CHƯƠNG 11

 

BẢN CHẤT TIẾM DANH (NHẬN VƠ),
ĂN KHÔNG NÓI CÓ, LƯƠN LẸO VÀ LẬT LỌNG
CỦA GIÁO HỘI LA MĂ

 

Chủ đề của chương này là nói về bản chất tiếm danh (nhận vơ), ăn không nói có, lươn lẹo và lật lọng của Giáo Hội La Mă. V́ vậy mà tất cả mọi tiểu mục và những ǵ được tŕnh bày ở  trong chương này đều xoay quanh và nhắm vào chủ đề này.

 V́ bài này quá dài, chúng tôi tạm chia ra làm nhiều bài. Khi in thành sách,các bài này sẽ được nối kết thành một.

 Nói đến Giáo Hội La Mă mà không nói đến bản chất tiếm danh (nhận vơ), ăn không nói có, lươn lẹo và lật lọng của nó th́ quả thật là không biết ǵ về cái giáo hội này.

Theo Viêt Nam Tự Điển của ông Lê Văn Đức  th́ động từ “tiếm danh là giả danh hay mang tên một người khác.” và “lộn ṣng là “đánh tráo” hay “đổi lộn với ư gian”.

Trong cuốn từ điển này, không có động từ: “nhận vơ”. Thiết nghĩ rằng ư nghĩa của động từ “nhận vơ” xác nhận hay khẳng định  một cái ǵ là của ḿnh mà thật sự cái đó không phải là của ḿnh.” 

Cũng theo theo Tự Điển của ông Lê Văn Đức th́ động từ “bịp” có nghĩa là: “lừa dối, gạt gẫm, dùng mánh khóe gian xảo để hơn người, để ăn gian” và động từ “bịp đời” có nghĩa là “phỉnh đời, lên mặt sang trọng yêu nước, đạo đức để thiên hạ lầm.”

Xét cho cùng, tất cả những hành động nhận vơ, ăn không nói có, lươn lẹo và lật lọng như đă đề cập ở trên đều co nghĩa là “bịp” hay “bịp đời” có chủ tâm..

Kinh nghiệm lịch sử cho thấy rằng Giáo Hội La Mă và tín đồ Da-tô ưa thích sử dụng mấy động từ trên đây để bịp đời  bằng những thủ đoạn gian xảo với dă tâm là lấn lướt, bốc hốt và vơ vào ḷng đủ mọi thứ quyền thế, của cải và danh vọng để thoả măn ḷng tham không đáy của họ.

1.- MỤC ĐÍCH BỊP CỦA KẺ CHỦ MƯU BỊP

Những người hay những thế lực làm những việc "ăn không nói có", "bốc lửa bỏ bàn tay" hay "bịa đặt" hoặc "nói láo"  đều có mục đích bịp đời. Những mục đích này cóthể là:

A.- Ḷe đời để ly le hay làm oai với thiên hạ.- Đây là những người có tính huênh hoang, khoe khoang, khoác lác hay bịa đặt  ra những điều tốt cho chính ḿnh để "ḷe đời" lấy le cho oai. Hầu như ở đâu cũng có hạng người này. Có những người tự phong cho ḿnh là giáo sư, là nhà văn, là thi sĩ, hoặc là mua bằng tiến sĩ giả (bogus degree) rồi khi giao tiếp với những người lạ hay, lúc cần phải giới thiệụ danh tính ở một nơi hội họp đông người là cơ hội cho họ huênh hoang khoác lác rằng, “Tôi, giáo-sư Nguyễn Quốc Tr.”, Tôi là nhà văn Phạm Quang Tr.”,  “Tôi là Tiến-sĩ Lê Thiện Ng.”. Chuyện ông  Dr. Cao cũng ở vào trương hợp này và được nhà văn Nguyễn Vũ ghi nhận như sau:

Theo Cao Thế Dung, ông sinh năm 1933 tại miền Bắc. Đậu Tú Tài II năm 1953 trong khu Việt Minh. Di cư vào Nam, vừa đi dạy vừa học tiếp. Năm 1967, đậu Cử Nhân Việt Hán tại Đại Học Văn Khoa Sàig̣n. Liên tiếp dạy tại trường Taberd v.v.. từ 1964 tới 1967, và từng là Phó Khoa Trưởng Canh Nông Đại Học Hoà Hảo.

Trong khi đó  ghi danh học hàm thụ chương tŕnh Tiến-sĩ của trường École Universelle de Paris, và năm 1974 th́ tốt nghiệp. Nhận bằng xong, ông mang ra mồ bà mẹ nuôi, đốt đi cúng mẹ, v́ bà không những đă nuôi dưỡng Cao Thế Dung từ nhỏ mà c̣n khuyến khích họ Cao kiếm cho được mảnh bằng Tiến-sĩ...”[1]

Thực tế, tŕnh độ học vấn và những việc làm trong cuộc đời của ông Cao Thế  Dung trong những năm ở miền Nam Việt Nam và ở hải ngoại cho đến năm 1990 như thế nào, tất cả đều được tác giả Lê Trọng Văn tŕnh bày khá rơ ràng nơi các trang 5-146 trong cuốn Lột Mặt Nạ Những Con Tḥ Ḷ Chính Trị (San Diego, CA” Mẹ Việt Nam 1991).

Trong số những người này, cũng có người chỉ v́ háo danh  cho nên khi nói láo như vậy, có thể chỉ có chủ tâm ḷe đời, lấy le hay làm oai với thiên hạ, chứ không có dă tâm lường gạt và lừa bịp người đời để làm ăn lớn. Đây chỉ là căn bệnh của những người mắc cái tật huênh hoang, khoác lác, nhất là ở trong các bàn nhậu khi bước vào giai đọan "tửu nhập ngôn xuất". Cũng có những người học hành không đi đến đâu, nhưng khi viết văn lại thích mạo danh là giáo sư, nhà văn, thi sĩ, và tiến sĩ. Trong thực tế, những người này nếu có muốn sử dụng “những thứ giả mạo đó” để lường gạt ngưởi đời và khi đó họ sẽ trở thành tṛ hề  cho thiên hạ  chê cười như trương hợp  ông Dr. Cao trên đây.

Cũng có những người khi c̣n ở Việt Nam dựa vào cái thế là tín đồ Da-tô mà được Giáo Hội La Mă cũng như các chính quyền đạo phiệt Da-tô Ngô Đ́nh Diệm và quân phiệt Da-tô Nguyễn Văn Thiệu cho nắm giữ những chức vụ béo bở trong chính quyền. Nhờ vậy mà họ được nên danh nên giá, vênh vang lên mặt ta đây là ông này ông nọ. Nhưng khi ra hải ngoại định cư ở các nước dân chủ, họ lại rơi vào t́nh trạng dở ông dở thằng, không kiếm được một công ăn việc làm tương xứng với danh nghĩa của một “ông trí thức” và nhiều khi c̣n thua cả những người đồng hương mà ngày xưa  ở miền Nam Việt Nam  chỉ là dân thưng hay anh em quân nhân thuộc hàng hạ sĩ quan và binh sĩ mà thôi. T́nh trạng này đă khiến cho họ mang mặc cảm tư ti. Chính cái mặc cảm tự ti này đă khiến cho họ  vốn đă mang căn bệnh huênh hoang khóac lác hấp thụ được từ nền văn hóa Da-tô lại càng trở nên huênh hoang khoác lác nhiều hơn nữa. Đây là trường hợp ông Da-tô Nguyễn Văn Chức khi viết bài Đừng Quên Mối Thù Quốc Hận 30/4 (đăng tren tờ Góp Gió số 167 Tháng 7/2007) và lá thư đề ngày 1/11/1995 gửi Ông Cựu Tổng Trường Quốc Pḥng Robert McNamara  , ông ta không quên huênh hoang kê khai ra ở kế sát cái tên Nguyễn Văn Chức cả bốn chức vụ và nghề nghiệp như (1) Cựu Sĩ Quan Quân Lực VNCH (Khóa I Nam Định) (2) Cựu Luật Sự Ṭa Thượng Thầm Sàig̣n, VNCH, (3) Cựu Chủ Tịch Ủy Ban Tư Pháp Định Chế Thượng Nghị Viện, VNCH, và (4) Nguyên Tổng Thư Kư Liên Đoàn Công Giáo VN Tại Hoa Kỳ. Độc đáo hơn nữa, trong một vài bài viết đăng trên một vài tờ báo lá cải ở Bắc Mỹ, ông ta c̣n huênh hoang kể lại rằng trước khí trốn ra ngoại quốc vào chiều ngày 29/4/1975, ông ta và gia đ́nh c̣n lo ăn cho hết mười (10) kí yến rồi mới cuốn gói ra đi. Viết đến đây người viết lại nhớ đến lời cụ Nghiêm Xuân Hồng ghi lai lời nói của kịch sĩ Beaumarchais  viết trong vở kịch “Le Marriage de Figaro” với nguyên văn như sau:

Bởi v́ ông là một quan lớn quư tộc, nên ông vội tưởng ông là một đại thiên tài. Chức tước, tiền của, địa vị, ngựa xe, tất cả những cái đó đă khiến ông hănh diện! Nhưng quả thực, ông đă làm ǵ để xứng đáng với các thứ tốt đẹp đó? Ông chỉ làm có một chuyện là lọt ḷng mẹ ra mà thôi.” [2]

B.- Mượn oai thần thánh hay ma quỷ đề hù dọa và lừa bịp người đời.-  Đây là những người bịa đặt ra những điều tốt đẹp với những quyền uy lớn lao hay quyền năng siêu phàm cho một đấng thần linh (dĩ nhiên là không ai có thể kiểm nghiệm được), cùng với những nghi thức cúng tế rất là uy nghi và long trọng rồi t́m cách quảng cáo, kêu gọi và xúi gịục mọi người mang lễ vật hậu hĩ đến dâng cúng qua sự trung gian của chúng để cầu xin với hy vọng được ban cho những đặc ân như ư muốn và được che chở tránh khỏi những tai hoạ bất ngờ. Quỷ quyệt hơn nữa, bọn người này c̣n tạo cho những người nhẹ dạ tin rằng càng tin tưởng mănh liệt vào quyền năng siêu phàm của vị thần linh này th́ càng dễ dàng được ban ơn và càng được che chở cho thoát khỏi mọi thứ tai hoạ xẩy ra bất ngờ. Như thế có nghĩa là phải siêng năng đến nơi thờ phượng vị thần linh này khấn cầu và lễ vật dâng cúng càng lớn th́ càng có nhiều hy vọng những lời cầu xin sẽ được ứng nghiệm.

