LỊCH SỬ VÀ HỒ SƠ TỘI ÁC
CỦA GIÁO HỘI CỘNG GIÁO LA MĂ

(Chương 11, Phần cuối)

GS. Nguyễn Mạnh Quang

 

6.- NÓI NGƯỢC VỀ

NGUYÊN NHÂN VÀ DIỄN BIẾN TAN RĂ

CỦA CHÍNH QUYỀN VÀ QUÂN ĐÔI MIỀN NAM

 

Tiểu đề này gồm có:

 

1.- Nguyên nhân của chính quyền và quân đội miền Nam tan ră

2.- Diễn biến của chính quyền và quân đội miền Nam tan ră.

 

 

NGUYÊN NHÂN CỦA CHÍNH QUYỀN

VÀ QUÂN ĐỘI MIỀN NAM TAN RĂ

 

Bàn về nguyên nhân khiến cho chính quyền và quân đội miền Nam tan ră vào những ngày từ 10/3/1975 cho đến cuối tháng 4/1975, các nhà viết sử đều có một nhân định chung như sau:

 A.- Chính quyền miền Nam không có chính nghĩa v́  được lập nên để phục vụ quyền lợi của  Mỹ và Vatican.

B.- Nhân vật lănh đạo bất tài, thiếu đức, tham nhũng và có những thành tích đă cấu kết với Pháp, Vatican và Mỹ để chống lại dân tộc và tổ quốc.

C.- Quân Đội miền Nam chỉ là đạo quân đánh thuê cho Mỹ và Vatican.

 

 

A.- CHÍNH QUYỀN MIỀN NAM KHÔNG CÓ

CHÍNH NGHĨA V̀ NÓ ĐƯỢC LẬP NÊN

ĐỂ PHỤC VỤ QUYỀN LỢI CỦA MỸ VÀ VATICAN

 

Nói rằng chính quyền miền Nam không có chính v́ nó được lập nên để phục vụ cho quyền lợi của Mỹ và Vatican là nói một cách nói đại lược thiếu phần dẫn chứng. Do đó, cần phải nói cho rơ ràng và đầy đủ hơn về vấn đề này. Phần tŕnh bày dưới đây sẽ giúp cho độc giả có một cái nh́n rơ ràng hơn về sự thật về các chính quyền Sàig̣n trong những năm 1954-1975 và vai tṛ của Giáo Hội La Mă ở hậu trường sân khấu chính trị ở miền Nam trong những năm này. Nói cho rơ, chính quyền miền Nam có những nhược điểm dưới đây:

 

1.- Chính quyền miền Nam được lập nên để phục vụ quyền lợi củac hai ông chủ Hoa Kỳ và Vatican: Thực ra, vào những năm sau Đệ Nhị Thế Chiến từ 1945 đến đầu thập niên 1952, chính quyền Nhật Bản, chính quyền Tây Đức cũng do Hoa Kỳ lập nên, nhưng không có Vatican ở trong đó, tức là không có vấn nạn Giáo Hội La Mă. Nhờ vậy mà chỉ mấy năm sau, Nhật Bản và Tây Đức đă ổn định được xă hội, phục hồi được nền kinh tế đă bị suy yếu v́ chiến tranh, v́ bại trận, v́ phải bồi thường chiến tranh cho các quốc gia Đồng Minh thắng trận, và vươn lên thành hai cường quốc hùng mạnh về kinh tế và kỹ nghệ, đặc biệt về kỹ nghệ chính xác (điện tử, phim ảnh), vượt xa các quốc gia Đồng Minh thắng trận như Anh, Pháp và Liên Sô, chỉ thua có kỹ các quốc gia này về nghệ chiến tranh và kỹ nghệ nặng.

 

Tại Nam Hàn, khởi đầu, chính quyền của quốc gia này cũng do Hoa Kỳ lập nên để phục vụ  quyền lợi của Hoa Kỳ, nhưng lại đưa ông Da-tô Lư Thừa Văn lên cầm quyền. Là một tín đố Da-tô nắm quyền lănh đạo đất nước, ông Da-tô Lư Thừa Văn không tuyên bố rơ ràng để minh định về mối liên hệ giữa ông và Giáo Hội La Mă, ông không công khai tuyên bố cho mọi người biết rằng nhiệm vụ của ông trong chức vụ tổng thống là phải phục vụ nhân dân và đất nước Nam Hàn, chứ không phải phục vụ Giáo Hội La Mă hay Ṭa Thánh Vatican. Trong khi đó, tại Hoa Kỳ, cũng là tín đồ Da-tô như ông Lư Thừa Văn, khi ra tranh cử chức vụ tổng thống vào năm 1960, ứng cử viên John F. Kennedy đă phải tuyên bố với nhân dân Mỹ rằng:

 

“…V́ tôi là một tín đồ Da-tô, và chưa có một tín đồ Da-tô nào đắc cử Tổng Thống…. Do đó, điều cần thiết cho tôi để khẳng định một lần nữa là – không phải tôi đặt đức tin vào BẢN CHẤT GIÁO HỘI…. mà tôi đặt đức tin vào BẢN CHẤT NƯỚC MỸ. Tôi tin vào nước Mỹ, nơi mà Giáo Hội và Nhà Nước phân biệt một cách tuyệt đối, nơi mà không có giáo sĩ Da-tô điều khiển  Tổng Thống [nếu ông ta là một tín đồ Da-tô] phải hành động như thế nào, và nơi mà không một vị mục sư Tin Lành nào được phép ra lệnh cho họ đạo đi bỏ phiếu cho ai.. Tôi không là ứng cử viên Tổng Thống Da-tô. Tôi là ứng cử viên Tổng Thống của đảng Dân Chủ, người mà NGẪU NHIÊN cũng là tín đồ Da-tô… Tôi không BIỆN HỘ cho GÍAO HỘI trước công luận – và Gíao Hội cũng không làm phát ngôn viên cho tôi..Nhưng bất cứ vào thời điểm nào đến… khi mà nhu cầu chức vụ đ̣i hỏi tôi phải bán rẻ LƯƠNG TÂM hay VI PHẠM ĐẾN QUYỀN LỢI QUỐC GIA, th́ tôi sẽ từ chức, và tôi hy vọng tất cả các vị công bộc khác có lương tâm sẽ cũng hành xử như thế.Nguyên văn: “… Because I am a Catholic And no Catholic has ever been elected President…… So it is apparently necessary for me to state once again – not what kind of church I believe in, but what kind of America I believe in. I believe in America where the separation of church and state is absolute – where no Catholic prelate would tell the President [should he be a Catholic] how to act and no Protestant minister would tell his parishioners for whom to vote…I am not the Catholic candidate for President, I am the Democratic Party’s candidate for President, who happens also to be a Catholic. I do not speech for MY CHURCH on public matters – and the church does not speak for me… If the time should ever come… when my office would require me to either violate my conscience or violate the national interest then I would resign the office, and I hope any other conscientious public servant would do likewise”[1] 

 

Không  có hành động đường đường chính chính như Tổng Thống Kennedy của Hoa Kỳ, tất nhiên là ông Tổng Thống Da-tô Lư Thừa Văn đă có âm mưu bất chính. Âm mưu bất chính đó là  ông biến chính quyền thành một chế độ đạo phiệt Da-tô. Chính v́ vậy mà Nam Hàn khốn đốn v́ vấn nạn Giáo Hội La Mă. Cho đến khi nhân dân Nam Hàn vùng lên đạp đổ cái chế độ độc tài khốn nạn này và chính ông phải từ chức vào ngày 27/4/1960, rồi trốn ra sống lưu vong ở Honolulu. (Ông sống ở đây cho đến  khi ông chết vào ngày 19/7/1965.) Kể từ đó (ngày chế độ của ông bị lật đổ), Nam Hàn mới thoát khỏi vấn nạn Giáo Hội La Mă, nhưng cũng phải trải qua một thời kỳ quá độ, quốc gia này mới khá lên được và vươn lên thành một trong những con rồng Á Châu như ngày nay.

 

Không phải chỉ ở Nam Hàn trong những năm ông  Da-tô Lư Thừa Văn câm quyền mới xẩy ra như vậy. Kinh nghiệm lịch sử cho thấy rằng,  bất kỳ ở nước nào có Giáo Hội dính vào chính quyền hay là tín đồ Da-tô lên nắm chính quyền, th́ nhân dân ở nước đó lâm vào t́nh trạng khốn nạn:

 

Cùng ở lục địa Âu Châu, các nước Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Ư Đại Lợi  và Ba Lan có Giáo Hội La Mă dính vào chính quyền nhiều nhất và lâu nhất, cho nên các quốc gia này trở thành chậm tiến, lạc hậu, dân trí thấp kém, thua xa các nước Âu Châu khác như Đức, Pháp, Anh, Ḥa Lan, Thụy Sĩ, Thụy Điển, Nay Uy, Đan Mach, Tiệp Khắc, v.v… về nhiều phương diện.

 

Cùng ở bán đảo Balkan, Croatia có Giáo Hội dính vào chính quyền, cho nên mới có chế độ đạo phiệt Da-tô của bạo chúa Ante Pevelich trong những năm 1941-1945. Chế độ này đă tàn sát tới hơn 700 ngàn dân trong tổng số dân chỉ vỏn vẹn có gần 3 triệu.[2]   Rồi sau khi chế cộng sản của ông Josip Broz Tito (1890-1980)  sụp đổ vào đầu thập niên 1980, người dân Croatia lại khốn đốn về các ông tín đồ Da-tô cuồng tín kể từ đó cho đến nay.

 

Cùng là dân Âu Châu đến lập nghiệp ở Mỹ Châu từ thế kỷ 16 và 17,.các nước Châu Mỹ La-tinh có Giáo Hội La Mă dính vào chính quyền, cho nên nhân dân các quốc gia này trở thành chậm tiến, lạc hậu, mức sống và dân trí thấp kém, sinh đẻ nhiều như chuột, thua kém hai nước Hoa Kỳ và Canada rất xa về mọi phương diện.

 

Cùng ở Á Châu, nước Phi Luật Tân có Giáo Hội La Mă dính vào chính quyền từ thế kỷ 16, cho nên quốc gia này chậm tiến, lạc hậu, mức sống và dân trí và thua kém các quốc gia Á Châu khác về nhiều phương diện. Con số người được xuất cảng sang các nước Trung Đông làm công nhân và  giúp việc tại các tư gia nhiều nhất.

 

Cùng ở lục địa Phi Châu, cùng là cựu thuộc địa của của đế quốc Âu Châu mời giành lại được chủ quyền độc lập, Rwanda có Giáo Hội La Mă dính vào chính quyền, cho nên mới có chế độ đạo phiệt Da-tô của ông Giám-muc Augustin Misago. Chế độ này  tàn sát tới 800 ngàn dân trong tổng số dân 8,196,000 (vào năm 1995) trong ṿng 100 ngày vào giữa năm 1994. Các nước khác ở Phi Châu không có thảm trạng này. Xin xem  chương sách nói về Thành Tích Hủy Diệt Nền Văn Minh Nhân Loại và Tàn Sát ở  Rwanda cũng như ở r Croatia và ở nhiều nơi khác.

 

Cùng là thuộc địa của các đế quốc Âu Châu, thuộc địa nào có Giáo Hội La Mă dính vào chính quyền bảo hộ, th́ người dân ở thuộc địa đó bị lừa bịp, bị bóc lột đến tận xương tận tủy, bị áp bức và bị đàn áp nhiều nhất và chính quyền đế quốc bám chặt lấy thuộc địa đó giống như loài đỉa đói, không chịu buông tha. T́nh trạng này đă khiến cho nhân dân ở các thuộc đó phải vùng lên tổ chức những lực lượng vũ trang chiến đấu hết sức gay go, vừa phải đánh đuổi quân cướp ngoại thù xâm lược vừa phải chống lại bọn nội trùng là nhóm thiểu số tín đồ Da-tô cấu kết với giặc. V́ vậy mà cuộc chiến trở nên ác liệt và phải kéo dài cho đến khi quân cướp ngoại thù mệt mỏi không c̣n chịu đựng đước nữa, mới rút quân về nước và công nhận chủ quyền độc lập của người dân thuộc địa. Viêt Nam, Algeria, các quốc gia Mỹ Châu La-tinh, Congo là những bằng chứng rơ ràng nhất cho sự thực này.

 

Trong khi đó, tại các thuộc đia của Đế Quốc Anh và Ḥa Lan, không có Giáo Hội La Mă dính vào chính quyền, không có vấn nạn Giáo Hội La Mă, cho nên, khi nhân dân tại các thuộc địa này vừa mới rục rịch nổi lên tranh đấu đ̣i quyền độc lập là nước Anh và Ḥa Lan vui vẻ và mau mắn trao trả độc lập cho họ và rút quân về nước. Canada, Úc Đại Lợi, Ấn Độ, Miến Điện, Mă Lai, Singapore, Hồi Quốc, Tích Lan, Nam Phi, và Indonesia là những bằng chứng bất khả phủ bác về sự thực này.

 

Bộ mặt thật của Giáo Hội  La Mă như thế nào đều được các danh nhân, chính khách, trí thức người Âu Mỹ đều biết cả và cũng đă nói cho nhân dân thế giới biết. Một trong các bậc trí giả trên đây là Tổng Thống Hoa Kỳ James Madison, ông đă lớn tiếng tuyên bố rằng:

 

Trong ṿng 15 thế kỷ vừa qua, đạo Công Giáo đă được thử thách. Kế quả ra sao? Đại khái là giáo sĩ th́ kiêu căng và lười biếng, giáo hữu thi ngu dốt và hèn hạ, cả đôi bên đều mê tín, chấp nhất và thích giết hại.” Nguyên văn: “During almost 15 century has the legal established of Christianity has been on trial. Whaat has been its fruits? More or less in all places, pride and indolence in the clergy, ignorance and servility in the laity; in both, superstition, bigotry, ang persecution.”[3]

 

Sự thực này xin được gửi đến nhà văn Da-tô Nguyễn Ngọc Ngạn để đáp lại lời tuyên bố hồ đồ i của ông trong cuốn băng nhạc văn nghệ Paris By Night 81 phát hành vào đầu tháng 5/2006, rằng:

 

Sau Đệ Nhị Thế Chiến thứ II, trên thế giới có ba nước giống hệt nhau, cùng bị chia đôi, Cộng Sản chiếm đóng một nửa, và một bên là quốc gia, là: Đức, Triều Tiên (tức là Bắc Hàn và Nam Hàn) và Việt Nam. Chúng ta thấy là ba quốc gia giống hệt nhau. Tây Đức đứng đầu thế giới về khoa học kỹ thuật. Nam Hàn phát triển cực nhanh và trở thành một tiểu cường quốc trên thế giới, và ngày nay thống trị về điện ảnh.  Chỉ c̣n có mỗi Việt Nam là c̣n lẹt đẹt măi.

 

Tại sao như vậy? Là v́ Bắc Hàn không xâm lăng Nam Hàn, Đông Đức không đánh sang Tây Đức, mà người ta lo kinh tế. Nếu miền Bắc Việt Nam không đánh vào miền Nam, tôi nghĩ, Việt Nam Cộng Ḥa của chúng ta ngày nay không thua ǵ Nam Hàn, là v́ trí thông minh của người Việt chúng ta có thể nói là không thua  các quốc gia nào tại Á Châu.”

 

Sự thật này cũng là câu trả lời  cho những người đưa ra luận điệu ngây ngô cho rằng không cần phải nổi lên tổ chức các lượng vũ trang kháng chiến để giành độc lập, sớm hay muộn Việt Nam cũng được độc lập. Họ lư luận rằng tới một thời điểm nào đó, Pháp sẽ theo gương nước Anh và Ḥa Lan, sẽ thấy rằng tiếp tục chiếm đóng Việt Nam bất lợi hơn là trao trả độc Lập cho Việt Nam. Khi đó, Việt Nam sẽ được độc lập mà không cần phải tốn nhiều xương máu như cuộc chiến Việt Nam do Đảng Cộng Sản Việt Nam và Mặt Trận Việt Minh chủ xướng.

 

Thiết nghĩ rằng những người đưa ra luận điệu ngây ngô này phải là một trong hai trường hợp dưới đây:

 

A.- Do bộ máy truyên truyền của Giáo Hội La Mă đưa ra để làm hạ giá công nghiệp giành lại quyền độc lập và đại cuộc thống nhất đất nước của dân tộc Việt Nam dưới quyền điều khiển của đàng Cộng Sản Việt Nam và Mặt Trận Việt Minh do cụ Hồ Chí Minh lănh đạo..

 

B.- Do mấy ông tiểu tử sản thuộc  loại trí thức nửa vời, mang nặng căn bệnh trưởng giả học làm sang, muốn làm ra vẻ ta đây là người thông kim bác cổ, nhưng lại dốt lịch sử và hồ đố nói bậy.

 

Ngoại trừ có dă tâm như trường hợp A trên đây, những người đưa ra luận điệu ngây ngô này tự họ đă phơi bày cho mọi người biết rằng họ không hiểu biết đầy đủ những bài học lịch sử thế giới, không chịu t́m hiểu lịch sử Giáo Hội La Mă, đặc biệt là không t́m hiểu về những việc làm của Ṭa Thánh Vatican trong chủ trương chống lại trào lưu tiến hóa của nhân loại trong gần hai ngàn năm qua để bưng bít tính cách phí lư và bịp bợm của hệ thống tín lư Ki-tô.

 

2.- Những người được Vatican và Hoa Kỳ đưa lên cầm quyền đều là tín đồ Da-tô. Những người này đều có những đặc tính vong bản, phản dân tộc, phản tổ quốc, bất tài, tham nhũng, chỉ biết cúi đầu phục vụ quyền lợi của ṬaThánh Vatican và Hoa Kỳ.

 

3.- Chính quyền miền Nam tồn tại được là nhờ có Hoa Kỳ bảo vệ bằng quân sự và nuôi dưỡng bằng tiền bạc. Bản thân của chính quyền miền Nam không có khả năng tạo được sức mạnh tự cung, tự túc, tự cường để tự tồn. T́nh trạng này đă khiến cho chính quyền miền Nam phải triệt để tuân phục ư muốn của hai thế lực quan thày là Hoa Kỳ và Vatican, và phải thi hành những chỉ thị của họ đưa ra, nghĩa là hoàn toàn trở thành công cụ làm tay sai cho hai thế lực này.

 

4.- Hoa Kỳ và Ṭa Thánh Vatican đều có chủ trương muốn duy tŕ Việt Nam măi măi ở trong t́nh trạng chia đôi. Hoa Kỳ th́ muốn biến miền Nam thành một tiền đồn chống Cộng theo nhu cầu của chính sách “be bờ” (containmment policy) đang được tiến hành vào lúc bấy giờ để ngăn chặn làn sóng Cộng Sản đang cuồn cuộn dâng tràn từ phía Bắc. Ṭa Thánh Vatican th́ muốn biến miền Nam thành một quốc gia theo đạo Ki-tô La Mă bằng tất cả những phương tiện của chính quyền.

 

Cũng nên biết là chính sách be bờ ngăn chặn làn sóng Cộng Sản thời bấy giờ là do đề nghị của ông George  F. Kennan, lúc đó là Đại Sứ Hoa Kỷ tại Liên Sô. Đề nghị này được chính quyền Hoa Kỳ chấp thuận và bắt đầu thi hành vào khoảng năm 1948, đồng thời với Kế Hoạch Marshall do Ngọai Trường Hoa Kỳ Marshall chủ xướng.

 

Như vậy là sự tồn tại của miền Nam hoàn toàn tùy thuộc vào nhu cầu  của chính sách be bờ của Hoa Kỳ. Ngày nào Hoa Kỳ không c̣n cần đến chiến lược be bờ nữa, th́ miền Nam Việt Nam sẽ trở thành vô dụng đối với Hoa Kỳ, và khi đó miền Nam sẽ bị Hoa Kỳ bỏ rơi, nếu không nó sẽ là gánh nặng vô bổ  cho Hoa Kỳ.

 

Lịch sử cho thấy rằng từ ngày lập quốc vào năm 1776 cho đến nay, Hoa Kỳ vốn là quốc gia  liên tục theo chủ nghĩa thực dụng (pragmatism). V́ thế, khi mà miền Nam Việt Nam trở thành vô dụng hay không c̣n cần thiết nữa,  tất nhiên là sẽ bị Hoa Kỳ bỏ rơi.

 

V́ muốn biến miền Nam thành một tiền đồn chống Cộng, Hoa Kỳ phải bỏ tiền ra đài thọ tất cả những phí khoản cho các nhu cầu tổ chức, xây cất và thiết bị các cơ sở, huấn luyện và trả lương hàng tháng cho các nhân viên chính quyền cũng như quân đội cúa miền Nam Việt Nam. Những khoản tiền này được mang danh nghĩa là tiền viện trợ Mỹ. Mục đích duy nhất của Hoa Kỳ trong việc phải đài thọ (chi ra) những phí khoản này là để dùng chính quyền và quân đội miền Nam vào việc tiếp trợ cho nhu cầu chiến lược “be bờ” trên đây của Hoa Kỳ, giống như mục đích của Liên Minh Xâm Lăng Pháp- Vatican lập ra chính quyền bù nh́n Bảo Đại vào ngày 5/6/1948 (được khoác cho cái danh xưng là “Chính Quyền Quốc Gia”), rồi cho ra đời cái gọi là “Quân Đội Quốc Gia” vào ngày 11/5/1950 để phục vụ cho mưu đồ tái chiếm Việt Nam của cái Liên Minh chính trị này. Sẽ được nói rơ ở sau).

 

Như vậy.cái chủ trương muốn duy tŕ miền Nam như một quốc gia riêng biệt cũng như việc tạo dựng nên chính quyền và quân đội miền Nam là một  phương tiện cho Hoa Kỳ sử dụng trong chính sách be bờ ngăn chặn làn sóng Cộng Sản từ phương Bắc.

 

Đối với chính quyền miền Bắc và đại khối nhân dân Việt Nam, việc duy tŕ  Việt Nam măi măi ở trong t́nh trạng chia đôi là vi phạm điều khoản quy định việc tổ chức tổng tuyển cử trên toàn quốc vào tháng 7/1956 để thống nhất đất nước. Hơn nữa, mưu đồ này của Liên Minh Mỹ -Vatican là hoàn toàn đi ngược với ư chí thống nhất đất nước của dân tộc Việt Nam, một dân tộc đă liến tục chiến đấu chống lại Liên Minh Xâm Lăng Pháp - Vatican từ năm 1858 cho đến năm 1954 mới giành lại đuợc có một nửa lănh thổ của đất nước. Với ư chí và công lao đă chiến đấu cả một thế kỷ như vậy để đ̣i lại giang sơn cho dân tộc, chẳng lẽ khi thành công đánh đuổi được quân Pháp xâm lăng ra khỏi đất nước mà lại phải khoanh tay ngồi nh́n kẻ thù cố cựu của dân tộc là Giáo Hội La Mă dựa vào sức mạnh của siêu cường Hoa Kỳ để CHIẾM ĐOẠT một nửa đất nước hay sao? Tất nhiên là không thể được. Bất kỳ một người Việt Nam nào nếu c̣n một chút  lương tâm con người cũng phải lớn tiếng nói rằng KHÔNG THỂ ĐƯỢC.

 

V́ vậy mà chính quyền Hà Nội mới nhất định quyết tâm theo đuổi cuộc chiến đánh đuổi Liên Minh Mỹ - Vatican để hoàn thành sứ mạng lịch sử vừa giải phóng miền Nam, vừa thống nhất đất nước. Đây là cuộc chiến có chính nghĩa đáp ứng được khát vọng thống nhất của dân tộc Việt Nam mà bất cứ dân tộc nào ở vào hoàn cảnh giống như Việt Nam cũng có khát vọng này. V́ thế  mà cuộc chiến này được đại khối nhân dân Việt Nam nhiệt t́nh hưởng ứng và đều tích cực tham gia (ngoại trừ những trường hợp bất khả kháng), đồng thời cũng được đại đa số nhân dân trên thế giới nhiệt t́nh ủng hộ.

 

Chính quyền Hà Nội đă từng lănh đạo cuộc Kháng Chiến 1945-1954 khởi đi bằng một toán quân du kích ít oi chỉ có mấy chục người vũ trang bằng những vũ khí hết sức thố sơ được thành lập vào ngày 22/12/1944 để cướp chính quyền từ trong tay quân xâm lăng Nhật. Rồi sau đó, toán quân anh hùng này dần dần được phát triển thành lực lượng kháng chiến chống lại đạo quân xâm lăng vô cùng hùng hậu của Liên Minh Pháp – Vatican được vũ trang bằng những vũ khí hiện đại lại có Hoa Kỳ ở sau lưng yểm trợ dồi dào cả vế vũ khí tối tân nhất và tài chánh (lên tới 80% tiền chí phí cho cuộc chiến vào những năm 1952-1954). Tồng số quân lính của Liên Quân Pháp – Vatican xâm lăng vào ngày 31/12/1952  gồm có:

 

1.- Liên Quân Viễn Chinh Pháp - Vatican  là 233. 826  trong đó có:

 

Thuộc Đ̣an Quân Viễn Chinh: 174. 736, trong số này, có:

Pháp:…………………………….……. 51.700

Lê Dương:……………………….….. 19.079

Bắc Phi …………………………….…. 29.532

Phi Châu …………………………….. 18.153

Bản xứ…………………………....…...53.182

Phụ Lực Quân………………………..59.000

 

2.- Quân Đội Quốc Gia của chính quyền bù nh́n Bảo Đại    là 117. 800

 

Cộng chung là:  233.836 + 117.800 : 381.626. [4]

 

 

Không phải chỉ có thế, quân đội Kháng Chiến Việt Nam c̣n phải chiến đấu chống lại 16.300 lính đạo (bọn nội trùng) tại các giáo khu Phát Diệm, Bùi Chu và các làng đạo ở rải rác khắp nơi trên toàn lănh thổ dưới quyền chỉ huy trực tiếp của các ông linh mục hay gián tiếp qua các sĩ quan đặt dưới quyền của các linh mục. Con số lính đạo này hoạt động ở các vùng gồm có:

 

Đạo quân dưới quyền chỉ huy của Leroy ở  Bến Tre và Mỹ Tho:……..6.300 

Đạo quân của Bùi Chu và Phát Diệm …………………………………………. 5.000

Các đạo quân lẻ tẻ của các xóm đạo ở rải rác khắp nơi vào khoảng..5.000

 

Cộng chung tất cả là ...............................………………………………….16.300[5]

 

Nhờ có chính nghĩa chiến đấu cho quyền lợi tối thượng của dân tộc, cuộc Kháng Chiến 1945-1954 dưới quyền lănh đạo của Mặt Trận Việt Minh được tuyệt đại khối nhân dân ủng và được hầu hết các quốc gia trên thế giới có cảm t́nh. Nhờ có đức độ và tài năng lănh đạo của Cụ Hồ Chí Minh với những đức tính thanh liêm, công minh chính đại, đặt quyền lợi tối thượng của dân tộc lên trên hết, có nhiều kinh nghiệm về cách mạng và chính trị, thấu hiểu lịch sử nhân loại, nắm vững t́nh h́nh thế giới, hiểu rơ phương cách chiến tranh cách mạng và giải phóng dân tộc cần phải sử dụng những sách lược địch vận, dân vận, quốc tế vận và áp dụng chiến thuật du kích để chống cự với kẻ thù hùng mạnh. Nhờ vậy, chính quyền kháng chiến và nhân dân Việt Nam đă đánh bại được Liên quân xâm lăng Pháp - Vatican khiến cho đế quốc Pháp phải nghiêm chỉnh thương thuyết với chính quyền kháng chiến Việt Nam tại Hội Nghi Genève, bằng ḷng rút quân về nước và công nhận chủ quyền độc lập của dân tộc Việt Nam.

