
CHƯƠNG
86
10.- CÁC QUÂN BINH CHỦNG
Từ thời Thượng Cổ,
quân đội các nước tham chiến đă được tổ chức thành hai binh chủng lục quân
và thủy quân. Riêng về lục quân lại đuợc tổ chức thành kỵ binh hay tượng
binh và bộ binh. Theo đà tiến hóa của nhân loại, những phát minh khoa học
cũng đươc áp dụng trong lănh vực quân sự. T́nh trạng này đă khiến cho vũ khí
và phương tiện chuyển vận trong quân đội cũng được cải tiến. Nhiên hậu, quân
đội cũng được tổ chức lại để thích nghi với những vũ khí và phương tiện mới
hầu nâng cao khả năng chiến đấu. Cũng v́ thế mà ngày nay, quân đội của bất
kỳ quốc gia nào cũng có thêm những binh chủng mới mà trước kia không có.
Binh chủng truyền tin chỉ có sau khi điện thoại và vô tuyến điện được phát
minh. Binh chủng thiết giáp chỉ có sau khi xe hơi được phát minh. Hai binh
chủng không quân và nhẩy dủ chỉ có sau khi máy bay đă được phát minh và được
sử dụng làm phương tiện chuyển vận và chiến đấu. Các quốc gia càng hùng mạnh
càng có ưu thế thiết lập thêm những binh chủng mới để thích ứng với những
loại vũ khí hiện đại và phương tiện tân kỳ rất đắt tiền. Cũng v́ thế mà chỉ
có một vài đại cường như Hoa Kỳ, Nga ( có thể có Trung Hoa nữa) mới có những
binh đoàn tầu ngầm mang đầu đạn nguyên tử nằm tiềm phục ở trong ḷng biển và
lúc nào cũng sẵn sàng tuân lệnh nhắm vào mục tiêu để nhả đạn. Và chỉ có Hoa
Kỳ (có thể có Nga nữa) mới có một số hàng không mẫu hạng giàn trải ra khắp
các đại dương.
A.-
Miền Bắc: Như đă tŕnh bày ở một tiểu mục trước, Quân Đội Miền Bắc hoặc
Quân Đội Quốc Gia Việt Nam hay Quân Đội Nhân Dân được Đảng Cộng Sản Việt Nam
thành lập vào ngày 22/12/1944, giữa khi đất nước đang ở trong t́nh trạng đói
khổ sắp bước vào thời kỳ kinh hoàng nhất trong lịch sử với hơn hai triệu
người chết đói trong mấy tháng đầu năm Ất Dậu 1945. Với t́nh trạng này, dĩ
nhiên là Quân Đội Nhân Dân thiếu thốn trăm bề. Mới đầu, Việt Minh chỉ có một
số đơn vị vũ trang bằng súng lục, súng trường, mă tấu, gậy tầm vông và sử
dụng chiến thuật du kích vừa đánh vừa chạy để bảo toàn lực lượng. Dần dần về
sau, quân đội này mới được tổ chức thành các binh chủng lục quân, pháo binh,
các đội pḥng không, công binh, truyền tin và quân cụ. C̣n không quân, hải
quân và thiết giáp binh nếu có cũng chỉ là trên danh nghĩa. Trong thực tế,
cả hai cuộc Kháng Chiến Giải Phóng Dân Tộc 1945-1954 và Thống Nhất Đất Nước
1954-1975, Mặt Trận Việt Minh hay chính quyền Kháng Chiến Việt Nam và sau
này là chính quyền Miền Bắc không hề sử dụng không lực và hải lực để tấn
công Liên Quân Xâm Lăng Pháp – Vatican tại các chiến trường Đông Dương và
tấn công Liên Quân Mỹ - Vatican tại các chiến trường miền Nam. Riêng về
thiết giáp binh, măi tới đầu thập niên 1970, Quân Đội Miền Bắc mới sử dụng
thiết giáp binh, nhưng cũng rất giới hạn, chứ không được dồi dào như Quân
Đội Miền Nam.
B.-Miền
Nam: Từ giữa năm 1954, Hoa Kỳ chính thức chi viện trực tiếp cho chính
quyền miền Nam để tăng cuờng và phát triển quân đội miền Nam thành một đạo
quân hùng mạnh nhất trong vùng Đông Nam Á. Để bảo đảm cho quân đội miền Nam
khả năng chiến đấu cao, Hoa Kỳ phải đài thọ tất cả mọi chi phí cho tẫt cả
mọi thứ từ trang bị cho đến lương bổng hàng tháng của quân nhân các cấp từ
đại tướng cho đến binh kể cả phụ cấp vợ con của họ, và trực tiếp đảm nhiệm
việc chỉ đạo, tổ chức cũng như việc huấn luyện quân sự theo khuôn mẫu của
quân đội Hoa Kỳ. Như đă tŕnh bày trong tiểu muc 9 ở trên, theo sách Quân Sử
4, vào cuối năm 1952, quân số Quân Đội Quốc Gia 117, 800 người, và theo sách
Điện Biên Phủ Điểm Hẹn Của Lịch Sử, quân số của đạo quân này là 299 ngàn
người. Chắc chắn là con số này không bao gồm con số gần 10 ngàn quân lính
thập tự (lính đạo) tại các giáo khu Phát Diệm, Bùi Chu, con số các toán linh
đạo trong các làng đạo ở miền Bắc cũng như ở trong các tỉnh Bắc miền Trung,
và cũng không kể tới 6,300 lính đạo ở vùng Bến Tre - Mỹ Tho nằm dưới quyền
chỉ huy của Đại-tá Jean Leroy.
Biến
cố tạm thời chia đôi đất nước do Hiệp Định Genève quy định làm cho rất nhiều
lính người Việt phi-Da-tô ở miền Bắc (bị động viên bởi dụ số 12 do chính
quyền Bảo Đại ban hành vào ngày 15/7/1951) đào ngũ, bỏ trốn về với gia đ́nh.
Cuối
năm 1955, sau khi tổ chức trưng cầu dân ư lật đổ Quốc Trưởng Bảo Đại, ông
Ngô Đ́nh Diệm tuyên bố miền Nam theo chế độ cộng ḥa với danh xưng là Việt
Nam Cộng Ḥa, tự phong là tổng thống, rồi ra lệnh Da-tô hóa dần dần các cấp
chỉ huy trong quân đội và cho giải ngũ khá nhiều những thành phần xét ra
không được chính quyền tin cậy dù rằng có rất nhiều người này là những người
từ Bắc vào Nam đang cần ở lại quân đội coi như là một phương kế sinh nhai.
Lúc đó quân số miền Nam chỉ c̣n lại vào khoảng 155 ngàn quân.
Sau
khi phổ biến lời tuyên bố trên đài phát thanh vào ngày 16/7/1955 rằng không
chấp nhận tổng tuyển cử để thống nhất đất nướch vào tháng 7 năm 1956, Hoa Kỳ
và chính quyền miền Nam cũng tiên liệu rằng nếu không có tổng tuyển cử vào
thời điểm này, sớm hay muộn, miền Bắc cũng sẽ phát động cuộc chiến “Đuổi Mỹ
Thống Nhất Đất Nước”. Cũng v́ thế mà Hoa Kỳ quyết định tăng viện đế tăng
cường quân số và phát triển quân đội miền Nam thành một đạo quân lớn nhất,
hùng mạnh nhất và tối tân nhất ở vùng Đống Nam Á.
Cho
tới đầu năm 1963, quân số của quân đội miền Nam đă lên tới trên nửa triệu
quân. (Xem lại tiểu mục 8 ở trên). Hơn nửa triệu quân này được tổ chức thành
các quân binh chủng:
1.-
Không Quân
2.-
Hải Quân
3.-
Lục Quân.
Không
Quân miền Nam được Hoa Kỳ tổ chức, huấn luyện và trang bị thành một không
lực hùng mạnh nhất, tối tân nhất và hiện đại nhất ở Á Châu. Bộ Tư Lệnh Không
Quân đặt tại căn cứ Tân Sơn Nhất, được tổ chức thành những phi đoàn (c̣n gọi
là không đoàn) vận tải, liên lạc, trực thăng, oanh tạc cơ và chiến đấu cơ
đóng tại các căn cứ Không Quân Tân Sơn Nhất, Biên Ḥa, Nha Trang, Đà Nẵng,
Quy Nhơn, B́nh Thuỷ (Cần Thơ), Sóc Trang, v. v…
Ngoài những phi đoàn hay không đoàn do các sĩ quan và phi công người Việt đảm nhiệm, c̣n có những phi đoàn và không đoàn của Hoa Kỳ từ các Hàng Không Mẫu Hạm nằm ờ ngoài biển Thái B́nh Dương, ở Đảo Guam, ở phi trường Ubon (Thái Lan) và ở căn cứ không quân Mỹ ở Phi Luật Tân với những loại phi cơ tối tân nhất, hiện đại nhất như B 52, F.15, A37, C.140, v.v… tham chiến tại chiến trường Miền Nam cũng như đảm nhiệm việc rải chất độc da cam ở các vùng t́nh nghi có Việt Cộng và thực hiện các phi vụ đánh phá trong lănh thổ miền Bắc bằng những loại bom, súng và đạn tối tân nhất và hiện đại nhất.
Hải
Quân miền Nam cũng được Hoa Kỳ tổ chức, huấn luyện và trang bị bằng những
tuần dương, giang tuần, chiến tầu, tầu đổ bộ, v.v… và được trang bị bằng
những vũ khí hiện đại nhất. Các nhà viết sử đều đồng ư rằng nếu so với các
lực lượng hải quân của các nước Đông Nam Á và Tây Nam Á, Hải Quân miền Nam
là một lực lượng hùng mạnh nhất.
Lục
Quân miền Nam cũng được được Hoa Kỳ tổ chức, huấn luyện và trang bị để biến
thành một quân lực hùng mạnh nhất, tối tân nhất và hiện đại nhất ở Đông Nam
và Nam Á Châu với những quân chủng:
Bô
Binh được tổ chức thành những sư đoàn 1, 3, 5, 7, 9, 18, 21, 22, 23 và được
trang bị bằng những súng ống và đạn dược đúng như tiêu chuẩn mà Hoa Kỳ đă
quy định. Ngoài những sư đoàn bộ binh này, lại c̣n có các binh chủng Pháo
Binh, Thiết Giáp Binh, Nhẩy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân, Truyền
Tin, Công Binh, Quân Cụ, Lực Lượng Đặc Biệt, Cảnh Sát Dă Chiến, v.v… Binh
chủng nào cũng được trang bị đầy đủ theo tiêu chuẩn của Hoa Kỳ đă quy định.
Sau
năm 1963, con số cố vấn Hoa Kỳ ở miền Nam tăng vọt từ 16 ngàn lên hơn một
nửa triệu quân trực tiếp tham chiến. Đồng thời, quân đội miền Nam cũng tăng
lên vào khoảng trên triệu quân. (Xin xem lại tiểu mục trên).
Như
vậy, trong những năm Chiến Tranh Thống Nhất Đất Nước 1954-1975, chưa kể
những lực luợng yểm trợ từ các hàng không mẫu hạm Hoa Kỳ ở ngoài Thái B́nh
Dương, từ căn cứ không Quân Hoa Kỳ ở Guam, từ Thái Lan và từ Phi Luật Tân,
chỉ nói ở trong lănh thổ miền Nam Việt Nam, tổng số quân đội miền Nam và
quân đội Hoa Kỳ lên tới trên dưới 2 triệu quân, một đạo quân hùng mạnh đứng
vào hàng thứ 4 trên thế giới, sau Hoa Kỳ, Liên Sô và Trung Quốc.
Tóm
lại, về yếu tố này, miền Nam có rất nhiều lợi thế và trội hơn miền Bắc rất
nhiều.
11.-
VŨ KHÍ VÀ HỎA LỰC
Từ
ngàn xưa, trong bất kỳ cuộc chiến nào, thường thường vũ khí và hỏa lực chiếm
một vai tṛ vô cùng quan trọng và quyết định trong vấn đề thắng bại của các
bên tham chiến.
