Việt Nam? Và mặt khác tại sao không phải Phi Luật Tân, Triều Tiên, Nhật Bản, Xiêm La mà chỉ có nước Việt Nam bị Pháp gắn bó?”

Câu trả lời của vị giáo sư Nhật Bản là:

“Trong công cuộc “Phúc âm hóa” nước Việt Nam có một tổ chức và năm giáo sĩ người Pháp đă giữ một vai tṛ quan trọng: Hội Thừa Sai Paris và các giáo sĩ Alexandre de Rhodes, Francois Pallu, Pigneau de Béhaine, Francois Marie Pellerin và Paul Francois Puginier”.

Như vậy là từ khi đến Việt Nam năm 1624, Alexandre de Rhodes đă nghiên cứu t́nh h́nh chính trị, kinh tế, địa dư nước Việt Nam, huấn luyện và tổ chức những tập đoàn tín đồ Thiên Chúa giáo bản xứ trung thành với Toà thánh Vatican rồi trở về Âu châu năm 1645 và qua năm 1646 tŕnh bày kế hoạch Phúc âm hóa Việt Nam với Giáo Hoàng và tŕnh bày kế hoạch thôn tính Việt Nam với chính phủ Pháp.

Nói tóm lại, âm mưu thôn tính Việt Nam đă do các giáo sĩ sắp đặt từ 1649 (nếu không muốn nói là từ 1624) chứ không phải từ khi có cuộc gặp gỡ lịch sử giữa Nguyễn Ánh và Pigneau de Béhaine năm 1776 (hay 1777) như nhiều người đă vô t́nh hay cố ư bóp méo sự thật.

Tuy nhiên, dân tộc Việt Nam vốn hào hùng bất khuất, vốn có truyền thống chống ngoại xâm như một truyền thống dựng nước và giữ nước, đă từng ba lần chiến thắng quân Mông Cổ, th́ đời nào chịu làm thân nô lệ cho ngoại bang. Do đó, từ ngày Pháp đặt được nền đô hộ, truyền thống đề kháng chống ngoại xâm bùng lên và những cuộc nổi dậy chống đối đă liên tục xảy ra từ Bắc chí Nam để thể hiện quyết tâm đánh đuổi giặc Pháp.

Những cuộc nổi dậy lúc đầu chỉ do người Việt lănh đạo như phong trào Văn Thân, Cần Vương, như Việt Nam Quang Phục Hội,… nhưng đến thượng bán thế kỷ 20 th́ chủ nghĩa Mác-Lê âm thầm len lỏi vào Việt Nam, cho nên từ đó những cuộc nổi dậy chống đế quốc Pháp lại có thêm lực lượng của phong trào Cộng Sản quốc tế nữa.

Trước đó, trong phong trào Cần Vương yêu nước chống Pháp (1885-1898), Nho giáo và Phật giáo đă là hai lực lượng yểm trợ chủ yếu. Giới tăng sĩ liên kết với các nho sĩ trung quân ái quốc phát động nhiều cuộc đấu tranh chống Pháp và tay sai bản xứ. Điển h́nh là vụ tăng sĩ Vơ Trứ liên kết với nho sĩ Trần Cao Vân để thực hiện cuộc khởi nghĩa ở Phú Yên (1898) mà Pháp và bọn tay sai đă gọi là “giặc thầy chùa”. Ở miền Bắc có tăng sĩ Vương Quốc Chính tổ chức “Hội Trương Chí” thiết lập một màng lưới tổ chức trong các ngôi chùa từ Nghệ An tới Bắc Ninh dấy động một phong trào nhân dân chống quân đội Pháp và chống văn hoá Pháp; ở miền Nam, nhiều tổ chức kháng Pháp như các tổ chức Nghĩa-Hoà, Thiên Địa Hội, Nhân Ḥa Đường,… kết hợp ḷng yêu nước với mẫu số chung tín ngưỡng Phật giáo qua các cơ sở quần chúng của Phật giáo Ḥa Hảo và Cao Đài để liên tục chống giặc Pháp xâm lăng [5].

Đau đớn thay, trong lúc các lực lượng của nền Tam giáo tiếp tục hy sinh đấu tranh cho nền Độc Lập nước nhà th́ khối Công giáo vẫn cứ làm tay sai cho Thực dân Pháp. Bài “Hội hè của đồng bào Thiên Chúa giáo” (xem tác phẩm “Hội Hè Đ́nh Đám” của Toan Ánh và lời nhận xét của tạp chí Ánh Sáng Dân Tộc số 2 tháng 11 năm 1989) được trích đăng vào phần Phụ Lục cuốn sách này chứng minh một cách hùng hồn việc người Công giáo Việt Nam vẫn cứ ôm chặt chân người Pháp, vẫn coi nước Pháp là Mẫu quốc và vẫn vinh danh cố linh mục Trần Lục (Phát Diệm), kẻ đă làm tay sai đắc lực cho quân đội Pháp trong cuộc xâm lăng Việt Nam, đặc biệt là đă cùng với 5000 giáo dân giúp Pháp triệt phá chiến khu Ba Đ́nh của anh hùng Đinh Công Tráng.

Trong khung cảnh đất nước lúc bấy giờ, và thể hiện rơ ràng trong đời sống ở thôn quê cũng như ở thị thành, ở trong chính quyền cũng như ở ngoài quần chúng, ba luồng ư thức đối nghịch nhau như nước với lửa, như đêm với ngày, chi phối toàn bộ sinh hoạt quốc gia Việt Nam là ư thức dân tộc nhân bản của nền Tam giáo, ư thức độc thần của Kitô giáo, và ư thức duy vật của chủ nghĩa Mác-Lê. Thời đô hộ, những mâu thuẫn ư thức dưới h́nh thái văn hoá đó chỉ xảy ra ngấm ngầm giữa ba thành phần dân chúng nhưng chưa đến nỗi khốc liệt v́ lực lượng Công giáo Việt Nam vẫn c̣n nắm được ưu thế tuyệt đối nhờ có bộ máy quyền lực của thực dân che chở bảo vệ.

Nhưng cuộc tranh chấp của ba luồng ư thức bổng bộc phát mănh liệt và trở thành một cuộc sống mái tay đôi sau Đệ Nhị Thế Chiến khi thế lực thực dân đế quốc bắt đầu suy yếu và khi nền móng của nền Tam Giáo bắt đầu lung lay.

Thật vậy, trong cuộc chiến tranh Đông Dương thứ nhất (1945-1954), Cộng Sản kiểm soát và điều động kháng chiến trong phong trào Việt Minh, hô hào toàn dân chống xâm lăng giành độc lập cho nước nhà và trở thành một lực lượng quần chúng lớn. C̣n thực dân Pháp th́ mượn chiêu bài chống Cộng để che dấu âm mưu tái chiếm Việt Nam bằng cách dựa vào một chút chính danh của hư vị triều đ́nh nhà Nguyễn và một chút chính nghĩa từ hậu thuẫn của hầu hết giáo dân Việt Nam để cũng trở thành một lực lượng (chính quyền) lớn. Riêng Phật giáo và những đại bộ phận khác của dân tộc, thế không thể dựa được vào ngoại bang, lực không kết tụ được thành sức mạnh, đành nằm trong cảnh trên đe dưới búa và chuyển địa bàn ư thức và ảnh hưởng vào nông thôn với ḷng hoài vọng về một ngày thành công của kháng chiến Việt Nam.