 

Chiến thuật du kích là lấy ít đánh nhiều, lấy nông thôn bao vây thành thị, theo sách lược thập lục tự (Địch tiến, ta lui. Địch dừng (đóng quân), ta bám (quấy phá). Địch mệt, ta đánh. Địch rút, ta truy) làm cho địch mệt mỏi và tiêu hao lực lượng, rồi tiến lên tổng phản công giành lấy thắng lợi cuối cùng. Chiến thuật này chỉ có thể áp dụng được khi cả chính quyền và quân đội đều là của dân, chiến đấu cho dân, được nhân dân hết ḷng thương mến, nhiệt t́nh ủng hộ cả về tài lực và nhân lực, tích cực tham gia, tận tâm che chở và bảo vệ khi bị địch truy lùng. Tất cả các lực lượng nghĩa quân kháng chiến của nhân dân ta trong các công cuộc đánh đuổi quân Minh xâm lăng trong hồi đầu thế kỷ 15 và Liên Minh Đế Quốc Thực Dân Xâm Lược Pháp – Vatican trong những năm 1862-1954 đều áp dụng chiến thuật này.

],

Đich vận là tung cán bộ có khả năng ăn nói vào hàng ngũ địch để giải thích cho quân lính địch nh́n thấy rơ việc Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican đem quân tái chiếm Đông Dương là việc làm phi chính nghĩa. Chính quyền Pháp đă dùng xương máu và tiền bạc của nhân dân Pháp đổ vào cuộc chiến này chỉ có mục đích duy nhất là phục vụ cho quyền lợi của nhóm thiểu số đại tư bản đang cấu kết với thế lực Da-tô La Mă phong kiến phản động, phản tiến hóa đă từng liên tục chống lại và huỷ bỏ thành quả Cách Mạng Pháp 1789.

 

Dân vận là tung các cán bộ tuyền truyền mà phần lớn là những người địa phương dấn thân lăn lộn vào khắp các hang cùng ngơ hểm ở các thành thị cũng như nông thôn để giải thích cho nhân dân biết rằng đây là cuộc chiến sinh tử đối với dân tộc Việt Nam. Phải nêu lên những hành động dă man mà Liên Minh Pháp – Vatican đă áp bức và  bóc lột dân ta bằng chính sách thuế khoá cực kỳ dă man như thuế thân, thuế muối, thuê rượu, thuế môn bài, thuế ruộng, thuế thổ trạch, và đặc biệt là Giáo Hội La Mă đă dựa vào chính quyền bảo hộ để cướp đoạt và chiếm hữu quá nhiều tài nguyên và ruộng đất canh tác của dân ta.  Chưa kể ở Trung Bộ và Bắc Bộ, chỉ riêng ở Nam Bộ, số ruộng đất canh tác mà Giáo Hội La Mă  đă chiếm đoạt của dân ta lên tới trên 25% tổng số diện tích. Ngoài ra, chúng lại c̣n cướp chùa, phá đ́nh, đốt đền, đốt miếu, chiếm đất của nhân dân ta để xây nhà thờ, chủng viện, tu viện, trường học và các cơ sở kinh tài khác. Chúng cưỡng bách dân ta phải đi phu làm lao nô phục dịch tại các công trường xây cất hàng ngàn dinh thự nguy nga trang lệ,  hàng ngàn ngôi nhà thờ to lớn với những tháp chuông cao chót vót lên đến tận lưng trời và không biết bao nhiêu công tŕnh xây cất vĩ đại khác. Tất cả đă khiến cho dân ta  lâm vào thảm cảnh đói khổ triền miền từ đầu thế kỷ 20 mà cao độ là mùa xuân năm Ất Dậu 1945 với khoảng hai triệu người trở thành nạn nhân của thảm cảnh chết đói này.

 

Quốc tế vận là tung những cán bộ có khả năng ngoại ngữ và khả năng ăn nói ra ngoại quốc, đặc biệt là sang nước Pháp thi hành nhiệm vụ vận động nhân dân Pháp, nêu cao khẩu hiệu “liên hiệp với nhân dân Pháp và chống lại chính quyền thực dân xâm lược Pháp” để lôi cuốn người dân Pháp ủng hộ nhân dân Việt Nam trong cuộc chiến mà họ gọi là “cuộc chiến bẩn thỉu” do Liên Minh  Xâm Lăng Pháp – Vatican gây ra.

 

Những sách lược này đă đem lại nhiều thành quả vô cùng tốt đẹp. Về dân vận, chính quyền Kháng Chiến dưới quyền lănh đạo của cụ Hồ Chí Minh được toàn thể nhân dân nhiệt t́nh ủng hộ, hoặc là hăng hái t́nh nguyện đầu quân, hoặc là gia nhập vào những đoàn dân công chuyển vận lương thực và vũ khí, làm công sự chiến đấu giúp cho anh em bộ đội hoàn thành nhiệm vụ tác chiến được tốt đẹp. Nhờ vậy mà  quân đội Kháng Chiến Việt Nam đă đánh bại được đạo quân tinh nhuệ và hùng mạnh được vũ trang bằng những vũ khí hiện đại và gần hai chục ngàn lính đạo ở trong các giáo khu cùng các xóm đạo rải rác khắp nơi trong vùng đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ. Về địch vận, hàng hàng lớp lớp lính người Việt trong hàng ngũ Liên Quân Pháp – Vatican bỏ hàng ngũ địch về với nhân dân và hàng ngàn lính Âu Phi rời bỏ hàng ngũ địch chạy sang hàng ngũ quân đội Kháng Chiến. Về quốc tế vận, hầu hết nhân dân thế giới đều có cảm t́nh với chính quyền Kháng Chiến của nhân dân ta.

 

Muốn áp dụng chiến tranh du kích và thực hiện được các sách lược địch vân, dân vận và quốc tế vận như trên, ngoài việc có đủ những cán bộ có khả năng ngoại ngữ, có tài ăn nói và can đảm liều chết hy sinh cho đại cuộc, điều kiện quan trọng nhất là chính quyền và quân đội phải có chính nghĩa, phải chiếm được ḷng dân, các nhà lănh đạo chính quyền phải là những nhà ái quốc có thành tích cách mạng v́ dân v́ nước, quyết tâm phục vụ cho quyền lợi tối thượng của tổ quốc và dân tộc. Với điều kiện như vậy, chính quyền Bảo Đại và các chính quyền miền Nam không bao giờ có thể thực hiện đuợc. Thảng hoặc, nếu có cố gắng áp dụng chiến tranh du kích và thi hành các sách lược địch vận, dân vận và quốc tế vận th́ cũng không thể nào thành công được. Lư do rất đơn giản:

 

1.- Chính quyền Bảo Đại và các chính quyền miền Nam trong những năm 1954-1975 không có chính nghĩa, bị nhân dân khinh bỉ và thù ghét v́ bản chất của nó được tạo dựng nên là để phục vụ cho kẻ thù của dân tộc là  Pháp, Mỹ, đặc biệt nhất là Vatican, một thế lực khi th́ cấu kết với Pháp (1858-1954), khi th́ cấu kết với Mỹ (1854-1975) để đánh cướp nước ta,

 

2.- Các nhân vật lănh đạo các chính quyền đều có thành tích đă làm tay sai cho Liên Minh Pháp – Vatican hoặc là trong thời 1885-1945 hoặc là trong thời 1945-1954..

 

3.- Toàn bộ quan thày Pháp, Vatican, Mỹ và những các nhân vật lănh đạo chính quyền cũng như những thành phần ủng hộ chính quyền này đều là những phần tử phong kiến phản động muốn bơi ngược ḍng lịch sử, chống lại các trào lưu tiến hóa của nhân loại để duy tŕ cái quyền được ăn trên ngồi trổc, phe phỡn trên mồ hôi nước mắt và xương máu của đại khối nhân dân bị trị. 

 

Cuộc chiến chống lại Liên Minh Mỹ - Vatican (1954-1975) c̣n gay go và gian khổ  hơn gấp bội phần nếu so với cuộc chiến đánh đuổi Liên Minh Pháp trong thời Kháng Chiến 1945-1954. Tuy nhiên, nếu cuộc Kháng Chiến 1945-1954 đă làm cho nước Pháp hao người, tốn của khiến cho dân t́nh chán nản rồi  nổi lên thành những phong trào phản chiến, gọi cuộc chiến là “La sale guerre” (Cuộc chiến bẩn thỉu) và đ̣i chính quyền Pháp phải thương thuyết nghiêm chỉnh với chính quyền Kháng Chiến Việt Nam tại Hội Nghị Genève để rút quân về, th́ cuộc chiến giải phóng miền Nam của nhân dân ta để thống nhất đất nước trong những năm 1954-1975 cũng làm cho nước Mỹ hao người tốn của khiến cho nhân dân Mỹ chán nản rồi nổi lên thành những phong trào phản chiến, cực lực chống đối chính sách xâm lăng của chính quyền Mỹ và cương quyết đ̣i hỏi chính quyền Mỹ phải thương thuyết nghiêm chỉnh với chính quyền Hà Nội tại Hội Nghị Paris để rút quân về nước.

 

Nếu Pháp là thế lực chủ chốt trong Liên Minh Xâm Lược  Pháp – Vatican  trong thời Kháng Chiến 1945-1954 có những nhược điểm nội tại của Pháp để cho chính quyền Kháng Chiên Việt Nam khai thác, th́ Mỹ, thế lực chủ chốt trong Liên Minh Xâm Lược Mỹ - Vatican trong cuộc chiến xâm lược miền Nam 1954-1975, cũng có những nhược điểm nội tại của Mỹ để cho chính quyền Hà Nội khai thác. Nhược điểm nội tại của Pháp trong thời Kháng Chiến 1945-1954 là các chính đảng cố gắng làm vừa ḷng cử tri để kiếm phiếu hầu thắng cử trong các kỳ bầu cử chọn đại biểu vào Quốc Hội. Tương tự như vậy, nhược điểm nội tại của Mỹ để cho chính quyền Hà Nội khai thác là hai đảng Cộng Ḥa và Dân Chủ cố gắng mị dân giành phiếu để thắng cử trong các kỳ bầu cử dân biểu vào Hạ Viện, thượng nghi sĩ vào Thượng Viện, và đặc biệt nhất trong các kỳ bầu Tổng Thống vào các năm 1968 và 1972.

 

Cả hai đảng Cộng Hóa và Dân Chủ đều biết rằng khi mà các phong trào phản chiến của nhân dân Mỹ nồi lên cảng lớn mạnh th́ chính đảng nào đi ngược với phong trào phản chiến sẽ dễ dàng thất cử. V́ vậy mà cả hai chính đảng này đều phải tính làm sao để rút quân ra khỏi Việt Nam mà Mỹ vẫn c̣n giữ được thế mạnh chống lại Khối Cộng Sản do Liên Sô lănh đạo.

 

Vào cuối thập niên 1960, khi phong trào phản chiến ở Hoa Kỳ trở nên vô cùng lớn mạnh th́ cũng là thời điểm sự nứt rạn giữa hai đại cường trong khối Cộng Sản là Liên Sô và Trung Hoa Lục Địa cũng bước vào giai đoạn trầm trọng khó có thể hàn gắn được. Đồng thời, lúc đó, Trung Hoa Lục Địa cũng muốn ḥa giải với Hoa Kỳ để rảnh tay ổn định đất nước sau cuộc Cách Mạng Văn Hóa và cũng là để rảnh tay dồn nỗ lực vào việc canh tân đất nước, hiện đại hóa bộ máy chiến tranh để khỏi bị người bạn Cộng Sản Liên Sô lấn luớt. Nhờ những hoàn cảnh thuận lợi này mà chính quyền Mỹ thời Tổng Thống Nixon (20/1/1969 – 9/8/1974) đă dễ dàng kết thân với Trung Hoa Lục Địa để giải trừ mối lo phải ngăn chặn làn sóng Cộng Sản tràn xuống Đông Nam Á từ phương Bắc. Khi mà mối lo này đă được giải trừ rồi, th́ Hoa Kỳ không c̣n cần phải dùng miền Nam Việt Nam làm tiền đồn chống Cộng nữa.

 

Người thợ săn dùng cái cung hay khẩu súng làm phương tiện đi săn của họ. Khi nào không c̣n chim để săn hay người thợ săn giải nghệ, tất nhiên cái cung hay khẩu súng của họ phải được xếp xó hoặc là bị vứt bỏ. Thành ngữ “Điểu tận cung tàng” đă nói lên cái thực trạng này. Đối với Hoa Kỳ, vào đầu thập niên 1970, số phận miền Nam Việt Nam và chính quyền Sàig̣n đă trở thành  số phận của cái cung của người thợ săn đă giải nghệ như đă nói ở trên.

 

Số phận của chính quyền của những người do ngoại bang đưa lên cầm quyền hay mang nặng tinh thần vọng ngoại, hoàn toàn trông cậy vào thế lực ngoại bang để tồn tại là như vậy.

 

 

B.- NHÂN VẬT LĂNH ĐẠO BẤT TÀI, THIIẾU ĐỨC

VÀ  CÓ THÀNH TÍCH TỘI ÁC CẤU KẾT VƠI

PHÁP, VATICAN  VÀ MỸ ĐỂ CHỐNG LẠI DÂN TỘC

 

Những nhân vật cầm quyền ở miền Nam trong những năm 1954-1975 là các ông Ngô Đ́nh Diệm, Dương Văn Minh, Nguyễn Khánh, Phan Khắc Sửu, Phan Huy Quát, Nguyễn Cao Kỳ và Nguyễn Văn Thiệu. Trong số những nhân vật này, chỉ có hai ông Ngô Đ́nh Diệm và Nguyễn Văn Thiệu  là tín đồ Da-tô. Cả hai người này đều được cả Mỹ và Ṭa Thánh Vatican tin tưởng và tín nhiệm. V́ vậy mà họ được Liên Minh Mỹ – Vatican cho cầm quyền lâu nhất. C̣n các ông Dương Văn Minh, Nguyễn Khánh, Phan Khắc Sửu, Phan Huy Quát, Nguyễn Cao Kỳ chỉ được cho cầm quyền trong một thời gian rất ngắn và sau đó bị  cho nghỉ việc. Chỉ v́ họ không phải là tín đồ Da-tô cho nên trong thời gian họ cầm quyền,  họ bị Giáo Hội La Mă  chống đối dữ dội bằng những hành động phá rối do gần một triệu tín Da-tô Bắc Kỳ di cư dưới quyền chỉ huy của các ông linh mục ở trong các họ đạo hay trại định cư như Linh-mục Mai Ngọc Khuê (Tân Sa Châu), Hoàng Quỳnh (Chợ Lớn), Trần Đ́nh Vận (Dốc Mơ, Long Khánh), v.v…

 

Ông Ngô Đ́nh Diệm hoàn toàn nhờ vào thế lực của ngoại bang là Liên Minh Mỹ - Vatican đưa lên cầm quyền kể từ ngày 7/7/1954. Ông chẳng phải là một Hoàng Thái Tử hưởng quyền thừa kế vua cha mà nghiễm nhiên được đưa lên ngai vàng trị v́ để lo phúc lợi cho dân cho nước. Ông cũng chẳng phải là người từ trong nhân dân dấy lên đem quân khử bạo, trừ gian, diệt trừ quốc tặc để đem lại công bằng và no ấm cho muôn dân. Ông cũng chẳng phải là người anh hùng từ chốn bưng biền kéo quân về đánh đuổi quân cướp ngoại thù, đ̣i lại núi sông cho dân tộc. Ông cũng chẳng phải là người ra tranh cử trong một cuộc bầu cử theo thể chế tự do chế dân chủ  để được nhân dân tuyển chọn đưa lên làm nhà lănh đạo quốc dân trong một nhiệm kỳ hiến định. Ông chẳng có một thứ chính nghĩa nào theo bất kỳ một hoàn cảnh nào của đất nước hay thể chế chính trị nào trên đây cả. Ông chẳng là cái ǵ hết. Thực sự, ông chỉ là người được Giáo Hoàng Pius XII (1939-1958) của Giáo Hội La Mă đỡ đầu và được chính quyền thời Tổng Thống Hoa Kỳ Dwight Davis Eisenhower cùng Ngoại Trưởng Foster Dulles bảo trợ, rồi làm áp lực với Pháp và ông Bảo Đại đưa ông lên làm thủ tướng thay thế ông Thủ Tướng Bửu Lộc. Ngoài ra, ông lại c̣n được hai người đàn bà sắc nước hương trời là Nam Phương Hoàng Hậu và Bà Ngô Đ́nh Nhu nhủ danh là Trần Lệ Xuân, tiếp tay bằng những lời ỏn thót nỉ non với Quốc Trưởng Bảo Đại cho ông về Việt Nam cầm quyền.

 

Những sự kiện này đă làm cho toàn thể nhân dân Việt Nam cũng như nhân dân thế giới đều nhận thấy rằng ông Ngô Đ́nh Diệm là một tín đồ Da-tô cuồng tín được Đế Quốc Vatican và Hoa Kỳ đưa về Việt Nam làm tay sai  cho họ. Đối với nhân dân Việt Nam, ai cũng đều biết rơ gia đ́nh ông có thành tích công lao với Liên Minh Đế Quốc Thực Dân Xâm Lược Pháp-Vatican ngay từ giữa thế kỷ 19 trong việc đàn áp và tiêu diệt các phong trào tranh đấu đ̣i lại quyền độc lập cho quê hương và dân tộc. Bản thân ông Ngô Đ́nh Diệm cũng đă từng làm tay sai đắc lực cho Đế Quốc Vatican, cho Pháp, mưu đồ chạy theo Nhật, rồi đến Hoa Kỳ. Khi được đưa về Việt Nam cầm quyền, người Việt Nam đang cầm súng chiến đấu dù là ở trong hàng ngũ Việt Minh Kháng Chiến hay ở trong hàng ngũ Liên Minh Đế Quốc Thực Dân Xâm Lược Pháp-Vatican, hầu như không ai biết đến ông.

 

Tại sao lại như vậy?

 

Nhân dân Việt Nam ở thế hệ đang chiến đấu lúc bấy giờ không biết đến ông bởi v́ suốt thời gian từ khi toàn dân vùng lên lao vào cuộc chiến chống lại liên quân xâm lăng Pháp – Vatican để bảo toàn nền độc lập, th́ ông lại lẩn trốn, ẩn náu trong các nhà thờ của Giáo Hội La Mă, những trung tâm thâu thập tin tức t́nh báo chiến lược chống lại của tổ quốc. Đối với nhân dân miền Nam, khi ông về tới Saigon th́ hầu như toàn dân nếu không thù ghét và coi ông như một kẻ tử thù th́ cũng khinh rẻ, lạnh lùng, thờ ơ lănh đạm với ông và chính quyền của ông. Các nhân sĩ miền Nam như các ông Hồ Hữu Tường, Trần Văn Ân, Trần Văn Văn, Trần Văn Hữu, Nguyễn Phan Long, v.v... khinh rẻ, không ủng hộ ông. Tích cực hơn nữa, Tướng Nguyễn Văn Hinh đang nắm giữ chức vụ Tổng Tham Mưu Quân Đội của chính quyền Bảo Đại c̣n lập Đảng Con Ó thâu nhận những sĩ quân nắm giữ những chức vụ chỉ huy với mưu đồ lật đồ chính quyền của ông. Nếu không có Đại–tá t́nh báo Lansdale của Hoa Kỳ phá tan âm mưu này của Tướng Hinh th́ chính quyền ông đă bị lật đổ vào ngày 26/10/1954 rồi.

 

Ông Nguyễn Văn Thiệu cũng được Mỹ và Giáo Hội La Mă đồng thuận đưa lên cầm quyền vào ngày 19/6/1965 cũng là để làm tay sai phục vụ  quyền lợi của hai thế lực Hoa Kỳ và Vatican .

 

V́ đều được Vatican và Hoa Kỳ đồng thuận đưa lên cầm quyền cho nên hai ông Ngô Đ́nh Diệm và Nguyễn Văn Thiệu đều có những điểm giống nhau:

 

1.- Đều là tín đồ Da-tô, nghĩa là đều phải tuyệt đối vâng lời Hội Đồng Giám Mục Việt Nam và phải phục vụ quyền lợi của Ṭa Thánh Vatican. T́nh trạng này tạo nên tệ nạn lănh chúa áo đen hay vấn nạn Giáo Hội La Mă ở miền Nam Việt Nam. Sẽ được tŕnh bày đầy đủ trong một chương sách có tựa đề là “Vấn Nạn Giáo Hội La Mă” trong Mục XXIII (Tương Quan Sức Mạnh Giữa Hai Miền Bắc Và Nam Trong Cuộc Chiến Thống Nhất Đất Nước), Phần VI ở sau.

 

2.- Đều có thành tích cộng tác với Liên Minh Pháp – Vatican hoặc là trong thời 1885-1945 hoặc là trong thời 1945-1954, tức đă tích cực chống lại các lực lượng nghĩa quân kháng chiến của dân tộc Việt Nam trong quá khứ.

 

3.- Đều phải tuân phục ư muốn  của Hoa Kỳ.

 

4.- Đều lên cầm quyền rồi mới lập đảng để duy tŕ địa vị và bảo vệ cái quyền ăn trên ngồi trốc, đè đầu cỡi cổ nhân dân. Ông Ngô Đ́nh Diệm lập ra đảng Cần Lao Công Giáo và ông Nguyễn Văn Thiệu lập ra đàng Dân Chủ. T́nh trạng này hoàn toàn trái ngược với các nhà ái quốc lănh đạo các lực lương nghĩa quân kháng chiến chống Liên Minh Pháp – Vatican (trong đó có  cụ Hồ Chí Minh lănh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam và Mặt Trận Việt Minh). Các nhà ái quống trong Đảng Cộng Sản Việt Nam  thành lập đảng để tranh đấu cho quyền lợi tối thượng của dân tộc, tới khi thành công th́ họ mới lập chính quyền. Như vậy là họ có đảng trước rồi mới có chính quyền. V́ thế mà đảng của họ gọi là đảng cách mạng, đảng cứu nước gồm toàn nbững người yêu nước vào đảng để cứu nước.

 

Ngược lại, trường hợp hai ông Ngô Đ́nh Diệm và Nguyễn Văn Thiệu đều là những người được Liên Minh Minh Mỹ - Vatican đưa lên cầm quyền. Có chính quyền rồi, hai ông này mới lập đảng. Với t́nh trạng như vậy, hiển nhiên là:

 

A.- Đối với người lập đảng, họ chỉ  có một mục đích duy nhất là dùng đảng làm công cụ để bảo vệ quyền lực của cá nhân và phe nhóm. Như vậy đảng chỉ là một thứ băng đảng dựa hơi quyền  lực Nhà Nước do Hoa Kỳ và Vatican ban phát cho để có thể tiếp tục làm tay sai cho hai thế lực này một cách đắc lực hơn và hữu hiệu hơn. Như vậy là người dân càng bị chèn ép và áp bức nhiều hơn.

 

B.-- Đối với thành phần gia nhập đảng, họ chỉ có một mục đích nhất là dựa hơi chính quyền đẻ duy tŕ địa vị cũng như hy vọng  được thăng tiến trên bước đường danh vọng, và cũng là để bốc hốt. Như vậy, những người vào đảng đều là những thành phần “xu thời” theo chủ nghĩa  phù thịnh. Họ là những hạng người a dua theo thế mạnh. Kinh nghiệm cho thấy rằng những hạng người xu thời theo chủ nghĩa phù thịnh đều là những người ích kỷ tham lợi, háo danh và thèm khát quyền lực, nhưng lại hèn nhát và khiếp đảm khi phải đương đầu với những khó khăn và nguy hiểm. V́ thế cho nên gặp khi hữu sự, họ t́m cách lẩn trốn. Đây là hạng người:

 

Khi vui th́ vỗ tay vào,

Đến khi hoạn nạn th́ nào thấy ai?

 

Chính v́ lẽ này, hạng người này thường hay trờ cờ khi gió bắt đầu xoay hướng  (mang căn bệnh phản trắc).

 

Những chính đảng như vậy được gọi là đảng xôi thịt. Đây là một trong những nguyên nhân của tệ trạng thối nát tham nhũng trong chính quyền miền Nam và cũng là nguyên nhân làm cho chính quyền và quân đội miền Nam tan ră một cách hếtsức mau lẹ.

 

5.- Đều nổi tiếng tham nhũng

 

6.- Đều cầm đầu tổ chức buôn bán nha phiến ở miền Nam Việt Nam. (Sẽ được tŕnh bày đầy đủ trong một chương sách có tựa đề là “Vấn Nạn Buôn Bán Nha Phiến” trong Mục XXIII (Tương Quan Sức Mạnh Giữa Hai Miền Bắc Và Nam Trong Cuộc Chiến Thống Nhất Đất Nước), Phần VI ở sau.

