
LỊCH SỬ VÀ HỒ SƠ TỘI ÁC GIÁO HỘI CÔNG GIÁO
(Nguyễn Mạnh Quang)
CHƯƠNG 11
BẢN CHẤT
TIẾM DANH (NHẬN VƠ),
ĂN KHÔNG NÓI CÓ, LƯƠN LẸO VÀ LẬT LỌNG
CỦA GIÁO HỘI LA MĂ
12.- ĂN NÓI NGƯỢC NGẠO VỚI CHỦ TÂM CƯỠNG TỪ ĐOẠT LƯ
Một trong những nét đặc thù của Giáo Hội La Mă cũng như giới tu sĩ và tín đồ Da-tô là có thói quen sử dụng tư ngữ một cách ngược ngạo mà thông thường gọi là “nói ngược” với chủ tâm “cuỡng từ đoạt lư”. Dưới đây là một số trường hợp mà bất kỳ ai cũng biết hay có thể kiểm chứng được:
THỨ NHẤT, chúng ta thấy trong những năm chót của thế kỷ 20, Giáo Hoàng John Paul II ít nhất đă có hai lần (có khi nhiều hơn) sử dụng cụm từ “bảo vệ chân lư” với ư đồ xí xóa những việc làm tội ác của Giáo Hội trong gần hai ngàn năm qua. Đáng kể nhất là khi cáo thú tội ác với Chúa vào ngày 12/3/2000, Ngài nói:
"Chúng tôi xin tha thứ v́ những..., v́ việc sử dụng bạo lực mà một số Kitô hữu đă dùng trong khi bảo vệ chân lư" [i].
Một lần khác, Ngài sử dụng cụm từ này trong lời tuyên bố ở nước Pháp. Lần này được ông Phan Đ́nh Diệm ghi lại như sau:
"Trong lần công du nước Pháp lần sau cùng, Ngài cáo thú "Tội ác của Giáo Hội về việc sử dụng bạo lực đẫm máu để bảo vệ chân lư" [ii] .
Chúng ta hăy t́m hiểu việc Giáo Hoàng John Paul II sử dụng cụm từ “bảo vệ chân lư” có hợp lư không?
A..- Trước hết xin nói đến ư nghĩa của động từ bảo vệ. Theo Việt Nam Tự Điển của học giả Lê Văn Đức th́ bảo vệ là “che chở, bênh vực, giữ ǵn.” Tự Điển Việt Anh của tác giả Nguyễn Văn Khôn viết: “Bảo vệ là to protect, to defend, to conserve”.
B.- Kế đến là t́m hiểu ư nghĩa của từ chân lư. Cũng theo hoc già Lê Văn Đực th́ chân lư là “cái lẽ thiệt (thật) của sự vật.” Tự Điển Việt Anh của tác giả Nguyễn Văn Khôn viết “chân lư là truth”.
Thông thường, chúng ta cũng hiểu chân lư là sự thật và được dich sang tiếng Anh là “truth”. Nếu đọc các ấn phẩm viết bằng tiếng Anh của người ngoại quốc, khi nói về sự thật hay chân lư, họ đều sử dụng chữ “truth” cả. Như vậy cụm từ “bảo vệ chân lư” được chuyển dịch sang tiến Anh la “to defend the truth”.
Tới đây, chúng ta hăy t́m hiểu xem Giáo Hội La Mă coi cái ǵ là chân lư của Giáo Hội?
Căn cứ theo lời lẽ trong lời tuyên bố của Giáo Hoàng John Paul II đă nêu ra ở trên th́ chân lư là đạo Ki-tô La Mă. Nói cho rơ hơn, chân lư là toàn bộ hệ thống tín lư Ki-tô cùng với những truyền thống, tập tục và giáo luật của Giáo Hội La Mă. Cái hệ thống này được Giáo Hội gọi là chân lư.
Bản văn trong bài viết Any Religion Claiming “truth” Can Be Danger của tác giả Letty Wambauch đăng trong tờ The News Tribune [Tacoma, Washington] ngày 29/12/2002 và bản văn trong cuốn Tôn Giáo Và Dân Tộc của Giáo-sư Nguyễn Văn Trung mà chũng tôi đă ghi lại trong chương nói về Độc Tài Tôn Giáo: Cha Đẻ Mọi Thứ Tội Ác trước đây (cũng nằm trong Mục IV) đă nói lên rơ ràng về ư nghĩa chữ chân lư hay sự thật mà Giáo Hội La Mă sử dụng theo quan niệm của Giáo Hội. Dưới đây, chúng tôi xin ghi lại những đoạn chính của hai bản văn đó để cho độc giả dễ dàng kiểm chứng vấn đề này.
Trong bài báo có tựa đề là “Any Religion Claiming “truth” Can Be Danger” (Tôn Giáo Nào Cũng Tự Cho là Chân Lư Có Thể Trở Thành Mối Nguy Hiểm), tác giả Letty Wambauch viết:
"Tôi thành thực không đồng ư với ông Bryan Pollock về quan điểm liên hệ đén bài báo tuyệt vời của ông William Raspherry nói về những sự nguy hiểm của chủ thuyết bảo thủ tôn giáo trên toàn thê giới và đặc biệt là ở Hoa Kỳ. Bài báo của ông William Raspherry đă tŕnh bày khá rơ ràng rằng bất kỳ hệ thống niềm tin tôn giáo nào mà cao rao rằng "Chân lư tuyệt đối trong tôn giáo của họ" đều có thể đưa đến sự nguy hiểm cho chế độ dân chủ của chúng ta và nguy hiểm cho tất cả các hệ thống niềm tin tôn giáo khác trong nước Hoa Kỳ này.
Những người bảo thủ Hồi Giáo, Kitô Giáo và bất cứ tôn giáo nào cũng đều cho rằng "tôn giáo của họ có chân lư tuyệt đối" như ông Pollock đă cao rao trong lá thư của ông ta. Cái hành động rêu rao rằng tôn giáo của ḿnh có "chân lư tuyệt đối" tự nó là một thái độ cao ngạo và khiêu khích. Quan niệm "chân lư tuyệt đối của một tôn giáo" là một quan điểm triết lư đă được bàn căi hàng mấy ngàn năm qua. Cuộc tranh căi đưa đến kết luận là kẻ nào rêu rao có chân lư tuyệt đối về tôn giáo của họ th́ chính kẻ đó là thủ phạm đă đưa đến chết chóc, chiến tranh, phá hoại và bách hại tôn giáo trên toàn cầu.
Cá nhân ông Pollock có thể là một người đầy ḷng nhân ái, hào hiệp và khoan dung. Nhưng lịch sử thế giới cho chúng ta thấy niềm tin vào "chân lư tuyệt đối về tôn giáo" rơ ràng là biểu hiệu của kích động phá hoại. Không ai có thể chối căi được rằng ở Hoa Kỳ, những người quá khích về tôn giáo thường nhân danh tôn giáo của họ làm những điều tội ác khủng khiếp ghê gớm. Mốt số những người này là tín đồ Hồi Giáo, một số là tín đồ Kitô Giáo.
Hiến Pháp Hoa Kỳ của chúng ta, đă đưa ra những điều khoản sáng suốt để bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng theo lương tâm của chúng ta. Hy vọng rằng điều này cũng sẽ bảo vệ cho chúng ta thoát khỏi cái ách độc tài thần học và tôn giáo. Tự do tôn giáo và tự do thoát khỏi cái ách tôn giáo là những quan niệm đan kết với nhau. Các bạn không thể nào có tự do tôn giáo mà lại không có tự do thoát khỏi cái ách của tôn giáo, và ngược lại."
[Nguyên văn: "I must respectfully disagree with Bryan Pollock's point regarding William Raspherry' s excellent column about the dangers of fundamentalism worldwide and specially in the U.S. The column pointed out so aptly that any religion belief system that claims to have "absolute truth" can lead to danger for our democracy and all the belief systems within this great Republic.
Islamic fundamentalists, evangelical Christians and other "true believers" profess to have this absolute truth as Pollock claimed in his letter. The act of claiming to have the absolute truth is arrogant and provocative. The concept of "absolute truth" is a philosophical point that has been debated by humans over thousands of years. The battle over who has the truth has lead to death, war, destruction, and religious persecution worldwide.
Pollock as an individual may be loving, giving and tolerant. But history would show that holding the "absolute truth" as a banner is definitely incendiary. No one could deny that radically religious persons in the U.S. have committed terrible acts in the name of their beliefs. Some were Islamic or Christian.
Our Constitution, so brilliantly conceived, protects our freedom to believe as our conscience dictates. Hopefully this will protect us from religious tyranny and theocracy. Freedom of religion and freedom from religion are interlocking concepts. You cannot have one without the other.”[iii]
Giáo-sư Lư Chánh Trung viết:
"Trong Giáo Hội Công Giáo th́ trái lại, khuynh hướng đóng kín và tự măn hiện diện ngay trên b́nh diện tập thể, v́ Giáo Hội đă tự ư thức ḿnh như một dân tộc được Thiên Chúa chọn lựa và giao cho sứ mạng cứu rỗi nhân loại. Giáo Hội là con đường độc nhất đưa tới Thiên Chúa: "Ng̣ai Giáo Hội không thể có sự cứu rỗi" (hors de l' Église, point de salut).
Hậu quả của quan niệm ấy là tính cách bất khoan dung (intolérance) của Giáo Hội Công Giáo: Giáo Hội đă được Thiên Chúa ban truyền toàn bộ sự thật cần thiết cho sự cứu rỗi và chỉ Giáo Hội mới có quyền giải thích hoặc khai triển sự thật đó. Tất cả những ǵ ở ng̣ai sự thật nói trên hoặc trái với lời giải thích chánh thức của Giáo Hội chỉ có thể sai lầm. Mà Giáo Hội có quyền và có bổn phận tiêu diệt sự sai lầm để bảo vệ sự thật hầu ḥan thành sứ mạng cứu rỗi của ḿnh. Kể từ dạo ấy, mỗi khi hoàn cảnh cho phép, Giáo Hội đă không ngần ngại dùng bạo lực để tiêu diệt những tôn giáo khác, đập phá các đền thờ "tà thần", đốt sách vở ngọai đạo và đốt luôn bọn người bị xem là "lạc đạo", nếu không chịu sửa sai.
Những hành động nói trên không phải bắt nguồn từ một khuynh hướng đế quốc mà từ cái ư thức rất chân thành và nghiêm chỉnh của Giáo Hội về sứ mạng cao cả của ḿnh. Thật là cảm động khi nh́n lại cái ư chí sắt đá mà Giáo Hội đă giữ được nguyên vẹn qua bao cuộc thăng trầm trong gần hai ngàn năm lịch sử, để thi hành mạng lịnh cuối cùng của Đức Kitô: "Các con hăy ra đi dạy dỗ các dân tộc". Điều đáng buồn là một số phưong pháp mà Giáo Hội đă dùng đến để dạy dỗ các dân tộc có tính cách phản giáo khoa.
Sự bất khoan dung khiến cho, trong quá khứ, Giáo Hội không bao giờ chấp nhận tự do trong nội bộ của ḿnh cũng như trong xă hội loài người nói chung. Trong nội bộ Giáo Hội, người Công Giáo không có quyền có ư kiến riêng mà luôn luôn phải theo lời dạy của giáo quyền. Có một ư kiến riêng là đă "lạc đạo" rồi như Giám-mục Bossuet viết: "Người lạc đạo" (hétérique) là người có một ư kiến theo nguyên nghĩa. Mà có một ư kiến là ǵ? Là một tư tưởng riêng, một t́nh cảm riêng. Nhưng người Kitô hữu là người Công Giáo nghĩa là con người phổ biến (universel), con người không có t́nh ư riêng tư mà luôn luôn phải tuân theo t́nh ư của Giáo Hội không một chút do dự. ” Trong xă hội loài người, Giáo Hội không bao giờ công nhận cho các tôn giáo khác hoặc cho những người không công giáo cái quyền ăn nói ngang hàng với ḿnh, bởi các lư do giản dị là chỉ có Giáo Hội mới có sự thật mà chỉ có sự thật mới có quyền ăn nói. Người sai lầm th́ chỉ có mỗi một quyền sửa sai.” [iv]
Hai bản văn trên đây cho chúng ta thấy rơ Giáo Hội La Mă tự cho:
1.- Cái đạo của Giáo Hội là “chân lư”, và
2.- Việc “mỗi khi hoàn cảnh cho phép, Giáo Hội đă không ngần ngại dùng bạo lực để tiêu diệt những tôn giáo khác, đập phá các đền thờ "tà thần", đốt sách vở ngọai đạo và đốt luôn bọn người bị xem là "lạc đạo", nếu không chịu sửa sai.” là “bảo vệ chân lư”.
Sự thật cụm từ “bảo vệ chân lư” mà Giáo Hoàng John Paul II nhắc đi nhắc lại nhiều lần là như thế.
Với cái lối “bảo vệ chân lư” như vậy, đối với những người b́nh thường như chúng ta, quả thật là không ổn v́ nó không những không hợp lư, mà c̣n ngược ngạo nữa. Cái lối sử dụng ngôn từ như thế ta gọi là “nói ngược” và nói theo văn chương gọi là “cưỡng từ đoạt lư”.
Dưới đây là phần phân tích và chứng minh:
Chúng ta đặt ra vấn đề là "Ai hay thế lực nào đă làm ǵ đụng chạm đến quyền lợi của Giáo Hội mà Giáo Hội phải "bảo vệ"?
Trong gần hai ngàn năm qua, với những thành tích "làm sáng danh Chúa" trong tham vọng bá quyền "mở mang nước Chúa" bằng "chính sách bất khoan dung" đối với những nhóm dân thuộc các tôn giáo khác, Giáo Hội La Mă đă gây nên những rặng núi tội ác mà chính Giáo Hoàng John Paul II và các nhân vật cao cấp trong giáo triều Vatican đă phải đứng ra cáo thú vào ngày 12/3/2000. Lịch sử cho thấy rằng, không có một thế lực nào đem quân đến Âu Châu đàn áp tín đồ Da-tô hay bách hại Ki-tô giáo La Mă, vậy th́ tại sao Giáo Hoàng John Paul II lại bảo rằng “việc sử dụng bạo lực đẫm máu trong khi bảo vệ chân lư”?
Giáo Hoàng John Paul II tuyên bố như vậy, quả thật là không thuận tai một chút nào! Thật là vô cùng ngang ngược!
Vấn đề đặt ra không phải tự dưng mà Gíao Hoàng John Paul II tuyên bố ngang ngược như vây! Ở trên cơi đời này, cái ǵ cũng phải có cái nguyên uỷ hay sự khởi đầu của nó. Đây là một quy luật. Lời tuyên bố ngang ngược trên đây của Giáo Hoàng John Paul II cũng không đi ra ngoài quy luật này. Do đó, chũng ta hăy t́m hiều lời tuyền bố ngang ngược trên đây này của Giáo Hoàng John Paul II bắt nguồn từ đâu và vào thời điểm nào và do việc ǵ hay động lực nào khiến cho nó xẩy ra.
Theo sự hiểu biết của người viết, cái nhân (cái gốc) của những ư tưởng, ngôn từ và hành động ngang ngược của Giáo Hội La Mă là ngay từ khi Giáo Hội La Mă mới ra đời vào thế kỷ 4 đă chọn ông thượng đế bạo ngược Jehovah vô cùng quái đản (Levitcus 24: 19-20, 26: 1-18; Exodus 21: 23-25; Deuteronomy 19:21) để thờ phượng mà Giáo Hội gọi là Chân Lư hay Đức Tin của Giáo Hội. Rồi từ đó, theo gương ông thượng đế bạo ngược này, Giáo Hội cũng suy tư, phát ngôn và hành động ngang ngược giống ư hệt như Chúa Bố Jehovah của Giáo Hội.
Như vậy là trong cái mà Giáo Hội gọi là Chân Lư hay là Đức Tin của Giáo Hội chỉ là một sự nói láo vĩ đại. Rồi v́ thế mà Giáo Hội phải sử dụng bạo lực để khủng bố người đời nhằm để che giấu và bưng bít những hành động nói láo vĩ đại khởi đầu này của Giáo Hội.
Quen mui thấy mùi ăn măi. Một lần sử dụng bạo lực để khủng bố người đời để che giấu những hành động nói láo vĩ đại của ḿnh mà thành công, th́ người ta có khuynh hướng sẽ lại sử dụng bạo lực tiếp theo để đạt được mục đích, và nếu lần kế tiếp này cũng thành công, th́ người ta sẽ tiếp tục lại sử dụng bạo lực như những lần trước. Cứ thế măi, nó sẽ trở thành thói quen ưa thích sử dụng bạo lực để theo đuổi hay thực hiện những cái ǵ ḿnh mong muốn. Theo thời gian, thói quen này trở thành bản chất. Một khi nó đă trở thành bản chất rồi th́ khó ḷng có thể từ bỏ (chừa) hay sửa đổi được, đúng như người Trung Hoa thường nói, “Giang sơn dễ đổi, bản chất khó chừa” (Giang sơn dị cải, bản chất nan di). Đây là quy luật tâm lư. Việc Giáo Hội La Mă ưa thích sử dụng bạo lực để “bảo vệ chân lư” (thực tế là để “tiêu diệt những tôn giáo khác, đập phá các đền thờ "tà thần", đốt sách vở ngọai đạo và đốt luôn bọn người bị xem là "lạc đạo", nếu không chịu sửa sai.” ở vào trường hợp quy luật tâm lư này. Phần tŕnh bày dưới đây cho chúng ta thấy rơ sự thực và cái bản chất này của Giáo Hội..