Cho đến năm 1954, khi cả Việt Minh và Pháp đều kiệt quệ trên cả hai mặt quân sự lẫn chính trị sau trận đánh tại ḷng chảo Điện Biên Phủ và sau gần mười năm quần thảo, th́ Pháp muốn cầu hoà rút khỏi Đông Dương để giải quyết nội t́nh băng hoại của nền Đệ Tứ Cộng Ḥa, đồng thời củng cố vùng ảnh hưởng tại Bắc Phi; c̣n Việt Minh th́ trước áp lực của Nga Sô và Trung Cộng, và v́ nhu cầu ổn định để bồi dưỡng thực lực, bèn thỏa hiệp với nhau qua Hiệp Ước Genève. Đất nước lại hai phần chia cách, người dân lại hai miền ly biệt v́ hiệp ước này trao miền Bắc cho Cộng Sản quản lư, c̣n miền Nam th́ tạm thời vẫn thuộc quyền người quốc gia chống Cộng trong lúc chờ đợi hai miền tổng tuyển cử thống nhất đất nước theo qui định của Hiệp Ước.

Trong lúc đó, Hoa Kỳ đă có chủ định riêng, họ không kư vào bản Hiệp định v́ đă thủ sẵn lá bài Ngô Đ́nh Diệm do Hồng y Spellman và Công giáo quốc tế bảo đảm, lá bài vốn đă được khai sinh và nuôi dưỡng tại Mỹ từ cuối năm 1950. Mỹ dùng lá bài Ngô Đ́nh Diệm để nhảy vào miền Nam trong ư đồ thiết lập một tiền đồn tại Đông Nam Á hầu chặn đứng sự bành trướng của Cộng Sản quốc tế. V́ vậy, cuộc chiến tranh Quốc Cộng lại tái diễn trên đất nước Việt Nam, chỉ thay đào đổi kép cho một vở tuồng cũ mà thôi! (Xem thêm The Life and Times of Francis Cardinal Spellman, trang 238 đến 245)

Phần đầu của cuộc chiến tranh Đông Dương thứ hai này là một cuộc chiến đă được cả hai phe lâm chiến tô vẽ cho một bản chất ư thức hệ mà một bên là ư thức Mác-Lê duy vật, và một bên là ư thức Kitô giáo độc thần. Nghĩa là một bên do đảng Cộng Sản Việt Nam với những lănh tụ Mác xít như Hồ Chí Minh, Vơ Nguyên Giáp lănh đạo tại miền Bắc, một bên do một gia đ́nh Công giáo của ông Ngô Đ́nh Diệm, Tổng Giám Mục Ngô Đ́nh Thục và đảng Cần Lao gồm hầu hết là người có đạo Công giáo cai trị miền Nam.

Phật giáo Việt Nam, lực lượng đại đa số trong cộng đồng quốc gia, từ sau khi đất nước bị chia đôi, đă nhận thức rơ vai tṛ áp đảo của Cộng Sản trong mặt trận Việt Minh, bèn bỏ hẳn chủ trương thân Việt Minh trước kia như hầu hết các đảng phái quốc gia khác. Nhưng bất hạnh cho Phật giáo, muốn tránh vỏ dưa lại đạp phải vỏ dừa, v́ miền Nam lại bị cai trị bởi gia đ́nh ông Diệm và đảng Cần Lao Công giáo, vốn chủ trương tiêu diệt các đảng phái quốc gia, ḱ thị, khủng bố và đàn áp các tôn giáo trong đó có Phật giáo. Bị kẹt giữa hai kẻ đối nghịch, Phật giáo phải chịu đựng thống khổ nhục nhă suốt gần 9 năm trời dưới chế độ độc tài Công giáo trị Ngô Đ́nh Diệm. Cho đến 1963, t́nh trạng không thể chịu đựng được nữa, lại nhân v́ ông Ngô Đ́nh Diệm ra lệnh hạ cờ Phật giáo nhân dịp lễ Phật Đản, Phật tử, dưới sự lănh đạo của Giáo hội Phật giáo, buộc phải vùng lên đấu tranh đ̣i hỏi b́nh đẳng tôn giáo, đ̣i hỏi tự do hành đạo như bên Công giáo, mở đầu cho một cuộc vận động cách mạng dân tộc. Cuộc đấu tranh của Phật giáo là cuộc đấu tranh bất bạo động và hợp ḷng dân nên đă mang một tầm vóc rộng lớn v́ được sự ủng hộ của đa số nhân dân của tất cả các tỉnh, thị miền Nam.

Cuộc tranh chấp công khai của người Việt Nam trước đây chỉ có hai phe lâm trận, nay lại có thêm phe thứ ba là Phật giáo. Cuộc tranh chấp ư thức hệ này từ nay được lănh đạo bởi ba lư thuyết chánh trị rơ rệt: lư thuyết cực tả của Cộng Sản quốc tế, lư thuyết cực hữu của Kitô giáo quốc tế và lư thuyết trung dung của Phật giáo dân tộc. Thật ra, nếu anh em ông Diệm biết đặt quyền lợi tổ quốc và dân tộc trên quyền lợi của Công giáo La Mă, nếu ông Diệm tự coi ḿnh mang trách nhiệm của một vị nguyên thủ quốc gia hơn là trách nhiệm của một tông đồ và biết tạo sự đoàn kết giữa người quốc gia, th́ trận chiến tranh Việt Nam đă chỉ là trận chiến tranh giữa phe dân chủ tự do với phe Cộng Sản độc tài, và hai tôn giáo lớn tại Việt Nam đă có thể hài hoà sống chung để cùng rao giảng từ bi, bác ái. Bất hạnh cho miền Nam, gia đ́nh ông Diệm, và do đó chế độ của ông ta, lại là kẻ thừa kế đích thực của ba tệ hại lớn nhất: tệ hại phong kiến quan lại của thời Nguyễn Mạt, tệ hại hủ nho của một nền Tống Nho đă đến lúc suy tàn và sâu đậm nhất, tệ hại độc tôn giáo điều của một giáo hội Công giáo Việt Nam đang lên đến cao điểm nhờ sự khai sinh và nuôi dưỡng của thực dân Pháp từ hơn 100 năm và nhờ sự thừa nhận của Thiên Chúa giáo quốc tế (Vatican và Mỹ) như sức mạnh chống Cộng độc nhất ở Việt Nam. Cho nên ông Diệm và gia đ́nh của ông cũng đi con đường “Công giáo hóa” miền Nam như các cố đạo trước. V́ thế, hậu quả khốc liệt đă đến với gia đ́nh ông và với miền Nam sau này.

Như đă nói, định mệnh trớ trêu đưa đẩy ḍng lịch sử của dân tộc đến một giai đoạn tranh chấp giữa ba xu hướng từ tầng chính trị bước lên kích thước văn hóa trong suốt những năm giao động của hai thập niên 50 và 60. Ba xu hướng này va chạm vào nhau và nổ bùng thành những cơn lốc chính trị và được lănh đạo bởi ba nhân vật cùng một quê quán Quảng B́nh. Đó là ông Vơ Nguyên Giáp quê làng An Xá, ông Ngô Đ́nh Diệm quê làng Đại Phong và Thượng Toạ Thích Trí Quang quê làng Diêm Điền.