 

Riêng ông Ngô Đ́nh Diệm c̣n mang thêm những tội ác:

 

1.- Đă từng làm tay sai đắc lực cho Liên Minh Pháp – Vatican trong những năm 1922-1933 với những hành động tàn ngược và dă man hết sức khủng khiếp. Sự kiện này được cụ An Khê Nguyễn Bính Thinh ghi lại như sau:

 

Khi ông làm tri phủ Ḥa Đa đă nổi tiếng là tay sai đắc lực của Pháp, lùng bắt và tra tấn các nhà cách mạng rất dă man bằng cách xông lửa nến (đèn cày) dưới ghế ngồi. Ông cho trói chặt người bị lấy khẩu cung vào ghế ngồi, mặt ghế có khoét lỗ ở ngay hậu môn chỗ ngồi, bên dưới đốt ngọn đèn cầy cho lửa xông lên, dần ruột gan, tim phổi người nọ (nạn nhân) bị sấy lửa, khô dần đi, không chịu nổi, dù có khai để chấm dứt cực h́nh nhưng hậu quả về sau không lường được. Lối tra tấn dă man này, ngay với các bót giam của Pháp, như bót Catinat, cũng chưa dám dùng.”[6]

 

2.- Hăng say tiến hành kế hoạch Kitô hóa cấp tốc bằng bạo lực để biến toàn dân miền Nam thành những người theo đạo Da-tô trong ṿng mười năm.[7] Hậu quả là hơn 300 ngàn dân miền trong vùng Liên Khu V bị thảm sát, hàng trăm ngàn người bị tra tấn, bị gây thương tật và bị giam cầm.[8]

 

3.- Tổ chức một buổi lễ vô cùng trọng thể rồi thỉnh mời viên khâm sứ của Toà Thánh Vatican  là Hồng Y Agagianian đến làm chủ tế để dâng nước Việt Nam cho nước Chúa Vatican với danh nghĩa là dâng cho Đức Mẹ Vô Nhiễm. Chuyện này xẩy ra vào tháng 2/1959.[9]

 

4.- Hồ hởi đồng loă với quân đội Mỹ trong việc sử dụng chất độc da cam rải xuống đồng ruộng và rừng cây trong lănh thổ miền Nam Việt Nam. Sự kiện này được sách sử ghi lại như sau:

 

Ngày 30/11/1961, Tông Thống John F. Kennedy phê chuẩn cho quân đội Mỹ tiến hành chiến dịch khai quang đồng cỏ Việt Nam. Quyết định này được Ngô Đ́nh Diệm, lúc đó là Tổng Thống Nam Việt Nam ủng hộ nhiệt liệt. Diệm cho rằng ông ta “biết cộng sản ở đâu” và tin rằng chiến dịch này sẽ thành công mĩ măn.”[10]

 

V́ thế mà chiến dịch khai quang này được quân đội Mỹ cho tiến hành trên đất nước Việt Nam và hậu quả ghê gớm của chiến dịch này được sách sử ghi nhận như sau:

 

“Quân đội Mỷ rải 77 triệu lít chất độc da cam xuống miền Nam và Trung Việt Nam, gây ảnh hưởng và tác hại đến môi truờng của 2,630,000 mẫu Tây và gần 5 triệu người sống trong 35,585 thôn ấp.[11]

 

Việc làm dă man này đă sát hại hàng trăm ngàn hay hàng triệu nạn nhân, và hậu quả của việc làm này cho đến ngày nay vẫn c̣n tác hại cho đất đai, cây cối, mùa màng, sinh vật và nhân dân trong vùng bị ảnh hưởng. Hiện nay, chính phủ Việt Nam đă và đang kiện đ̣i chính phủ Hoa Kỳ và các công ty Mỹ sản xuất chất độc Da Cam  phải chịu trách nhiệm về hậu quả ghê gớm của việc làm tàn ngược và dă man này. Ấy thế mà vụ kiện lịch sử này lại bị những người đồng đạo của ông Diệm ở Bắc Mỹ cực lực chống đối. Sự kiện này chứng minh cho chúng ta thấy rằng một khi đă trở thành tín đồ Da-tô th́ họ trở thành những phường vong bản phản dân tộc, thành những hạng người “cúi đầu đi trên bốn chân để từ con người trở về với nguồn gốc của con người súc sinh”, rồi từ đó, họ có niềm tin, suy tư, hành động và cung cách sử dụng ngôn từ hoàn toàn khác hắn với niềm tin, suy tư, hành động và cung cách sử dụng ngôn từ của đại khối dân tộc Việt Nam ta.

 

Với những thành tích như trên, tất nhiên là chính quyền miền Nam chỉ được nhóm thiểu số tín đồ Da-tô và băng đảng tàn dư phong kiến phản động ủng hộ. C̣n lại đại đa số nhân dân gồm đủ mọi thành phần chiếm tới trên 90% Việt Nam nói chung và trên 80% miền Nam nói riêng không thể nào lại không khinh bỉ, căm phẫn và thù ghét chính quyền miền Nam đến tận xương tận tủy. Thực trạng này đă khiến cho họ hy vọng sớm được giải thoát khỏi cái ách thống trị bạo tàn của chế độ lănh chúa áo đen nằm dưới cái dù che chở của siêu cường Hoa Kỳ.

 

 

C.- QUÂN ĐỘI MIỀN NAM CHỈ LÀ

ĐẠO QUÂN ĐÁNH THUÊ CHO MỸ VÀ VATICAN

 

Quân đội miền Nam vốn là đạo quân đánh thuê do Liên Minh Xâm Lăng Pháp - Vatican thành lập vào cuối năm 1946. Nói về nguồn gốc của quân đội miền Nam, sách Quân Đội Việt Nam Cộng Ḥa Trong Giai Đoạn Thành H́nh 1946-1945 viết :

 

Ngày 1/10/1946, Pháp khai sinh Vệ Binh Cộng Ḥa Nam Kỳ. Đây là lực lượng đầu tiên của chính phủ Nam Kỳ tự trị. Ngoài lực lượng này, Pháp cũng tổ chức những lực lượng quân sự khác như phụ lực quân, địa phương quân hương dũng, hương vệ để tăng cường cho đoàn quân viễn chinh. Đoàn quân viễn chinh c̣n được sự hợp tác của những quân nhân người Việt từ Pháp theo về và ở trong nước khi Pháp tới tái chiếm.

 

Ngày 15/7/1946, Pháp bắt đầu tăng thêm cấp chỉ huy người Việt bằng cách mở khóa Liên Quân Viễn Đông tại Đà Lạt.”[12]  

 

Sau đó, v́ chiến trường Đông Dương trở nên ác liệt vào đầu thập niên 1950, Tháng 5 năm 1950,  Hoa Kỳ nhẩy vào can thiệp và viện trợ quân sự cho Liên Minh Xâm Lược Pháp Vaican để giành lại chủ động tại các mặt trận.

 

8/5/1950: Washington, DC: TT Truman công bố đă quân viện cho Pháp ở Đông Dương, và số lượng ngày càng tăng. Mục đích để giúp Pháp đánh Việt Minh.

 

Ngoại trưởng Acheson cũng tuyên bố viện trợ trực tiếp cho ba nước Đông Dương, đồng thời tiếp tục viện trợ cho Pháp. Nước Mỹ hiểu rằng vấn đề Đông Dương tùy thuộc vào cả hai vấn đề văn hồi trật tự và việc phát triển tinh thần quốc gia và sự giúp đỡ của Mỹ có thể và cần đóng góp vài hai mục tiêu này (FRUS, 1950, VI: 812).

 

11/5/1950: Washington, DC: XLTV Ngoại trưởng Mỹ tuyên bố: Phái đoàn Griffin yêu cầu cho các nước Đông Nam Á vào khoảng 60 triệu Mỹ Kim. Số tiền này trích ra từ 75 triệu trong Quỹ Cứu Cấp của Tổng Thống dành cho Trung Hoa.”.[13]

 

Nhờ có tiền do Hoa Kỳ chi viện, chính quyền Pháp mới t́m cách thành lập một đạo quân người Việt  vừa ít tốn phí  hơn v́ số tiền trả hàng tháng cho một người lính Việt chỉ bằng khoảng 1/7 hay ít hơn số tiền trả cho một người lính Pháp, vừa để thay thế quân đội người Pháp v́ lúc bấy giờ ở Pháp phong trào phản chiến đang dâng cao, thanh niên Pháp không chịu đi lính sang chiến đấu ở Đông Dương.

 

Nói về quyết định của chính quyền Pháp cho thành lập quân đội người Việt, sách Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa Trong Giai Đoạn H́nh Thành 1946-1955 viết:

 

Ngày 11/5/1950, quốc hội Pháp mới chấp thuận cho Việt Nam được thành lập quân đội do lời đề nghị của thủ tướng Pháp. Cùng trong ngày, tại Việt Nam, thủ tướng Trần Văn Hữu tuyên bố thành lập quân đội quốc gia chống Cộng. Thủ tướng chính phủ đặt kế hoạch thành lập một quân đội bao gồm 60,000 người, với một nửa là chính quy và một nửa là phụ lực quân. Nhiệm vụ đầu tiên của quân đội là b́nh định và gánh vác một phần nhiệm vụ thay thế quân đội Pháp.”

 

Tháng 6, những đồ viện trọ quân sự của Mỹ chính thức thông báo cho quân đội VIệt Nam.” [14] 

 

Phần tŕnh bày trên đây, đặc biệt là với những đoạn văn sử trích dẫn từ sách Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa Trong Giai Đoạn H́nh Thành 1946-1955  từ các trang 191 và 192-193, và sách Việt Nam Niên Biểu 1939-1975, cho chúng ta thấy rơ:

 

1.- Từ ngày 1/10/1946 cho đến ngày 11/5/1950, đạo quân người Việt do người Pháp lập ra, huấn luyện và chỉ huy để đánh thuê cho Liên Minh Xâm Lăng Pháp – Vatican.

 

2.- Từ ngày 11/5/1950 cho đến tháng 7/1954, đạo quân người Việt này trở thành đạo quân đánh thuê cho Hoa Kỳ qua sự bao thầu và chỉ huy của người  Pháp.

 

3.- Từ tháng 7/1954 đến những ngày ră ngũ tan hàng (11/3/1975 - 30/4/1975), đạo quân người Việt này trở thành đạo quân đánh thuê cho Liên Minh Mỹ - Vatican qua việc chi tiền, huấn luyện và chỉ huy trực tiếp của người Hoa Kỳ với sự trợ giúp chỉ đạo của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.

 

Nhờ tiền viện trợ Mỹ, đạo quân đánh thuê người Việt  này dần dần được phát triển thành đạo quân tương đối khá hùng mạnh. Vào  ngày 31/12/1952, quân số của đạo quân đánh thuê này là 117. 800.[15]. .

 

Theo Hiệp Định Genève 1954, Pháp phải rút quân ra khỏi miền Bắc vào miền Nam và chuẩn bị rút toàn bộ đoàn quân viễn chinh về Pháp.

 

Trong hoàn cảnh này, không biết có thỏa hiệp ngầm nào giữa Pháp và Mỹ về Việt Nam hay không. Trong thực tế, Liên Minh Pháp – Vatican hoan toàn tan vỡ.  Mỹ thực sự đă thay thế Pháp ở Việt Nam và Liên Minh  Mỹ - Vatican  thành h́nh cũng từ đó và nắm quyền thống trị tại miền Nam Việt Nam cho đế ngày chính quyền miền Nam ră đám vào cuối tháng 4/1975. 

 

Cũng từ tháng 7/1954, quân đội Quốc Gia Việt Nam được Hoa Kỳ hứng lấy, đài thọ tất cả mọi chi phí về tổ chức, xây cất và trang bị các cơ sở  cũng như doanh trại, vũ trang, huấn luyện, trả lương cho các tất cả mọi quân nhân từ ông đại tướng nắm giữ chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng đến anh binh nh́, và người Mỹ trực tiếp nắm quyền chỉ huy với danh nghĩa là cố vấn Mỹ ngồi bên cạnh hay đi sát cánh với các sĩ quan giữ chức vụ  tư lệnh hay chỉ huy trưởng. Nhờ vậy mà quân đội miên Nam trong thời 1954-1975 được tổ chức thành một quân đội hùng mạnh với đủ các binh chủng Không Quân, Hải Quân, Bộ Binh, Thiết Giáp Binh, Pháo Binh, Nhẩy Dù, Biệt Động Quân, Địa Phương Quân, Lực Lượng Đặc Biệt, Truyền Tin, Thủy Quân Lục Chiến. Ngoài ra, lại c̣n có lực lượng cảnh sát vô cùng hùng hậu và các tố chức công an mật vụ như thiên la địa vơng cùng với cả mấy trăm ngàn nhân dân tự vệ trong các phường khóm ở trong các thành thị cũng như trong các làng thôn trong các vùng do chính quyền Sàig̣n kiểm soát. Vào thời điểm cuối năm 1963, quân số quân đội miền Nam đă lên tới 500 ngàn và khoảng hơn 100 ngàn cảnh sát, công an và mật vụ:

 

Nh́n lại cuộc chiến từ đầu Xuân 1963, t́nh h́nh miền Nam quả thực đă đi vào tuyệt lộ, mặc dầu lúc bấy giờ quân đội đă được gia tăng hùng hậu và Mỹ viện trợ vẫn ào ạt đổ vào. Bernard Fall cho biết rằng vào đầu năm 1963, dưới chế độ Diệm, con số chính xác của quân đội VNCH gồm có 225.000 binh sĩ chính quy, 100.000 Bảo An, 90.000 Địa Phương Quân, 85.000 Dân Vệ… tất cả là 500.000 người. Với một nửa triệu quân, chưa kể 100.000 nhân viên công an, cảnh sát, cảnh sát dă chiến, nhân viên an ninh xă, ấp, chưa kể sự hiện diện của 16.000 binh sĩ Mỹ, đoàn cố vấn người Úc, thế mà với lực lượng hùng hậu đó t́nh h́nh miền Nam đă vô phương cứu chữa nếu không có quân đội đồng minh nhập cuộc sau này.” [16]  

 

Vào  những năm 1973-1974, không kể các lực lương cảnh sát, công an, mật vụ và nhân dân tự vệ, riêng quân số các quân binh chủng và địa phương quân đă lên tới 1.100.000. Các nhà viết sử  đều cho rằng rằng quân đội miền Nam đă được Hoa Kỳ phát triển thành một đạo quân hùng mạnh nhất Đông Nam Á và đứng vào hàng thứ tư trên thế giới sau Hoa Kỳ, Liên Sô và Trung Hoa Lục Địa.

 

Tuy nhiên, quân đội này lại có những nhược điểm trầm trọng như:

 

1.- Không có lư tưởng, không có chính nghĩa và.không được vũ trang bằng t́nh yêu nước. Cái lư tưởng mà chính quyền miền Nam và bộ máy tuyên truyền của Giáo Hội La Mă thường cao rao là chính nghĩa quốc gia và chiến đấu cho lư tưởng tự do dân chủ với khẩu hiệu “Tổ Quốc và Danh Dự” thực ra chỉ là danh xưng rỗng tuếch dùng để làm bức b́nh phong che đậy cho cái bản chất quân đội đánh thuê cho Liên Minh Mỹ - Vatican.

 

2.- Hầu hết các tướng tá nắm giữ các chức vụ chỉ huy là những thành phần lính đánh thuê cho Liên Minh Xâm Lược  Pháp – Vatican trong thời Kháng Chiến 1945-1954, trong đó tín đồ Da-tô chiếm đa-số. Kinh nghiệm lịch sử ch thấy rằng, khi mà tín đồ Da-tô được vũ trang thành những người lính có súng đạn trong tay, họ sẽ trở thành những người lính thập tự với tất cả những đặc tính của thập tự quân của Giáo Hội La Mă trong thời Trung Cổ. Những đặc tính đó là hung dữ, hiếu sát, khát máu, tàn sát người dân thuộc các tôn giáo khác một cách cực kỳ man rợ  đúng như sách Dân Số (31: 17-18,) Phục Luật (12: 2-3) đă dạy họ. Các sách này dạy rằng, “Phải phá đổ bàn thờ, đập bể tương  thần và thiêu hủy tượng thần và những nơi thờ phượng tà thần” (“ 2.- You shall utterly destroy all the places where the nations which you shal dispossess served their gods, on the high mountains and on the hills and underevery green tree. 3.- “And you shall destroy their altar, break their sacred pillars, and burn their wooden imaged with fire; you shall cuts : down the  carved images of their gods and destroy their names from that place.”  Cái đặc tính ghê tởm này cucng được được Giáo-sư Lư Chánh Trung ghi nhận như sau:

 

Mỗi khi hoàn cảnh cho phép, Giáo Hội đă không ngần ngại dùng thế lực để tiêu diệt những tôn giáo khác, đập phá các đền thờ “tà thân”, đốt sách vở ngoại đạo và đốt luôn bọn người bị xem là “lạc đạo” nếu không chịu sửa sai.”[17]

 

Cũng v́ thế mà  những tín đồ Da-tô người Việt và cả những người lính Việt khác trong Liên Quân Pháp - Vatican đă có rất nhiều thành tích tội ác xấu xa khủng khiếp như giết người bừa băi, đốt phá đ́nh, chùa, miều, đền, nhà cửa của nhân dân, hăm hiếp đàn bà con gái. Họ đă hành động dă man như vậy liên tục trong thời Kháng Chiến 1945-1954, và sau này ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975, dù họ đă thành những ông tướng ông tá, nắm giữ những chức vụ chỉ huy trong quân đội, nếu có cơ hội, họ vẫn c̣n tiếp tục hành xử như vậy. Những hành động  của các ông sĩ quan An Ninh Quân Đội của chính quyền Ngô Đ́nh Diệm đối xử với bà Đại-tá Nguyễn Chánh Thi và bà Đại Úy Phan Lạc Tuyền khi hai vị sĩ quan này chạy trốn sang Cao Miên tị nạn vào chiều ngày 13/11/1960 (Nguyễn Mạnh Quang, Nói Chuyện Với Tổ Chức Vệt Nam Cộng Ḥa Foundation (Houston, TX: Đa Nguyên, 2004), tr. 229-233,  hành động của hai ông Tướng Đỗ Cao Trí và Nguyễn Văn Toàn đă được sách sử nêu đích danh, tất cả là bằng chứng cụ thể nói lên sự thật đau buồn này. Trong thực tế, có hàng ngàn ông tướng, ông tá vốn xuất thân từ quân đội đánh thuê cho Liên Minh Pháp - Vatican đều có những hành động ghê tởm như hành động của các ông sĩ quan An Ninh Quân Đội thời ông chế độ đạo phiệt Da-tô  Ngô Đ́nh Diệm như đă nói ở trên, cũng như hành động của hai ông Tướng Đỗ Cao Trí và Nguyễn Văn Toàn. Những hành động dă man trên đây của họ đă trở thành thói quen rồi biến thành bản chất trong con người họ.

 

Ngựa quen đường cũ. Khi trở thành những ông tướng, ông tá nắm giữ những chức vụ chỉ huy các đơn vị trong quân đội miền Nam họ vẫn c̣n thói quen có những hành động tội ác trong thời Kháng Chiên 1945-1954. Xin xem lại chương sách nói về Những Hành Động Dă Man Của Quân Lính Liên Quân Pháp  - Vatican và Lính Đạo Việt Nam trong Mục XV, Phần V ở sau, xem sách Failure to Atone (Không Thể Chuộc Lỗi) của tác giả Allen Hassau đă được đưa lên sachhiem.net. và xem cuốn phim Chiến Tranh Việt Nam - Những điều Chưa Biết do soạn giả Daniel Costelle biên soạn, Isabelle Clarke đạo diễn. Phim này đă được chế tạo thành những đĩa DVD . Địa chỉ liên lạc: Viet Nam Films điện thoại: (714) 555-2515

 

Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ,Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm, Đại Tướng Nguyễn Khánh, Đại Tướng Cao Văn Viên, Hoàng Xuân Lăm, Ngô Du, Lữ Lan, Đỗ Cao Trí, Nguyễn Văn Toàn, Vĩnh Lộc, Tôn Thất Đính, Vĩnh Lộc,  Lam Sơn, Lê Nguyên Khang, Dư Quốc Đống, Lê Quang Lưỡng, Nguyễn Duy Hinh, Nguyễn Văn Điềm, Nguyễn Văn Minh, Nguyễn Ngọc Oánh (Không Quân) Nguyễn Hữu Có, Trần Văn Đôn, Huỳnh Văn Cao, Hoàng Văn Lạc, Lâm Quang Thi, Bùi Đ́nh Đạm, Trần Văn Trung, Phạm Quốc Thuần, Lâm Văn Phát, Phạm Văn Phú, Nguyễn Ngọc Loan, Hồ Tấn Quyền, v.v… đều là những người được Liên Quân Xâm Lăng Pháp – Vatican đào tạo hoặc là trước năm 1945 (trường hợp Tướng Trần Văn Đôn, Nguyễn Hữu Có, Lam Sơn, v.v…) hoặc là trong thời Kháng Chiến 1945-1954 để trở thành những tên lính đánh thuê cho hai thế lực Pháp và Vatican.

 

3.- Hoàn toàn nhờ vào tiền Mỹ viện trợ để trả lương hàng tháng cho quân nhân.- V́ không có lư tưởng và không có chính nghĩa mà thực chất chỉ là một đạo quân được Hoa Kỳ tuyển mộ, huấn luyện, trang bị, vũ trang và từ ông đại tướng nắm giữ chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội cho đến những người lính binh nh́ và tân binh quân dịch đều được Hoa Kỳ trả lương cho từng tháng một, cho nên ngày nào c̣n được Hoa Kỳ trả lương và không ở vào t́nh thế khó khăn phải đương đầu với nguy hiểm, th́ họ c̣n ở lại với quân đội và huênh hoang khoác lác, hợm hĩnh khoe khoang là họ chiến đấu cho cái lư tưởng rỗng tuếch tự do dân chủ mà Hoa Kỳ và Vatican mớm cho họ. Một ngày nào đó không c̣n được Hoa Kỳ tiếp tục viện trợ tài chánh để trả lương hàng tháng cho họ, th́ cái quân đội đánh thuê này sẽ ră ngũ tan hàng ngay tức th́.

 

4.- Háo lợi, hám danh và thèm khát quyền lực.- Đặc tính này là cha đẻ ra đủ mọi thứ ác tính ghế tởm như ham sống sợ chết, hèn nhát, ganh ghét với những ngựi đồng đẳng, xum xoe nịnh bợ những người có quyền thế, làm oai, làm phách, hách dịch đối với những kẻ dưới quyền hay những người dân thấp cổ bé miệng, trở cờ, phản trắc thậm chí có thể làm cả những việc đại nghịch bất đạo. Chính v́ mang những căn bệnh ghê tởm này, cho nên khi gặp phải t́nh trạng khó khăn nguy hiểm, th́ các ông tướng ông tá Da-tô trong quân đội miền Nam t́m cách lần tránh, không dám xông xáo ra trận tiền để cùng với quân nhân cấp dưới trực diện với địch quân. Bằng chứng là những hành động hèn nhát của các ông tướng, ông tá như Huỳnh Văn Cao, Bùi Đ́nh Đạm, Lâm Quang Thi, Hoàng Văn Lạc và Trần Thanh Chiêu. Một viên chức cố vấn quân Mỹ  là Trung- tá Vann và nhà báo Hoa Kỳ Sheehan đă khinh bỉ gọi ông Tướng Da-tô Huỳnh Văn Cao và ông Tá Da-tô Bùi Đ́nh Đạm là “ragged-ass littlle bastards” (hạng người  hạ cấp,vô loại, hèn nhát, ích kỷ không bao giờ quan tâm đến người khác.)[18]

 

5.- Không tạo được t́nh nghĩa huynh đệ chi binh trong quân đội.- Trong quân đội miền Nam, sĩ quan nắm giữ các chức vụ chỉ huy thường hay gọi quân nhân cấp dưới là “thằng này”, “thằng nọ”, và khi trực dịện c̣n gọi họ là “mày”. Ngoài ra, lại c̣n có t́nh trạng sử dụng quân lính dưới quyền như những tên đầy tớ hầu hạ trong gia đ́nh và đối xử với họ hết sức tàn tệ. Những quân nhân thuộc hàng hạ sĩ quan và binh sĩ đă từng ở các đơn vị dưới quyền chỉ huy của ông Chuẩn Tướng Không Quân Nguyễn Ngọc Oánh đều có kinh nghiệm về các tác phong  thiếu giáo dục, thiếu văn hóa này. Khi c̣n theo học tại Liên Trường Vơ Khoa Thủ Đức (Khóa 7, nhập hoc ngày 12/6/1958), người viết có kinh nghiệm về cung cách hành xử thiếu giáo dục này của ông Đại Úy Nguyễn Mộng Tưởng, Đại Đội Trưởng Khóa Sinh mà Trung Đội 7 của người viết bất hạnh ở trong đại đội này. Ông Trung-tá Vũ Đăng Ch., Trung Đoàn Trưởng một trung đoàn (thuộc SĐ5), trú đóng ở B́nh Dương vừa có hành động ghê tởm như Tướng Đỗ Cao Trí và Tướng Nguyễn Văn Toàn, vừa có tác phong thiêu giáo dục như hai ông Nguyễn Ngọc Oánh và Nguyễn Mộng Tưởng  Tướng Lam Sơn [Nguyễn Đ́nh Thứ (?)] cũng có cung cách đối xử thiếu giáo dục với các quân nhân cấp dưới không khác ǵ hai ông Nguyễn Ngọc Oánh và Nguyễn Mộng Tưởng. Tệ hơn nữa, ông tướng này c̣n thường dùng cái gậy chỉ huy của ông “quất” lia lịa vào thân thể của những anh em quân nhân trở thành nạn nhân của ông. Trường hợp ông Tướng Vĩnh Lộc đối xử tàn tệ với người lính giúp việc cho gia đ́nh ông ta chỉ là một trong muôn ngàn trường hợp ở trong Quân Đội Miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975.[19]

 

6.- Bất công lớn giữa những sĩ quan và anh em quân nhân trong hàng binh sĩ.- Theo kinh nghiệm bản thân đă từng phục vụ trong binh chủng Không Quân từ ngày 20/1/1956 đến ngày 1/8/1960, người viết biết rơ anh em tân binh quân dịch trong hai năm từ ngày 1/1/1957 cho đến ngày 31/12/1958, (có thể kéo dài hơn thế nữa), mỗi ngày chỉ có 4 đồng hay mỗi tháng chỉ được phát cho có 120 đồng. Ngay cả binh nh́ hiện dịch, trừ tiền nuôi cơm rồi, mỗi người cũng chỉ được phát cho khoảng 519 đồng mỗi tháng, binh nhất vào khỏang 545 đồng, và hạ sĩ vào kḥang 581 đồng một tháng.

 

Trong khi đó, tiền lương của một chuẩn úy mới ra trường là 3250 đồng, phụ cấp hàng tháng cho người vợ của họ vào khoảng 600 đồng, và mỗi đứa con mỗi tháng khoảng 500 đồng. Lương của một thiếu úy độc thân mỗi tháng vào khỏang 3.700 đồng và tiền phụ cấp vợ con của họ cũng cao hơn so với tiền phụ cấp vợ con cho các sĩ quan cấp bậc chuẩn úy.