Như vậy là bọn người này có dă tâm sắp đặt những điều mà họ bịa đặt thành một hệ thống có lớp lang để có thể  tạo ra một xí nghiệp làm ăn lớn. Các bậc trí giả gọi những hạng người này là  bọn lưu manh mượn danh thần thánh hay tôn giáo để lừa gạt người đời. Theo sách Nho Giáo - Tập I, các bậc đại hiền ở Trung Hoa gọi những người này là bọn vu hích:

Vu là người con gái, hích là người con trai làm nghề đồng bóng, tức là bọn đồng cốt, thầy cúng, thầy pháp v.v.. lấy điều cát hung hoạ phúc, dùng những phương thuật huyễn hoặc mà đánh lừa những người ngu dại, đem chuyện thần thánh ma quỉ mà doạ nạt người thường để làm nghề kiếm ăn. Ở nước Tàu về đời thượng cổ, bọn vu hích có thế lực rất mạnh, thậm chi nhà nào cũng thờ quỉ, thờ thần…Nhà vua thấy thế, mới sai quan định rơ việc thần và việc người để ngăn cấm bọn vu hích làm mê hoặc ḷng người…”[3]

Hành động lưu manh của bọn vu hích trên đây chính là hành động của bọn đồng bóng và thầy cúng ở trên bờ sông Chương Hà trong chuyện Hà Bá Cưới Vợ được sách Đông Châu Liệt Quốc Tập 3 (Mộng B́nh Sơn dịch, tr 972-974) kể lại. Như đă nói ở trên, người dân Trung Hoa đă có tŕnh độ văn hóa cao hơn người dân Do Thái và đă ư thức được rằng mọi chuyện nói rằng, “thần linh muốn điều này, muốn điều nọ hay là ứng nghiệm cho biết phải làm điều này điều nọ” chỉ là sản phẩm của những bọn người bất lương bịa đặt ra để lừa gạt người đời hầu thủ lợi. V́ thế mà bọn vu hích trong chuyện Hà Bá Cưới Vợ trên đây bị quan Thái Thú Tây Môn Báo thẳng tay trừng trị. Nhờ vậy mà  từ thời Thượng Cổ cho đến ngày nay, ở Đông Phương không có cái nạn tôn giáo cấu kết với chính quyền hay tôn giáo chỉ đạo chính quyền để áp bức và bóc lột  nhân dân. Sự kiện trên đây cũng cho mọi người thấy rằng, ngay từ thời Thượng Cổ, người dân Đông Phương đă:

1.- Có  chính sách tách rời tôn giáo ra khỏi chính quyền

2.- Chính quyền dùng những biện pháp mạnh trừng trị bọn lưu manh nhân danh thần thánh để lừa gạt người đời.

Trái lại, ở Âu Châu, ngay từ thế kỷ 4, Giáo Hội La Mă đă  biến chế cái thủ đoạn lưu manh này thành chủ trương “thần quyền chỉ đạo thế quyền” làm phương tiện để thâu tóm quyền lực thế tục, rồi dùng bạo lực của nhà nước để thi hành “chính sách bất khoan dung” đối với những người không chịu khuất phục và áp đặt lên đầu lên cổ các dân tộc ở bất cứ nơi nào mà quyền lực của Giáo Hội vươn tới. Phải đợi đến Cách Mạng Pháp 1789, chính quyền Cách Mạng Pháp mới dùng biện pháp mạnh trừng trị Giáo Hội La Mă  (giống như quan Thái Thú Tây Môn Báo đă trừng trị bọn đồng bóng và thày cúng ở trên ven sông Chương Hà ở Đất Nghiệp Đô trong câu chuyện Hà Bá Cưới Vợ ở trên), và ghi vào Hiến Pháp điều khoản “tách rời tôn giáo ra khỏi chính quyền”. Cách Mạng Pháp 1789 đă trở thành ngọn đuốc soi sáng chỉ đường cho nhân dân thế giới, đặc biệt là  các nước Ư Đại Lợi, Tây Ban Nha, Mễ Tây Cơ, Cuba, Nicaragua, và nhiều nước khác vùng lên theo gương Pháp chống lại Giáo Hội La Mă để đ̣i lại quyền làm người. Thế nhưng, tại nước Pháp, tín đồ Da-tô “ngoan đạo” người Pháp ở các vùng Bratagne, Normandie, Vendée, .v.v… (giống như tín đồ Da-tô người Việt ở Phát Diệm, Bùi Chu, Bến Tre và các xóm đạo ở rải rác khắp nơi trên toàn lănh thổ) bị bọn quạ đen xúi giục  nổi lên làm nội ứng tiếp tay cho Liên Minh Thánh (Holy Alliance) của Vatican kéo quân vào nước Pháp đánh bại chính quyền Cách Mạng, tái lập chế độ đạo phiệt Da-tô. T́nh trạng này làm cho cuộc chiến chống lại Giáo Hội La Mă của dân tộc Pháp giằng co kéo dài tới hơn một thế kỷ sau. Cho măi đến năm 1905, điều khoản “tách rời tôn giáo ra khỏi chính quyền” mới thực sự có chân đứng vững vàng trong Hiến Pháp.

Sự kiện này chứng tỏ rằng, các dân tộc Đông Phương đă đi trước các dân tộc khác ở trên thế giới cả mấy ngàn năm trong lănh vực “tách rời tôn giáo ra khỏi chính quyền” sử dụng những biện pháp mạnh để trừng trị và đối phó với bọn người “vu hích” hay bọn người lưu manh nhân danh tôn giáo để lừa bịp, hành hạ và bách hại người đời.

Vấn đề đặt ra là TẠI SAO Giáo Hội La Mă lại có thể tác oai tác quái được như vậy ở Âu Châu trong một thời gian dài  tư thế kỷ 4 cho đến  những năm chót của thế kỷ 20? Thảm trạng này vẫn c̣n diễn ra ở các cựu thuộc địa của các đế quốc Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và Pháp tại Châu Phi, Châu Mỹ La-tinh và Việt Nam?

Lư do rơ rệt là: Từ thượng cổ, ở  Trung Đông và vùng ven Địa Trung Hải, bọn lưu manh buôn thần bán thánh này đă sử dụng kỹ thuật lừa bịp (giống như bọn vu hích ở Đông Phương đă sử dụng) rồi cấu kết với chính quyền phản động phong kiến địa phương để áp bức và bóc lột nhân dân. T́nh trạng này kéo dài cho đến thế kỷ thứ 4 th́ bọn “vu hích” biến thái thành “Giáo Hội La Mă” với những thủ đoạn tinh vi hơn và siêu việt hơn (vừa dùng bạo lực để khủng bố và tàn sát những người không chịu khuất phục, vừa dùng kỹ thuật tuyên truyền đề lừa bịp và lạc dẫn quần chúng, vừa dùng chính sách ngu dân và nhồi sọ để ḱm hăm nhân dân dưới quyền măi măi ở trong t́nh trạng ngu dốt). Do đó, cho đến ngày nay, bọn “vu hích” đầu sỏ này vẫn c̣n  chễm chệ ngồi trong lâu đài Lateran tại kinh thành La Mă, vẫn tự phong là “Đại diện duy nhất của Thiên Chúa” ở trên cơi đời này vơi những danh xưng  “Hội Thánh duy nhất thánh thiện, công giáo và tông truyền” và “Hiền Thê Của Thiên Chúa Làm Người” để lừa gạt người đời.

Kinh nghiệm lịch sử cho ta thấy rằng, NẾU Giáo Hội La Mă không cấu kết với chính quyền phản động phong kiến địa phương và không có những người ngu dốt (do chính sách ngu dân và nhồi sọ của Giáo Hội tạo nên) nhẹ dạ cả tin vào những lời lẽ phỉnh gạt bịp bợm của Giáo Hội được rao truyền trong các nhà thờ, TH̀ Giáo Hội không c̣n đất sống, đúng như nữ học giả Joane H. Meehl đă nhận xét:

Đạo Da-tô La Mă chỉ thịnh hành và phát triển trong giới người nghèo và ngu dốt, nó chỉ khắc phục được bằng giáo dục (khai phóng) và đời sống sung túc.” (Catholicism thrives and grows among the poor and ignorant. It is overcome by education and economic well-being.”[4]

Giống như bọn đồng bóng và thày cúng trong chuyện Hà Bá Cưới Vợ như đă nói trên đây, Giáo Hội La Mă đă dựa vào những chuyện đă có sẵn ở trong Cựu Ước Kinh để  bịa đặt thêm những điều láo khoét khác, rồi gom chung với nhau và sắp xếp  thành một hệ thống có lớp lang để dễ dàng khai thác. Hệ thống này gọi là “hệ thống tín lư Kitô” và được làm nền tảng cho đạo Da-tô La Mă.

Trong cái hệ thống tín lư Kitô láo khoét này, chúng ta thấy các tác giả viết Cựu Ước Kinh bịa đặt ra ông Chúa Cha Jehovah "có quyền năng tạo nên vũ trụ", "toàn năng, toàn trí, toàn thiện" v.v.., rồi sau đó, Giáo Hội La Mă lại bịa đặt thêm ra những chuyện cực kỳ hoang tưởng như chuyện "Chúa Ba Ngôi", chuyện "Ai tin ông Jesus là Chúa Kitô th́ được cứu rỗi cho lên thiên đường", chuyện bà Maria đă có chồng và đă có cả một đàn con mà vẫn c̣n là :"gái trinh" và được gọi là "Đức Mẹ Đồng Trinh", chuyện ḷ luyện ngục, các phép lạ, các phép bí tích, chuyền Đức Mẹ hiện ra, và hàng ngàn chuyện khác. Theo thời gian, càng về sau, Giáo Hội càng bịa đặt ra nhiều chuyện hoàng đường khác nữa. Những chuyện bịa đặt này được sách Roman Catholicism  gọi là “những truyền thống của Giáo Hội” (eccelesiastical traditions) và kê ra một số được sáng chế ra từ giữa thế kỷ 16 (chưa kể từ đó trở về trước) bằng môt đoạn văn với nguyên bản như sau:

Kết quả là những chủ thuyết và việc làm nổi bật  nhất của Giáo Hội La Mă là  nơi luyện ngục để chuộc tội, thiết lập giai cấp nam nữ tu sĩ, lễ mi-xa, rước lễ (ăn bánh thánh), cầu xin cho người đă chết, việc bán giấy xá tội, sự tự hành xác để hối lỗi, tôn thờ bà Maria Đồng Trinh,, sử dụng h́nh ảnh trong việc thờ phượng, nước thánh, tràng hạt, đ̣i hỏi giới tu sĩ phải độc thân, thiết lập chế độ giáo hoàng và c̣n rất nhiều chuyện khác nữa, tất cả đều là dựa trên truyền thống.” Nguyên văn: “The results is that the most prominent doctrines and practices of the Roman Church, such as purgatory, the priesthood, the mass, transubstantiation, prayers for the dead, indulgences, penance, worhip of the Virgin Mary, the use of images in worship, holy water, rosary beads, celibacy of priests and nuns, the papacy itself, and numerous others, are founded solely on tradition.” [5]

C.- Bịa đặt ra những điều xấu xa ghê tởm để gán cho những người mà Giáo Hội  không ưa hay thù ghét với mục đích làm nguy hại đến thanh danh, vật chất  hoặc là để khủng bố tinh thần và sinh mạng của nạn nhân: Ở vào trường hợp này, ta thường gọi là "bốc lửa bỏ bàn tay", "vu khống", "vu oan giá họa", "nói láo" và "chụp mũ". Đây là sách lược "hàm huyết phún nhân" của Giáo Hội để gây bất lợi  hay làm nguy hại cho những người mà Giáo Hội không ưa hay thù ghét. Sách lược này thường được thi hành theo kế sách “cả vú lấp miệng em” (hàng loạt và tới tấp) và kế sách“Tăng Sâm giết người” (nhắc đi nhắc lại hoài). Kinh nghiệm lịch sử cho thấy rằng, Giáo Hội đă làm như vậy  từ năm 325 cho đến ngày nay. Những nạn nhân của Giáo Hội thường là (1) những người không tin những tín lư bịp bợm trong hệ thống thần học Kitô của Giáo Hội, (2)  những người không chịu khuất phục Giáo Hội, (3) những người dám nói lên những việc làm bất chính, bất nhân, bất nghĩa, đại gian đại ác của Giáo Hội, (4) những người trong hàng ngũ chiến đấu chống lại Giáo Hội, chống lại các cường quyền hay chính quyền đế quốc thực dân  xâm lược cấu kết với Giáo Hội (như các đế quốc Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Pháp, Đức Quốc Xă, Phát Xít Ư, và Hoa Kỳ), và (5) những người chống lại các chế độ đạo phiệt Da-tô  tay sai của Giáo Hội. Chuyện bà Jeanne d’ Arc (1412-1431), một vị nữ anh hùng của dân tộc Pháp bị Giáo Hội gán cho là “con mụ phù thủy” rồi đưa ra Toà Án Dị Giáo xử thiêu bà vào năm 1431 là một trong muôn ngàn bằng chứng về tội ác “vu oan giá hoạ” cho những nạn nhân của Giáo Hội La Mă. 