Làng An Xá cách làng Đại Phong hai con suối nhỏ và một cánh đồng lầy lội, c̣n làng Diêm Điền th́ nằm chếch hẳn một bên và cách đều hai làng này khoảng 20 cây số. Ba nhân vật trên đây, từ đời nội tổ trở lên chỉ là những ḍng họ khố rách áo ôm thuộc hàng bần dân nghèo dốt. Đến đời thân phụ ông Diệm là ông Ngô Đ́nh Khả, nhờ theo các cha cố và chính quyền bảo hộ Pháp mới được làm quan. Ông Vơ Nghiễm, thân phụ ông Vơ Nguyên Giáp chỉ vươn lên tới được chức cửu phẩm là chức thấp nhất trong hệ thống quan lại Nam triều, và phụ thân của Thượng Tọa Thích Trí Quang th́ măi vào những năm đầu của thế kỷ 20 mới bắt đầu ăn nên làm ra.

Trong khung cảnh của một vùng đất khốn khổ và dân t́nh nghèo đói như tỉnh Quảng B́nh, 40 năm về trước, có ai ngờ ba đứa bé mở mắt chào đời vào buổi b́nh minh của thế kỷ thứ 20 lại có thể trở nên những nhân vật lẫy lừng làm chao nghiêng lịch sử và làm sụt sùi dân tộc. Có ai ngờ một cậu ấm tử sinh trưởng trong một gia đ́nh quan lại của một chế độ phong kiến mục nát lại trở nên Tổng thống của một quốc gia, dù nội dung thực sự là ǵ, th́ h́nh thức cũng là của một chế độ Cộng Ḥa Dân Chủ kiểu Tây phương; có ai ngờ một chú sa di đầu tṛn áo vuông lại trở nên linh hồn của một phong trào tôn giáo quần chúng lớn “làm rung chuyển nước Mỹ” với tham vọng thực hiện cuộc Tổng Hợp Đề văn hóa để ḥa giải dân tộc; và có ai ngờ một cậu học tṛ áo vải chân đất ê a mấy chữ a, b, c trong làng quê của một nước thuộc địa lại trở nên một nhân vật quân sự lẫy lừng, cầm chân và đánh bại được hai bộ máy chiến tranh hiện đại của Pháp rồi Mỹ.

Ba nhân vật tiếng tăm của đất Quảng B́nh nghèo khó nhưng lạ lùng đó, mỗi người có tham vọng riêng, có quyền thế riêng, có hậu thuẫn riêng và dĩ nhiên có chỗ đứng riêng trong chiều dài lịch sử nước ta cũng như trong chiều sâu của ḷng dân tộc ta. Họ có lư do để chống đối nhau và tiêu diệt nhau v́ chủ nghĩa, v́ lư tưởng, v́ đặc quyền, đặc lợi phe đảng hay v́ bất cứ một cái “v́” nào khác, c̣n kẻ viết th́ cũng xuất thân từ vùng đất cày lên sỏi đá xơ xác đó, nên h́nh như cũng đă được định mệnh an bài để không thể trở thành một kẻ đứng bên ḍng lịch sử, bàng quan và lạc lơng, mà lại bị cuốn hút vào cơn cuồng phong của thời đại, nên đều liên hệ với cả ba nhân vật này mà đặc biệt là liên hệ khắng khít với ông Ngô Đ́nh Diệm từ những ngày đầu tiên khi c̣n là một trong những cán bộ tiên phong và ṇng cốt của cái tổ chức mới manh nha của ông ta. Nhưng rồi sau suốt 22 năm trời kể từ 1942, chia sẻ với nhau những giây phút vinh quang và khốn khổ của bao cuộc thăng trầm vinh nhục, trở thành chiến hữu trung kiên và cốt cán của tổ chức (và sau này của chế độ), cuối cùng kẻ viết lại trở thành một nhân vật trọng yếu trong công cuộc lật đổ và chấm dứt chế độ của ông Diệm vào năm 1963 để cho lư tưởng ban đầu của ḿnh vẫn là lư tưởng keo sơn với dân tộc, để cho chuyển ḿnh của ḿnh gắn bó với chuyển ḿnh của thời đại.

Ôn lại dĩ văng, và bây giờ ở vào cái tư thế có thể nh́n lại một cách sáng suốt và tự do hơn chuỗi biến cố của lịch sử đất nước kể từ khi làn gió dữ Tây phương cuộn thổi vào quê hương trải dài thành gần trăm năm đô hộ Pháp và hơn 30 năm chiến tranh Quốc Cộng, lại được dịp lần giở kinh xưa sách cũ và đàm luận cùng những người bạn hiền thầy giỏi cùng thế hệ, kẻ viết lại chủ quan thấy thấm thía hơn về cái thuyết “Vô Thường” của đạo Phật và cái thuyết “Lư Số” của đạo Nho, để từ đó chấp nhận như là nhân sinh quan khoáng đạt và giải thoát của chính ḿnh.

Trong cuốn Nho Giáo, học giả Trần Trọng Kim đă sơ giải cái Tổng Hợp Đề cần thiết cho sự Đồng Nguyên huyền diệu của Tam Giáo ở nước ta khi ông viết:

Có một điều ta nên chú ư là cái tư tưởng của Nho Giáo đời Tống có lắm chỗ phảng phất tương đồng với Lăo Giáo và Phật Giáo. “Số” là cái uyên nguyên của Nho Giáo do Kinh Dịch mà ra, mà Kinh Dịch là sách bàn về Lư Học, chung cả bên Lăo lẫn bên Nho. Dịch Học cho cái đầu của vũ trụ do “Động, Tĩnh” mà biến thành Âm Dương rồi sinh ra vạn vật, vạn vật chung quy lại trở thành Thái Cực. Đó là cái lư “Đồng quy nhi thù đồ, Nhất trí nhi bách lự” của Khổng Tử đă nói trong Hệ từ. Lư Thái Cực ấy bên Lăo Giáo gọi là ĐẠO, bên Phật Giáo gọi là BHUTA TATHATA danh hiệu tuy khác nhưng cùng đồng một thể. Bởi cái lư đồng cho nên các học thuyết ấy đều theo một chủ nghĩa “Thiên địa vạn vật nhất thể”. Song mỗi học thuyết đi ra một đường là v́ cách lập giáo và sự hành đạo khác nhau.

Ư niệm ấy lại được triển khai và lư giải rơ ràng hơn và hiện đại hơn qua Lê Văn Siêu trong cuốn “Việt Nam Văn Minh Sử Cương”, qua Nguyễn Đăng Thục trong cuốn “Tư Tưởng Việt Nam” và qua Phạm Văn Diêu với những tài liệu giảng huấn tại đại học Văn Khoa Sài G̣n v.v…

Có lẽ chính cái quan niệm Vô thường và Lư số, tuy bàng bạc và đại chúng hơn trong dân dă, nhất là cái dân dă tuyệt đại đa số và tuyệt đại nghèo khổ của nước ta đă tạo nên sức mạnh của dân tộc. Cái sức mạnh đă giúp dân ta vẫn kiên cường trước sự tàn bạo của thiên nhiên và của quân thù, cái sức mạnh đă giúp dân ta khoan dung và nhân nghĩa trước những bạc bẽo và hận thù của đời sống.

Và có lẽ chính nhờ được nuôi dưỡng và lớn lên trong ḍng suối văn hóa Đông phương vốn mang tính chất Tổng hợp và Hướng nội, kẻ viết mới cảm nhận và thông hiểu được qua lăng kính của hai thuyết Vô thường của nhà Phật và Lư số của nhà Nho, những thảm cảnh nghiệt ngă và bèo bọt về cảnh ngộ của cụ Vơ Hiển Nguyễn Hữu Bài, và đặc biệt của gia đ́nh ông Ngô Đ́nh Diệm mà kẻ viết sẽ ghi lại trong tập sách này, những nhân vật và gia đ́nh đại vọng tộc, bỗng một phút định mệnh, tán gia bại sản đời đời chuốc lấy oán cừu.