A.-
Miền Bắc: Như đă tŕnh bày ở trong tiểu mục 10, suốt trong thời Kháng
Chiến 1945-1954 và trong thời Chiến Tranh Thống Nhất Đất Nước 1954-1975, Mặt
Trận Việt Minh hay miền Bắc chỉ sử dụng lục quân, hầu như không sử dụng
không lực và hải lực. Lục quân của miền Bắc cùng với Quân Đội Giải Phóng
Miền Nam được tổ chức thành quân đội chính quy và những quân đội chủ lực tại
địa phương. Quân đội chủ lực tại các địa phương được trang bị bằng những vũ
khí c̣n lại trong thời Kháng Chiến 1945 - 1954 và những vũ khí chiến lợi
phẩm chiếm được vào những khi đánh thắng quân đội miền Nam Việt Nam. Các sư
đoàn và quân binh chủng chính quy từ miền Bắc di chuyển vào miền Nam được
trang bị đầy đủ với những vũ khí hiện đại do các nước đồng minh trong Khối
Xă Hội Chủ Nghĩa Xă Hội viện trợ, nhưng nếu so với vũ khí của quân đội chính
quy miền Nam th́ vẫn c̣n kém rất xa. Ấy là chưa nói đến những hỏa lực của
không quân và hải quân của miền Nam và của Hoa Kỳ mà miền Bắc hầu như hoàn
toàn không có.
B.- Miền Nam: Trong những năm từ 1965 cho đến tháng 4/1975, miền Nam có vào khoảng trên một triệu quân cùng với hơn nửa triệu quân Hoa Kỳ và quân lính của các nước đồng minh của Mỹ tham chiến như Úc, Tân Tây Lan, Đại Hàn, Thái và Phi luật Tân. Tóm lại, con số quân lính tham chiến về phía miền Nam Việt Nam là một đạo quân lớn nhất chỉ thua có Hoa Kỳ, Liên Sô và Trung Quốc. Toàn bộ gần hai triệu quân lính này được trang bị bằng những vũ khí tối tân nhất, hiện đại nhất có khả năng tàn sát hàng loạt đối phương và hủy diệt dễ dàng những công tŕnh kiến trúc cùng mùa màng trong vùng do đối phương kiểm soát hay hoạt động. Đặc biệt là hầu hết quân đội miền Nam do các sĩ quan Da-tô chỉ huy mang sẵn tinh thần thập tự quân với bản chất bất khoan dung, triệt để tuân hành Sắc Chỉ Romanus Pontifex của Giáo Hội La Mă (ban hành vào ngày 8/1/1454) và quân đội Hoa Kỳ triệt để áp dụng chiến thuật của Tướng Sherman đă áp dụng trong thời Nội Chiến ở Hoa Kỳ: “triệt hạ tất cả những tài sản, nhà cửa, mùa màng ở những nơi nào họ bước chân tới.” Nguyên văn: (They burned houses, and barns, towns and crops. They tore up railrosds, and killed farm animals as they went along).1
Với tinh thần quân lính thập tự của quân đội miền Nam, với việc triệt để áp dụng chiến thuật cực kỳ dă man của Tướng Sherman của quân đội Hoa Kỳ, lại được sử dụng những phương tiện hiện đại nhất và được sử dụng những thứ vũ khí vô cùng tối tân như súng phun lửa, bom chùm, bom lửa, bom CPU, bom tấn, và vũ khí hóa học như chất độc da cam, th́ tất nhiên là sức tàn phá của quân đội miền Nam và quân đội Mỹ phải hết sức khủng khiếp. Số lượng thuốc nổ thuộc loại tối tân được nhồi trong bom và đạn đại pháo do quân đội miền Nam và quân đôi Mỹ sử dụng trong những năm từ 1965 cho đến năm 1973 ở Việt Nam lên đến hơn 14 triệu tấn, và riêng vế số lượng bom do Không Quân sử dụng đă lên đến khoảng 7 triệu tấn, hơn ba lần toàn bộ số bom cả hai phe Trục và Đồng Minh sử dụng trong Thế Chiến Thứ Hai. Sự kiện này được sử gia Stanley I. Kutler ghi nhận như sau:
“Diện
tích Việt Nam không bằng 1/25 diện tích Hoa Kỳ. Diện tích của cả ba nước
Cao Mên, Lào và Việt Nam cộng lại mới bằng diện tích nước Pháp. Từ năm
1965 cho đến năm 1973, Hoa Kỳ đă dùng tới hơn 14 triệu tấn thuốc nổ thuộc
loại hiện đại nhồi trong bom và đạn đại pháo để đánh phá cái diện tích bé
nhỏ này. Riêng về khối lượng bom do không quân Hoa Kỳ sử dụng cũng đă lên
tới hơn 7 triệu tấn, hơn gấp 3 lần tổng số bom được sử dụng trong thời Đệ
Nhị Thế Chiến. Phần lớn những bom trong các trận không kích và đạn đai bác
do pháo binh bắn phá (gần 12 triệu tấn) thực sự là những hóa chất có công
dụng làm rụng lá cây đă sử dụng ở miền Nam Việt Nam. Mục đích của nó là
hủy diệt hạ tầng cơ sở của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và cũng là để Mặt
Trận mất đi sự ủng hộ của quần chúng miền Nam bằng cách đẩy họ chạy về các
vùng do chính quyền miền Nam kiểm soát. Trong một buổi điều trần tại Quốc
Hội vào tháng 1 năm 1966, ông Tổng Trưởng Quốc Pḥng Robert McNamara đưa
ra chứng cớ về sự thành công của các cuộc tấn kích bằng trọng pháo và
không kích kể cả những phi vụ B.52 nhằm mục đích cưỡng bách người dân
trong vùng “phải di chuyển về những nơi an toàn, khỏi phải bị tấn kích như
vậy bất kể là thái độ của họ đối với chính quyền Miền Nam.” Ông McNamara
nói tiếp,” làm như vậy không những phá vỡ được những hoạt động của quân du
kích Việt Cộng, mà c̣n làm cho nền tảng kính tế của đối phương suy sụp.”
Tuy nhiên, những trận tấn kích bằng bom và đạn như vậy đă làm cho 1/3 ruộng đất trồng trọt và hơn một nửa xóm làng ở nông thôn bị hủy diệt. Vào năm 1972, theo bản tường tŕnh của tiểu ban Thượng Viện Hoa Kỳ, những cuộc tấn kích bằng trọng pháo và không kích như vậy đă gây nên một số lớn dân chúng bị thiệt mạng, bị thương tật và khiến cho hơn 10 triệu dân trở thành những người tỵ nạn.”
“Nguyên
văn: Vietnam is less than 1/25 the area of the United States;
Cambodia, Laos and Vietnam combined have about the same area as France.
Between 1965 and 1973, the United States used more than 14 million tons of
air – and artillery high explosives on the area. The bombing done
accounted about 7 million tons or more than three times the tonnage used
during World War II. Most of the bombs and artillery shells, and virtually
all the defoliant (nearly 12 million tons), fell on the southern half of
the country. The purpose to destroy the National Liberation Front
revolutionaries’ infrastructure and to deprive them of popular support in
the South by driving the population into areas controlled by the South
Vietnamese government. In congressional testimony in January 1966,
Secretary Defense Robert McNamara introduced evidence on the success of
air and artillery attacks, including “the most devasting and frightening”
B.52 raids in forcing the villagers “to move to where they will be safe
from such attacks regardless of their attitude to the GVN.” This, Mc
Namara contininued, not only disrupted Viet Cong guerrillas’ activities
but also threatened” a major deterioration of their economic base.
The
effect, however, was to destroy nearly one third of the cropland and more
than half of the hamlets. By 1972, according to a U.S. Senate subcommittee
report, U.S. air and artillery attacks were responsible for great bulk of
the ten million refugees and most of the civilian casualties.”2
Riêng
về vũ khí hóa học loại chất độc da cảm, nhà viết sử Nguyễn Văn Tuấn ghi nhận
trong cuốn Chất Độc Màu Da Cam Và Chiến Tranh Việt Nam với nguyên văn như
sau:
“Trong thời gian từ 1962 đến 1971, quân đội Mỷ rải 77 triệu lít chất độc da cam xuống miền Nam và Trung Việt Nam, gây ảnh hưởng và tác hại đến môi truờng của 2,630,000 mẫu Tây và gần 5 triệu người sống trong 35,585 thôn ấp.” 3 Trong bài viết Luật cá lớn nuốt cá bé của tác giả Tú Gàn gửi đi từ lugiang2003@yahoo.com, được phổ biến qua các diễn đàn điện thư vào ngày Thứ Bảy 18/11/2006, trong đó có đoạn văn nói đến số lượng bom và đạn đại bác mà Hoa Kỳ đă sử dụng tại Việt Nam trong những năm 1965-1972 với nguyên văn như sau:
“Tài
liệu thống kê sơ khởi cho biết cuộc chiến tranh Iraq kéo dài từ tháng 3
năm 2001 đến 31/10/2006 đă khiến 2.818 quân nhân Mỹ bị giết, 21.419 bị
thương; 655,000 thường dân, 155 giáo sư đại học và 250 bác sĩ người Iraq
bị chết, và có ít nhất 6.000 bác sĩ và giáo sư đă phải bỏ nước ra đi.
Trong chiến tranh Việt Nam, nước Mỹ có 58.156 quân nhân tử trăn, 2.338 mất
tích khi thi hành nhiệm vụ, khoảng 75.000 bị tàn tật, trong đó có 23.214
bị tàn phế 100%, 5,283 bị mất chân tay, v.v.
Về bom đạn, trong Thế Chiến II, v́ nước Đức là nước gây chiến nên lănh
nhiều bom đạn nhất. Tính trung b́nh, cứ mỗi cây số vuông bị dội xuống 5,4
tấn bom và mỗi người Đức phải lănh 27 kg bom. Trong chiến tranh Việt Nam,
Miền Bắc phải lănh bom đạn rất nặng nề: Tính trung b́nh, cứ mỗi cây số
vuông Mỹ đổ xuống 6 tấn bom và mỗi người dân miền Bắc lănh 45,5 kg bom.
Ba tỉnh bị lănh bom nhiều nhất là Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng B́nh. Riêng
tỉnh Quảng B́nh bị oanh tạc nặng nề nhất v́ nằm sát với miền Nam Việt Nam.
Người ta ước lượng từ 1965 đến 1972 đă có khoảng 40.000 phi vụ oanh tạc
Quảng B́nh và khoảng 3.000 trận pháo kích do các tàu chiến ở ngoài khơi
hay phía Nam bờ Bền Hải bắn vào. V́ thế, Quảng B́nh gần như bằng địa.
Không một chiếc cầu nào bắc qua quốc lộ 1 c̣n tồn tại và quốc lộ này không
c̣n xử dụng được nữa. Dân chúng phải di tản ra khỏi vùng ven biển. Thành
phố Đồng Hới được dời lên Cổn ở vùng núi phía Tây...
Trên lănh thổ Iraq bây giờ, không chỗ nào được gọi là tiền tuyến và không
chỗ nào được gọi là hậu phương: Tất cả đều được biến thành tiền tuyến.
Không một chỗ nào được coi là an toàn. Hai bên đều xử dụng bạo lực tối đa.
Người ta chưa thể ước lượng được số bom đạn mà người dân Iraq phải gánh
chịu, v́ cuộc chiến đang tiến hành.
Về tiền bạc, trong Thế Chiến II (1941-1945) Mỹ tốn 288 tỷ Mỷ kim. Trong
chiến tranh Cao Ly (1950-1953) Mỹ tốn 263,9 Mỹ kim. Và trong chiến
tranh Việt Nam (1964-1972) Mỹ tốn 346,7 tỷ Mỷ kim. Trong cuộc chiến Iraq
hiện nay, Mỹ đă xài 340 tỷ Mỹ kim, tính ra trung b́nh mỗi ngày Mỹ tốn 250
triệu Mỹ kim. Cơ quan “The Center for Strategic and Budgetary Assessments”
ước tính lại phí tổn chiến tranh của Mỹ theo thời giá và cho biết như sau:
Trong chiến tranh Cao Ly Mỹ tốn khoảng 430 tỷ Mỹ kim và trong chiến tranh
Việt Nam, Mỹ mất khoảng 600 tỷ Mỹ kim.