 

Phụ cấp hàng tháng cho người vợ của binh nh́, binh nhất và hạ sĩ là 30 đồng. Trong khi đó, phụ cấp cho một người vợ của sĩ quan cấp thiếu úy trở lên là khoảng từ 800 đồng đến 1000 đồng một tháng. Phụ cấp hàng tháng đồng đều cho mỗi đứa con của binh nh́, binh nhất và hạ sĩ là một 100 đồng. Trong khi đó, phụ cấp cho mỗi đứa con của một sĩ quan từ cấp thiếu úy trở lên ít nhất là 800 đồng, và đứa con thứ 3 vọt lên tới 1300 một tháng (nhiều hơn hai lần tiền lương hàng tháng của anh em quân nhân từ hạ sĩ trở xuống).

 

Nếu đồn trú ở hậu cứ hay là lính văn pḥng mà có vợ, nếu làm đơn xin phép và được chấp thuận, th́ một binh nh́ hiện dịch (hay trừ bị) sẽ không bị khấu trừ khoản tiền nuôi cơm là 450 đồng một tháng. Một hạ sĩ Không Quân có vợ ba con, được hưởng quy chế ăn cơm với vợ (không bị trừ khỏan tiền nuôi cơm), mỗi tháng chỉ được có 1430 đồng. Như vậy là toàn toàn bộ gia đ́nh 5 người một hạ sĩ ch có 1430 đồng, nhiều hơn đưa con thứ ba của một sĩ quan úy là 130 đồng.

 

Anh em tân binh quân dịch sau khi măn nhiệm kỳ 12 tháng, sẽ bị cưỡng bách phải lưu ngũ và sẽ được hưởng quy chế lương hàng tháng giống như một binh nh́ hiện dịch, nghĩa là được lănh 519 đồng một tháng. Số tiền này tương đương với tiền công của một em bé hay bà già đi ở đợ cho người ta vào lúc bấy giờ như nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn ghi nhận trong tác phẩm Xóm Đạo của ông:

 

Lương công chức hạng trung b́nh chỉ có hơn hai ngàn. Thuê một người ở tại nhà, tháng trả năm trăm. Tân binh quân dịch lănh tháng sáu trăm.”[20]

 

Sự kiện này chứng tỏ rằng chính quyền miền Nam đối xử với quân nhân hàng binh sĩ (từ cấp hạ sĩ I trở xuống) giống như những ông bà chủ đối xử với con ở hay những tên nô lệ trong gia đ́nh của họ.

 

T́nh trạng này kéo dài đến giữa năm 1964. Vào thời điểm này, sau khi lên nắm quyền thủ tướng chính phủ (vào ngày 30/1/1964), Tướng Nguyễn Khánh sửa đổi một chút ít về tiền phụ cấp vợ con của hàng binh sĩ, (kỳ dư vẫn không thay đổi, nghĩa là vẫn giữ những đặc quyền về phụ cấp vợ con của hàng hạ sĩ quan và sĩ quan.)

 

Nhân tiện đây, thiết tưởng cũng nêu lên một vấn đề để mọi người cùng suy nghĩ về một việc mà chúng ta cũng nên t́m hiểu. Trong số một nửa triệu quân nhân trong Quân Đội Miền Nam vào mùa Xuân năm 1963, và gần khoảng 1,100,000 vào những năm đầu thập niên 1970, chúng ta đặt ra vấn đề:

 

a.- Có bao nhiêu quân nhân từ chuẩn úy lên đến cấp đại tướng?

b.- Có bao nhiêu quân nhân thuộc hàng hạ sĩ quan (từ  trung sĩ lên đến thượng sĩ I)?

c.- Có bao nhiêu quân nhân thuộc hàng binh sinh sĩ (từ cấp bậc hạ sĩ I trở xuống)?

 

Theo người viết, con số quân nhân từ cấp chuẩn úy đến cấp đại tướng chắc chắn là không quá 20 ngàn (20.000). Con số quân nhân từ cấp trung sĩ đến thượng sĩ nhất có thể gấp bốn lần con số thuộc hàng sĩ quan, nghĩa là vào khoảng 80 ngàn (80.000). Con số c̣n lại khoảng  một triệu quân (trong những năm 1967-1975) toàn là những quân nhân thuộc hàng binh sĩ.

 

Ta có thể ví con số khoảng 20 ngàn sĩ quan cấp chuẩn úy cho đến cấp đại tướng trong quân đội miền Nam, đặc biệt là những sĩ quan nắm giữ các chức vụ chỉ huy, đă hành xử giống như những tên bạo chúa hay ít ra cũng giống như các ông chủ của công ty đồn điền cao su trong các tỉnh miền Đông Nam Kỳ và Cao Nguyên Nam Trung Kỳ hay ông chủ của các công trường khai thác than đá ở Ḥn Gay, Cẩm Phả và Uống Bí trong những năm 1900-1945; và  vai tṛ của con số 80 ngàn hạ sĩ quan này đối xử với các anh em quân nhân trong hàng binh sĩ (từ hạ sĩ I trở xuống) giống như vai tṛ của những tên cai phu đối xử với anh em công nhân trong các đồn đ́ền hay trong các công trường khai thác quặng mỏ này.

 

Con số khoảng một triệu quân nhân c̣n lại đều thuộc hàng binh sĩ. Con số binh sĩ khổng lồ này bị chính quyền đối xử như một thứ con ở, làm nô lệ cho các quan lớn quan nhỏ, họ phải đổ mô hôi nước mắt và xương máu ra trong 24 giờ một ngày và 365 ngày một năm để rồi được xí cho mỗi tháng một số tiền ốm đói không bằng tiền làm công của một người ít học, ngu dốt đi ở đợ cho người ta như tác giả Nguyền Ngọc Ngạn đă nêu lên trong Xóm Đạo “Thuê một người ở tại nhà, tháng trả năm trăm.” (tr 194 và tr 386). Từ sự kiện này, người viết xin đặt mấy vấn đề như sau:

 

a.- Bị đối xử không bằng một đứa ở đầy tớ trong một gia đ́nh hay một tên nô lệ của các quan lớn quan nhỏ trong chính quyền và trong quân đội, khoảng một triệu anh em binh sĩ trong quân đội miền Nam chiến đấu cho cái ǵ? Chiến đấu cho ai?

 

b.- Bảo rằng họ chiến đấu cho dân chủ và tự do, xin hỏi, đối với khoảng một triệu anh em binh sĩ trong quân đội và đại khối nhân dân bị trị ở miền Nam có được hưởng các quyền tự do dân chủ hay không?

 

c.- Hay là họ phải chiến đấu để bảo vệ cái quyền làm lănh chúa, cái quyền ăn trên ngồi trốc, hét ra lửa mửa ra khói của các ông giám mục, linh mục, các ông tướng, tá và nhóm thiểu số tay sai của Giáo Hội La Mă và của chính quyền?

 

Nêu lên mấy vấn đề trên, người viết mong rằng mọi người trong chúng ta hăy suy nghĩ và t́m ra câu trả lời.

 

7.- Rất nhiều sĩ quan hoạt động việc buôn bán nha phiến. Sẽ được tŕnh bày đầy đủ trong một chương sách với tựa đề là  Vấn Nạn Buôn Bán Nha Phiến (Mục XXXIII) Phần VI ở sau.[21]

 

8.- Tệ nạn tham nhũng.- Tệ nạn này sẽ được tŕnh bày đây đủ trong một chương sách có tựa đề là Vấn Nạn Tham Nhũng (Mục XXIII, Phần VI) ở sau.[22]

 

9.- Tệ nạn lính ma lính kẻng.- Tệ nạn này cũng sẽ được tŕnh bày đầy đủ trong Mục XXXIII, Phần VI ở sau.

 

Chắc chắn là trong quân đội miền Bắc và quân đội Giải Phóng Miền Nam không có những nhược điềm trên đây. Chính những nhược điểm này là một trong những nguyên nhân quan trọng đưa đến việc chính quyền và quân đội miền Nam bắt đầu ră đám vào ngay khi Hoa Kỳ chính thức bỏ rơi miền Nam Việt Nam cùng với việc chính quyền Hà Nội hành động theo “quyết định lấy chiến trường Tây Nguyên và Buôn Mê Thuột là chiến trường và điểm mở đầu” vào  2 giờ sáng ngày 10/3/1975.[23] .

 

 

DIỄN BIẾN T̀NH TRẠNG RĂ ĐÁM

CỦA CHÍNH QUYỀN VÀ QUÂN ĐÔI MIỀN NAM

 

Nói đến diễn biến t́nh trạng ră đám của chính quyền và quân đội miền Nam là phải nói đến t́nh trạng này bắt đầu ră đám vào thời điiểm nào? Các nhà viết sử đều cho rằng việc ră đám của chính quyền và quân đội miền Nam thực sự đă khởi sự vào ngay khi Tổng Thống Nixon thúc ép Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu phải chấp nhận Thỏa Hỉệp Paris được kư kết vào ngày 27/1/1973.

 

Sau khi bị Hoa Kỳ thúc ép như vậy, tinh thần bỏ chạy đă bắt đầu nhen nhúm trong đầu óc Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và tất cả những nhân vật cao cấp trong chính quyền miền Nam. Họ đều biết rơ là vào thời điểm quân đội Hoa Kỳ bắt đầu rút khỏi miền Nam th́ cũng là thời điểm chính quyền miền Bắc bắt đầu chuẩn bị phát động những chiến dịch quân sự tấn công miền Nam. Họ cũng biết rằng, ở vào t́nh huống đó, chắc chắn là quân đội miền Nam với tinh thần đánh thuê sẽ không thể nào đương đầu nổi với quân đội Miền Bắc. Họ cũng biết rằng quân đội miền Bắc không những can trường, thiện chiến và được vơ trang bằng ḷng yêu nước đă có thành tích lẫy lừng đánh bại Liên Quân Pháp – Vatican trong cuộc chiến 1945-1954 và sau đó đă  quyết tâm liều chết chiến đấu để hoàn thành sứ mạng giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước. Biết rơ như vậy, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và tất cả nhân vật cao cấp trong chính quyền miền Nam quay ra t́m cách vơ vét cho đầy túi tham, chuẩn bị hành trang khăn gói chờ ngày tẩu thoát ra nước ngoài để hưởng thụ. Việc mưu đồ muốn tư nhân hóa nhà bưu điện Sàig̣n vào năm 1974, vụ c̣i hụ Long An, và vụ các ông quan lớn quan nhỏ hè nhau tháo gỡ cướp đoạt những đồ đạc trang bị các cơ  sở và căn cứ quân sự của quân đội Hoa Kỳ như ở căn cứ Đồng Tâm [24]  chỉ là một vài trong số hàng ngàn bằng chứng cho chúng ta thấy thực trạng này.

 

Đó là nói về những nhân vật nắm giữ những chức vụ cao cấp trong chính quyền và trong quân đội.

 

C̣n về Giáo Hội La Mă, qua vai tṛ của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, một thế lực đă liên kết chặt chẽ với Hoa Kỳ nắm quyền sắp xếp các nhân sự và đưa người lên cầm quyền ở miền Nam từ năm 1954, vào lúc đó, Giáo Hội và Hội Đồng Giám Mục Việt Nam tính toán như thế nào để đối phó hay thích nghi với t́nh h́nh mới khi miền Nam Việt Nam đổi chủ?

 

Nói một cách văn tắt là Giáo Hội La Mă cũng biết rơ là sau khi kư xong Hiệp Định Paris 1973, Hoa Kỳ sẽ rút quân ra khỏi miền Nam Việt Nam, đương nhiên là miền Bắc sẽ tấn công miền Nam, và chắc chắn là quân đội miền Nam sẽ tan ră rất mau. Biết rơ như vậy, Toà Thánh Vatican mới ra lệnh cho Hội Đồng Giám Mục chuẩn bị tinh thần để đương đầu với t́nh thế mới bằng cách thay h́nh đổi dạng từ con cọp hung dữ đă tung hành ở miền Nam từ năm 1954 biến thành con cừu hiền lành để làm nguôi ngoai ḷng căm phẫn của nhân dân và chính quyền mới ở miền Nam. Có như vậy th́ mới hy vọng tránh được những đ̣n thù của nhân dân miền Nam và những biện pháp trừng trị của tân chính quyền, và như thế mới có cơ may tồn tại.

 

Nói một cách vắn tắt đại lược là như vậy.

 

Tuy nhiến, lời giải thích vắn tắt trên đây sẽ không làm hài ḷng cho cả giới người có niềm tin vào cái chính nghĩa quốc gia giới người muốn có cái nh́n xuyên suốt đầy đủ  và rơ ràng về vấn đề này. V́ vậy, chúng tôi xin đưa ra phần tŕnh bày dưới đây với hy vọng sẽ làm hài ḷng cà hai giới người nói trên.

 

*

*   *

 

Tất cả những người đă từng sống và chứng kiến miền Nam Việt Nam trong suốt thời kỳ từ  ngày7/7/1954 cho đến ngày 30/4/1975 đều biết rằng trong suốt thời gian này, Hoa Kỳ và Giáo Hội mới thực sự là hai thế lực nắm quyền điều khiền bộ máy cai trị ở miền Nam Việt Nam và quyền quản lư nhân dân được trao cho hai ông Da-tô Ngô Đ́nh Diệm và Da-tô Nguyễn Văn Thiệu, ngoại trừ trong một thời gian ngắn từ chiều tối ngày 1/11/1963 cho đến ngày 19/6/1965.(Ngày này Nguyễn Văn Thiệu được Hoa Kỳ và Vatican đưa lên nắm giữ chức vụ “Chủ Tịch Ủy Ban Lănh Đạo Quốc Gia, tức Quốc Trương của miền Nam Việt Nam”[25].  

 

Như đă tŕnh bày ở trên, tại miền Nam, trong những năm 1954-1975, hầu như tất cả các phạm vi sinh hoạt trong chính quyền cũng như ở ngoài xă hội (hành chánh, quân sự, kinh tế, tài chánh, văn hóa, xă hội, giáo dục, truyền thông) đều bị Giáo Hội La Mă và nhóm thiểu số tín đồ Da-tô cuồng tín kiểm soát, thao túng, vơ vét cho đầy túi tham. Ngay cả chương tŕnh học ở bậc tiểu và trung học cũng bị kiềm soát chặt chẽ để phục vụ cho chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ của Giáo Hội La Mă. Đặc biệt là môn công dân và môn sử (sử thế giới và sử quốc gia) đều bị kiểm soát chặt chẽ để bưng bít những việc làm bất chính của Giáo Hội. Những việc làm bất chính này là những rặng núi tội ác của Giáo Hội La Mă đă chống lại nhân loại trong gần hai ngàn năm qua và chống lại dân tộc Việt Nam từ giữa thế kỷ 16 cho đến ngày nay. Tất cả những việc làm này cùng với chính sách bách hại Phật Giáo và chèn ép các thành phần các tôn giáo không phải là đạo Da-tô đă khiến miền Nam nát bấy như tương và khiến cho gần 90% dân chúng miền Nam đều hướng về chính quyền miền Bắc,  công khai hay bí mật ủng hộ  hay tham gia Mặt Trận  Giải Phóng Miền Nam với hy vọng  thoát khỏi được móng vuốt của con cọp Da tô hung dữ. (Xin xem lai Mục XXIII, chương sách nói về “Thành Phần Ṇng Cốt Trong Nhân Dân Được Chính Quyền Tin Cậy”..

 

V́  thế, việc Hoa Kỳ rút quân ra khỏi miền Nam  (theo Hiệp Định Pa ris 1973) đă làm cho Giáo Hội đứng trước một viễn tường vô cùng đen tối, giống y như viễn tượng đen tối của Giáo Hội trong biến cố Cách Mạng 1789 và biến cố Quốc Quân Trung Hoa dưới quyền lănh đạo của Tưởng Giới Thạch bị đại bại trước sức mạnh của Hồng Quân Trung Hoa, phải cuốn gói chạy thoát thân ra Đảo Đài Loan vào mùa thu năm 1949.

 

Chúng ta biết rằng biến cố Quốc Quân Trung Hoa đại bại trước sức mạnh của Hồng Quân Trung Hoa và chạy thục mạng ra hải đảo Đài Loan vào mùa thu năm 1949 đă khiến cho Liên Minh Pháp - Vatican đang thống trị Việt Nam bước dần đến bờ vực thẳm tan ră, và Giáo Hội La Mă phải liệu bề tính kế:

 

1.- Tẩu tán những khối bất động sản khổng lồ của Giáo Hội ở Việt Nam đă cướp đoạt của nhân dân ta trong những năm 1862-1950. Những khối bất động sản khổng lồ này do các ông tu sĩ Da-tô người Pháp đứng tên, bây giờ phải sang tên cho các ông tu sĩ Da-tô người Việt bằng cách ra lệnh cho chính quyền bù nh́n Bảo Đại ban hành Dụ số 10 vào ngày 6/8/1950. Sự kiện này được ông Da-tô Nguyễn Văn Châu ghi lại bằng xảo thuật ngôn ngữ Da-tô với nguyên văn như sau:

 

Chiếu dụ số 10 do Quốc Trưởng Bảo Đại ban hành ngày 6 tháng 8 năm 1950 ấn định quy chế các hiệp hội tôn giáo, thật sự là nhằm giúp đỡ Phật giáo (sic) và miễn áp dụng cho các tôn giáo và giáo phái khác, mặc dù có những điều khoản bênh vực bảo vệ của cải bất động sản của Hội Thừa Sai Ba Lê, của cải của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam nhưng lại do người Pháp đứng tên nên thuộc quyền sở hữu của Pháp. Nhân dịp chuyển giao đất đai Nhà Chung đó cho hàng Giám Mục Việt Nam, nhiều vấn đề phức tạp đă xẩy ra.”.[26]

 

2.- Ra lệnh cho Giám-mục Ngô Đ́nh Thục dẫn ông Ngô Đ́nh Diệm đến Hoa Kỳ giao cho Hồng Francis Spellman vận động với chính quyền Hoa Kỳ thành lập Liên Minh Mỹ - Vatican và đưa ông Ngô Đ́nh Diệm về Việt Nam cầm quyền để duy tŕ và củng cố quyền lực của Vatican tại Việt Nam.

 

Tương tự như  biến cố Quốc Quân Trung Hoa chạy ra hải đảo Đài loan, biến cố Thỏa Hiệp Paris 1973 quy định việc Hoa Kỳ rút hết quân ra khỏi Việt Nam vảo cuối năm 1974  cũng làm cho Liên Minh Mỹ - Vatican (đă thống trị miền Nam từ năm 1954) bước dân đến trên bờ vực thẳm tan ră và Giáo Hội La Mă cũng phải liệu bài tính kế:

 

1.- Ra lệnh chuyển hết tiền bạc trong nhà  ngân hàng Đại Nam ra khỏi  miền Nam Việt Nam. Chuyện này được ông Vũ Trọng Minh nói rơ trong lá thư ngỏ đề ngày 15/3/1995 gửi Giáo Hoàng John Paul II, trong đó có một đoạn với nguyên văn như sau:

 

Câu chuyện thứ Chín, là tinh thần tích cực làm tiền của các cha cố ngay tại Sàig̣n mà cả nước ai cũng biết. Khi thực dân Pháp chiếm xong Nam Kỳ (miền Nam nước Việt) th́ họ cho một công ty Pháp mở một đồn điền trồng cao su, chạy dài 14 cây số từ cổng trường bay Tân Sơn Nhất xuống đến Chợ Lớn. Năm 1954, Pháp bị Cộng Sản đánh bại, phải rút khỏi Việt Nam, họ liền bí mật bán cho nhà Chung (Giáo Hội La Mă), không ai biết bao nhiêu, nhưng chắc chắn là rẻ mạt v́ Hiệp Định Genève đang tiến hành, trước sau cũng mất. Đất bán cho nhà Chung cứ để y nguyên nên ai cũng tưởng là đất của chính phủ lấy lại của Tây. Đến năm 1970, nhà Chung Công Giáo chia lô làm nhà bán cho người ta mua làm nhà v́ dân số đô thành lúc đó đă tăng lên gấp năm lần, nhà bán chạy như tôm tươi. Mỗi lô bán trung b́nh hai trăm năm mươi ngàn đồng bạc lúc đó. Số tiền bán nhà đất thu về sơ sơ cả mấy trăm triệu, không biết có gửi về nhà băng Ṭa Thánh hoặc các ngân hàng khác không? Chỉ biết một phần số tiền đó các Ngài dùng để mở Ngân Hàng Đại Nam. Trước ngày Cộng Sản thống nhất toàn bộ  đất nước, có lẽ các Ngài biết rơ t́nh h́nh sắp sụp đến nơi nên thu vốn lại, không rơ đem đi đâu v́ Ngân Hàng Đại Nam không kèn không trống biến mất tiêu trước ngày 30/4/1975. Thế là đất nước Việt Nam bị kẻ cướp thực dân lấy khai thác chán chê rồi bán cho bạn chí thiết của kẻ cướp là Giáo Hội Công Giáo.

 

Chưa ai thấy ơn cứu rỗi của Chúa và Giáo Hội Công Giáo đâu cả, chỉ thấy tài sản đất nước tôi chuyền từ tay bọn ăn cướp ngày là thực dân sang tay bọn cướp đêm là công ty bán vé cứu rỗi của quư Ngài.”[27]

 

2.- Giáo Hội La Mă phải tạm thời từ bỏ lập trường hiếu chiến, chuyển sang chủ trương ḥa hoăn với chính quyền Hà Nội bằng cách ngầm ra lệnh cho các tín đồ đang nắm giữ những chức vụ quan trọng trong chính quyền và quân đội miền Nam thi hành kế sách “tẩu vi thượng sách”, để Hội Đồng Giam Mục Việt Nam chuẩn bị cho việc chuyển cái thế đang là con cọp hung dữ ở Mỉền Nam biến thành con cừu hiền ḥa để tồn tại”, theo đúng sách lược từ ngàn xưa của Giáo Hội La Mă mà sử gia Loraine Boettner đă nói rơ như đă tŕnh bày ở trên. Xin ghi lại lời nói này để độc giả dễ nh́n ra vấn đề:

 

Rome in the minority is a lamb (Khi  là thiểu số, Giáo Hội La Mă là con cừu).

Rome as an equal is a fox (khi ngang số, Giáo Hội La Mă La Mă là con cáo).

Rome in the majority is a tiger (khi chiếm đa số, Giáo Hội La Mă  là con cọp.)”[28] 

 

Do đó, chúng ta không lấy làm ngạc nhiên khi thấy ông Tổng Thống Da-tô Nguyễn Văn Thiệu triệu tập buổi họp tại Dinh Độc Lập vào ngày 13/3/1975 để bàn nhau rút lui khỏi miền Trung và chuẩn bị  tẩu thoát. Sự kiện này được Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại ghi lại như sau:

 

Ngày 13/3/1975, tại dinh Độc Lập tổng thống Thiệu họp với thủ tướng Trần Thiện Khiêm, đại tướng Cao Văn Viên, trung tướng Đặng Văn Quang, trung tướng Ngô Quang Trưởng và trung tướng Nguyễn Văn Toàn. Trong buổi họp này tổng thống Thiệu cũng đă nhận định rằng không cách nào với ngân khoản viện trợ Hoa Kỳ bị cắt giảm, chính phủ Việt Nam Cộng Ḥa  có thể giữ được sự vẹn toàn lănh thổ miền Nam. Tổng Thống Thiệu lấy viết gạch một đường từ Ban Mê Thuột xuống Tuy Ḥa và nói đó là ranh giới mới của miền Nam. Tổng Thống Thiệu c̣n căn dặn tướng Trưởng giữ kín, không tiết lộ cho các tư lịnh Sư Đoàn, các tỉnh trưởng cũng như Hải Quân và Không Quân biết việc bỏ miền Trung.”[29]

 

Chúng ta cũng không ngạc nhiên khi thấy Giám Mục Phạm Ngoc Chi ra lệnh cho ông Tướng Da-tô Lâm Quang Thi (đang nắm giữ chức vụ Tư Lệnh Tiền Phương ở Quân Khu II) chuyển đề nghị yêu cầu Tướng Ngô Quang Trưởng bỏ ư định pḥng thủ Đà Nẵng:

 

“Sáng ngày 28/3(1975), trung tướng Lê Nguyên Khang phụ tá cho đại tướng Viên bay ra Đà Nẵng gặp trung tướng Trưởng. Tướng Trưởng nhắc điện thoại gọi thẳng tôi (Hồ Văn Kỳ Thoai) và chỉ thị tôi sang Quân Đoàn để gặp tướng Khang….

 

Trung tướng Khang, trung tướng Trưởng và tôi (Hồ Văn Kỳ Thoại) cùng duyệt lại t́nh h́nh tại Quảng Nam và Đà Nẵng và trận liệt về phía Hải Quân. Cho đến giờ phút đó không ai đề cập đến việc bỏ Đà Nẵng cũng như việc rút lui hai lữ đoàn của Thủy Quân Lục Chiến, trung tướng Khang chỉ yêu cầu tôi chuẩn bị phương tiện di chuyển Sư Đoàn 2 vừa ra Cù Lao Re về B́nh Tuy.

 

Theo trung tướng Thi, trong quyển sách “The Twenty Five Years Century by Lam Quang Thi – Univsersity of South Texas Press (2001), trang 360” của ông, th́ trong lúc tướng Trưởng tiếp tướng Khang, th́ ông tiếp Đức Cha Phạm Ngọc Chi. Đức Cha Thi nhờ tướng Thi chuyển lời lại cho tướng Trưởng là Đức Cha Chi xin tướng Trưởng bỏ ư định pḥng thủ thành phố Đà Nẵng v́ làm như vậy thành phố Đà Nẵng sẽ bị tiêu diệt một cách vô ích và sẽ gây chết chóc cho dân Đà Nẵng cũng như đống bào tị nạn từ các tỉnh khác về.” Trong đoạn sau, tướng Thi có nói là ông đồng ư với Đức Cha Chi về vấn đề gây thương vong  cho thường dân và sự tàn phá một thành phố mà tướng Thi cho là đẹp.” [30] 

 

Cũng nên biết là Giám-mục Phạm Ngọc Chi đă từng là vị lănh chúa áo đen cực kỳ hiếu chiến và hiếu sát ở Giáo Khu Bùi Chu trong những năm 1947-1954, đă sát hại không biết bao nhiêu bộ đội cụ Hồ và người dân trong các làng kế bên các làng đạo dưới quyền thống trị của ông. Một số trong những tội ác của ông lănh chúa áo đen này được ông Charlie Nguyễn kể lại trong lá thư gửi cho ông Nguyễn Thanh Giản trong đó có mấy đoạn với nguyên văn như sau:

 

Nguyên nhân của sự “nổi loạn” của tôi là vào năm 1949, tôi đă chứng kiến thảm cảnh của những người “bên lương” bị Cha tôi và các cha xứ cùng quê Ninh Cường (nằm trong Giáo Khu Bùi Chu - NMQ) hợp tác với Tây tiêu diệt họ. Có người bị cháy như con chó thui ở tiệm “Cầy Tơ” nhe răng ghê rợn. Có người bị trói thúc ké để chờ giao lên đồn Tây. Có người bị đốt nhà và bị bắn thả trôi sông.  Một vài bạn học của tôi lúc c̣n bé tí là con của những người đó, trong số bạn tôi hồi nhỏ, có những đứa chế nhạo tôi: “Đi đạo ăn gạo té re, ăn chè té rỏng, ăn xôi thủng ruột. Cũng có đứa qú xuống trước mặt tôi, chắp tay và cầu kinh:

 

Lạy ơn Chúa Giê xu

Nằm trong hang đá tḥ cu ra ngoài.