Ngựa quen đường cũ. Sau lần nói láo và sử dụng bạo lực trên đây, Giáo Hội c̣n tiếp tục nói láo và sử dụng bạo lực rất nhiều lần để bưng bíp những hành động tội ác khác của Giáo Hội. T́nh trạng này cho đến ngày nay vẫn c̣n tiếp diễn. Dưới đây là một số những trường hợp điển h́nh:
I.- Chính Giáo Hội đă chủ động sử dụng cuốn Thánh Kính (đầy dẫy những chuyện láo khóet, những chuyện tàn ngược, dă man, những chuyện loạn luân dâm loàn) làm tài liệu dạy dỗ tín đồ, rồi Giáo Hội lại cũng đă nói láo như trong thánh kinh, cũng có rất nhiều hành động tàn ngược và dă man, cũng có rất nhiều ông giáo hoàng và rất nhiều tu sĩ tàn ngược, dă man, quay quắt, lắt léo, lươn lẹo, lật lọng, bịp bợm, vô trách nhiệm, sống đời phóng đăng, loạn luân dâm loàn c̣n tệ hơn tất cả những bạo chúa và hôn quân khác trong lịch sử nhân loại. (Sẽ được tŕnh bày đầy đủ trong Mục V và Mục VI.).
Giáo Hoàng và các ông tu sĩ là những người "mang chức thánh", là "các đấng bề trên" đem những "lời thánh dạy" ra dạy dỗ tín đồ rằng:
1.- Phải tuyệt đối vâng lời và tuân phục các đấng bề trên,
2.- Phải theo gương các đấng bề trên mà hành xử đối với mọi người.
Tất nhiên là tín đồ phải nh́n những cung cách hành xử của các Ngài mà noi theo và hành xử.
Chính v́ thế mà họ (đặc biệt là những tín đồ cuồng tín người Việt) cũng độc ác và tàn ngược như các Ngài, cũng quay quắt, lắt léo, lươn lẹo, lật lọng và bịp bợm như các Ngài, cũng sống đời phóng đăng, loạn luân, dâm loàn, vô lương tâm và vô trách nhiệm như các Ngài. Đây là sự thật và sự thật này đều được sách sử ghi lại đầy đủ, đặc biệt là tại Hoa Kỳ, từ đầu năm 2002 cho đến nay, các cơ quan truyền thông đă liên tục phơi bày ra trước công luận hàng rừng chuyện các ngài sờ mó, làm t́nh bất b́nh thuờng, bất chính với các trẻ em và nữ tín đồ. Vấn đề này sẽ được tŕnh bày đầy đủ trong Mục V và Mục VI ở dưới.
II.- Chính Giáo Hội đă chủ động sử dụng những chuyện hoang đường như thiên đường, địa ngục, rồi lại bịa đặt thêm ra những tín lư Chúa Cứu Thế, Chúa Ba Ngôi, Đức Mẹ Đồng Trinh, Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, Đức Mẹ Vô Nhiễm, Đức Mẹ Đồng Công, nơi Luyện Ngục (Purgatory) các phép bí tích, phép mầu, giáo hoàng không lầm lẫn, Đức Mẹ hiện ra cùng chuyện "có Chúa che chở" để lừa bip người đời và dùng bạo lực để cưỡng ép nạn nhân phải tin theo.
III.- Chính Giáo Hội đă chủ động cho phát động hàng chục cuộc chiến thập tự, dẫn quân đi giết người, cướp của, hăm hiếp phụ nữ, tàn sát tín đồ thuộc các hệ phái Thiên Chúa Giáo khác như Hồi Giáo, Do Thái Giáo, Chính Thống Giáo, ở vùng Cận Đông và tín đồ Cathari ở miền Nam nước Pháp để làm những hành động “bảo vệ chân lư” đúng như những lời dạy nơi Chương 31 trong sách Dân Số (Cựu Ước). Thời gian này kéo dài từ năm 1096 cho đến năm 1291. Hăy tưởng tượng với nhũng hành động dă man tàn ngược như trên và kéo dài ngót ngét cả hai trăm năm th́ người dân trong những vùng bị quân lính thập tự của Giáo Hội hoành hành, tác oai tác quái ,đă phải gánh chịu bao nhiêu thảm hoạ đau thương? (1) Bao nhiêu triệu nạn nhân bị giết hại? (2) Bao nhiêu triệu nạn nhân bị gây thương tật? (3) Bao nhiêu triệu đàn bà con gái bị hăm hiếp? (4) Bao nhiêu triệu thiếu phụ lâm vào cảnh mẹ góa con côi? (5) Bao nhiêu trịệu những ông gia bà cả phải sống trong cảnh già yếu ốm đau không có người săn sóc chăm nuôi v́ con cháu của họ đă bị quân lính thập tự “bảo vệ chân lư” của Giáo Hội giết hại mất rồi? (6) Bao nhiệu triệu trẻ thơ trở thành những trẻ mô côi bơ vơ không cha không mẹ, không có nhà ở để trú thân trong những ngày tháng mùa đông giá lạnh, không có một người thân thương đùm bọc nuôi dưỡng? (7) Bao nhiêu nhà cửa, miếu, đền bị thiêu rụi? (8) Bao nhiêu khối lượng mùa màng bị thiêu hủy? (9) Bao nhiêu khối lượng tài sản bị quân lính thập tự của Giáo Hội đến“bảo vệ chân lư” cướp đoạt mang đi mất?
Trân trọng Giáo Hoàng Benedict XVI cùng các vị chức sắc cao cấp trong giáo triều Vatican cũng như các ông tu sĩ và giáo dân Da-tô tính sổ giùm và công bố cho người đời biết?
IV.- Chính Giáo Hội đă chủ độngi ra lệnh dùng những biện pháp tàn ác khởi đầu vào năm 1184 trong thời Giáo Hoàng Lucius III (1181-1185) để sát hại không biết bao nhiêu lương dân bị gán cho là tà giáo. Sách The Pope Encyclopedia viết:
“Năm 1184, Lucius triệu tập Hội Nghị Verona. Hội nghị này ra lệnh dùng những biện pháp chống những dân tà giáo. Lucius chết ở Verona vào ngày 25/11/1185.” Nguyên văn: “In 1184, Lucius also convened the Synod of Verona, which ordered measures taken against heretics. Lucius died at Verona on November 25, 1185.”[v]
Sách The Inquisition của tác giả Edward Burman viết:
“Cuối cùng, vào tháng 2 năm 1231, Giáo Hoàng Grogory (1227-1241) ban hành hiến chế về việc rút phép thông công. Hiến chế này quy định những chi tiết để soạn thảo luật trừng phạt những người tà giáo với những điều khoản:
1.- Giao những những tà giáo cho ṭa án xử lư
2.- Rút phép thông công những người thuộc hệ phái Carthars, Waldensians, những người tà giáo khác, những người che chở họ, những người đồng đảng với họ, những bạn bè của họ và những người biết họ là tà giáo mà không tố cáo với chính quyền.
3.- Những người bị t́nh nghi là tà giáo mà không tŕnh diện nhà hữu trách của giáo Hội trong ṿng một năm th́ sẽ tự động bị coi như là những người tà giáo.
4.- Kể từ ngày này, bốn điều khoản dưới đây sẽ trở thành luật:
a.- Phạt tù chung thân những người tà giáo không hối cải (đă có trong luật thánh thứ 11 theo quyết định của Hội Nghị Toulouse);
b.- Quyền kháng cáo bị từ chối (Không có quyền kháng cáo).
c.- Những người bị t́nh nghi là tà giáo không được phép có luật sự để bênh vực;
d.- Hai đời con cái của những người tà giáo sẽ không được bổ nhậm vào các chức vụ trong hệ thống quyền lực của Giáo Hội.
5.- Những người tà giáo khi c̣n sống chưa bị trừng phạt th́ chế rồi dù đă nằm sâu dưới đáy mồ cũng sẽ bị khai quật để trừng phạt.
6.- Nhà cửa của những người bị kết án là tà giáo sẽ bị triệt ha.
Nguyên văn: “Finally, in February 1231, Gregory IX (1227-1241) took a decisive step when he issued the constitution Excommunicamus, which provided detailed legislation for the punishment of heretics. Its provisions included:
1.- The surrender of heretics to the secular arm for animadversio debita.
2.- The excommunication of Cathars, Waldensians, other heretics, and their defenders, followers, friends, and even those who do not denounce heretics they might know to the authorities.
3.- Suspected heretics who did not submit to canonical expurgation within a year of being suspected automatically became heretics.
4.- Four clauses became law from that date:
a.- life imprisonment for impenitent heretics (already in the eleventh canon of Council of Toulouse);
b.- the right to appeal was denied;
c.- suspected heretics could not be defended by lawyers;
d.- children of heretics were to be exlcluded from ecclesiastical appointments to the second generation.
5.- The exhumation of unpunished heretics.
6.- The demolition of the homes of convicted heretics.[vi]
Những biện pháp này dần dần đưa đến việc chính thức thiết lập các Ṭa Án Dị Giáo vào năm 1232. Đây là một thứ tổ chức công an và mật vụ đă tàn sát hàng trăm triệu nạn nhân ở Âu Châu và tại các thuộc đia ở ngoài Âu Châu của các đế quốc thực dân xâm lược liên minh với Giáo Hội như Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Pháp và Bỉ.. Vấn đề đặt ra là các ṭa án khốn nạn này đă:
1.- sát hại bao nhiêu triệu nạn nhân?
2.- gây thương tật cho bao nhiêu triệu nạn nhân?
3.- bắt giam giữ bao nhiêu triệu nạn nhân cho đến chết như trường hợp nhà bác học Galileo Galilei (1564-1642)?.
Sách Smokesceens của tác giả J.T.C (Chino, CA: Chick Publicatión, 1983, p. 35) cho biết con số nạn nhân bị các Toà Án Dị Giáo của riêng chính quyền đạo phiệt Da-tô Tây Ban Nha sát hại và gây thương tật lên đến 68 triệu người ở chính quốc và ở các thuộc địa (không nói đến con số bị cầm tù cho đến chết):
"Chỉ nội trong thời kỳ thi hành chương tŕnh Inquisition ở Tây Ban Nha, Giáo Hội La Mă đă tra tấn, gây thương tật và sát hại là 68 triệu, và nhiều nạn nhân này cũng là những người Thiên Chúa Giáo tin tưởng vào Thánh Kinh." [The Roman Catholic Institution tortured, maimed and murdered 68 million people during the Spanish Inquisition alone, and many these were Bible-believing Christians."[vii]
V.- Chính Giáo Hội đă chủ động cho thi hành chính sách đế quốc thực dân xâm lược qua việc ban hành các sắc lệnh, thánh lệnh vào những năm 1436, 1443, 1452, 1454, 1481, 1492 và 1493.(đă được nói rơ ở Mục II)
VI.- Chính Giáo Hội đă chủ động sai phái các tay tổ gián điệp với danh nghĩa là các nhà truyền giáo đến các lục địa Phi, Mỹ và Á châu với nhiệm vụ thâu thập các tin tức t́nh báo chiến lược tại các nơi này làm tài liệu chuẩn bị cho việc đem quân đi đánh chiếm đất đai ở các vùng này làm thuộc địa để "mở mang nước Chúa" theo đúng tinh thần của thánh lệnh Romanus Pontifex được ban hành vào ngày 8 tháng 1 năm 1454 trong thời Giáo Hoàng Nicholas V (1447-1455) và các thánh lệnh khác như đă nêu ra ở trên. Cũng v́ thế mà toàn bộ các dân tộc Châu Mỹ La-tinh, Phi Luật Tân, Việt Nam cũng như nhiều quốc gia khác ở các lục địa Á Châu, Phi Châu cùng các đảo và quần đảo ở khắp các đại dương đều trở thành nạn nhân của Giáo Hội.
VII.- Chính Gíáo Hội đă chủ động liên minh với các đế quốc Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha đem quân đi đánh chiếm các vùng đất ở Phi Châu, Châu Mỹ La Tinh và Phi Luật Tân. Tại các vùng đất này, Giáo Hội đă sử dụng các Toà Án Di Giáo (Inquisitions), thẳng tay tàn sát gần hết các dân tộc bản địa, hủy diệt gần hết nền văn hóa và văn minh của họ.
VIII.- Chính Giáo Hội đă có chủ tâm đánh chiếm Đông Dương làm thuộc địa rồi chủ động gửi người đi vận động chính quyền Pháp liên kết với Giáo Hội và xuất quân đánh chiếm vùng đất này làm thuộc địa để cùng thống trị và chia nhau lợi nhuân.
IX.- Trong năm 1945, chính Giáo Hội đă chủ động cấu kết với chính quyền Pháp dưới quyền lănh đạo của Tướng Charles de Gaulle trong việc đưa người của Giáo Hội là cựu Linh-mục Thierry d’ Argenlieue lên giữ chức vụ Cao Uỷ Đông Dương vào ngày 17/8/1945 với trách nhiệm tái chiếm Đông Dương và thi hành chính sách “chia để trị” với kế sách xé nước Việt Nam ra thành những mảnh vụn theo biên giới địa lư (nước Nam Kỳ tự trị), sắc tộc (Nước Tây Nguyên, Liên Bang Thái ở Tây Bắc Bắc Việt Nam) và tôn giáo (giáo khu tự trị Phát Diệm và Bùi Chu), để chuẩn bị biến những mảnh vụn này thành những tiểu quốc theo đạo Da-tô bằng kế sách dùng người Việt đánh người Việt và dùng tín đồ Da-tô cai trị đại khối nhân dân thuộc các tôn giáo khác. Vấn đề này sẽ được tŕnh bày đày đủ trong Mục VIII và IX (Phần III) và Mục XV (Phần V) ở sau.
X.- Mùa thu năm 1950, chính Giáo Hội đă chủ động cho Giám-mục Ngô Đ́nh Thục dẫn ông Da-tô Ngô Đ́nh Diệm sang Mỹ để vận động đưa ông ta về cầm quyền ở Viêt Nam làm tay sai cho Giáo Hội. (Sẽ được tŕnh bày rơ ràng và đầy đủ trong Mục XVIII (Phần VI) ở sau.
XI.- Chính Giáo Hội đă chủ động đặt ra giáo luật cưỡng bách những người thuộc các tôn giáo khác muốn thành hôn với tín đồ của Giáo Hội th́ phải học giáo lư và làm lễ rửa tội theo đạo Da-tô trước rồi mới được tiến hành làm lễ thành hôn.
XII.- Các dân tộc tại Phi, Mỹ và Á Châu đều không hề đem quân lính đến Âu Châu chiếm đất và cưỡng bách tín đồ Da-tô phải theo tín ngưỡng của họ. Trái lại, các dân tộc này là nạn nhân của Giáo Hội.
XIII.- Phật giáo, Khổng giáo, Lăo giáo, Ấn Độ giáo, Thần đạo và Chính Thống giáo đều không hề phát động thánh chiến đem quân đến Tây và Nam Âu tấn công đánh chiếm đất đai và tàn sát tín đồ Da-tô. Trái lại, các tôn giáo này là nạn nhân của Giáo Hội.
Tất cả những hành động tội ác trên đây đều do Giáo Hội chủ động cả. Có chỗ nào Giáo Hội ở “tư thế bị động, bị tấn công” hay ở vào “t́nh trạng phải tự vệ” đâu mà Giáo Hoàng John Paul II bảo rằng: “Giáo Hội phải sử dụng bạo lực trong khi bảo vệ chân lư.” Nói như vậy là Giáo Hoàng John Paul II đă nói láo, nói ngược, mà ngôn ngữ pháp luật gọi là cưỡng từ đoạt lư.
Phần tŕnh bày trên đây cho chúng ta thấy rằng những hành động bạo hành và bách hại các tôn giáo khác của Giáo Hội trong gần hai ngàn năm qua đều bị Giáo Hội nói ngược là những hành động “bảo vệ chân lư” của Giáo Hội. Đúng là cái “Miệng kẻ sang có gang có thép” và “cái lưỡi không xương có nhiều đường lắt léo”. Thú thực, chúng tôi cảm thấy lợm giọng quá!
Đường đường vừa là giáo chủ của một tôn giáo thường rêu rao là có gần một tỉ tín đồ,vừa là Hoàng Đế của đế quốc Vatican được xếp ngang hàng với các nhà lănh đạo các quốc gia trên thế giới mà lại lươn lẹo, nói ngược và nói láo như vậy th́ đâu c̣n ǵ là thể diện của cái tôn giáo này.
Tóm lại, sự kiện Giáo Hội La Mă khẳng định và rêu rao rằng đạo Kitô là đạo của “chân lư” khiến ch cái bản chất lố bịch, trịch thượng, trí trá và gian dối của Giáo Hội La Mă càng được phơi bày ra cho mọi người thấy rơ.. Ai cũng biết rằng hệ thống tín lư thần học làm nền tảng cho đạo Kitô La Mă là "một tập hợp những ư kiến viết thành những câu chuyện và giáo luật" nặng tính cách hoang đường và chủ quan. Tập hợp ư kiến này không phải là một lư thuyết khoa học v́ không thể kiểm nghiệm được bằng những phương pháp khoa học và đă bị các nhà khoa học trong nhiều thế kỷ vừa qua đều cho rằng nó mang nặng tính cành huyễn hoặc, nghịch lư và phản khoa học. Ấy thế mà Giáo Hội lại khơi khơi gọi nó là "chân lư".Khi được các nhà bác học kiểm chứng th́ thấy rằng cái hệ thộng thần học mà Giáo Hội gọi là "chân lư" dùng làm căn bản cho cái đạo "cứu rỗi" của Giáo Hội chỉ là cả một khu rừng đầy những chuyện láo khóet, bịp bợm để lừa gạt người đời và những chuyện lọan luân dâm loàn cùng với những việc làm chuyên chính, bạo ngược và bất nhân, đi nguợc với trào lưu tiến hóa cúa nhân loại.