Trước khi bản Tuyên Ngôn Cộng Sản của hai ông Karl Marx (1818-1883) và Friedrich Engels (1820-1895) được công bố vào năm1848, những từ ngữ được Giáo Hội sử dụng trong sách lựợc này để chụp mũ cho nạn nhân là tà giáo, tà đạo, chống Chúa, lạc đạo, rối đạo, vô thần, phiên lọan, phản nghịch, rối đạo, phá đao, báng bổ thần thánh, phù thủy, v.v... Từ năm 1848, Giáo Hội lại có thêm  một số từ ngữ mới nữa là "cộng sản" và "cộng sản nằm vùng", "quân khủng bố", "vi phạm nhân quyền", để chụp lên đầu nạn nhân. Những từ ngữ mới này đang được tín đồ Da-tô người Việt và những người nằm trong hàng ngũ "Chống Cộng Chết Bỏ" sử dụng tối đa để chống lại những người Việt hải ngoại bất đồng chính kiến với họ, đặc biệt là những người không phải là tín đồ Da-tô.

Như vậy, chủ tâm trong hành động “nói láo” hay “ăn không nói có” hoặc “vu oan giá hoạ” của Giáo Hội La Mă chỉ ở vào  hai trường hợp BC trên đây mà thôi. Quan sát  trong bàn nhậu của mấy ông trong hội đồng chuột của người Việt hải ngoại tại các địa phương ở Bắc Mỹ từ năm 1975 đến nay, chúng ta thấy, đặc tính  “nói láo” hay “ăn không nói có” của họ là phát xuất trong cơn bốc đồng hay theo thói quen của bản chất huênh hoang, khoác lác di truyền hay bẩm sinh của họ. Trong khi đó th́ những hành động của Giáo Hội về “nói láo” hay “ăn không nói có” hoặc “vu oan giá hoạ” cho một cá nhân hay một nhóm nạn nhân nào đều được tiến hành theo một kế sách đă được điều nghiên chu đáo và  thi hành một cách đại quy mô và có lớp lang theo một sách lược đă hoạch định sẵn.

Không biết những “người nói láo ở trường  hợp A” trên đây có biết rằng những ǵ họ nói láo trong lúc bốc đồng  vào những  khi tán dóc với nhau th́ sớm muộn người ta cũng nh́n ra tính cách nói láo của họ để rồi coi họ như là một thứ người đại xạo “mười voi không được một bát nước xáo”. Thế nhưng, khác hẳn với loại những người “đại xạo” trên đây, Giáo Hội La Mă biết rơ là sớm muộn người đời cũng biết những ǵ Giáo Hội đă “nói láo” để bịp đời hay “ăn không nói có” hoặc “vu oan giá hoạ” cho nạn nhân. Bởi v́ thế, Giáo Hội mới đưa ra  chủ trương “thần quyền chỉ đạo thế quyền” với mục đích chính là thiết lập “các chính quyền đạo phiệt Da-tô”  để làm phương tiện thi hành ba kế sách (cũng gọi là biện pháp) song hành với nhau  để vừa bịt miệng những kẻ dám phơi bày bộ mặt thật nói láo của Giáo Hội cho thiên hạ biết, vừa làm cho thiên hạ lầm tưởng rằng những ǵ Giáo Hội đă và đang nói đều là sự thật trăm phần trăm cả, vừa làm cho nhân dân dưới quyền mất đi khả năng lư trí, không thể dùng lư trí để phân tách mà nh́n ra những thủ đoạn bịp bợm của Giáo Hội trong những tín lư, giáo luật và lời dạy của Giáo Hội. Ba kế sách đó là:

1.- Sử dụng bạo lực của nhà nước để sát hại và khủng bố tinh thần (1) những kẻ hoài nghi, không tỏ ra tuyệt đối tin tưởng vào những lời nói láo của Giáo Hội, (2) những kẻ cả gan dám nói lên dă tâm thâm độc của Gíao Hội cũng như những tính cách gian dối và lừa bịp trong hệ thống tín lư thần học Kitô. Công cụ của biện pháp này là các Toà Án Dị Giáo (Inquisitions) trong thời Trung Cổ hay các tổ chức mật vụ, công an và cảnh sát trong các chế độ đạo phiệt Da-tô tay sai của Giáo Hội tại các địa phương.

2.- Sử dụng bộ máy tuyền truyền với những văn, thi, nhạc và báo nô chuyên nghiệp, sẵn sàng sản xuất ra những bài viết hay ấn phẩm với những “lời lẽ tốt đẹp”, “hoa ngôn mỹ ngữ” để khoác lên cho Giáo Hội, những “lư luận lươn lẹo” để chạy tội cho Giáo Hội và những bản văn nặng tính cách “vu oan giá hoạ” hay “vu khống” chụp lên đầu (1) những người không tin tưởng vào những điều nói láo của Giáo Hội, (2) những người có những cố gắng phơi bày bộ mặt thật gian dối và bịp bợm của Giáo Hội cho thiên hạ biết, và  (3) đặc biệt là những thành phần mà Giáo Hội không thể dùng các Toà Án Dị Giáo hay bộ máy công an, mật vụ và cảnh sát của các chính quyền đạo phiệt tay sai của Giáo Hội tại các địa phương để trừng trị, v́ họ ở ngoài ṿng kiểm soát của Giáo Hội.

3.- Thi hành kế sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ: Chủ trương của kế sách này là ḱm hăm người dân dưới quyền măi măi ở trong t́nh trạng ngu dốt, không biết sử dụng lư trí khiến cho họ  không c̣n có khả năng lư luận để  nh́n ra dă tâm bịp bợm của Giáo Hội trong  các tín lư Kitô, trong các giáo luật, trong các phép bí tích, trong phép lạ, trong những chuyện Đức Mẹ hiện ra, và trong những lời dạy của Giáo Hội. Một khi đă ở vào t́nh trạng ngu dốt như vậy, nạn nhân sẽ d dàng bị Giáo Hội mê hoặc và sẽ dễ dàng nhắm mắt tuân hành những lời dạy và  những lệnh truyền của Giáo Hội. 

2.- NHỮNG  V̉NG KHOEN  BỊP ĐAN KẾT VÀ TR̉NG TRÉO LÊN NHAU

 Quan sát một sợi dây chuyền, chúng ta sẽ thấy đó là một tập hợp những ṿng khoen có kích thước bằng nhau móc nối liên tiếp với nhau mà tạo thành. Tất nhiên là khi khởi công làm ra những ṿng khoen như vậy, người ta phải làm một cái ṿng khoen gốc hay khởi đầu, rồi sau đó mới làm những ṿng khoen kế tiếp móc nối vào chiếc ṿng khoen gôc này.

 Thứ nhất.- Tín lư bịp đầu tiên:  Tương tự như vậy, hệ thống tín lư Ki-tô của Giáo Hội là một tập hợp những điều bịa đặt móc nối với nhau giống như những ṿng khoen của một chiếc dây chuyền mà ṿng khoen gốc hay khởi đầu là những chuyện hoang đường về ông Chúa Jehovah được coi như là tín lư gốc với hai đặc tính hầu như hoàn toàn trái ngược nhau:

A.- Chúa Jehovah là đấng toàn năng, toàn thiện và có mặt ở khắp mọi nơi.

B.- Chúa Jehovah là tất cả những ǵ hiện thân của đố kị, tị hiềm, ganh ghét, nham hiểm, độc ác, bạo ngược và dă man đúng như đă được diễn tả trong sách Lê Vi Kư (26: 1-43).

Đối với những người có tŕnh độ (chỉ số) thông minh trung b́nh hay cao hơn (chỉ số thông minh từ 90 trở lên) và không bị chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ  của Giáo Hội La Mă làm tê liệt những tế bào lư trí trong năo bộ, (nghĩa là c̣n khả năng vận dụng lư trí để lư luận và phân tách), khi đọc qua những đặc tính A và B trên đây, họ biết ngay ông Chúa Jehovah này chỉ là chuyện hoang đường, một sản phẩm của một cá nhân hay một nhóm người thiếu thông minh bịa đặt ra. Đọc kỹ các nhóm đặc tính trong A và B, chúng ta sẽ thấy những đặc tính trong B hoàn toàn mẫu thuẫn với những đặc tính trong A. Nói một cách khác, những đặc tính trong A loại trừ những đặc tính trong B, và ngược lại. Đă là một nhân vật hay thần linh có những lương tính trong A th́ không thể có những ác tính trong B.

Nhưng đối với những người có tŕnh độ thông minh dưới mức trung b́nh (chỉ số thông minh từ 90 trở xuống) và những người có sở học được tiếp nhận  qua chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ (tế bào lư trí bị làm cho tê liệt, không c̣n khả năng vận dụng lư trí để lư luận và phân tách), th́ không nh́n thấy điều này. V́ vậy mà họ mới tin rằng có ông Chúa Jehovah mà các giáo sĩ  của Giáo Hội thường  rao truyền ở trong các nhà thờ cũng như khi đi và  truyền giáo là hiện hữu (thật sự có).

Các tác giả viết Cựu Ước Kinh là những người chủ mưu bịa đặt ra ông Chúa Jehovah biết rơ rằng những người thông minh th́ cho rằng ông Chúa này là chuyện bịa đặt để bịp đời  và họ cũng biết rằng những người ngu dốt th́ dễ dàng tin rằng thực sự là có ông Chúa này và ngay cả những người có tŕnh độ thông minh trung b́nh cũng tin như vậy nếu bị nhồi sọ.. Cũng v́ thế họ (các tác giả viết Cựu Ước) mới chủ trương thiết lập chế độ đạo phiệt rồi dùng bạo lực của nhà nước để trừng trị những người cho rằng ông Chúa Jehovah là một sản phẩm bịa đặt và cưỡng bách họ phải khuất phục, tin theo những lời rao truyền hay dạy dỗ của Giáo Hội.  Cũng v́ thế mà những người viết Kinh Cưu Ứơc mới  chủ trương chính sách bạo trị, đặt ra “Luật định  cung phụng Chúa”  [Dân Số (31: 28 và 40, 25: 3-5), Xuất Hành (13: 12, 12:28, 22:20)  Phục Luật (6:14, 12: 2-3, 18: 20)], Luật Định Cung Phụng Giáo Sĩ” [Phục Luật (18:3-4)] và “Luật trị người người” [Phục Luật (21: 18-21, 22: 13-21 và 23)]. Ta gọi những thứ luật này là “bạo luật” Sự kiện này chứng tỏ rằng những tác giả viết Cựu Ước có chủ trương  thiết lập một chế độ đạo phiệt để quản lư nhân dân dưới quyền.

Đến đầu thế kỷ th 4, Giáo Hội La Mă mới sử dụng những chuyện hoang đường nói về quyền năng của ông Chúa Jehovah này và chế độ đạo phiệt trên làm cơ sở giống như cái ṿng khoen gốc để  từ đó bịa đặt thêm ra những chuyện hoang đường khác (gọi là tín lư) có liên hệ với ông Chúa Jehovah và những bạo luật khác để khuếch trương cái kỹ nghệ buôn thần bán thánh của Giáo Hội. Ta gọi những chuyện bịa đặt khác (những tín lư do Giáo Hội La Mă bịa đặt ra) là những ṿng khoen tiếp nối trong chiếc dây chuyền (hệ thống) tín lư Ki-tô.