C̣n với cuộc chiến Iraq hiện nay, các chuyên gia ước lượng rằng cho đến
khi kết thúc, Mỹ phải tốn ít nhất 700 tỷ Mỹ kim. Như vậy, cuộc chiến Iraq
hiện nay là cuộc chiến đắt giá nhất từ trước đến nay.”
Phần
tŕnh bày trên đây cho chúng ta thấy rơ chính những bàn tay của quân lính
miền Nam và quân lính Hoa Kỳ đă sử dụng những thứ vũ khí hiện đại nhất và
khủng khiếp nhất để giết hại nhân dân, tàn phá các công tŕnh kiến trúc, hủy
diệt mùa màng, hủy diệt luôn cả tài nguyên và ruộng đất canh tác của nhân
dân ta. Tất cả đă làm cho đất nước chúng ta bị tàn phá vô cùng khủng khiếp.
Ra khỏi các thành phố và các trại định cư của người Bắc Kỳ, đi đến đâu cũng
thấy những cảnh nhà cửa bị đốt cháy hay bị đổ nát tan hoang, chỉ c̣n trơ lai
cái nền nhà ngổn ngang những gạch gỗ vụn, đồng ruộng hoang tàn, rừng cây
trụi lá. Cuốn phim “Chiến Tranh Việt Nam: Những Điều Chưa Biết” do nhà viết
sử Daniel Costelle biên soạn và Isabelle Clarke đạo diễn, Việt Nam Films
(714) 555-2515) phát hành, cho chúng ta thấy rơ những cảnh tượng quân lính
Miền Nam và quân lính Hoa Kỳ xông xáo từng thôn xóm, vào từng nhà lục lọi,
cưỡng bách người dân đi ra khỏi nhà, rồi túm bắt tất cả đàn ông thanh niên
và phụ nữ, trói lại, rồi tra tấn, đánh đập hết sức dă man. Dă man hơn nữa,
chúng c̣n lấy gạo ăn của nạn nhân đem ra đổ xuống bùn, dùng súng phun lửa
thiêu rụi hết cả nhà cửa và đồ đạc. Đây là những hoạt cảnh dă man đến cùng
độ của dă man, chẳng khác ǵ những hành động dă man của đám quân lính thập
tự trong thời Trung Cổ khi họ tiến vào Trung Đông và miền Nam nước Pháp,
chẳng khác ǵ những hành động của quân lính Liên Minh Thánh Tây Ban Nha –
Vatican khi họ tiến vào Châu Mỹ La-tinh và Phi Luật Tân trong thế kỷ 16,
chẳng khác ǵ những hành động dă man của quân lính Liên Minh Thánh Pháp –
Vatican và lính đạo Việt Nam trong những năm 1858-1897 và trong thời Kháng
Chiến 1945-1954 trong các cuộc hành quân tấn công các lực lượng nghĩa quân
kháng chiến của nhân dân ta hay khi chúng tiến vào các làng dân lương ở các
vùng phụ cận chung quanh đồn bót của chúng.
Tóm
lại, về phương diện vũ khí và hỏa lực, miền Nam có nhiều ưu thế và trội hơn
miền Bắc rất nhiều. Riêng về những hành động dă man tàn ngược đối với người
dân trong vùng hành quân, xin độc giả hăy xem cuốn phim “Chiến Tranh Việt
Nam: Những Điều Chưa Biết” (như nói ở trên) rồi t́m một từ ngữ thích đáng
nhất để nói lên sự thật này.
12.- CÁC PHƯƠNG TIỆN ĐƯỢC SỬ DỤNG
TRONG
CÁC NGÀNH HOẠT ĐỘNG
Trong tất cả mọi lănh vực sinh hoạt trong xă hội loài người, phương tiện được sử dụng được coi như là yếu tố vô cùng quan trọng v́ nó giúp cho việc thực thi nhiệm vụ hay các dự án sớm đạt được kết quả mong muốn một cách mau chóng. Phương tiện càng tối tân th́ việc thực thi nhiệm vụ càng mau chóng. Đây là quy luật trong tất cả các lănh vực hoạt động trong xă hội loài người.
A.- Miền Bắc: Cho đến năm 1975 và có lẽ cho đến cả hai thập niên sau đó, tất cả các phương tiện được sử dụng trong các phạm vi sinh hoạt trong xă hội cũng như trong các lănh vực hoạt động kinh tế và quân sự vẫn c̣n ở trong t́nh trạng thố sơ, lạc hậu, không được cơ khí hóa. Trong lănh vực canh tác, người nông dân văn c̣n sử dụng con trâu hay ḅ kéo đi trước và người cầm cày hay bừa đi sau, vẫn c̣n dùng những chiếc gầu giai hay gầu ṣng dẫn nước vào ruộng. Phần lớn công việc chuyển vận hàng hóa vẫn c̣n dùng thuyền buồm trên các thủy lộ, dùng xe đạp thồ và sức người gồng gánh hay đội trên đầu trên đường bộ. Ngay cả việc di chuyển các ổ trọng pháo (súng đại bác) trong chiến dịch tấn công vào tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ của Liên Quân – Pháp Vatican trong mùa xuân năm 1954 cũng vẫn c̣n dùng sức người, dù có dùng xe hạng nặng kéo pháo th́ cũng không phải là luôn luôn sẵn sàng và cũng không thể đưa những pháo nặng vào bố trí trong các hầm trú ẩn để khỏi bị pháo kích và không kích. Mùa hè năm 1999, người viết về thăm miền Bắc, nh́n tận mắt những cảnh những người phu làm đường dùng sức người vác đá lót đường và dùng những chiếc đầm tay thay v́ dùng xe ủi và xe lăn. Xem cuốn phim Điện Biên Phủ Những Ngày Ấy do nhà biên kịch và đạo diễn Phạm Quốc Vinh biên soạn và phát hành vào năm 1993, chúng ta sẽ thấy rơ những sự kiện này.
B.-
Miền Nam: Miền Nam vốn là cựu thuộc địa nằm dưới quyền trực trị của
Liên Minh Pháp - Vatican, có những đồn điền cao su do người Pháp và Vatican
làm chủ và có nhiều đại điền chủ với những cánh đồng bát ngát c̣ bay thẳng
cánh. V́ vậy mà trước khi đất nước bị chia đôi, miền Nam đă có một số phương
tiện canh tác đă được cơ giới hóa, thí dụ như nhà máy xay gạo, máy cày, máy
bơm nước vào ruộng, v.v…. Từ năm 1954, v́ chủ ư muốn biến miền Nam thành
tiền đồn chống Cộng, Hoa Kỳ đă đổ tiền bạc, vật liệu và chuyên viên vào miền
Nam để phát triển kinh tế như mở mang đường xá, làm cầu, cơ giới hóa các
phương tiện chuyển vận đường thuỷ, đường bộ, đường hàng không, và cơ giới
hóa các phương tiện làm đường, xây cầu, vét sông, đào kinh, v.v…
Tóm lại, các phương tiện sử dụng trong các ngành hoạt động xă hội cũng như kinh tế, miền Nam có nhiều phương tiện tân tiến hơn và dồi dào hơn miền Bắc.
CHƯƠNG
87
13.- ĐỘC
LẬP, TỰ TÚC TỰ CƯỜNG HAY LÀM TAY
SAI CHO NGOẠI CƯỜNG
VÀ ĐƯỢC TRẢ LƯƠNG HÀNG THÁNG
Từ ngàn xưa, bất kỳ quốc gia hay lực luợng nghĩa quân kháng chiến của bất kỳ quốc gia nào bị ngoại cường xâm lăng hay thống trị cũng đều phải dồn nỗ lực vào đại cuộc chống giặc xâm lăng, và nhân dân trong nước đều phải gồng minh nai lưng ra làm việc, nỗ lực tăng gia sản xuất, đóng thuế cho Nhà Nước để có tiền chi phí cho mọi phí khoản chi tiêu trong đó có cả vấn đề trả lương hàng tháng cho nhân viên chính quyền và quân đội.
A.-
Miền Bắc: Như đă tŕnh bày đầy đủ ở trong Mục XIV (Phần IV) trong bộ sách
này, Chính quyền Kháng Chiến Chống Pháp do Mặt Trận Việt Minh lănh đạo khởi tiến
từ bàn tay trắng chỉ được vơ trang bằng ḷng yêu nước với một tinh thần quyết
chiến đánh đuổi Liên Quân Xâm Lươc Pháp - Vatican ra khỏi quê hương, giành lại
chủ quyền độc lập cho dân tộc và cũng là giải thoát nhân dân ta khỏi bị người
ngoại bang liên kết với bọn phản động phong kiến bản địa và Việt gian Da-tô để
đè đầu cỡi cổ bóc lột đến tận xương tận tủy.
Tuy là
theo đuổi lư tưởng cao cả như vậy, nhưng khốn nỗi, trong thực tế, hầu hết
những thành phần trong tổ chức Mặt Trận Việt Minh là những người có tấm ḷng
nhiệt t́nh với đất nước và ư chí liều chết hy sinh thân thế cho đại cuộc cứu
nước, chứ chính bản thân của họ chỉ là những người nghèo khổ xuất thân từ đại
khối nhân dân bị trị, bị bóc lột, bị dồn vào cảnh khốn khổ trăm bề. Cho nên tất
cả những ǵ cần thiết cho cuộc sống hàng ngày của cá nhân họ và cho nhu cầu hay
hoạt động của tổ chức đều phải trông cậy vào tài năng của những người lănh đạo
tổ chức và chính bản thân họ.
T́m hiểu
lịch sử về Mặt Trận Việt Minh, chúng ta thấy, từ năm 1941, ngoài một số tiền c̣m
cơi do Trương Phát Khuê giúp đỡ có tính cách đoản kỳ (ngắn hạn) về Việt Nam tổ
chức những hoạt động chống Nhật, c̣n tất cả mọi thứ khác, Mặt Trận Việt Minh đều
phải tự túc, tự lực cánh sinh.
Nói đến tự
lực cánh sinh của một tổ chức là nói đến sự trông cậy hoàn toàn vào tài năng
xoay sở và khả năng đóng góp của mọi người trong tổ chức để cung ứng cho nhu cầu
của tổ chức. Tương tự như vậy, trên b́nh diện rộng lớn của một quốc gia như Việt
Nam nằm dưới sự lănh đạo của Mặt Trần Việt Minh trong thời Chiến Tranh Giải
Phóng Đẩt Nước (1945-1954) cũng như của chính quyền Bắc trong những năm
1954-1975, khi nói đến tự lực cánh sinh là phải nói đến sự trông cậy hoàn toàn
vào ư chí, tinh thần hy sinh vô bờ bến của tất cả mọi người dân trong nước,
trông cậy vào tài nguyên sẵn có của đất nước, trông cậy vào tài năng và đức độ
của các nhà lănh đạo chính quyền. Sự kiện này được sách Lịch Sử Đảng Cộng Sản
Việt Nam ghi nhận với nguyên văn như sau:
“Trong
hoàn cảnh cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ta bị kẻ thù bao vây bốn phía,
chưa nhận được sự giúp đỡ trực tiếp của nhân dân các nước anh em, nên ngay từ
đầu, Đảng xác định đường lối “tự lực cánh sinh”. Đảng chủ trương “phải tự ta
giúp ta rồi người mới giúp ta”. Dựa vào sức mạnh là dựa vào sức lực của toàn
dân, vào sự lănh đạo của Đảng, vào các điều kiện nhân ḥa, địa lợi và thiên
thời của đất nước ta: “Tự lực cánh sinh” không có nghĩa là không đồng thời ra
sức tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế để nhanh chóng chiến thắng kẻ thù.”