Văn hóa Tây phương, mà bây giờ con em ta đang hấp thụ, dù là Tây phương tư bản hay Tây phương Cộng Sản, vốn có đặc tính phân tích và hướng ngoại, th́ khó mà cảm nhận và giải thích được những hiện tượng nhân sinh này, lại càng khó mà hiểu biết và chấp nhận được quan niệm Vô thường và Lư số của Đông phương, dù gần đây, trước bế tắc nhân văn của con người và bên bờ vực thẳm của một cuộc chiến tranh hạch tâm khốc liệt, đă có nhiều nỗ lực t́m về phương Đông để t́m câu trả lời cho cuộc khủng hoảng nhân văn toàn cầu.

Những nỗ lực đó không những được thể hiện nơi các nghiên cứu của các nhà xă hội học và triết gia Tây phương như Paul Mus (Thousand Armed Kannon, A Mystery Or A Problem, 1964), John Blofeld (Bodhi Satva Of Compassion, 1978), Frederic J. Strend (Understand Religious Man, 1969)… mà c̣n nổi bật rơ ràng hơn nơi các nhà khoa học tự nhiên, vốn là thành phần rường cột và được ưu đăi của xă hội Tây phương thuần lư và thuần kỹ thuật. Đứa con trai út của kẻ viết, trong thời gian học về vật lư không gian có tặng cho kẻ viết cuốn “The Tao of Physics” của giáo sư khoa học gia Fritjof Capra mà kẻ viết trích dẫn một vài đoạn sau đây để chứng minh rằng xu hướng t́m về nguồn suối triết học nhân bản của Đông phương càng lúc càng mạnh mẽ nơi xă hội độc thần, duy lư và duy vật này.

Julius Robert Oppenheimer (cha đẻ bom nguyên tử Hoa Kỳ) tác giả cuốn “Science and the Common Understanding” cho rằng:

Những khái niệm tổng quát về sự hiểu biết của con người, được biểu hiện bằng những khám phá trong ngành vật lư nguyên tử, không phải là những khái niệm có bản chất xa lạ, mới mẻ hay chưa bao giờ được nhắc đến. Ngay cả trong nền văn hóa của chúng ta, những khái niệm này đă từng có một lịch sử vững vàng. Trong hệ thống tư tưởng của Phật giáo và Ấn Độ giáo, những khái niệm này c̣n giữ một địa vị rường cột và quan trọng hơn nữa, đem đến cho chúng ta một tấm gương sáng để noi theo, một niềm khích lệ tinh thần và sự kiện toàn của nền triết lư Đông phương sáng suốt [6].

Werner Heisenberg (trong tác phẩm “Physic and Phylosophy” trang 202) cho rằng:

Một đóng góp lớn lao của Nhật Bản từ cuối Thế chiến thứ 2 cho lư thuyết vật lư là đă cho thấy một sự tương quan nào đó giữa những tư tưởng triết lư của truyền thống văn hóa Viễn Đông và chất triết lư trong lư thuyết vật lư tư tưởng.[7]

Niels Bohr, bác học gia Đan Mạch, giải thưởng Nobel, (tác giả cuốn “Atomic Physics and Human Knowledge”) cho rằng:

Các tư tưởng gia đă đạt đến mức thành công như Phật Thích Ca hay Lăo Tử đă từng phải đối diện với những khó khăn đó khi ta cố ḥa hợp hai thế đứng (vừa là khán giả vừa là diễn viên) của ta trong vở kịch vĩ đại của kiếp nhân sinh. Có thế ta mới có thể so sánh được với bài học rút tỉa từ lư thuyết của ngành vật lư nguyên tử.[8]

            Tất cả quan niệm đó đă được Fritjof Capra, tác giả cuốn sách, tổng kết lại trong một nhận định chắc nịch rằng:

Với triết học phương Tây, môn luận lư và sự suy luận đă luôn luôn là những phương tiện chính để phát biểu tư tưởng triết lư, kể cả theo Bertrand Russel, những tư tưởng thuộc lănh vực tôn giáo. Ngược lại, đối với Đông phương huyền bí, ai cũng vốn hiểu được rằng sự thật được thể hiện một cách sâu xa hơn khả năng diễn đạt của ngôn ngữ b́nh thường: các nhà hiền triết Đông phương đă không e ngại ǵ mà không vượt quá sự hợp lư và những quan niệm thông thường. Tôi nghĩ rằng đây là lư do chính khiến cho những mẫu mực của Đông phương đă gầy dựng được một nền tảng triết lư kết hợp với nền vật lư ngày nay hơn là những mẫu mực của triết lư Tây phương.[9]

Tuy nhiên, những nghiên cứu và hiểu biết của kẻ viết, dù đến từ kinh xưa sách cũ, hay tích luỹ từ bạn hiền thầy giỏi vẫn không phải là và chưa đủ là những kiến thức xây dựng thành quan niệm nhân sinh của kẻ viết, nếu những kiến thức lư thuyết đó đă không được đối chiếu với những kinh nghiệm thực tế của chính cuộc sống kể từ ngày người viết c̣n là một đứa trẻ nghèo khó trong một gia đ́nh thanh bần của đất Quảng B́nh xơ xác, kinh qua bao lên xuống của cuộc đời và trôi nổi trong thăng trầm của nhân thế cho đến nay, ở vào cái tuổi thất tuần, sống xa vời cố quận mà hồn th́ vương vấn quê xưa.

Chính những kinh nghiệm thực tế xương máu đó, những mồ hôi và nước mắt, những vinh quang và tủi nhục, những thù hận và độ lượng, những phản trắc và nhân ái, những tà niệm và tỉnh thức… đă là những xác tín làm cho kẻ viết tin tưởng hơn vào tính cách vô thường của cuộc đời và những vận động cơ cấu của lư số cho kiếp nhân sinh. Chính trong cái nh́n Vô thường đó của Đạo Phật và cái nh́n Lư số đó của Đạo Nho mà người viết sẽ trang trải lại trên những trang giấy sau một phần cuộc đời của ḿnh có liên hệ với cuộc đời của ông Ngô Đ́nh Diệm và của đất nước.

Những thiếu sót và sai lầm nếu có là do kiến thức chưa thực thâm sâu hoặc do kư ức bắt đầu phai nhạt chứ nhất định không phát xuất từ thiên kiến giáo điều hoặc cố tâm muốn bóp méo sự thật. Những cảm xúc và nhận định mà người đọc thấy thấp thoáng trên những trang sách là những cảm xúc và nhận định chủ quan và riêng tư, nhưng có lẽ nhờ vậy mà sẽ chân thành và trung thực.

Những thiếu sót và sai lầm, xin được các bậc cao minh chỉ giáo và bổ khuyết. C̣n những cảm xúc và nhận định, nếu có đóng góp được ǵ cho một cái nh́n lịch sử đúng đắn và chính xác hơn về một giai đoạn truân chuyên của dân tộc th́ xin được trao gởi cho thế hệ Việt Nam tương lai, thế hệ mà trên cả hai miền đất nước cũng như bây giờ trong và ngoài nước, những phản trắc và lừa lọc, những gian dối và ngụy tạo đă làm lung lay niềm tin của họ vào con người, vào lịch sử và cả vào dân tộc.