Thứ hai.- Tín lư Chúa Ba Ngôi: Trước khi Hội Nghị Nicaea khởi nhóm vào ngày  20/5/325,  đạo Do Thái (Judaism) và đạo Kitô Do Thái (đạo Jewish  Christianity), đạo gốc của đạo Da-tô, đều không có tín lư Chúa Ba Ngôi. Tín lư Chúa Ba Ngôi quái đản này (một quái thần vừa là Chúa Cha Jehovah vừa là Chúa con Jesus vừa là các thánh thần - holy ghosts)  được Hoàng Đế Constatntine (280-337) cấu kết với giáo chủ Silvester I (314-335) của Giáo Hội Kitô Do Thái  bịa đặt ra.  Đây là thành tích "ăn không nói có" hay chuyện “không nói thành có" (bịa đặt) lần thứ nhất của Giáo Hội La Mă. (Ông Chúa Jehovah không phải do Giáo Hội La Mă  bịa đặt ra, mà là do các tác giả viết Cựu Ước bịa đặt ra vào khoảng trên dưới một ngàn năm trước Khi Giáo Hội La Mă ra đời).

Thứ ba.- Thấy rằng việc bịa đặt ra chuyện Chúa Ba Ngôi là một hành động "ăn không nói có"  bất chính và ghê tởm, Giám-mục Arius thuộc địa phận Alexandria (Ai Cập) và nhiều tu sĩ khác cũng có mặt trong hội nghị này đứng lên phản đối. Những người này bị gán cho (chup mũ) cái tội tà giáo và bị đưổi ra khỏi hội nghị. Đây là thành tích “ăn không nói có" (bịp) thứ nh́ của Giáo Hội La Mă.

Tín lư quái đản Chúa Ba Ngôi này gây nên phong trào chống đối mạnh mẽ trong Đế Quốc La Mă. Những người chống đối  bị chính quyền Đế Quốc La Mă đàn áp và tàn sát thẳng tay. Con số nạn nhân bị tàn sát lên đến 3.000:

"Năm 340, Đế Quốc La Mă tiêu diệt hết các giáo phái Kitô đi ngược lại các giáo điều của Hội Nghị Nicaea do Ḥang Đế Constantine triệu tập vào năm 325 và chính thức đặt tên cho Giáo Hội Kitô  mới của toàn đế quốc là Công Giáo (tiếng  La-tinh là Catholica, tiếng Hy Lạp là Katholicos, có nghĩa là tôn giáo của hoàn câu). Saint Cyril of Jerusalem đă viết như sau: "Tất cả mọi người thờ Chúa đều phải qui tụ trong một hệ thống thiêng liêng đặt dưới quyền cai trị của Giáo Hoàng La Mă. Bất cứ ai không phải là thành viên của Giáo Hội  đều bị vứt bỏ ra khỏi cuộc đời này và điều quan trọng hơn là bị vứt bỏ ra đời sau". (All who worshiped God were united in one sacramental system under the government of the Roman Pontiff. Anyone not a member of the Church must be cast out of this life and more important, out of next).  Đây là một lệnh cưỡng bức toàn dân thuộc đế quốc phải theo đạo Công Giáo. Mọi người chống đối đều bị giết. Riêng những người Kitô thuộc giáo phái Arius (Arian Christians) bị giết trên 3.000 người."[6] 

Đây là thành tích sử dụng bạo lực lần nhất để tàn sát những người bất đồng chính kiến với Giáo Hội.

Thứ tư.- Sau khi bịa đặt ra tín lư "Chúa Ba Ngôi" trong đó có nói đến ông Chúa Con Jesus sau khi chết rồi  sống lại bay lên Trời  ngồi bên phải chỗ ngồi của Chúa Bố Jehovah. (Làm thế nào chứng minh được ông Jesus  sau khi chết đi lại sống lại rôi bay lên trời ? Làm sao chứng minh được sau khi bay lên  tới Trời rồi, ông Jesus ngồi bên phải chỗ ngồi của ông Chúa Bố Jehovah ?) Đây là thành tích bịp thứ ba của Giáo Hội La Mă.

Thứ năm.- Thấy rằng NẾU nói đến Chúa Con bay lên Trời mà không nói đến Thiên Đường, TH̀ không hợp lư. Do đó, năm 426, Giáo Hội lại phải bịa đặt ra một thuyết lư nói về thiên đường để hợp lư hóa chuyện Chúa Con Jesus sống lại và  bay lên trời ngồi bên phải Chúa Bố Jehovah. Đây là thành tích "ăn không nói có" (bịp) thứ của Giáo Hội La Mă.

Thứ sáu.- Sau khi bịa đặt ra tín lư "City of God" (Thiên Đường), Giáo Hội lại nghĩ đến những phương cách bịa đặt ra tín lư Đức Mẹ Đồng Trinh. Đây là giai đoạn tính toán để bịa đặt ra tín lư Đức Mẹ Đồng Trinh. Ở đây chúng ta thấy có những vấn đề: NẾU bảo rằng thân mẫu của ông Jesus là bà Maria không có chồng, không làm t́nh với một người đàn ông nào cả mà vẫn mang bầu và đẻ ra ông Jesus, TH̀ quả thật là không thuận lư (thiếu logic).

Để chuẩn bị sẵn phương cách giải thích cho hợp lư của điều không thuận lư trên đây,  Giáo Hội mới bịa đặt ra một chuyện huyền bí khác: Đó là chuyện thiên thần hiện xuống trần gian đột nhập (lén) vào pḥng ngủ của bà Maria để làm t́nh với Bà Maria.

Làm t́nh theo kiểu này có thể gọi là hiếp dâm v́ bất th́nh ĺnh đột nhập vào pḥng ngủ của bà Maria để làm ẩu, không có giai đọan tán t́nh hay cưới hỏi.

Đây là thành tích bịp  thứ năm của Giáo Hội La Mă.

Thứ bẩy.- Một vấn đề khác nữa là, NẾU nói rằng Thánh Thần ăn nằm với bà Maria khiến cho bà ta mang bầu rồi sinh ra ông Jesus mà không nói đến Bà Maria vẫn c̣n trinh, TH̀ chẳng hoá ra các thánh thần cũng như người phàm, chẳng có ǵ là huyền bí, quyền năng và phép lạ cả. Do đó, Giáo Hội lại phải đặt ra tín lư quyền năng biến hóa của thánh thần (tức là Chúa Bố Jehoavah và cũng là Chúa Con Jesus) hiếp dâm phụ nữ đến mang bầu và đẻ ra Chúa con Jesus mà vẫn c̣n trinh. Đây là thành tích bịp thứ sáu của Giáo Hội La Mă.

Về tín lư Chúa Thánh Thần hiện xuống đột nhập vào pḥng bà Maria làm ẩu  khiến cho bà ta mang bầu và đẻ ra ông Chúa Con Jesus, chúng ta thấy có một vấn đề cần phải được nêu lên:

Các nhà truyền giáo thường giải thích rằng,  tuy nói là Ba Ngôi mà thực ra chỉ có một ông Chúa mà thôi, nghĩa là Chúa Bố Jehovah, Chúa Con Jesus và Chúa Thánh Thần chỉ là một. Như vậy Chúa Thánh Thần cũng là Chúa Con Jesus và cũng là Chúa Bố Jehovah.

Nếu như vậy, chúng ta thấy:

1.- Chúa Thánh Thần cũng là Chúa Con Jesus.

2.- Chúa Thánh thần hiện xuống hiện xuống đột nhập vào pḥng Bà Maria làm ẩu khiến cho Bà Maria mang bầu đẻ ra Chúa Con Jesus.

3.- Kết Luận: Chúa Con Jesus đột nhập vào pḥng Bà Maria làm ẩu khiên cho Bà Maria mang bầu đẻ ra ... chính ḿnh, Chúa Con Jesus.

Điều này mâu thuẫn, hoàn toàn không thể xẩy ra được. Đây là hậu quả của việc nói láo và nói láo thường hay xẩy ra t́nh trạng mâu thuẫn như thế này. Ngoài tính cách mâu thuẫn như vậy, tín lư Chúa Ba Ngôi và tín lư Đức Mẹ Đồng Trinh cho chúng ta thấy cái tính cách loạn luân ở trong đó.

Trên đây chỉ là những tính toán nằm trong thời kỳ chuẩn bị. Sau đó, vào năm 431, Giáo Hội mới cho triệu tập Công Đồng Ephesus để chính thức bịa đặt ra tin lư "Đức Mẹ Đồng Trinh". Nhưng không biết v́ lư do ǵ, tín lư Đức Mẹ Đồng Trinh  lại không được áp dụng liền, và phải đợi đến năm 451 (20 năm sau), Giáo Hội cho triệu tập Công Đồng Chacedon để tái xét rồi mới cho áp dụng.

Thứ tám.- Người viết không biết trong khi điều nghiên hay  khi áp dụng tín lư Đức Mẹ Đồng Trinh, Giáo Hội có nhận thức được rằng  có một sự cực kỳ vô lư ở trong đó. Sự vô lư này được Giáo Hội giải thích rằng vi thánh thần (tức là Chúa Bố Jehovah và Chúa Con Jesus) có phép lạ làm cho bà Maria mang bầu và sinh ra ông Jesus mà vẫn c̣n trinh. Giải thích như vậy, có nghĩa là, bằng một phép lạ, “con cá lóc” của Chúa Thiên Thần chui vào trong “cái giếng thanh tân” để c̣ cưa và phóng ra “đàn cá thồng rồng” vẫy vùng ở trong đó. Rồi một trong những con “cá thồng rồng” này kết hợp một trong những cái trứng của Bà Maria và trở thành thai nhi Jesus, rồi lại cũng bằng một phép lạ từ trong tử cung của bà ta chui ra cho nên cái màng trinh của bà ta mới không bị rách toang ra như những các bà mẹ b́nh thường. Đây là thành tích "ăn không nói có" (bịp) thứ bảy của Giáo Hội La Mă.

Thứ chín.-Cứ coi như cái luận cứ quái đản trên đây đă được chấp nhận. Vậy th́ Giáo Hội phải giải thích như thế nào cho hợp lư về “vai tṛ người chồng” của ông thợ mộc Joseph đă ặn ở với Bà Maria  và đă có tới ít nhất là  sáu người con mà vẫn c̣n trinh? Sự kiện ông Joseph ăn ở với bà Maria có tới ít nhất là sáu người con đều được sách sử ghi lại rơ ràng:

Bốn người anh em và nhiều chị em gái của ông Jesus đều được nói đến ở trong kinh sách của ông Mark 6.  (Không có căn bản nào trong bản văn này nói rằng những người anh chị em này là những người cùng cha khác mẹ hay là anh em con chú con bác đối với ông Jesus, và làm như vậy là phản lại động cơ giáo điều chủ nghĩa.) Tất cả các danh tính bà con của ông Jesus chứng tỏ rơ ràng cái tính chất thuần túy Do Thái của gia đ́nh ông ta. Tên mẹ của ông Jesus là Mary (Miriam) , tên bố ông ta là Joseph, và tên các người em của ông ta là James (Jacob), Judas và Simon (tên của những của những ông già đáng kính trong Cựu Ước) ”.   ["Four of Jesus' brothers and several sisters are mentioned in Mark 6.  (There is no basis in the text for making them into half brothers and half sisters or cousins, and to do so betrays a dogmatic motive.) All his relatives' names testify the purely Jewish character of the family: his mother's name was Mary (miriam), his father's, Joseph, and his brothers', James (Jacob), Judas, and Simon (names of Old Testament patriarchs)"[7]

Cuối cùng, chúng ta thấy Giáo Hội đưa ra luận điệu phủ nhận (có nói thành không) vai tṛ ông Joseph là người chồng thực sự của bà Maria và phủ nhận luôn cả đàn con của bà ta. Sau đó, Giáo Hội lại dùng thủ đoạn lừa bịp dạy dỗ cho tín đồ rằng những người anh em của ông Jesus ghi trong thánh kinh và các sách sử chỉ là anh em con chú con bác của ông Jesus. Đây là một lối (phương cách) giải thích "lươn lẹo" hoặc "căi cuội" (cái bựa, cái cối, căi chày) để chạy tội  “bịp” hay "ăn không nói có" hoặc "nói láo" để che đậy sự thực về đời sống gia đ́nh và t́nh cảm của bà Maria đối với người chồng là ông Joseph và đàn con thân thương của bà ta.  Đây là thành tích  “bịp” thứ tám của Giáo Hội La Mă.