1 .
“Vừa chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang, Đảng và chính phủ vửa ra sức xây dựng và củng cố hậu phương, phát triển kháng chiến về mọi mặt. Đến cuối năm 1949, chỉ tính từ Liên Khu IV (Quảng Trị, Quảnq B́nh, Nghệ An và Thanh Hóa) trở ra, 113.000 ha ruộng đất đă được tạm cấp cho nông dân, đồng thời thực hiện giảm tô với mức ít nhất là 25%. Tổng sản lượng các vùng tự do và căn cứ du kích từ Khu IV trở ra đạt được 2.4 triệu tấn vào năm 1950, chưa kể một khối lượng lớn hoa màu (khác)….” 2
Ngay từ khi hoàn toàn làm chủ miền Bắc từ vĩ tuyến 17 trở ra vào cuối năm 1954, chính quyền miền Bắc cũng đă đẩy mạnh chính sách tự cường về kinh tế và quân sự, chỉ nhận ngoại viện về vũ khí và cố vấn hay chuyên viên kỹ thuật, chứ không nhận chí nguyện quân của các nước bạn đến tham chiến. Nhờ vậy mà nhân dân miền Bắc thoát khỏi cái nạn bị quấy nhiễu bởi quân lính ngoại quốc và xă hội không bị xáo trộn v́ sự hiện diện của quân đội ngoại nhập. Đồng thời, chính quyền cũng nỗ lực tối đa trong mặt trận ngoại giao để gây cảm t́nh, trảnh thủ nhân tâm, lôi kéo nhân dân thế giới đứng về phía nhân dân ta để cực lực lên án những hành động xâm lăng của Liên Minh Mỹ - Vatican, và đ̣i chúng phải rút quân về nước, tôn trọng chủ quyền độc lập và thống nhất đất nước của dân tộc Việt Nam chúng ta.
B.-
Miền Nam.- Không ai phủ nhận được chính quyền miền Nam Việt Nam trong những
năm 1954-1975 là hậu thân của cái gọi là “chính quyền Quốc Gia” do Liên Minh
Pháp- Vatican nặn ra theo ư kiến của Giáo Hội La Mă qua đề nghị của viên cựu
Linh-mục Thierry d’ Argenlieu lúc đó c̣n nắm giữ chức vụ Cao Uỷ Đông Dương
(17/8/1945 -15/3/1947); chính quyền này chính thức được cho ra đời vào ngày
5/6/1948 với cựu hoàng Bảo Đại làm quốc trưởng bù nh́n. Các nhà viết sử Âu Mỹ
gọi cái sản phẩm này của Liên Minh Pháp – Vatican là “Giải Pháp Bảo Đại”
(The Bao Dai Solution) và cụ Trần Trọng Kim gọi là “một thứ cũi chó mạ vàng”
(Bùi Nhung, Thối Nát (Houston, TX: Xuân Thu, 1976), tr. 97-100) Toàn bộ
các cơ quan chính quyền và quân đội của cái gọi là “chính quyền quốc gia” này,
từ công việc tổ chức, trang bị, huấn luyện nhân viên cho đến tất cả các phí
khoản trả lương hàng tháng cho nhân viên chính quyền và quân nhân trong quân đội
đều do chính quyền Pháp đài thọ. Chính phủ này chỉ có một việc làm duy nhất là
nhắm mắt thi hành những lệnh truyền của Liên Minh Pháp – Vatican đưa ra. Việc
ban hành Dụ số 10 vào ngày 6 tháng 8 năm 1950 là một trong những bằng chứng rơ
ràng nhất cho sự kiện này.
Kể từ năm 1950, v́ phải đối phó với làn sóng Cộng Sản đang bành trướng ở Âu Châu cũng như ở Á Châu, Hoa Kỳ nhẩy vào tiếp tay cho Liên Minh Pháp – Vatican tái chiếm Đông Dương bằng cách viện trợ cho Pháp chống lại cuộc Kháng Chiến của nhân dân ta đang chuyển sang giai đoạn tổng phản công. Sự kiện này được sử gia Vũ Ngự Chiêu dưới bút hiệu Chính Đạo ghi nhận như sau:
“24/4/1950:
… Washington D.C.: Truman phê chuẩn NSC 64, tức “Vị thế Liên Bang Mỹ ở Đông
Dương” (FRUS, 1950, VI: 745-47).
Dựa
trên NSC 48, kế hoạch này khẳng định “tất cả các phương tiện thực tế phải được
sử dụng để ngăn chặn sự bành trướng của CS tại Đông Nam Á.”
Căn bản lư luận là một h́nh thái sơ khai của thuyết “domino”. Những quốc gia lân cận như Thái Lan và Burma có thể bị CS thống trị nếu Đông Dương rơi vào tay chính phủ mà Cộng Sản khống chế. Bộ Quốc Pḥng, Bộ Tổng Tham Mưu Liên Quân, và Bộ Ngoại Giao đều đồng ư là trên phương diện chiến lược, Đông Dương là vùng ch́a khóa của Đông Nam Á và Mỹ cần gửi gấp viện trợ quân sự cũng như kinh tế (Gravel: I: 363-366).” 3 .
“8/5/1950: Washington D.C., TT Truman công bố đă quân viện cho Pháp ở Đông Dương, và số lượng ngày càng tăng. Mục đích để giúp Pháp đánh Việt Minh. Ngoại trưởng ACHESON cũng tuyên bố viện trợ trực tiếp cho ba nước Đông Dương, đồng thời tiếp tục viện trợ cho Pháp. Nước Mỹ nhận hiểu rằng vấn đề Đông Dương tùy thuộc vào cả hai vấn đề văn hồi trật tự và việc phát triển tinh thần quốc gia và sự giúp đỡ của Mỹ có thể và cần đóng góp vào hai mục tiêu này (FRUS, 1950, VI: 812)”.4
Vấn đề này cũng được cụ Đoàn Thêm ghi trong cuốn 1945-1965 - Việc Từng Ngày Hai Mươi Năm Qua với nguyên văn như sau:
“6/5/1950: Robert Blum, Trường phái Đoàn Kinh Tế Mỹ, tới Sàig̣n và họp báo cho biết: Viện trợ kinh tế cho các Quốc Gia Liên Kết là 23.500.000 Mỹ kim, trong tài khóa 6/1950 – 6/1951; Viện trợ quân sự bằng vơ khí quân sự sẽ giao cho quân đội Liên Hiệp Pháp.” 5
Chính v́ việc Hoa Kỳ Viện trợ như trên, chính quyền Kháng Chiến Việt Nam mới nêu cao khấu hiệu vừa chống Liên Minh Xâm Lăng Pháp – Vatican, vừa chống cả chính sách can thiệp vào Việt Nam của Đế Quốc Mỹ.
Sau
khi, Liên Minh Mỹ - Vatican đến thay thế Liên Minh Pháp - Vatican và đưa ông Ngô
Đ́nh Diệm lên thay thế ông Bảo Đại, chính quyền quốc gia c̣n được gọi là chính
quyền miền Nam Việt Nam hay chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa. Cũng từ đó, toàn bộ
các cơ quan chính quyền và quân đội của miền Nam, từ công việc tổ chức, trang
bị, huấn luyện nhân viên và trả lương hàng tháng cho nhân viên chính quyền và
quân nhân trong quân đội đều do chính quyền Hoa Kỳ đài thọ và nắm quyền chỉ huy,
đúng như ông Trưởng Phái Đoàn Cố Vấn Quân Sự Mỹ ở Sàigon là Tướng John O’ Daniel
tuyên bố rơ ràng là “Ai chi tiền th́ nguời đó chỉ huy” (Who pays,
commands). Sự kiện này được ông Nguyễn Tiến Hưng ghi lại trong cuốn Khi Đồng
Minh Tháo Chạy với nguyên văn như sau:
“Ngay
từ lúc Mỹ nhúng tay vào miền Nam cũng đă có sự bất đồng ư về chiến thuật giữa
cố vấn Mỹ và tướng lănh Miền Nam. Trong một buổi họp, viên tư lệnh Mỹ ở Miền
Nam, Tướng O’ Daniel đă nói toạc ra là “ai chi tiền th́ người đó chỉ huy” (who
pays, commands). Rồi khi chiến tranh leo thang, sứ mệnh Hoa Kỳ được xác định
là chiến đấu, sứ mệnh quân đội Miền Nam là ǵn giữ an ninh. V́ thế quân đội Mỹ
đă theo một chiến thuật gọi là “t́m và diệt địch” (search and destroy). Báo
chí Mỹ đă riễu cợt quân đội Miền Nam là họ chỉ theo chiến thuật là “t́m và né
địch” (search and avoid).” 6
Mỹ chi
tiền để nuôi dưỡng chính quyền và quân đội miền Nam. Thói thường, bất kỳ cá nhân
hay thế lực nào khi phải chi ra một số tiền lớn để tiến hành một kế hoạch hay dự
án nào đó, th́ cũng phải có sổ sách ghi rơ những khoản tiền nào chi cho việc ǵ
hay vấn đề ǵ. Việc Mỹ dựng nên, nuôi dưỡng và cưu mang chính quyền và quân đội
miền Nam trong đó có việc trả lương hàng tháng cho tất cả công nhân viên chính
quyền từ anh tùy phái cho đến ông Tổng Thống và trả lương hàng tháng cho tất cả
các quân nhân các cấp từ anh binh nh́ cho đến ông Đại Tướng nắm giữ chức vụ Tổng
Tham Mưu Truởng, tất cả cũng đều được “itemized” (ghi rơ từng khoản chi tiêu) và
ghi rơ danh tánh của từng người lănh lương vào trong sổ lương của chính quyền
Hoa Kỳ. Đây là cái lư đương nhiên (common sense) không ai có thể phủ nhận hay
phản bác được.
Cũng v́
cái lư đương nhiên này mà các nhà viết sử đều ghi nhận chính quyền miền Nam là
chính quyền tay sai của Hoa Kỳ và quân đội Miền Nam là đạo quân đánh thuê của
Liên Minh Mỹ - Vatican. Tính chung cho tất cả các khoản tiền chi ra để thuê
mướn chính quyền và quân đội miền Nam từ năm 1954 cho đến ngày 30/4/1975, Hoa
Kỳ đă bỏ ra tới 200 tỷ Mỹ Kim. Sự kiện này được ông Lê Xuân Khoa ghi lại trong
cuốn Việt Nam 1945-1995 - Tập I với nguyên văn như sau:
“Hoa
Kỳ chi phí 200 tỉ đô la và thiệt hại 58,000 binh sĩ nhưng vẫn phải chịu thất
bại và bỏ cuộc; Việt Nam Cộng Ḥa chết hơn một trăm ngàn quân và gần nửa triệu
dân để rồi bị Hoa Kỳ bỏ rơi và sụp đổ thảm thương…” 7
V́ do
Pháp và Mỹ đài thọ tất cả mọi chi phí như đă nói ở trên, cho nên, trong thời
gian 1948-1954, chính quyền quốc gia trở thành chính quyền bù nh́n cho Liên
Minh Pháp- Vatican, và quân đội quốc gia chỉ là một thứ quân đánh thuê cho cái
liên minh xâm lược này, người Pháp nắm trọn quyền chỉ huy; và kể từ tháng 7/1954
cho đến ngày 30/4/1975, chính quyền miền Nam cũng chỉ là một thứ chính quyền bù
nh́n làm tay cho Liên Minh Mỹ - Vatican, quân đội miền Nam lại biến thành quân
đội đánh thuê cho cả hai thế lực xâm lăng mới này, và Mỹ nắm quyền quyết định
tối hậu. Chuyện rằng, vào đầu thập niên 1980, khi làn sóng vượt biển (thuyền
nhân) đang lên cao, có một cựu trung sĩ trong quân đội miền Nam vượt biển, đến
tŕnh diện tại trại tiếp cư ở Mă Lai và được nhập trại tỵ nạn ở đây để chờ được
phái đoàn Hoa Kỳ đến phỏng vấn. Khi tŕnh diện và khai với nhân viên trong phái
đoàn Hoa Kỳ đến trại tỵ nạn để làm thủ tục xin vào đinh cư ở Mỹ, ông cựu trung
sĩ này hứng chí khai là cựu trung úy. Sau khi phối kiểm với Bộ Quốc Pḥng Mỹ ở
Washington D.C. , nhân viên Hoa Kỳ này biết được đương sự chỉ là trung sĩ, chứ
không phải là trung úy. V́ ghét cái tính nói láo như vậy, nhân viên phái đoàn Mỹ
này quyết định bác đơn của đương sự xin vào Mỹ với lư do là khai gian lư lịch.