Sự kiện Thánh Kinh nói rằng, trái đất bằng phẳng và là trung tâm của vũ trụ, nói rằng mặt trời chạy chung quanh địa cầu, sự kiện Giáo Ḥang John Paul II xác nhận không có thiên đường ở trên chín từng mây, xác nhận không có địa ngục ở trong ḷng trái đất, sự kiện Ngài công nhận thuyết tiến hóa của nhà bác học Charles Robert Darwin (1809-1882) (xem lại Chương 4), sự kiện Ngài sử dụng chiếc xe chống đạn đặc biệt Popemobile vào những khi Ngài đi viếng thăm nước ngoài [viii], (tức là chính Ngài cũng không tin tưởng vào sự che chở của Chúa trong khi chính Ngai và các cán bộ truyền giáo của Giáo Hội thường lớn tiếng rao truyền rằng “đă có Chúa che chở”) v.v..., tất cả là những bằng chứng nói lên tính chất láo khoét, bịp bợm, lố bịch, trịch thượng và lưu manh của Giáo Hội La Mă. Cũng v́ thế mà ông Charlỉe Nguyễn mới cho rằng "gọi Công Giáo là đạo bịp hay đạo dối không sai chút nào”, rôi.ông viết thêm::
"Trước hết, người Công Giáo đă ngộ nhận giáo hội của họ là thánh thiện, v́ vậy họ đă gọi nó là Hội Thánh, trong khi chính nó là tên vô địch sát nhân trong lịch sử ḷai người. Cái đạo bất nhân man rợ như vậy chỉ có thể được gọi là "Đạo Thánh Đức Chúa Trời" bởi những kẻ tối dạ thất học mà thôi. Cái núi tội ác cao ngất trời xanh đă hùng hồn xác minh cái bản chất của Công Giáo La Mă là phi nhân tính (inhumanity). Ngày nay xă hội Tây Phương đă nh́n nhận rằng phi nhân tính là đồng nghĩa với mọi rợ (inhumanity means barbarism). Triết gia Thomas Bailey Aldrich đă ví nền văn minh Kitô giáo là cái áo lông cừu che đậy sự mọi rợ của nó. ...Vậy người Công Giáo vin vào đâu mà dám gọi cái đạo vô địch sát nhân của họ là đạo thánh? Vin vào đâu mà dám nhục mạ các dân tộc Đông Phương là mọi rợ? Phải chăng Công Giáo là đạo duy nhất thích ăn thịt và uống máu người (qua lễ ăn Bánh Thánh) nên được coi là đạo duy nhất thánh thiện và duy nhất văn minh?" [ix]
Như vậy, rơ ràng là khi nói rằng “việc sử dụng bạo lực mà một số Kitô hữu đă dùng trong khi bảo vệ chân lư” là Giáo Hoàng John Paul II đă “nói ngược”.
THỨ HAI là trường hợp sử dụng cụm từ “trở lại đạo”: Giáo Hội gọi những người mới theo đạo (tân ṭng) là những “người mới trở lại đạo” Sách Việt Nam Tự Điển của ông Lê Văn Đức định nghĩa “động tử trở lại là lộn lại, đi trở về.”, và ai cũng hiểu rằng động từ “trở lại” là để nói về một hành động quay trở về nơi hay chơ cũ mà trước đó đương sự đă rời khỏi đi nơi khác.
Với định nghĩa của động từ “trở lại” như trên, việc Giáo Hội La Mă gọi những người tân ṭng (mới theo đạo) là “những người mới trở lại đạo” th́ thật là phi lư v́ rằng những người mới theo đạo Da-tô là những người vốn thuộc các tôn giáo khác. Trước đó, họ đâu có phải là tín đồ Da-tô đă bỏ đạo rồi lại trở lại theo đạo mà Giáo Hội gọi họ là “những người mới trở lại đạo”?
Đây là trường hợp thứ hai Giáo Hội đă cố t́nh sử dụng ngôn từ một cách bất thường và trịch thượng. Có người cho rằng đây là thói quen dùng ngôn ngữ một cách trịch thượng, bất chấp cả cái nghĩa đích thực của ngôn ngữ và khinh thường nhân loại. Rơ ràng là Giáo Hội đă ăn ngang nói ngược!
THỨ BA là việc Giáo Hội sử dụng từ kép “Tin Mừng” và “Hồng Ân Thiên Chúa”. Giáo Hội cũng như các nhà truyền giáo và tín đồ Da-tô thường cao rao rằng đem đạo Da-tô đến các nhóm dân thuộc các tôn giáo khác là đem “Tin Mừng” tới giúp họ biết đến Hồng Ân Thiên Chúa với hy vọng họ sẽ biết đường quy phục Chúa và được Chúa “cứu rỗi” cho lên thiên đường “đời đời hưởng nhan Chúa”..
Nếu t́m hiểu cái “Tin Mừng” và “Hồng Ân Thiên Chúa” này của Giáo Hội” là cái ǵ, chúng ta sẽ thấy rằng, nó gồm có 3 thứ là:
A.- Thánh Kinh của Giáo Hội,
B.- Chủ trương cứu rỗi của Chúa Con Jesus ,
C.- Những hành động của Giáo Hội La Mă, tự phong là đại diện duy nhất của Chúa ở trên trái đất này có thể giúp người đời được cứu rỗi.
Chúng ta hăy t́m hiểu cả ba thứ này để xem có những ǵ “đáng quư“ ở trong đó:
A.- Thánh Kinh dạy người đời như thế nào?
T́m đọc Thánh Kinh, chúng ta sẽ thấy hầu hết trong đó là những chuyện hoang đường, phản tự nhiên, phản khoa học cùng với những chuyện loạn luân (chuyện thằng Cain cưới vợ, nếu không vô lư th́ là loạn luân (Sáng Thế Kư: 4: 1-23), chuyện hai đứa con gái ông Lot chủ tâm phục rượu cho ông ta say rồi chia nhau làm t́nh cho đến mang thai và sinh con (Sáng Thế Kư 19: 1-10), Chúa Bố Jehoavah chuyên chế, bạo ngược, hiếu sát và khát máu, (Lê Vi Kư 26:1-21), và những chuyện khơi động ḷng tham lam ích kỷ và dùng những miếng mồi vật chất để xúi giục loài người đánh nhau, cướp của, đốt nhà, tàn phá mùa màng tàn sát đàn ông, hăm hiếp đàn bà con gái, chiếm đoạt gái trinh và trả thù nạn nhân bại trận môt cách vô cùng man rợ (Dân Số 31:1-54).
Dưới đây là một số lời dạy này trong sách Dân Số nơi Chương 31:
Đối xử với dân Ma-đi-an bị thất trận:
1.- Đức Giê-hô-va lại phán cùng Môi-se rằng:
2.- Hăy báo thù dân Ma-đi-an cho dân Y-sơ-ra-ên; rồi ngươi sẽ được về cùng tổ phụ.
3.- Vậy, Môi-se truyền cho dân sự rằng: Trong các ngươi hăy sắm sửa binh khí mà ra trận hăm đánh dân Ma-đi-an đặng báo thù dân đó cho Đức Giê-hô-va.
9.- Dân Y-sơ-ra-ên bắt đàn bà và con nít Ma-đi-an dẫn theo, cướp hết thảy súc vật, bầy chiên và của cải họ,
10.- đốt hết những thành, nhà ở, và hương thôn chúng nó,
11.- cũng lấy đem
theo hết thảy của đoạt được, bất kỳ người hay vật.
17.- Vậy bây giờ, hăy giết hết thảy nam đinh trong bọn con trẻ, và giết người nữ nào đă kết bạn cùng một người nam;
18 .-nhưng hăy để
sống cho các ngươi hết thảy con gái chưa hề kết bạn cùng người nam.
26.- Ngươi, Ê-lê-a-sa,
thầy tế lễ, và các quan trưởng của những tông tộc, hăy dựng sổ về của giặc
mà người ta đă đoạt được, nào người, nào vật,
27.- rồi chia của đó cho các người đă ra trận và cho cả hội chúng.
28 - trong phần thuộc về quân binh đă ra trận, hoặc người, hoặc ḅ, hoặc lừa
hay chiên, ngươi phải cứ thâu một phần trong năm trăm mà đóng thuế cho
Đức Giê-hô-va,
29 -Tức phải thâu thuế đó trong phân nửa thuộc về quân binh và giao
cho Ê-lê-a-sa, thầy tế lễ, làm lễ vật dâng cho Đức Giê-hô-va.
32 - Vả, của giặc c̣n lại mà quân binh cướp lấy được là sáu trăm bảy mươi
lăm ngàn con chiên cái;
33 - bảy mươi hai ngàn con ḅ,
34 - sáu mươi mốt ngàn con lừa đực.
35 - Người nữ chưa kết bạn cùng người nam nào, hết thảy
được ba mươi hai ngàn người. ( 32.000)
36.- Phân nửa thuộc về kẻ đă đi trận, là ba trăm ba mươi bảy ngàn năm trăm
con chiên cái,
37.- đóng thuế cho Đức Giê-hô-va là sáu trăm bảy mươi lăm con;
38.- ba mươi sáu ngàn con ḅ, đóng thuế cho Đức Giê-hô-va là bảy mươi hai
con;
39.- ba ngàn năm trăm con lừa đực, và đóng thuế cho Đức Giê-hô-ra sáu
mươi mốt con;
40.- mười sáu ngàn người, và đóng thuế cho Đức Giê-hô-va là ba mươi
hai người.
52 - Hết thảy vàng về
lễ vật mà những quan tướng một ngàn quân và quan tướng một trăm quân dâng
cho Đức Giê-hô-va, cộng là mười sáu ngàn bảy trăm năm mươi siếc-lơ.
53 - Vả, mỗi người trong quân binh đều có cướp lấy vật cho ḿnh.
54 - Vậy, Môi-se và Ê-lê-a-sa, thầy tế lễ, nhận lănh vàng của quan tướng
ngàn quân và trăm quân, rồi đem vào hội mạc làm kỷ niệm về dân Y-sơ-ra-ên
trước mặt Đức Giê-hô-va.
Lời dạy trong Thánh Kinh khốn nạn và man rợ như thế đó. Những lời dạy man rợ này chính là những hạt giống độc ác nằm trong kho chứa được gọi là thánh kinh Cựu Ước của Giáo Hội.
B.- Về chủ trương cứu rỗi của Chúa Con Jesus: Sách Matthew (10: 34-37) viết:
“34.-Một Nguyên Nhân Chia rẽ. (A Cause of Division)- Chớ tưởng rằng ta đến đây để đem sư b́nh an cho thế gian; ta đến đây không phải đem sự b́nh an, mà là đem gươm giáo.(Do not think that I have come to bring peace upon the earth. I have come to bring not peace but the sword.) 35.- Ta đến đây để con trai chống lại cha, con gái chống lại mẹ, con dâu chống lại mẹ chồng;(For I have to set a man against his father, a daughter against her mother, and a daughter–in- law against her mother-in-law). 36.- và sẽ có kẻ thù nghịch là chính những người trong nhà ḿnh (and one’s enemies will be those of his householdd 37.- Điều kiện là môn đê (Condition of Discipleship): Ai yêu cha mẹ hơn ta th́ không đáng cho ta, ai yêu con trai hay con gái hơn ta th́ cũng không đáng cho ta. (Whoever loves father or mother more than me is not worthy of me, and whoever loves son and daughter more than me is not worthy of me.”
Cứ theo như nội dung của những lời dạy trong Matthew (10: 34-37) trên đây, không ai chối cái được rằng Chúa Jesus giáng thế là để mang cái thảm họa chia rẽ giữa cha mẹ vơi con cái, làm cho người trong cùng một nhà chống nhau, và những người trong cùng một nước thù ghét coi nhau như những kẻ tử thù. Xem như thế th́ lời dạy của Chúa Jesus quả thật vô cùng độc ác và cực kỳ dă man. Nó đă trở thành nhữ hạt gióng quái đản nằm trong kho chứa thánh kinh Tân Ước. Những kẻ đem những hạt giống ác độc dă man này đi gieo rắc và nhồi nhét vào đầu óc con người là Giáo Hội La Mă. Cũng v́ thế mà ta có thể nói nhà truyền giáo Da-tô đi tới đâu là đem những hạt giống ác độc khốn nạn này gieo rắc và ương mầm ở nơi đó; và ở nơi đâu có tín đồ Da-tô là những hạt giống chia rẽ này bắt đầu sinh nở và phát triển ở trong đầu óc họ khiến cho họ phải tách biệt, sống riêng với nhau, coi những đồng bào thuộc các tôn giáo khác là những kẻ tử thù không đội trời chung.
Cũng như ở các quốc gia khác, tại Việt Nam, tín đồ Da-tô sống riêng biệt ở trong những “xóm đạo” giống như những ốc đảo chơ vơ trơ trọi trong đại mạc dân tộc. Rồi từ đó mới nẩy sinh mối đại họa chi arẽ:
1.- Chia rẽ giữa lương và giáo;
2.- Chia rẽ giữa đại khối dân tộc theo nền đạo lư cổ truyền với niềm tin sắt đá là gặp khi tổ quốc lâm nguy th́ tất cả mọi người đều đồng tâm đặt quyền lợi tối thượng của tổ quốc và dân tộc lên trên hết, cương quyết chiến đấu đến hơi thở cuối cùng để bảo toản chủ quyền của đất nước và nhóm thiểu số tín đồ Da-tô bị điều kiện hóa thành những người vong bản chỉ biết tuyệt đối trung thành với Giáo Hội La Mă, đặt quyền lợi của nước Vatican lên trên hết và sống theo tinh thần “thà mất nước, chứ không thà mất Chúa”.
3.- Chia rẽ giữa những người Việt Nam hăng hái ủng hộ và tham gia các lực lượng nghĩa quân kháng chiếnn đánh đuổi quân xâm lăng cướp nước và bọn Việt gian Da-tô bán nước cho quân giặc ngoại xâm Vatican và Pháp;
4.- Chia rẽ giữa Miền Bắc vởi chủ trương thống nhất đất nước đem non sông về một mối và Miền Nam cương quyết duy tŕ Việt Nam ở trong t́nh trạng măi măi bị chia đôi;
5.- Chia rẽ giữa những người coi ông Hồ Chí Minh là một vị anh hùng dân tộc đă thành công lănh đạo đại cuộc đánh đuổi các Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican và Mỹ Vatican đem lại độc lập và thống nhất cho dân tộc và những người chủ trương tôn vinh tên Da-tô tam đại Việt gian Ngô Đ́nh Diệm như là một người yêu nước đă hy sinh v́ nước tổ Vatican.
6.- Chia rẽ giữa những người chủ trương hoà hợp và ḥa giải để đoàn kết dân tộc và những người Da-tô chủ trương giữ vững lằn ranh Quốc - Cộng;
7.- Chia rẽ giữa những con yêu thân thương của tổ quốc muốn quên đi những hiềm khích trong quá khứ để hàn gắn vết thương dân tộc và những người cương quyết nuôi dưỡng hận thù chiến bại và truyền đạt mối hận thù này cho con cháu họ,
8.- Chia rẽ giữa lá cờ đỏ sao vàng là biểu tượng cho đại khối dân tộc cương quyết đ̣i lại quyền độc lập của dân tộc đem lai vinh quang cho tổ quốc và lá cờ vàng ba sọc đỏ biểu tượng cho nhóm thiểu số tín đồ Da-tô và tập đoàn phong kiến phản động núp dưới lá cờ này để che đậy tội ác bán nước cho Liên Minh Xam Lăng Pháp – Vatican và Liên Minh Mỹ - Vatican.
9.- Chia rẽ giữa những người có niềm tin sắt đá phải giữ vững nền thống nhất đất nước bằng bất cứ giá nào và những người v́ ḷng thù hận mất đi cái quyền ngồi trên bàn độc ở miền Nam trong những năm 1954-1975 mà quay ra hồ hởi vui mừng và ủng hộ bọn người đột lốt tôn giáo xúi giục đồng bào thiểu số ở vùng Cao Nguyên Nam Trung Bộ nổi loạn chống lại chính quyền và đ̣i thành lập nước Tây Nguyên như cái thời tên cựu Linh-muc Thierry d’ Argenlieue được đưa lên giữ chức vụ Cao Ủy Đông Dương trong thời gian từ ngày 17/8/1945 cho đến ngày 15/3/1947.
10.- Chia rẽ ở ngay trong các buổi họp mặt của người Việt hải ngoại có một cùng quê quán ở Việt Nam giữa những người muốn rằng những cuộc họp mặt như vậy là những dịp được gặp lại những người thân quen để hàn huyên tâm sự cho nên phải bỏ ra ngoài tất cả bất đồng quan điểm về chính trị và không nên chào cờ làm chi cho phiền toái và những người phải tuân hành đúng thủ tục chào cờ vàng ba sọc đỏ để tỏ rơ “thái độ và lập trường của người quốc gia yêu nước” đă từng phục vụ cho các chính quyền bù nh́n làm tay sai cho Liên Minh Xâm Lăng Pháp – Vatican trong thời kỳ 1858-1945 và Liên Minh Mỹ Vatican trong những năm 1954-1975.