Con chó nó tưởng củ khoai

No đớp một cái đứt …. Giê xu.”

 

Lúc đó, tôi ghét chúng nó vô cùng. Tôi đă đánh nhau với chúng nó v́ chúng nó dám xúc phạm đến Chúa của tôi. Chúng nó phạm những tội mà tôi có thể giết chúng như giết quỉ. Tôi sẵn sàng tử chiến với chúng để “bảo vệ đức tin”. Nhưng rồi, thời gian trôi qua, tôi dần dần nhận ra những “người bên lương” đó mới là những đồng bào yêu nước. Cha tôi và bọn cha cố mà tôi trước đây hết ḷng kính mến thực ra là Việt gian. Đó là nguyên nhân đă làm tôi chuyển hướng tâm linh từ cực này sang cực khác lúc nào không hay. Cái mà tôi sẵn sàng chết cho nó trước đây là “Đức Tin Công Giáo” th́ nay lại là cái mà tôi chỉ muốn “ôm bom” để hủy diệt đức tin đó. Khẩu hiệu của tôi từ năm 1996 đến này là: “Christian by birth:, anti- Christ by choice.”

 

Tôi tự nguyện dùng mạng sống của ḿnh để làm cái giá chuộc tội sát nhân v́ cuồng tín của cha tôi. Những nạn nhân của cha tôi và của các cha cố Việt gian hầu hết đều là những dân lành vô tội. Họ là những người yêu nước với tinh thần Phật giáo thanh cao, tôi vô cùng ngưỡng mộ. Tôi coi mọi bài viết chống Kitô giáo của tôi là những nén hương ḷng của tôi dâng lên hương linh của họ….” [31]

 

Trong những năm 1954-1975, Giám-muc Phạm Ngọc Chi lại trở thành lănh chúa ở các tỉnh Liên Khu V, và cũng là  một trong các giáo chủ đại diện (prelates) của Ṭa Thánh Vatican ở miền Nam Việt Nam, đồng thời cũng là một trong những nhân vật ở hậu trường sân khấu chính trị miền Nam có ảnh hưởng rất lớn đến tất cả chính sách đối nội của chính quyền miền Nam. Đặc biệt là trong những năm 1955-1963, v́ chủ trương đẩy mạnh “kế hoạch biến miền Nam theo Công Giáo hết trong ṿng mười năm” do anh em ông Ngô Đ́nh Diệm chủ trương[32] ., ông Gíám-mục này đă trực tiếp  liên hệ đến việc tàn sát khoảng 300 ngàn người dân lương ở vùng này.[33] .

 

Về phía chính quyền Hà Nôi, sau khi Hiệp Định Paris được kư kết giữa chính quyền Mỹ và chính quyền miền Bắc vào ngày 27/1/1973, họ tiên đoán rằng một khi quân đội Hoa Kỳ rút ra khỏi miền Nam Việt Nam và cắt đứt viện trợ tài chánh, th́ chính quyền Sàig̣n quân đội miền Nam  sẽ bắt đầu ră ngũ tan hàng vào ngay khi quân đội miền Bắc khởi sự tấn công miền Nam. Để trắc nghiệm lời tiên đoán này, họ quyết đinh phóng ra các chiến dịch tấn công vào một vài cứ điểm chiến lược để thăm ḍ khả năng chống trả của quân đội miền Nam và cũng là thăm ḍ phản ứng của Hoa Kỳ. Sự kiện này được sách Lịch Sử Đàng Cộng Sản Đảng Việt Nam ghi nhận như sau:

 

Sau khi quân ta giải phóng các quận lỵ Thường Đức, Minh Long, Nha Bích, Tống Lê Chân, Mưng Đen Giá Vụt… địch không có khả năng phản công để giành lại.”.[34]

 

Sau những chiến dịch này, Hà Nôi thấy rằng khả năng chống trả của quân đội miền Nam quá yếu và Hoa Kỳ vẫn bất động, vẫn khoanh tay ngồi yên, không có hành động cụ thể nào tiếp cứu miền Nam. Thấy rằng thời cơ đă đến, chính quyền Hà Nội quyết định đưa ra kế hoạch tiến chiếm miền Nam trong hai năm 1975-1976.

 

Trước t́nh h́nh mới, tháng 10-1974, Bộ Chính Trị quyết định kế hoạch chiến lược hai năm 1975-1976.” “lấy chiến trường Tây Nguyên và Buôn Ma Thuột làm chiến trường và điểm mở đầu.”.[35] 

 

Thực ra, khi quân đội Miền Bắc mở những chiến dịch tấn chiếm các cứ điểm trên đây, về phương diện quân số, hỏa lực, binh chủng và các phương tiện, quân đội miền Nam vẫn c̣n có nhiều ưu thế hơn quân đội miền Bắc. Sự kiện này được Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoái (của Hải Quân miền Nam) nói rơ trong cuốn hồi kư Can Trường Trong Chiến Bại với nguyên văn như sau:

 

Quân số của mỗi sư đoàn bộ binh của ta cũng như của địch không có nhất định cho nên rất khó mà so sánh một cách tuyệt đối chính xác tổng kết quân số hai bên. Về thiết giáp, địch phải di chuyển từ ngoài Bắc vào, việc sửa chữa và tiếp tế nhiên liệu rất khó khăn hơn các đơn vị thiết giáp của ta. Về pháo binh, địch phải di chuyển từ Bắc vào và hàng ngày phải bị sự đe doạ phát giác bởi phi cơ của ta, c̣n pháo binh ta ở tại những nơi ta lựa chọn. Ta hoàn toàn kiểm soát không phận và hải phận miền Nam trong khi địch không được ưu điểm quan trọng này. Đa số lực lượng Hải Quân Việt Nam Cộng Ḥa trên biển được dồn về chiến trường miền Trung mà không sợ hải phận ở nơi khác bị đe doạ. V́ thế khả năng yểm trợ hải pháo tại Quân Khu I rất hùng hậu mà Bộ Tư Lệnh Tiền Phương không nghĩ tới việc xử dụng để giải tỏa áp lực địch mà chỉ nghĩ tới việc chuyên chở quân.”[36]

 

Như đă tŕnh bày ở trên, chính quyền miền Nam không có lư tưởng và quân đội miền Nam trong thực tế chỉ là quân đội đánh thuê cho Liên Minh  Xâm Lăng Mỹ - Vatican; cả chính quyền lẫn quân đội đều sống nhờ vào sự che chở của quân đội Hoa Kỳ và được nuôi dưỡng bằng tiền việt trợ Mỹ. Giờ đây, cái Liên Minh Mỹ -Vatican tan vỡ, quân đội Hoa Kỳ rút về nước và tiền viện trợ Mỹ để nuôi dưỡng chính quyền Sàig̣n và quân đội miền Nam cũng bị chấm dứt. Con cọp Hoa Kỳ đă từng có mặt ở Miền Nam từ năm 1954 để cho con cáo Vatican đội lốt nhầy lên bàn độc tác oai tác quái tàn hại nhân dân. Giờ đây con cọp Hoa Kỳ phải rút về Mỹ khiến cho con cáo Vatican không c̣n chỗ dựa, nên phải liệu bài tính kế hoá thân thành con cừu để tồn tại bằng cách ra lệnh cho những tín đồ đang nắm giữ những chức vụ đầu năo ở Dinh Độc Lập và các chức vụ trọng yếu trong quân đội phải t́m cách rút lui êm thắm vừa để bảo toàn nhân sự pḥng khi hữu sự, vừa tạo cho Giáo Hội Da-tô ở miền Nam cái bộ mặt hiếu ḥa giống như con cừu đối với chính quyền Hà Nội với hy vọng sẽ tránh được những biện pháp sắt máu trừng trị của Ha Nội, giống như chính quyền Cách Mạng Pháp 1789 đă trừng trị Giáo Hội trong thập niên 1790.[37]

 

Với thực trạng này, các nhân vật lănh đạo chính quyền Sàig̣n và các tướng tá nắm giữ những chức vụ chỉ huy và toàn thế quân đội miền Nam mất hết tinh thần. Một khi đă mất hết tinh thần th́ dù cho có chiếm ưu thế về tất cả quân số, phương tiện, vũ khí và hỏa lực, quân đội miền Nam cũng bỏ súng mà chạy để thoát thân. Thực trạng của quân đội miền Nam vào thời điểm từ cuối năm 1974 là như vậy. Cho nên, chúng ta không lấy làm ngạc nhiên khi thấy quân miền Bắc chỉ cần ra quân khai mào đánh một hai trận là các tướng tá chỉ huy các đơn vị t́m cách lẩn trốn, không dám chường mặt ra để cùng với quân lính dưới quyền đối đầu với Bắc quân. Cũng v́ thế mà khi quân đội miền Bắc vừa mới bắt đầu mở chiến dịch tấn chiếm Ban Mê Thuột vào sáng sớm ngày 10/3/1975, th́ toàn bộ Quân Đoàn II bị tan ră ngay sau đó, và chỉ 3 ngày sau, tức là ngày 13/3/1975, tại Dinh Độc Lập ông Tổng Thống Da-tô Nguyễn Văn Thiệu tổ chức cuộc họp bàn nhau t́m cách tháo chạy như đă tŕnh bày ở trên.

 

Thấy rằng chiến dịch tấn chiếm Buôn Ma Thuột và Tây Nguyên “chỉ có 32 giờ  chiến đấu (“từ 2 giờ ngày 10-3 đến 10 giờ 30 phút ngàt 11-3-1975”) mà toàn bộ các sư đoàn và quân đội địa phương của Quân Đoàn II dưới quyền tư lệnh của của Tướng Phạm Văn Phú bị tan ră hoàn toàn, Bộ Chính Trị của Đảng Cộng Sản Việt Nam bèn nhóm họp khẩn cấp vào ngày 24/3/1975 để thay đổi chiến lược, đẩy mạnh chiến dịch tấn chiếm miền Nam, rút ngắn thời gian giải phóng miền Nam để sớm hoàn thành sứ mạng thống nhất đất nước:

 

Hội Nghị Chính Trị ngày 24/3/1975 đă khẳng định: cuộc tổng tiến công chiến lược mùa xuân năm 1975 đă bắt đầu từ chiến dịch Tây Nguyên, mở ra thời cơ chiến lược lớn… giải phóng miền Nam với thời gian sớm hơn. Bộ Chính Trị xác định: phải thật khẩn trương nắm chắc phương châm “thần tốc, táo bạo, bất ngờ”, tập trung lực lượng tiến lên giải phóng Sàig̣n trước mùa mưa 1975. Kịp nắm lấy thời cơ quân địch đang hoảng hốt mà đánh tiêu diệt quân đoàn 1 và bộ phận c̣n lại của quân đoàn 2, không cho chúng rút về cụm lại quanh Sàig̣n.”[38]

 

Trở lại về phía chính quyền miền Nam, ai cũng biết rằng dù cho Hoa Kỳ vẫn c̣n viện trợ vũ khí dồi dào đến đâu đi nữa mà không viện trợ tài chánh để trả lương hàng tháng cho quân đội và các nhân viên chính quyền cùng các  phí khoản khác, th́  chính quyền Sàig̣n và quân đội đánh thuê miền Nam cũng sẽ ră đám. Vấn đề là thời gian mà thôi. Giáo Hội La Mă cũng biết rơ như vậy. V́ thế, Giám-muc Phạm Ngọc Chi mới nhờ tín đồ Da-tô Lâm Quang Thi đang nắm giữ chức vụ Tư Lệnh Tiền Phương kiêm Tư Lịnh Phó Quân Đoàn I chuyển đề nghị đến Tướng Ngô Quang Trưởng lời yêu cầu “không pḥng thủ thành phô Đà Nẵng”.

 

Không biết ông Tướng Da-tô Lâm Quang Thi đă biết trước sách lược mới trên đây của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam hay ông chỉ mới biết vào khi ông được Giám Mục Phạm Ngọc Chi nhờ chuyền đề nghị “bỏ Đà Nẵng” đến Tướng Trưởng. Dù là ở trường hợp nào đí nữa, th́ việc ông  kiếm cớ để lẩn tránh nhiệm vụ của một vị tướng lănh ở ngoài mật trận bằng cách xin Tướng Trưởng ra một chiến hạm ở ngoài khơi để thành lập bộ chỉ huy lưu động cho Quân Đoàn I với mục đích là khỏi phải ở lại nơi dầu sôi lửa bỏng có thể nguy hiểm đến tính mạng là một sự kiện lịch sử. Sự kiệnnày nói lên hành động hèn nhát đáng phỉ nhổ của một người tướng cầm quân ở nơi chiến địa. Sự kiện này cũng được Phó Đề Đốc Thoại kể lại như sau:

 

Tướng (Lâm Quang) Thi đề nghị với tướng Trưởng cho ông đi ra một chiến hạm lớn để thành lập bộ chỉ huy hành quân lưu động cho Quân Đoàn I. Tướng Trưởng chấp thuận. Tướng Thi và đại tá Sơn ra trực thăng và bay ra và đáp trên dương vận hạm ngoài vịnh. Đó là lần chót mà tướng Trưởng thấy mặt và nói chuyện với Tướng Thi cho đến khi hai người gặp lại nhau tại Tổng Y Viện Cộng Ḥa tại Sàg̣n, hai tuần lễ sau. Đúng 10 giờ 45 tối (ngày 28/3/1975), tướng Thi và HQ đại tá Sơn rời căn cứ bằng trực thăng. Lấy lư do là lập bộ chỉ huy lưư động trên chiến hạm cho Quân Đoàn, mà tướng Thi không biết là Bộ Tham Mưu và Quân Đoàn đă giải tán từ 5 giờ chiều, tham mưu trường và một số sĩ quan sang Sơn Chà đi tàu ḍng dân sự, một số khác thi tự động về nhà lo cho gia đ́nh.”[39]

 

Hành động gian manh và lươn lẹo để lẩn tránh khỏi phải ở mặt trận của ông Tướng Da-tô Lâm Quang Thi đă khiến cho Phó Đề Đốc Thoại nêu lên thắc mắc:

 

Ban tham mưu gồm có ai? Máy truyền tin ở đâu? Liên lạc với tướng Trường bằng cách nào? Chỉ huy  đơn vị nào và bằng cách nào?” [40]

Như vậy rơ ràng là chuyện ông Tướng Thi đề nghị thành lập bộ chỉ huy lưu động trên một chiến tầu ở ngoài khơi chỉ là cái cớ để cho ông ta lẩn tránh, khỏi phải ở lại Huế v́ lúc đó Huế đang khẩn trương và rất có thể xẩy ra những trận đánh khốc liệt giống như hồi Tết Mậu Thân. Thế rồi, khi lên một chiến tầu của Hải Quân ở ngoài khơi, ông lại t́m cách đi Đà Nẵng. Ông bỏ đi rồi, Bộ Tư Lệnh Tiền Phương không có người chỉ huy, các đơn vị ở trên bộ đang đụng trận không có người chỉ huy tổng quát, không được sự phối hợp để xin pháo binh hay hải pháo yểm trợ. Họ phải chiến đấu lẻ loi trong tuyệt vọng và cuối cùng phải đầu hàng. Đồng thời, cả một trăm nhân viên trong Bộ Tư Lịnh Tiền Phương của ông cũng rơi vào t́nh trạng như rắn mất đầu. Trong khi đó, khi về tới Đà Nẵng, ông tướng Da-tô này lại t́m một nơi an toàn để lẩn tránh khỏi phải ở mặt trận cùng với anh em quân nhân dưới quyền để đương đầu với Bắc quân:

 

Sau khi có lịnh bỏ Huế, tướng Thi ra lịnh không rơ ràng nên các đơn vị tự động tan hàng và từ đó ông không c̣n điều động các đơn vị được nữa nên tự nghĩ hết trách nhiệm tại tiền phương cho nên khi xuống chiến hạm tại Thuận An ông ra lịnh đưa ông về Đà Nẵng. Ngày hôm sau Liên Đoàn Đặc Nhiệm Hải Quân chỉ định một tuần dương đỉnh WPB đưa tướng Thi về Đà Nẵng. Sau khi tướng Thi về tới Đà Nẵng, Lỉên Đoàn Đặc Nhiệm Hải Quân (ở), Thuận An của thiếu tá Hy và Hải Đoàn Đặc Nhiệm của trung úy Uyển vẫn c̣n tiếp tục vớt quân dọc theo bờ biển Bắc Vĩnh Lộc. Việc rước người của các chiến hạm Hải Quân tại cửa Thuận An đă xẩy ra trong sự hỗn loạn v́ quân trên bờ không có người chỉ huy. Ngoài ra, Bộ Tư Kịnh Tiền Phương cũng không thấy xin phi vụ nào oanh tạc hoặc được pháo binh làm chậm sự tiến quân của địch, cho nên các chiến hạm khi rước quân bị địch pháo thường xuyên. Hải Đoàn Đặc Nhiệm Hải Quân không nhận được lịnh yểm trợ hải pháo. Chính v́ lư do đó mà 4 (bốn) tiểu đoàn tác chiến của Thủy Quân Lục Chiến  không được sự yểm trợ cần thiết để lên chiến hạm và đầu hàng địch sau khi cạn đạn. Sau khi các đơn vi Bắc Hải Vân tan ră, tướng Trưởng ra lịnh tướng Thi dùng một lữ đoàn TQLC để trấn giữ đèo Hải Vân. Nhưng thay v́ ở đèo Hải Vân, ông lại bay lên đài kiểm báo Không Quân (người Mỹ thường gọi là đài Panama) trên đ́nh núi Sơn Chà, ở tại đó và từ đó ông gọi điện thoại cho đại tá Lê Bá Khiếu, trưởng pḥng 3 của Bộ Tư Lịnh Quân Đoàn I gởi lên cho ông một sĩ quan thuộc pḥng 3 và một máy PRC 25 để làm Bộ Tư Lịnh Hành Quân của Quân Đoàn I. Một trăm nhân viên của Bộ Tư Lịnh Tiền Phương lên chiến hạm tại Thuân An về đến Đà Nẵng không ai rơ số phận ra sao.”[41]

 

Một ông tướng Da-tô khác cũng hèn nhát t́m cách trốn khỏi mặt trận giống như ông Tướng Da-tô Lâm Quang Thi và trốn sớm hơn ông Tướng Lâm Quang Thi tới hai ngày. Đó là Thiếu Tường Hoàng Văn Lạc đang nắm giữ chức Tư Lệnh Phó Quân Khu I. Ngay từ ngày 26/3/1975, ông tướng Da-tô này đă t́m cách lẩn trốn ra khỏi mặt trận để về Sàigon rồi ở lại đây cho đến ngày ông chuồn ra ngoại quốc. Thời điểm này cho chúng ta thấy rơ là ông Tướng Da-tô Hoàng Văn Lạc đă tính bài cao chạy xa bay trước ngày Giám Mục Phạm Ngọc Chi nhờ ông Tướng Da-tô Lâm Quang Thi chuyển đề nghị yêu cầu Tướng Trưởng “bỏ ư định pḥng thủ thành phố Đà Nẵng”. Như vậy, ta có thể kết luận rằng hoặc là bản chất hèn nhát của cá nhân ông Tướng Hoàng Văn Lạc đă khiến cho ông phải tính bài trốn chạy khỏi mặt trận càng sớm càng tốt, hoặc là ông đă biết rơ là Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đă chuyển sang lập trường chủ ḥa để làm hoà với chính quyền Hà Nội. Có thể là cả hai. Chuyện ông Tướng Da-tô Hoàng Văn Lạc bỏ chạy được Phó Đề Đốc Thoại kể lại với nguyên văn như sau:

 

Người phụ tá quan trọng thứ hai của tư lịnh Quân Đoàn I là tư lịnh phó Quân Khu I, thiếu tướng Hoàng Văn Lạc… Khi tỉnh Quảng Ngăi và Quảng Tín bắt đầu bị áp lực địch, tướng Lạc đề nghị tướng Trưởng để ông về Sàig̣n tŕnh Tổng Tham Mưu về t́nh h́nh Quân Khu I để xin tăng viện. Tướng Trưởng nghĩ rằng ông đi và về trong (một) ngày nên chấp thuận. Tướng Lạc về Sàig̣n ngày 26 (tháng 3 năm 1975). Sau khi xong công tác, tướng Lạc báo cáo không có phương tiện để trở về Đà Nẵng và ở lại Sàig̣n cho đến khi Đà Nẵng thất thủ.” [42]

 

Trung tướng Trưởng biết là ông không c̣n hy vọng ǵ về sự có mặt của tướng Lạc ở bên ông trong những giờ phút quyết định sắp tới, khi trung tướng Lê Nguyên Khang bay ra Đà vào ngày cuối, trước khi Đà Nẵng bắt đầu bị địch tấn công, và cho tướng Trưởng biết (có sự hiện diện của tác giả) là ông có gặp tướng Lạc tại Bộ Tổng Tham Mưu chiều ngày hôm trước (tức ngày 27/3/1975) và có mời tướng Lạc cùng đi với ông cùng máy bay ngày hôm sau (tức ngày 28/3/1975) để ra Đà Nẵng, tướng Lạc đă trả lời là v́ “c̣n chút việc phải giải quyết ở Sàig̣n nên không đi theo tướng Khang được.” [43]

 

Tướng Da-tô Lâm Quang Thi là Tư Lịnh Tiền Phương kiêm Tư Lịnh Phó Quân Đoàn I và Tướng Da-tô Hoàng Văn Lạc là Tư Lịnh Phó Quân Khu I. Với những chức vụ quan trọng như vậy, hai ông tướng này giống như hai cánh tay của Tướng Trưởng. Từ khi hai ông tướng này bỏ đi rồi, Tướng Trưởng như mất luôn cả hai cánh tay, không c̣n cựa quạy được ǵ nữa. Việc này được coi như nguyên nhân chính (ṿng khoen gốc) gây ra những hậu quả dây chuyền (những ṿng khoen kế tiếp) mà hậu quả trực tiếp hay ṿng khoen nối tiếp với ṿng khoen thứ 1 (gốc) là:

 

1.- Tướng Trưởng buộc ḷng phải cho giải tán Bộ Tham Mưu Quân Đoàn I của ông:

 

Tư Lịnh Quân Đoàn I đă ra lịnh Bộ Tham Mưu Quân Đoàn tan hàng từ chiều ngày 28. V́ không c̣n Bộ Tham Mưu Quân Đoàn nên các đơn vị quân đội cũng như tiểu khu như rắn mất đầu, không c̣n biết phải làm ǵ và cứ mỗi khi liên lạc không được với cấp chỉ huy trực tiếp là quân sĩ tự động bỏ súng và t́m cách thoát thân. Theo tôi, số phận miền Trung đă được định đoạt vào lúc 5 giờ chiều ngày 28.”[44]

 

2.- Ṿng khoen thứ hai của hậu quả này là quân lính theo gương hai ông tướng Da-tô Lâm Quang Thi và Hoàng Văn Lạc cũng bỏ đơn vị t́m cách thoát thân, rơ rệt nhất và trước nhất là ở Sư Đoàn 1 Bộ Binh. T́nh trạng này đă khiến cho vị tướng tư lệnh sư đoàn là Tướng Nguyễn Văn Điểm ra lệnh giải tán sư đoàn của ông:

 

Với 4 trung đoàn đă từ từ bỏ vị trí pḥng thủ chung quanh Huế và đa số các đơn vị đă tan hàng từ sáng sớm trước khi có lịnh di tản vào buổi chiều.” (Trang 269)  “Tại Bộ Tư Lịnh Sư Đoàn 1 phía Nam thành phố Huế, tướng Điềm họp các đơn vị trưởng và ra lịnh tan hàng. Kể từ đó  các quân nhân không c̣n giữ được kỷ luật cần thiết để lên chiến hạm hoặc di chuyển một cách có trật tự về hướng Nam theo đường bộ.”[45]

 

Chúng ta không biết với quân số hơn mười ngàn quân nhân có vũ trang đầy đủ, trong đó có rất nhiều tín đồ Da-tô mang sẵn bản chất Da-tô với những đặc tính dă man của truyền thống thập tự quân, chắc chắn là  có những hành động ghê tởm giống như những người lính đồng đạo của họ đă từng hành động Âu Châu và các vùng ven Biển Địa Trung Hải trong thời Trung Cổ, ở Croatia trong những năm 1941-1945, ở miền Bắc Trung Bộ và ở Bắc Bộ  trong những năm 1946-1954 và ở Rwanda trong năm 1994.