Nghe nói, sau đó, ông cựu trung sĩ này được phái đoàn Úc nhận cho vào định cư ở
Úc.
Câu
chuyện này ông trung sĩ khai gian lư lịch trên đây cho chúng ta thấy rơ Bộ Quốc
Pḥng Hoa Kỳ nắm giữ số sách tức là sổ lương tất cả các quân nhân miền Nam Việt
Nam từ anh binh nh́ đến ông Đại Tướng nắm giữ chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng Quân
Đội. Tương tự như vậy, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ và cơ quan CIA nắm giữ sổ lương tất
cả các nhân viên làm việc trong chính quyền miền Nam. Đó là cái lư đương nhiên
ai cũng phải công nhân. Lư đương nhiên này cũng giống như ông chủ một công ty
kinh doanh phải nắm giữ sổ lương của tất cả công nhân và nhân viên làm việc cho
công ty của ông ta.
Tóm
lại, về yếu tố này, miền Bắc phải tự túc, tự lực cánh sinh, tự sản xuất, hoàn
toàn trông cậy vào sự đóng góp của nhân dân để có tiền đài thọ cho tất cả các
phí khoản trả lương cho công nhân viên chính quyền, nuôi quân đánh giặc, chỉ cầu
viện nước bạn giúp vũ khí và hỗ trợ trong mặt trận ngoại giao mà thôi. Trong khi
đó, ở miền Nam, thật là hết sức bi thảm, từ cái kim sợi chỉ cho đến tất cả mọi
thứ tiền phụ cấp vợ con các cấp trong quân đội cũng như nhân viên các cấp trong
chính quyền đều do Hoa Kỳ móc tiền túi ra trả cho từng tháng một. Chính v́ lẽ
này mà các nhà viết sử gọi miền Nam là thuộc địa của Liên Minh Thánh Mỹ -
Vatican, chính quyền miền Nam là chính quyền tay sai của cái liên minh thánh
này, và quân đội Miền Nam là một thứ quân đội đánh thuê cho cả Mỹ và Vatican.
14.-
TÀI LỰC
Tài lực
là nguồn sống của quốc gia. Trong phạm vị tiểu mục này, tài lực được hiểu là bao
gồm tất cả tài nguyên cũng như căn bản hoạt động kinh tế trong nước và những
khoản tiền ngoại viện. Tài lực đồi dào phong phú và NẾU có chính quyền do dân
bầu ra, v́ dân mà làm việc và làm việc cho dân, TH̀ quốc gia sẽ trở nên giầu có
và hùng mạnh.
A.- Miền Bắc: Tài nguyên và căn bản hoạt động kinh tế ở miền Bắc là nông nghiệp. Tất cả mọi hoạt động trong các phạm vi sinh hoạt ở miền Bắc đều sử dụng những phương tiện thô sơ như thời trước năm 1945, đặc biệt nhất là phương pháp canh tác vẫn chưa được cải tiến theo đà tiến hóa của khoa học và kỹ thuật như các nước tiền tiến, nghĩa là c̣n lạc hậu và rất chậm tiến.
Về ngoại viện, hai nước chi viện lớn nhất cho miền Bắc là Liên Sô và Trung Quốc. Nhưng hai nước này chỉ viện trợ vũ khí (súng đạn) và quân cụ để trang bị cho các đạo quân chính quy và các binh đoàn pḥng không mà thôi. Các ngân khoản dành vào việc phát triển kinh tế, mở mang giáo dục và các lănh vực khác đều bị giới hạn tối đa, nếu không muôn nói là không có. Các nhà lănh đạo miền Bắc đều hiểu rằng, chi viện có nghĩa là cho vay và các nước nhận viện trợ phải hoàn trả món nợ này vào một thời điểm nào sau đó. V́ vậy, họ sử dụng các khoản tiền ngoại viện rất là cẩn trọng. Tất cả các nước chi viện cho miền Bắc đều không chi viện tiền để nuôi quân và trả lương hàng tháng cho nhân viên trong chính quyền và quân nhân các cấp trong quân đội. Tất cả những cán bộ nhân viên làm việc trong chính quyền cũng như quân nhân các cấp trong quân đội chỉ được nuôi ăn, nhận lănh đồng phục (rất giới hạn) và tiền diêm thuốc (cũng rất giới hạn). Những khoản tiền chi phí này đều do nhân dân miền Bắc tự túc bằng cách ra công sản xuất để lấy tiền và gạo cung ứng cho chính phủ nuôi quân để hoàn thành đại cuộc thống nhất đất nước cho dân tộc. Nói rơ hơn, tại miền Bắc, người con hay người chồng thoát ly đi phục vụ cho chính quyền bất kể là trong ngành chính trị, hành chánh hay quân đội, th́ cha mẹ hay vợ và con cái ở nhà phải nỗ lực tăng gia sản xuất, nố lực làm việc để lấy tiền đóng góp vào việc nuôi quân, nuôi các cơ quan chính phủ để cho họ được yên tâm thi hành nghĩa vụ của người dân đối với tổ quốc khi một phần đất nước c̣n nằm trong tay của kẻ thù dă man và thâm độc nhất là Giáo Hội La Mă liên minh với Hoa Kỳ. Sự kiện này được sách Lịch Sử Đảng Cộng Sản Việt Nam viết:
“Các
lực lượng vũ trang nêu cao khầu hiệu “Nhằm thẳng quân thù mà bắn”; công nhân
thực hiện khẩu hiệu “tay búa tay súng”; phấn đấu để đạt ba điểm cao sản xuất,
dũng cảm trong chiến đấu và bảo vệ nhà máy xí nghiệp; nông dân xă viên các hợp
tác xă thực hiện khẩu hiệu “tay súng tay cày”, phấn đấu mỗi lao động đạt 5 tấn
thóc, hai con lợn trên 1 ha (mẫu tây) gieo trồng. Đoàn thanh niên Lao Động có
phong trào “ba sẵn sàng” (sẵn sàng chiến đấu và phục vụ chiến đấu, sẵn sàng đi
bất cứ nơi nào và làm bất cứ việc ǵ mà Tổ Quốc cần; sẵn sàng ṭng quân, lên
đường diệt Mỹ; phụ nữ có phong trào “ba đảm đang” (sản xuất, công tác thay nam
giới đi chiến đấu; lo việc nhà để chồng con phục vụ trong quân đội; phục vụ
chiến đấu và chiến đấu tại chỗ chống chiến tranh phá hoại của Mỹ ở miền Bắc);
trí thức có phong trào “ba quyết tâm” (phục vụ tốt sản xuất, chiến đấu đời
sống; đẩy mạnh cách mạng kỹ thuật, cách mạng tư tưởng và văn hóa; đẩy mạnh xây
dựng đội ngũ trí thức xă hội chủ nghĩa); ngành giáo dục diễn ra phong trào
“hai tốt”…” 8 .
Đồng
thời, để giảm nhẹ cho nhân dân cái gánh nặng phải đóng góp vật lực cho chính
quyền, các đơn vị chủ lực địa phương (nếu không có hoàn cảnh th́ là phải tạo ra
hoàn cảnh để) cố gắng khai khẩn đất đai, tăng gia sản xuất để tự túc lấy gao ăn.
Sự kiện này được ông Dương Đ́nh Lôi, tác giả bộ sách "2000 Ngày Đêm Trấn Thủ Củ
Chi" ghi lại như sau:
"Với
khẩu hiệu tự lực cánh sinh, tự cung tự cấp, nên bộ đội vừa đánh giặc vừa tăng
gia sản xuất lúa gạo hoặc làm cá mắm để ăn trong đơn vị chủ lực địa phương. Ví
dụ, đến mùa làm ruộng, các đơn vị phải chiết ra các phân đội để làm ruộng luân
phiên với nhau.
Hệ
thống cung cấp lúa gạo cho các đơn vị bộ đội tùy theo nguồn thu nhập được ở
mỗi địa phương:
Xă lo
cho hệ thống chánh quyền cấp xă của ḿnh và dân quân tự vệ. Huyện lo cho địa
phương quân của huyện. Tỉnh lo cho bộ đội tập trung của tỉnh (cấp tiểu đoàn ở
mỗi tỉnh). Bộ đội chủ lực của khu (như Tiểu Đoàn 307 của miền Tây hay Tiểu
Đ̣an 303 của miền Đông th́ do hậu cần của mỗi khu cung cấp).
Ở mỗi
cấp xă, huyện, tỉnh, sau khi được qui định số lương để lại cho địa phương, số
tồn dư phải báo cáo về cấp trên và tồn trữ số lương thực đó để cung cấp cho
lực lượng của khu.” Lời ghi lại của tác giả Dương Đ́nh Lôi trong buổi nói
chuyện với người viết tại nhà của tác giả vào buổi sáng ngày Thứ Sáu
25/7/2000.
B.- Miền Nam: So với miền Bắc, miền Nam có nhiều ưu thế hơn. Riêng về nông nghiệp, miền Nam cũng đă có ưu thế hơn miền Bắc rất nhiều. Trong khi đồng bằng sông Hồng được coi là vựa lúa nuôi sống người dân miền Bắc cũng chỉ có 15 ngàn cây số vuông, th́ miền Nam có đồng bằng sông Cửu Long rộng tới 45 cây số vuông và đồng bằng sông Đồng Nai rộng vào khoảng 22 ngàn cây số vuông, cộng chung lại là 67 ngàn cây số vuông. Hơn nữa, đất đai của cả hai đông bằng sông Cửu Long và sông Đồng Nai đều ph́ nhiêu hơn đất đai đồng bằng sông Hồng ở miền Bắc. Ngoài hai yếu tố này, miền Nam lại c̣n được thiên nhiên ưu đăi là không có nạn băo, lụt, hầu như không có nạn hạn hán, và mùa đông không giá lạnh như miền Bắc. Tất cả những yếu tố này làm cho miền Nam trở thành giầu có và phong phú hơn miền Bắc rất nhiều.
Ngoài những sự kiện trên đây, miền Nam Việt Nam và chính quyền miền Nam được coi như đứa con do Liên Minh Thánh Mỹ - Vatican sinh đẻ ra, được Hoa Kỳ bỏ tiền ra như nước để nuôi dưỡng, rèn luyện và phát triển thành tiền đồn ngăn chặn làn sóng Cộng Sản tràn xuống từ phương Bắc. Như đă tŕnh bày ở trên, số tiền Hoa Kỳ đổ ra viện trợ Miền Nam trong thời gian 1954-1975 lên đến 200 tỉ Mỹ kim.
Tóm lại, về yếu tố tài lực, miền Nam có nhiều lợi
thế hơn miền Bắc.