11.- Chia rẽ giữa những người coi quốc gia tí hon Vatican là một đế quốc có chủ trương theo đuổi mưu đồ bá quyền thống trị toàn cầu và nô lệ nhân loại bằng chiêu bài tôn giáo với danh xưng là Giáo Hội La Mă hay đạo Ki-tô La Mă đế mê hoặc người đời và những người triền miên trong cơn mộng du, coi Vatican là nước Chúa thân thương của họ.
12.- Chia rẽ giữa những người hiểu rơ thế nào là dân chủ, biết tôn trọng mọi thứ quyền tự do của người khác trong đó có quyền tự do tôn giáo và những người luôn luôn cao rao tranh đấu cho tự do dân chủ và tranh đấu cho quyền tự do tôn giáo nhưng lại không bao giờ tôn trọng các quyền tự do căn bản và tự do tôn giáo của người khác. T́nh trạng sử dụng những ngôn ngữ tục tĩu thiếu văn hóa của các nhà tranh đấu cho dân chủ và quyền tự do tôn giáo trong những bài viết nhục mạ gần một ngàn người Việt tham dự bữa cơm chiều với ông Chủ Tịch Việt Nam Nguyễn Minh Triết trong một khách sạn ở Dana Point, Calfornia vào ngày 22/6/2007 và vụ tổ chức cuộc họp tố khổ tờ Việt Weekly trong một hội trường tại thành phố Wesminster, California vào ngày 15/7/2007, v.v…. nói lên thực trạng này.
Trở lại nội dung hai bản văn trích dẫn từ trong Cựu Ước [Dân Số Kư (31:1-54)] và bản văn trích dẫn từ trong Tân Ước (Matthew (10: 34-37), đọc hết hai bản văn này, chúng thấy Chúa Bố Jehovah th́ hết sức tham tàn, cực kỳ độc ác, vô cùng bạo ngược, và Chúa Con Jesus th́ quá ư dă man và hết sực thâm độc, có dă tâm phá nát cả nhân luân đạo lư. Thử tưởng tượng nêu tất cả mọi người đều triệt để sống theo những lời dạy ghi trong hai bản văn trích trong Cựu Ước và Tân Ước trên đây, th́ chắc chắn là xă hội loài người sẽ thành xă hội của loài thú vật.
C.- Về những hành động của Giáo Hội La Mă: Tới đây, chúng ta t́m hiểu xem trong gần hai ngàn năm qua Giáo Hội đă đối xử với tín đồ và nhân dân dưới quyền như thế nào?
Sách sử cho thấy rằng ngay từ khi được Hoàng Đế Constantine (280-237) của Đế Quốc La Mă cho ra đời vào thập niên 310, Giáo Hội đă có chủ trương Thần quyền (tôn giáo) chỉ đạo thế quyền (chính quyền thế tục) bằng cách thiết lập chế độ đạo phiệt Da-tô rồi dùng quyền lực để thi hành chính sách bất khoan dung đối với những người thuộc các tôn giáo khác cũng như đối với những người c̣n hoài nghi tín lư Ki-tô hay hoài nghi những lời dạy dỗ của Giáo Hội. Để có thể đạt được mục đích này, Giáo Hội đă liên tục theo đuổi chính sách cấu kết với cường quyền và các đế quốc thực dân xâm lược hầu có thể sử dụng bạo lực của Nhà Nước để khuất phục nhân dân dưới quyền, để củng cố quyền lực và để mở rộng vùng ảnh hưởng. Trong gần hai ngàn năm qua, v́ theo đuổi chủ trương này với những chính sách dă man trên đây, Giáo Hội đă trực tiếp và gián tiếp liên hệ đến tội ác tàn sát hơn 250 triệu người lương dân vô tội. Sự kiện này đă được sách sử ghi lại rơ ràng và đă được tŕnh bày đầy đủ ở Mục III ở trên. Người viết xin ghi lại đây một lần nữa để độc giả có thể dễ dàng h́nh dung được cái “tin mừng” và “Hông Ân Thiên Chúa” mà Giáo Hội La Mă thường cao rao nó ghê tởm đến mức nào! Sách Deceptions and Myths of the Bible viết:
"Chúng ta đă biết được những ǵ trong 7 trăm năm này? Ba triệu người thiệt mạng trong vụ cố gắng chiếm lại một ngôi mồ nằm trong vùng kiểm soát của người Hồi giáo. Mười triệu người bị giết hại do bàn tay của các Ṭa Án Dị Giáo Gia-tô Mười bốn triệu người chết trong các cuộc chiến Da-tô trong thế kỷ thứ 19. Ba mươi triệu người thiệt mạng trong các cuộc chiến giữa các quốc gia theo đạo Kitô với nhau trong hai thập niên đầu của thế kỷ thứ 20. Từ thời Constantine đến nay, chiến tranh và chính sách áp bức của các chế độ đạo phiệt Gia-tô đă gây cho hơn 200 triệu nạn nhân bị thiệt mạng. Và chúng ta phải kể thêm 23 triệu quân nhân của 53 quốc gia và các thuộc địa đă hy sinh trong các cuộc chiến (do Giáo Hội phát động – NMQ ) và ít nhất 28 triệu nạn nhân chết v́ bom, đạn, đói và bệnh tật hay ở trong các trại tập trung.” [Nguyên văn: What have we learned in those seven hundred years? “Three million lost their lives in a futile attempt to rescue a tomb from Mussulmans. Ten million were slain during the Inquisition. Fourteen million were slain in Christian wars of the Nineteenth Century. Thirty million lost there lives in wars between Christian nations during the first two decades of the Twentieth Century. Wars, tyranny and oppression of Christian nations since the days of Constantine have caused the death of more than 200,000,000 people” And now we must add to this “Some 23,000,000 men in uniform from 53 nations, countries and dominions were killed or died; at least 28,000,000 died from bombs or guns, hunger or disease or in the concentration camps.) [x]
Tin Mừng và Hồng Ân Thiên Chúa của Giáo Hội La Mă mang đến cho người đời kinh tởm như thế đó. Như vậy quả thật là Giáo Hội La Mă đă nói ngược. Do đó, chúng ta có thể nói rằng cái mà Giáo Hội La Mă gọi là Tin Mừng và Hồng Ân Thiên Chúa, thực sự chỉ là Hung Tin và Đại Họa Ác Quỷ mà thôi.
Đây là bằng chứng thứ ba về thành tích “nói ngược” hay “cưỡng từ đoạt lư” của Giáo Hội La Mă và tín đồ của Giáo Hội.
THỨ TƯ là cung cách sử dụng những từ kép“Việt gian”, “ phản quốc” và “ái quốc” của tín đồ Da-tô người Việt. Có lẽ v́ méo mó nghề nghiệp (déformation professionelle) của một nhà giáo, người viết có thói quen diễn giảng và có khuynh hướng sử dụng những ngôn từ rơ ràng, minh bạch, rạch ṛi để giúp cho người đọc khỏi cần mất th́ giờ suy nghĩ mà cũng có thể nhận ra được bản chất hay ư nghĩa đích thực của những điều muốn nói ở trong bản văn này. Cũng v́ thế mà ư nghĩa của những từ kép trên đây cần phải được tŕnh bày một các minh bạch và rơ ràng.
Theo Việt Nam Tự Điển (Quyển Hạ) của ông Lê Văn Đức, trang 1777, th́:
“Việt gian là người Việt Nam phản đất nước”.
“Người phản đất nước” được chuyển dịch sang tiếng Anh là “traitor”.
Theo American Heritage DICTIONARY Of The English Language (Edition 1980) th́:
”Traitor là kẻ phản bội đất nước, là một người phản quốc, một chính nghĩa, hay một niềm tin của ḿnh; đặc biệt nhất là người đă phạm tội phản nghịch.” Nguyên văn: Traitor: A person who betrays his country, a cause, or a trust; especially, one who has committed treason.”
Hiến Pháp Hoa Kỳ định nghĩa rơ cụm từ ”tội phản nghịch” như sau:
“Tội phản nghịch chống lại Hoa Kỳ chỉ bao gồm có hành động chống lại nước Hoa Kỳ hay tuân hành kẻ thù của nước Hoa Kỳ bằng cách giúp đỡ và cung cấp những tiện nghi cho quân địch”. Nguyên văn: ”Treason against the United States, shall consist only in levying War against them, or in adhering to their Enemies, giving them Aid and Comforts”. (Daniel J. Boorstin & Brooks Mather Kelly. A History of The United States. Englewood Cliffs, New Jersey: Prentice Hall, Inc., 1989, page 837).
Sách sử Việt Nam trong thời cận và hiện đại cho thấy rằng các ông Ngô Đ́nh Khả (đời thứ nhất), Ngô Đ́nh Khôi, Ngô Đ́nh Diệm (đời thứ hai) và Ngô Đ́nh Huân (đời thứ ba) đă có những việc làm tiếp tay cho kẻ thù của dân tộc Việt Nam là giặc Vatican, giặc Pháp và giặc Nhật. Căn cứ vào các định nghĩa của các cụm từ ”Việt gian”, ”người phản bội đất nước” và ”tội phản nghịch chống lại đất nước”, th́ việc làm của các ông Ngô Đ́nh Khả, Ngô Đ́nh Khôi, Ngô Đ́nh Diệm và Ngô Đ́nh Huân là những hành động của những người phản nghịch chống lại đất nước Việt Nam. Nói cho rơ hơn, họ là ”những tên Việt gian”. Sự kiện này chứng tỏ anh em ông Ngô Đ́nh Diệm thuộc về một gia đ́nh có ba đời nối tiếp nhau làm Việt gian bán nước cho Vatican, cho Pháp, cho Nhật và cho Mỹ. Cũng v́ thế mà người Việt Nam gọi Ngô Đ́nh Diệm là thằng phản thần tam đại Việt gian. Gọi như vậy là đúng với sự thật lịch sử.
Ấy thế mà những thành viên trong cái gọi là Phong Trào Phục Tinh Thần Ngô Đ́nh Diệm” và bọ văn nô Da-tô ở miền Nam Việt Nam trước năm 1975 cũng như ở hải ngoại từ năm 1975 cho đến ngày nay lại gọi Ngô Đ́nh Diệm là “chí sĩ yêu nước” và là “nhà ái quốc đă chết v́ nước”.
Nới như vậy là “nói ngược” Phải chăng đây là “thói quen nói ngược” trong xă hội Da-tô và nó đă thành bản chất mà Giáo Hội La Mă đă tạo nên và làm gương cho tín đồ Da-tô theo đó mà hành xử?
Ngoài chuyện “nói ngược” này, chúng ta c̣n thấy bọn cuồng nô vô tổ quốc “thà mất nước, chứ không thà mất Chúa” gọi cụ Hồ Chí Minh cũng như đảng viên Đảng Cộng Sản Việt Nam cùng các thành viên trong Mặt Trận Việt và nhà cầm quyền Việt Nam hiện nay là “Việt gian” bất kể là những người này đă hy sinh cả đời cho đại cuộc đánh đuổi Liên Minh Đế Quốc Thực Dân Xâm Lược Pháp – Vatican và Liên Minh Xâm Lược Mỹ – Vatican để giành lại chủ quyền độc lập cho dân tộc và thống nhất cho đất nước. Đây là bằng chứng thứ tư về thành tích “nói ngược” hay “cưỡng từ đoạt lư” của Giáo Hội La Mă và tín đồ của Giáo Hội.
THỨ NĂM là việc sử dụng từ kép “mất nước”: Ai cũng hiểu rằng từ kép “mất nước” là để nói về t́nh trạng một quốc gia bị một quốc gia khác xâm lăng và thống trị khiến cho dân tộc của quốc gia này mất hết chủ quyền và nhân dân trở thành nô lệ cho người ngoại bang..
Việt Nam Tự Điển của học giả Lê Văn Đức nói rơ “Mất nước là bị người cướp nước cai trị.” Đây là t́nh trạng nước ta trong thời Bắc thuộc (111 TTL – 931), trong những năm 1407-1427 dưới ách thống trị của người Trung Hoa trong thời nhà Minh và trong những năm 1885-1945 nằm dưới ách thống trị của Liên Minh Pháp – Vatican.
Trong những năm “mất nước”, bộ máy quản trị nhân dân hoàn toàn nằm trong tay của người ngoại bang với sự tiếp tay của bọn Việt gian. Trong những năm 1407-1427, bộ máy cai trị tại Việt Nam do giặc Minh nắm trọn quyền với sự tiếp tay của một số rất ít người Việt Nam. V́ rằng thời đó, dân ta chịu ảnh hưởng sâu nặng của nền văn hóa tam giáo cổ truyển, biết liêm sỉ, rất ít có người cam tâm muối mặt là tay sai cho giặc Minh. Cụ Nguyễn Trăi (1380-1442) khi c̣n kẹt ở Thăng Long đă từng bị giặc Minh mua chuộc và cưỡng bách phải ra làm việc cho giặc, nhưng rồi cụ cố gắng liên lạc với người em cùng cha khác mẹ là ông Nguyễn Nhữ Soạn ở Tống Sơn [Thanh Hóa] để nhờ ông này và ông Trần Nguyên Hăn [cháu nội của cụ Tư Đồ Trần Nguyên Đán (1320-1390)] t́m cách đưa ông cùng với bà vợ trẻ xinh đẹp tài hoa là bà Nguyễn Thị Lộ (1404-1442) vào Lam Sơn để gia nhập lực lượng nghĩa quân kháng chiến của ông Lê Lợi.
Trong thời nước ta bi Liên Minh Đế Quốc Thực Dân Xâm Lược Pháp – Vatican tấn chiếm và thống trị (1858-1945) cũng như trong thời Kháng Chiến 1945-1955 và ở miền Nam trong những năm 1954-1975, những người Việt muối mặt nhẩy ra cộng tác chặt chẽ với đế quốc xâm lăng Pháp và Mỹ là:
1.- Tín đồ Da-tô (mang quốc tịch Vatican và coi Vatican là nước tổ của họ).,
2.- Bọn lưu manh, du thủ du thực cặn bă của xă hội, và
3.- Nhóm thiểu số phong kiến phản động (vua quan triều đ́nh Huế).
Sách sử gọi bọn người này là những quân phản quốc hay Việt gian. Hầu hết bọn Việt gian này những phường vong bản, phản dân tộc, mất hết lương tâm, mất hết tính người. Cũng v́ vậy mà ngay cả quan thày của chúng là người Pháp cũng khinh rẻ chúng như là những quân lưu manh “du thủ du thực”. Sách Bước Mở Đầu Của Sự Thiết Lập Hệ Thống Thuộc Địa Pháp ở Việt Nam 1858-1897 viết:
“Chúng tôi chỉ có với ḿnh”, Đô Đốc Rieunier sau này nói, “những giáo dân và bọn du thủ du thực”. “Bọn lang bạt bị trục xuất khỏi làng v́ đói rét hoặc v́ tội phạm,” Đại Tá Bernard viết, xô về đây với cái lưng mềm dễ uốn, họ tham sống sợ chết; họ hoàn toàn hững hờ với cuộc đấu tranh của dân tộc ḿnh, sẵn sàng phụng sự bất cứ những ông chủ nào. Người ta sẽ tuyển dụng trong số họ tất cả nhân viên hành chính cần thiết cho nhà nước, hoặc những người giúp việc gia đ́nh: làm đầy tớ, làm khuân vác, làm người chạy giấy và cả những tên phiên dịch, hoặc những người ghi chép được đào tạo thô sơ qua các nhà trường của Hội Truyền Giáo. Chính là qua sự tiếp xúc với những kẻ khốn nạn này mà bọn thực dân và công chức, vừa mới đổ bộ lên, làm quen với dân tộc Việt Nam …”
Nhà sử học Cultru kết luận:
“Hoàn toàn hời hợt về cái gọi là giáo dục phương Tây mà họ đă được tiếp thụ, những thanh niên Việt Nam này đă trở thành những ông thông, ông phán, ông kư, kiểm soát, phiên dịch.. ấy lập thành tại xứ sở thuộc địa một tầng lớp những người tha hóa, chuyên lợi dụng địa vị chính thức của chúng để nhân danh chính phủ Pháp, lúc này không đủ biện pháp cai quản họ, để áp bức, đục khoét dân chúng, buộc ḷng phải nhờ đến sự trung gian cuả họ…”
Tại Nam kỳ, chính là từ trong những người Công Giáo Annam mà người ta tuyển chọn những kẻ giúp việc cho chính phủ Pháp, Phạm Quỳnh đă viết, “Họ có tài cán gỉ? … Phần lớn là những tay dạy giáo lư Cơ Đốc, v́ hạnh kiểm kém mà bị các giám mục đuổi về, và dưới một cái tên La Tinh (bởi v́ họ nói lơm bơm tiếng La Tinh), là đại diện sơ lược của thủ đoạn, của sự vô trách nhiệm, và sự thoái hóa của Châu Á” [xi]
Bọn Việt gian này được chia ra làm hai thành phần:
1.- Tín đồ Da-tô:. Thành phần này chiếm đa số, mang quốc tịch Vatican, bị chính sách ngu dân của Giáo Hội La Mă biến thành những hạng người mất hết lư trí, mất hết liêm sỉ, chỉ biết có nước Chúa tức là Giáo Hội La Mă hay nước Vatican của chúng, chứ không c̣n biết ǵ đến tổ quốc và dân tộc, chỉ biết có những người đồng đạo của chúng, chứ không c̣ biết ǵ đến người đồng bào Việt Nam chúng ta. V́ thế, họ chỉ biết cúi đầu triệt để tuân hành những lời dạy của Ṭa Thánh với thái độ vừa hết ḷng tôn kính, vừa vô cùng sợ hăi, tôn kính và sợ hăi “đến nỗi có những kinh mục nói rằng Toà Thánh đánh rắm cũng khen thơm”.Nhiều tác giả, Tại Sao Không Theo Đạo Chúa - Tuyển Tập 2 (Sprong, TX: Ban Ngiên Cứu Đạo Giáo, 1998), tr. 116 Những khẩu hiệu “Thà mất nước, chứ không thà mất Chúa”, “Nhất Chúa, nh́ Cha, thứ ba Ngô Tổng Thống” (được lưu hành trong cộng đồng Da-tô ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975) cùng với những hành động chống phá tổ quốc và chính quyền Việt Nam từ năm 1975 cho đến nay trong đó có những hành động của Linh-mục Nguyễn Văn Lư và những hành động ủng hộ việc làm phản quốc của ông linh mục này là những bằng chứng hùng hồn nói lên sự thật này.