 

Các ṿng khoen kế tiếp của hậu quả này là:

 

3.- Sư Đoàn 2 dưới quyền tư lệnh của Tướng Trần Văn Nhật, với quân số trên mười ngàn quân mà khi rút lui khỏi Chu Lai để ra Cù Lao Re chỉ c̣n lai  khoảng 4 ngàn người. .[46] 

 

4.- Sư Đoàn 3 dưới quyền tư lệnh của Tướng Nguyễn Duy Hinh với quân sồ khoảng 14 ngàn quân nhân tại ngũ vào ngày  23/3/1975 đóng ở Hoà Khánh c̣n hiện diện đủ, một tuần lễ sau khi rút về tới Bà Rịa chỉ c̣n lại khoàng một ngàn.[47]  5.- Sư Đoàn 1 Không Quân dưới quyền tư lệnh của Chuẩn Tướng Nguyễn Đức Khánh với nhiệm vụ phối hợp với các đơn vị bạn hành quân trong vùng để yểm trợ, nhưng viên tướng này đă theo gương hai ông tướng Da-tô Lâm Quang Thi và Hoàng Văn Lạc lẩn tránh nhiệm vụ, t́m nơi an toàn để ẩn ḿnh, cho nên sau đó ông mới bị Bộ Trường Quốc Pḥng là Tướng Trần Văn Đôn bắt nhốt giam ở Bộ Tổng Tham Mưu cùng với Tướng Lâm Quang Thi:

 

“Theo lời Không Đoàn Trưởng đại tá Vượng th́ khu trục cơ phản lực A-37 khiển dụng cũng c̣n lại ít nhất là 40 chiếc. Như thế mà Quân Đoàn không có điều động một phi vụ oanh kích nào để giải tỏa áp lực của địch, có thể v́ không có vị tướng nào có mặt trong trung tâm hành quân Quân Đoàn, chỉ c̣n sĩ quan tham mưu, không có thẩm quyền quyết định.”[48]

 

Sau khi gởi phúc tŕnh đi, tôi đi thăm trung tướng Trưởng đang nghỉ tại Tổng Y Viện Cộng Ḥa. Tướng Trưởng bắt tay tôi rồi hai tay ôm choàng lấy tôi, hai mắt ông rướm nước mắt. Sau đó tôi có đến Bộ Tổng Tham Mưu, và đến nơi giam giữ một số tướng lănh với mục đích thăm tướng Lâm Quang Thi và tướng Nguyễn Đức Khánh. Lúc đó tôi không biết ai ra lệnh giữ các tướng này. Sau này gặp lại trung tướng Trần Văn Đôn th́ tôi được biết đó là lịnh của tướng Đôn.” [49]

 

6.- Sư Đoàn Thuỷ Quân Lục Chiến dưới quyền chỉ huy của tướng Bùi Thế Lân cũng như 4 Liên Đoàn Biệt Động Quân và 1 Lữ Đoàn Thiết Giáp không được sự phối hợp hành động từ Bộ Tham Mưu Của Quân Đoàn I cho nên phải hoạt động đơn độc không được các phi pháo yểm trợ. T́nh trạng này khiến cho quân lính rơi vào cảnh chiến đấu đơn phương trong tuyệt vọng. Cuối cùng, họ, mất hết tinh thần và phải t́m đường tháo chạy và mạnh ai người ấy chạy, chạy càng mau càng có hy vọng thoát khỏi nơi nguy hiểm. Thế là các đơn vị này hoàn tàn ră ngũ.

 

7.-  Căn Cứ  Yểm Trợ Đà Nẵng Tiếp Vận có quân số trên một ngàn người, nhưng khi tập họp (vào chiều tối ngày 28/3/1975?) chỉ c̣n lại có  70 người:

 

“Căn cứ có quân số trên một ngàn người nhưng khi tập họp chỉ c̣n 70 người. Sáng sớm ngày 29, khi chiến đỉnh của đại tá Thiều rời căn cứ ra vịnh Hàn, th́ đă có nhiều ghe trong Vịnh treo cờ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam.”[50] .

 

8.- Tất cả các đơn vị địa phương quân và các tiểu khu tại các tỉnh trong Quân Khu I theo gương hai ông Tướng Da-tô Lâm Quang Thi và Hoàng Văn Lạc cũng t́m cách lẩn trốn nhiệm vu, rời bỏ hàng ngũ để về với gia đ́nh hay t́m nơi an toàn để ẩn thân.

 

Trở lại chuyện hai ông Tướng Da-tô Lâm Quang Thi và Hoàng Văn Lạc lẩn trốn nhiệm vụ khi đang phải đụng trận, người viết không biết rơ hai ông tướng Da-tô này  hành động như vậy là ở vào trường hợp nào trong hai trường hợp:

 

A.- Họ đă được Hội Đồng  Giám Mục rỉ tai, ra lệnh không nên chống cự nữa để Hội Đồng Giám Mục Việt Nam c̣n có thể dễ dàng xoa dịu ḷng căm phẫn của chính quyền Hà Nội đối với Giáo Hội La Mă.

 

B.- Do bản chất hèn nhát khiếp đảm, sợ phải đụng trận.

 

Có thể là ở vào trường hợp A.  V́ thế mà kể từ ngày 26/3/1975, các ông tướng Da-tô như Lâm Quang Thi, Hoàng Văn Lạc đă t́m cách lẩn trốn nhiệm vụ chạy trước. Rồi khi quân đội miền Bắc tiến đánh đến vùng Củ Chi - Tây Ninh, th́ ông Tướng Da-tô Lư Ṭng Bá, tư lệnh Sư Đoàn 25, trú đóng ở đây, cũng bỏ đơn vị mà chạy. Nhưng không may, ông lại bị quân đội miền Bắc bắt được ở một nơi trong cánh đồng lúa cách đó không bao xa (chứ không tại nơi ông trú đóng).

 

Có người cho rằng các ông tướng, tá và sĩ quan Da-tô lẩn trốn như vậy là ở vào trường hợp B. Đặc tính hèn nhát khiếp sợ phải đụng trận đă có sẵn trong những người mang ḍng máu tham lam ích kỷ, úy tử tham sinh của những người “đi đạo lấy gạo để ăn “ và “theo đạo để tạo danh đời”.

 

Căn bệnh ích kỳ, tham lợi, háo danh và thèm khát quyền lực là cha đẻ ra những chứng bệnh hèn nhát, tham sống sợ chết và đội trên đạp dưới. Chính v́ vậy mà không bao giờ họ nghĩ đến chuyện đi ra khỏi văn pḥng của bộ chỉ huy để dấn thân lăn lộn với quân nhân dưới quyền trong những khi giải trí cũng như trong những giờ phút gay go phải đối đầu với hỏa lực tấn công của địch quân. Trường hợp Trung Tá Da-tô Trần Thanh Chiêu tư lệnh Sư Đoàn 21 trú đóng trong vùng Tây Ninh bị tấn công và bị tổn thất nặng nề vào tháng 1/1960 cũng v́ lẽ này. Thảm bại này được sách Việt Nam Niên Biểu 1939-1975 ghi lại với nguyên văn như sau:

 

26/1/1960: TÂY NINH, 02G30: Trận Tua Hai (Trảng sập hay sụp). “Tua Hai” tức tháp canh thứ hai, kể từ Tây ninh, trên Quốc lộ 22, cách tỉnh lỵ khoảng 7 cây số. Đêm 25 rạng 26/1 (27 tháng chạp âm lịch) khoảng  200 VC độ kích Bộ Chỉ Huy Trung đoàn 32 của Sư Đoàn 21 VNCH (nguyên là Trung đ̣n 39, Sư đoàn 13 khinh chiến). Lực lượng đồn trú có khoảng 250 người. Tấn công từ hướng Bắc, VC vượt qua các trạm gác, xuyên qua doanh trại của các Tiểu đoàn 1 và 2, và chỉ bị chặn lại ở Tiểu đoàn 3. Giao tranh diễn ra trong khoảng một tiếng đồng hồ. 23 quân nhân VNCH chết, mất một số lớn vũ khí (2000?) (Gravel, 1:338; Báo cáo của Williams, 20/3/1960; FRUS, 1958-1963, I:342-4)

 

Tư Lệnh Sư Đoàn là Trung-tá Trần Thanh Chiêu, bị cách chức, Thiếu-tá  MẪN (?), trung đoàn trưởng bị giáng xuống đại úy, không được thăng thưởng trong ṿng 5 năm.”[51]

 

Đại Tá Da-tô Bùi Đ́nh Đạm Tư Lệnh Sư Đoàn 7 dưới quyền Tư lệnh Quân Đoàn IV của Thiếu Tướng Da-tô Huỳnh Văn Cao trong trận Ấp Bắc xẩy ra vào tháng 1/1963 cũng ở trong t́nh trạng giống như vậy. Trận đánh này được sách sử  ghi nhận như sau:

 

2/1/1963: MỸ THO: Trận Ấp Bắc.- Hai đại đội VC giữ một ấp chiến đấu, khoảng 14 cây số Tây Bắc Mỹ-tho, và 35 dặm Tây Nam Sàig̣n, khiến quân lực VNCH, có thiết vận xa M.113, phi cơ, pháo  binh, và quân số gấp 4 lần bị thiệt hại nặng. Dù chết 19 chết, 33 bị thương, kể cả một đại úy và 1 trung sĩ cố vấn Mỹ, 5 trực thăng bị bắn rơi. (FRUS 1961-1963, III:1-2; Sheehan 1988, tr. 261-2)

 

Trong đêm, lực lượng Việt Cộng an toàn rút khỏi Tân Thới về Đồng Tháp Mười.

 

Phía VNCH, khoảng 80 binh sĩ chết, 100 bị thương, 3 cố vấn Mỹ chết và 8 bị thương. [Tin chính thức của VNCH: 63 chết, 109 bị thương]. Xem báo cáo của Trung Tá John P. Vann ngày 9/1/1963: Kennedy Library, NSF, Vietnam country Series, 1/63).

 

Đây là trận đánh được cơ quan tuyên truyền  Cộng Sản và giới báo chí Mỹ - điển h́nh là NEIL SHEEHAN, phóng viên của hăng thông tấn UPI – coi như một chiến thắng lớn và kiểu mẫu của Cộng Sản trong cuộc chiến Việt Nam. Theo Sheehan, người tự nhận là học tṛ của Trung Tá Vann, Cố Vấn Sư Đoàn 7 BB lúc đó, các sĩ quan VNCH hèn nhát, không chịu tấn công. Cấp tư lệnh - đặc biệt là Đại Tá Bùi Đ́nh Đạm, tư lệnh Sư Đoàn 7 và Thiếu Tướng Cao, tư lệnh Quân Đoàn IV từ tháng 12, 1962, những người mà Vann và Sheehan gọi là “raggedy- ass little bastards” (1988, tr.262) – đă chủ trương tránh chạm trán với Việt Cộng; và khi đụng trận, chỉ bày vẽ sao cho Việt Cộng rút lui êm thắm. (Sheehan 1988, tr. 271-7)” [52]

 

Căn bệnh ích kỷ, tham lợi háo danh, hèn nhát, úy tử tham sinh và đội trên đạp dưới  của các ông tướng tá Da-tô gây ra t́nh trạng ră ngũ tan hàng như trên dễ dàng lây truyền sang các tướng tá  khác như những vết dầu loang. Cũng v́ thế mà sau ngày 11/3/1975, toàn bộ Quân Đoàn II tại Quân Khu II  dưới quyền tư lệnh của Tướng Phạm Văn Phú bị tan ră hoàn toàn, và chưa đầy 3 tuần lễ sau, tới chiều tối ngày 28/3/1975, toàn bộ quân lính Quân Đoàn I trong Quân Khu I dưới quyền tư lệnh của Tướng Ngô Quang Trường cũng tan ră hoàn toàn. Rồi sau đó, các tỉnh từ Quy Nhơn trở vào Nam, mới chỉ phong thanh nghe thấy quân đội miền Bắc bắt đầu rục rich di chuyển đến nơi nào th́ quân lính miền Nam ở nơi đó đă vội vàng co gị bỏ chạy.

 

Chỉ có một trường hợp duy nhất là khi quân đội miền Bắc tiến tới Xuân Lộc (Long Khánh) vào ngày 9/4/1975 mới gặp sức kháng cự mănh liệt của Sư Đoàn 18 dưới quyền tư lệnh của Chuẩn Tướng Lê Minh Đảo (không phải là tín đồ Da-tô). Nhờ có pháo binh loại 130 ly từ căn cứ Biên Hoà và không quân yểm trợ hữu hiệu, cho nên sư đoàn này đă cầm cự được khoảng một tuần lễ. Nhưng rồi tới ngày 16/4/1975 (theo Wikipedia, the free encyclopedia nói về Trận Đánh Xuân Lộc - Battle Of Xuân Lộc), ngày đó, các ổ trọng pháo cũng như 6 chiến đấu cơ F-5 và 14 phản lực A-37 tại căn cứ Biên Ḥa bị hư hại nặng v́ bị pháo kích. T́nh trạng này khiến cho khả năng yểm trợ của không quân và của pháo binh bị tê liệt. V́ thế mà sức kháng cự của Sư Đoàn 18 suy yếu lần cho đến ngày 20/4/1975 th́ toàn bộ sĩ quan và quân lính c̣n lại phải buông súng đầu hàng.

 

Kể từ ngày này, hầu hết những cấp chỉ huy cao cấp trong chính quyền cũng như trong quân đội miền Nam chỉ c̣n biết lo thu vén tiền bạc, của cải và d́u dắt vợ con để chạy cho thoát thân. Chức vụ càng lớn càng lo chạy trước:

 

Ngày 21/4/1975, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu chính thức tuyên bố từ chức để chuẩn chạy trốn. Phó Tổng Thống Trần Văn Hương được đôn lên làm tổng thống. Tiếp theo là Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm cũng từ chức để chuẩn bị “chuồn”. Chủ Tịch Hạ Viện Nguyễn Bá Cẩn được đưa lên làm thủ tướng thay thế. Ngày 25/4/1975,Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm vội vă lên máy bay chuồn ra ngoại quốc. Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn và các tướng lănh như Cao Văn Viên (Tổng Thâm Mưu Trưởng), Đặng Văn Quang (Cố Vấn An Ninh Phủ Tổng Thống), Nguyễn Văn Toàn (Tư Lệnh Quân Khu 3 kiêm Tư Lệnh Quân Khu Thủ Đô), Nguyễn Khắc Binh (Tổng Giám đốc Cảnh Sát Quốc Gia), Đỗ Kiến Nhiễu (Đô Trưởng Sàig̣n), Ngô Quang Trưởng (Tư Lênh Vùng 1 kiêm Quân Khu 1), Lâm Quang Thi (Tư Lệnh Phó Quân Đ̣an I Kiêm Tư Lệnh Bộ Tư Lệnh Tiền Phương), Hoàng Văn Lạc (Tư Lệnh Phó Quân Khu I) Trần Văn Minh (Tư Lệnh Không Quân), Lê Quang Lưỡng (Tư Lệnh Nhẩy Dù), Dư Quốc Đống, Vĩnh Lộc, Đồng Văn Khuyên, Phạm Quốc Thuần, Vĩnh Lộc, Ngô Du, Lữ Lan, Lê Nguyên Khang, Bùi Đ́nh Đạm, Nguyễn Văn Minh (Minh Đờn), Trần Văn Trung (Chiến Tranh Chính Trị), Nguyễn Cao Kỳ, Huỳnh Bá Tĩnh, Nguyễn Hữu Tần, Vơ Xuân Lành, Nguyễn Ngọc Oánh,  v.v... đều lũ lượt kéo nhau đào ngũ chạy ra hải ngoại. Các thượng nghị sĩ và dân biểu quốc hội như Nguyễn Văn Chức, Hùynh Văn Cao, Nguyễn Văn Ngải, Phạm Nam Sách, Trương Tiến Đạt, Hoàng Xuân Tửu, Trần Văn Đôn, Tôn Thất Đính, Nguyễn Bá Lương, Nguyễn Văn Ngải, Nguyễn Gia Hiến, . v.v.., bỏ cờ, bỏ lính, bỏ Thượng Viện, bỏ Quốc Hội, bỏ dân chúng, kẻ trước người sau theo nhau vắt chân lên cổ đào tẩu, giống như tàn quân Quốc Dân Đảng của Tưởng Giới Thạch tranh nhau chạy khỏi Hoa Lục vào mùa Thu năm 1949.

 

Miền Nam, đặc biệt là dân chúng thành phố lớn ở miền Nam, như "rắn đă mất đầu". Vào những ngày trong tuần lễ chót của tháng 4/1975, từ Phan Rang trở vào Sàig̣n, quân lính lang thang lếch thếch cởi bỏ quân phục, liệng bỏ vũ khí và quân trang, lo chạy thoát thân. Cảnh sát, công an, mật vụ cũng biến dạng. Chỉ c̣n lại đám dân đen ngơ ngác, lặng nh́n giang sơn đổi chủ. T́nh trạng thảm thương này được ông Da-tô Nguyễn Văn Lục ghi lại với nguyên văn như sau:

 

"Sàig̣n 30 tháng 4, bề ng̣ai cũng như một Baghdad ngày nay. Người đi bỏ chạy lấy người, kẻ ở lại lợi dụng cơ hội vơ vét. Cứ nh́n xem những người ra đi đủ để bắt mạch được miền Nam đang hấp hối.

 

Trước đó ông Thiệu đă gửi tài sản gia đ́nh của ông bằng đường tầu thủy sang Đài Loan và Canda, gửi vàng sang Paris giá trị 5 triệu đô la. Tối ngày 25 tháng 4, Polgar ra lệnh cho mật vụ đi ba xe đến đón ông Khiêm ở Bộ Tổng Tư Lệnh đi Tân Sơn Nhứt. Ít phút sau, ông Thiệu tới trên một xe Mercedès. Timmes ngồi cạnh ông Thiệu và yêu cầu ông ngồi thụp xuống sàn xe, v́ sợ lính nổ súng. Timmes hỏi xă giao ông Thiệu: Phu nhân và tiểu thư khỏe không ạ? Ông Thiệu trả lời, "Nhà tôi và cháu đi Luân Đôn mua ít đồ cổ" (Trích Frank Snepp, Decent Interval, trang 167). Nhớ lại, trước đó gần một tháng, Thủ Tướng Hoàng Thân Sirik Matak biên một lá thư từ chối tỵ nạn. Bức thư này c̣n lưu trữ trong Văn Khố Thượng Viện Hoa Kỳ. Sau đó, Ḥang Thân Matak đă hy sinh cùng với Phó Thủ Tướng Long Beret . (Trích bài của Trung Tá Nguyễn Tuệ trên Tiếng Sông Hương, 2000). Lá thư của Ḥang Thân Sirik Matak có đọan viết như sau: "Rất tiếc là trong hoàn cảnh này, tôi khổng thể ra đi một cách hèn nhát như vậy.... (Trích Tiền Phong số 658, trang 20)

 

Sài G̣n lúc ấy là một băi rác đủ mọi thứ vô thừa nhận. "Sao Mai", quân trang, quân dụng, giầy bốt, mũ sắt, huân chương, tài liệu, sách vở vứt tung tóe, sắc đeo lưng, lựu đạn, súng ống. Dọc theo đường Công Lư ra đến Tân Sơn Nhứt... Người ta vứt đủ thứ ra đường. Sự hỗn loạn, sự sợ hăi trên mỗi khuôn mặt và trên bằng chứng là những món đồ vứt lại. Chưa kể đến xe díp, xe tải và cả xe tăng nữa. Chỉ có máy bay và tầu bè là phương tiện dùng để di tản là không c̣n để lại. Cũng không dám kể đến hồ sơ mật đủ loại, hồ sơ nhân viên. Theo Trung Tá Nguyễn Tuệ, điều hành văn pḥng Trung Tướng Đồng Văn Khuyên, Tham Mưu Trưởng Bộ Tổng Tham Mưu, với bài viết: Ngày Tháng Cũ (Tiếng Sông Hương, 2000) trước đó một tháng, Mỹ đă lo ngại và đề nghị Tổng Cục Tiếp Vận nên đem toàn bộ hố sơ tại Trung Tâm Quản Trị gửi sang căn cứ Utapao (Thái Lan) của Không Quân Mỹ. Phía Việt Nam, h́nh như không quan tâm đến vấn đề này. Nói chung, toàn bộ tài sản của chính quyền và quân đội Việt Nam Cộng Ḥa để rơi vào tay Cộng Sản.

 

Về phía CIA, họ đă chuyển hồ sơ mật đi trước. Cái ǵ không chuyển được đă kịp thời đốt. Theo Frank Snepp, họ đă thiêu hủy 14 tấn hồ sơ liên quan đến hoạt động t́nh báo và hồ sơ nhân viên.

 

Phía Ṭa Khâm Sứ (của Giáo Hội La Mă) ở Sàig̣n, họ đă chuyển về Vatican 24 thùng liên quan đến t́nh h́nh Việt Nam và 3 thùng liên quan đến Hội Đồng Giám Mục Việt Nam (chứng từ của Linh-mục Thụ, thư kư Ṭa Khâm Sứ.)

 

Ṭan bộ hồ sơ từ miền Trung đến Sàig̣n xuống lục tỉnh, chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa chuyển đi được mấy thùng?.Toàn bộ hồ sơ của Bộ Quốc Pḥng, của quân đội nói chung được mấy thùng? Toàn bộ hồ sơ của các bộ, văn pḥng Thủ Tướng, văn pḥng Tổng Thống chuyển đi được mấy thùng? Hay ít lắm cũng đốt đi được mấy thùng? Xin Đại Tướng Cao Văn Viên, Tướng Trần Thiện Khiêm lên tiếng. Xin các tướng lănh, các cựu bộ trưởng lên tiếng.

 

Về phía dân chúng, cảnh xô bồ náo loạn như đến ngày tận thế. Người người hốt hoảng chạy, chạy xuôi, chạy ngược. Thật khác xa với h́nh ảnh ra đi vĩ đại, thong thả như đi du lịch, đi tắm biển. Taxi, xe nhà, xe gắn máy chở đầy người, chất đày của cải phóng như lao trên đường phố. Bàn ghế, giấy tờ, xe cộ ngổn ngang vứt bừa băi dọc đường. Vợ con sĩ quan, công chức lạc nhau, chồng, vợ, con cái bị bỏ lại. Xô nhau mà chạy, chạy bán sống bán chết. Ai là người có can đảm, có ḷng ở lại đương đầu với t́nh thế? Ai là người lúc bấy giờ làm kẻ hốt rác miền Nam? Kẻ ra đi hay kẻ quyết tâm ở lại? Tướng Dương Văn Minh là người cuối cùng ở lại cúi xuống đất nhặt một quyền chính bỏ rơi ngoài đường. Để trong 48 tiếng đồng hồ sau đó đứng ra nuốt nhục cứu độ quần chúng thủ đô miền Nam (chữ của Vân Xưa, bút hiệu của cụ Hồ Sĩ Khuê)...

 

Ngày 20 tháng 3, Tướng Lâm Quang Thi, Tư Lệnh Phó Quân Đ̣an I, rời bỏ thành phố Huế, di tản chiến thuật. Bộ Tổng Tham Mưu mất lỉên lạc. Ngày 29 tháng 3, Tướng Ngô Quang Trưởng, Chuẩn Tướng Nguyễn Đức Khánh, Đại Tá Duệ, Đại Tá Kỳ và các sĩ quan Bộ Tham Mưu (Quân Đ̣an 1) đă lên tầu Hải Quân 404, dời Đà Nẵng vào Cam Ranh. Đà Nẵng bị bỏ ngỏ để mặc cho quân lính mạnh ai nấy chạy. Đến Cam Ranh, các tướng lănh giữ kín việc về Sàig̣n. Chuẩn Tướng X. lên bong tầu ra lệnh cho Thủy Quân Lục Chiến dời tầu, nói dối là sẽ quay lại Vùng 1 Chiến Thuật. Khi người lính cuối cùng rời khỏi tầu xuống Cam Ranh th́ chiến hạm vội chặt neo chạy về Sàig̣n vào lúc 7:30 tối ngày 31/3/1975. Thủy Quân Lục Chiến đă bị lừa phản bội vào phút chót.

 

Ngày 27/4/1975, Đại Tướng Cao Văn Viên bỏ chạy, chỉ để lại một lá thư từ chức trên bàn làm việc và đề nghị Tướng Đồng Văn Khuyên thay thế ông (Trích bài của Trung Tá Nguyễn Tuệ, Tiếng Sông Hương, 2000)

 

Ngày 28/4/1975, tất cả những vị tướng sau đây đă bỏ trốn: Trung Tướng Nguyễn Văn Minh (Biệt Khu Thủ Đô), Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn (Tư Lệnh Quân Đ̣an 3), Trung Tướng Trần Văn Minh (Tư Lệnh Không Quân), Chuẩn Tướng Trần Đ́nh Thọ, Đại Tá Nguyễn Văn Lung.

 

Sài G̣n bị bở ngỏ trước khi Cộng Quân tiến vào ngày 30/4/1975. Ông Thiệu bỏ đi đầu tiên và cứ thế tùy theo cấp bậc lớn nhỏ chuồn theo.

 

Trong khi đó, theo lệnh Ṭa Nhà Trắng bắt buộc Đại Sứ Martin phải lên máy bay. Ông là một trong những người Mỹ cuối cùng đă lên máy bay vào lúc 5 giờ sáng ngày 30/4/1975. 10 giờ 30 ngày 30/4/1075, Cộng Sản vào chiếm Dinh Độc Lập. Cuộc chiến kết thúc."[53]

 

Cho măi đến 8 giớ tối ngày 28/4/1975, Đai Tướng Dương Văn Minh mới được Đại Sứ Hoa Kỳ Graham A. Martin và Đại Sứ Pháp Mérillion vận động và làm áp lực với Thổng Thống Trần Văn Hương phải thoái vị để nhường  chức vụ tổng thống cho ông. Vào lúc này, quân đội miền Bắc đă  tiến vào tới Tân Cảng, G̣ Vấp và  nhiều ngả khác mà không gặp một sự kháng cự nào. Như vậy  là việc đưa Đại Tương Dương Văn Minh lên ngôi vị tổng thống vào lúc đó chỉ có một mục đích duy nhất là để chuẩn bị một cái thế chuyển quyền cho chính quyền Hà Nội một cách êm thắm hầu tránh khỏi xẩy ra cảnh bom đạn làm hao tổn sinh mạng và tài sản của hàng triệu người dân Sàig̣n một cách vô ích, đúng như cụ Vân Xưa Hồ Sĩ Khuê đă nhân định:

 

Tướng Dương Văn Minh là người cuối cùng ở lại cúi xuống đất nhặt một quyền chính bỏ rơi ngoài đường. Để trong 48 tiếng đồng hồ sau đó đứng ra nuốt nhục cứu độ quần chúng thủ đô miền Nam.”.

 

Trong t́nh huống này, những người thấu hiểu lịch sử thế giới đều cho rằng việc hai ông đại sứ Hoa Kỳ và đại sứ Pháp cố gắng giàn xếp đưa ông Dương Văn Minh lên cầm quyền th́ cũng giống  như việc giàn xếp những người có thầm quyền c̣n lại trong chính quyền Đức Quốc Xă vào đầu tháng 5/1945 trong việc đưa Tướng Gustav Jodt lên với danh nghĩa Tổng Tư Lệnh Quân Đội và nhân dân Đức để sáng sớm ngày 7/5/1945 ông phải thân hành đến Bộ Tổng Hành Dinh của Đại Tướng Eisenhower tại Reims (Đông Bắc nước Pháp) kư nhận đầu hàng Đồng Minh vô điều kiện.[54]

 

Sự thật miền Nam sụp đổ là như vậy. Ấy thế mà từ năm 1975 đến nay, nhóm thiểu số tín đồ Da-tô cuồng tín và nhóm tàn dư phản động phong kiến cùng với bọn trưởng giả học làm sang liên tục viết báo viết sách với những ngôn từ hạ cấp thiếu giáo dục xoáy vào những chủ đề:

 

1.- Quy trách nhiệm  “làm mất miền Nam” cho Đại Tướng Dương Văn Minh mà họ cho rằng v́ ông ra lệnh cho quân đội miền Nam buông súng đầu hàng quân đội miền Bắc vào lúc 10 giờ 30 phút sáng ngày 30/4/1975.