CHƯƠNG 88
15.- QUY CHẾ LƯƠNG BỔNG CỦA QUÂN NHÂN VÀ CÔNG CHỨC
Quốc gia nào cũng có bộ máy chính quyền gồm có các cán bộ cao cấp cùng các tổ chức như quân đội, cảnh sát công an, t́nh báo và các cơ quan đặc nhiệm, v.v… Tất cả những nhân viên phục vụ trong các cơ quan này ở bên dân sự cũng như bên quân sự đều phải được trả lương hàng tháng nhiều hay ít tùy theo chức vụ, cấp bậc và khả năng chuyên môn. Đây là một sự thật bất khả phủ bác và là quy luật chung đối với tất cả các quốc gia đă ổn định hay các thuộc địa nằm dưới ách thống trị của một đế quốc thực dân xâm lược. Tuy nhiên, quy luật này lại không thể áp dụng được ở trong một chính quyền do một lực lượng nghĩa quân kháng chiến vùng lên đánh đuổi quân xâm lăng để giành lại chủ quyền độc lập cho dân tộc. Lư do rất đơn giản là những chính quyền này thường thường quá nghèo và gồm toàn những người tự nguyện hy sinh cuộc đời vào đại cuộc cứu nước, không đ̣i hỏi ǵ cả. Đây cũng là một sự thật bất khả phủ bác và cũng là quy luật lịch sử. Lịch sử cho chúng ta thấy rằng các chính quyền của các tổ chức nghĩa quân dưới quyền lănh đạo của các nhà ái quốc như Trương Công Định, Nguyễn Trung Trực, Mai Xuân Thưởng, Phan Đ́nh Phùng, Hoàng Hoa Thám, Nguyễn Thái Học, v.v… và Mặt Trận Việt Minh (trong những năm 1941-1954) đều không thể nào áp dụng quy luật trả lương hàng tháng hậu hĩ cho những người phục vụ trong tổ chức để họ bao bọc và nuôi sống vợ con như các chính quyền của một nước độc lập b́nh thường như Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Nhât, v.v…, hay chính quyền tay sai của Mỹ ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975, ở Irak và ở Afghanistan hiện nay.. Chính quyền miền Bắc trong những năm 1954-1975 có áp dụng quy luật này hay không, phần tŕnh bày dưới đây cho chúng thấy rơ vấn đề này.
A.-
Miền Bắc: Như đă tŕnh bày trong tiểu mục 14 nói về tài lực, miền Bắc nghèo
nàn về tài nguyên, đặc biệt là về ruộng đất canh tác. Hơn nữa, trong suốt thời
kỳ Kháng Chiến 1945-1954 cũng như trong thời Chiến Tranh Thống Nhất Đất Nước
1954-1975, miền Bắc đều không nhận được một khoản tiền ngoại viện nào về lương
thực để nuôi quân. Ngoài ra, cả hai thời kỳ này, đều bị các chiến tầu và phi cơ
oanh tạc của Liên Minh Pháp – Vatican và Liên Minh Mỹ - Vatican liên đánh phá và
triệt hạ các cứ điểm quân sự và cơ sở kinh tế. T́nh trạng này làm cho người dân
miền Bắc vốn đă phải gồng ḿnh nỗ lực tăng gia sản xuất để tự lực nuôi quân đánh
giặc cứu nước lại cần phải cố gắng nhiều hơn để vượt qua những khó khăn do
những cuộc hải kích và không kích của Hoa Kỳ gây ra. Cũng v́ thế mà chính quyền
Việt Minh mới đưa ra khẩu hiệu, “Làm ngày không đủ, tranh thủ làm đêm và làm
thêm vào ngày Chủ Nhật”. Hiểu rơ nỗi khổ của người dân, một mặt chính quyền
ra lệnh cho các đơn vị bộ đội chủ lực tại các địa phương phải tăng gia sản xuất
để tự túc, mặt khác, chính quyền ban hành một quy chế về ăn uống và tiền phụ cấp
diêm thuốc rất khiêm tốn cho tất cả các công nhân viên chính quyền cũng như cho
tất cả các anh em bộ đội các cấp, và tất cả đều không có phụ cấp gia đ́nh. Quy
chế này tương đối đồng đều không phân biệt cấp bậc. Sự kiện này được ông Dương
Đ́nh Lôi ghi nhận như sau:
“Về
quân trang, quân dụng cũng không có chế độ qui định cấp phát hàng năm mà tùy
thuộc nếu có th́ phân phát.
Không
có chế độ tiêu chuẩn ăn uống và tiền ăn, chỉ có gạo, thông thường mỗi ngày một
lít (khoảng 800 gram) cho một đầu người. Nhiều khi địa phương chỉ cung cấp
lúa. Mỗi đơn vị tự phải xay lúa thành gạo để ăn.
Không
có chế độ phân biệt ưu đăi cấp trên hay dưới hoặc thương bệnh binh.
Tuy
nhiên, ở các cấp khu và Trung Ương Cục Miền Nam, các ủy viên cao cấp đều sinh
họat riêng bao gồm cả vợ con có nhà riêng, bếp riêng, tiền ăn uống của họ
không rơ, nhưng không có chế độ hưu bổng chánh thức được ban hành.
Ở mỗi
đơn vị tác chiến, thường thường ăn riêng từng tiểu đội, tự lực đóng ở nhà dân,
dựa vào dân để xin mắm, muối, vân vân. C̣n gạo th́ được cung cấp. Cán bộ các
cấp đều ăn chung tiêu chuẩn với binh sĩ. (Tùy thuộc sự cải thiện của ḿnh và
sự giúp đỡ của nhà (gia đ́nh) đóng quân.
Trong
bộ đội ở cấp khu như Khu Trưởng, các trưởng pḥng tham mưu, chính trị, hậu cần
th́ có nhà riêng (nhưng không rơ chế độ cung cấp bao nhiêu). C̣n ở văn pḥng,
các cấp trưởng ban đều ăn bếp chung với nhân viên cấp dưới.
Các đơn vị tác chiến, từ cấp tiểu đ̣an trở xuống đều ăn chung với chiến sĩ. Không có tiền (phụ cấp) sinh họat hàng tháng, toàn xin của dân hay gia đ́nh giúp đỡ.
Trong thời gian Kháng Chiến, thông thường các Bộ Chỉ Huy Tiểu Đ̣an hay Trung Đ̣an thường đóng quân ở những nhà rộng răi (ṭan thành phần địền chủ) để được đăi ngộ." Lời ghi lại của tác giả Dương Đ́nh Lôi trong buổi nói chuyện với người viết tại nhà của tác giả vào buổi sáng ngày Thứ Sáu 25/7/2000.
Bản văn trên đây cho chúng ta thấy rơ chính sách cấp phát lương thực cho quân nhân các cấp của miền Bắc. Dù sao chính sách này cũng đă tạo nên được sự công bằng tương đối trong quân đội. Hơn nữa, ngoài sự gần như b́nh đẳng về lương bổng và ăn uống, bộ đội miền Bắc cũng như quân đội Giải Phóng Miền Nam c̣n có đặc điểm là cán bộ chỉ huy từ cấp tiểu đoàn trở xuống và anh em bộ đội cùng sống bên nhau, cùng sinh hoạt chính trị và văn nghệ với nhau hàng ngày. T́nh trạng này đă trở thành một chất keo gắn bó giữa những anh em bộ đội cùng một đơn vị, khiến cho t́nh đồng đội của họ càng trở nên khắng khít. Đây là tinh thần hăng say chiến đấu và t́nh đồng đội trong quân đội miền Bắc hay Quân Đội Nhân Dân, hậu thân của Quân Đội Kháng Chiến Việt Nam trong thời 1945-1954.
B.-
Miền Nam: Khác hẳn với miền Bắc, tại miền Nam, toàn bộ công chức trong tất
cả các cơ quan trong chính quyền cũng như toàn thể quân nhân các cấp trong tất
cả các quân binh chủng, chính quy, chủ lực địa phương, bán quân sự (cảnh sát,
công an, mật vụ, lực lượng đặc biệt) đều được Hoa Kỳ chu cấp tiền lương hàng
tháng hậu hĩ cho từng người và phụ cấp cho toàn bộ gia đ́nh vợ con nhằm bảo đảm
cho họ có đời sống đầy đủ phong lưu để họ yên bề làm việc đắc lực cho chính
quyền. Thế nhưng, Hoa Kỳ lại KHÔNG sử dụng quy chế lương bổng đă được áp dụng để
trả lương cho công chức và quân nhân của Hoa Kỳ ở Hoa Kỳ và cũng KHÔNG áp dụng
quy chế lương bổng mà chính quyền Hoa Kỳ đă và đang áp dụng để trả lương cho
người Việt làm việc cho chính quyền Mỹ ở Việt Nam lúc bấy giờ. Căn cứ vào sự
kiện trên đây và căn cứ vào khác biệt quá xa giữa đồng lương hàng tháng và phụ
cấp gia đ́nh của những nhân viên cấp dưới thuộc ngạch D so với đồng luơng hàng
tháng và phụ cấp gia đ́nh của những người thuộc các ngạch C, B và A trong giới
công chức cũng như sự khác biệt về đồng lương hàng tháng và phụ cấp gia đ́nh của
những quân nhân thuộc hàng binh sĩ, đặc biệt là từ cấp hạ sĩ xuống tới b́nh nh́
so với đồng lương hàng tháng và phụ cấp gia đ́nh của các cấp trên của họ từ hạ
si I trở lên, chúng ta thấy cái quy chế lương bổng này là do chính quyền Miền
Nam chủ trương với mục đích ăn bớt tiền lương và tiền phụ cấp gia đ́nh của đại
khối quân nhân thuộc hàng binh sĩ để tăng lương cho nhân vật lănh đạo và những
tay sai đắc lực thuộc hàng cán bộ cao cấp, trung cấp và dành cho quỹ mật dành
cho tổng thống. Để giúp cho độc giả có cái nh́n rơ vấn để này, người viết xin
ghi lại phần tŕnh bày về quy chế lương bổng của anh em quân nhân và công chức ở
miền Nam trong những năm 1954-1975.
I.-
Về đồng lương hàng tháng của một quân nhân trong hàng binh sĩ và tân binh quân
dịch.- Khi nói về đồng lương hàng tháng của anh em tân binh quân dịch và của
một người công chức hạng trung trong thời Đệ Nhất Cộng Ḥa, nhà văn Nguyễn Ngọc
Ngạn viết trong cuốn Xóm Đạo như sau:
“Lương
công chức hạng trung b́nh chỉ có hơn hai ngàn. Thuê một người ở tại nhà, tháng
trả năm trăm. Tân binh quân dịch lănh tháng sáu trăm.”1
Trong
câu văn tuyên bố khẳng định trên đây của nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn, có một điều
sai lầm quá lớn về số tiền lương hàng tháng của công chức hạng trung b́nh và về
tiền lương hàng tháng của anh em tân binh quân dịch.
Để làm
sáng tỏ vấn đề này, trước hết, người viết xin tŕnh bày về tiền lương hàng tháng
của anh em tân binh quân dịch cũng như đồng lương hàng tháng và phụ cấp gia đ́nh
của quân nhân các cấp trong quân đội, tiếp theo là phần tŕnh bày về quy chế
lương bổng của anh em công chức ở miền Nam trong những năm 1954-1975.
Theo
kinh nghiệm bản thân đă từng phục vụ trong binh chủng Không Quân từ ngày
20/1/1956 đến ngày 1/8/1960, người viết biết rơ anh em tân binh quân dịch trong
hai năm từ ngày 1/1/1957 cho đến ngày 31/12/1958, (có thể kéo dài hơn thế nữa),
mỗi ngày chỉ có 4 đồng hay mỗi tháng chỉ được phát cho có 120 đồng. Ngay cả binh
nh́ hiện dịch, trừ tiền nuôi cơm rồi, mỗi người cũng chỉ được phát cho khoảng
519 đồng mỗi tháng, binh nhất vào khỏang 545 đồng, và hạ sĩ vào kḥang 581 đồng
một tháng.
Trong
khi đó, tiền lương của một chuẩn úy mới ra trường là 3250 đồng, phụ cấp hàng
tháng cho người vợ của họ vào khoảng 600 đồng, và mỗi đứa con mỗi tháng khoảng
500 đồng. Lương của một thiếu úy độc thân mỗi tháng vào khỏang 3.700 đồng và
tiền phụ cấp vợ con của họ cũng cao hơn so với tiền phụ cấp vợ con cho các sĩ
quan cấp bậc chuẩn úy.