 

-o0o-

 

Tôi vốn quê làng Thổ Ngọa, phủ Quảng Trạch, tỉnh Quảng B́nh, vùng có địa danh là Ba Đồn, và đă từng được ghi vào sử sách dân tộc v́ nơi đó đă xảy ra nhiều trận chiến giữa quân Pháp xâm lăng và quân Cần Vương kháng chiến. Quê tôi nằm trên tả ngạn sông Linh Giang, tục gọi là sông Gianh, cách phía Nam đèo Ngang 25 cây số, nơi mà ngay từ cuối đời Hùng Vương cho đến thời nước nhà bị Pháp đô hộ đă liên tiếp là vùng chiến địa. Quê tôi vốn là vùng nước mặn đồng chua, hàng năm thường bị tai trời ách nước, lại bị chiến tranh liên miên xảy ra nên quê tôi nghèo lắm. Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, nhân một chuyến Nam du, khi ngang qua đây, thấy dân chúng địa phương quá nghèo khổ đă phải tỏ lời thở than:

                        Xe hơi đă tới Đèo Ngang

                        Ấy qua Hà Tĩnh đường sang Quảng B́nh

                        Danh sơn gặp khách hữu t́nh

                        Đèo Ngang ơi hỡi là ḿnh với ta.

                        Dừng xe lên đỉnh ta trông

                        Mặt ngoài biển nước bên trong núi rừng.

                       

                        Nhỏ to mả trắng bên đường,

                        Xa xa mé bể cồn vàng thấp cao.

                        Dọc đường dân chúng biết bao,

                        Ruộng t́nh hữu ái như rào trận mưa.

                        Rồng Tiên cũng họ từ xưa,

                        Ba mươi năm mới bây giờ gặp nhau.

                        Nhân xem áo vải quần nâu,

                        Gái trai già trẻ một màu không hai,

                        Văn minh rày đă bán khai,

                        Mà đây c̣n hăy như đời Hùng Vương…

 

            Quê tôi nghèo đến độ dân chúng bốn mùa chỉ bận quần nâu áo vải, và chỉ trừ những ngày Tết, Lễ, được ăn cơm, c̣n th́ phải trộn khoai mà ăn với mắm cà rau muống suốt năm. Nhưng h́nh như Tạo hóa có luật thừa trừ: đă bắt dân chúng đói nghèo, cực khổ th́ bù lại họ có cái tiết tháo, thông minh. Quê tôi tuy nghèo nhưng lại là một đại xă nổi tiếng về văn học, buổi tiền triều khoa giáp rất đông. Làng Thổ Ngọa của tôi là một trong tám làng của tỉnh Quảng B́nh có nhiều người đỗ đạt, nhiều người làm quan, và cũng nổi tiếng v́ có nhiều vị khoa bảng làm quan nửa chừng rồi cởi áo từ quan về làng sống cảnh an bần lạc đạo.

Có lẽ v́ làng tôi có nhiều nhà Nho, nhiều bậc sĩ phu vốn trọng nền Tam Giáo cho nên dân làng tôi không một ai cải đạo, mặc dầu phủ tôi v́ gần với căn cứ quân sự Pháp nên có nhiều làng theo đạo Công giáo hơn. Và có lẽ v́ thấm nhuần sâu đậm tư tưởng Khổng Mạnh, mang khí tiết, danh dự kẻ sĩ cho nên đă một thời tuy ở rất gần nhiều đồn lính Tây và bị bao vây bởi những làng theo đạo Công giáo mà vào những năm 1885, 1886 phần đông dân làng tôi đều theo nghĩa quân Cần Vương dưới quyền lănh đạo của vị anh hùng Lê Trực. Ông đă biến làng tôi thành một tiền đồn trực tiếp đối đầu với quân Pháp, che chở cho chiến khu của Vua Hàm Nghi trong rừng già Thanh Lạng, vùng giáp giới hai tỉnh Hà Tĩnh và Quảng B́nh.

Nội tổ của chúng tôi cũng đă từng theo đ̣i nghiên bút, theo đường khoa danh như hồi kư của cháu tôi là Đại úy Đỗ Thọ, sĩ quan tùy viên của Tổng Thống Diệm [10] đă tŕnh bày; nhưng v́ thời thế loạn ly, ông bỏ đèn sách mà theo việc kiếm cung và trở thành viên tướng tiên phong cho vị lănh tụ Cần Vương là cụ Đề Lê Trực. Nội tổ chúng tôi bị tấn công bởi lính Pháp, lính Đạo, có giáo sĩ Tortuyaux từ Đồng Hới ra làm kẻ chỉ đường nên bị thất trận, giặc Pháp giết không toàn xác và ném thây xuống sông mất tích. Thủ hạ của ông chạy thoát được về báo cho gia đ́nh. Sau này con cháu họ Đỗ chúng tôi phải lập đền thờ cho đấng tiền nhân tiết liệt. Cũng sau này, con cháu họ Đỗ chúng tôi phải lập đàn cầu cơ, hỏi người hồn phách siêu lạc, vất vưỡng phương nào để con cháu xây bia lăng chôn “ḿnh dâu, đầu gáo” và lập đền thờ cho đấng tiền-nhân tiết-liệt. Khi cơ lên, Nội tổ chúng tôi cho biết ông đă bị mắc mưu bội phản nên bị quân Tây sát hại. Ông đă viết trên mâm gạo trắng một bài thơ dài, tả tâm sự và cảnh ngộ của ḿnh, lời thơ vô cùng ảo năo thương tâm. Con cháu chúng tôi học thuộc ḷng để mỗi khi cúng kỵ cùng tụng lên theo tiếng mơ hồi chuông như tụng kinh trước bàn thờ Phật. Bài thơ này chính là chúc thư cách mạng đầu tiên cho tôi để sau này lớn lên biết yêu nước, yêu dân, và biết theo lẽ phải giữ ǵn khí tiết:

                        “Phật tự Liên Hoa nhân mạc kiến,

                        Tăng như Lô thảo thế nan tầm.

                        Gẫm cuộc đời thêm nhớ bạn tri âm,

                        Nh́n thế sự khôn cầm cơn lệ ngọc.

                        Ví thuở trước bụi hồng không lăn lóc,

                        Th́ có đâu những lúc hiện thời.

                        Cũng vừa may nhờ lượng Bửu Đài,

                        Nên mới đặng văng lai nơi cố quận.

                        Nay gặp buổi phong ḥa vũ thuận,

                        Xét phàm trần trắc ẩn tiền nhân.

                        Vậy  mua vui dạo ít cung đờn,

                        Mượn bút ngọc phô trương sự tích:

                        Nhớ thuở trước tiền triều niên lịch,

                        Buổi thiếu thời chỉ thích cao ngôi,

                        Chốn văn chương cửa Thánh trau giồi,

                        Đường vơ bị theo đ̣i cung kiếm.

                        Chí những tưởng đăng khoa bút điểm,

                        Trổ tài hoa đoạt chiếm công danh,

                        Ai ngờ đâu duyên phận mỏng manh,

                        Trong phút chốc tan tành sự nghiệp.

                        Ấy cũng bởi quá tin t́nh nghĩa hiệp,

                        Hóa xui nên thân kiếp biệt ly trần.

                        Hận ḿnh mang gánh nặng quân ân,

                        Mà khổ nỗi nợ nần chưa báo đáp,

                        Th́ đă vội gió vùi mưa dập,

                        Mộng ngàn thu chôn lấp tấm hồn trung.

                        Kể từ đây bốn bể vẫy vùng,

                        Cho thỏa chí anh hùng khi tử tiết.

                        Đức Thượng Đế đoái thương người tuấn kiệt,

                        Sắc phong cho Trung Liệt Hiển Nhơn Thần,

                        Dưới Hoành Nam đi lại kiểm tuần,

                        Theo Liễu Chúa tùy thân hậu giá.