2.- Nhóm thiểu số phong kiến phản động (gồm nhóm vua quan triều đ́nh Huế, bọn hào lư và đại địa chủ tại các địa phương và bọn du thủ du thực.) Bọn người này được thực dân xâm lược người Pháp dạy dỗ rằng, “tổ tiên của họ là người Gaulois” và có một số khá nhiều người mang quốc tịch Pháp.
Cả nhóm người Việt gian mang quốc tịch Vatican và nhóm người Việt gian mang quốc Pháp đều được chính quyền bảo hộ của Liên Minh Đế Quốc Thực Dân Pháp - Vatican tin dùng làm tay sai tai mắt cho chúng và được cho đặc hưởng một số những lợi lộc để tưởng thưởng công lao khuyển mă trung thành với mẫu quốc Pháp và Vatican. Chúng được chính quyền bảo hộ cho nắm giữ một số những chức vụ trong bộ máy đàn áp nhân dân ta và ḍ xét trong triều đ́nh bù nh́n Huế xem có người nào trong đó có ư đồ chống lại Vatican hay chống lại nước Pháp. Lịch sử cho thấy rằng phần lớn những người được Liên Minh Pháp – Vatcan trao cho nhiệm vụ này đều là tín đồ Da-tô người Việt, điển h́nh là những tín đồ Da-tô Ngô Đ́nh Khả và Nguyễn Hữu Bài. Cả hai người này đều được Giáo Hội đem đi Pénang huấn luyện một thời gian mấy năm rồi đưa về Việt Nam làm tay sai cho cả Vatican và Pháp. Nói chung, hầu hết tín đồ Da-tô đi theo giặc đều tỏ ra hết ḷng khuyển mă trung thành với giặc, được giặc tin dùng và tưởng thưởng. Trong số những người “măi quốc cầu vinh” này có người được giặc phong cho tước Phó Vương như Linh-mục Trần Lục, có người được cho làm Tham Tri Thị Lang Bộ Lại rồi leo đến Thượng Thư Bộ Công như Nguyễn Hữu Bồi (Bài), có người được cho làm đến chức Tổng Quản Cấm Thành như Ngô Đ́nh Khả, có người làm đến Lại Bộ Thượng Thư như Jean Baptiste Ngô Đ́nh Diệm, và có người được giặc thưởng cho huân chương Đệ Ngũ Hạng Bắc Đẩu Bội Tinh như Giám-mục Nguyễn Bá Ṭng. Nhiều người khác được giặc cho làm đến chức Tổng Đốc như Ngô Đ́nh Khôi, Trần Bá Lộc, Đỗ Hữu Phương, Lê Hoan, v. v… Họ quả thật là những hạng người “bán quê hương lại quên t́nh nước non.”
Không biết mỗi một tên Việt gian trên đây đă tàn sát bao nhiêu dân lành và bao nhiêu nghĩa quân kháng chiến của nhân dân ta để làm món quà tấng công cho giặc th́ mới được giặc cho thăng quan tiến chức, được tưởng thưởng những thứ như mề đay, kim khánh và Bắc Đẩu Bội Tinh như vậy?
Nhờ hết ḷng cúc cung phục vụ cho mẫu quốc mà được thăng lên những chức vụ như trên, bọn người này cũng học đ̣i theo lối “trưởng giả học làm sang”, bắt chước quan thày sống theo kiểu cách ra vẻ quan cách sang trọng: Ở trong nhà th́ quân hầu đầy tớ, quan Thượng, anh Thượng như chúng ta thường thấy cái lối xưng hô của anh em Ngô Đ́nh Nhu, Ngô Đ́nh Cẩn thường xưng tụng mỗi khi nói đến tên phản thần đại Việt gian Jean Baptiste Ngô Đ́nh Diệm.
Bước ra khỏi nhà th́ tiền hô hậu hét, vơng lọng nghênh ngang, ngồi trên cáng trên kiệu, bắt dân è cổ ra khiêng. Đối với người dân thấp cổ bé miệng th́ chúng thường làm oai làm phách và hà hiếp dân lành, bắt dân hầu hạ phục dịch cho bàn thân chúng và gia đ́nh chúng. Nhưng khi vào tới dinh phủ của các quan thầy người Pháp th́ chúng này lại tỏ ra vô cùng sợ sệt, vô cùng khúm núm, bẩm bẩm, thưa thưa, phủ phục cúi rạp người xuống, mắt lấm la lấm lét, không dám nh́n thẳng vào mặt quan thày. Đây là cảnh tượng quen thuộc thể hiện rơ rệt nhất qua con người Jean Baptiste Ngô Đ́nh Diệm mà chúng ta có thể nh́n thấy trong các phim tài liệu khi ông ta tiếp xúc với các quan thày người Hoa Kỳ trong thời gian từ khi ông ta sang Hoa Kỳ vào mùa thu năm 1950 cho đến ngày 1-11-1963. Có lẽ ở trên thế gian này không có hạng người nào hèn hạ như bọn i Việt gian mang quốc tịch Vatican và quốc tịch Pháp này, hèn hạ đến nỗi chính bọn quan thày người Pháp cũng phải khinh bỉ và lợm giọng như đă tŕnh bày ở phần trên. Hai nhóm người Việt gian nàyy có quyền lợi và những nỗi niềm mừng vui hay lo âu hoàn toàn trái ngược với quyền lợi và nỗi niềm mừng vui hay âu lo của đại khối dân tộc Việt Nam.
Cũng v́ chúng có những nỗi mừng vui và lo âu với những nỗi mừng vui và lo âu của đại khối nhân dân ta, cho nên từ giữa thế kỷ 19 cho đến ngày nay, chúng luôn luôn có những hành động đi ngược lại với quyền lợi tối thương của dân tộc và tổ quốc Việt Nam ta:
I.- Thời kỳ 1858-1954, trong khi toàn thể nhân dân ta lao đầu vào cuộc chiến đánh đuổi liên minh giặc Pháp – Vatican để giành lại chủ quyền độc lập cho dân tộc, th́ chúng lại hồ hời hè nhau t́nh nguyện đi lính, làm thông ngôn, đưa đường dẫn cho Liên Quân Xâm Lăng Pháp – Vatican trong những chiến dịch tấn chiếm đất nước và tổng càn tiêu diệt các lực lượng nghĩa quân kháng chiến của nhân dân tac, tích cực lập công và tâng công với giặc để được thăng quan tiến chức và được tưởng thưởng mề đay kim khánh và bảo quốc huân chương như đă nói ở trên.
II.- Thời kỳ1954-1975, đất nước bị chia đôi thành hai miền Nam Bắc theo Thỏa Hiệp Genève 1954, trong khi đại khối nhân dân ta lao vào cuộc chiến thống nhất đất nước cho dân tộc, th́ chúng lại được Liên Minh Mỹ - Vatican cho nhẩy lên bàn độc với chủ trương cương quyết duy tŕ đất nước măi măi ở trong t́nh trạng chia đôi [đúng theo tinh thần lời dạy của Chúa Ki-tô Jesus được ghi lại trong Matthew (10: 34-37)] và hồ hởi tuyên bố rằng:
“Tôi có một chương tŕnh đă bàn kỹ với Đức Giám Mục sẽ lần hồi tiến tới chỗ mà Hội Truyền Giáo hoạt động một thế kỷ mói đạt tới, c̣n chúng ta chỉ cầm quyền mười năm thôi là cả miền Nam này sẽ theo Công giáo hết.” [xii]
Lời tuyên bố trên đây rất phù hợp với tinh thần Sắc Chỉ Romanus Pontifex của Giáo Hội La Mă được ban hành vào ngày 8 tháng 1 năm 1454 trong thời Giáo Hoàng Nicholas V (1447-1455),[xiii] . và đúng như sử gia Loraine Bettner ghi nhận:
“Rome in the minority is a lamb (Khi là thiểu số, Giáo Hội La Mă là con cừu).
Rome as an equal is a fox (khi ngang số, Giáo Hội La Mă La Mă là con cáo).
Rome in the majority is a tiger (khi chiếm đa số, Giáo Hội La Mă là con cọp.)”[xiv]
Rơ ràng từ tháng 7 năm 1954, tại miền Nam Việt Nam, quyền lực chính trị đă lọt vào trong tay Giáo Hội La Mă th́ tất nhiên Giáo Hội và tín đồ Da-tô kể từ lúc đó thực sự đă trở thành con cọp dữ với đầy đủ những nanh vuốt đang chuẩn bị tư thế nuốt trọn đại khối nhân dân miền Nam thuộc các tôn giáo khác.
Với dă tâm đẩy mạnh “kế hoạch biến miền Nam theo Công Giáo hết trong ṿng mười năm”, chúng lần lượt thi hành những kế sách có lớp lang từng bước một như sau thành một qĐể theo đuổi
1.- Việc đầu tiên là vào mùa thu năm 1954, chúng hồ hởi hè nhau dùng phương tiện của chính quyền áp đặt nhân dân miền Nam phải sử dụng từ kép “Công Giáo” thay thế cho các từ Ki-tô, Da-tô, Cơ Đốc và Thiên Chúa trong tất cả các văn thư hành chính, giáo dục, văn học, văn nghệ, truyền thông, v.v… [Vũ Đ́nh Hoạt, Việt Nam Tôn Giáo Chính Trị Quan - Tập II ( Falls Church, VA: Alpha, 1991), trang 1013-1014.]
2.- Kế đến là chúng hè nhau đ̣i thành lập đạo quân gồm toàn những tín đồ Da-tô, tức là chuẩn bị phương tiện cho việc tiến hành kế hoạch này của chúng bằng bạo lực. Đây cũng là chủ trương cố hữu của Giáo Hội La Mă mà sử gia Malachi Martin ghi nhận trong cuốn The Decline and Fall of the Roman Church với nguyên văn như sau:
“Một chế độ quân phiệt ra đời: Các nước có người cầm quyền là tín đồ của Giáo Hội La Mă phải được bảo vệ bằng những đạo quân Ki-tô giáo. Phải tiến hành những cuộc thánh chiến và chiến tranh là nhiệm vụ thần thánh. Tàn bạo đối với những kẻ thù của Chúa Jesus ở trong hay ở ngoài các vùng đất do Giáo Hội La Mă kiểm soát là sự trả thù của Thượng Đế. Vị tướng chỉ huy chiến dịch tiêu diệt dân tà giáo Albigences tuyên bố: . “Bất kể ǵ là nam nữ, già hay trẻ, chức vụ lớn hay nhỏ, trước lưỡi gươm, tất cả đều như nhau cả”. Nguyên văn: “A new militarism was born: This Christian heartland, Christendom, must be defended by Christian arms. Wars could be holy, would have to be waged, would be a holy duty. Cruelty to enemies of Jesus within and without the heartland could be God’s vengeance. “Neither sex nor age nor rank have we spared,” was the statement of the general who conducted the war against the medivieval heretics called Albigenses, “we have put all alike to the sword.”[xv]
(Về chuyện tín đồ Da-tô hồ hởi hè nhau thành lập một đạo quân đội gồm toàn những tín đồ Da-tô, xin xem lá thư của ông Da-tô Nguyễn Văn Chức đề ngày 25/2/1955 gửi Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm. Lá thư này đă được trong bộ sách này sách Việt Nam Đệ Nhất Cộng Ḥa Toàn Thư 1954-1963 (Tacoma, WA, TXB, 1998, tr 527-529) của tác giả Nguyễn Mạnh Quang, và sẽ được in lại ở trong Phần VI ở sau.
3.- Tiếp theo là chúng hồ hởi vinh danh những giáo sĩ và tín đồ Da-tô người Việt đă chống lại tổ quốc Việt từ thế kỷ 17. Hành động bất chính này được thực hiện bằng cách dùng danh tính những tên Da-tô tội đồ này đặt tên cho các trường học, đường phố ở Sàig̣n và ở nhiều thành phố lớn khác ở miền Nam Việt Nam. Ai đă từng sống ở Sàig̣n trong những năm 1954-1975 đều thấy có một số trường học và đường phố Sàig̣n mang tên những tên tội đồ này.
Về trường học, tại Sàig̣n, chúng ta thấy có các trường học như Trường Pétrus Kư, Trường Nguyễn Tường Tộ, Trường Trần Lục, Trường Hồ Ngọc Cẩn, Trường Nguyễn Bá Ṭng, Trường Nguyễn Duy Khang (ở Thị Nghè), Trường Lê Bảo Tịnh, Trường Thánh Thomas (Nhà Thờ Ba Chuông), v.v… Về đường phố, chúng thấy có Đường Tổng Đốc Lộc (Da-tô Trần Bá Lộc), Đường Tổng Đốc Phương (Da-tô Đỗ Hữu Phương), Đường Alexandre de Rhode, Đường Pétrus Kư, Đại Lộ Ngô Đ́nh Khôi, Đường Nguyễn Bá Ṭng, Đường Huỳnh Tịnh Của, Đường Phát Diệm, Đường Bùi Chu, v.v… Đặc biệt ở Vĩnh Long, lại có Đại Lộ Ngô Đ́nh Thục.
4.- Chúng hè nhau phóng tay cướp đoạt tài nguyên quốc gia, kiểm soát chặt chẽ tất cả các phạm vi sinh hoạt trong đời sống nhân dân để ăn chặn tiền ngoại viện, nắm độc quyền các lănh vực hoạt động kính tế và bóc lột nhân bằng trăm phương ngàn kế. Vấn đề này sẽ được tring bày đày đủ trong Mục XXI (Phần VI)
5.- Sau đó, chúng lại hồ hởi tổ chức một buổi đại lễ vô cùng long trọng vào tháng 2/1959 và thỉnh mời vị khâm-sứ của Toà Thánh Vatican là Hồng Y Agagianian đến làm chủ lễ dâng nước Việt Nam cho nước Vatican với danh nghĩa là dâng cho Đức Mẹ Vô Nhiễm. (Trân Tam T́nh, Thập Giá và Lưỡi Gươm (Paris: Sudestasie, 1978), tr.126-127
Hậu quả ḷng hồ hởi trên đây của chúng là hơn 300 ngàn người dân miền Nam Việt Nam bị giết hại dưới nanh vuốt của con cọp Ki-tô La Mă trong những năn 1955-1963. Trong lịch sử thế giới, không phải chỉ có nhân dân miền Nam Việt Nam mới rơi vào thảm họa như vậy, mà trong thời Trung Cổ, nhân dân Âu Châu và các vùng ven Biển Địa Trung Hải cũng đă từng bị con cọp Da-tô này vồ mất không bao nhiêu triệu nạn nhân, rồi trong những năm 1941-1945, nhân dân Croatia cũng đă bị con dă thú này vồ mất hơn 700 ngàn người trên tổng số dân khoảng 3 triệu người, và gần đây nhất là vào giữa năm 1994, nhân dân Rwanda cũng bị con ác thú này vồ mất hơn 800 ngàn người trên tổng số dân khoảng 8,196,000. Xin xem lại Mục III [chương sách có tựa đề là “Hủy Diệt Nền Văn Minh Nhân Loại và Những Thành Tích Tàn Sát Lương Dân (của Giáo Hội La Mă”)] để biết tường tận về những con số nạn nhân này.
Chính v́ lẽ này mà từ năm 1691, nước Anh đă phải ban hành một đạo luật cấm, không cho tín đô Ki-tô La Mă lên cầm quyền. Kể từ, đó không có một tín đồ Ki-tô La Mă được dân Anh đưa lên cầm quyền nữa (đă nói rơ ở trên). Theo gương nước Anh, trong phiên họp ngày 4 tháng 8 năm 1789, Quốc Hội Pháp của chính quyền Cách Mạng Pháp 1789 ban hành nhiều biện pháp để bẻ nanh bẻ vuốt con cọp Ki-tô La Mă này bằng những biện pháp:
1.- Tịch biên toàn bộ tài sản của Giáo Hội La Mă tại nước Pháp.
2.- Tước bỏ tất cả mọi đặc quyền đặc lợi dành cho Giáo Hội La Mă và giai cấp tu sĩ Da-tô, trong đó có thuế thập phân (tithe).
3.- Tách rời giáo quyền (tôn giáo) ra khỏi thế quyền (chính quyền).