Phụ cấp
hàng tháng cho người vợ của binh nh́, binh nhất và hạ sĩ là 30 đồng. Trong khi
đó, phụ cấp cho một người vợ của sĩ quan cấp thiếu úy trở lên là khoảng từ 800
đồng đến 1000 đồng một tháng. Phụ cấp hàng tháng đồng đều cho mỗi đứa con của
binh nh́, binh nhất và hạ sĩ là một 100 đồng. Trong khi đó, phụ cấp cho mỗi đứa
con của một sĩ quan từ cấp thiếu úy trở lên ít nhất là 800 đồng, và đứa con thứ
3 vọt lên tới 1300 một tháng.
Nếu đồn
trú ở hậu cứ hay là lính văn pḥng mà có vợ, nếu làm đơn xin phép và được chấp
thuận, th́ một binh nh́ hiện dịch (hay trừ bị) sẽ không bị khấu trừ khoản tiền
nuôi cơm là 450 đồng một tháng. Một hạ sĩ Không Quân có vợ ba con, được hưởng
quy chế ăn cơm với vợ (không bị trừ khỏan tiền nuôi cơm), mỗi tháng chỉ được có
1430 đồng (một ngàn bốn trăm ba mươi đồng).
Anh em
tân binh quân dịch sau khi măn nhiệm kỳ 12 tháng, sẽ bị cưỡng bách phải lưu ngũ
và sẽ được hưởng quy chế lương hàng tháng giống như một binh nh́ hiện dịch,
nghĩa là được lănh 519 đồng một tháng. Số tiền này tương đương với tiền công của
một em bé hay bà già đi ở đợ cho người ta vào lúc bấy giờ như nhà văn Nguyễn
Ngọc Ngạn đă khẳng định ở trên. Sự kiện này chứng tỏ rằng chính quyền thời Đệ
Nhất Cộng Ḥa đối xử với quân nhân hàng binh sĩ (từ cấp hạ sĩ I trở xuống) giống
như những ông bà chủ đối xử với con ở hay những tên nô lệ trong gia đ́nh của họ.
T́nh trạng này kéo dài đến giữa năm 1964. Vào thời điểm này, khi lên nắm quyền thủ tướng chính phủ (vào ngày 30/1/1964), Tướng Nguyễn Khánh sửa đổi một chút ít về tiền phụ cấp vợ con của hàng binh sĩ, (kỳ dư vẫn không thay đổi, nghĩa là vẫn giữ những đặc quyền về phụ cấp vợ con của hàng hạ sĩ quan và sĩ quan.)
Nhân
tiện đây, thiết tưởng cũng nêu lên một vấn đề để mọi người cùng suy nghĩ về một
việc mà chúng ta cũng nên t́m hiểu. Trong số một nửa triệu quân nhân trong Quân
Đội Miền Nam vào mùa Xuân năm 1963 và tới những năm đầu thập niên 1970, con số
này lên đến gần hai triệu, chúng ta đặt ra vấn đề:
1.- Có bao nhiêu quân nhân từ chuẩn úy lên đến cấp đại tướng?
2.- Có bao nhiêu quân nhân thuộc hàng hạ sĩ quan (từ cấp bậc trung sĩ lên đến thượng sĩ nhất)?
3.- Có
bao nhiêu quân nhân thuộc hàng binh sinh sĩ (từ cấp bậc hạ sĩ nhất trở xuống)?
Theo
người viết, con số quân nhân từ cấp chuẩn úy đến cấp đại tướng chắc chắn là
không quá 20 ngàn (20.000). Con số quân nhân từ cấp trung sĩ đến thượng sĩ nhất
có thể gấp bốn lần con số thuộc hàng sĩ quan, nghĩa là vào khoảng 80 ngàn
(80.000). Con số c̣n lại trên một triệu quân (trong những năm 1967-1975) toàn là
những quân nhân thuộc hàng binh sĩ.
Ta có
thể ví con số khoảng 20 ngàn sĩ quan cấp chuẩn úy cho đến cấp đại tướng trong
quân đội miền Nam, đặc biệt là những sĩ quan nắm giữ các chức vụ chỉ huy, đă
hành xử giống như những tên bạo chúa hay ít ra cũng giống như các ông của công
ty đồn điền cao su trong các tỉnh miền Đông Nam Kỳ và Cao Nguyên Nam Trung Kỳ
hay ông chủ của các công trường khai thác than đá ở Ḥn Gay, Cẩm Phả và Uống Bí
trong những năm 1900-1945; và con số 80 ngàn hạ sĩ quan này đối xử với các anh
em quân nhân trong hàng binh sĩ (từ hạ sĩ I trở xuống) giống như là những tên
cai phu đối xử với anh em công nhân trong các đồn đ́ền hay trong các công trường
khai thác quặng mỏ này.
Con số hơn một triệu quân nhân c̣n lại đều thuộc hàng binh sĩ. Con số binh sĩ khổng lồ này bị chính quyền đối xử như một thứ con ở, làm nô lệ cho các quan lớn quan nhỏ, họ phải đổ mô hôi nước mắt và xương máu ra trong 24 giờ một ngày và 365 ngày một năm để rồi được xí cho mỗi tháng một số tiền ốm đói không bằng tiền làm công của một người ít học, ngu dốt đi ở đợ cho người ta như tác giả Nguyền Ngọc Ngạn đă nêu lên trong Xóm Đạo “Thuê một người ở tại nhà, tháng trả năm trăm.” (tr 194 và tr 386). Từ sự kiện này, người viết xin đặt mấy vấn đề như sau:
1.- Bị đối xử không bằng một đứa ở trong một gia đ́nh hay một tên nô lệ của các quan lớn quan nhỏ trong chính quyền và trong quân đội, hơn một triệu anh em binh sĩ trong quân đội miền Nam chiến đấu cho cái ǵ? và chiến đấu cho ai?
2.- Bảo
rằng họ chiến đấu cho dân chủ và tự do, xin hỏi, đối với khoảng hơn một triệu
anh em binh sĩ trong quân đội và đại khối nhân dân bị trị ở miền Nam có được
hưởng các quyền tự do dân chủ hay không?
3.- Hay
là họ phải chiến đấu để bảo vệ cái quyền làm lănh chúa, cái quyền ăn trên ngồi
trốc, hét ra lửa mửa ra khói của các ông giám mục, linh mục, các ông tướng, tá
và nhóm thiểu số tay sai của Giáo Hội La Mă và của chính quyền?
4.- Rơ
ràng hơn hết, ở ngay tại Hoa Kỳ này, trong cái gọi là Đại Hội Toàn Quân của các
ông Lê Minh Đảo, Nguyễn Xuân Vinh, Lư Ṭng Bá, Nguyễn Bá Cẩn, Nguyễn Văn Canh,
v.v…, có người nào thuộc hàng hạ sĩ quan, binh sĩ, hoặc các ông bà công chức
hang D (ngạch tùy phái, lao công) và hang C (thư kư văn pḥng, thư kư đánh máy,
giáo viến ấp) ở trong cái tổ chức quái đản này không? Hay là chỉ có những ông sĩ
quan cấp úy trở lên và công chức hạng A, nghĩa là gồm toàn những người đă từng
sử dụng (sai khiến) quân nhân trong hàng binh sĩ và công chức cấp dưới như những
con ở.
5.-
Tương tự như vậy, trong các hội đoàn quân nhân của các quân binh chủng tại các
địa phương ở Bắc Mỹ, có người nào vốn là cựu quân nhân thuộc hàng binh sĩ hay
công chức hang D ở trong đó không? Hay chỉ toàn là cựu sĩ quan, những cựu viên
chức có vai vế trong chính quyền miền Nam trước kia, những người đă làm giầu bất
chính trong những năm chiến tranh và những con cháu của những người này mà thôi?
Nêu lên
mấy vấn đề trên, người viết mong rằng mọi người trong chúng ta hăy suy nghĩ và
t́m ra câu trả lời.
II.- Về đồng lương hàng tháng của một công chức.- Cũng theo kinh nghiệm của người viết đă từng là công chức phù động hạng B1 từ ngày 22/8/1960 đến ngày 15/4/1961 tại Nha Cải Cách Điền Địa (nằm trên Đường Mạc Đĩnh Chi, đối diện với Hội Việt Mỹ), rồi đổi về Nha Quản Thủ Điền Địa (tại 141 đường Yên Đổ, Sàig̣n), và cũng đă từng là công chức chính ngạch hạng A từ tháng 9/1964 cho đến ngày 30/4/1975, người viết khẳng định lời nói trên đây của tác giả Nguyễn Ngọc Ngạn về đồng lương hàng tháng của một người công chức hạng trung là hoàn toàn sai với sự thật.
Để có
cái nh́n rơ rệt về sự khác biệt giữa đồng lương của những công chức hang D
(ngạch lao công và tùy phái) với đồng lương hàng tháng của các công chức thuộc
các hang C (trung b́nh), hạng B (nắm giữ những chỉ huy cấp nhỏ và trung trung)
và hạng A (nắm giữ những chức vụ chỉ huy cao cấp hay là phục vụ trong các ngành
đ̣i hỏi phải có cấp bằng đại học), xin độc giả theo dơi phần tŕnh bày dưới đây:
Theo sự
hiểu biết của người viết, công chức chính ngạch ở miền Nam Việt Nam trong những
năm 1954-1975 được chia ra là bốn hạng:
1.-
Hạng A thường là dành cho những người tốt nghiệp đại học từ 3 năm trở lên với
chỉ số lương hai năm khởi đầu (gọi là những năm tập sự - Probation) ít nhất là
430. Thí dụ: Những người tốt nghiệp Quốc Gia Hành Chánh mới ra trường có chỉ số
lương là 430, những người mới tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm 3 năm (sau năm 1964 đổi
thành 4 năm) mới ra trường có chỉ số là 470, những người tốt nghiệp dược khoa và
y khoa sẽ có chỉ số lương cao hơn nếu so với ngành sư phạm như trên v́ số năm
học của họ nhiều hơn.
Những
người thuộc loại con ông cháu cha dù không đủ tiêu chuẩn về bằng cấp đại học
nhưng cũng được đôn lên ngạch A do những người có thế lực trong chính quyền chủ
động. Thường thường những người này lại được cho nắm giữ những chức vụ chỉ huy.
2.- Ngạch B c̣n gọi là ngạch tham sự và cán sự. Phần lớn những người này mới bắt đầu vào ngạch có chỉ số lương từ 320 hay 370. Thí dụ: Một người có bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp, tốt nghiệp trường cán sự y tế (3 năm), mấy năm đầu có chỉ số lương là 370, giáo sinh sư phạm (giáo học bổ túc) có bằng Tú Tài I và hoàn tất hai năm sư phạm, hai năm mới ra trường (tập sự) có chỉ số lương là 320. Một người có bằng Tú Tài II, theo học khóa sư phạm 1 năm, khi tốt nghiệp được xếp ngạch giáo viên đệ nhất cấp, hai năm đầu tiên (tập sự) có chỉ số lương là 370.
3.-
Ngạch C thuộc ngạch thư kư hành chánh và thư kư đánh máy. Thư kư hành chánh có
chỉ sồ lương cao hơn ngạch thư kư đánh máy. Một người có bằng Trung Học Đệ Nhất
Cấp (vào năm 1960) được nhập ngạch thư kư hành chánh mấy năm đầu (tập sự), có
chỉ số lương là 220. Một người có bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp tốt nghiệp khóa sư
phạm 1 năm, khi ra trường được xếp vào ngạch giáo viên tiểu học, mấy năm đầu, có
chỉ số lương là 250. Từ năm 1962 trở về sau, chính quyền hủy bỏ những kỳ thi lấy
bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp. Cũng từ năm này, chính quyền cho mở các lớp học đào
tạo giáo viên bổ túc với chương tŕnh huấn luyện là hai năm. Muốn theo học các
khóa học này, giáo sinh phải có bằng Tú Tài I (đă hoàn tất lớp 11) và phải qua
một kỳ thi tuyển. Tốt nghiệp, giáo sinh được bổ dụng ngạch giáo học bổ túc với
chỉ số lương là 320. Như vậy, tùy theo số năm học trong thời gian huấn luyện,
giáo viên tiểu học có thể là thuộc ngạch C nếu chỉ có bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp
và theo học khóa sư phạm một năm, và cũng có thể thụôc ngach B nếu có bằng Tú
Tài I và theo học khóa sư phạm bổ túc với chương tŕnh huấn luyện là hai năm.