                        Nay gặp hội thừa nhàn thư thả

                        Mượn bút đào lược tả thành chương,

                        Vẫn rằng đây “Tổ thúc Đỗ Đường”,

                        Đem tâm sự phô trương tỏ rơ.

                        Ai là kẻ đem ḷng ngưỡng mộ,

                        Xét đơn tâm báo bổ độ tŕ,

                        Bằng như ai ăn xổi ở th́,

                        Cũng thây kệ thiên tri phó mặc.

                        Ḱa lồng lộng trăng soi vằng vặc,

                        Cảnh tuần hoàn có chắc ǵ đâu,

                        Xanh kia vẫn đội trên đầu

                        Khuyên đừng điên đảo mang câu tội t́nh.

                        Kiếp trần ấy, kiếp phù sinh!”

            Theo tinh thần bài thơ th́ ông Nội tôi v́ hy sinh cho chính nghĩa dân tộc nên được Thượng Đế phong sắc làm Thần và được theo Bà Chúa Liễu Hạnh đi kiểm tuần ở vùng phía Nam núi Hoành Sơn (Đèo Ngang). Theo giáo sư Nguyễn Đăng Thục th́ bà Chúa Liễu Hạnh là vị tiên chúa đại diện cho nguyên lư “Mẫu” cũng như Đức Thánh Trần (Trần Hưng Đạo) đại diện cho nguyên lư “Phụ”. Bà Chúa Liễu Hạnh tượng trưng cho sự trong trắng, sự khôn ngoan, hiền thảo của người đàn bà nên được dân chúng Việt Nam tôn thờ như Quốc Mẫu, có đền thờ ở Ṣng Sơn (Bắc Việt) và được vua chúa các triều đại phong sắc. Trong dân gian có câu tháng tám giỗ Cha, tháng ba giỗ Mẹ, Cha là Đức Thánh Trần, Mẹ là Tiên Chúa Liễu Hạnh.[11]

V́ Nội tổ chúng tôi là một vị thần linh nên dân làng bảo trợ cho con cháu lập đền thờ ở quê làng để hàng năm Xuân Thu nhị kỳ cùng đến làm lễ cúng kỵ. Khi đất nước bị chia đôi vào năm 1954, họ chúng tôi di cư vào Nha Trang, lại lập đền thờ trong khuôn viên ngôi nhà anh ruột tôi là ông Đỗ Toàn mà nhiều bạn bè của gia đ́nh chúng tôi ở Nha Trang đă từng đến chiêm ngưỡng.

Nói về quân Cần Vương ở quê tôi, sử gia Trần Trọng Kim đă viết:

Vua Hàm Nghi bấy giờ phải ẩn nấp ở vùng huyện Tuyên Hóa có các con của Tôn Thất Thuyết là Tôn Thất Đạm và Tôn Thất Thiệp cùng với đề đốc Lê Trực và cử nhân Nguyễn Phạm Tuân hết sức giữ ǵn và đem quân đi đánh phá ở mạn Quảng B́nh và Hà Tĩnh.

Tháng Giêng năm Bính Tuất (1886), trung tá Mignot đem quân ở Bắc Kỳ vào Nghệ An rồi chia làm hai đạo. Một đạo do thiếu tá Pelletier theo sông Ngàn Sâu vào mạn Tuyên Hóa, một đạo th́ trung tá Mignot tự đem quân đi đường quan lộ vào giữ thành Hà Tĩnh rồi vào đóng ở sông Gianh.

Ở Huế lại sai trung tá Metzniger đem một toán quân ra tiếp ứng các đạo. Quân Pháp đóng ở chợ Đồn (Ba Đồn) và ở Minh Cầm rồi trung tá Metzniger đem ông Cố Tortuyaux đi làm hướng đạo để lên lấy đồn Vé. Thế quân Pháp tiến lên mạnh lắm, quân Cần Vương chống không nổi, phải tan ra.

Quân Pháp triệu các đạo quân về chỉ đóng giữ ở Quảng Khê (cửa sông Gianh), ở Ṛn, ở Ba Đồn mà thôi. Quân Cần Vương thấy quân Pháp rút đi lại trở về đóng ở đồn cũ.

Người Pháp cũng biết là thế lực của đảng vua Hàm Nghi chẳng được là bao nhiêu, cốt t́m đường mà chiếm dần địa thế, bởi vậy cho nên không dùng đến đại binh.

Trước, đại úy Mouteaux ở Quảng B́nh đă cùng với ông cố Tây Tortuyaux đem quân đi đánh lấy đồn của Lê Trực ở Thanh Thủy, nhưng quân của ông ấy vẫn không tan, cứ đánh phá măi. Đại úy Moutaux biết ông Lê Trực là người có nghĩa khí cho nên đại úy vẫn có ư trọng lắm, đưa thư dụ ông về đầu thú. Ông Lê Trực trả lời: “Tôi v́ vua v́ nước chết sống cùng một ḷng, không tham sống mà quên việc nghĩa.”

Từ khi quân Pháp đóng đồn Minh Cần, ông Lê Trực ra mạn Hà Tĩnh, ông Nguyễn Phạm Tuân về đóng phía Nam sông Gianh, ông bị trúng đạn, sống được mấy ngày th́ chết, quân của ông bị vây rồi bị bắt cả.[12]

Theo phụ thân tôi và các bậc tôn trưởng trong làng kể lại th́ sau khi Nội tổ bị sát hại, quân Cần Vương tan ră, lính đạo của các cố Tây và dân các làng Công giáo kế cận như Đơn Sa, Diên Ḥa, Diên Phúc, Hướng Phương,… đến bao vây làng tôi, giết hại có hàng trăm người, đốt phá đ́nh chùa, miếu vũ. Những ai đă từng đi qua làng tôi đều thấy dọc theo bờ sông Gianh hàng mấy trăm nấm mồ vô chủ, ngổn ngang như g̣ đống, đó là những ngôi mả của dân làng chết v́ tham dự quân đội Cần Vương hay v́ bị dân các làng theo đạo Công giáo sát hại. Vốn sinh sống nơi vùng đất quê nghèo, sau cuộc kháng Pháp, dân làng tôi vốn đă nghèo khổ lại càng nghèo khổ, gian truân hơn.

Vùng tả hữu ngạn sông Gianh là nơi quân Pháp đă đóng nhiều đồn bót khi họ đánh chiếm Quảng B́nh cho nên vùng này có trên hai mươi làng theo đạo Công giáo… Giáo phận này có cả tiểu chủng viện ở làng Hướng Phương, quê hương của linh mục Nguyễn Phương, tác giả cuốn “The Parade of American Puppet”, cuốn sách suy tôn Tổng Thống Diệm anh minh và hằn học mạt sát tướng lănh trong quân đội đă lật đổ ông ta.