Cái lối giải thích lươn lẹo  (căi cuội, căi bựa, căi cối căi chày) như vậy sau này cũng được giới tu sĩ và tín đồ Da-tô người Việt triệt để áp dụng trong việc:

1.- Phủ nhận và chạy tội  cho Giáo Hội La Mă về vai tṛ chủ động và ba (3) lần thuyết phục chính quyền nước Pháp xuất quân đánh chiếm và thống trị Việt Nam.

2.- Phủ nhận những họat động gián điệp của các nhà truyền giáo Da-tô tại Việt Nam,

3.- Phủ nhận những họat động tiếp tay cho liên quân xâm lăng Pháp - Vatican của tín đồ Da-tô người Việt trong suốt chiều dài lịch sử từ giữa thập niên 1780 (thời điểm Giám-mục Pigneau de Béhaine - Bá Đa Lộc - vận động  xin quân viện cho Nguyễn Ánh chống lại nhà Tây Sơn) cho đến ngày 30/4/1975,

4.- Phủ nhận việc Giáo Hội La Mă cho người dẫn ông Ngô Đ́nh Diệm sang Hoa Kỳ vào cuối tháng 9 năm 1950 trao cho Hồng Y Francis Spellman lo việc chạy chọt với các nhân vật có thế lực trên sân khấu chinh trị Hoa Kỳ để đưa ông Diệm về Việt Nam cầm quyền.

5.- Phủ nhận những việc làm tội ác của chế độ đạo phiệt Da-tô Ngô Đ́nh Diệm và băng đảng Cần Lao Công Giáo qua những hành động chống lại nhân dân và tổ quốc Việt Nam trong những năm 1954-1963.

Ai cũng biết rằng chỉ có những hạng người cực kỳ ngu dốt hay tín đồ Da-tô cuồng tín của Giáo Hội mới nhắm mắt tin  theo những tín lư Kitô đầy tính chất láo khóet như trên. C̣n những người b́nh thường với tŕnh độ thông minh trung b́nh, khi nghe nói đến những tín lư Ki-tô quái đản này, đều cảm thấy không ổn..Biết rơ nhu vậy, cho nên Giáo Hội mới nghĩ đến phương cách giải thích ṿng vo và lươn lẹo để biện minh cho tính cách láo khóet và bất minh  của những tín lư Ki-tô quái đản này.

Thứ 10.- Cho rằng làm như vậy cũng không ăn chắc, Giáo Hội lại bắt chước đạo Do Thái, đặt ra lư thuyết "thần quyền chỉ đạo thế quyền" (thêm một ṿng khoen bịp hay ăn không nói có) để biện minh cho việc thiết lập các chế độ đạo phiệt Da-tô tại các địa phương làm tay sai cho Giáo Hội,  hầu có thể sử dụng bạo lực của nhà nước để th́ hành ba kế sách như nói ở trên.

Thấy rằng cái ṃi làm ăn theo  cái mửng "bịa đặt" này không những thuận lợi cho việc tóm thâu quyền lực chính trị vào trong tay mà c̣n tăng cường thêm khả năng móc túi tín đồ một cách ngon lành, cho nên càng về sau, Giáo Hội lại càng cố gắng nặn óc t́m cách bịa đặt thêm nhiều tín lư khác cũng không kém phần quái đản nếu so với tín lư Chúa Ba Ngôi và tín lư Đức Mẹ Đồng Trinh. Một số những tín lư  quái đản này đă được tŕnh bày ở Chương 4 và ở trong tiểu mục độc kế 4 trong sách Khi Nhà Văn Lạm Bàn Lịch Sử (đă được đưa lên www.sachhiem.net ). 

Tiếp theo những ṿng khoen bịp và lươn lẹo phủ nhận vai tṛ ông thợ mộc Joseph là chồng của bà Maria, phủ nhận đàn con của bà Maria, Giáo Hội lại tính đến chuyện phải cố gắng tối đa trong việc nhồi sọ cho tín đồ để cho họ không đọc những  sách sử nói về mối quan hệ gia đ́nh ông Jesus, không đọc những tư tưởng tiến bộ của các đại tư tưởng gia như Voltaire, Jean Jacques Rousseau, Diderot, Montesquieu, Victor Hugo, Lamartine, cùng những tác phẩm của những tín đồ Da-tô "lac đạo" như Linh-mục Peter de Rosa, James Kavanaugh,  Joseph McCabe,  Martin Malachi, Giordano Brino, John Huss,  Martin Luther, Thomas Pain, Bertrand Russel, Trần Tam Tỉnh, hay các học giả như John Calvin, Charlie Nguyễn, Lư Chánh Trung, Bác-sĩ Nguyễn Văn Thọ,  v.v…. Đặc biệt là Giáo Hội c̣n ra lệnh nghiêm cấm, không cho dạy toàn bộ môn  lịch sử thế giới tại những trường học nằm dưới quyền kiểm soát của Giáo Hội hoặc nằm dưới ách thống trị của các chính quyền liên minh với Giáo Hội  hay các chế độ đạo phiệt tay sai của Giáo Hội tại các địa phương. Việt Nam trong những năm 1885-1954 và miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975 ở vào trường hợp này.

Đến đây, chúng ta thấy cái quy luật "tội ác sinh ra tội ác và sinh sản theo cấp số  cộng hay cấp số nhân" quả thật là có giá trị gần như là tuyệt đối. Sự kiện này cũng được học giả Da-tô Phan Đ́nh Diệm ghi nhận trong bài viết "Những Lời Bàn" về "Mea Culpa Bài 3" (Giáo Hội Công Giáo Roma La-tinh Cáo Thú Tội Lỗi Ngàn Năm vào ngày Chủ Nhật 12/3/200) với nguyên văn như sau:

LỜI TÁM: Trong 7 Chương tội mà Giáo Hội Công Giáo Roma La-tinh cáo thú, có nhiều tội danh phải kể là "vượt tội" mang cấp số cộng hay cấp số nhân. Ví dụ: Giáo Hội phạm tội A, muốn giấu kín và bưng bít tội A, Giáo Hội nhắm mắt phạm thêm tội B để bảo vệ tính bí nhiệm của tội A. Giáo Hội bị cuốn hút vào quy luật đổ giây chuyền của những con bài dominos, Giáo Hội phạm thêm tội C để bảo vệ các tội A và tội B... Thử tưởng tượng từ ngày Giám-mục Pierre Cauchon (đồng âm với con heo) thiêu sống Bà thánh Jeanne d' Arc, cho đến ngày Bà được phong thánh là hơn 400 năm, các ṭa giảng của Giáo Hội trên khắp cơi Âu Châu phải ăn gian nói dối và vu oan giá họa cho Bà bao nhiêu lần? Giết Bà cũng một tay Giáo Hội, phong thánh cho Bà cũng một tay Giáo Hội, nhưng có mấy ai được may mắn như Bà. Hầu hết các trọng tội mà Giáo Hội phạm tại các "Ṭa  Điều Tra Dị Giáo" là tội đẻ ra tội theo cấp số cộng và cấp số nhân." [[8]

3.- THÓI QUEN TIẾM DANH THIÊN CHÚA

Suốt trong chiều lịch sử từ năm 325 cho đến ngày nay, khi làm bất kỳ việc lưu manh hay đại gian đại ác nào, Giáo Hội cũng nói là "làm cho Thiên Chúa, làm v́ Thiên Chúa và bởi Thiên Chúa mà làm". Dưới đây là những bằng chứng:

Khi phát động các Cuộc Chiến Thập Tự (khởi đầu vàn năm 1096 kéo dài đến năm 1291), Giáo Hội cũng nhân danh Thiên Chúa đem quân đi tàn phá và tàn sát không biết bao nhiệu triệu tín đồ Do Thái Giáo, Hồi Giáo, Chính Thống Giáo ở vùng Trung Đông và tín đồ của hệ phái Cathari ở miền Nam nước Pháp.

Khi chính thức cho thiết lập các Ṭa Án Dị Giáo vào năm 1252, Giáo Hội cũng nhân danh Thiên Chúa sát hại cả gần trăm triệu nạn nhân trong suốt thời kỳ từ năm đó cho đến mấy thập kỷ đầu của thế kỷ 19.

In 1252, Pope Innocent IV (1243-1254) issued the decretal Ad extirpanda, which classifed heretics as thieves of spiritual things and murderers of the soul, and he authoirzed secular courts in Italy to employ judicial torture in order to secure confessions in heresy trials, just as they already could  in other criminal cases.” [9] 

Khi ra lệnh cho giáo dân phải cưỡng bách hay chèn ép những người muốn thành hôn với con em của họ phải làm lễ rửa tội theo đạo rồi mới tiến hành lễ thành hôn, Giáo Hội cũng nói láo với họ rằng đó là "v́ Chúa mà làm" và "làm để mở mang nước Chúa".

Khi ban hành các thánh lệnh ăn cướp vào thế kỷ 15 như đă tŕnh bày ở Chương 4, Giáo Hội cũng nhân danh Thiên Chúa  ban đặc quyền cho Bồ Đào Nha và Tây đem quân đến các quốc gia ở ngoài lục địa Âu Châu để đánh cướp đất nước của người ta, chiếm đọat tài nguyên, tàn sát đàn ông, hăm hiếp đàn bà con gái, hủy diệt các nền văn hóa bản địa và cưỡng bách những người c̣n sống sót phải theo đạo làm nô lệ cho Giáo Hội.

Khi bọn giáo sĩ Da-tô đến kinh thành Paris thi hành sứ mạng Tô Tần, họ cũng nhân danh Thiên Chúa để thuyết phục chính quyền Pháp xuất quân đánh chiếm và thống trị Việt Nam để "mở mang nước Chúa".