4.-
Ngạch D thuộc ngạch tống thơ văn (tùy phái trong văn pḥng hay lao công quét
trường, lao công làm công viên) có bằng tiểu học hay không cần bằng cấp nếu được
thâu nhận tính theo chỉ số mấy năm đầu tiên có chỉ số là 100.
Trên
đây là nói về chính ngạch. C̣n một loại nữa gọi là ngoại ngạch. Loại ngọai ngạch
được chia ra làm loại công nhật và lọai phù động. Công nhật là những người được
mướn làm vĩnh viễn, và phù động là những người được mướn làm công việc theo dự
án (chương tŕnh hay phương án), khi dự án hoàn tất có thể bị cho nghỉ. Về ngạch
trật A, B, C và D th́ công nhật và phù động cũng được tính theo nguyên tắc dựa
vào bằng cấp và số niên học về ngành chuyên môn đă được huấn luyện. Về quyền lợi
và lương bổng th́ không kém bên chính ngạch là bao nhiêu. Người viết không am
tường lắm về trường hợp này.
Cách
tính lương.- Tiền lương hàng tháng của các công chức chính ngạch thuộc các
ngạch (hay hạng) trên đây đều được tính theo công thức:
(11.50
X Chỉ số lương) + (phụ cấp nghề nghiệp + phụ cấp đắt đỏ) = Tiền lương hàng
tháng.
Thí dụ,
một giáo viên tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm (3 năm) với chỉ số 470 được tính như
sau:
(11.50 X 470) + 800 + 1.200 = 7.405 đồng một tháng (độc thân). Phụ cấp vợ vào khỏang 1,000 một tháng, và phụ cấp cho mỗi đứa vào khoảng từ 800 đến 1,000 đồng một tháng.
Đây là
trường hợp các giáo viên ngạch đệ nhị cấp mới ra trường vào năm 1964.
Một
người có bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp được xếp ngạch thư kư hành chánh với chỉ số
220, hai năm đầu tiên được tính lương hàng tháng như sau:
(11.50
X 220) + 300 + 1.200 = 4.030 đồng một tháng (độc thân)
Những
người giữ những chức vụ chỉ huy th́ có thêm tiền phụ cấp chức vụ. Thí dụ như phụ
cấp chức vụ chủ sự là 500 đồng, 600 hay 800 đồng một tháng (tùy theo số nhân
viên dưới quyền chỉ huy), phụ cấp chức vụ hiệu trưởng trường trung học đệ nhị
cấp vào khoảng 1,200 đồng một tháng. Ng̣ai luơng căn bản trên đây, tất cả các
công chức đều được hưởng tiền phụ cấp gia đ́nh (vợ và các con). Số tiền này
nhiều hay ít là tùy theo ngạch trật. Ngạch A và B, phụ cấp vợ khoảng từ 800 đến
1.000 đồng một tháng và mỗi đứa con cũng được vào khoảng đó.
Qua bản
tính lương trên đây, chúng ta thấy, lương hàng tháng của người công chức ngạch
thấp nhất là ngạch tùy phái với chỉ số 100, hai năm đầu tiên cũng được:
(11.50
X 100) + 1000 = 2.150 đồng một tháng (độc thân)
Như vậy
là trong thời Đệ Nhất Cộng Ḥa, tiền lương hàng tháng của người công chức ngạch
thấp nhất cũng đă nhiều hơn 2000 đồng và “Công chức hạng trung một tháng” tức là
ngạch C (thư kư hành chánh và giáo viên tiểu học có bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp
và qua 1 năm huấn luyện) cũng có hơn 4,000 đồng một tháng. Đây là một sự thực.
Sự thực này chứng tỏ tác giả Nguyễn Ngọc Ngạn nói sai về một sự kiện trong lịch
sử.
Cũng
nên biết, trong công thức tính lương công chức: (11.50 X chỉ số) + (phụ cấp nghề
nghiệp + phụ cấp đắt đỏ) có 2 phần: Phần (11.50 X chỉ số lương) vẫn giữ nguyên
vẹn từ 1955 (có lẽ trước đó) cho đến ngày 30/4/1975. Phần (phụ cấp đắt đỏ + Phụ
cấp nghề nghiệp + phụ cấp chức vụ) bắt đầu thay đổi v́ t́nh trạng lạm phát do
ông Tổng Trưởng Kinh Tế Phạm Kim Ngọc đưa ra biện pháp kinh tế mới vào cuối
tháng 9 năm 1969 hạ giá đồng bạc Việt Nam từ một đồng Mỹ kim theo giá chính thức
là 35 đồng (giá chợ đen là 70 đồng) tăng lên theo giá chính thức là trên 100
đồng Việt Nam, và giá không chính thức là khoảng 235 đồng (người viết không nhớ
rơ đích xác là bao nhiêu). Cho đến cuối năm 1974, một đồng Mỹ Kim lên tới hơn
hai ngàn đồng và từ đầu năm 1975 cho đến cuối tháng 4 năm đó, lúc chính quyền
Miền Nam Việt Nam ră đám th́ một Mỹ Kim ăn hơn 8 ngàn ngàn đồng Việt Nam. Cũng
v́ t́nh trạng này mà qũy mật dành cho Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm thời Đệ Nhất Cộng
Ḥa 98 triệu đồng một năm, và dành cho Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu thời Đệ Nhị
Cộng Ḥa lên đến 450 triệu. (Đỗ Mậu, Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi
(Westminster, CA: Văn Nghệ, 1993), tr. 442.
SO
SÁNH: Một hạ sĩ không Quân có 1 vợ và 3 con vào năm 1960 được lĩnh 1.430 đồng
một tháng. Cũng t́nh trạng 1 vợ và 3 con như vậy, một công chức phù động ngạch
B1 (có bằng Tú Tài II) tại Nha Cải Cách Điền Địa được lănh 4.850 đồng một tháng
(cũng vào năm 1960).
Phần
tŕnh bày trên đây cho chúng ta thấy:
1.- Số
tiền lương hàng tháng của anh em tân binh quân dịch mà tác giả Nguyễn Ngọc Ngạn
nêu lên trong sách Xóm Đạo đă được thổi phồng lên nhiều gấp 5 lần hơn số tiền mà
họ thực sự được lănh. (Nghĩa là thực sự, chính quyền Ngô Đ́nh Diệm chỉ xí cho
anh em tân binh quân dịch có 120 đồng một tháng, số tiền này chỉ chưa được bằng
¼ (25%) số tiền mà tác giả Nguyễn Ngọc Ngạn đă nêu lên ở trong sách Xóm Đạo.)
2.- Số
tiền “Lương công chức hạng trung” mà tác giả Nguyễn Ngọc Ngạn nêu lên trong sách
Xóm Đạo đă bị giảm thiểu xuống chỉ bằng một nửa (1/2) số tiền mà họ thực sự được
lănh.
Người
viết không biết tác giả Nguyễn Ngọc Ngạn đă có chủ tâm giảm đi một nửa tiền
lương củaq anh em công chức hạng trung (thời ĐỆ Nhất Cộng Ḥa) để tạo nên cái vẻ
có sự công bằng về đồng lương của người lính tân binh quân dịch và đồng lương
của người công chức hạng trung thời bấy giờ, hay là đây chỉ là một sai lầm mà
tác giả Nguyễn Ngọc Ngạn không am tường về chế độ lương bổng của anh em tân binh
quân dịch cũng như không am tường về đồng lương của anh em quân nhân và công
chức trong chính quyền miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975.
Hy vọng
rằng, viết câu văn liên quan đến một sự kiện lịch sử một cách sai lầm như trên,
chỉ là một do nơi tác giả Nguyễn Ngọc Ngạn không am tường về đồng lương hàng
tháng của anh em tân binh quân dịch và của anh em công chức hạng trung hay là do
sự hứng chí mà cương ẩu mà thôi, chứ tác giả Nguyễn Ngọc Ngạn không có chủ tâm
thổi phồng đồng lương hàng tháng của anh em tân binh quân dịch và cũng không cố
ư giảm thiểu “tiền lương người công chức trung b́nh” với mục đích lạc dẫn người
dân hiểu lầm rằng chính quyền miền Nam lúc bấy giờ đăi ngộ anh em tân binh quân
dịch và quân nhân hàng binh sĩ (nhất là từ hạ sĩ trở xuống) rất tử tế, ngang
hàng với công chức hạng trung trong chính quyền.
3.- Tác
giả Nguyễn Ngọc Ngạn không hề là công chức trong chính quyền thời Đệ Nhất Cộng
Ḥa.
4.- Tác
giả Nguyễn Ngọc Ngạn không am hiểu chính sách đối xử với anh em tân binh quân
dịch của chính quyền thời Đệ Nhất Cộng Ḥa.
5.-
Trước khi viết những lời khẳng định trên đây, tác giả Nguyễn Ngọc Ngạn không t́m
hiểu chế độ lương bổng của nhân viên công quyền trong các chính quyền miền Nam
Việt Nam trong những năm 1954-1975, nghĩa là ông đă cương ẩu.
Tóm
lại, về yếu tố này, đặc biệt là về phương diện đồng lương hàng tháng của công
nhân viên nhà nước và quân nhân, ở miền Nam, các cán bộ trung cấp được ưu đăi
nhiều hơn, nhưng công chức thuộc ngạch trật thấp nhất và những anh em quân nhân
từ hạ sĩ xuống tới binh nh́ là những người bị thiệt tḥi nhiều nhất, bị khinh rẻ
nhiều nhất và bị đối xử như những tên nô lệ của chế độ. T́nh trạng này đă gây
nên tệ trạng bất công trong quân đội, từ đó những thành phần quân nhân thuộc
hàng binh sĩ sinh ra bất măn với chế độ. Đây là một trong những nguyên nhân gây
nên nạn trốn lính và đào ngũ ở miền Nam Việt Nam.
Trái lại, ở miền Bắc, dù rằng đồng lương hàng tháng của anh em công nhân viên nhà nước và của quân nhân dân các cấp trong quân đội hầu như không đáng là bao, nhưng họ cũng không tỏ ra phàn nàn ǵ cả. Sở dĩ được như vậy là v́ hầu hết họ là những người có tinh thần yêu nước rất cao. Họ xung phong gia nhập quân đội hay t́nh nguyện thoát ly gia đ́nh đi phục vụ cho chính quyền trong các lănh vực khác là do thâm tâm họ muốn theo đuổi lư tưởng đánh đuổi Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican ra khỏi bời cơi để giành lại chủ quyền độc lập cho dân tộc, đánh đuổi Liên Minh Mỹ - Vatican ra khỏi miền Nam để giải phóng Miền Nam và cũng là hoàn thành đại cuộc thống nhất đất nước cho tổ quốc. Họ đă ư thức được sự hy sinh cao cả của họ cho tổ quốc, cho nên họ luôn luôn hăng say trong nghĩa vụ cứu nưóc của họ. Hơn nữa, trong chính quyền cũng như trong quân đội, về phương diện vật chất hay đồng lương hàng tháng, hầu như mọi người đều được đối xử như nhau (nếu có chênh lệch th́ sự chênh lệch cũng quá ít), và cuộc sống sinh hoạt sát cánh bên nhau hàng ngày khiến cho họ cảm thấy không có sự cách biệt và bất công đối với họ, cho nên rất ít khi xẩy ra những trường hợp bất măn giữa những quân nhân cấp dưới đối với cấp trên. Đây cũng là một trong những yếu tố khiến cho Miền Bắc không có nạn trốn lính và giảm thiểu được nạn trốn quân dịch. Nếu có, th́ cũng rất ít.