4.- Ban hành một hiến chế dân sự cho giới tu sĩ, trong đó tu sĩ được coi như là b́nh đẳng với tất cả người dân khác và phải có nghĩa vụ đối với đất nước, phải trung thành với hiến pháp và nước Pháp, chứ không phải trung thành với Ṭa Thành Vatican hay Giáo Hội La Mă. Việc này đưa đến việc thiết lập một giáo Hội Pháp tách rời khỏi Giáo Hội La Mă giống như Giáo Hội Anh được thành lập và giữa thập niên 1530. (Những giáo hội như vậy đều bị bọn tín đồ Da-tô cuồng tín người Việt gọi là “Giáo Hội Quốc Doanh”.)
5.- Tước bỏ hết tất cả mọi đặc quyền đặc lợi dành cho giới qúy tộc,
6.- X̣a bỏ tất cả mọi tục lệ và nghi thức phong kiến.
7.- Xóa bỏ tất cả mọi bất công trong xă hội để thực thi lư tưởng b́nh đẳng (trong xă hội) tự do (cho nhân dân) và bác ái (đối với tất cả mọi người, chứ không phải chỉ đối với “dân Chúa” mà thôi).
8.- Sau đó vào ngày 26/8/1789, Quốc Hội Pháp lại công bố Bản Tuyên Ngôn Dân Quyền long trọng xác nhận:
a.- Quyền lực của nhà nước v́ nhân dân mà có. (The authority of a government is derived from the people.)
b.- Mọi người dân phải b́nh đẳng trước pháp luật. (All citizens should be equal before the law.)
c.- Tất cả mọi người dân đều có quyền ảnh hưởng vào việc làm luật. (All should have the right to influence the making of the law.)
d.- Mục đích của chính quyền là để bảo vệ những quyền tự nhiên của con người. Đó là quyền tự do, quyền có tài sản, quyền sống trong an ninh và quyền chống lại áp bức. (The purpose of government should be the preservation of the natural rights of men to “liberty, property, security, and resistance to oppression.”
e.- Quyền tự do tư tưởng và tư do hành xử tín ngưỡng của mọi người phải được bảo đảm. (Freedom of thought and religion should be guaranteed to all.)[xvi]
Ngoài ra, chính quyền Cách Mạng Pháp c̣n trừng trị nghiêm khắc những phần tử ngoan cố không chịu tuân hành những biện pháp trên đây. Sự kiện này đều được sách sử ghi lại rơ ràng. Sách The Decline And Fall Of The Roman Church viết:
"Trước hết, nước Pháp mà Giáo Hoàng Pius VI (1775-1799) thường gọi là "người trưởng nữ của Giáo Hội" đă xóa bỏ toàn bộ tôn giáo, đưa nhà vua lên đọan đầu đài, chính thức tôn vinh thần Lư Trí lên ngôi chí tôn, tàn sát 17 ngàn linh mục, 30 ngàn nữ tu và 47 giám mục, tất cả các tu viện, các ḍng tu và các trường học của Giáo Hội đều bị giải thể, tất cả các thư viện của Giáo Hôi đều bị thiêu rụi, chính quyền Paris c̣n ban hành quyết định ra lệnh cho Tướng Bonaparte (Sau này là Ḥang Đế Napoléon i) "đem quân đi "giải phóng nước Ư", "có toàn quyền hành động" "hủy diệt Rome và chế độ Giáo Ḥang". Tháng 5 năm 1796, trước khi tiến vào kinh thành Rome, Tướng Bonaparte tuyên bố, "Chúng tôi là những người bạn của con cháu Brutus (một anh hùng của dân tộc La Mă) và dân Scipios. Ư muốn của chúng tôi là phục hồi điện Capitol và giải phóng nhân dân La Mă thóat khỏi thân phận nô lệ tôi đ̣i."
Quân Pháp tiến vào chiếm kinh thành Rome và nước Ư. Ḥa Ước Tolentino được kư kết giữa Tướng Bonaparte và Giáo Triều Vatican. Đây là một sự sỉ nhục cho Ṭa Thánh Vatican. Giáo Hội phải nộp cho nước Pháp một khoản tiền là 46 ngàn đồng scudi (tiền Vatican) trả làm ba hạn kỳ (Giáo Ḥang Pius VI phải đem các đồ trang trí bằng vàng và bằng bạc ra đúc tiền để trả cho Pháp), 100 món đồ nghệ thuật và 500 tác phẩm hiếm bị tịch thu mang về Pháp; tất cả các hải cảng nằm trong lănh thổ của Ṭa Thánh Vatican phải mở cửa cho hạm đội Pháp làm căn cứ trú quân, phải từ bỏ tất cả tài sản của Giáo Hội ở trong lănh thổ các nước Ư, Pháp, Naples, và Sicily ... tất cả mọi nơi. Giáo Ḥang Pius VI than thở, "Ḥa Ước! Tệ quá đi! Quân đội Pháp chiếm đóng Vatican và Quirinal, truất phế Giáo Hoàng Pius VI và thiết lập nước Cộng Ḥa La Mă...."
Nguyên Văn: "First, France, "eldest daughter of the church "he used to call it, abolished all religion, beheaded its king, enthroned Reason officially as supreme deity, massacred over 17,000 priests and over 30,000 nuns as well as forty-seven bishops, abolished all seminaries, schools, religious orders, burned all churches and libraries, then sent the Corsian Bonaparte to liberate italy and Rome." "Just as you please," wrote the Paris government to the Corsian. "Destroy Rome and the papacy utterly " "We are the friends of the descandants of Brutus and the Scipios... Our intention is to restore the Capitol to free the Roman people from their long slavery," The Corsian declared in May 1796, just before taking Rome.
Then the capture, and the humiliation of the Peace of Tolentino between the papacy and the Corsian: a ransom of 46,000 scudi in three installement (Pius melted down all available silver and gold ornaments); 100 objects d'art and 500 rare manuscripts from Vatican; the opening of all papal harbors to the French fleet; renunciation of all property in italy and France and Naples and Sicily - everywhere. "They made us their prisoner Spina," mutters Pius. "Peace treaty! Bah!" The Vatican and Quirinal were occupied by French troops. They deposed Pius, and created the republic of Rome....")[xvii]
Những biện pháp Ổn Định Cách Mạng (The Revolution Settlement) được ban hành vào những năm 1689 và 1691 của nước Anh cùng với những việc là trên đây của chính quyền Cách Mạng Pháp1789 trên đây là những nguồn cảm hứng và trở thành những ngọn đuốc tự do soi đường cho nhân dân thế giới vùng lên thành những phong trào chống lại Giáo Hội La Mă. Phong trào này lan tràn ra khắp nơi trên thế giới. Hầu như bất kỳ quốc gia nào có móng vuốt con cọp Ki-tô La Mă vươn tới, th́ nhân dân quốc gia đó cương quyết theo gương nước Anh và nước Pháp vùng lên t́m đủ mọi cách bẻ nanh bẻ vuốt của nó. Vấn đề này sẽ được tŕnh bày đầy đủ trong Phần VII ở sau.
III.- Từ ngày 30/4/1975, quân đội miền Bắc đại thắng, Hoa Kỳ cuốn gói ra đi, chính quyền và quân đội miền Nam ră ngũ tan hàng. Với chiến thắng này, toàn dân ta từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mâu đều hân hoan vui mừng v́ Bắc Nam đă được thống nhất, giang sơn quy về một mối, cả nước chung một mầu cờ, nhân dân ta thoát khỏi vấn nạn Giáo Hội La Mă vợi các nạn “bọn quạ đen” và vấn nạn các chú Ba Tầu (lũng đoạn nền kinh tế ở miền Nam). Tuy nhiên, t́nh trạng này lại làm cho Vatican mất hết quyền lực ở Việt Nam khiến cho bọn vong bàn “thà mất nước, chứ không thà mất Chúa” và bọn phong kiến phản động vốn đă từng làm tay sai cho Liên Minh Mỹ - Vatican cũng mất đi cái quyền tiếp tục ngồi trên bàn độc tác oai tác quái với nhân dân, trờ thành bất măn và mang mối hận thù với Đảng Cộng Sản và chính quyền Việt Nam hiện nay.
Trong khi đó th́, với ḷng tham không đáy, Giáo Hội La Mă vẫn c̣n cố đám ăn xôi, t́m đủ mọi cách để phục hồi quyền lực ở Việt Nam. Cho nênGiáo Hội không bỏ lỡ cơ hội khai thác cái tâm lư bất măn và hận thù của bọn người vong bản đang sông ở hải ngoại để thi hành độc kế “quậy cho nước để thả câu” như Giáo Hội đă làm trong hồi thế kỷ 19. Cũng v́ thế mà Ṭa Thánh Vatican mới thi hành kế sách mềm nắn rắn buông bằng ba bộ mặt hoàn toàn khác biệt:
A.- Tại Việt Nam, Giáo Hội có hai bộ mặt:
1.- Đối với hơn 80 triệu đồng bào ta ở trong nước, Giáo Hội làm ra vẻ giống như con cừu hiền lành không gây hại cho ai cả. Lư do rất dễ hiểu. Giáo Hội đâu c̣n có thể cáu kết vơi một đế quốc thực dân xâm lược nào nữa để:
a.- Sử dụng miếng mồi danh và lợi trong chính quyền để câu nhử những phường tham lợi “đi đạo lấy gại đẻ ăn” và những phương tham danh thèm khát quyền lực “theo đạo để tạo danh đời” như trương hợp của các ông Nguyễn Văn Thiệu, Đặng Văn Quang, Lâm Văn Phát, Huỳnh Hữu Nghĩa, Lâm Lễ Trinh, v.v.. ở miền Nam Việt Nam trong thời 1954-1975.
b.-Sử dụng bạo lực của nhà nước để cưỡng bách và chèn ép người dân vào đường cùng để rồi phải theo đạo cho xong nợ như Linh-mục Trần Tam Tỉnh đă ghi nhận:
“… Nhờ các việc từ thiện Công Giáo, các trường học, cô nhi viện, nhà thương, điểm phát quần áo, bánh ḿ và lương thực. Có người cho rằng việc theo đạo hàng loạt chỉ là lặp lại theo ngạn ngôn đă có từ thời Pháp thuộc “đi đạo lấy gạo mà ăn” thôi.. Quả thế, viện trợ Công Giáo từ ngoài vào đều do các linh mục tự tiện thao túng và thường chỉ dành phân phát cho người Công Giáo. Dân chúng miền Trung này là vùng nghèo nhất miền Nam, chẳng qua đă t́m nơi theo đạo công giáo như là một phương tiện kiếm ăn. Có những người cũng cho rằng họ vào đạo để khỏi bị sách nhiễu về chính trị. Quần chúng ở đây, v́ đă từng sống lâu năm dưới chế độ Việt Minh, nên bị t́nh nghi có liên hệ với “kẻ địch”, bây giờ vào đạo là gặp được con đường để tỏ ḷng trung thànmh với chế độ, hoặc ít ra cũng tránh được những quấy nhiễu của cảnh sát…” [xviii]
V́ thế Giáo Hội đành phải đóng vài tṛ hiền lành như con cừu với ư đồ làm cho nhân dân Việt Nam ta tưởng lầm rằng Giáo Hội là một tở chức thuần tuư là tôn giáo, cũng có chủ trương dạy người đời làm điều lành tránh điều ác. Với những người không thấu hiểu lịch sử Giáo Hội, tất nhiên là họ sẽ tin như vậy.
2.- Đối với chính quyền Việt Nam, Giáo Hội đă và đang hành xử như một con cáo già với đủ mọi mánh mung “vào cửa trước, thậm thụt cửa sau” (như họ đă vận động triều đ́nh Napoléon III liên kết với Giáo Hội xuất quân đánh chiếm và thống trị Việt Nam Dương trong hồi giữa thế kỷ 19) vừa găi đầu găi tai xin được chính thức b́nh thường quan hệ ngoai giao, vừa lợi dụng chính sách ḥa giải và đoàn kết dân tộc của Nhà Nước hiện nay để thuyết phục các nhà cầm quyền phải nên chính trị hóa môn lịch sử, nghĩa là phải tránh né không nên sử dụng những ngôn ngữ b́nh thường để nói lên thực chất của những dữ kiện hay sự việc có liên hệ đến những việc làm chống lại dân tộc và tổ quốc Việt Nam của Giáo Hội và bọn tín đồ Da-tô tay sai đắc lực của Vatican từ cuối thế kỷ 18 cho đến ngày nay. Lư do được nêu lên là nêu làm như vậy sẽ là làm tổn thương danh dự của Giáo Hội La Mă, và như vậy là không phù hợp với chính sách đoàn kết dân tộc của Nhà Nước hiện nay. Nếu những mánh mung này được chính quyền Việt Nam thỏa thuận hay đồng ư, th́ các em học sinh sinh viên và người dân b́nh thường không thể dễ dàng nh́n ra những việc làm tội ác của Giáo Hội chống lại nhân loại trong gần hai ngàn năm qua và những việc làm chống lại tổ quốc và dân tộc Việt Nam từ mấy thế kỷ nay. Đây là chính sách bưng bít che giấu những rặng núi tội ác của Giáo Hội mà Giáo Hội đă từng thi hành tại các quốc gia bị nằm dưới ách thống trị của các chế độ đạo phiệt Da-tô tay sai của Giáo Hội. Miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975 cũng bị Giáo Hội thi hành chính sách bưng bít này bằng cách:
a.- Cho bọn tín đồ tay sai của Giáo Hội biên soạn những bài học lịch sử Việt Nam trong thời cận và hiện đại với mục đích cắt xén hay diễn dịch sai lạc những sự kiện có liên hệ đến những việc làm của Giáo Hội hay tín đồ Da-tô chống lại tổ quốc và dân tộc Việt Nam;
b.- Không cho dạy toàn bộ môn lịch sử thế giới. Bằng chứng là bộ Lịch Sử Thế Giới do hai ông Nguyễn Hiến Lê và Thiên Giang biên soạn và phát hành vào năm 1956 bị cấm không cho lưu hành, tác giả Nguyễn Hiến Lê bị sỉ vả là “đầu óc đầy rác ruởi” và bị mật vụ theo dơi. Xin xem sách Đời Viết Văn Của Tôi của tác giả Nguyễn Hiến Lê (Wesminster, CA: Văn Nghệ, 1986, tr. 99-101).
Nhân đây, người viến xin đề nghị với chính quyền Việt Nam nên dễ dăi và tích cực giúp đỡ các nhà viết sử trong việc in và phát hành những ấn phẩm lịch sử nói về những việc làm của Giáo Hội La Mă trong gần hai ngàn năm qua, miễn rằng họ không được viết sai sự thật, không được bóp méo lịch sử, nói phải có sách, mách phải có chứng, không được gọi ông Jesus là “thằng” như ông Linh Mục Alexandre de Rhodes đă gọi Đức Phật Thích Ca là ‘thằng” ở trong cuốn Phép Giảng Tám Ngày trong chương Bốn (Ngày Thứ Bốn) có tựa đề là Những Đạo Vạy (Sàig̣n: Tinh Việt Văn Đoàn, 1961), miễn rằng phải nói đúng những sự thật lịch sử, tŕnh bày càng được nhiều sự kiện lịch sử đă bị chính quyền Liên Minh –Pháp (1885-1954) và các chính quyền miền Nam (19540-1975) bưng bít hay bóp, càng tốt.
Cũng nên biết là trong cuốn Phép Giảng Tám Ngày này, giáo sĩ Alexandre de Rhodes gọi tất cả các tôn giáo cổ truyền của dân tộc Việt Nam là “Những đạo vạy” (tà giáo) và ông ta gọi Đức Phật Thích bằng ”thằng”:
“Như thể có chém cây nào đục cho ngă, các ngành cây ấy tự nhiên cũng ngă với. Vậy th́ ta làm cho Thich Ca, là thằng hay dối người ta, ngă xuống, th́ mọi truyện dối trong đạo bụt bởi Thích Ca mà ra, có ngă với th́ đă tỏ.” [xix]
Ông giáo sĩ này ta c̣n nói rằng Đức Khổng Tử là người ”chẳng phải hiền, chẳng phải thánh, thật là độc dữ”, và ”thờ ông Khổng Tử là có lỗi.”[xx]
3.- Đối vơi hơn hai triệu người Việt ở hải ngoại, đặc biệt lả ở Bắc Mỹ và ở Úc, Giáo Hội La Mă và tín đồ Da-tô người Việt quả thật là hiện thân là con cọp vô cùng hung dữ. Nhờ có số đồng tín đồ ở hải ngoại và đă có kế hoạch từ trước, Giáo Hội La Mă và tín đồ Da-tô khống chế các phương tiện truyền thông bằng tiếng Việt và không chế các hội đoàn người Việt tại các địa phương để làm công cụ khủng bố những người Việt bất đồng chính kiến với họ.
Nhờ ở vào thế thượng phong như trên, nhóm tín đồ Da-tô tay sai của Giáo Hội tha hồ tung tác viết và phát hành sách báo với chủ tâm xuyên tạc lịch sử, dùng những ngôn ngữ vô cùng hạ cấp để vu khống và sỉ và các nhà ái quốc Việt Nam đă lao ḿnh vào cuộc chiến đánh đuổi liên minh Xâm Lăng Pháp – Vatican trong suốt chiều dài lịch sử từ năm 1858 cho đến tháng 7 năm 1954 và cuộc chiến 1954-1975 đánh đuổi Liên Minh Mỹ - Vatican để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Cũng v́ thế mà tại hải ngoại, chúng ta thấy nhan nhản những ấn phẩm của các tác giả Da-tô người Việt, trong đó có đầy dẫy những ngôn từ thiếu giáo dục và vô cùng hạ cấp để sỉ vả cụ Hồ Chí Minh và các nhà lănh đạo chính quyền hiên này cũng như tất cả các cán bộ các cấp trong đảng viên Cộng Sản Việt Nam cũng như trong Mặt Trận Việt Minh.