Nói về tính cách và mức độ tàn ác của các đạo quân thập tự viễn chinh của Giáo Hội hay những đạo quân thập tự liên minh với Giáo Hội như Liên Quân Tây Ban Nha –Vatican., Liên Quân Pháp – Vatican, Liên Quân Mỹ - Vatican v.v…,độc giả cứ xem những h́nh ảnh một số quân lính Hoa Kỳ hành hạ và hăm hiếp người dân và phụ nữ ở Abu Ghraib được đưa ra trước ánh sáng công luận quốc tế qua các cơ quan truyền thông trong những ngày đầu tháng 5 năm 2004, th́ sẽ mường tượng ra thảm cảnh của người dân trong các quốc gia nạn nhân của Giáo Hội bị các đạo quân thập tự Âu Châu xâm lăng và quân thập tự địa phương hành hạ dă man đến như thế nào! Là một trong thành phần trong một  gia đ́nh nạn nhân ở xă Tô Công, tỉnh Thái B́nh (Liên Khu 3) trong thời Kháng Chiến 1945-1954, người viết xin long trọng khẳng định rằng mức độ hăm hiếp phụ nữ cũng như hành hạ nạn nhân và cướp đoạt của cải của liên quân Pháp– Vatican và quân thập tự Viêt Nam ở những nơi bị chúng tấn công c̣n ghê gớm gấp bội phần. Sự kiện này cũng được tác giả Trần B́nh Nam xác nhận  trong bài viết có tựa đề là “Một Thế Giới Nhiễu Nhương” đề ngày 13 tháng 5 năm 2004 trong đó có một đọan với nguyên văn như sau:

"Những vụ bạo hành và giết chóc xẩy ra nhiều nơi trên thế giới, nhưng không có một quốc gia nào mà khi sự việc được phanh phui, dân chúng và chính quyền đă phản ứng một cách quyết liệt như tại Hoa Kỳ. Trong cuộc chiến tranh tái chiếm Việt Nam từ năm 1946 đến năm 1954, quân đội Pháp đă có những hành động giết chóc và tàn bạo không khác vụ Mỹ Lai hay Abu Ghraib, nhưng các giới chức cao cấp truyền thông của Pháp đă đồng lơa giấu nhẹm." [10]

Là chứng nhân và cũng là nạn nhân của liên quân Pháp-Vatican và của những toán lính đạo của xóm đạo Trại Táo  (Phụ Dực, Thái B́nh) và làng đạo Ninh Cù (Thụy Anh, Thái B́nh) trong những năm 1950-1953, người viết nhận thấy trong cuộc chiến 1946-1954, bọn lính Âu Châu và Bắc Phi trong liên quân Pháp -Vatican dă man một phần th́ những lính đạo Da-tô người Việt trong hàng ngũ giặc dă man gấp mười (10) lần. Một số trong những hành động cực kỳ dă man này đă được chúng tôi tŕnh bày khá đầy đủ trong Mục XV, Phần IV ở trên và  trong Chương 5 của sách Nói Chuyện Với Việt Nam Cộng Ḥa Foundation (Houston, TX: Đa Nguyên, 2004).  Đó cũng là bằng chứng hùng hồn nói lên những sự thật ghê tởm của quân lính thập tự của Giáo Hội ở bất kỳ nơi nào vào bất kỳ thời điểm nào.

Đúng là "giang sơn dễ đổi, bản chât khó chừa”. Cái bản chất dă man của Giáo Hội La Mă là như vậy. Nó đă như thế từ ngàn xưa, và cho đến ngàn năm sau, nó cũng sẽ như vậy. Cái bản chất dă man này sẽ bám chặt lấy thân xác Giáo Hội La Mă cho đến ngày nào cái "Giáo Hội khốn nạn"  này không c̣n nữa.

Không có một việc làm lưu manh nào mà Giáo Hội không lôi Thiên Chúa ra làm bung xung để ḷe bịp thiên hạ. Thật là khốn nạn đến cùng độ của khốn nạn! Trong thực tế, ông Thiên Chúa  này chỉ là sản phẩm tưởng tượng của bọn lưu manh buôn thần bán thánh đội lốt thày tu người Do Thái bịa đặt ra vào cái thời bán khai với mục đích dùng ông ta (Thiên Chúa) làm con ngáo ộp để hù dọa người đời khiến cho những người yếu bóng vía và những phường ngu dốt khiếp sợ phải đem của lễ đến dâng cúng cho chúng hưởng thụ. Thấy rằng cái mửng làm ăn kiểu này có thể củng cố quyền lực và kiếm tiền dế dàng, Giáo Hội La Mă liền chộp lấy dùng làm cốt lơi để khai triển, biến nó thành một hệ thống tín lư bịp bợm, xoay quanh cái quyền năng của Thiên Chúa (vốn đă được bọn tu sĩ lưu manh Do Thái bịa đặt ra trước đó), rồi theo thời gian, Giáo Hội đặt thêm ra  cả hàng ngàn tín lư bịp bợm khác và hàng ngàn thứ giáo luật lưu manh để vừa lừa bịp vừa cưỡng bách tín đồ phải tin theo và phải tuân hành. Có như vậy th́ Giáo Hội mới có thể vừa củng cố được quyền lực, vừa móc túi tín đồ và thu vơ được những khối tiền bạc không lồ chất chứa trong “kho bạc của Chúa” như ngày nay.

Vốn đă biết rơ là  "KHÔNG CÓ" ông Thiên Chúa nào cả, Giáo Hội cũng vẫn cứ nằng nặc bảo rằng "CÓ". Ai không tin th́  lập tức bị gán cho cái tội "tà giáo", "chống Chúa" và "vô thần". Những người bị gán tội này,  NẾU nằm dưới quyền thống trị trực tiếp của Giáo Hội hay chế độ đạo phiệt tay sai, TH̀ nạn nhân hoặc là bị tóm cổ, giao cho Ṭa Án Dị Giáo xử lư bằng cách đem trói vào một cái cọc, chụm củi và thiêu sống (như trường hợp bà Jeanne d’ Arc vào năm 1431), hoặc là bị mật vụ theo dơi, bị tóm cổ, rồi bị thủ tiêu, giống như những nạn nhân bị chế độ đạo phiệt Da-tô Ngô Đ́nh Diệm thủ tiêu mà chúng tôi tŕnh bày ở nơi Chương 5 trong cuốn “Nói Chuyện Với Việt Nam Cộng Ḥa Foudation” (Houston, TX:  Đa Nguyên, 2004).

Rút cục, chỉ c̣n có những hạng người ngu dốt với chỉ số thông minh dưới mức trung b́nh (IQ bằng hay nhỏ hơn 90) th́ mới tin rằng có một ông Thiên Chúa như Giáo Hội tuyên xưng và rao truyền. Giáo Hội cũng biết rơ như vậy, cho nên  Giáo Hội mới  chủ trương cho thi hành chính sách ngu dân  để ḱm hăm tín đồ và nhân dân dưới quyền măi măi ở trong t́nh trạng ngu dốt và nhồi nhét vào đầu óc họ những bài học do chính Giáo Hội  điều nghiên và biên soạn. Dưới đây là một vài bài học điển h́nh đă được Giáo Hội biên soạn sẵn cho các ông tu sĩ Da-tô cứ theo đó mà rao giảng:

1.- Bài học thứ nhất  được tóm lược đại khái như thế này: “Thiên Chúa sinh ra vũ trụ và muôn loài và giao trách nhiệm cho Giáo Hội xử lư muôn loài muôn vật ở trên trái đất này. Trách nhiệm của Giáo Hội đới với Thiên Chúa là phải dạy dỗ  cho mọi người ở trong cơi nhân gian này biết rằng mọi thứ ở trên cơi đời này đều do Thiên Chúa an bài, và tất cả những ǵ ḿnh có được đều do Thiên Chúa ban cho cả. Do đó, bổn phẩn của con người là luôn luôn phải tỏ ḷng biết ơn Thiên Chúa và thờ phượng Thiên Chúa (theo phương cách của Giáo Hội dạy dỗ). Nếu không nghe lời dạy dỗ của Giáo Hội th́ sẽ bị Thiên Chúa trừng phạt và đày xuống hoả ngục đời đời.”

2.- Bài học thứ nh́ đại lược là, “Muốn tỏ ḷng biết ơn và thờ phượng Thiên Chúa đúng như lời Giáo Hội dạy dỗ th́ phải học thuộc ḷng những bài kinh cầu do Giáo Hội biên soạn, mỗi tuần ít nhất một lần phải mang theo của lễ bằng tiền mặt (càng hậu hĩ càng tốt) đến nhà thờ dâng cúng và dự lễ do viên linh mục sở tại chủ tế. Ngoài ra, trong ngày, bất kể là lúc nào, ngay từ khi vừa mới thức dậy vào lúc sớm tinh sương, khi bắt đầu uống cà phê ăn sáng, khi di chuyển, lúc ăn cơm trưa và cơm chiều, khi lên giường ngủ và cả khi thức giấc vào giữa đêm khuya, cũng phải nhớ đến Thiên Chúa  mà cầu khấn để tỏ ḷng biết ơn Ngài. Có điều ǵ trăn trở hay bức xúc th́ phải đến gặp t́m Cha sở để giăi bày tâm sự Cha tức là tâm sự với Thiên Chúa.”

Hai bài học trên đây nói lên cái thực trạng về thói quen trong nếp sống hàng ngày của tín đồ Da-tô “ngoan đạo” người Việt từ mấy thế kỷ nay. Thực trạng này được nhà văn Da-tô Nguyễn Ngọc Ngạn ghi lại trong cuốn Xóm Đạo với nguyên văn như sau:

“Từ thuở chưa có trí khôn, cũng giống như bao nhiêu người Công Giáo khác, anh (Thông) đă được nuôi dưỡng trong bầu không khí thượng tôn tín ngưỡng, bằng những giáo điều bất di bất dịch, theo thời gian ngấm dần vào trí óc anh, khiến anh làm cái ǵ cũng sợ tội, sợ Chúa trừng phạt.” [11]

“Toàn trại này, dường như ai cũng sùng đạo như nhau, và sự sùng đạo ấy được thể hiện qua việc cầu nguyện và đi lễ. Buổi sáng, năm giờ chuông đổ lần thứ nhất, họ đă lục tục đánh thức cả nhà cùng dậy. Việc đầu tiên khi chưa bước chân xuống đất, là phải làm dấu thánh giá và đọc vài kinh nhật tụng. Sau đó, đánh răng rửa mặt, thay quần áo đi lễ. Trên đường đến nhà thờ, họ không bỏ phí th́ giờ, lấy tràng hạt ra vừa lần chuỗi vừa cầu xin. Vào nhà thờ đọc kinh chung cả tiếng đồng hồ rồi mới tham dự thánh lễ mà dường như vẫn chưa thấy đủ, họ c̣n qú nán lại đọc kinh thêm cho đến lúc tới giờ đi làm. Buổi trưa, đúng giờ ngọ, chuông nhà thờ lại cất lên, nhắc họ dù đang làm ǵ, dù đang ở đâu, cũng phải tạm ngưng tay để làm dấu thánh giá và cầu nguyện. Tối về, cơm  nước xong lại vội vă đến nhà thờ. Và khoảng 9 giờ tối, trước khi đi ngủ, mọi gia đ́nh đều tụ tập trước bàn thờ để đọc thêm một loạt kinh nữa trước khi lên giường! Nói chung, một ngày không biết bao nhiêu lần nhớ đến Chúa. Ăn củ khoai cũng làm dấu thánh giá. Nửa đêm mất ngủ cũng ngồi lên lần tràng hạt! Vui cũng cám ơn Chúa, mà buồn cũng coi là thánh giá Chúa trao cho ḿnh gánh vác! Niềm tin mănh liệt như thế, cho nên chẳng lạ ǵ….” [12]

Bài học thứ ba đại lược là, “Giáo Hội là đại diện duy nhất của Thiến Chúa ở  trên trái đất này, và Cha sở tại địa phương vừa là đại diện của Giáo Hội, vừa là đại diện cho Thiên Chúa ở trong họ đạo. Cho nên những ǵ Giáo Hội và Cha nói, làm, và ra lệnh đều là vâng lời Chúa mà nói, mà làm, và ra lênh để theo ư Chúa, chứ không là ư riêng của Giáo Hội hay của các Cha ! Tất cả các con chiên ngoan đạo phải vâng lời và tuân phục tất cả những lời dạy và lệnh truyền của Giáo Hội và của các Cha. Khẩu hiệu “Nhất Chúa, nh́ Cha, thứ ba Ngô Tổng Thống.”  được nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn ghi lại nơi các trang 18 và 37 trong cuốn Xóm Đạo nói lên thực trạng này. Nếu không nghe lời hay nghi ngờ những lời dạy và lệnh truyền của Giáo Hội và các Cha là mang tội chống Thiên Chúa v́ Giáo Hội và Cha  đều là đại diện của Thiên Chúa. Nếu Giáo Hội và các Cha có làm ǵ  sai quấy th́ đă có Thiên Chúa phán xét. Là con chiên ngoan, giáo dân không được phép nghi ngờ hay nói những lời bất kính đối với Giáo Hội và các Cha.”