Thời kỳ kháng Pháp (1946-1954), trong khi tất cả các làng khác theo tiếng gọi non sông tham gia kháng chiến th́ các làng theo đạo Công giáo ở hai bên bờ sông Gianh đều rào làng, xây cḥi canh tự nguyện thành lập những đội Partisans để phụ lực cho đội quân viễn chinh Pháp, biến vùng này thành một dăy tiền đồn cho quân Pháp an toàn đóng ở Đồng Hới, hướng về Liên khu Tư của Việt Minh. Linh mục Nguyễn Phương đă từng là dân vệ trong đội quân Partisans của làng Hướng Phương trước khi ông vào Huế tiếp tục học hành. C̣n linh mục Cao Văn Luận, nguyên viện trưởng viện Đại Học Huế dưới chế độ Ngô Đ́nh Diệm, từ Hà Nội vào ở tại vùng này một thời gian trước khi vào Huế xin thủ hiến Phan Văn Giáo dạy học ở trường trung học Khải Định. Khi quân đội Pháp rút bỏ dăy tiền đồn ở vùng tả hữu ngạn sông Gianh th́ hầu hết thanh niên những làng theo đạo Công giáo cũng sợ hăi rút theo. Phần đông những thanh niên này gia nhập vào bộ đội Việt Binh Đoàn miền Trung rồi trở thành quân đội quốc gia dưới chế độ Quốc trưởng Bảo Đại. Sau này, phần đông số binh sĩ đó được tuyển chọn vào Lữ Đoàn Liên binh Pḥng vệ phủ Tổng Thống, họ được ông Diệm đặc biệt lưu tâm ưu đăi v́ họ thuộc thành phần trung kiên nhất đối với ông Tổng thống người Quảng B́nh mộ đạo này.

Sống giữa thời ly loạn, mà cha chú, bà con phần đông bị giặc Pháp cầm tù hay sát hại, nước nhà th́ mất chủ quyền, cha tôi, một nho sĩ nghèo nàn chỉ c̣n biết kéo dài cuộc đời bất đắc chí. Tôi ra đời giữa khung cảnh đất nước đó, trong một gia cảnh thanh bần và giữa một làng quê bùn lầy nước đọng. Mẹ tôi v́ lao tâm lao lực, một nắng hai sương làm lụng cực nhọc để nuôi chồng và một đàn con đông đảo, ḿnh mang trọng bệnh lại thiếu tiền thuốc thang, nên bà đă từ giă cơi đời khi tôi vừa lên bốn tuổi, bỏ lại cha con tôi với thảm cảnh gà trống nuôi con. Tuy nhiên, qua mấy đời, gịng họ con cháu đều theo đ̣i ít nhiều kinh sử, cho nên khi tôi lên năm, cha tôi cũng cố cho tôi theo học chữ Hán trường ông Tú gần nhà. Cho đến khi lên chín th́ tôi được gởi lên trường Phủ học chữ Quốc ngữ và chữ Pháp. Thời gian theo bậc tiểu học, tôi đă không có những phút êm đềm của tuổi học tṛ thơ ấu, lại càng không có những mộng mơ hồn nhiên của tuổi đến trường, mà cứ mỗi độ hè đến là phải đi chăn trâu, ngày nghỉ là phải ra đồng mót lúa, đào khoai hay xuống sông ṃ tôm bắt cá kiếm thêm miếng ăn cho gia đ́nh. Sau khi đỗ tiểu học, tôi định bỏ ngang sự học v́ thời bấy giờ muốn vào trung học th́ phải vào Huế, phải tốn tiền ăn, tiền nhà trọ, tiền sách vở áo quần, tiền xe cộ đi về. Với gia cảnh bần hàn mà ngay cả mỗi miếng ăn đói, mỗi manh áo rách đều là kết quả nhọc nhằn của mồ hôi và nước mắt của toàn gia đ́nh, cha tôi biết lấy ǵ để chu cấp cho tôi theo đuổi việc học hành mà tốn kém hàng tháng cũng phải đến 6 đồng bạc, một số tiền lớn giá trị độ 6,7 chục ngàn thời 1970.

May mắn thay, khi tôi vừa đỗ tiểu học th́ có bà cô họ vốn biết tính ham học của tôi bèn từ Huế về làng, xin cha tôi cho tôi vào Huế tiếp tục việc học hành. Chồng cô tôi là một ông Đề lại đă về hưu, có một ngôi nhà vườn rộng với nhiều cây ăn trái ở chợ Cống, con cái đă thành gia thất và đều đi làm việc cho chính phủ ở các tỉnh xa. Cô tôi đem tôi về, vừa để giúp tôi tiếp tục việc học hành, vừa có thêm đứa cháu cho cảnh nhà bớt phần quạnh quẽ. Tôi theo học trường trung học tư thục Hồ Đắc Hàm, ngày nghỉ về nhà giúp cô dượng tôi nhổ cỏ, tưới cây, quét tước cửa nhà, vườn tược. Ở cái tuổi 15, đáng lẽ tôi đă có thể vẽ được cho ḿnh – dù là viển vông – những ước mơ cao xa và những hoài băo to lớn, nhưng nh́n lại hoàn cảnh gia đ́nh và trong bối cảnh của một quê hương rách nát tang thương, tôi chỉ ao ước được học hết 4 năm, lấy mảnh bằng Thành Chung để xin vào ngạch thư kư ṭa Sứ, ngạch trợ giáo hay ngạch thừa phái Nam triều như ước mơ của hầu hết thanh niên nghèo lúc bấy giờ, không đủ điều kiện học lên tú tài. Nhưng có lẽ vận số gịng họ nhà tôi chưa có mả phát về văn học, nên sắp bước vào năm thứ 4 th́ cô tôi qua đời. Dượng tôi, phần th́ tuổi già, phần th́ thiếu người nội trợ, nên cho thuê ngôi nhà để đi theo con làm y tá ở Phan Thiết, và không thể tiếp tục làm mạnh thường quân giúp tôi ăn học nữa, tôi đành phải dang dở việc học hành, trả lại giấc mơ giản dị và tội nghiệp cho nhà trường để trở lại làng xưa.

Về đến Đồng Hới, tôi vào ty kiểm học để nộp đơn xin một chức giáo viên sơ học th́ được cụ Kiểm học Trần Kinh, thân phụ của giáo sư Trần Vỹ, thâu nhận vào làm giáo viên sơ học của một làng trong Phủ với số lương hàng tháng là 12 đồng do ngân sách hàng tỉnh đài thọ.

Trong khi việc học của tôi dang dở như vậy th́ người bạn châu quận của tôi là anh Phan Xứng, vốn cùng tuổi và cùng học với tôi ở trường Phủ, lại may mắn được tiếp tục học cho đến khi đỗ bằng Thành Chung rồi thi vào ngạch thư kư toà Sứ. Tôi nhắc đến anh Phan Xứng, người bạn tri kỷ của tôi, v́ sau này, qua bao nhiêu biến cố đổi thay của thời cuộc, anh với tôi trở nên hai đồng chí trên trường chính trị kể từ năm 1948, khi chúng tôi cùng tích cực hoạt động cho tổ chức của ông Diệm dù lúc bấy giờ ông Diệm mới chỉ là một chính khách trùm chăn đợi thời.

Tôi dạy học được một năm, xét thấy nghề giáo viên trường làng với số lương quá thấp, vừa không đủ nuôi thân vừa không giúp được ǵ cho gia đ́nh, nên nhân có mấy người bạn cùng học trước kia ở trường Phủ rủ nhau gia nhập quân đội, tôi bèn nhận lời theo họ. Tôi thích đời quân ngũ một phần v́ lương bổng cao hơn, tương lai bảo đảm hơn, có thể thăng quan tiến chức và phần khác, v́ là quân nhân th́ sẽ biết tác chiến, có được nhiều bạn đồng ngũ, hợp với sở thích hiếu động của tôi. Hơn nữa, và đây mới là điều quan trọng nhất, khi gia nhập quân đội tôi sẽ vừa có tiền nuôi thân lại vừa có tiền giúp đỡ cha già mỗi ngày thêm già nua bệnh hoạn.