Đồng thời, họ cũng luôn luôn oán trách Hoa Kỳ đă phản bội họ bỏ rơi họ khiến cho chính quyền và quân đội miền Nam rơi vào t́nh trạng ră ngũ tan hàng, khiến cho “nước tổ Vatican” của họ mất hêt quyền lực ở Việt Nam và họ phải than van là “mất nước”
Như đă tŕnh bày ở trên, Giáo Hội La Mă thường hay nói ngược. Tín đồ Da-tô thường coi Giáo Hội như là cha là mẹ. Cha nào con ấy. V́ thế những đứa con người Việt của Giáo Hội cũng thường hay nói ngược. Đất nước vừa đại thắng trong công cuộc đánh đuổi quân thù xâm lược ra khỏi lănh thổ, cho nên toàn dân ta vô cùng vui mừng v́ dân ta đă được tự chủ hoàn toàn, th́ tín đồ Da-tô người Việt lại than van là mất nước. Chúng ta có thể t́m thấy lời than van này trong bài Tạp Ghi có tựa đề là Chánh Trị và Thua Cuộc ông Da-tô kư tên là Nguyễn Bách ở Montreal (Canada) đề ngày 06/07/2007 trong đó có một đoạn với nguyên văn như sau:
“Chúng ta đă đánh mất một nửa quê hương năm 1954, chúng ta đă mất cả quê hương năm 1975 v́ chúng ta không có quyền lấy quyết định điều khiển cuộc kháng Cộng, v́ chúng ta bị địch cấy độc tố không làm chánh trị. Nay chúng ta đang đứng trước viễn tượng có thể sẽ thua cuộc một lần nữa, nhưng thua cuộc lần này là do lỗi của chính chúng ta.”[xxi]
Đúng là những quân ăn ngang nói ngược.
V́ bản chất ăn ngang nói ngược như trên, ở hải ngoại, từ cuối năm 1975 cho đến ngày nay, các cơ quan truyền thông tiếng Việt và các hội đoàn tại các địa phương bị bọn người Việt “thà mất nước, chứ không thà mất Chúa” khống chế, đă cho lưu hành những bài viết bêu riếu và chửi bới những người trong Đảng Cộng Sản cũng như trong Mặt Trận Việt Minh đă hy sinh trọn đời chiến đấu cho quyền độc lập của dân tộc và thống nhất đất nước, và chửi bới luôn cả các nhà lănh đạo và các viến chức chỉ huy các cấp trong chính quyền Việt Nam hiên nay.
Ngoài những hành động chửi bới trên đây, lại c̣n có những việc làm chống chính quyền và tổ quốc Việt Nam như:
1.- Việc cho ra đời tổ chức Phục Hưng Tinh Thần Ngô Đ́nh Diệm,
2.- Việc thành lập tổ chứci chống Cộng có danh xưng làn Khối 8406 của Linh-mục Phan Văn Lợi (ở Huế),
3.- Việc tổ chức biểu t́nh chống chính quyền Việt Nam thưa kiện mấy công ty sản xuất chất độc da cam tại một Toà Án Liên Bang Hoa Kỳ vào năm 2005. Cũng nên biết là vào ngàu 30/11/1961, chính quyền Ngô Đ́nh Diệm đồng thuận với quân đội Hoa Kỳ cho rải “rải 77 triệu lít chất độc da cam xuống miền Nam và Trung Việt Nam, gây ảnh hưởng và tác hại đến môi truờng của 2,630,000 mẫu Tây và gần 5 triệu người sống trong 35,585 thôn ấp.”.[xxii]
4.- Việc tổ chức biểu t́nh chống Thủ Tướng Phan Văn Khải viếng thăm Hoa Kỳ vào tháng 6/2006,
5.- Việc tổ chức biểu t́nh chống ông Chủ Tịch Nguyễn Minh Triết sang thăm Hoa Kỳ vào tháng 6/2007, v.v..
Tất cả những việc làm trên đây của nhóm tín đồ Da-tô và nhóm thiểu số phong kiến phản động ở tại hải ngoại cho chúng ta thấy rơ quyền lợi và nỗi niềm mừng vui hay âu lo của họ hoàn toàn trái ngược với quyền lợi và nỗi niềm mừng vui hay âu lo của đại khối dân tộc Việt Nam ta.
13.-
BẢNG DANH SÁCH MỘI SỐ NHỮNG TỪ NGỮ NÓI NGƯỢC
VÀ BỊP BỢM TRONG ĐẠO DA TÔ
Trên đây, chúng tôi chỉ kể ra mấy trường hợp nói ngược rất tiêu biểu của Giáo Hội La Mă và tín đồ Da-tô người Việt.. Thực ra c̣n nhiều lắm. Nếu muốn nói cho hết, có lẽ phải dùng đến hàng trăm trang giấy cũng chưa chắc đă nói hết.
Như đă tŕnh bày ở trên, Giáo Hội La Mă và tín đồ Da-tô người Việt có những quyền lợi và nỗi niềm mừng vui hay âu lo hoàn toàn trái ngược với những quyền lợi và nỗi niềm mừng vui hay âu lo của đại khối dân tộc Việt Nam, cho nên trong xă hội Da-tô người Việt mới có những thuật ngữ trái ngược với ngôn ngữ thông thường mà dân tộc Việt Nam chúng ta thường sử dụng. Dưới đây là một số những trường hợp điển h́nh trong đó có một số đă được tŕnh bày ở trên:
| Một số dữ kiện về nói ngược và nói láo trong đạo Da-tô | Sự thật là |
| 1.- Chúa Cha Toàn Năng, Toàn Thiện | Một ông thần bất lực trước ác qủy Satan, có những đặc tính cực kỳ tham tàn và ác độc như đă được ghi trong các sách Deteronomy (19:21), Exodus (21: 23-25), Dân Số (25:3-5,31:1-54), Leviticus 24:19-20, 26: 1-43), Phục Luật (6:14, 7:1, 2 và 16, 12: 2-3, 13:6-9. 18: 4 và 20, 20:14-16, 22: 13-21 và 23), Xuất Hành (13:12, 20 11, 22: 20), |
| 2.- Ông Jesus là Chúa Cứu Thế | Không biết ông ta cưu thế như thế nào, nhưng theo Tân Ước, ông lại xúi gịuc con trai chống lại bố, con gái chống lại mẹ, con dâu chống lại mẹ chồng, người trong cùng một gia đ́nh chống nhau như sách Matthew (10: 34-37) như đă tŕnh bày ở trên. |
| 3.- Chúa Ba Ngôi | Tín đồ Ki-tô được nhồi sọ phải tin rằng Chúa Cha Jehovah thể hiện ra ba ngôi: Chúa Cha Jehovah, Chúa Thánh Thần và Chúa Con Jesus. Sản phẩm này được chính thức bịa đặt ra tại Hội Nghi Nicaea (Thổ Nhĩ Kỳ) khởi nhóm vào ngày 20/5/325. D́ nhiên là chỉ những người không biết sử dụng lư trí mới tin được cái tín lư cực kỳ hoang đường này. |
| 4.- Thánh kinh Cựu Ước | Tập hợp một số những cuốn sách gồm toàn những chuyện hoang đường, loạn luân, bạo lực, trả thù, ỷ mạnh hiếp yếu, hà hiếp bóc lột những người thất thế và lép vế thế cô, trong đó có nhiều chuyện nói về ông Chúa Cha Jehovah bạo ngược như đă nói ở trên. |
| 5.- Thánh Kinh Tân Ước | Gồm bốn cuốn sách của bốn ông Matthew, Mark, Luke và John nói về mấy năm chót của cuộc đời đi giảng đạo Do Thái của Chúa Jesus trong đó có bài giảng Matthew (10: 34-37) như đă nói ở trên và rất nhiều chuyện hoang đường như chuyện ông Jesus có tài biến 5 ổ bánh ḿ và hai con cá thành một số lượng bánh ḿ và cá có dư thừa cho khoảng 5 ngàn người ăn vẫn không hết (Matthew 14:18-21), chuyện Chúa tức giận vi cây vả khồng sinh trái cho ông ăn vào khi ông đi qua đó đúng vào lúc ông đang đói ḷng (Matthew 21:18-21) và rất nhiều chuyện láo khoét khác. |
| 5.- Đứng Mẹ Đồng Trinh | Người đàn bà Do Thái có tên là Maria. Theo ông Charlie Nguyễn, bà bị một binh sĩ lê dương trong quân đội của Đế Quốc La Măt ên là Panthera (người Sidon, thuộc nước Liban ngày nay) hiếp dân đén mang bầu và để ra ông Jesus.[xxiii] Sau đó, bà thành hôn với ông thợ mộc tên là Joseph và sinh ra một bầy c̣n gồm bốn người con trai và hai người con gái.[xxiv] .. Cho măi đến năm 431, Giáo Hội La Mă cho triệt tập Họi Nghị Ephesus (Thổ Nhĩ Kỳ) để bịa đặt ra chuyện Bà Maria Đồng Trinh m 431, Giáo Hội La Mă bịa và được Hội Nghị Chalcedon (Thổ Nhĩ Kỳ) nhóm họp vào năm 451 chính thức công nhận là một tín lư trong đạo Ki-tô. Sau đó, v́ phải biện minh cho tính cách không vướng mắc tội tổ tông của Chúa Jesus, Giáo Hội lại phải bịa đặt thêm tín lư Đức Mẹ Vô Nhiễm. Thấy rằng những chuyện bịa đặt trên đây được xuôi xả và v́ nhu cầu kinh tài (móc túi tín đồ một cách dẽ dàng) Giáo Hội lại bịa đặt thêm ra hai tín lư Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp và Đức Mẹ Đồng Công. |
| 6.- Thiên Đường: | Một sản phẩm tưởng tượng ở trên chín từng mây. Tín đồ Ki-tô được nhồi sọ phải tin rằng ở trên đó Chúa Cha Jehovah ngồi chính giữa và Chúa Con Jesus ở bên phải. Năm 426, Thánh Augustin sáng chế ra lư thuyêt Đô Thị Thiên Chúa (City of God) mập mờ nói là thiên đường mà cũng là vương quốc Ki-tô (các quốc gia nằm dưới ách thống trị của Giáo Hội La Mă.[xxv] ,Tháng 7 năm 1999, Giáo Hoàng John Paul II xác nhận rằng, “Thiên đường không phải là một nơi chốn trừu trượng hay hữu h́nh cụ thể chiếm một khoảng không gian trên chín từng mây mà thiên đường chỉ là mối liên hệ riêng tư và sống động giữa cá nhân của chính con người với Chúa Ba Ngôi.” Nguyên văn: Heaven is not abstraction nor a physical place amid the clouds, but a living personal relationship with the Holy Trinity.”[xxvi] |
| 7.- Địa ngục (Hell) | Một sản phẩm tưởng tượng cho rằng những người khi sống làm những việc tội ác sẽ bị đày xuống đó. Tín đồ Ki-tô tin rằng những người không tin ông Jesus là Chúa Cứu Thế hay không rửa tội theo đạo Da-tô th́ sẽ bị đày xuống địa ngục. Vào cuối tháng 7 năm 1999, Giáo Hoàng John Paul II xác nhận rằng, “Địa ngục không phải là một nơi có những h́nh phạt do thượng đế đặt ra, nhưng chỉ là do kết quả của những thái độ và hành động con người tạo ra trong đời sống của họ.” Nguyên văn: “Hell ia not a punishment imposed extremely by God, but the condition resulting from attitudes and actions which people adopt in this life.”[xxvii] |
| 8.- Ḷ Luyện Ngục (Pugatory) | Một sản phẩm tưởng được Giáo Hội La Mă bịa đặt vào năm 600 trong thời Giáo Hoàng Gregory I (590-604). Giáo Hội giải thích rằng đây là nơi tạm giam các linh hồn cúa những người đă bị Chúa của Giáo Hội quyết định cho đày xuống địa ngục, nhưng nếu con cháu của những người này siêng năng đem tiền đến nhà thờ dâng cúng và mua giấy xá tội (indulgences) của nhà thờ thi linh hồn của họ sẽ được tạm giam ở Ḷ Luyện Tội. Thời gian tạm giam ở đây dài hay ngắn tùy thuộc vào số tiền dâng cúng cho nhà thờ nhiều hay ít. Nhờ vậy mà Giáo Hội đă thu vơ được rất nhiều tiền.[xxviii] |
| 9.- Giáo hoàng không lầm lẫn | Tín lư bịp bợm này đă được các ông giáo hoàng ấp ủ từ hồi đầu thời Trung Cổ. Măi đến đầu thập niên 1860 mới được Công Đồng Vatican II trong thời Giáo Hoang Pius IX (1846-1878) thông qua và chính thức thành tín lư.. |
| 10.- Mặc khải | Được thượng đế mách bảo cho biết. |
| 11.- Các phép bí tích | Một loại bùa phép mà các ông thày cúng thường sử dụng. giống như trong chuyện Cưới Vợ Cho Hà Bá ở trên bờ sông Chương Thủy ở bên Trung Quốc thuộc nước Ngụy trong thời Đông Châu Liệt Quốc. |
| 12.- Đức Mẹ hiện ra | Được bịa đặt ra để moi tiền tín đồ.[xxix] |
| 13.- Lương tâm công giáo | Lương tâm của tín đồ Da-tô phải tuyệt đối tin tưởng và trung thành với nước Chúa Vatican. |
| 14.- Các Ṭa Án Dị Giáo (Inquistions) | Các ṭa án do chính Giáo Hôi thiết lập hay do các chính quyền đạo phiệt Da-tô tay sai của Giáo Hội thiết lập để xử lư những người bị t́nh nghi là theo tà đạo hay thực sự là theo tà đạo. |
| 15.- Rút phép thông công hay tuyệt thông | Trục xuất tín đồ Da-tô ra khỏi Giáo Hội . Vào thời Trung Cổ, nếu ở vào trường hợp này, đương sự sẽ được giao cho Ṭa Án Dị Giáo xử lư và chắc chắn là sẽ bị xử tử bằng cách thiêu sống. |
| 16.- Tà đạo | Tất cả các tôn giáo không phải là đạo Ki-tô La Măđều bị gọi như vậy. |
| 17.- Những người trở lại đạo | Tân ṭng, những người mới theo đạo |
| 18.- Đức Thánh Cha | Thằng ác quỷ |
| 19.- Thánh thiện | Ác ma, ác quỷ , ác độc |
| 20.- Tin mừng | Hung tín |
| 21.- Tín lư Ki-tô | Những chuyện hoang đường, loạn luân, dă man và ăn cướp |
| 22.- Hồng Ân Thiên Chúa | Đại họa ác quỷ |
| 23.- Đạo của bác ái và t́nh thương | Đạo của lừa bịp và bạo lực (đạo Đa-tô) |
| 24.- Chân lư | Những chuyện láo khoét được hệ thống hóa |
| 25.- Bảo vệ chân lư | Tấn công và bách hạn các tôn giáo khác |
| 26.- Chí sĩ yêu nước, nhà ái quốc: | Việt gian, phản quốc |
| 27.- Quân phản loạn,Việt gian | Các nhà ái quốc chống Pháp – Vatican |
| 28.-Việt gian Cộng Sản | Cộng Sản, VM Cộng Sản, những người yêu nước chiến đấu chống Vatican & Pháp |
| 29.- Đạo Công Giáo | Đạo Da-tô, đạo Ki-tô, đạo Cơ Đốc |
| 30.- Ngoan đạo | Cuồng tín |
| 31.- Sống đạo theo đức tin Ki-tô | Cuồng tín |
| 32.- Thà mất nước, không thà mất Chúa | ??????? |
| 33.- Nhà ái quốc Ngô Đ́nh Diệm | Thằng tam đại Việt gian Ngô Đ́inh Diệm |
Trên đây chỉ là một số trong những sản phẩm do Giáo Hội La Mă chế biến. Qua phần tŕnh bày về bản chất của những từ ngữ trên đây cùng với kinh nghiệm đă từng sống trong các trại định cư Tân Lập (B́nh Trưng, Thủ Đức, Gia Định) vào mấy tháng giữa năm 1955 và thường về sống ở trại định cư Dốc Mơ (Kiệm Tân, Long Khánh) từ năm 1961 cho đến năm 1975, người viết nhận thấy mỗi một từ ngữ được Giáo Hội sử dụng như trên đều có dụng ư phỉnh gạt hoặc lừa bịp tín đồ và người đời.
Chúng ta cũng có thể ví những sản phẩm trên đây của Giáo Hội giống như những sản phẩm của một công ty sản xuất xe hơi, các nhà thờ giống như các tiệm đại lư bán xe hơi, và các ông linh-mục giống như các ông lái buôn xe hơi (car dealers) được giao phó cho công việc quảng cáo và rao bán.