Người viết tóm lược ba bài học trên đây là dựa theo kinh nghiệm nhiều năm sống trong họ đạo Dốc Mơ (Long Khánh) cùng với nhiều năm sống chung với những giáo dân ngoan đạo và qua sự t́m hiểu các sách sử nói về Giáo Hội La Mă. Nếu có điều ǵ không đúng, mong quư vị  trí thức trong đạo Da-tô, đặc biệt các ông tu sĩ và những tín đồ Da-tô được gọi là trí thức chỉ cho biết.

Qua những phần tŕnh bày trên đây, chúng ta thấy rằng Giáo Hội La Mă và giới tu sĩ Da-tô  chiếm giải quán quân về lưu manh, thâm độc, và là những tay cự phách trong kỹ thuật lừa bịp, ăn gian nói dối, lắt léo và lươn lẹo.

Nói về giới tu sĩ của Giáo Hội trong vấn đề này, học giả Lucien Vinet tóm lược trong một câu văn gọn gàng như sau:

“Giới tu sĩ Da-tô  biết rơ sự độc ác của Giáo Hội La Mă mà họ vẫn bám chặt lấy để hưởng lợi. Họ thực sự là quân phản Chúa. Nguyên vănThe real traitor,” says Lucien Vinet,” is the Roman priest who knows the wickdness of  and yet clingsto it for material gain.”[13]

Nói  về giới tu sĩ, các chính trị gia và các ông trí thức Da-tô, ông Charlie Nguyễn nhận xét như sau:

Chúng ta  nên phân biệt hai loại người đối tượng: Loại người thứ nhất là các tu sĩ Công Giáo và tập thể chính trị gia, trí thức Công Giáo lưu manh, là bọn xưa nay chỉ v́ tư lợi  mà gây ra rất nhiều tội ác chống lại nhân loại và dân tộc. Đối với loại người này, chúng ta phải xác định họ là kẻ thù nguy hiểm và chúng ta phải cần đấu tranh diệt trừ không thể khoan nhượng. Đứng đầu bọn này phải kể đến Hội Đồng Giám Mục, những ḍng tu đang biến đức tin Công Giáo thành một món hàng béo bở để tận dụng khai thác làm giầu như ḍng tu Đồng Công ở Missouiri. Kế đến là bọn chính trị lưu manh đang ẩn núp trong các đoàn thể ở nhà thờ như Hiệp Sĩ Đoàn. Vào một lúc nào đó thuận tiện, chúng sẽ mau chóng biến thành những đoàn quân vơ trang hoặc những đoàn quân mật vụ hiếu sát như những đoàn thể của Linh-mục Hoàng Quỳnh, Lê Hữu Từ, Le Roy hoặc Trần Kim Tuyến. Loại người thứ hai là tuyệt đại đa số giáo dân, những người mải lo làm ăn, vô tư chất phác, họ chỉ v́ thiếu hiểu biết đă bị các tu sĩ và trí thức lưu manh lừa gạt kích động, xô đẩy vào những hoạt động phá hoại đất nước mà họ vô t́nh không biết.”[14] 

Tuyệt đại đa số giáo dân tŕnh độ tâm linh quá thấp đâu có ngờ khi họ xếp hàng đi xưng tội, chính họ c̣n ít tội hơn kẻ ngồi ở phía sau ṭa giải tội.

Hầu hết các tu sĩ (Da-tô) là những kẻ đại gian đại ác ngụy trang dưới những lớp áo đen, áo đỏ, áo trắng đóng vai đạo đức giả để phỉnh gạt tín đồ. Bề ngoài, họ làm ra vẻ thuận thảo với nhau, thật sự bên trong nội bộ, họ ganh tị tranh đua nhau và sẵn sàng hạ thủ nhau để tranh quyền đoạt thế. Họ dùng đủ mọi thủ đoạn để ḅn rút tiền bạc xương máu của giáo dân, để xây nhà thờ nguy nga đồ sộ chỉ cốt để họ được vênh vang với đời. Mái nhà thờ của họ càng rộng lớn bao nhiêu càng che khuất ánh sáng mặt trời chân lư bấy nhiêu. Các bức tường của nhà thờ càng cao bao nhiêu càng ngăn cách giữa con người với nhau bấy nhiêu. Giáo sĩ là những con kư sinh trùng vừa ăn bám, vừa phá hoại xă hội. Họ tội lỗi cùng ḿnh lại nắm quyền tha tội cho đám tín đồ ít tội lỗi hơn họ. Họ thực sự là một bọn cướp nguy hiểm hơn bọn cướp thường v́ những kẻ cướp thường đều bị luật pháp trừng trị. Trái lại, bọn cướp đội lốt giáo sĩ lại được giáo dân tôn kính, đi lại tự do vênh váo và được xă hội tâng bốc là “những vị lănh đạo tinh thần.” Tất cả các tệ nạn này đều xuất phát từ sự thiếu hiểu biết của đại đa số giáo dân. Do vậy, việc giáo dục khai sáng tâm linh là vô cùng cần thiết để cứu nước  và bảo vệ nền văn hóa nhân bản rất cao đẹp của dân tộc ta mà tuyệt đại đa số giáo dân không hề biết tới.” [15] 

(Trong Phần VI, chúng tôi sẽ dành ra ,một chương sách để ghi lại những lời của các danh nhân trên thế giới lên án về những việc làm tội ác của Giáo Hội La Mă và một chương sách ghi lại những lời lên án và khinh rẻ giối tu sĩ Da-tô.)

Gian dối đẻ ra gian dối. Quen mui thấy mùi ăn măi. Gian dối một lần mà chót lọt rồi th́ lại tiếp tục gian dối nữa và cứ thế mà gian dối hoài hoài. Gian dối hoài hoài sẽ trở thành thói quen. Thói quen được lập lại nhiều lần và được sử dụng lâu ngày sẽ trở thành bản chất. Khởi đầu Giáo Hội củng cố quyền lực và kiếm tiền bằng gian dối. Theo quy luật gian dối đẻ ra gian dối trên đây, Giáo Hội càng ngày càng trở nên một tổ chức chuyên nghiệp về gian dối. Cũng v́ thế mà chúng ta không lấy ǵ làm ngạc nhiên khi thấy Giáo Hội La Mă và các Ngài "mang chức thánh" của Giáo Hội "nói dối như cuội". Đây là nguyên nhân TẠI SAO các nhà viết sử lại cho rằng "Phần đông các sử gia cho rằng những chuyện của các giáo sĩ thuật lại là những chuyện hoang đường."[16]  

Kinh nghiệm cho thấy rằng trong xă hội loài người, có nhiều người mắc chứng bệnh "ăn gian nói đối", nếu "không ăn gian nói dối", th́ họ ăn không ngon, ngủ không yên. Lại cũng có nhiều người có quyền thế mang chứng bệnh ưa thích sử dụng bạo lực để cưỡng bức những người bất đồng chính kiến phải đồng ư với họ, phải hành động theo ư họ, và khủng bố những ai không chịu khuất phục. Trong lịch sử, Giáo Hội La Mă  mang cả hai chứng bệnh quái đản  trên đây. Người viết xin khẳng định như vây. Nếu không đúng, xin Giáo Hoàng Benedict XVI, các Ngài mang chức thánh trong hệ thống quyền lực của Giáo Hội và quư vị tín đồ Da-tô  người Việt có học vị đại học hay tự coi là trí thức hăy lên tiếng, viết bài phản bác lời khẳng định trên đây của người viết. Mong lắm thay!.

Nếu các ngài im lặng, không lên tiếng, có nghĩa là các ngài đồng ư với lời khẳng định trên đây của người viết. Nói cho rơ hơn, các ngài đă đồng ư với chúng tôi rằng "Đạo Kitô La Mă là đạo bịp và đạo của bạo lực".

Người Việt Nam ta có câu, "cái kim gói kín trong giẻ lâu ngày cũng ḷi ra". Những  hành động gian dối lừa bịp người đời dù cho được bưng bít và che giấu tinh vi đến đâu đi nữa,  sớm muộn rồi cũng ḷi ra trước ánh sáng công luận. Biết rơ là như vậy, cho nên Giáo Hội mới đưa ra chủ trương "thần quyền chỉ đạo thế quyền" để tiếm đọat quyền lực chính trị (đă được nói rơ ở Chương 4) thiết lập các chế độ đạo phiệt Gia-tô hầu có thể  dùng cả  bạo lực  của nhà nước để th́ hành cả ba chính sách mà chúng tôi đă tŕnh bày ở trên. Một trong ba chính sách này là: “Dùng bạo lực của nhà nước để bịt miệng những người dám nói lên những việc làm gian dối và những hành động đại gian đại ác của Giáo Hội trong lịch sử cũng như trong hiện tại.” Phương cách thông thường nhất mà Giáo Hội thường sử dụng là:

A.- Chụp cho họ cái mũ  "chống Chúa" và "tà giáo" hay bất cứ tội ác ǵ mà người đường thời đang thù ghét.

B.- Làm cho tín đồ Da-tô "ngoan đạo" (vốn đă bị làm cho ngu xuẩn v́ chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ của Giáo Hội) tin rằng:

1.- Những nạn nhân bị Giáo Hội chụp mũ như trên là một hạng người tội lơi, xấu xa, đáng khinh bỉ,

 2.- Những ǵ do các nhà viết sử chân chính nói về tội ác của Giáo Hội đều là “phịa” cả,  không đáng tin.

Kinh nghiệm lịch sử cho thấy rằng, NẾU ở nơi nào Giáo Hội không c̣n khả năng trừng phạt  hay bịt miệng những người bị gán cho tội "chống chúa", "tà giáo", "vô thần" hay "Cộng Sản" hoặc "Cộng Sản nằm vùng", TH̀ nhân dân ở nơi đó sẽ nổi lên đạp đổ Giáo Hội và các chế độ đạo phiệt tay sai, sẽ hốt hết các đống rác thuyết lư thần học bịp bợm của Giáo Hội đem vào nhà máy kỹ nghệ chế biến thành phân bón cung ứng cho nhà nông trồng mùa.

Đây là trường hợp ở nước Anh đă xẩy ra vào giữa thập niên 1530, rồi sau đó vào năm1691, quốc gia này lại ban hành một đạo luật cấm không cho người Anh mà là tín đồ Da-tô của Giáo Hội được lên cầm quyền. Các sách sử được dùng sách giáo khoa tại các trường trung học và đại học ỏ các nước theo chính sách giáo dục tự do khai phóng như ở Hoa Kỳ và các nước khác ở Bắc Mỹ và Âu Châu đều ghi rơ ràng như vậy. Sách Living World History  viết:

Biện pháp thứ ba là ban hành Đạo Luật Ổn Định. Luật này quy định rằng, không có một tín đồ Ki-tô La Mă  có thể trở thành nhà lănh đạo nước Anh. Như vậy là luật này loại hẳn tất cả những người con và cháu của vua James Đệ Nhị với người vợ thứ hai của nhà vua.” Nguyên văn: “A third measure, the Act of Settlement of 1691, provided that no Roman Catholic could be ruler of England, automatically excluding the descendants of James II by his second wife.”[17] 

Kể từ đó, tại nước Anh,  không có một tín đồ Ki-tô La Mă nào được đưa lên cầm quyền nữa.