Thời Pháp thuộc, bên Nam triều, có những ngạch lính riêng như lính Lệ, lính Giản, lính Hộ Thành, lính Khố Vàng, c̣n bên Bảo Hộ có lính Chính quy, tức là lính Khố Đỏ, lo việc chống ngoại xâm và lính Bảo An tức là lính Khố Xanh (Garde Indochinoise) lo việc trị an trong nước. Thật ra tôi thích đi lính Khố Đỏ hơn v́ nghe nói đi lính ấy sẽ được dịp xuất ngoại, sẽ được đi Tây, biết được những chân trời xa lạ cho thỏa chí giang hồ, nhưng v́ người tôi ốm yếu không đủ cân lượng làm một người lính chính quy nên tôi đăng vào ngạch lính Khố Xanh ở cơ Bảo An Hà Tĩnh.

Trong nhà binh thời Pháp thuộc, những quân nhân có tŕnh độ trung học như tôi đều làm việc ở văn pḥng, khỏi phải làm tạp dịch nặng nề. Đến năm thứ sáu, tôi đi học lớp hạ sĩ quan tại cơ Lưu động Huế, nơi đào tạo hạ sĩ quan cho toàn thể xứ Trung kỳ. Sau năm tháng học tập, thi măn khóa tôi đỗ đầu nên được người Pháp giữ lại làm huấn luyện viên cho các lớp hạ sĩ quan tiếp theo. Tôi cùng Hồ Văn Tố (cựu Thiếu tướng Quân đội Việt Nam Cọng Ḥa) đă dạy ở đây mấy năm trường. Hiện nay tại hải ngoại có rất nhiều người đă từng học lớp hạ sĩ quan Huế do chúng tôi làm huấn luyện viên. Dưới thời Việt Nam Cộng Ḥa họ đă giữ những chức vụ trọng yếu trong quân đội hay các cơ quan chính quyền, chẳng hạn như Đại tá Phùng Ngọc Trưng, Giám đốc nha Quân nhu Quân Đoàn I, cựu Đại tá Lê Khương từng là Tỉnh trưởng Quảng Nam và Tổng Giám đốc Bảo An, ông Lê Kim Ân từng là nhân viên cao cấp ngành Công An Cảnh Sát Quốc Gia, vân vân… (Ba nhân vật trên hiện ở hải ngoại). Năm 1942, năm dạy lớp hạ sĩ quan tại Huế, tôi vừa đúng 25 tuổi.

Nh́n lại hai mươi lăm năm của thời kỳ đầu tiên trong cuộc đời, 25 năm ngậm đắng nuốt cay của một đứa trẻ mồ côi mẹ, lớn lên trong lũy tre làng xơ xác của một làng quê xác xơ, 25 năm nền móng để xây dựng nên cốt cách và nhân phẩm của ḿnh sau này, tôi sung sướng và hănh diện được sinh ra trong khung cảnh của một nông thôn nghèo nàn, của một gia đ́nh nho phong khí tiết. Chính những mồ hôi nhọc nhằn đổ ra trên ruộng lúa cằn cỗi, sau này, đă dạy cho tôi bài học về giá trị của lao động; chính những đêm buốt giá mà manh chiếu không đủ để che thân, sau này, đă dạy cho tôi bài học về chống bất công, chống độc tài. Và cũng chính những ân t́nh của xóm làng gia tộc đă dạy cho tôi về nhân nghĩa, về ḷng độ lượng và bao dung. Cho nên những thực tại đó của cuộc đời, những kinh nghiệm sống thật đó của bản thân, hơn tất cả những bài học ở trường, hơn tất cả những sách vở mà tôi đă nghiên cứu, mới là hành trang quư giá và thân thương nhất giúp tôi xông pha vào đời với một lương tâm trong suốt và với một con tim tràn đầy nhiệt huyết.

Hai mươi lăm năm đầu tiên đó của cuộc đời lại cũng là khoảng thời gian mà tôi mở mắt nh́n, lắng tai nghe kiếp sống đáy tầng của một dân tộc bị trị. Kiếp sống mà “theo đạo Chúa, làm cho Tây” th́ tính mạng được an toàn và cơm áo được tươm tất, kiếp sống mà sĩ khí không mua được lon gạo, tiết nghĩa không đổi được lít dầu!

Cảnh nhà khốn khổ của thời ly loạn đă khiến tôi dang dở việc học để lăn vào đời sớm hơn những thanh niên khác. Nhưng dang dở việc học mà tôi không ân hận v́ đă được mang những nhọc nhằn của ḿnh ra phần nào báo hiếu cho cha già; lăn vào đời sớm mà tôi không xót xa v́ chính cuộc đời đă tôi luyện chí khí và nhân cách cho ḿnh vào cái thời kỳ c̣n trong trắng nhất, c̣n chưa hệ lụy vào lư thuyết trừu tượng và giáo điều. Cho nên sau này, trước bao nghịch cảnh của cuộc đời, tôi vẫn hoài niệm về 25 năm đầu tiên đó của ḿnh, tôi vẫn hoài niệm về cha già gà trống nuôi con, tôi vẫn hoài niệm về làng Thổ Ngọa tiêu điều đó như là những năng lực tuyệt vời giúp tôi vượt thoát lên trên mọi giông băo.

Nhưng vào thời điểm của những năm đầu của thập niên 40, những ước mơ, những cao vọng, những rung cảm của tôi mới chỉ là những ước mơ tầm thường và tội nghiệp của một người dân tội nghiệp và tầm thường. Nghĩa là phải chiến thắng sự nghèo khổ cho chính gia đ́nh ḿnh, c̣n những Độc Lập, những ái Quốc, những Kháng Chiến, những Chống Xâm Lăng… đều là những tiếng gọi mơ hồ và xa lạ.

Tôi những tưởng cuộc đời của tôi như thế là đă được an bài, sẽ lớn lên trong ḷng quân đội Pháp, vô thức làm một công cụ cho chế độ thực dân và hài ḷng với những đảm bảo kinh tế của một người dân bị trị cho đến ngày nhắm mắt.

Nhưng định mệnh đă đưa đẩy ném tôi vào những chuyển ḿnh lớn lao của lịch sử như bao nhiêu người trai trẻ của thế hệ đó để trong một cơ may hiếm hoi của đời người, tôi bừng tỉnh và theo đ̣i những hoạt động cách mạng vào những ngày mà t́nh h́nh thế giới đang căng thẳng mở màn cho thế chiến thứ hai.


 


[1] Trần Trọng Kim, Việt Nam Sử lược, tr. 12, 13.

[2] Thái Văn Kiểm, Đất Việt Trời Nam, tr. 322, 326.

[3] Nhà Xuất Bản Khoa Học, Đại Nam Nhất Thống Chí, tr. 26.

[4] Nhà Xuất Bản Khoa Học, Đại Nam Nhất Thống Chí, tr. 60.

[5] Lư Khôi Việt, Hai Ngàn Năm Việt Nam và Phật Giáo, tr. 255, 256.

[6] Fritjof, Capra, The Tao of Physics, tr. 4.

[7] Fritjof, Capra, The Tao of Physics, tr. 4.

[8] Fritjof, Capra, The Tao of Physics, tr. 4.

[9] Fritjof, Capra, The Tao of Physics, tr. 33.

[10] Lê Tử Hùng, Nhật Kư Đỗ Thọ, tr. 154.

[11] Nguyễn Đăng Thục, Tư Tưởng VN, tr. 90.

[12] Trần Trọng Kim, Việt Nam Sử lược, tr. 325, 326.

 

 
 

<<  First   

 < Previous

Next  >

  Last >>
 

Design by GDOL - 2008