 

2.- Oán trách trách Hoa Kỳ đă phản bội “đồng minh” (sic) cho nên mới nên nông nỗi.

 

3.- Bêu riếu và chửi bới những người trong Đảng Cộng Sản cũng như trong Mặt Trận Việt Minh, không cần biết họ là những người đă hy sinh trọn đời chiến đấu cho đại cuộc giành lại quyền độc lập và hoàn thành sứ mạng thống nhất đất nước. Họ chửi bới luôn cả các nhà lănh đạo và các viến chức chỉ huy các cấp trong chính quyền Việt Nam hiện nay.

 

Nhờ được sự giúp đở của thế lực Quốc Tế Đen, tại hải ngoại, nhóm người thiểu số vong bản phản dân tộc này, đă có thể khống chế các phương tiện truyền thông và các hội đoàn người Việt tại các đia phương, cho phổ biến những sách, báo có nội dung như trên theo sách lược “Tăng Sâm giết người” và “cả vú lấp miệng em”.

 

Quả thật họ là những quân nói ăn ngang ngược theo đúng truyền thống ăn ngang nói ngược trong đao Da-tô như đă được tŕnh bày ở trên.

 

Ngoài những hành động chửi bới trên đây, bọn người vong bản phản dân tộc này lại c̣n có những việc làm trái tai gai mắt, chống chính quyền và tổ quốc Việt Nam như:

 

1.- Làm sống lại tổ chức Phục Hưng Tinh Thần Ngô Đ́nh Diệm (đă được cho ra đời vào cuối thập niên 1960) tại hải ngoại từ cuối thập niên 1970.

 

2.- Cho ra đời cái gọi là “Tổ Chức Việt Nam Cộng Ḥa Foundation ở California” vào tháng 7 năm 2003.

 

3.- Thành lập tổ chức chống Cộng có danh xưng là Khối 8406 do linh-mục Phan Văn Lợi làm thủ lănh..

 

4.- Vận động đổi tên Thành Phố Hồ Chí Minh trở lại là Thành Phố Sàigon do Linh-mục Nguyễn Hữu Lế và một nhóm tín đồ Da-tô cuồng tín chủ xướng với mục đích đánh đổ uy tín của cụ Hồ Chí Minh, vị anh hùng dân tộc đă có công lănh đạo cuộc kháng chiến 1945-1954 đánh đuổi Liên Quân Xâm Lăng Pháp – Vatican, giành lại chủ quyền độc lập cho dân tộc và chỉ đạo cuộc chiến đánh tan Liên Minh Xăm Lăng Mỹ - Vatican, đ̣i lại miền Nam, đem giang sơn về một mối.

 

5.- Tổ chức biểu t́nh chống chính quyền Việt Nam về việc thưa kiện mấy công ty sản xuất chất độc da cam tại một Toà Án Liên Bang Hoa Kỳ vào năm 2005. Cũng nên biết là vào ngày 30/11/1961, chính quyền Ngô Đ́nh Diệm đồng thuận với  quân đội Hoa Kỳ cho rải  “rải 77 triệu lít chất độc da cam xuống miền Nam và Trung Việt Nam, gây ảnh hưởng và tác hại đến môi truờng của 2,630,000 mẫu Tây và gần 5 triệu người sống trong 35,585 thôn ấp.[55].

 

6.- Tổ chức biểu t́nh chống Thủ Tướng Phan Văn Khải viếng thăm Hoa Kỳ vào tháng 6/2005.

 

7.- Tổ chức biểu t́nh chống ông Chủ Tịch Nguyễn Minh Triết sang thăm Hoa Kỳ vào tháng 6/2007, v.v..

 

Tất cả những việc làm trên đây của nhóm tín đồ Da-tô và nhóm thiểu số tàn dư phong kiến phản động ở hải ngoại cho chúng ta thấy rơ quyền lợi cũng như niềm vui mừng và nỗi lo âu của họ hoàn toàn trái ngược với quyền lợi cùng niềm vui mừng và nỗi lo âu của đại khối dân tộc Việt Nam ta.

 

Có một điều thắc mắc là Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, không phải là tín đồ Da-tô, với tư cách Tư Lệnh Quân Đoàn I và Quân Khu I, vào lúc dầu sôi lửa bỏng lại ở trong t́nh trạng th́ giờ hết sức quư báu và vô cùng eo hẹp mà TẠI SAO ông lại dành ra tới cả một giờ đồng hồ thân hành đến Toà Tổng Giám Mục để báo cáo cho Đức Giám-mục Phạm Ngọc Chi biết là ông đă cho lịnh Quân Đội rút khỏi Đà Nẵng?

 

Tướng Trưởng quyết định ở lại một ḿnh trong trại Thủy Quân Lục Chiến ở Non Nước. Ông đưa phương tiện di chuyển duy nhất c̣n lại của ông cho tướng Khánh. Sau đó tướng Trưởng lấy một jeep có tài xế, quân cảnh và đi ra khỏi doanh trại và đến ṭa Tổng Giám Mục Địa Phận Đà Nẵng để thăm Đức Cha Phạm Ngọc Chi và trở về khoảng một tiếng sau.

 

Tướng Trưởng cho Đức Cha Chi biết là ông đă cho lịnh Quân Đội rút khỏi Đà Nẵng. Trước khi bỏ Huế tướng Thi cũng đi từ giă Đức Cha Điền, địa phận Huế.” [56]

 

Không thấy nói Tướng Truởng đi thăm một ông Sư nào cả. Sự kiện này chỉ có thể giải thích được rằng chính quyền miền Nam mà tướng Trưởng đang phục vụ lúc bấy giở là một chế độ đạo phiệt Da-tô nằm dưới quyền chỉ đạo của các ông giám-mục trong Hội Động Giám Mục Việt Nam. Kinh nghiệm lịch sử cho thấy rằng quốc gia nào có tín đồ Da-tô được Giáo Hội La Mă đưa lên cầm quyền th́ ở đó:

 

1.- Có vấn nạn Giáo Hội La Mă hay tệ nạn lănh chúa áo đen,

 

2.- Chính quyền trung ương phải thường xuyên báo cáo t́nh h́nh và những việc làm của họ cho Hội Đồng Giam Mục tại quốc gia đó.

 

3.- Các nhà chức trách địa phương khi nhận nhiệm sở phải đến tŕnh diện vị Giám mục cai quân địa phận địa phương hay linh mục tai họ đạo nơi nhiệm sở của họ, và

 

4.- trong thời gian phục vụ tại địa phương, họ phải thường xuyên báo cáo t́nh hinh trong phạm vi trấn nhậm cùng những việc làm của họ cho các vị chức sắc Da-tô của Giáo Hội tại địa phương họ làm việc.

 

Miền Nam Việt Nam trong thời ông Ngô Đ́nh Diệm và ông Nguyễn Văn Thiệu cầm quyền ở vào t́nh trạng này. V́ thế mới có chuyện giữa lúc t́nh h́nh đang vô cùng khẩn trương và thi giờ hết sức eo hẹp vào chiếu tối ngày 28/8/1975 mà Trung Tướng Ngô Quang Trưỡng vẫn phải dành ra cả một giờ đồng hồ, bất chấp cả nguy hiểm ở dọc đường, thân hành đến Toà Tổng Giám Mục để tường tŕnh lên Giám-mục Phạm Ngọc Chi rằng “ông đă cho lịnh Quân Đội rút khỏi Đà Nẵng.”, và chuyện, ông Tướng Da-tô Lâm Quang Thi cũng phải đến từ giă ông Giám Mục Điền rồi mới co gị chạy khỏi Huế.

 

 

XIII- MỘT SỐ NHỮNG TỪ NGỮ NÓI NGƯỢC

VÀ BỊP BỢM TRONG ĐẠO DA TÔ

 

Trên đây, chúng tôi mới chỉ kể ra mấy trường hợp nói ngược rất tiêu biểu của Giáo Hội La Mă và của tín đồ Da-tô người Việt. Thực ra, c̣n nhiều lắm. Nếu muốn nói cho hết, có lẽ phải dùng đến hàng trăm trang giấy cũng chưa chắc đă nói hết.

 

Như đă tŕnh bày ở trên, Giáo Hội La Mă và tín đồ Da-tô người Việt  có những quyền lợi, niềm vui  và nỗi lo âu hoàn toàn trái ngược với những quyền lợi, niềm vui và nỗi lo âu của đại khối dân tộc Việt Nam. Cũng v́ thế mà Giáo Hội La Mă và tín đồ Da-tô người Việt mới có những niềm tin, suy tư, hành động và cung cách sử dụng ngôn từ cũng hoàn toàn trái ngược với những niềm tin, suy tư, hành động và cung cách sử dụng ngôn từ thông thường của đại khối dân tộc Việt Nam chúng ta. Dưới đây là một số những trường hợp điển h́nh về một số ngôn từ mà tín đồ Da-tô thường sử dụng hoàn toàn trái ngược với ư nghĩa đích thực mà chúng ta thường hiểu:

 

Một số dữ kiện về  nói ngược

và nói láo  trong đạo Da-tô                            Sự thật là

 

1.- Chúa toàn năng, toàn thiện                 Một ông thần bất lực trước ác qủi Satan, có những đặc tính cực kỳ tham tàn và ác độc. Những ác  tính này đều được ghi trong các sách Deteronomy (19:21), Exodus (21: 23-25), Dân Số (25:3-5,31:1-54),  Leviticus 24:19-20, 26: 1-43),  Phục Luật (6:14, 7:1, 2 và 16, 12: 2-3, 13:6-9. 18: 4 và 20, 20:14-16, 22: 13-21 và 23), Xuất Hành (13:12, 20 11, 22: 20),

 

2.- Ông Jesus là Chúa Cứu Thế                  Không biết ông ta cứu thế như thế nào, nhưng theo Tân Ước, ông lại xúi gịuc con trai chống lại bố, con gái chống lại mẹ, con dâu chống lại mẹ chồng, người trong cùng một gia đ́nh chống nhau (Matthew 10: 34-37)..

 

3.- Chúa Ba Ngôi:                                    Tín đồ Ki-tô được nhồi sọ phải tin rằng Chúa Cha Jehovah thể hiện ra ba ngôi:  Chúa Cha Jehovah, Chúa Thánh Thần và  Chúa Con  Jesus. Sản phẩm này được chính thức bịa đặt ra tại Hội Nghi Nicaea (Thổ Nhĩ Kỳ) khởi nhóm vào ngày 20/5/325. D́ nhiên là chỉ những người không biết sử dụng lư trí mới tin được cái tín lư cực kỳ hoang đường này.

 

4.- Thánh kinh Cựu Ước:                          Tập hợp một số những cuốn sách gồm toàn những chuyện hoang đường, loạn luân, dâm loàn, loạn dâm, bạo lực, trả thù, ỷ mạnh hiếp yếu, hà hiếp bóc lột những người thất thế hay lép vế thế cô, trong đó có nhiều chuyện nói về ông Chúa Cha Jehovah bạo ngược như đă nói ở trên.

 

5.- Thánh Kinh Tân Ước                           Gồm bốn cuốn sách của bốn ông Matthew, Mark, Luke và John nói về mấy năm chót của cuộc đời đi giảng đạo Do Thái của Chúa Jesus trong đó có bài giảng Matthew (10: 34-37) như đă nói ở trên và rất nhiều chuyện hoang đường như chuyện ông Jesus có tài biến hóa 5 ổ bánh ḿ và hai con cá thành một số lượng bánh ḿ và cá có dư thừa cho khoảng 5 ngàn người ăn vẫn không hết (Matthew 14:18-21), chuyện Chúa tức giận vi cây vả khồng sinh trái cho ông ăn vào khi ông đi qua đó đúng vào lúc đang đói ḷng (Matthew 21:18-21), chuyện Chúa chju nạn và rất nhiều chuyện láo khoét khác. Bác sĩ Nguyễn Văn Thọ viết: “Nếu quí vị rảnh rang, lấy bút ghi lại những ǵ 4 vị thánh sử chép khi Chúa chịu nạn, xem Chúa đă nói những ǵ, làm những ǵ, sống lại ra sao, đă hiện ra cùng ai, đă lên Trời ở đâu, v.v…, ta sẽ thấy là mỗi vị nói một phách. Tôi không giúp quí vị làm chuyện này, và quí vị sẽ thấy các thánh sử là những phóng viên hạng bét. Nếu sống vào thời này, chắc không ai dám mướn.”[57] 

 

5.- Đức Mẹ Đồng Trinh                             Người đàn bà Do Thái có tên là Maria. Theo ông Charlie Nguyễn, bà bị một binh sĩ lê dương trong quân đội của Đế Quốc La Mă tên là Panthera (người Sidon, thuộc nước Liban ngày nay) hiếp dâm mà mang bầu rồi đẻ ra ông Jesus.[58]  Sau đó, bà thành hôn với ông thợ mộc tên là Joseph và sinh ra một bầy c̣n gồm bốn người con trai và hai người con gái.[59] (.M.J. Su “The birth and family of Jesus.” Encyclopedia Britannica, Vol.  10, Ed.  1980, page  149.). Cho măi đến năm 431, Giáo Hội La Mă cho triệu tập Hội Nghị Ephesus (Thổ Nhĩ Kỳ) để bịa đặt ra chuyện Bà Maria Đồng Trinh, và được Hội Nghị Chalcedon (Thổ Nhĩ Kỳ) nhóm họp vào năm 451 chính thức công nhận là một tín lư. Sau này, v́ phải biện minh cho tính cách không vướng mắc tội tổ tông của Chúa Jesus, vào năm 1854, trong thời Giáo Hoàng Pius IX (1846-1878). Giáo Hội lại bịa đặt thêm ra tín lư Đức Mẹ Vô Nhiễm Vô Tội. Tới ngày 1/11/1959, trong thời Giáo Hoàng Pius XII (1939-1958), Giáo Hội lại bịa thêm tín lư Đứng Mẹ linh hồn và xác lên Trời (Mông Triệu). Ngoài lại c̣n có những tín lư Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp và Đức Mẹ Đồng Công nữa..

 

6.- Thiên Đường:                                    Một sản phẩm tưởng tượng ở trên chín từng mây. Tín đồ Ki-tô được nhồi sọ phải tin rằng ở trên đó Chúa Cha Jehovah ngồi chính giữa và Chúa Con Jesus ở bên phải. Năm 426, Thánh Augustin sáng chế ra lư thuyêt Đô Thị Thiên Chúa (City of God) mập mờ nói là thiên đường mà cũng là vương quốc Ki-tô (các quốc gia nằm dưới ách thống trị của Giáo Hội La Mă.)[60] Tháng 7 năm 1999, Giáo Hoàng John Paul II xác nhận rằng, “Thiên đường không phải là một nơi chốn trừu trượng hay hữu h́nh cụ thể chiếm một khoảng không gian trên chín từng mây mà thiên đường chỉ là mối liên hệ riêng tư và sống động giữa cá nhân của chính con người với Chúa Ba Ngôi.” Nguyên văn: Heaven is not abstraction nor a physical place amid the clouds, but a living personal relationship with the Holy Trinity.”) [61]  .

 

7.- Địa ngục (Hell)                                   Một sản phẩm tưởng tượng cho rằng những người khi sống làm những việc tội ác sẽ bị đày xuống đó. Tín đồ Ki-tô được dạy dỗ rằng những người không tin ông Jesus là Chúa Cứu Thế hay không rửa tội theo đạo Da-tô th́ sẽ bị đày xuống địa ngục. Vào cuối tháng 7 năm 1999, Giáo Hoàng John Paul II xác nhận rằng, “Địa ngục không phải là một nơi có những h́nh phạt do thượng đế đặt ra, nhưng chỉ là do kết quả của những thái độ và hành động con người tạo ra trong đời sống của họ.” Nguyên văn: “Hell is not a punishment imposed extremely by God, but the condition resulting from attitudes and actions which people adopt in this life.”[62]

 

8.- Ḷ Luyện Ngục (Pugatory)                   Một sản phẩm tưởng tượng được Giáo Hội La Mă bịa đặt ra vào năm 600  trong thời Giáo Hoàng Gregory I (590-604). Giáo Hội giải thích rằng đây là nơi tạm giam các linh hồn truớc khi quyết định cho lên thiên đường nếu thánh tẩy được hết những tội nhẹ, hay bắt xuống địa ngục. Linh hồn của nhưqxng người chết sẽ được giảm thiểu thời gian ở địa ngục nếu con cháu của những người này siêng năng đem tiền đến nhà thờ dâng cúng và mua giấy xá tội (indulgences) của nhà thờ. Thời gian được giảm bớt nhiều hay ít tùy thuộc vào số tiền dâng cúng cho nhà thờ nhiều hay ít.  Nhờ vậy mà Giáo Hội đă thu vơ được rất nhiều tiền.[63]

 

9.- Giáo hoàng không lầm lẫn                    Tín lư bịp bợm này đă được các ông giáo hoàng ấp ủ từ hồi đầu thời Trung Cổ. Măi đến đầu thập niên 1860 mới được Công Đồng Vatican II  trong thời Giáo Hoang Pius IX (1846-1878) thông qua và chính thức thành tín lư..

 

10.- Mặc khải                                          Được thượng đế  mách bảo cho biết.

 

11.- Các phép bí tích                                Một loại bùa phép giống như các loại bùa phép mà các ông thày cúng ở Việt Nam và Trung Hoa  ngày xưa thường sử dụng. Bác-sĩ Nguyễn Văn Thọ ghi nhận “Luther thấy (cho rằng) các phép bí tích hoặc không chính thức do Chúa đặt ra, hoặc là do Giáo Hội đă suy diễn ra, nên không chấp nhận.”[64]

 

12.- Thánh chiến (crusades)                     Tự Điển Anh Việt của tác giả Nguyễn Văn Khôn dịch là “cuộc viễn chinh của thập tự quân”. Từ Điển Anh Viêt của Viện Ngôn Ngữ Học Việt Nam dịch là: “cuộc thập tự chinh”. Giáo Hội La Mă và giáo dân thuờng gọi là “thánh chiến” (Holy war).”.Lịch sử cho biết đây là những cuộc chiến do Giáo Hội La Mă phát động đem quân đi đánh chiếm các vùng đất thuộc các tôn giáo để thi hành những lời dạy trong thánh kinh và cũng lời dạy của Giáo Hội. Những lời dạy này được Giáo-sư Lư Chánh Trung ghi nhận là “Mỗi khi hoàn cảnh cho phép, Giáo Hội đă không ngần ngại dùng thế lực để tiêu diệt những tôn giáo khác, đập phá các đền thờ “tà thân”, đốt sách vở ngoại đạo và đốt luôn bọn người bị xem là “lạc đạo” nếu không chịu sửa sai.[65]” Sách sử ghi nhận cuôc thập tự chiinh lần thứ nhất do Giáo Hoàng Urban II (1088-1099) phát động vào năm 1095 đem quân thập tự tiến vào vùng Palestine tấn chiếm đất thánh và thành phố Jerusalem lúc đó đang nằm trong tay người Hồi Giáo. Trong thực tế, đạo quân này tàn sát tất cả các dân Hồi Giáo, Chính Thống Giáo và Do Thái Giáo một cách vô cùng man rợ. Giáo Hoàng John Paul II gọi những cuộc chiến như vậy là “bảo vệ chân lư”.

 

 

13.- Đức Mẹ hiện ra                                 Được bịa đặt ra để moi tiền tín đồ. Xin xem sách Công Giáo Trên Bờ Vực Thẳm của tác giả Charlie Nguyễn (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 2001), tr 296-300.

 

14.- Lương tâm công giáo                        Lương tâm của tín đồ Da-tô phải tuyệt đối tin tưởng và trung thành với nước Chúa Vatican.

 

15.- Các Ṭa Án Dị Giáo                            Các ṭa án do chính Giáo Hôi thiết lập hay do các chính quyền đạo phiệt  Da-tô tay sai của Giáo Hội thiết lập để xử lư những người bị t́nh nghi là theo tà đạo (một tôn giáo khác) hay thực sự là theo tà đạo.(một tôn giáo khác).

 

16.- Rút phép thông công                        Trục xuất tín đồ Da-tô ra khỏi Giáo Hội. Vào thời Trung Cổ, nếu ở vào trường hợp này, đương sự sẽ bị túm cổ giao cho Ṭa Án Dị Giáo xử lư và chắc chắn là sẽ bị xử tử bằng cách thiêu sống.

 

17.- Tà đạo                                            Tất cả các tôn giáo không phải là đạo Ki-tô La Mă đều bị Giáo Hội và tín đồ Ki-tô La Mă  gọi như vậy.

 

18.- Những người trở lại đạo:                    Tân ṭng, những người mới theo đạo

18.- Đức Thánh Cha                                Thằng ác quỷ

20.- Thánh thiện                                     Ác ma, ác quỷ, ác độc

21.- Tin mừng                                        Hung tín

22.- Tín lư Ki-tô                                       Những chuyện hoang đường, loạn luân, dă man và ăn cướp của giết người, cưỡng bách những dân tộc nạn nhân phải làm nô lệ (Dân Số 31: 1-54).

23.- Hồng Ân Thiên Chúa                         Đại họa ác quỷ

24.- Đạo bác ái và t́nh thương                  Đạo của  lừa bịp và bạo lực

25.- Chân lư                                            Những chuyện láo khoét được hệ thống hóa

26.- Bảo vệ chân lư                                  Tấn công và bách hại các tôn giáo khác

27.- Chí sĩ yêu nước                                 Việt gian, phản quốc.

28.- Nhà ái quốc:                                     quân phản quốc

29.- Quân phản loạn,Việt gian:                  Các nhà ái quốc chống Pháp – Vatican hay Mỹ - Vatican.

30.- Việt gian Cộng Sản:                           Cộng Sản, VM Cộng Sản, những người yêu nước đă chiến đấu đánh đuổi Liên Minh Xâm Lăng Pháp – Vatican, giành lại chủ quyền độc lập cho dân tộc, đánh tan Liên Minh Xâm Lăng Mỹ - Vatican đ̣i lại miền Nam đem lại nền thống nhất cho đất nước

 

31.- Đạo Công Giáo:                                 Đạo Da-tô hay đạo Ki tô La Mă cùng thờ Chúa Bố Jehovah và Chúa Con Jesus như đạo Tin Lành, Anh Giáo và Chính Thống Giáo, nhưng nằm dưới quyền thống trị của Ṭa Thánh La Mă. 

 

32.- Ngoan đạo:                                      Cuồng tín

33.- Sống đạo theo đức tin Kitô:               Cuồng tín

34.- Nhà ái quốc Ngô Đ́nh Diệm:               Thằng tam đại Việt gian Ngô Đ́inh Diệm

35.- Thà mất nước, không thà mất Chúa:   Khẩu hiệu của tín đồ Da-tô người Việt do Linh-mục Hoàng Quỳnh đưa ra vào tháng 8/1964 trong một sự cố hàng ngàn tín đồ Da-tô  có vơ trang từ các trại định trong các tỉnh Long Khánh, Biên Ḥa, Gia Định và các vùng xung quanh Sàigon tập trung ở Sàig̣n để biểu dương lực lượng chống lại chính quyền hậu Cách Mạng 1/11/1963 đang có sự tranh chấp giữa các ông Tướng Dương Văn Minh, Nguyễn Khánh và Trần Thiện Khiêm. 

 

Trên đây chỉ là một số trong những sản phẩm do Giáo Hội La Mă chế biến ra. Qua phần tŕnh bày về bản chất của những từ ngữ trên đây cùng với những kinh nghiệm đă từng sống trong các trại định cư Tân Lập (B́nh Trưng, Thủ Đức, Gia Định) vào mấy tháng giữa năm 1955 và thường về sống ở trại định cư Dốc Mơ (Kiệm Tân, Long Khánh) từ năm 1961 cho đến năm 1975, người viết nhận thấy mỗi một từ ngữ được Giáo Hội sử dụng như trên đều có dụng ư phỉnh gạt hoặc lừa bịp tín đồ và người đời.

 

Chúng ta cũng có thể ví những sản phẩm trên đây và những tín lư Ki-tô của Giáo Hội giống như những sản phẩm của một công ty sản xuất xe hơi, các nhà thờ giống như các tiệm đại lư bán xe hơi, và các ông linh-mục giống như các ông lái buôn xe hơi (car dealers) với nhiệm vụ quảng cáo và rao bán.

 

Tuy nhiên, có một điểm khác biệt lớn lao giữa các ông lái buôn bán xe hơi và các ông lái buôn bán tín lư Ki-tô  hay bán vé lên thiên đường.

 

Các hàng hóa bán ra của các ông lái buôn bán xe hơi là những thứ sản phẩm kỹ nghệ có thật, cụ thể hiện ra trước mắt, có nhăn hiệu và có giấy tờ ghi rơ ràng là hàng mới toanh chưa bóc tem hay hàng cũ (đă dùng trong một thời gian rồi đem bán lại), ghi rơ những đặc tính của nó, ngay cả giá tiền cũng được ghi rơ và có thể trả giá. Ngoài ra, các ông lái buôn bán xe hơi c̣n bị chi phối bởi những luật lệ quy định về tính chất hàng hóa phải là thứ thật đúng với nhăn hiệu và đúng với phẩm chất được ghi trong giấy tờ liệt kê. Nếu có gian lận có thể bị khách hàng đem nội vụ ra pháp đ́nh xử lư 

 

Trái lại,  những món hàng hóa bán ra của các ông lái buôn bán tín lư Ki-tô (bán vé lên thiên đường) chỉ là những bánh vẽ, trừu tượng, không ai nh́n thấy, không thể nào kiểm chứng được, cho nên khách hàng không thể nào biết được nó là đồ giả hay đồ thiệt, chẳng biết nó tốt hay nó xấu. V́ không thể kiểm chứng được là đồ giả hay đồ thiệt, đố tốt hay đồ xấu, cho nên trong gần hai ngàn năm qua, chưa có ông lái buôn  nào trong nghề bán lư Ki-tô bị kiện về tội bán đồ giả hay thiếu phẩm chất và họ chỉ bị tố cáo về tội làm t́nh bất chính với con nít, với nữ tín đồ kể cả những nữ tín đồ đă có gia đ́nh, hoặc là sống chung hay làm t́nh bất hợp pháp hay bất chính với nữ tín đồ. Đây là trường hợp của các ông lái buôn bán tín lư Ki-tô Cao Đăng M. Ở Porland, Oregon, Trịnh Thế H. ở Chicago, Illinois, Nguyễn Hữu Dụ, Đào Quang Ch., ở Houston Texas, Trân Công Ngh. ở California, và  hàng  trăm ông khác được Linh-mục Nguyễn Thanh Sơn nêu đích danh nơi trang 27 trong cuốn TậnThế Số Ra Mắt ngày 15/6/2002, cũng như hàng ngàn ông khác người Âu Mỹ đă được phơi bày ra trước công luận qua các cơ quan truyền thông thế giới từ đầu năm 2002 và khởi đầu từ giáo phận Boston, tiểu bang Massachusetts.