Tuy nhiên, có một điểm khác biệt lớn lao giữa các ông lái buôn bán xe hơi và các ông lái buôn bán tín lư Ki-tô:
1.-. Các hàng hóa bán ra của các ông lái buôn bán xe hơi là những thứ sản phẩm kỹ nghệ có thật, cụ thể hiện ra trước mắt, có nhăn hiệu và có giấy tờ ghi rơ ràng hàng mới toanh chưa bóc tem hay hàng cũ (đă dùng trong một thời gian rồi đem bán lại = second hand), ghi rơ những đặc tính của nó, ngay cả giá tiền cũng được ghi rơ và có thể trả giá. Ngoài ra, các ông lái buôn bán xe hơi c̣n bị chi phối bởi những luật lệ quy định về tính chất hàng hóa phải là thứ thật đúng với nhăn hiệu và đúng với phẩm chất được ghi trong giấy tờ liệt kê. Nếu có gian lận có thể bị khách hàng đem nội vụ ra pháp đ́nh xử lư
2.- Trái lại , những món hàng hóa bán ra của các ông lái buôn bán tín lư Ki-tô chỉ là những bánh vẽ, trừu tượng, không ai nh́n thấy, không thể nào kiểm chứng được, cho nên khách hàng không thể nào biết được nó đồ giả hay đồ thiệt, chẳng biết nó tốt hay nó xấu. V́ không thể kiểm chứng được là đồ giả hay đồ thiệt đố tốt hay đồ xấu, cho nên trong gần hai ngàn năm qua chưa ông lái buôn bán lư Ki-tô bị kiện về tội bán đồ giả hay thiếu phẩm chất.
V́ thực trạng là như vậy, cho nên tất cả những người biết sử dụng lư trí đều không bao giờ ghé qua các cửa tiêm bấn tín lư Ki-tô làm ǵ cho mất th́ giờ. Biết rơ những vậy, các nhà thần học trong bộ tham mưu của Giáo Hội La Mă tại Ṭa Thánh Vatican mới đưa ra một kế hoạch gồm có bốn biện pháp như sau:
Biện pháp thứ nhất là thành lập những binh đoàn truyền giáo vừa làm nghề quảng cáo rao bán tín lư Ki-tô, vừa thi hành các điệp vụ thâu thập các tin tức t́nh báo chiến lược tại các địa phương đang thi hành nhiệm vụ rồi gửi về Ṭa Thánh Vatican để các ngài điều nghiên kế hoạch chuần bị vận động một cường quốc liên minh với Gíao Hội đem quân tấn các chiếm địa phương đó làm thuộc địa
Biện pháp thư hai là cấu kết với các cường quyền và đế quốc thực dân xâm lược để làm thế lực hậu thuẫn cho việc củng cố quyền lực và mở rộng vùng ảnh hưởng.
Biện pháp thứ ba là thiết lập các chế đạo phiệt Da-tô tại các quốc gia nằm dưới quyền kiểm soát của Giáo Hôi hay của một đế quốc liên minh với Giáo Hội để có thể:
a.- Kiểm soát hết tài nguyên quốc gia và các phạm vi sinh hoạt, rồi từ đó mới cói thê dùng những miếng vật chất và chức vụ trong chính quyền để câu nhử những người tham lợi “đi đạo lấy gạo đẻ ăn” và những người háo danh thèm khát quyền lực “theo đạo để tạo danh đời”.
b.- Dùng quyền lực của chính quyền để (1) cưỡng bách hay chèn ép người dân dưới quyền vào đường cùng khiến cho họ phải theo đạo để choi thoát nợ, và (2) hỗ trợ cho giáo luật của Giáo Hội đ̣i hỏi những người thuộc các tôn giáo khác muốn thành hôn với tín đồ Da-tô th́ phải làm lễ rửa tội rồi mới được tiên hàn lễ thành hôn. Nếu nạn nhân không theo đạo th́ cuộc t́nh sẽ tan vỡ v́ bàn tay của Giáo Hội.
Biện pháp thứ tư là th́ hành chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ với mục đích làm cho nạn nhân mất hế khả năng lư trí để t́m hiểu sự vật (cách vật trí tri). Có như thế th́ nạn nhân mới nhắm mắt vui vẻ và hay say tiêu thụ món hàng bánh vẽ tín lư Ki-tô (đố giả) của Giáo Hội.
Sự kiện này cho chúng ta thấy rơ:
A.- Đằng sau các ông lái buôn bán tín lư Ki-tô là bạo lực của chính quyền chuyên chế toàn trị. Do đó, nghiễm nhiên họ trở thành các ông quan trên các ông quan của chính quyền (thế tục). Vậy mới phát sinh ra cụm từ “các ông lănh chúa áo đen”. (Không biết có phải v́ thế mà người Pháp gọi họ “les corbeaux noirs” (lũ quạ đen).
B.- Hầu hết khách hàng hàng tiêu thụ tín lư Ki-tô gồm các thành phần:
1..- Tham lợi: theo đạo lấy gạo dể ăn
2.- Háo danh và thèm khát quyền lực: Theo đạo để tạo danh đời.
3.- Bị cưỡng ép hay chèn ép phải theo đạo v́ lư do an ninh và để khỏi bị chính quyền kiếm chuyện làm phiền hà, có thể nguy hiểm đến công ăn việc làm và sinh mạng. Sự thật này đă được Linh-mục Trần Tam T́nh tŕnh bày khá rơ ràng trong cuôn Thập giá và Lưỡi Gươm nơi các trang 129-130.
4.- Bị cưỡng ép phải theo đạo v́ hôn nhân. Nếu không theo th́ nhà thờ không làm lễ cưới và hạnh phúc lứa đôi sẽ tan nát.
5.- Những người mất hết khả năng lư trí để t́m hiểu sự vật. Do đó họ không c̣n có đủ khả năng để nh́n ra món hàng hóa (tín lư Ki-tô) mà họ tiêu thụ hàng ngày chỉ là bánh vẽ (hàng giả) mài cữ ngỡ tưởng rằng đó là những thứ hàng vô cùng quư giá. V́ thế mà họ hăng say tiêu thụ và tiêu thụ càng nhiều cảng cảm thấy hy vọng tràn trề sẽ được lên thiên đường đời đờ hưởng nhan Chúa. (Đây là hậu quả [đối với Giáo Hộ th́ phải gọi là thành quả] của biện pháp thứ tư trên đây gây ra.)
6.- Con cháu của các thành phần trên đây
Theo định luật về di truyền trong ngành sinh vật học (Biology), con cháu của thành phần nào trên đây sẽ có đặc tính của thành phần đó. Cha mẹ có máu tham lợi, háo danh và thèm khát quyền lực th́ con cái họ cũng có những đặc tính này. Cha mẹ kém thông minh, không có khả năng hay không biết sử dụng lư trí để t́m hiểu sự vật th́ con cháu cũng có đặc kém thông minh như vậy. V́ t́nh trạng này mă xă hội Da-tô gồm toàn những người tham lợi, háo danh, thềm khát quyền lực và thiếu khả năng hay không biết sử dụng lư trí để t́m hiểu sự vật.
Cũng v́ t́nh trạng này mà chúng ta thấy trong ngay trong thánh kinh Cựu Ứoc và Tân Ước có những câu văn hay đoạn văn sau mâu thuẫn với (đă ngược) câu và hay đoạn văn trước: Chúa Toàn Thiện nhưng lại trừng phạt loài người đời đời kiếp kiếp phải mang cái tội tổ tông, lại đố kị, tị hiềm, ganh ghét, nham hiểm, độc ác, bạo ngược và dă man đúng như đă được diễn tả trong sách Lê Vi Kư (26: 1-43). Ông Jesus được tôn vinh là Chúa Cứu Thế (cứu đời) toàn thiện mà lại nỡ tâm nguyền rủa cây và cho đến nó chết (Matthew 21: 18-21), lại dạy đời rằng “Chớ tưởng rằng Ta đến để đem sự b́nh an cho thế gian mà là đem gươm dáo, làm cho con trai chống lại cha, con gái chống lại mẹ, con dâu chống lại mẹ chồng và người trong cùng một gia đ́nh sẽ trở thành thù địch”.” Matthew 10: 34-37)..Trong những tác phẩm của những người Việt Nam tiếp nhận sở học qua chính sách ngu dân và nhồi sọ tại các trường đạo hay ở miền Nam trong thời kỳ1954-1975 cũng có những mâu thuẫn tương tự như vậy.
Nhờ những biện pháp trên đây, khách hàng của các cửa tiệm buôn bán tín lư Ki-tô ngày càng thêm đông đảo và cái nghề buôn đồ giả này (đúng ra là bánnh vẽ) trở thành một nghề béo bở, ngồi mát ăn bát vàng. Bởi thế cho nên mới rất nhiều thanh thiếu niên lao vào học cái nghề lái buôn này. Sách Vicars of Chris viết:
“Một bản thống kê cho biết: một xứ có 900 ngàn dân mà có tới 3 ngàn tu sĩ; và cứ 2 trong 5 (40%) đứa con hoang là con của các ông tu sĩ." Nguyên văn:"One amazing statistic emerges: in a country of 900,000 people, there were 3,000 clergy; and yet two out of five bastards were born to the clergy."[xxx]
Nhà văn Da-tô J. Ngọc viết trong cuốn Cơi Phúc Và Giây Oan:
"Những người con trai thơ dại mong được đào tạo trở thành linh mục sau này. Tôi mồn một nhớ về tâm trạng thơ dại qua những ngô nghê tuổi khờ. Mẹ tôi dắt tôi, bàn tay người không rời, nắm chặt như một quả quyết toàn vẹn. Tôi biết, và ngay lúc đó tôi hiểu rằng bố mẹ tôi đă nắm một phần rất quan trọng trong lần chuyển đời này của tôi, v́ với tôi , ư nghĩ đi tu chỉ vấn vương qua những h́nh ảnh vật chất và uy quyền hàng ngày. Tôi đă so sánh và nh́n sự cả nể của các linh mục, sự tôn kính từ giáo dân, nhất là với tôi, các linh mục, tu sĩ đă như những tuyệt đối nhất của bất kỳ phương diện nào. Giáo dân tùng phục, giáo dân khiếp sợ, giáo dân cầu lụy và muôn ngàn h́nh ảnh khác."[xxxi]
Và mới đây lại có chuyện “đă xuất rồi, lại có vợ con mà vẫn c̣n tự xưng là linh mục”. Chuyên này được ông Lữ Giang ghi nhận và cho phổ biến trên diễn đàn điện thư Nước Việt với nguyên văn như sau:
“Từ trước đến nay, có một người khi ra trước cộng đồng hay viết thư bằng Email thường tự xưnglà Linh Mục Nguyên Thanh, Email: nguyenthanhx01@ yahoo.com,
Xin nói cho rơ: Người đó là cựu Linh mục Nguyễn Văn Thành, trước 1975 là Tuyên Úy Thủy Quân Lục Chiến. Sau 30.4.1975 ông ta có ở tù với chúng tôi ở trại Thanh Cẩm, Thanh Hóa. Tuy nhiên, sau khi ra tù, ông ta đă xin Ṭa Thánh Vatican từ bỏ chức Linh mục và cưới vợ.
Ông ta đă kết hôn với bà Huỳnh Thị Thu Mai (đă có một đời chồng và một đưa con) và có với bà này một con gái tên là Nguyễn Huỳnh B́nh An. Gia đ́nh ông được đến định cư tại Hoa Kỳ ngày 19.5.2004 và hiện định cư tại Orange County.
Như vậy ông ta không c̣n là Linh mục nữa. Nhưng nhiều lần ông vẫn tự xưng là Linh mục và cử hành thánh lễ. Do dó. Đức Giám Mục Giáo Phận Orange đă cấm ông không được tự xưng Linh mục và làm các nghi thức phụng vụ. Vậy xin nói cho rơ. Lữ Giang!”[xxxii]
Cái nghề lái buôn tín lư Ki-tô béo bở là như thế !
CHÚ THÍCH
[i] Sàigon Nhỏ Số 170, ngày 17/3/2000, và Nhiều tác giả,. Vatican Thú Tội Và Xin Lỗi? (Garden Grove, California: Giao Điểm, 2001), t r 210.
[ii] Nhiiều tác giỉa, Sđd, , tr 213
[iii] Letty Wambauch. "Any Religion Claiming "truth" Can Be Danger."] The New Tribune [Tacoma, Washington] December 29, 2002.
[iv] Lư Chánh Trung, Tôn Giáo Và Dân Tộc (Sàigon: Lửa Thiêng, 1973), tr 73-76.
[v] Matthew Bunson, The Pope Encyclopedia (New York:Crown Trade Papaerbacks, 1995), p. 231.
[vi] Edward Burman, The Inquisition (New York: Dorset Press, 1992), p. 33.
[vii] J.T.C., Smokescreens (Chino, CA: Jack T. Chick, 1993) trang 35.
[viii] Người viết đă tŕnh bày đề tài này khá rơ ràng trong cuốn Việt Nam Đệ Nhất Cộng Ḥa Toàn Thư 1954-1963 nơi Chuong 15 trong đó có ghi lại một bài báo đăng trong tơ Thằng Mơ sơ 703 (Californía) ra ngày7 tháng 10 năm 1995 với nguyên văn nhuu sau: "Nỗ Lực Bảo Vệ Đức Giáo Hoàng Trong Cuộc Thánh Du Hoa Kỳ.ở- Nữu Uớc (Tin Tổng Hợp). Hồi đầu tháng 9 vừa qua, Toa Thánh Vatican đa gửi sang Hoa Kỳ chiếc xe Mercedes bọc thép có ṿm kính bên trên. Hiện không rơ xe này đạu ở? đâu. Nhà chứcc trách nói rằng tiết lộ noi đậu xe sẽ làm nguy hiểm cho hệ thống an ninh bảo vệ Đức Giáo Hoang. Ngài sẽ công du Hoa Kỳ từ ngày 4 đến ngày 8/10/1995. Các viên chức thừa hành luật pháp đă khởi sự một nỗ lực chua từng có để bảo vệ Đức Giáo Hoàng Gioan Phao Lồ II trong chuyến đi của Ngài đến Nữu Uớc, New Jersey va Maryland. Trong cuộc thăm viếng khu vực Nữu Uớc lần sau cùng trước đây vào năm 1979, Đức Thánh Cha đôi khi di chuyển tren chiếc xe limousine không mui và tự do ḥa lẩn vào dám tín đồ.. Bây giờ không c̣n như thế nữaa...- Theo báo Thằng Mơ s? 703 ngày 7/10/1995."
[ix] Charlie Nguyễn,. Công Giáo Huyền Thoại Và Tội Ác (Garden Grove, California: Giao Điểm, 2001), tr 42-43
[x] Lloyd Graham, Deceptions and Myths of the Bible (Secaucus, N.J: Carol Publishing Group, 1999), p. 463.
[xi] Nguyễn Xuân Thọ, Bước Mở Đầu Của Sự Thiết Lập Hệ Thống Thuộc Địa Pháp ở Việt Nam 1858-1897 (Saint Raphael, (Pháp), TXB, 1994), tr.101-102.
[xii] Hoàng Trọng Miên, Đệ Nhất Phu Nhân - Tập I (Los Alamitos, CA: Nhà Xuất Bản Việt Nam, 1989), tr. 428.
[xiii] Trần Tam Tỉnh, Sđd., tr 14-15
[xiv] Loraine Boettner, Roman Catholicism (Phillipsburg, New Jersey:Presbyterian and Reformed Publishing Company, 1962), p.424.
[xv] Malachi Martin, The Decline And Fall Of The Roman Church (New York: G.P. Putnam’ Sons, 1981), pp.110-111.
[xvi] Carlton J.H. Hayes, Modern Times – The French Revolution to the Present (New York: MacMillan Publishing Co., Inc. 1969), P. 35.
[xvii] . Malachi Martin, Ibid.,pp. 232-233.
[xviii] Trần Tam Tỉnh, Sđd., tr. 129-130.
[xix] Phạm Khắc Xuyên & Nguyễn Đ́nh Khiêm, Giáo Sĩ ĐẮC Lộ Và Tác Phẩm Quốc Ngữ Đầu Tiên (Saig̣n: Tinh Việt Văn Đoàn, 1961), tr. 83.
[xx] Phạm Khắc Xuyên & Nguyễn Đ́nh Khiêm, Sđd., tr. 81.
[xxi] Nguyễn Bách. “Chánh Trị Và Thua Cuộc.” chinhnguyen2005@sbcglobal.net Này 30/7/2007.
\[xxii] Nguyễn Văn Tuấn, Sđd.,Chất Độc Màu Da Cam và Cuộc Chiến Việt Nam (Ga rden Grove, CA: Giao Điểm, 2005) tr 171.
[xxiii] Charlie Nguyễn, Công Giáo Trên Bờ Vực Thẳm (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 2001), tr. 253.
[xxiv] M.J. Su “The birth and family of Jesus.” Encyclopedia Britannica, Vol. 10, Ed. 1980, page 149.)
[xxv] Lư Chánh Trung, Tôn Giáo Và Dân Tôc (Sàig̣n: Lửa Thiêng, 1973), tr. 64-69. .
[xxvi] Học Hội Giesu Kito Phục Sinh, Tuyên Cáo 8, A rticle 1, p. 2.
[xxvii] Jude Webbe: “No Fire or Brimstone, But Hell’s Real, Pope Says,” Houston Chronicle, July 29,1999, p. A26
[xxviii] Charlie Nguyễn, Công Giáo Trên Bờ Vực Thẳm (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 2001), trang 256-258..
[xxix] Charlie Nguyễn, Sđd., tr 296-300.
[xxx] Peter de Rosa, Vicars of Christ (Dublin, Ireland: Poolberg Press, 2000), p. 416.
[xxxi] J. Ngọc, Cơi Phúc Và Giây Oan - Tập Một (Houston, Texas: Văn Hóa, 1995) tr 9-10.