Biến cố lịch sử này nằm trong những biện pháp mạnh Cách Mạng Anh 1689 để đối phó với Giáo Hội La Mă và thẳng tay trừng trị tín đồ Ki-tô La Mă người Anh. Theo gương nhân dân Anh, nhân dân các nước Âu Châu và Châu Mỹ La-tinh cũng nổi lên làm cách Mạng và dùng những biện pháp mạnh để đối phó với Giáo Hội và trừng trị những tín đồ Kitô La Mă cuồng tín c̣n tuyệt đội tuân hành lệnh truyền của Giáo Hội. Cũng v́ thế trong lịch sử nhân loại mới có Cách Mạng Pháp 1789, Cách Mạng Ư 1870, Cách Mạng Mễ Tây Cơ 1857, Cách Mạng Nga 1917, Cách Mang Tây Ban Nha 1936, Cách Mạng Việt Nam 1945, Cách Mạng Cuba 1959, Cách Mạng Nicaragua 1979, v.v…Tát cả những cuộc cách mạng này đều sử dụng những biện pháp mạnh để đối phó với Giáo Hội La Mă và trừng trị nghiêm khác bọn tín đồ Da-tô cuồng tín chỉ biết nhắm mắt tuân hành lệnh truyền của Ṭa Thánh Vatican và các đấng bề trên của chúng.  (Vấn đề này sẽ được tŕnh bầy đầy đủ trong một Phần VI.).

Nhờ vậy, kể từ đó, sách lược "hàm huyết phún nhân" để vu khống, sỉ vả, gièm pha các tôn giáo và các thành phần không chịu khuất phục Giáo Hội không c̣n hữu hiệu ở Âu Châu như trước.

Dù là như vậy, sách lược "hàm huyết phún nhân" này vẫn c̣n được Giáo Hội cho áp dụng ở trong các cộng đồng người Việt hải ngọai, nhất là ở Bắc Mỹ. Cũng v́ thế mà  tất cả những người Việt hải ngoại bất đồng chính kiến với đường lối chống Cộng của Giáo Hội đă vạch ra từ xưa đều bị chúng chụp mũ là “Cộng Sản”,  “Cộng Sản nằm Vùng” và “Làm tay sai cho Cộng Sản”. Hầu hết những nhà sư người Việt  trụ tŕ  ở các ngôi chùa ở Bắc Mỹ cũng như ở Úc Đại Lợi nếu không gia nhập những tổ chức chống Cộng của bọn cuồng nô vô tổ quốc làm tay sai cho Vatican nên cũng đều bị chúng chụp cho cái mũ “Cộng Sản”,  “Cộng Sản nằm Vùng” và “Làm tay sai cho Cộng Sản”. Từ tháng 8 năm 2005), ngôi chùa Việt Nam của thày Thich Pháp Châu ở miền Nam tiểu bang California đă và đang là nạn nhân của sách lược này do bọn thập ác người Việt ở Nam California chủ trương.

Tất cả những việc làm lưu manh như đă tŕnh bày trên đây đều được Giáo Hội cho lồng vào cụm từ "nhân danh Thiên Chúa", "làm sáng danh Chúa", "mở rộng nước Chúa", "làm sạch cho danh dự và sự rực rỡ của Thượng Đế", v.v.. đề phỉnh gạt và hù doạ tín đồ. Thôi th́, không có cái ǵ là họ không nhân danh Thiên Chúa, lấy Thiên Chúa ra để phỉnh gạt, hù doạ tín đồ và người đời. Ngay cả đến việc dụ dỗ, tán tỉnh, sờ mó và làm t́nh bậy bạ với một em bé gái mới 13,14  tuổi, họ cũng nhân danh Thiên Chúa và đem Chúa ra phỉng gạt hù doạ để cho nạn nhân khiếp sợ mà chiều theo ư họ. Đây là chuyện có thực trăm phần trăm được sách sử ghi lại rơ ràng. Chuyện này được sách “Thực Chất Đạo Công Giáo và Các Đạo Chúa” ghi lại một cậu chuyện có thật 100% với nguyên văn như sau:

“Chương 6, dưới tựa đề là "The Silencing  Of The Lambs" (Sự Bịt Miệng Con Chiên), các tác giả cho thấy các nạn nhân bị lạm dụng đều là bị bịt miệng bởi cha mẹ, thầy giáo và các thủ đoạn hăm dọa, khủng bố của các tu sĩ phạm pháp.

Đối với những thiếu niên của những gia đ́nh ngoan đạo th́ các tu sĩ Công Giáo luôn luôn được chúng coi là những người thánh thiện (holy men) và có uy tín hơn cả cha mẹ của chúng. Khi bị các tu sĩ lạm dụng t́nh dục, chúng không dám về mách cha mẹ v́ sợ bị cha mẹ la mắng hay trừng phạt. Năm 1992, một số nhà tâm lư học đă phỏng vấn 15 em nhỏ ở Lafayeete, Louisiana  bị tu sĩ lạm dụng t́nh dục. Các em cho biết đă không dám tố cáo v́ bị các linh mục hăm dọa: "Nếu tố cáo sẽ bị Chúa đầy xuống hỏa ngục" hoặc "mày phải câm miệng, nếu không, quỷ sẽ bắt mày!" Mấy bé gái bị linh mục sờ mó đă khai: "Cha nói Chúa đă chọn con để giúp cha biết cái đó thế nào!"

Trong chương này có một chuyện đáng chú ư. Đó là chuyện của Cristine Clark thuộc giáo phận Joliet, Illinois. Lúc cô lên 7 tuổi, đi học lớp giáo lư để rước lễ  lần đầu th́ cô đă bị cha xứ là Ed Staphanie dụ dỗ hôn hít sờ mó. Năm cô 14 tuổi, cô bị cha xứ dạy cách thủ dâm cho ông ta. Năm 18 tuổi, cha xứ giao cấu với cô. Lúc này cô tỏ ra rất lo lắng v́ sợ tội. Cha khẳng định giao cấu với cha không có tội v́ đó là ư Chúa. Sau đó, Cristine không thể chịu đựng được nữa nên nói với cha mẹ ư định tố cáo nội vụ trước cảnh sát. Linh-mục Ed Stephanie thấy nguy nên tŕnh sự việc với Ṭa Giám Mục Joliet. Ṭa giám mục này cho người đến trao cho gia đ́nh Cristine số tiền 450 ngàn đô-la để mua sự im lặng.

Ngày 15/4/1988, Cristine kư giấy cam kết không tố cáo. Tuy nhiên, Linh-mục Ed Staphanie bị nhiều người khác tố cáo nên y bị cảnh sát bắt vào mùa thu năm 1992.” [18] 

Giả dụ thực sự có một Chúa vô tư, có đức tính công bằng, thẳng thắn như ông Bao Công trong thời nhà Tống ở nước Trung Hoa, và giả thử như có địa ngục thật sự ở dưới âm phủ thi chắc chắn là Giáo Hội La Mă  và toàn thể tu sĩ Da-tô  đều phải  bị ông Bao Công đầy xuống địa ngục tuốt luốt.

Rơ ràng là những thứ như hệ thống tín lư Kitô, giáo luật, thánh lệnh, tập tục và truyền thống trong đạo Da-tô chỉ là đồ nghề bịp, những phương tiện giúp cho Giáo Hội và giới tu sĩ Da-tô  lừa bịp người đời và làm những việc làm tội ác trời không dung đất không tha. Chuyện ông linh-muc Ed Staphanie dụ dỗ hôn hít sờ mó và làm t́nh bất chính với em bé gái Cristine Clark  trên đây chỉ là một hạt cát trong cái sa mạc mênh mông tội ác của Giáo Hội La Mă và giới tu sĩ Da-tô đă gây ra với danh nghĩa là “nhân danh Chúa”.

Thực ra,  chẳng có ai đă nh́n hay biết được h́nh dáng ông Thiên Chúa mà  Giáo Hội La Mă vẫn thường nhân danh và tôn vinh ra làm sao? Chẳng ai biết được ông ta cao hay lùn, trắng hay đen, mập  ph́ hay ốm tong ốm teo, mồm ngang mũi dọc như thế nào?. Quay đi quay lại chỉ  thấy có "Giáo Hội La Mă" tự phong là "Giáo Hội Thiên Chúa" và tự nhận là "đại diện độc nhất cho Thiên Chúa ở trên trái đất". Cứ giả dụ như là thật sự có một ông Thiên Chúa như vậy đi nữa th́ ông ta cũng không biết nói. Tất cả mọi người đều nghĩ như vậy và Giáo Hội cũng biết như vây:

Thiên Chúa mà biết nói năng,

Ắt là Giáo Hội cái răng không c̣n.

Những phần tŕnh bày trên đây cho chúng ta thấy rơ cái bản chất "ăn không nói có", “vu oan giá hoạ”, "quay quắt, lắt léo, lươn lẹo, lật lọng và bịp bợm " của  Giáo Hội La Mă  từ thế kỷ 4 cho đến ngày nay quả là siêu việt nhưng cũng vô cùng trắng trợn và vô liêm sỉ đến cùng độ của vô liêm sỉ.

 


 

CHÚ THÍCH

[1] Nguyên Vũ, 1 Ngày Có 26 Giờ (Houston, TX: Văn Hóa, 1995) tr 133-134.

[2] Nghiêm Xuân Hồng, Cách Mạng Và Hành Động (Sàig̣n: Quan Điểm, 1964), tr. 22.

[3] Trần Trọng Kim, Nho Giáo - Tập 1 (Sàigon: Tân Việt, 1953 (?))tr  45.

[4] Nguyễn Mạnh Quang, Thực Chất Của Giáo Hội La Mă, Q 1 (Tacoma, WA: TXB, 1999), tr 87.

[5] Loraine Boettner, Roman Catholicism (Phillipsburg, N.J: The Presbyterian and Reformed Publishing Company, 1962), p. 79. 

[6]  Charlie Nguyên, Công Giáo Trên B? V?c Th?m (Garden Grove, CA: Giao Đi?m, 2001), trang 18-19

[7] M.J. Su “The birth and family of Jesus.” Encyclopedia Britannica, Vol.  10, Ed.  1980, p.e  149.

[8]  Phan D́nh Diệm. "Mea Culpa Bài 3 - Giáo Hội Công Giáo Roma La Tinh Cáo Thú Tội Lỗi Ngàn Nam" http:// www.kotohoc.com/Bai/Net066.html. Ngày 19/9/2000.

[9] The New Catholic Encyclopedi,  (second Edition) Vol. 7 (New York: Gale, 2003), p.488.

[10]  Trần B́nh Nam.  "Một Thế Giới  Nhiễu Nhương." nguyen.minh.duc@wanadoo.fr 13 May 2004

[11] Nguyễn Ngọc Ngạn, Xóm Đạo. (Đông Kinh, Nhật Bản: Tân Văn, 2003), tr. 71.

[12] Nguyễn Ngọc Ngạn, Sđd., tr 148.  

[13] Loraine Bottner, Ibid., p. 73-74.

[14] Charlie Nguyễn, Công Giáo Trên Bờ Vực Thẳm (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 2001), tr. 29-30.

[15] Charlie Nguyễn, Sđd., tr. 63-64

[16] Phan Phát Huờn, Việt Nam Giáo Sử Quyển I (Sàig̣n: C?u Th? Tùng Thu,1965), tr 39.

[17] Arnold Schrier & T. Walter Wallbaank, Living World History (Glenview, Illinois: Scott, Foresman and Company, 1975), p. 398.

[18] Charlie Nguyễn, Thực Chất Đạo Công Giáo va Các Đạo Chúa (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 2003), tr. 75-77