 

V́ thực trạng là như vậy, cho nên tất cả những người biết sử dụng lư trí đều không bao giờ ghé qua các cửa tiệm rao bán tín lư Ki-tô (nhà thờ) làm ǵ cho mất th́ giờ. Biết rơ như vậy, các nhà thần học trong bộ tham mưu của Giáo Hội La Mă tại Ṭa Thánh Vatican mới đưa ra một kế hoạch gồm có bốn kế sách như sau:

 

Kế sách  thứ nhất là thành lập những binh đoàn truyền giáo vừa làm nghề quảng cáo rao bán tín lư Ki-tô, vừa thi hành  các điệp vụ thâu thập các tin tức t́nh báo chiến lược tại các địa phương đang thi hành nhiệm vụ rồi gửi về Ṭa Thánh Vatican để các ngài điều nghiên kế hoạch chuần bị vận động một cường quốc liên minh với Giáo Hội đem quân đến tấn chiếm các địa phương đó làm thuộc địa. Việc làm này được Giáo Hoàng John Paul II gọi là “bảo vệ chân lư”.

 

Kế sách thứ hai là cấu kết với các cường quyền và đế quốc thực dân xâm lược Âu Mỹ để  làm thế lực hậu thuẫn cho việc củng cố quyền lực và mở rộng vùng ảnh hưởng.

 

Kế sách thứ ba là thiết lập các chế độ đạo phiệt Da-tô tại các quốc gia nằm dưới quyền kiểm soát của Giáo Hội hay của một đế quốc liên minh với Giáo Hội để có thể:

 

a.- Kiểm soát hết tài nguyên quốc gia và các phạm vi sinh hoạt, rồi từ đó mới có thể dùng những miếng mồi vật chất và chức vụ trong chính quyền để câu nhử những người tham lợi “đi đạo lấy gạo để ăn” và những người háo danh thèm khát quyền lực “theo đạo để tạo danh đời”.

 

b.- Dùng quyền lực của chính quyền để (1) cưỡng bách hay chèn ép người dân dưới quyền vào đường cùng thế kẹt khiến cho họ phải theo đạo để giải thoát, và (2) hỗ trợ cho giáo luật của Giáo Hội đ̣i hỏi những người thuộc các tôn giáo khác muốn thành hôn với tín đồ Da-tô th́ phải làm lễ rửa tội rồi mới được tiến hành lễ thành hôn. Nếu nạn nhân không theo đạo th́ cuộc t́nh hay hạnh phuc lứa đôi của họ sẽ bị tan vỡ v́ bàn tay của Giáo Hội. Đây cũng là một trong những việc làm mà Giáo Hoàng John Paul II gọi là “bảo vệ chân lư”.

 

Kế sách thứ tư là th́ hành chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ với mục đích làm cho nạn nhân mất hết khả năng lư trí để t́m hiểu sự vật (cách vật trí tri), không biết phân biệt được sự khác biệt giữa ư kiến (opinion) và sự kiện (fact), lẫn lộn giữa nguyên nhân (cause) với hậu quả (consequencce). Có như thế th́ nạn nhân mới nhắm mắt vui vẻ và hăng say tiêu thụ món hàng bánh vẽ tín lư Ki-tô (đố giả) của Giáo Hội.

 

Xuyên qua những kế sách trên đây, chúng ta thấy rơ  ở   bất cứ nơi nào có tín đồ Da-tô nắm quyền lănh đạo đất nước hay tại bất cứ thuộc địa nào nằm dưới ách thống trị của một đế quốc Âu Mỹ liên minh với Giáo Hội La Mă, th́ ở đó:

 

A.- Đằng sau các ông lái buôn trong nghề bán tín lư Ki-tô là bạo quyền. Do đó, các ông lái buôn này nghiễm nhiên trở thành các ông quan trên các ông quan của chính quyền (thế tục). V́ vậy mới phát sinh ra cụm từ “các ông lănh chúa áo đen”. Không biết có phải v́ thế mà người Pháp gọi các ông lái buôn này là “les corbeaux noirs” (lũ quạ đen) hay không?.

 

B.- Hầu hết khách hàng tiêu thụ tín lư Ki-tô gồm các thành phần:

 

1..- Tham lợi: theo đạo lấy gạo để ăn

 

2.- Háo danh và thèm khát quyền lực: Theo đạo để tạo danh đời.

 

3.- Bị cưỡng ép hay chèn ép phải theo đạo v́ lư do an ninh và để khỏi bị bạo quyền kiếm chuyện làm phiền hà, có thể nguy hiểm đến công ăn việc làm hay nguy hiểm đến sinh mạng. Sự thật này đă được Linh-mục Trần Tam T́nh  tŕnh bày khá rơ ràng trong cuốn Thập Giá và Lưỡi Gươm nơi các trang 129-130.

 

4.- Bị cưỡng ép phải theo đạo v́ hôn nhân. Nếu không theo th́ nhà thờ không làm lễ cưới và hạnh phúc lứa đôi sẽ tan vỡ.

 

5.- Những người mất hết khả năng lư trí để t́m hiểu sự vật v́ bị tác dụng của chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ của Giáo Hội. Do đó họ không c̣n có đủ khả năng để nh́n ra món hàng hóa (tín lư Ki-tô) mà họ tiêu thụ hàng ngày chỉ là một thứ bánh vẽ (hàng giả) mà cứ tưởng rằng đó là những thứ hàng vô cùng quư giá. V́ thế, họ mới hăng say tiêu thụ và tiêu thụ càng nhiều cảng cảm thấy hy vọng tràn trề sẽ được lên thiên đường đời đời hưởng nhan Chúa. (

 

6.- Con cháu của các thành phần trên đây

 

Theo định luật về di truyền trong ngành sinh vật học (Biology), con cháu của thành phần nào trên đây sẽ có đặc tính của thành phần đó. Cha mẹ có máu tham lợi, háo danh và thèm khát quyền lực, th́ con cháu họ cũng có những đặc tính này. Cha mẹ kém thông minh, không biết hay không có khả năng sử dụng lư trí để t́m hiểu sự vật, th́ con cháu họ cũng có đặc tính kém thông minh như vậy. V́ t́nh trạng này mà trong xă hội Da-tô, con số những người tham lợi, háo danh, thềm khát quyền lực (tham lam và ích kỳ) và thiếu khả năng hay không biết sử dụng lư trí để t́m hiểu sự vật (ngu dốt) chiếm một tỉ lệ rất cao, ngoại trừ những người bị cưỡng bách hay bị chèn ép phải theo cái tôn giáo quái đản này.

 

V́ tham lợi, háo danh, v́ thèm khát quyền lực và v́ không biết sử dụng lư trí để t́m hiểu sự vật, lẫn lộn nguyên nhân với hậu quả, tín đồ Da-tô không có đủ khả năng thông minh để nh́n ra những lời dạy bịp bợm cũng như nhiững việc làm tội ác của Giáo Hội La Mă trong gần hai ngàn năm qua. Họ cũng không thể nh́n ra những tính cách hoang đường, bạo ngược, loạn luân, dâm loàn trong thánh kinh, và cũng không c̣n khả năng nh́n ra những mâu thuẫn trong đó, thí dụ như:

 

1.-.Đă tin rằng Chúa Jehovah là Đấng Toàn Thiện, th́:

 

TẠI SAO lại có chuyện Chúa trừng phạt loài người đời đời kiếp kiếp phải mang cái tội tổ tông?

 

TẠI SAO Chúa lại có những ác tính xấu xa ghê tởm như tị hiềm, ganh ghét, nham hiểm, độc ác, bạo ngược và dă man như đă được diễn tả trong sách Lê Vi Kư (26: 1-43)?.

 

2.- Đă tin rằng Chúa Toàn Năng, th́:

 

TẠI SAO Chúa lại không có khả năng trừng trị được quỷ Satan, mà chỉ biết trừng phạt loài người?

 

Phải chăng giống như Giáo Hội La Mă, Chúa cũng thi hành  sách lược “mềm nắn, rắn buông” hay “ma bắt nạt tùy mặt”?   

 

3.- Ông Jesus được tôn vinh là Chúa Cứu Thế (cứu đời) toàn thiện, th́:

 

TẠI SAO ông lại nỡ tâm nguyền rủa cây vả cho nó chết chỉ v́ nó không sinh trái vào lúc trái mùa đúng vào khi ông đi qua chỗ nói đang lúc đói ḷng (Matthew 21: 18-21),

 

TẠI SAO ông lại dạy đời rằng “Chớ tưởng rằng Ta đến để đem sự b́nh an cho thế gian mà là đem gươm dáo, làm cho con trai chống lại cha, con gái chống lại mẹ, con dâu chống lại mẹ chồng và người trong cùng một gia đ́nh sẽ trở thành thù địch”.” Matthew 10: 34-37)..

 

Nhờ có bốn kế sách như đă nói ở trên, ở đâu có quyền lực của Giáo Hội vươn tới, các cửa tiêm buôn bán tín lư Ki-tô (nhà thờ) của Giáo Hôi đều trở nên thịnh đạt và cái nghề buôn đồ giả này trở thành một nghề béo bở, ngồi mát ăn bát vàng. Bởi thế cho nên mới có rất nhiều thanh thiếu niên lao vào học cái nghề lái buôn này. Sách Vicars of Chris viết:

 

“Một bản thống kê cho biết: một xứ có 900 ngàn dân mà có tới 3 ngàn tu sĩ; và cứ 2 trong 5 (40%) đứa con hoang là con của các ông tu sĩ." Nguyên văn:"One amazing statistic emerges: in a country of 900,000 people, there were 3,000 clergy; and yet two out of five bastards were born to the clergy." [66]  

 

Qua bản văn sử trên đây, chúng ta thấy rằng các ông linh mục là thủ phạm tạo nên tới 2/5 hay 40% trên tổng số con hoang (bastards) trong xă hội Da-tô. Đây là một trong những nguyên nhân làm cho xă hội Da-tô chậm tiến, lạc hậu và có nhều người thiếu văn hóa, thiếu giáo dục (như đă tŕnh bày ở trên) giống như “Xóm Đạo Bolsa” ngày nay ở  California.

 

Nhà văn Da-tô J. Ngọc viết trong cuốn Cơi Phúc Và Giây Oan:

 

"Tôi biết, và ngay lúc đó tôi hiểu rằng bố mẹ tôi đă nắm một phần rất quan trọng trong lần chuyển đời này của tôi, v́ với tôi, ư nghĩ đi tu chỉ vấn vương qua những h́nh ảnh vật chất và uy quyền hàng ngày. Tôi đă so sánh và nh́n sự cả nể của các linh mục, sự tôn kính từ giáo dân, nhất là với tôi, các linh mục, tu sĩ  đă như những tuyệt đối nhất của bất kỳ phương diện nào. Giáo dân tùng phục, giáo dân khiếp sợ, giáo dân cầu lụy và muôn ngàn h́nh ảnh khác."[67]

 

Và mới đây lại có chuyện “đă xuất rồi, lại có vợ con mà vẫn c̣n tự xưng là linh mục”. Chuyên này được ông Lữ Giang ghi nhận và cho phổ biến trên diễn đàn điện thư Nước Việt  với nguyên văn như sau:

 

“Từ trước đến nay, có một người khi ra trước cộng đồng hay viết thư bằng Email thường tự xưnglà Linh Mục Nguyên Thanh, Email: nguyenthanhx01@ yahoo.com,

 

Xin nói cho rơ: Người đó là cựu Linh mục Nguyễn Văn Thành, trước 1975 là Tuyên Úy Thủy Quân Lục Chiến. Sau 30.4.1975 ông ta có ở tù với chúng tôi ở trại Thanh Cẩm, Thanh Hóa. Tuy nhiên, sau khi ra tù, ông ta đă xin Ṭa Thánh Vatican từ bỏ chức Linh mục và cưới vợ.

 

Ông ta đă kết hôn với bà Huỳnh Thị Thu Mai (đă có một đời chồng và một đưa con) và có với bà này một con gái tên là Nguyễn Huỳnh B́nh An. Gia đ́nh ông được đến định cư tại Hoa Kỳ ngày 19.5.2004 và hiện định cư tại Orange County.

 

Như vậy ông ta không c̣n là Linh mục nữa. Nhưng nhiều lần ông vẫn tự xưng là Linh mục và cử hành thánh lễ. Do dó. Đức Giám Mục Giáo Phận Orange đă cấm ông không được tự xưng Linh mục và làm các nghi thức phụng vụ. Vậy xin nói cho rơ. Lữ Giang!”[68]

Cái nghề lái buôn tín lư Ki-tô béo bở là như thế đấy!

 

 

XIV.- LỜI KẾT

 

Với hệ thống gồm hầu hết nhũng tín lư hoang đường, loạn luân, dâm loàn, phi nhân bản, phản khoa học, phản nhân quyền nặng tính cách bịp bợm, bóc lột để lừa gạt và hù doạ người đời,

 

Với sách lược cấu kết với các cường quốc và đế quốc thực dân xâm lược để củng cố quyền lực và để thiết lập các chế độ đạo phiệt Da-tô tại các địa phương mà quyền lực của Giáo Hội đă vươn tới,

 

Với chính sách dùng bạo quyền để cưỡng bách nhân dưới quyền phải vào đạo và bằng những thủ đoạn lưu manh bất chính (lợi dụng hôn nhân, dựa vào chính quyền để cưỡng bách hay chèn ép để dồn người dân vào thế kẹt phải vào đạo),

 

Với những việc làm chống nhân loại trong gần hai ngàn năm qua đă gây nên  những rặng núi tội ác trùng trùng như hàng chục rặng Hy Mă Lạp Sơn,

 

Với những thủ đoạn dùng những xảo thuật ngôn ngử cùng những mánh mung lươn lẹo, bóp méo sự thật, đổi trắng thay đen, ăn ngang nói ngược như đă tŕnh bày ở trên,

 

Với chủ trương thi hành chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ nhằm để ḱm hăm nhân dân dưới quyền trong t́nh trạng ngu dốt, mất hết khả năng sử dụng lư trí để “cách vật trí tri”,

 

Ta có thể nói, “đạo Ki-tô La Mă là đạo lừa bịp và bạo lực, đạo ăn ngang nói ngược”,đúng như văn hào Voltaire đă gọi nó là  “cái tôn giáo ác ôn[69] , và học giả Henri Guilemin gọi nó là “Cái Giáo Hội Khốn Nạn” (L’ Église Malheureuse).[70] . Người viết xin gọi nó là “đạo ăn ngang nói ngược”, và cũng có thể gọi là “cái đạo của bạo lực và lừa bịp”. 

 

 

CHƯƠNG 11 ĐẾN ĐÂY LÀ HẾT

 

CHÚ THÍCH


 


[1] Chu Văn Tŕnh, Thái Vân và Trần Quang Anh,  Việt Nam Với Cuộc Dấy Loạn Ḥa B́nh Của Giáo Chủ John Paul II - Vietnam With Pope John Paul II’s Peaceful Revolt (Mt. Dora, Florida: Ban Tu Thư Tự Lực, 1994), tr.64-65.

[2] Avro Manhattan, The Vatican Holocaust (Springfield, MO: Ozard Book, 1986) p. vii.

[3] Nguyễn Văn Thọ, Công Giáo: Nhận Địnhh Mới Về Tín Lư & Giáo Lư (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 2007), tr.  136 và 250)..

[4] Pḥng 5 Bộ Tổng Tham Muu, Quân Sử 4: Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa Trong Giai Đoạn H́nh Thành 1946-1955 (Glendale, CA:: Đại Nam, 1972), tr. 109.

[5] Xem  Mục  XVI: Chiến Thuật, Chiến Lược của Quân Đội Kháng Chiến Việt Nam, chương sách nói về sự Tương Quan Lực Lượng Của Hai Phe) Phần V (Mặt Trận Việt Minh Lănh Đạo Cuộc Kháng Chiến 1945-1954) ở sau.

[6] Lê Hữu Dản, Tài Liệu Soi Sáng Sự Thật - Tập Hai (Wesminster, CA: Văn Nghệ, 1996), tr. 327 .

[7] Hoàng Trong Miên, Đệ Nhất Phu Nhân - Tập I (Los Alamitos, Ca: Nhà Xuất Bản Việt Nam, 19;89), tr. 428.

[8]  Xem các sách :Chu Bằng Lĩnh, Đảng Cần Lao (San Diego, CA: Mẹ Việt Nam, 1993), trang 133, Avro Manhattan. Vietnam: why did we go? (Chino, CA: Publications, 1984), tr. 117, Trần Tam Tỉnh, Thập Giá và Lưỡi Gươm (Paris: Sudestasie, 1978), tr.130-131, và Nguyễn Mạnh Quang, Nói Chuyện Với Tổ Chức Việt Nam Cộng Ḥa Foundation (Houston, TX: Đa Nguyên, 2004), tr. 126-131..

[9] (Trần Tam Tỉnh, Thập Giá Và Lưỡi Gươm (Paris: Sudestasie, 1978), tr. 126-127.

[10] Nguyễn Văn Tuấn, Chất Độc Màu Da Cam và Cuộc Chiến Việt Nam (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 2005), tr. 35.

[11] Nguyễn Văn Tuấn, Sđd., tr 171.

[12] Bộ Tổng Tham Mưu – Pḥng 5,s ách Quân Đội Việt Nam Cộng Ḥa Trong Giai Đoạn Thành H́nh 1946-1945 - Quân Sử 4 (Alamitos, CA: Đại Nam, 1972) tr. 191.

[13] Chính Đạo, Việt Nam Niên Biểu 1939-1975 - Tập B:1947-1954 (Houston, TX: Văn Hóa, 1997), tr. 181.

[14] Pḥng 5/ Bộ Tổng Tham, Sđd., tr. 192-193.

[15] Pḥng 5/ Bộ Tổng Tham Mưu, Sđ d., tr. 109

[16] Đỗ Mậu, Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi (Wesminster, CA: Văn Nghệ, 1993), tr. 398.

[17] Lư Chánh Trung, Tôn Giáo Và Dân Tộc (Sàig̣n: Lửa Thiêng, 1973), tr. 75.

[18] Chính Đạo, Việt Nam Niên Biểu 1939-1975 - Tập I-C: 1955-1975 (Houston, TX: Văn Hóa, 2000), tr. 265-266.

[19] Nguyễn Đ́nh Tiên, Chân Dung Tướng Nguỵ Sàig̣n (Hà Nội, 2002), tr..15-19.

[20] Nguyễn Ngọc Ngạn, Xóm Đạo (Đông Kinh, Nhật Bản: Tân Văn, 2003), tr 194 và tr 386.

[21] Xin xem sách The Politics of Heroin in Southeast Asia của tác giả Alfred W. McCoy (New York: Harper Colophon Books, 1972), pp. 149-222.

[22] X́n xem sách Chân Dung Tướng Ngụy Sàig̣n của tác giả Nguyền Đ́nh Tiên nói về những thủ đoạn tham nhũng của ông Tướng Da-tô Phạm Quốc Thuần (Nguyễn Đ́nh Tiên, Sđd., tr. 214-228), sách Thập Giá Lưỡi Gươm của  Linh-mục Trần Tam Tỉnh (Paris: Sudestasie, 1978, tr. 118-138 và 175-180), sách Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi của cụ Đỗ Mậu (Westminster, CA: Văn Nghệ, 1993, tr. 403-446)., v.v...

[23] Học Viện Chính Trị Quốc Gia Hồ Chí Minh, Lịch Sử Đảng Cộng Sản Việt Nam (Hà Nội: Đại Học Quốc Gia Hà Nội, 2002), tr 184

[24] Phạm Văm Liễu, Trả Ta Sông Núi - Tập 2 (Houston, TX: Văn Hóa, 2003), tr. 475-477.

[25] Chính Đạo,  Việt Nam Niên Biểu Nhân Vật Chí (Houston, TX: Văn Hóa, 1993), tr. 397.

[26] Nguyễn Văn Châu, Ngô Đ́nh Diệm: Nỗ Lực Ḥa B́nh Dang Dở (Nguyễn Vy Khanh dịch). Los  Alamitos, CA: Xuân Thu, 1989, trang 213-214.

[27] Nhiều tác giả, Đối Thoại Với Giáo Hoàng Gioan Phao Lồ II (Garden Grove: Giao Điểm, 1995), tr. 242-243.

[28] Loraine Boettner, Roman Catholicism (Phillipsburg, New Jersey:Presbyterian and Reformed Publishing Company, 1962), p.424.

[29] Hồ Văn Kỳ Thoại, Sđd., tr. 183.

[30] Hồ Văn Kỳ Thoại, Sđd., tr. 230.

[31] Charlie Nguyễn, Công Giáo Huyền Thoại và Tội Ác (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 2001), tr. 325-326.  

[32] Hoàng Trọng Miên, Đệ Nhât Phu Nhân - Tập I (Los Alamitos, CA: Nhà Xuất Bản Việt N 1989), tr. 428

[33] Chu Bằng Lĩnh, Đảng Cần Lao (San Diego, CA: Mệ Việt Nam, 1993), trang 133,, Avro Manhattan, Vietnam why did we go? (Chino, CA: Chick Publications,  1984), p. 117, Trần Tam Tỉnh, Thập Giá và Lưỡi Gươm (Paris: Sudestasie, 1978), tr.130-131, Nguyễn Mạnh Quang, Nói Chuyện Với Tổ Chức Việt Nam Cộng Ḥa Foundation (Houston, TX: Đa Nguyên), 204), tr. 127-131.

[34] Học Viện Chính Trị Quốc Gia Hồ Chí Minh, Sđd.,  tr 182.

[35] Học Viện Chính Trị Quốc Gia Hồ Chí Minh, Sđd., tr 184.

[36] Hồ Văn Kỳ Thoại, Sđd., tr. 280.

[37] Xin xem Malachi Martin, The Decline And Fall Of The Roman Church (New York: Putnam ’s, 1981) pp. 232-233, Encylopedia Britanica [Micropaedia, Volume 9] Edition 1980, tr. 904, và  Bùi Đức Sinh, Lịch Sử Giáo Hội Công Giáo - Phần Nh́ (Sàig̣n, Chân Lư, 1972), tr. 170-173. 

[38] Học Viện Chính Trị Quốc Gia Hồ Chí Minh, Sđd., tr 185.

[39] Hồ Văn Kỳ Thoại, Sđd., tr. 244.

[40] Hồ Văn Kỳy Thoại, Sđd., tr. 244.

[41]  Hồ Văn Kỳ Thoại, Sđd., tr. 271-272.

[42] Hồ Văn Kỳ Thoại, Sđd., tr. 273-274.

[43] Hồ Văn Kỳ Thoại, Sđd., tr. 274.

[44] Hồ Văn Kỳ Thoại, Sđd., tr. 284.

[45] Hồ Văn Kỳ Thoại, Sđd., tr. 268.

[46] Hồ Văn Kỳ Thoại, Sđ d., tr. 270.

[47] Hồ Văn Kỳ Thoại, Sđ d., tr.271.

[48] Hồ Văn Kỳ Thoại. Sđ d., tr. 278.

[49] Hồ Văn Kỳ Thoại. Sđd., tr. 296.

[50] Hồ Văn Kỳ Thoại, Sđd., tr. 262

[51] Chính Đạo, Việt Nam Niên Biểu 1939-1975 - Tậo I-C: 1955-1963 (Houston, TX: Văn Hóa, 2000) tr. 165-166.

[52] Chính Đạo. Sđd., tr. 265-266.

[53] Nguyễn Văn Lục. “Lên Tiếng Thay Cho Người Làm Thinh.” Chuyển Luân. THáng 1/2004.

[54]  Nguyễn Mạnh Quang, Đệ Nhị Thế Chiến & Chiến Tranh Lạnh (Tacoma, WA:Tacoma  Public Schools, 1994), tr.118.

[55] Nguyễn Văn Tuấn, Sđd., tr 171.

[56] Hồ Văn Kỳ Thoại, Sđd., tr 250.

[57] Nguyễn Văn Thọ, Công Giáo: Nhận Định Mới về Tín Lư & Giáo Lư (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 2007), tr 129-130.

[58] Charlie Nguyễn, Công Giáo Trên Bờ Vực Thẳm (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 2001), tr. 253

[59] M.J.  Su “The birth and family of Jesus.” Encyclopedia Britannica, Vol.  10, Ed.  1980, page  149..

[60] Xin đọc Tôn Giáo Và Dân Tôc (Sàig̣n:  Lửa Thiêng,  1973, tr. 64-69.) của GS Lư Chánh Trung.)

[61] Học Hội Giesu Kitô Phục Sinh, Tuyên Cáo 8, Article 1, p. 2

[62] Jude Webbe: “No Fire or Brimstone, But Hell’s Real, Pope Says,” Houston Chronicle, July 29, 1999, p. A26.

[63] Charlie Nguyễn,  Công Giáo Trên Bờ Vực Thẳm (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 2001), trang 256-258..

[64] Nguyễn Văn Tho, Sđ d., tr. 184.

[65] Lư Chánh Trung, Tôn Giáo Và Dân Tộc (Sàig̣n: Lửa Thiêng, 1973), tr. 75. 

[66] Peter de Rosa, Vicars of Christ (Dublin Ireland: Poolberg Press, 2000), p. 416.

[67] J. Ngọc, Cơi Phúc Và Giây Oan - Tập Một (Houston, Texas: Văn Hóa, 1995) tr 9-10.

[68] Nguồn: From baoquoc andan <DPQNQVNCH@yahoo.com gửi các nhóm điện thư DDan DanTocViet <dantocviet@yahoogro ups.com>; DDchinhluan <chinhluan@yahoogrou ps.com> với đề tài là Đă Xuất có vợ  con mà cứ xưng Linh Muc, phổ biến ngày 2 tháng 8/2007.

[69] Bùi Đức Sinh, Lịch Sử Giáo Hội Công Giáo - Phần Nh́ (Sàig̣n: Chân Lư, 1972), tr. 165

[70] Nhiều tác giả, Vatican Thú Tội Và Xin Lỗi? (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 2000), tr. 92